Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #100 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:33:58 am » |
|
Trong khi cuộc vận động tranh cử tuyệt vời của Roosevelt diễn ra, cánh hữu đảng Cộng hòa tức giận một cách bất lực. Càng thất bại, càng cay cú. Cứ mỗi lần các đại diện của cánh tham gia đại hội toàn quốc để khẳng định chân lý lớn của họ, thì chỉ để thấy vị trí bổ nhiệm tranh cử bị chiếm bởi một tay thượng lưu thuộc các bang công nghiệp lớn vốn được vài tay truyền thông đầy quyền lực theo chủ nghĩa quốc tế hỗ trợ, nổi tiếng nhất là Herry Luce, thủ trưởng của tờ Time và tờ Life, ông, lúc ấy đang ở vị trí tối thượng trong giới truyền thông. Dư vị cay đắng trong các kỳ đại hội đảng 1940 và 1944 là rất thật; và khó để nói cánh hữu ghét ai hơn: FDR và đảng Dân chủ hay cánh quốc tế trong đảng của chính mình. Với họ, những tay theo chủ nghĩa quốc tế là những người Cộng hòa giả hiệu, những tay hợm mình miền Đông, những kẻ có đủ cách để cướp vị trí bổ nhiệm tranh cử nhưng không bao giờ đủ để thắng trong cuộc bầu cử.
Thế chiến II kết thúc và Roosevelt chết, thế là cánh hữu tin rằng đã đến lúc lấy lại quyền lực cả trong đảng lẫn trong nước. Cuộc bầu cử của năm 1946 thất bát đã cho những người cánh hữu cơ hội phản công đầu tiên. Động cơ của họ, như họ tự thấy, không gì khác hơn là chủ nghĩa Mỹ, hoặc là bảo vệ những giá trị xưa cũ của Mỹ – thứ đã sản sinh ra những con người giống hệt họ, chống lại một nước Mỹ của kẻ thù – cũng là chỗ sản sinh ra những người mà họ xem như là theo chủ nghĩa xã hội hoặc chủ nghĩa cộng sản, hoặc theo ý họ, những người sống quá phụ thuộc vào trợ cấp của chính phủ. “Sự lựa chọn khó khăn của người Mỹ trong năm nay chính là giữa chủ nghĩa Cộng Sản và chủ nghĩa Cộng hòa” B. Caroll Reece nói, ông là nghị viên bang Tennesse và cũng là chủ tịch đảng Cộng hòa ngay trước kỳ bầu cử. Thượng nghị sỹ bang Nebraska Kenneth Wherry thêm vào: “Chiến dịch tranh cử sắp tới không chỉ là một cuộc bầu cử. Mà nào còn là một cuộc thập tự chinh”. Và theo một cách nào đó, và ở vài nơi nào đó trong nước, không có gì kém mấy.
Harry Truman, vị tổng thống bất ngờ, người thừa kế không mong đợi của tổng thống vĩ đại Roosevelt, hầu như may mắn do năm 1946 đó không là năm bầu cử tổng thống, nổi buồn lan khắp cả nước và nỗi lo âu nằm dưới mỗi khuôn mặt. Không như đồng minh (và kẻ thù) vẫn còn nằm trong đống đổ nát, Hoa Kỳ vươn lên sau thế chiến thành một quyền lực kinh tế độc tôn toàn cầu, một quốc gia giàu có trong một thế giới nghèo khổ, đồng minh và cả kẻ thù đều như nhau đo ván sau hai cuộc chiến mang tính tự sát trong vòng 25 năm. Nước Mỹ, thời ấy được bảo vệ bởi hai đại dương mênh mông, bom đạn kẻ thù không chạm tới được, nên đã vươn lên mạnh mẽ, vạm vỡ hơn khi chiến tranh chấm dứt; đất nước đã được những thế lực bên ngoài kéo, đá, gào thét để đạt tới đỉnh quyền lực. Nhưng rất ngạc nhiên là có sự lo âu cũng như oán hận tích tụ ngay dưới bề mặt, đáng chú ý nhất là những khó khăn khi Hoa Kỳ thừa kế, chấp nhận một bước nhảy vĩ đại với trách nhiệm quốc tế đến cùng lúc với hòa bình. Sự đe dọa mới của Liên Xô cộng sản – một đồng minh bất ngờ trở thành kẻ thù – vừa bắt đầu phủ bóng xuống nền chính trị Mỹ. Với những ai ở xa quyền lực sẽ thấy chút ít bất ngờ với các điểm: – Đứng đầu là việc Liên Xô là đồng minh, chiến tranh đã là một sai lầm ngay từ đầu với một số họ; và chúng ta phải chiến đấu một lần nữa để cứu nước Anh. Khi chiến tranh kết thúc, không phải đa số người Mỹ hăm hở với việc nhận những trách nhiệm quốc tế lớn lao đó – và những rủi ro – kéo đến khi trở thành một siêu cường và thay cho đế quốc Anh ở vị trí lãnh đạo đồng minh phương Tây, cũng không nhiều người muốn những mối nguy tất yếu kéo đến, như các kiến trúc sư của chính sách ngoại giao ở Washington dường như được yêu cầu: một phần của cuộc tranh đấu chính trị – quân sự không ngớt ở châu Âu dài kỳ. Đa số người muốn, không phải là nhiều hơn, mà là bớt đi, mối quan hệ với cánh dân chủ châu Âu.
(Lại một đoạn trúc trắc khó dịch, tin rằng có dịch sai nghĩa ở vài điểm, sẽ xem lại và hiệu chỉnh sau)
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #101 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:37:43 am » |
|
Và như thế, đảng Cộng hòa đã làm rất tốt trong cuộc bầu cử nghị viện năm 1946. Áp lực thời chiến đã ủng hộ cho người giữ chức vụ tổng thống – không thay ngựa giữa dòng – là một câu khẩu hiệu rất thành công của đảng Dân chủ, nhưng giờ điều ấy đã hết. Những người Cộng hòa, theo đuổi chương trình cắt giảm biểu thuế 20%, đã giành thêm 11 ghế tại thượng viện và 54 ghế ở Hạ viện. Liên minh của Roosevelt giữa những liên đoàn lao động miền Bắc và các thành phố công nghiệp lớn kết hợp với những đầu sỏ thủ cựu phương Nam dường như bắt đầu phân rã và thay thế bởi thứ mà cánh Cộng hòa hi vọng là sự trở lại của tiêu chuẩn Mỹ xưa kia. “Hoa kỳ giờ là một quốc gia Cộng hòa” thượng nghị sỹ Styles Bridges của bang New Hamsphire nói, ông nhanh chóng trở thành nhân vật chính của cái được gọi là Ban vận động Trung Hoa. Một số cuộc bầu cử mới, đảng Cộng hòa không quá chống lại đảng Dân chủ như chống Cộng sản và phá hoại. Cuộc bầu cử đã thêm vào hàng ngũ thượng nghị sỹ những Joseph McCarthy của bang Wisconsin, Bill Jenner của bang Indiana, John Bricker của Ohio, Harry Cain của Washington, James Kem của Missouri. Một số họ, tham gia vào nhóm thủ cựu ở thượng viện, như Kenneth Wherry, họ chuyển sang bị ám ảnh với chủ đề Cộng sản và phá hoại trong chính quyền, một vấn đề mới tuyệt hảo để trung hòa những mối nguy trong lĩnh vực kinh tế. “Hãy cúi đầu hỡi công chúng, chủ nghĩa thủ cựu đã đánh nước Mỹ. Cả thế giới đi về phía tả, riêng Mỹ đang đi sang hữu” T.R.B viết sau cuộc bầu cử trên tờ The New Republic, lúc đó là một tạp chí tự do truyền thống.
Trong ván cờ không gì khác hơn là vấn đề vai trò của Mỹ trong thế giới hậu chiến. Phải chăng nên chấp nhận vai trò lãnh đạo thế giới dân chủ phương Tây? Và phải tốn bao nhiêu tiền tươi – hay thuế – cho vụ này? Trong vấn đề này, lãnh đạo ở cả hai đảng đều không chắc. Không đảng nào dám có hành động trong việc đề nghị mức giá nền kinh tế phải trả để lãnh đạo phương Tây. Đảng Cộng hòa, chống Cộng ác liệt hơn, với yêu cầu giải trừ quân bị mạnh mẽ hơn, đã hi vọng nhiều vào độc quyền vũ khí hạt nhân của quốc gia, và cảnh giác hơn với việc chấp nhận vai trò tái thiết châu Âu bị tàn phá nghiêm trọng, một điểm yếu nguy hiểm, như cách họ tin, do cộng sản phá hoại ngầm bên trong. Sự thật là ngay trước chiến tranh Triều Tiên, tình hình quốc phòng Mỹ thật là lóng ngóng. Ngân quỹ quốc phòng bị xẻ nát; quân đội thì quá bé; và vũ khí quân dụng – mới năm năm trước đây còn tiến bộ nhất thế giới – nhanh chóng xuống cấp. Những nhân vật cao cấp trong cái được gọi là hội đồng an ninh quốc gia thì chia rẽ nghiêm trọng trong vấn đề bao nhiêu (tiền) là đủ. Tại thời điểm quân Bắc Triều Tiên vượt vĩ tuyến 38, ngoại trưởng Dean Acheson đang dưới sự công kích ác liệt của cánh hữu đảng Cộng hòa vốn bảo rằng ông mềm mỏng với chủ nghĩa Cộng sản, trong khi ông phải đang khéo léo hết mức để vận động cho một dự luật chi tiêu quốc phòng mới trước đám quan liêu. Dù Acheson là một thành viên có ảnh hưởng lớn nhất trong hội đồng an ninh quốc gia của tổng thống, thì cũng không có nghĩa là nỗ lực này sẽ chắc chắn thành công.
Một phần nguyên do là ở chính chỗ Truman. Nếu Truman là một kẻ hiếu chiến trong hầu hết các vấn đề chiến tranh lạnh, thì ông cũng là một người kiên định trong vấn đề ngân quỹ, ông ghét thiếu hụt chi tiêu. “Một người cắc rắc tiền bạc mà tôi từng thấy” James Forrestal, một tay thủ cựu phố Wall, một tay diều hâu, đã có lần nói về Truman “đáng tin như tôi, rằng chúng ta không thể làm hỏng nền kinh tế của mình trong tiến trình chiến đấu cuộc ‘chiến tranh lạnh’”. Về bản chất Truman là một người theo chủ nghĩa dân túy Trung tây, hoài nghi bẩm sinh, cảnh giác với những người hô khẩu hiệu, chém gió mà ông xác quyết rằng rất nhiều sỹ quan cao cấp làm vậy. Ông luôn tin rằng giới quân nhân cực kỳ tiêu phí tiền thuế của người dân. Kinh nghiệm cá nhân ông trong cương vị một đại úy pháo binh trong thế chiến I đã làm ông cảnh giác với tiền bạc, đặc biệt với “dân” West Point, những người mà trong suy nghĩ của ông là tự coi mình quá nghiêm trọng. Là dân tiểu đô thị, trưởng thành trong thời kỳ kinh tế khắc nghiệt, điều này đã khiến ông rất thủ cựu về mặt tài chính – không chi tiêu nếu không thực sự cần thiết. Quan điểm của ông cứng rắn trong quá trình ở vị trí thượng nghị sỹ, lãnh đạo ủy ban Truman, ban này vốn tập trung vào sự quản lý tồi của bên quân đội lúc bắt đầu thế chiến II: “Không quân nhân nào biết chút gì về tiền. Tất cả những gì họ biết là cách tiêu tiền, họ không thèm để ý chút nào đến việc dùng tiền đó có giá trị hay không” có lần Truman đã phát biểu. Dù lúc này ông đã trở nên rất gần gũi với một ít sỹ quan cao cấp, như Omar Bradley, nhưng quan điểm tổng quát của ông là không bao giờ thay đổi. Như ông đã từng nói với cây bút Merle Miller: “Hầu hết bọn họ như những con ngựa với tấm bịt mắt. Họ không nhìn thấy được quá xa chót mũi của mình”..
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #102 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:38:34 am » |
|
ới cảm giác rất cá nhân, Harry Truman ghét mang nợ. Hồi còn ở Independence, Missouri, gia đình ông đã phải mang cái gánh nặng đó, và còn làm mất đi cái trang trại gia đình của họ. Vì vậy nên những gì ông muốn làm lúc cuộc chiến vừa kết thúc là bắt đầu giải quyết vấn đề khổng lồ – ít nhất là theo thời điểm đó – 250 tỷ $ tiền nợ quốc gia phải gánh của bốn năm vừa qua. Ngay khi chiến tranh vừa chấm dứt, ông đã cắt giảm ngân sách quốc phòng từ 91 tỷ $ xuống còn giữa 10 và 11 tỷ $ một năm, ông hi vọng là sẽ sớm hạ thấp hơn nữa, khoản 6 hay 7 tỷ $ mỗi năm. Nói cách khác là Truman sẽ phải cần được thuyết phục rất nhiều nếu một khi muốn tăng ngân sách quân sự để phục vụ cho vai trò mới của đất nước mà những cán bộ an ninh quốc gia hàng đầu muốn. Rõ ràng là Marshall và Acheson cần có ngân sách quân sự lớn hơn. Thường thì bộ trưởng Bộ quốc phòng trong trường hợp như thế này sẽ là đồng minh của những người như Acheson, nhưng ở đây, bộ trưởng quốc phòng Louis Johnson là một ngoại lệ, ông này thay cho James Forrestal bởi sức khỏe của Forrestal suy sụp. Ông tỏ rõ là một tử thù của Acheson kể cả trong công việc lẫn cá nhân, vì ganh tức trước quyền lực và ảnh hưởng với Truman nên ông quyết hủy diệt sinh mạng chính trị của Acheson cho dù phải trả giá bằng ngân sách của bên ông cạn kiệt. Vấn đề chính của Louis Johnson ở đây chính là tham vọng chính trị của mình. Ông mơ màng việc kế vị Truman làm đại diện đảng Dân chủ ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 1952, và ông tính làm việc này bằng cách bội phản lại chính mình trong cương vị bộ trưởng Bộ Quốc phòng, giảm chi tiêu quân sự. Điều này có nghĩa là khi mùa đông 1950 kết thúc, Acheson trở thành cây đinh trong việc tăng ngân sách quốc phòng, và những người chỉ trích ông trong đảng kia (Cộng hòa), những người rất thích thú với việc công kích chính phủ vì những thất bại trong chính sách ngoại giao đặc biệt là ở Trung quốc, bất chiến tự nhiên thành. Hoa Kỳ được mong là sẽ cứng rắn hơn trong thương thuyết với kẻ thù trên thế giới, nhưng lại không chịu xung phong thảo luận việc phải trả giá thế nào cho điều này.
Những điều này đã đặt Acheson vào một vị trí hiếm có: bị công kích vì đã mềm mỏng với Cộng sản, đồng thời cũng kết liễu cái ý định tiêu tiền mà ông tin là cần phải tiêu để ngăn chặn mối đe dọa Cộng sản ở châu Âu và những nơi khác. Bởi việc tăng chi tiêu quân sự là một bãi mìn chính trị – vì nó chắc chắc sẽ cần tăng thuế – nên ông đeo đuổi với sự thận trọng. Trợ lý chính của ông là một thanh niên tên Paul Nitze, anh vừa mới tham gia vào giới an ninh quốc gia trong một nỗ lực thay thế George Kennan ở vị trí cục trưởng Cục kế hoạch chính sách, một bộ phận think tank, với Acheson dường như anh cứng rắn hơn Kennan và như vậy sẽ gần với chính sách của Acheson hơn. (Nitze thực thụ giữ vị trí ở Cục kế hoạch chính sách thay cho Kennan từ tháng 1 năm 1950, nhưng trên thực chất đã lãnh đạo cục này từ vài tháng trước). Acheson và Nitze thận trọng đi từng bước một qua các cơ cấu hành chính với kế hoạch của họ nhằm kiểm tra hoàn chỉnh các chính sách quốc phòng – một tài liệu sau này được biết dưới cái tên Tài liệu Hội đồng An ninh quốc gia số 68, hoặc NSC 68, một luận cương mang tính hạt giống cho những nhu cầu quốc phòng Mỹ được định nghĩa lại một cách tổng quát, hoàn thiện. Họ cố giữ sự thay đổi trọng đại đang được lên kế hoạch này, bí mật với Johnson và những đồng minh dự kiến của ông ta một cách lâu nhất có thể, đặc biệt là mức chi dự kiến. Acheson muốn thu thập được càng nhiều càng tốt những ủng hộ chính yếu của ủy ban quốc phòng mở rộng đến từ các cơ quan hành chính cấp cao trước khi có ai đó mở miệng lên tiếng về chi phí; và ông không muốn họp với Louis Johnson trước khi ông đã sẵn sàng. Và như vậy, ông sẽ chơi sau lưng. Trớ trêu thay, Acheson, một ngoại trưởng, lại gần như là hỗ trợ chính của Hội đồng Tham mưu Liên quân trong nỗ lực tăng ngân sách cho quân sự, họ vốn đã không ngừng nghỉ tranh đấu cho ngân sách thiết yếu đó trong năm năm qua. Gốc gác của vấn đề quốc phòng giá rẻ là dựa trên niềm tin về sự độc quyền vũ khí hạt nhân của Mỹ sẽ cho phép cắt giảm các góc khác trong ngân sách. Và khi sự độc quyền hạt nhân của Mỹ đã chấm dứt vào mùa thu năm 1949, vấn đề (ngân sách) này vốn đã bị trì hoãn khá lâu lại được đặt lên bàn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #103 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:43:09 am » |
|
Cuộc chiến giữa giới dân sự và quân sự về ngân sách đã bắt đầu từ hồi 1945. Khi ấy trong nước, cả hai đảng chính trị đều nóng lòng tham gia đẩy nhanh lộ trình cắt giảm quân bị lúc thế chiến II kết thúc. Mọi nhân vật trong chính giới, cả cánh tả lẫn cánh hữu, đều muốn việc giải ngũ làm xong từ hôm qua hơn là để đến ngày mai. Quốc gia trong thời chiến, gần như qua một đêm đã trở thành một binh xưởng hùng mạnh nhất trong lịch sử nhân loại, phản ánh một nước Mỹ; giải trừ quân bị lại phản ánh một mặt khác – ngoại trừ việc rằng họ là một, là cùng một quốc gia. Vấn đề với nền dân chủ vĩ đại như Hoa Kỳ, George Kennan có lần viết, là luôn như một gã khổng lồ ngủ say, không phản ứng với những gì xung quanh cho đến khi bị đánh thức đột ngột và muộn màng, và tên khổng lồ đó sẽ giận dữ khi biết ra mọi thứ và bắt đầu đánh đấm loạn.
Năm 1946, Dwright Eisenhower, lúc đó là Tham mưu trưởng Lục quân, được mời đến điện Capitol để gặp J. Parnell Thomas, một nghị sỹ ma mãnh hàng đầu thời đó, và lúc ấy đang là chủ tịch ủy ban quân sự hạ viện. Thomas là một đảng viên Cộng hòa đến từ ban New Jersey, một sự phản chiếu hấp dẫn của thời đại, một tay chống Cộng hiểm ác luôn nói về Roosevelt và Chính sách Kinh tế mới là sự phá hoại hệ thống tư bản. Là lãnh đạo Ủy ban Các hoạt động Chống Mỹ của Hạ Viện ( the House Un-American Activities Committee), rốt cuộc ông cũng giành được nhiều danh tiếng về việc săn Cộng sản ở Hollywood, nhưng cũng rất nhanh ông phải ngồi tù Danbury, Connecticut bởi đã cấy nhân viên ma vào danh sách lĩnh lương của văn phòng ông ta và chiếm đoạt số tiền lương đó cho chính mình. (Trong vụ đó, cùng vào tù với ông còn có hai chiến hữu là kịch tác gia Hollywood vì đã không chịu khai trước ủy ban về vụ ông ta). Lúc sửa soạn để gặp Thomas, Eisenhower tin rằng sẽ là một cuộc thảo luận nghiêm túc với một nghị sỹ quan trọng của Hạ viện về việc bằng cách nào để giảm mức quân Mỹ với tổn hại tối thiểu cho đất nước. Nhưng thay vì vậy ông lọt vào một trận phục kích ngoại hạng. Ở đó là Thomas và xung quanh là một nhóm những thiếu phụ trẻ hấp dẫn – vợ của những quân nhân đang nóng lòng mong chồng được đưa lên tàu về nước – và trên một chiếc bàn là một đống giày trẻ con. Một tay chụp ảnh nhanh chóng xuất hiện, và một tấm ảnh về những người vợ với đống giày em bé, nụ cười của Thomas cùng một Eisenhower đang điên tiết, rất nhanh được phát tán ầm ĩ trên hệ thống truyền thông.
Lúc cuối Thế chiến, Hoa Kỳ có 12 triệu quân nhân nam nữ. Mức độ giải trì quân bị thật quá mạnh; mười lăm nghìn (15,000) quân nhân được xuất ngũ mỗi ngày. Và nếu có vấn đề liên quan tới hậu cần của việc đưa quân từ nước ngoài về, thì đó chính là khẩu hiệu phản đối mới: “không thuyền, không phiếu”. Đến đầu năm 1947, lượng quân hiện dịch xuống còn 1,5 triệu, và ngân sách quân sự hằng năm từ mức cao trong thời chiến là 90,9 tỷ đô lao thẳng xuống còn 10,3 tỷ. Thêm vào đó các khí tài đáng sợ trong thế chiến II không được hiện đại hóa lên. Sau chừng ấy năm, phần lớn đã lỗi thời, và một số còn vô dụng. Tại thời điểm những sư đoàn Bắc Triều Tiên đầu tiên nam chinh, như các nghiên cứu ở Mỹ sau này chỉ ra rằng: 43% quân nhân thuộc bộ tư lệnh Viễn đông xếp vào nhóm IV hoặc nhóm V, hai mức thấp nhất trong thang kiểm tra phân hạng của lục quân. Trong con mắt của những quân nhân cao cấp, đó là một đất nước đơn giản là quay bước từ bỏ trách nhiệm. “Nước Mỹ chiến đấu [trong Thế chiến II] như kiểu chơi một trận banh, người thắng cuộc rời sân bãi và ăn mừng”, tướng Albert Wedemeyer nói, khi ông quan sát việc giải trừ quân bị chóng vánh. Còn George Marshall thì bình luận: “Đó không phải là việc giải trừ quân bị, mà đó là một cuộc tháo chạy”. Lục quân thì, tướng Omar Bradley nói: “chỉ còn một sư đoàn – Sư đoàn dù 82 – còn có thể mơ hồ xem là sẵn sàng chiến đấu”. Trong những năm ấy, sau cuộc giảm lực lượng cực nhanh và ngay trước vụ Triều Tiên, nước Mỹ, theo như cách nói của Bradley, có một quân đội lúc bắt đầu cuộc chiến Triều Tiên là “không thể đánh thủng nổi một cái bịch giấy”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #104 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:50:04 am » |
|
Ngân sách quân sự giờ bắt đầu tăng với hàng đống giấy tờ. Những thứ bị cắt giảm, theo Cabell Phillips một thông tín viên về an ninh quốc phòng của tờ NewYork Times ghi nhận: là không rộng nhưng tác hại tới sức mạnh và cốt lõi. Cuối năm 1948, để chuẩn bị cho ngân sách tài khóa 1950, ba lực lượng (Hải – Lục – Không quân) trình ngân sách dự trù. Tổng cộng là 30 tỷ đô. Sau khi cật lực làm việc, James Forrestal, bộ trưởng Quốc phòng, đã gọt nó xuống còn 17 tỷ. Nhưng đến Harry Truman, ông quan tâm tới kinh tế nội địa hơn chi tiêu quân sự (bởi rất hiểu những hậu quả chính trị khôn lường khi tăng thuế), quyết rằng không được quá 15 tỷ (* Damn: dịch tới dòng này lại liên tưởng tới anh A # nhà ta hiện nay, chỉ biết tăng thuế phí và không hề nghĩ tới hậu quả!!! DM). Cuối cùng con số là 14,2 tỷ. Ba lực lượng phải tranh nhau dữ dội cái khoản ngân quỹ hạn chế ấy. Vai trò của thủy quân lục chiến rõ ràng phải cắt bớt; những quân nhân như Bradley phát biểu rằng không có nhu cầu trong tương lai với các trận đổ bộ đường thủy, và điều này cũng làm giới hạn vai trò của Hải quân. Nếu có bộ phận nào trong ba lực lượng cảm thấy ổn thì đó chính là Không quân với bom hạt nhân trong tay. Có vài vấn đề dường như là bệnh đặc hữu của cái xã hội dân chủ đặc biệt này, một trong số đó là điều cắm rễ trong tâm tưởng rằng họ được bảo vệ bởi hai đại dương rộng lớn. Ngay cả trong cuộc chiến Triều Tiên, George Marshall nhân vật quan trọng nhất trong việc đưa đất nước sẵn sàng lúc bắt đầu Thế chiến II, cũng tin rằng nước Mỹ vẫn chưa thuộc bài học. Khi Truman gặp MacArthur tại đảo Wake vào giữa tháng Mười năm 1950, Marshall không tham gia đoàn, nhưng ông sốc trước trạng thái phởn phơ dường như đang lan tỏa khắp trong buổi liên hoan trở về. Frank Pace, bộ trưởng Lục quân, đầy cảm xúc nói với ông về phát biểu lạc quan của MacArthur rằng cuộc chiến đã hầu như kết thúc và binh sỹ sẽ sớm trở về. “Thưa tướng Marshall” ông nói “Tướng MacArthur bảo rằng cuộc chiến sẽ kết thúc vào dịp Lễ tạ ơn và quân sĩ sẽ về nước lúc Giáng sinh”.
Trong sự ngạc nhiên của Pace, Marshall dường như không vui: “Này Pace, còn vất vả lắm”.
Pace nghĩ rằng Marshall không hiểu, nên ông lặp lại tin tức tốt lành về việc chiến tranh kết thúc trong tầm tay. Marshall nói: “Tôi nghe cậu nói rồi, nhưng quá hấp tấp bảo chiến tranh kết thúc sẽ không cho phép chúng ta hiểu hết mọi vấn đề mà chúng ta phải đối diện”. Vẫn còn thấy khó hiểu, nên Pace hỏi lại phải chăng Marshall muốn nói rằng người Mỹ cần phải hiểu tốt hơn về sự dính líu rộng khắp của Chiến tranh lạnh. Marshall nói, đó là thứ chính xác ông muốn nhắc. “Thưa tướng quân Marshall, đây là một cuộc chiến rất khó khăn và phạm vi rất rộng đối với góc nhìn của người dân Mỹ”, Pace nói. Nhưng Marshall thì không. Ông đã nghĩ xuyên xuốt về nó ngay từ trước khi kết thúc Thế chiến II; rồi đến lúc nó chấm dứt; xe tăng mục nát trên Thái bình dương, khi các cậu trai về nhà quay lại với công việc dân sự, khi sức mạnh quân đội đã được dựng lên và rồi để – như theo lời ông “yếu đi”.
Nhưng đó là quá khứ còn bây giờ là hiện tại, Pace cãi, và “bao nhiêu con nước đã trôi qua cầu kể từ thời đó. Phải chăng ngài cho rằng tôi ngây thơ khi tôi nói rằng người Mỹ đã học được bài học?”
“Không, Pace à, tôi không nói cậu ngây thơ. Tôi chỉ nói rằng cậu ngây thơ kinh khủng” Marshall trả lời.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #105 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:50:54 am » |
|
Trong hệ thống hành chính cấp cao, người đã thúc đẩy mạnh mẽ nhất cho việc điều chỉnh các yêu cầu thời đầu Chiến tranh lạnh chính là Forrestal, dưới áp lực của sự cắt giảm ngân sách, của sự cảnh giác cá nhân ông trước Liên Xô và rõ ràng là với sự rối loạn vài bộ phận trong cơ thể, đã làm trí tuệ ông giảm sút nghiêm trọng. Ông là người làm việc điên cuồng, chết bỏ, như Eisenhower nói “đủ giết chết một con ngựa”. Lúc đầu Forrestal rất cứng rắn trong việc điều đình với Liên Xô, và ông còn đưa ra một câu hỏi, một câu hỏi rất khó phổ biến hồi tháng 7 năm 1945 rằng Hoa Kỳ nên chiến thắng Nhật đến mức nào. Ông sợ rằng nếu một chiến thắng quá hoàn toàn xảy ra, nếu một nước Nhật còn lại quá nhỏ yếu sẽ tạo ra một khoảng không chính trị ở vùng Đông Bắc Á và khoảng trống này có thể sẽ bị lấp đầy rất nhanh, không chỉ bởi Liên Xô mà có lẽ bởi lực lượng đang trỗi dậy Cộng sản Trung Hoa, phía ông tin chắc là sẽ chiến thắng trong cuộc nội chiến. Chúng ta có nhất thiết muốn phá hủy cơ sở công nghệ Nhật như phần lớn các nhà chiến lược hàng đầu của chúng ta muốn? ông băn khoăn. Forrestal ngày càng ưu tư nhiều hơn với vấn đề ông tin rằng ngân sách quốc phòng của chúng ta không sánh nổi với hiện thực của người Nga, hoặc chuyện đó theo cách nói tu từ của chúng ta rằng: nói to quá khả năng quân sự. Nỗi ưu tư chính trị của ông càng gấp bội khi sức khỏe ông suy sụp, đến cuối năm 1948 những bạn bè thân thiết bắt đầu lo lắng hơn về ông. Ông ngày càng hoang tưởng, hốc hác và ám ảnh. Cổ áo sơ mi ngày càng như rộng thêm. Ông không thể ngủ nổi, mặt mũi xám ngắt. Ông chắc ăn rằng người Nga nghe trộm điện thoại của ông. Trong những tuần tại vị cuối cùng, ông gọi quấy rầy Truman vài lần một ngày chỉ với một chủ đề. Rõ ràng là ông đang trong giữa giai đoạn lẫn. Chính Forrestal cũng cảm thấy một phần. Đầu tháng Hai năm 1949, ông nói với Truman rằng ông sẽ rời vị trí vào ngày 1 tháng Sáu. Nhưng Truman biết rằng sẽ trụ không lâu tới như vậy. Ngày 1 tháng Ba năm 1949, ông gọi Forrestal yêu cầu từ chức. Bốn tuần sau, Louis Johnson, người rất hữu ích ở cương vị vận động quỹ tranh cử cho Truman năm 1948, thay thế cho Forrestal, còn Forrestal thì nhập viện. Cuối tháng Năm, ông tự tước đi đời mình, nhảy ra từ cửa sổ lầu 16 bệnh viện Bethesda Naval, một trong những nạn nhân sớm nhất, trong số những nạn nhân khác, của áp lực Chiến tranh lạnh. Việc bổ nhiệm Louis Johnson là một trong những quyết định chính trị tệ hại nhất của Truman. Johnson là một tay nóng nảy, bắt nạt người, lối sống của ông cứng cỏi và để cảm xúc lấn át còn nhiều hơn cả Forrestal. Ông đã nhận được sự căm ghét vĩnh viễn của những quân nhân cao cấp, không chỉ bởi ông đã ác liệt giữ mức ngân sách của họ mà còn bởi cách ông đối xử với họ quá thô lỗ cùng với sự thiếu tôn trọng một cách bất thường.
Mọi thứ trở nên rõ ràng hơn khi hồi tưởng lại về những năm tháng mà Truman và chính phủ của ông quay cuồng trong một thời điểm khủng hoảng của lịch sử Mỹ. Dù muốn dù không, nước Mỹ phải thay đổi, từ một nước Mỹ mạnh mẽ nhưng không tự biết về điều đó và lưỡng lự sử dụng khả năng công nghệ hàng đầu thế giới, sang một nước Mỹ biết rõ là Mỹ siêu cường. Những tranh luận triền miên về tương lai, trận chiến trong lòng chính phủ về NSC 68, và hay thậm chí cả thời kỳ McCarthy quái gở chính là quá trình biểu lộ cho sự thay đổi kịch tính đó. Đó là những thứ do sự phát triển đau đớn gây ra. Franklin Roosevelt là tổng thống trong quá trình vươn tới sức mạnh, và ông đã chết ở thời điểm cuối cùng, chiến thắng nước Đức. Còn thời Truman, là những xung đột về việc chi tiêu quốc phòng, trong đó ban đầu chỉ là nhóm tầng lớp thượng lưu tương đối nhỏ thúc đẩy một dạng đồng minh chính trị – quân sự kiểu mới với cánh dân chủ phương Tây ở châu Âu, và rồi một làn sóng nghịch lưu còn mạnh hơn trào lên chống lại chủ nghĩa quốc tế đó, đấy là những thứ phải đấu tranh trong thời kỳ này. Truman là vị tổng thống đầu tiên phải đối diện với những hệ quả, những mâu thuẩn từ chiến thắng vĩ đại trong thế chiến II, và quyền lực (đi kèm với trách nhiệm) để lại cho đất nước ông. Ông không chỉ là chủ soái của hệ thống lãnh đạo phía sau hình thức chủ nghĩa quốc tế mới mà còn phải đối phó với những phản ứng của giới chính trị nội địa vốn không kiên định, đôi lúc còn thù địch, khi quốc gia bắt đầu chậm chạp chấp nhận trách nhiệm mới của nó. Sự lựa chọn là một thứ rất cơ bản, đó là chọn giữa chủ nghĩa quốc tế to lớn hơn hay tiếp tục tự cô lập – và, có lẽ một điều cũng quan trọng như vậy: đất nước này sẽ phải tốn bao nhiêu. Niềm tin của Truman về sự ưu việt của một châu Âu dân chủ mạnh mẽ đồng minh với Hoa Kỳ, và rằng sự sụp đổ của Trung Hoa cùng sự trỗi dậy của Mao Trạch Đông, thời kỳ chiến tranh Triều Tiên và những lực lượng chính trị tấn công trong nước sẽ phải được xem xét.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #106 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:53:02 am » |
|
Dean Acheson là nhân vật quan trọng nhất trong tranh luận NSC 68, nhân vật trung tâm. Đây không phải là một cuộc tranh luận đúng nghĩa tranh luận, với nhiều cảm xúc chính trị lớn lao hơn, nó gần như là một cuộc chiến của những lực lượng khác nhau xung đột trong hệ thống hành chính với câu hỏi rằng nước Mỹ nên làm gì với vai trò thời hậu chiến của mình – quyền lực lớn bao nhiêu là đủ và sẽ lấy bớt bao nhiêu phần vai trò lãnh đạo phương Tây theo truyền thống vốn thuộc nước Anh. Ngay cả trước khi làm Ngoại trưởng, Acheson đã tham gia công tác để từ đó trở thành một nhân vật an ninh quốc gia quan trọng nhất thời kỳ, có lẽ trong vòng 50 năm tiếp, và là một kiến trúc sư quan trọng nhất của chính sách trở thành trung tâm của sự lãnh đạo Mỹ ở phương Tây, cũng như chính sách ngăn chặn và cùng tồn tại với Liên Xô. Chừng bốn thập niên sau, khi Liên Xô sụp đổ, bởi do chính sức ỳ của nó cùng với những sai lầm kinh tế trong hoàn cảnh hiện đại, thế là giới truyền thông ngay lập tức đưa phần lớn thành tích đó cho Ronald Regan, người đã giúp thúc đẩy một phần sự phá sản của đối thủ và đưa đến sụp đổ kinh tế. Nhưng đáng lý ra phần thành tích đó thuộc về các chính sách phương Tây cùng một dọc dài những lãnh đạo chính trị Mỹ, những người đã giúp ngăn chặn bước tiến của Liên Xô ở châu Âu, đặc biệt trong số đó là Acheson.
Thời kỳ ông phục vụ là những năm quan trọng và khủng hoảng nhất của Chiến tranh lạnh, khi khối đồng minh chính yếu thời hậu chiến của Mỹ được thành lập và dẫn dắt bởi một yêu cầu mới, to lớn: an ninh tập thể. Có thể dễ dàng và không cường điệu gọi đó là Kỷ Acheson (Age of Acheson). Không có nhân vật phi-tổng-thống nào chi phối việc ra quyết định các chính sách ngoại giao Mỹ như thời kỳ ông. George Marshall đã cống hiến những năm tháng vĩ đại nhất trong thời kỳ vốn kết thúc với thế chiến II, và trong những năm tiếp theo ông đã rất mỏi mệt, sức khỏe ông cũng bắt đầu sa sút. Sau cái chết của Forrestal, không ai từ bộ Quốc phòng có ảnh hưởng lớn lên khung cảnh chung. Acheson, hơn tất cả những người khác những chính sách hậu chiến thời Thế chiến I thất bại còn nguyên trong tâm trí ông, nên ông thấy được sự sống còn trong việc tạo lập một liên minh kinh tế quân sự bền chắc của phương Tây, liên kết chặt Hoa Kỳ với châu Âu chưa từng thấy trước đây. Không phải ngẫu nhiên, có phần nào khiếm nhã, khi tiêu đề của hồi ký của ông là Present at the Creation.
Và như vậy chính sách Mỹ phải được phất lên khi ngọn cờ nước Anh đang bị hạ thấp, chắc chắn Acheson có cái nhìn rõ ràng nhất. Ông là một người ủng hộ châu Âu tột bực. Bởi vậy nên ông cũng là cái đích ngắm chính của những ai theo các lối khác nhau nhưng đều không vui với diễn biến này, cả bởi họ ghét chính sách Kinh tế mới, hoặc không thích nước Anh, hoặc theo chủ nghĩa biệt lập, hoặc là người ủng hộ châu Á (hoặc Trung Hoa). Ông là một nhà cai trị hàng đầu, không chút hồ nghi về quyền của mình khi vẽ nên biểu đồ công việc (hoặc đó đúng là một quyền). Nhưng cái viễn cảnh vốn rất rõ ràng với ông và những người như ông thì lại không được chấp nhận bởi số đông trong đất nước, bởi hàng triệu người Mỹ vẫn hi vọng vào tiêu chuẩn cũ. Điều này đã tạo nên một mâu thuẫn to lớn trong quan điểm người Mỹ về phần còn lại của thế giới. Chính sách ngoại giao Hoa Kỳ trong những năm ngay sau chiến tranh, như Dean Acheson ghi nhận lại là: “có thể tóm gọn trong ba câu: 1. Đưa thanh niên về nhà; 2. Không làm ông già Noel; 3. Không bị đe dọa, bị chơi”.
Ông làm việc, ngay từ lúc bắt đầu, trong một chiến trường chính trị. Acheson làm Ngoại trưởng từ ngày 21 tháng Giêng năm 1949, sau ngày Truman nhậm chức. Ngay cả trước khi ông được biết đến là ngoại trưởng, ông đã là đích ngắm của cánh Cộng hòa. Việc phê chuẩn hồi ông làm thứ trưởng bộ Ngoại giao đã khó khăn một cách bất thường và gây nhiều tranh cãi, gần như là một bẫy rập làm cho sự đối đầu giữa chính phủ và cánh hữu Cộng hòa leo thang. Với những người ủng hộ Trung Hoa, họ luôn có cảm giác rằng Acheson là tử thù của họ, và như thế MacArthur cũng vậy, rằng Acheson đã xén cánh của vị tướng – điều này thì rất đúng (Khi MacArthur tuyên bố rằng ông có quá nhiều quân hơn nhu cầu, thì chính Acheson đã làm ông choáng váng khi nói rằng các bộ phận chiếm đóng không phải là kiến trúc sư của chính sách mà chỉ là “công cụ của điều đó”, một phát biểu làm MacArthur bực điên người). Bởi vậy nên có một lượng lớn đáng ngạc nhiên những cảm giác xấu trong trận chiến bổ nhiệm đầu tiên này. Một số lớn đảng viên Cộng hòa thủ cựu chống lại việc bổ nhiệm Acheson ở cương vị thứ trưởng bởi ông, như thượng nghị sỹ Kenneth Wherry buộc tội là: “làm xấu đi tên tuổi MacArthur”. Có mười hai thượng nghị sỹ ủng hộ cho đề nghị của Wherry về việc xem xét lại bổ nhiệm, nhưng nó nhanh chóng bị đánh bại và Acheson được chấp thuận 69-1. Sau này Acheson có nói rằng trung tâm sự oán hận chính là quan hệ giữa Truman và MacArthur. “Nếu chúng tôi có thể trông thấy trước được tương lai” 24 năm sau Acheson viết “chúng tôi sẽ nhận định được cuộc giao tranh nhỏ này chính là khởi đầu của cuộc chiến đưa đến sự huyền chức của MacArthur vào ngày 11 tháng Tư năm 1951”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #107 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:55:05 am » |
|
Trong thời đại mới, lắm phe cánh này, Acheson trở thành một đích ngắm hoàn hảo cho những tay chỉ trích chính phủ bảo thủ nhất. Việc ông bị công kích từ những người chỉ trích với lý do là một người cánh tả thật đáng mỉa mai và phản ánh nhiều điều của thời kỳ đó. “Chỉ với cái nhìn méo mó trong chiến tranh lạnh thì Acheson mới được nhìn nhận khác hẳn với bản chất của mình: một “tay bảo thủ ngộ đạo” một cụm từ kẻ cả và tàn bạo” I.F.Stone ghi nhận, ông là một cây viết cánh tả. “Người McCarthy nhớ nhất trong những ngày ấy chính là Acheson, trong lần xuất hiện đầu tiên tại Washington ở Bộ Tài chính và đã được tố giác bởi những người ủng hộ Kinh tế mới là con ngựa thành Troa của phố Wall, là một kẻ leo cao luồn sâu theo lịnh của các chủ nhà băng”.
Acheson có một trí tuệ tuyệt hảo, ông cũng tự biết điều đó, cùng với cảm giác chính trực mạnh mẽ tương tự, điều này thì có lúc mang lại cho ông rắc rối đáng kể. Là con của Edward Campion Acheson, một mục sư Tân giáo và trước đó từng tòng quân, di cư sang Canada, chiến đấu với người da đỏ ở Manitoba trước khi trở về với mục sư đoàn và đến Hoa Kỳ. Sự công bằng chính trực và sự tự nguyện chiến đấu rõ ràng hòa lẫn nhau trong gia đình Acheson. Khi còn ở Canada, Edward Acheson cưới Eleanor Gooderham, con gái một nhà chưng cất rượu whiskey, một chủ tịch nhà băng thành đạt, và sau đó ông tìm đến Middletown, Connecticut làm một mục sư địa phương, và rồi thành giám mục của Connecticut. Dean Gooderham Acheson sinh năm 1893 trong một gia đình rất truyền thống và khá bảo thủ trong vấn đề thân Anh. Một gia đình thành công vừa phải, có quan hệ rất khá nhưng không giàu có. Rồi chàng thanh niên Dean đến Groton, Yale, ở đó như mọi sinh viên bình thường khác, rồi sau đó đến trường Luật Harvard, ở đây, lần đầu tiên ông tự mình bước vào giới trí thức. Ông được bảo trợ bởi vị giáo sư luật vĩ đại mà sau này làm tòa thượng thẩm Felix Frankfurter và có lúc làm thư ký riêng của thẩm phán tòa thượng thẩm Loius Brandeis. Chính Frankfurker, một kiểu người như ngân hàng hối đoái và một người xây dựng mạng lưới tài năng cho chính sách Kinh tế mới, đã giúp giới thiệu Acheson, khi đó là một luật sư thành công tại Washington, với Roosevelt, bổ nhiệm làm thứ trưởng bộ tài chính vào năm 1933. Frankfurker đã giúp quan hệ, nhưng chính bản thân ông ta mới khiến Roosevelt quyết như vậy.
Acheson cực kỳ có giáo dục, ăn mặc và tư thế rất đẹp dù không giàu, và ông cũng không e ngại thể hiện ra điệu bộ hiển nhiên vượt trội cả về trí tuệ lẫn con người, thường chọc tức những kẻ ông cho là kém cỏi. Đúng hơn, ông là một người tin vào việc chỉ cần gặp làm việc với đúng người, đúng mục đích là đủ, là cao quý và chắc chắn là vượt trên chính trị, nhưng với những người đối lập kiểu làm như vậy thì cho thấy thiếu phẩm giá và cá tính cũng như họ trong mắt ông là những kẻ có động cơ đáng ngờ. Với rất nhiều thành viên nghị viện, ông đơn giản là có quan hệ rất tồi như thể bản thân tiến trình chính trị đã làm họ bại hoại. Ông hay nói với xuống họ, rất giống kiểu giáo viên giảng bài trước đám đông học sinh lớp 6 ngỗ nghịch. Ông đối xử với họ, như Walter Judd nói, ông này là một hạ nghị sỹ đảng Cộng hòa từ ban Minnesote, nguyên là một nhà truyền giáo ở Trung Hoa và một trong những thành viên chủ chốt của hội vận động Trung Hoa, rằng: “rõ ràng là kiểu hạ mình, như kiểu lão ta thấy rất làm tiếc với những kẻ quê mùa cục mịch chúng tôi, rằng ông đang vãi ngọc trước mặt heo”. Với những người chỉ trích ông, với cái bộ dáng trưởng giả của ông, trang phục kiểu Anh, và bộ ria kiểu cận vệ, thì ông chính là hiện thân rất rõ ràng của thứ họ bực mình ở Washington: chính phủ và Kinh tế mới. “Tôi nhìn cái bản mặt ngạo mạn của lão, với quần áo Anh quốc và cái chủ nghĩa Kinh tế mới ấy … tôi những muốn hét lên “Biến đi,biến đi, mày chính là mọi thứ sai lầm của Mỹ trong những năm qua”” thượng nghị sỹ Hugh Butter thuộc bang Nebraska nói. Bộ ria dường như là một thứ gì đó không thông được. Bạn thân của Acheson, ông Averell Harriman đã khuyên ông cạo đi bởi nó gây thêm sự oán ghét – “Cậu nợ Truman việc này” ông đã nói thế.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #108 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 08:58:01 am » |
|
Acheson còn hơn là một người Đại Tây Dương. Ông là một người theo chủ nghĩa can thiệp nồng nhiệt từ rất sớm, hồi thế chiến II, ông đã theo Roosevelt từ hồi 1940 khi ấy đa số người cùng thời cho rằng nhiệm kỳ thứ 3 (của FRD) về bản chất là không dân chủ. Có lẽ không có nhân vật cao cấp nào thuộc chính phủ đã dễ dàng thích nghi trong thời kỳ quá độ từ Roosevelt sang Truman hơn Acheson; ông trở thành thứ trưởng bộ Ngoại giao từ năm 1945; và gần như ngay lập được được tân tổng thống ưa thích. Ngay từ đầu, như một số ít người khác, Acheson đã cảm nhận được sức mạnh, cá tính, quyết tâm của Truman, và nếu cần thiết còn tính không biết sợ. Về bản chất, thứ Truman muốn ở châu Âu – một kiểu ổn định mà những người chiến thắng đã thất bại để có sau thế chiến I – cũng chính xác là điều Acheson muốn. Dĩ nhiên là điều này giúp cho Truman, vốn chưa kinh qua chính sách ngoại giao, cần có Acheson khác với cách Roosevelt cần ông; ngược lại Acheson cũng thích cái kiểu thẳng thắn của Truman, một sự thay thế sau hình dáng lôi cuốn to lớn của Roosevelt. Có lần Acheson nói với John Carter Vincent, một trong những chuyên gia Trung Hoa hàng đầu ở bộ Ngoại giao rằng: “John Carter này, chiến hữu nhỏ bé vượt đường đó quan trọng với ông ta nhiều hơn cậu nghĩ đấy”. Câu nói này có lẽ còn hơn cả một sự hạ mình nhỏ bé, bởi ông đã nói với hàm ý rằng một chiến hữu nhỏ bé đó dù sao cũng xứng đáng làm việc với họ, dĩ nhiên là nếu không công kích ông. Đáng ngạc nhiên là quan hệ cá nhân của Truman và Acheson dễ chịu và đáng ngưỡng mộ, một hình mẫu cho một cặp tổng thống – ngoại trưởng.
Nếu đó là Kỷ Acheson (the Age of Acheson), thì thời đại đó phản ảnh lại những khuyết điểm cũng như sức mạnh của ông. Vì vậy những điều mà ông hiểu nhất – nhu cầu cần ổn định ở các nước dân chủ Châu Âu và thiết lập một thế giới kinh tế mạnh mẽ ở châu Âu đủ sức đứng vững trước chủ nghĩa bành trướng Sô viết – rõ ràng là Hoa Kỳ đã thành công. Với những khu vực còn lại trên thế giới mà ông kém quan tâm hoặc không hiểu biết nhiều – và với câu hỏi về việc thời đại chống thực dân có nghĩa gì với phương Tây – thì chính sách ngoại giao của Mỹ không có mấy thành công. Ông thực sự là một nhân vật bảo thủ, bảo thủ trong cảm giác xưa cũ về thế giới. Ông cũng là người rất ít quan tâm tới thách thức sâu sắc với trật tự cũ vừa bắt đầu khởi lên từ thế giới kém phát triển, một thách thức ở hình thái khác hẳn, với một lực lượng mạnh lên, có thể làm điêu đứng những hậu duệ trực tiếp của ông trong hơn 30 năm tới.
Một trong những vấn để của Acheson khi làm việc với thế giới kém phát triển đó là không có nhân vật nào dễ dàng cho ông thương thuyết, một người phải giống ông, theo cách người Anh hoặc ít ra cũng ở mức người Pháp và giờ là người Đức. Không có một Anthony Edens hay Jean Monnet hay Konrad Adenauers; không cách nào để ông nhìn nhận Hồ Chí Minh ngang vai với họ. Ví dụ, năm 1952, khi các nỗ lực của Pháp ở Đông Dương bắt đầu thất bại bởi kỹ năng chính trị và quân sự của Việt Minh, thì Acheson vẫn trì độn một cách lạ kỳ. Người Pháp khi ấy tuyệt vọng, liều lĩnh, và họ ráng yểm trợ cho một lãnh tụ bản địa hợp pháp, một kẻ quý tộc dân chơi phù phiếm tên là Bảo Đại. Thật đáng tiếc cho sự nghiệp của người Pháp, bởi ông này dành phần nhiều cho việc hưởng thụ lạc thú ở miền Nam nước Pháp hơn là đi dạo với người dân của ông trên những ruộng lúa của nước mình, và người Việt Nam, lúc ấy được thu hút bởi cuộc chiến cách mạng nên, như đã dự đoán được, không có mấy hứng thú được ông ta lãnh đạo. Tại thời điểm đó, như David McLellan, một trong những người viết tiểu sử của Acheson ghi nhận, vị ngoại trưởng đã xác quyết rằng lỗi lầm nằm ở chỗ chính bản thân dân Việt. “Họ dường như theo thuyết định mệnh phương Đông điển hình, thiếu hứng thú với hỗ trợ công cộng” ông ta nhận xét “Như chúng ta đã thấy, nước Pháp đã cho họ nhiều quyền tự trị hơn mức họ có thể sử dụng”. Nhưng thứ đã dẫn dắt phong trào Việt Minh hoàn toàn ngược lại – không gì khác hơn là giải phóng nước họ khỏi quyền lực thực dân – và những chỉ huy quân sự Pháp trên chiến trường không bao giờ nói về thuyết định mệnh thụ động của đối phương, thay vài đó, là họ dùng từ chủ nghĩa cuồng tín.
Một số trong đó hoàn toàn là do tính thời đại. Acheson là một con người của thời đại ông ta sống, một thanh niên có giáo dục xuất thân từ những trường đại học nổi tiếng nhất nước, được dạy những tri thức có nền móng từ thời thực dân, do những giáo sư – vốn luôn nhấn mạnh vào sự ưu việt của người Anglo-Saxon và sự yếu kém của các đối thủ không da trắng – giảng. Những bài học cơ bản nhất là thế giới được cai trị bởi những ai xứng đáng cai trị. Trường Havard và Yale không là những đại học mà giáo sư các khoa dạy về việc mong mỏi tự do cho thuộc địa. Đúng hơn, sinh viên ở đó học về sự khoan dung, rộng lượng bẩm sinh mà chủ nghĩa thực dân có thể cung cấp để những thuộc địa có vận hạn tốt. Những khóa khoa học giả mạo thường ghi nhận rằng não của dân không-da-trắng bé hơn người gốc Cáp ca (người da trắng). Trong thế hệ của ông và trong những lớp đó, những ai mạnh mẽ tin vào khả năng thuộc địa chống lại được thực dân thì khó mà tồn tại nổi, quả thực vậy, và Dean Acheson không nằm trong số này
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #109 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 09:01:48 am » |
|
Ông tự thấy mình là một con người thực dụng. Với ông, theo óc thực tế, thì Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch coi như kết thúc rồi, tiêu rồi. Khi Mao Trạch Đông và những người Cộng sản xuất hiện và chiếm lấy đại lục, Acheson là người đầu tiên dường như chấp nhận Mao và đồng sự không phải là bù nhìn của Liên Xô, rằng một ngày nào đó Hoa Kỳ có thể thương thảo, làm việc với họ. Tháng Hai năm 1949, ông cảm nhận thấy cuộc nội chiến (Trung Hoa) đã tới hồi kết thúc và bất kỳ hỗ trợ thêm nào cho Tưởng Giới Thạch có thể sẽ làm “củng cố thêm quyết tâm cho người dân Trung Hoa ủng hộ Cộng sản và kéo dài ảo tưởng rằng quyền lợi Trung Hoa sẽ đi cùng Liên bang Sô Viết”. Quan điểm này được sự quan tâm của hầu hết những người kiểm soát Trung Hoa cũ và những người như George Kennan. Nhưng chính trị của thời đại đã thay đổi. Gần như cùng lúc, thượng nghị sỹ Vandenberg đến nhà Trắng và cảnh báo chống lại bất kỳ sự đình chỉ viện trợ Trung Hoa nào. Vài ngày sau, 51 nghị viên Hạ viện đã yêu cầu xem xét lại chính sách Trung Hoa của Hoa Kỳ. Cuối tháng Hai, Acheson gặp các lãnh đạo Hạ viện về vấn đề Trung Hoa, cố mua thêm thời gian và tìm cách linh hoạt hơn. Ông phát biểu về những hiểm họa nếu tiếp tục ủng hộ Tưởng giới Thạch và rơi vào đám bùng nhùng của ông ta. Ngày kế tiếp Pat McCarran từ bang Nevada, một đảng viên Dân chủ nhưng lại là một trong những lãnh đạo của Hội vận động Trung Hoa, biết rằng Acheson đã bị trói buộc, nên đã kêu gọi ngay một gói viện trợ 1,5 tỷ đô la cho Trung Hoa.
Thời điểm Acheson tham chính là một giai đoạn dữ dội mà bất kỳ một ngoại trưởng nào từng trải qua, có lẽ là quảng thời gian 4 năm khó khăn nhất trong lịch sử của đất nước trong lĩnh vực chính sách ngoại giao. Ngay khi Acheson đang tiếp nhận văn phòng (ngoại trưởng), thì chính phủ Tưởng Giới Thạch đang sụp đổ ở đại lục, và vị Thống chế bỏ chạy sang Đài Loan. (Acheson đã tuyên thệ trong cái ngày Tưởng rời Trung Hoa đến hòn đảo quê nhà mới. “Chúng ta đã vượt qua, tôi đang đến, Tưởng chạy đi” sau này Acheson viết một cách châm biếm, hóm hỉnh). Mọi thứ còn tệ hơn vụ sụp đổ đó. Chỉ trong khoản vài tuần ấy, Liên Xô lần đầu tiên thử vũ khí hạt nhân và Cộng sản Trung Hoa tiến vào Bắc Kinh, thông báo thành lập chính quyền mới của họ, những điều mà một phần lớn công chúng Mỹ nguyền rủa. Cả hai sự kiện này không chỉ là dấu hiệu cho thấy cân bằng an ninh toàn cầu đã biến đổi mà còn là đưa đến một làn sóng sốc tâm lý trong hệ thống chính trị Mỹ. Hoa kỳ không còn là thành viên duy nhất của câu lạc bộ hạt nhân, và gần như cùng lúc, Trung Hoa, một quốc gia được hàng triệu người Mỹ yêu quý bởi các chương trình truyền giáo mở rộng ở đấy – một quốc gia được trông đợi là một đồng minh lớn của chúng ta ở Á châu, đã thành Cộng sản.
Không gì làm thay đổi tầm nhìn hiện hữu của người Mỹ trong vấn đề quốc phòng như vụ thử hạt nhân đầu tiên của người Nga. Ngày 3 tháng Chín năm 1949, một phi cơ trinh thám tầm xa Mỹ vốn đều đặn được gửi đi để kiểm tra tầng bình lưu nhằm xác định bất kỳ bằng chứng hoạt động nguyên tử nào của Liên Xô, đã mang về một báo cáo rằng có mức phóng xạ cao bất thường. Máy đo trên phi cơ đã ghi nhận 85 phóng xạ trên phút. Trong khi mức thông thường là chừng 50. Còn máy đo thứ hai lại cho thấy tới 153/phút. Hai ngày sau một phi cơ khác, bay từ Guam đến Nhật Bản, ghi nhận một mức đếm đến hơn 1,000. Các chuyên gia hạt nhân Mỹ kết luận rằng người Nga đã bí mật thử nghiệm vũ khí hạt nhân, có thể đoán chừng đâu đó trong khoản giữa 26 – 29 tháng Tám, tại một nơi thuộc phần đất châu Á của Liên Xô. Quả bom ngay lập tức được gán cho cái tên Joe One để vinh danh Joseph Stalin. Vì đồng bảng Anh mất giá và Truman sợ rằng hai vấn đề mới này có thể làm hoang mang thị trường tài chính thế giới nên thông báo về cuộc thử nghiệm hạt nhân được lùi lại đến tận ngày 23 tháng Chín. Truman rất thận trọng khi nói rằng đó là một cuộc thử nghiệm thay vì nói là một quả bom, nhưng sự chấn động đến ngay lập tức và đó là một cơn ớn lạnh chính trị. Khi J. Robert Oppenheimer, cha đẻ của bom hạt nhân Mỹ, điều trần trước Quốc hội ngay sau đó, thượng nghị sỹ Arthur Vandenberg đã rất lo lắng hỏi: “Tiến sỹ, chúng ta sẽ phải làm gì bây giờ?””Vững vàng và kiên trì cùng bạn bè” Oppenheimer trả lời. Nhưng bản thân Oppenheimer lúc này là một người rõ ràng là: ông có thể bị ngả nghiêng bởi một loại các kỳ kiểm tra an ninh thường xuyên trong xuốt quá trình lỗi lạc của mình ở cương vị chủ nhiệm đề án Manhattan, ông cũng bị mâu thuẫn trong tư tưởng về thứ ông đã tạo ra với hậu quả lên loài người qua hai quả bom ở Hirosima và Nagasaki, và sự cảnh giác của mình với dự án bom khinh khí đang diễn ra trước mắt, thứ này nhanh chóng sẽ làm ông mất quyền an ninh (*)
(*) Quyền an ninh – security clearance là quyền được biết nhiều bí mật quốc gia.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|