AH-64 Apache
(Tham khảo từ sách
Vì sao ? Vũ khí xưa và nay cùng một số trang web khác)
Trực thăng vũ trang Apache mang số hiệu AH-64 là máy bay trực thăng hạng nặng, tổng trọng lượng đến 60 tấn, là vũ khí tấn công dẫn đầu trong hỏa lực của Quân đội Mỹ. Thế hệ Apache đầu tiên được thiết kế bởi Hughes Helicopters vào thập niên 70 và bắt đầu đi vào hoạt động vào năm 1985. Sau này, Quân đội Mỹ đã thay đổi bản gốc AH-64A thành AH-64D Longbow tiên tiến hơn. Hughes Helicopters sát nhập vào McDonnell Douglass vào năm 1984 và sau đó bị Boeing mua lại vào 1997. Ngày nay, Apache được Boeing sản xuất.
Loại trực thăng này xuất hiện lần đầu trong trong Chiến tranh Panama năm 1989 với quy mô tham chiến lớn, chủ yếu dùng chống tăng và tiến công các mục tiêu dưới đất khác, đồng thới nó còn được sử dụng tác chiến trên không với những máy bay trực thăng và những máy bay chiến đầu tầm thấp. Với sức mạnh và tốc độ vượt trội, Apache nhanh chóng chứng tỏ được vai trò của mình và góp mặt vào rất nhiều cuộc chiến: chiến dịch bão táp Sa mạc, cuộc xung đột giữa Bosnia và Kosovo vào những năm 1990, cuộc chiến tại Afghanistan năm 2001, cuộc chiến tranh Iraq năm 2003 ... và gần đây nhất là cuộc chiến tranh tại Lybia.
Trận chiến nổi tiếng nhất mà lực lượng trực thăng Apache của không lực Hoa Kỳ tham gia được ghi nhận trong cuộc chiến tranh Vùng vịnh năm 1991, nơi mà Apache đã thực sự tỏa sáng. Mở màn bằng việc phá hủy các trạm radar bên phía Iraq, những chiếc Apache đã dọn đường để không quân Hoa Kỳ tiến vào không phận Iraq mà không lo ngại bị phát hiện. Trong suốt 100 giờ đồng hồ oanh tạc, gần 3000 tên lửa Hellfire được bắn ra, đổi lại là thiệt hại gần 1000 xe tăng thiết giáp, 500 xe tải quân sự, cùng với số lượng không đếm xuể binh lính Iraq. Trận địa phòng không bên phía Iraq đã hoàn toàn nát vụn trước sức ép từ đến từ những chiếc siêu trực thăng này.
Giá của một chiếc Apache vào khoảng 12 - 15 triệu đô la Mỹ. Chỉ những quốc gia đồng minh thân cận nhất của Mỹ như Anh (do cồng ty GKN Westland Helicopters chế tạo với tên hiệu WAH-64), Israel, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan hay Ả Rập Saudi... mới có cơ hội sở hữu loại trực thăng hiện đại này.
Tính cơ động cao
Hệ thống bay của Apache gồm có hệ thống cánh quạt chính và hệ thống cánh quạt đuôi. Hệ thống cánh quạt chính được đặt trên nóc chiếc trực thăng, gồm 4 cánh quạt, mỗi cánh dài khoảng 6 mét. Người phi công sẽ điều khiển trực thăng thông qua một cơ chế gọi là "swash plate mechanism" - tạm dịch: cơ chế tấm chắn. Tấm chắn này được lắp vào các cánh quạt, khi cả bốn tấm chắn cùng hoạt động, nó sẽ giúp chiếc trực thăng cất cánh và hạ cánh. Điều chỉnh một trong số những tấm chắn này, chiếc trực thăng sẽ nghiêng và bay đi theo những hướng khác nhau.

Mép sau của mỗi cánh quạt được phủ bởi một lớp hợp kim chì vững chắc, trong khi đó mép trước được làm từ titanium. Titanium sẽ đủ mạnh để giúp cánh quạt trụ vững trước sức cản của những vật thể gần mặt đất như cây, bụi rậm, đất đá... Apache sẽ rất cần đến đặc tính này của cánh quạt, do nó thường xuyên phải bay sát mặt đất để lẩn tránh và săn tìm mục tiêu. Hệ thống cánh quạt gắn ở đuôi máy bay sẽ giúp Apache ổn định đường bay khi đang bay cao cũng như khi đang ở sát đất. Hệ thống bay không tạo nên sự khác biệt giữa Apache và những chiếc trực thăng khác.
Apache được trang bị hai động cơ trục tua-bin T700-GE-701C của General Electric, một loại động cơ cực mạnh có khả năng sản sinh ra 1700 mã lực, nhờ đó Apache có thể bay với tốc độ tuần tra 293 km/h, tốc độ bay lớn nhất lên đến 365 km/h, mỗi phút nâng độ cao được 762m so với mực nước biển, độ cao thực dụng 6400m, có thể làm động tác nhào lộn 360 độ trên không, đồng thời có khả năng bay là là sát mặt đất. Trong thời gian thực hiện nhiệm vụ bay 114 phút, nó có thể bay sát mặt đất liền 80 phút. Vì thế máy bay có khả năng tiến công trên không và tác chiến tập kích khá mạnh.
Hệ thống cảm biến
Một trong những thứ tạo nên tên tuổi của Apache chính là hệ thống cảm biến cực kỳ tinh vi. Bằng cách sử dụng hệ thống radar cực nhạy, Apache có thể làm hiện hình bất kỳ vật gì nằm trong tầm hoạt động. Những tín hiệu truyền về sẽ được xử lý, sau đó, những hình ảnh vừa tạo ra sẽ được so sánh với dữ liệu nguồn của hàng loạt những chiếc xe tăng, xe tải, hay các khí tài quân sự khác để "định giá" mục tiêu.
Apache sử dụng hệ thống cảm ứng Night Vision cho những nhiệm vụ trong bóng đêm. Hệ thống này làm việc dựa trên bộ phận tìm kiếm tia hồng ngoại, giúp xác định các tia hồng ngoại phát ra từ các vật tỏa nhiệt. Sau đó, những tia hồng ngoại này sẽ được gửi về bộ phận xử lý, tạo thành những hình ảnh hiển thị ở mắt kính được gắn trên mắt phải của người phi công.