Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:04:48 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm  (Đọc 170153 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #170 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2012, 11:01:11 am »

Trên một số thuyền chỉ huy có thể được trang bị địa bàn và kính viễn vọng.

  Bảo tàng cách mạng Việt Nam hiện còn lưu giữ một chiếc địa bàn của gia đình Nguyễn Du – một gia đình quan lại lớn trong triều đình Lê – Trịnh đầu thế kỷ XVII, XVIII (Cha Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm (1707-1775) từng làm tới chức Đại tư đồ tả tướng quân trong cuộc nam chinh năm Giáp Ngọ (1774), tước Xuân quận công). Chiếc địa bàn này khá giống với chiếc địa bàn đề niên hệu Minh Mệnh thời Nguyễn mà BEFEO số XXVI đã công bố (ql, XXX, B). Chúng ta cũng có thể thấy một chiếc địa bàn tương tự công bố trong một tạp chí Thái Lan Muang Boran Jourrnal, t. I, số 6, tr. 94).

  Việc sử dụng địa bàn và các dụng cụ hàng hải khác có lẽ không phải là vấn đề quá xa lạ với thuyền đi biển nước ta thế kỷ XVIII, XIX. Năm 1832, Lý Văn Phúc theo lệnh Minh Mệnh vượt biển đi sứ sang Phi-líp-pin, trong sách của mình là Đông hành thi thuyết khảo có đoạn viết: “Ngày 14 tháng Năm Nhâm Thìn (1832), thuyền (Định Tường) rời khỏi Quảng Ngãi, đã vào hải phận trấn Bình Định. Trù tính là không lầm. Một đường thẳng vo, lấy hướng kim mão - ất (tức đông hơi xế nam) mà tiến. Không dè gió trái, nước xiết, con thuyền không tiến. Thình lình trưa hôm sau, ngóng trông thấy nó (tức một bãi nổi ngoài khơi). Sắc cát lờ mờ, khắp chân trời đều trắng. Tất cả người trên thuyền, trong lòng bừng bừng, nước mắt rưng rưng. Trên thuyền, ngoảnh hỏi đà công, y là một tay lão luyện Tây dương. Nó nói rằng: lấy thước đạc thiên mà đo thì máy thuyền chưa chạm vào chân bãi cát còn chuyển buồm kịp. Bèn lấy hướng kim dậu (tây) nhằm Quảng Ngãi mà lùi…”211.

  Kính viễn vọng được được truyền từ phương Tây vào nước ta từ khá sớm, thường là quà của các giáo sĩ và thương nhân tặng cho các vua quan trong triều. Lê Quý Đôn cũng dẫn lời Du Tử Lục mô tả khá kỹ loại kính nhìn xa này212.

  Hoàng Lê nhất thống chí (tr. 305) khi chép việc quân Cần Vương chống lại Tây Sơn năm 1788 có nói đến việc “nhà vua sai Xuân Hạp lên bờ, dùng ống viễn kính để xem”.


Như vậy, đến thế kỷ XVII – XVIII, trang bị của quân thủy nước ta đã phát triển một bước dài so với quân thủy thời Lý – Trần cũng như so với quân thủy thời Lê – Mạc. Ở một số mặt, nó đang vươn tới những trang bị hiện đại nhất có thể có ở phương Đông đương thời. Tuy nhiên, trình độ còn hạn chế của khoa học kỹ thuật và nền kinh tế cũng như tầm nhìn còn thiển cận của hàng ngũ tướng lĩnh Trịnh, Nguyễn đã cản trở không ít đến sự phát triển đó.
-----------------------------
211 Theo Hoàng Xuân Hãn, trong Sử địa, số 29, 1975, tr. 15.

212 Vân đài loại ngữ, t. II, tr. 139.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #171 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2012, 02:31:52 pm »

TỔ CHỨC, BIÊN CHẾ, HUẤN LUYỆN

Tổ chức quân đội Trịnh, Nguyễn gồm hai lực lượng: quân chuyên nghiệp thường trực và quân dự bị. Tuy nhiên quân chuyên nghiệp thường trực thời này không còn bộ phận quân vương hầu như thời Lý – Trần nữa (về cơ bản, chế độ vương hầu đã bị hạn chế và cấm đoán từ thời nhà Hồ). Thay vào đó, nhà nước mở rộng số quân chuyên nghiệp tuyển theo binh dịch. Việc chuyển hóa một bộ phận dân binh dịch dần dần làm biến chất chính sách “ngụ binh ư nông” trước đây. Quân thường trực thời này thoát ly sản xuất, không còn luật chia phiên về làm ruộng đối với bất kỳ bộ phận quân thường trực nào. Họ sống bằng lương (trả bằng tiền) và gia đình được cấp ruộng khẩu phần. Họ được huấn luyện chuyên hóa và phải phục vụ quân đội cho đến tuổi về hưu. Như vậy, toàn bộ quân thường trực thời này là do quân chuyên nghiệp đảm nhiệm. Không còn thấy những “phiên” thường trực của những người lính “ngụ binh ư nông” nữa.

Ở Đàng Ngoài, quân chuyên nghiệp thường trực tuyển từ hạng tráng, thường chiếm tỷ lệ 1/3 đến 1/5 trong toàn bộ dân đinh. Quân tuyển ở Thanh – Nghệ (đất bản bộ của Lê – Trịnh) được ưu đãi hơn và cũng láy với tỷ lệ cao hơn (thường là 1/3, có khi tới 100% đinh xuất) gọi là ưu binh. Quân tuyển ở bốn trấn quanh Thăng Long (thường 1/5 đinh xuất) gọi là nhất binh.

Ngoài số quân chuyên nghiệp thường trực nói trên, nhà nước còn lấy trong dân đinh một số quân dự bị (xếp vào hạng quân theo phân hạng đinh xuất, tùy theo sức khỏe và sổ đinh trong một hộ). Số này có trong sổ quân, nhưng không có trong đội ngũ chính thức của triều đình. Họ được luyện tập định kỳ (sau đó lại về làm ruộng), khi có việc mới gọi ra. Về hình thức, lực lượng này có bóng dáng của phép “ngụ binh ư nông” xưa, nhưng thực chất chỉ là một bộ phận dự bị thuần túy. Họ không phải bao gồm toàn bộ đinh xuất, cũng không phải chia phiên làm nhiệm vụ thường trực việc quân. Hơn nữa, loại quân nay chỉ áp dụng cho một số vùng trong nước mà thôi. Đầu thế kỷ XVIII, nông dân khởi nghĩa ở khắp nơi, số quân này được đốc xuất thường xuyên thành hương binh, tức một loại quân bán thường trực ở địa phương được nhà nước cấp ruộng khẩu phần miễn thuế. Từ năm 1742, số lượng binh này được tổ chức quy củ hơn. Mỗi phủ trong bốn trấn đều lắp vào một vệ quân, tuyển chính thức trong số hương binh này, cấp lương như quân chuyên nghiệp, nhưng được thay phiên nhau ứng vụ tập luyện võ nghệ.

Về cơ bản, binh chế ở Đàng Trong cũng tương tự như vậy. Chỉ khác một điều là do số dân ít, nên tỷ lệ lính tuyển trong dân thuộc hạng tuyển cao hơn Đảng Ngoài nhiều. Theo Lê Quý Đôn, tỷ lệ đó lên tới 1/2. Còn theo Thích Đại Sán (Hải ngoại ký sự, tr. 43) thì trừ số thân quân, còn lại binh lính bị lao dịch rất nặng: “Nhân hỏi chuyện biết rằng trong nước mọi thứ thợ đều do quân nhân làm. Mỗi năm vào khoảng tháng Ba, tháng Tư, quân nhân đi vào các làng, bắt dân từ 16 tuổi trở lên, những người thân thể cường tráng, đóng gông bằng tre hình thang hẹp, giải về phủ xung quân. Vào quân đội rồi, bắt mỗi lính học một nghề rồi phân phát đi các thuyền chiến tập luyện. Khi có chiến tranh thì đi đánh giặc, lúc vô sự ở theo vương phủ làm xâu…”.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #172 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2012, 02:39:23 pm »

Quân chuyên nghiệp thường trực chia thành ba lực lượng, ít nhiều khác nhau về lực lượng: bộ phận thứ nhất là thân quân bảo vệ và phục dịch trong điện vua, phủ chúa. Theo Phan Huy Chú, đó là quân nội điện hay binh thị hậu. Bộ phận thứ hai là quân đánh dẹp, có thể tương ứng với du quân thời Trần. Binh chế thời Lê sơ gọi đó là quân ngũ phủ, đến thời Lê – Trinh gọi đó là ngoại binh. Bộ phận thứ ba là quân trấn giữ các đồn, bảo ở vùng biên giới, cửa biển. Hai bộ phận trên đều phân chia thành các đơn vị lính bộ và lính thủy, do Binh phiên và thủy binh phiên quản. Bộ binh phiên chế thành các dinh, cơ, đội, (riêng ở Đàng Trong đơn vị nhỏ nhất của bộ binh cũng là thuyền). Thủy binh chia thành các cơ, đội, thuyền.

Với tư cách là một binh chủng của quân bộ, đơn vị lớn nhất trong quân thủy chỉ là cơ, phần lớn là các đội thuyền. Ở Đàng Trong, khi tổ chức phòng thủ chống quân Trịnh, đôi khi số quân thủy tập trung đông ở vùng Quảng Bình, lập thành thủy dinh. Trong cuộc duyệt binh thủy năm 1708, quân thủy chúa Nguyễn cũng có duy nhất một đơn vị dinh (dinh Hậu thủy)213. Tuy nhiên, hầu như hiếm thấy trường hợp quân thủy được tổ chức thành các dinh, tức đơn vị quân đội cao nhất đương thời.

Thống kê của Phan Huy Chú cho biết tổng số thuyền chiến trong thủy binh thị hậu (tức quân thủy phủ chúa) vào khoảng trên 50 chiếc. Trừ những thuyền sai phái hoặc hoạt động độc lập như thuyền Kiệu Nhất, Hậu Nhị…, số đông còn lại phiên chế trong 8 đội thuyền khác nhau. Trung bình mỗi đội bốn thuyền, như các đội Tứ Kiệu, Tứ Nội thủy, Tứ thiện thủy… Bộ phận quân thủy chuyên đi đánh dẹp (tức ngoại binh) có số lượng thuyền chiến đông hơn. Dựa vào số quân trung bình trên mỗi thuyền và tổng số quân thủy thuộc ngoại binh, ta có thể ước số thuyền ngoại binh có khoảng 200 chiếc, chia thành 34 cơ đội, trung bình mỗi đội (hoặc cơ) có khoảng 5 – 7 thuyền, tùy chức năng, trang bị và loại thuyền mà số lượng người trong mỗi thuyền hoặc mỗi cơ, đội có khác nhau. Đội ít, như bốn đội Trung (Phấn, Thiện, Nhương, Đăng), chỉ có 175 quân (cả ưu binh lẫn nhất binh). Đội nhiều, như bốn đội Kinh và bốn đội Kiên (tiền, hậu, tả, hữu)… số quân lên đến 650 người mỗi đội. Ngoài ra, còn 15 thuyền hành loại nhỏ làm nhiệm vụ tuần, thám, liên lạc.

Ở Đàng Trong, có thể dựa vào thống kê trong Đại Nam thực lục (tiền biên) về tổng số quân thủy tham gia cuộc duyệt trận năm 1708 và đối chiếu với thống kê của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục để xem xét về biên chế, tổ chức. Tham gia cuộc duyệt binh năm 1708, theo Đại Nam thực lục, gồm hầu như toàn bộ quân thủy chính dinh, tức quân thủy nội, ngoại quanh Phú Xuân, gồm có bốn cơ Thủy, bốn cơ Dực, bốn đội Thủy, bốn đội Binh (đều chia tiền, hậu, tả, hữu), 13 đội thuyền thuộc Binh Nội thủy và một dinh Hậu thủy. Bên chế trong từng cơ, đội khá thống nhất. Tất cả đội thuộc Binh Nội thủy đều có ba thuyền chiến (trừ đội thứ 13 có bốn để tổng số thuyền chiến là 40 chiếc). Các đơn vị còn lại hầu hết đều có bốn thuyền chiến (trừ một đội Dực và hai đội Binh). Tổng số là 101 thuyền chiến hải đạo (tức thuyền có khả năng đi biển).
-------------------------------
213 Đại Nam thực lục (Tiền biên), t. 1, tr. 168.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #173 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2012, 02:43:21 pm »

Khoảng hơn nửa thế kỷ sau, khi quân Trịnh chiếm được Phú Xuân, dựa vào sổ sách của triều đình Đàng Trong, Lê Quý Đôn cũng cho một bản thống kê khá chi tiết. Tuy nhiên, trong bản thống kê đó, rất khó tách được đâu là quân thủy và đâu là quân bộ. Tất nhiên không phải cứ lấy đơn vị thuyền để đưa vào quân thủy. Bởi vì, nếu vậy thì ở Đàng Trong sẽ không có quân bộ. Như đã nói, thuyền là biên chế đơn vị nhỏ nhất cho cả quân bộ lẫn quân thủy ở Đàng Trong. May mắn là tên các đơn vị quân thủy năm 1708 vẫn không thay đổi, do đó vẫn có thể thể tách phần lớn các đơn vị quân thủy ra khỏi bản thống kê đó. Làm như vậy, ta có bảng kê như sau:

Bốn cơ Thủy: mỗi cơ năm thuyền. Tổng số 20 thuyền, 1.140 lính.

Bốn cơ Dực: mỗi cơ năm thuyền, tổng số 20 thuyền, 1.127 lính.

Bốn đội Thủy: mỗi đội năm thuyền. Tổng số 20 thuyền, 1.132 lính.

Bốn đội Binh: mỗi đội bốn thuyền. Tổng số 16 thuyền, 900 lính.

Binh Nội thủy: tổng số 50 thuyền, 6.410 lính.

Như vậy, so với biên chế năm 1708 thì các cơ đội đều tăng thêm một thuyền. Tổng số 126 thuyền, 10.709 lính. Tất nhiên đây không phải là toàn bộ quân thủy Đàng Trong.

Từ những bản kê trên, có thể rút ra một số nhận xét: Đơn vị tế bảo của quân thủy Trịnh, Nguyễn là thuyền. Các thuyền này kết hợp với nhau trong các đơn vị tác chiến là cơ, đội, có trung bình khoảng bốn – năm thuyền. Các cơ, đội này, trong một số trường hợp được cụm lại thành những đơn vị lớn hơn, như Binh Nội thủy. Số quân trong một thuyền trung bình khoảng 60, thuyền đông nhất khoảng gần 90, ít nhất khoảng 20.

Theo Phan Huy Chú, tổng số quân Trịnh thường trực là 56.550 người, số quân thủy ước được là 20.000 người. Theo Lê Quý Đôn, tổng số quân Nguyễn ở chính dinh là 30.016 người, trong đó quân thủy ước được khoảng 11.000. Nhìn chung, tỷ lệ quân thủy quân bộ ở cả hai miền tương đương, khoảng hơn một phần ba.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #174 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2012, 02:50:20 pm »

Về tổng số thuyền chiến Trịnh, Nguyễn, hiện có nhiều số liệu không thống nhất, do cách tính và quan niệm của từng nguồn. Hiện nay, chúng tôi tập hợp được khoảng 15 số liệu đương thời về quân thủy Trịnh, Nguyễn thế kỷ XVII, XVIII. Trừ Phan Huy Chú và Lê Quý Đôn, còn lại của cha cố và thương nhân châu Âu.

Tài liệu khá thống nhất về số thuyền chiến của quân thủy Đàng Trong. Va-sê và đơ Rốt, hai cha cố thế kỷ XVII đều thống nhất là khoảng 200. Va-sê cho biết chi tiết hơn: riêng Phú Xuân có 133, còn lại rải ra ở các dinh. Soa-di (Choisy) cũng cho biết vào năm 1679 Phú Xuân có 131 thuyền chiến. Bo-ri cũng đưa số liệu hơn 100 cho thuyền chiến Đàng Trong. Có lẽ đây chỉ là số thuyền chiến ở Phú Xuân thôi. Số liệu của Va-sê và Soa-di khá phù hợp với số liệu của Lê Quý Đôn, cho phép có thể xác nhận con số 200 cho toàn bộ thuyền chiến của quân thủy Đàng Trong và khoảng 120 – 130 cho riêng quân thủy ở Chính Dinh, tức Phú Xuân.

Ở Đàng Ngoài, trừ một số liệu lấy trong Đại Nam thực lục đã gộp chung cả thuyền chiến lẫn thuyền tải lương của quân Trịnh trong cuộc xung đột năm 1672 là 1.000 thuyền (số liệu này cùng gần với số liệu mô tả của đơ Rốt năm 1627 mà Ca-đi-e (Cadière) sau này có chi tiết thêm), thì các số liệu còn lại cũng tương đối thống nhất. Tít-xa-ni-ê (Tissanier), đơ Rốt đều ước quân thủy Đàng Ngoài có khoảng 500 – 600 thuyền chiến. Tài liệu của Phan Huy Chú cho biết số thuyền binh Thị hậu khoảng 50, số thuyền ngoại binh khoảng hơn 200, còn lại rải ra ở các cơ đội Thanh Hoa, An Trường, Nghệ An, Bố Chính… khoảng 200 nữa. Ta-véc-ni-ê (Tavernier) cung cấp số liệu thuyền chiến Trịnh đánh Nguyễn năm 1643 là 318 chiếc. Có thể đây chỉ là số thuyền mà em Ta-véc-ni-ê đếm được ở Thăng Long. Mô tả của đơ Rốt về số thuyền trong cuộc hành quân đánh Nguyễn năm 1627 cho chúng ta biết có khoảng 200 thuyền chiến tiên phong. Đây chính là các thuyền chiến thuộc quân thủy Ngoại binh. Đi kèm thuyền rộng của vua và chúa có 80 thuyền hộ tống. Đó là các đơn vị thuyền Thị hậu và Nội điện được tăng cường. Đi theo sau là khoảng hơn 200 thuyền chiến nữa là số thuyền chiến huy động ở các địa phương. Số còn lại vô kể là thuyền tải binh lương, không được tính vào số thuyền chiến đấu. Tài liệu như trên cho phép xác nhận con số khoảng 500 – 600 thuyền chiến cho toàn bộ quân Đàng Ngoài, trong đó khoảng 350 thuyền chiến Thị hậu và Ngoại binh ở Thăng Long là hợp lý (đơ Rốt cũng cho biết số thuyền của quân Đàng Ngoài nhiều gấp ba lần Đàng Trong).

Như vậy, trong khi tính toán số thuyền chiến với tư cách là một binh chủng quân thủy độc lập, cần tách ra số thuyền chở binh lương, loại thuyền dùng trong chiến tranh chứ không phải thuyền đặc chủng chuyên dùng trong chiến đấu.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #175 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2012, 02:55:13 pm »

Trong mỗi thuyền, tùy theo trang bị mà có số lượng lính khác nhau. Tựu trung được chia thành các loại chức trách riêng như sau: thuyền trưởng chỉ huy hành trình và chiến đấu, luôn đứng ở buồng chỉ huy đằng mũi thuyền. Va-sê mô tả: “Ở mũi thuyền là vị trí của người thuyền trưởng. Ông ta tuốt gươm trần ở tay, ra lệnh cho thủy binh dưới quyền làm theo lệnh. Mặc dầu không hô thành tiếng, nhưng lệnh của ông ta được thi hành mau lẹ khôn lường” (Sách đã dẫn). Bo-ri cũng viết: “Đầu thuyền thếp toàn vàng và vị tướng chỉ huy bao giờ cũng đứng ở đó. Trong chiến trận, bao giờ vị tướng cũng phải xông lên hàng đầu” (Sách đã dẫn).

Theo Va-sê, “trên thuyền có nhiều sĩ quan phụ tá” (Sách đã dẫn). Soa-di cho biết cụ thể hơn; ở Đàng Trong có “ba sĩ quan” chỉ huy trên một thuyền chiến.

Người đà công (cầm lái) và người gõ nhịp hoàn toàn chuyên nghiệp, có vai trò quyết định đến việc điều khiển con thuyền trong hành trình cũng như trong chiến đấu. Trong một bức tranh thời Nguyễn vẽ cảnh chèo thuyền, trong đó người lái và người gõ trống ăn vận khác hẳn với lính chèo thuyền, đặc biệt người cầm lái mặc trang phục giống như quan lại. Thích Đại Sán, trong Hải ngoại ký sự (tr. 132), mô tả khá sinh động công việc của một người gõ nhịp trên thuyền chiến: “Đầu thuyền một vị quan, đuôi thuyền một người cấm lái; giữa thuyền có 64 lính đứng chèo. Giữa khoang thuyền có bốn cọc nạng sơn son, trên bắc một cây mõ gỗ, một người lính ngồi gõ mõ làm nhịp cho những người đứng chèo. Thuyền cậy qua tả là qua tả, thuyền bát qua hữu là qua hữu, miệng hò lơ, chân giậm ván, đều răm rắp theo nhịp mõ chẳng chút đơn sai, mới nghe qua thực chẳng hiểu nhịp gì mà lạ vậy…”.

Số còn lại trên thuyền thì vừa làm nhiệm vụ chèo thuyền, vừa là lính chiến đấu khi cần thiết. Chỉ trừ một số thuyền trong binh Thị hậu, hoặc một số thuyền trang bị nhiều pháo, mới có thể có những người lính chèo thuyền riêng và lính chiến đấu riêng. Bo-ri cho biết: “Công việc chèo thuyền là của người lính (khác với châu Âu, chỉ có tội nhân mới chèo thuyền), họ vừa chèo thuyền vừa chiến đấu” (Sách đã dẫn).

Để tiện lợi cho người lính, “mái chèo gắn vào mạn thuyền bằng những khuyên sắt. Lính thủy có thể buông thả mái chèo để sử dụng ngay tức khắc các vũ khí đang để gần họ. Những lính chiến này đồng thời lại là thủy thủ…”214. Tuy nhiên, trong số lính này, các pháo thủ đang có xu hướng được tách khỏi công việc chèo thuyền để thường trực bên khẩu pháo. Theo lời Soa-di mà Ta-bu-lê (Taboulet) đã dẫn thì có sáu pháo thủ biên chế trên một thuyền chiến loại 60 cột chèo và ba “sĩ quan”.

Trong chương trình huấn luyện cho quân thủy thời này, có những thao tác cơ bản của một người lính: “Sau khi được tuyển vào quân ngũ, một người lính phải tập ba năm với một võ sư. Ông ta dạy lính cách sử dụng binh khí và tất cả những bộ môn liên quan đến binh nghiệp như sử dụng gươm giáo, cách mang súng, giữ súng, bắn và bắn theo lệnh. Lính còn được dạy cách chế biến thuốc súng, chế đạn, vì sau khi huấn luyện, họ phải tự làm lấy những thứ đó khi được cấp nguyên vật liệu. Lính còn phải làm ống đựng tên, mũ tên, cung và dây cung, đồng thời phải biết sử dụng các vũ khí đó một cách thuần thục. Người ta cũng dạy lính trở thành những người đóng thuyền”215.
----------------------------
214, 215 B. Vachet, Sách đã dẫn.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #176 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2012, 03:02:52 pm »

Về nội dung chuyên cho quân thủy, có những môn huấn luyện thường xuyên, nhất là chèo thuyền tập thể sao cho nhanh, đồng thời đảm bảo nhu cầu chiến thuật và luyện bắn pháo, bắn súng tay, cung nỏ… Đôi lúc tiến hành những trận giáp chiến bằng bạch binh.

Vua, chúa Đàng Ngoài cũng như Đàng Trong đặc biệt ưa chuộng duyệt đua thuyền. Đó chẳng những là những ngày đua tài của các cơ đội lính thủy, mà còn là ngày hội vui lớn trong cả kinh thành. Hầu như người nước ngoài đến nước ta cũng không quên nhắc đến sự kiện đó. Trong các cuộc đua này, có mấy yêu cầu thường được đặt ra, đó là đua về tốc độ, về độ đồng đều hàng ngũ của các thuyền chiến trong mỗi cơ, đôi khi hành trình cũng như khi xử lý các tình thế cụ thể. Những người Tây Ban Nha được chứng kiến cuộc duyệt quân thủy năm 1964 ở Đàng Trong đã phải nắc nỏm khen các đội thuyền đi đều tới mức “không hề lệch nhau đến một ngón tay”216. Ta-véc-ni-ê thì kể đến trường hợp những người lính chèo thuyền chết vì kiệt sức trong lúc đua tài…217.

Các hình thức tập bắn cung, nỏ và súng tay, súng trụ của quân thủy không khác lắm so với quân bộ. Các phép thi đó đã được Phan Huy Chú và Hội điển nhà Lê mô tả khá chi tiết. Đáng chú ý ở đây là việc tổ chức tập bắn cho pháo thuyền. Đây là một hoạt động rất táo bạo, vì chẳng những khó khăn trong việc chuẩn bị xạ trường, mà còn khá tốn kém thuốc súng. Đương thời ở châu Âu, công thức về lượng một liều thuốc súng đã được xác định, bằng khoảng 1/3 trọng lượng đạn. Thuốc súng của phương Đông lúc này độ nhậy có kém hơn, tỷ lệ đó vào khoảng gần 1/2. Như vậy, để chi phí ho một phát (loại súng Bồ Đào Nha hiện còn để ở Bảo tàng Huế với cỡ nòng trung bình khoảng trên dưới 10 cm), thì phải tốn gần 2 ki-lô-gam thuốc súng. Để tinh luyện quân thủy, chúa Nguyễn đã phải chịu những tốn kém đó. Năm 1642, cho đắp lũy đất ở Hồng Phúc (một xã ven biển thuộc Bình Trị Thiên hiện nay) cho quân thủy thường xuyên tập bắn trên mặt nước218.

Như đã nói, trong thủy chiến thời này ở nước ta, giáp chiến vẫn còn là một thủ đoạn quan trọng để giải quyết mục tiêu trận đánh. Chính vì vậy, những cuộc tập trận để nâng cao trình độ nghệ thuật giáp chiến vẫn rất được chú trọng.

  Va-sê tận mắt chứng kiến một cuộc tập trận đó ở Đàng Trong năm 1674 đã kể lại: “Tất cả thuyền chiến được trang bị như ngày ra trận. Thuyền chiến được chia làm hai đội. Một do thế tử điều khiển, một do người em của thế tử điều khiển. Chúa dự ở khán đài trước phủ, nằm trên bờ sông. Trước mặt chúa có một trống lớn, tiếng vọng đến hai vị tướng chỉ huy. Có một khoảng cách nhỏ giữa hai đội thuyền chiến. Một ở đầu này, một ở đầu kia. Chúa và các quan ở giữa. Khi có lệnh, hai đội lướt đi rất nhịp nhàng, đều đặn, dần dần xếp thành hai hình vòng cung, có lúc lại như nhập làm một. Bỗng chốc lại thay đổi vị trí xếp thành hàng ngang quay mặt vào nhau. Khi lại có lệnh, các binh sĩ xông vào nhau rất nhanh, họ nhảy vọt tài tình, mau lẹ từ thuyền này qua thuyền khác, đến nỗi trong nháy mắt, họ có thể chiếm lấy toàn bộ thuyền của thế tử, và như vậy, người em đã thắng trận. Tất cả đều diễn ra rất mạch lạc, bải bản và kết thúc bằng tiếng reo hò chiến thắng cùng ba loạt đạn đại bác hỏa mai”219.
---------------------------------
216 A. de Rhodes, Relation des mission du Royyaume de Cochinchine, theo Nguyễn Hồng, Sách đã dẫn, tr. 193.

217 J. Taverniern, Sách đã dẫn.

218 Phủ biên tạp lục, tr. 46.

219 B. Vachet, Sách đã dẫn.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #177 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2012, 07:26:29 pm »

VÀI NÉT TRONG NGHỆ THUẬT ĐÁNH THỦY

Có hai cuộc xung đột lớn trong thời kỳ này, kéo dài từ khoảng giữa thế kỷ XVI đến gần cuối thế kỷ XVII, đó là xung đột Nam – Bắc triều (tức Lê – Mạc) và Đàng Ngoài – Đàng Trong (tức Trịnh – Nguyễn). Trong cuộc xung đột Lê – Mạc, chiến trường diễn ra chủ yếu ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (tức ở lưu vực sông Hồng và sông Mã). Trừ một vài lần quân Mạc vượt biển đánh thọc sâu vào khu vực Thuận Quảng và sau đó quân Lê truy quét tàn quân Mạc ở ven biển Đông Bắc, hầu như hoạt động của quân thủy hai bên chủ yếu là ở trong sông. Trong thủy chiến, giáp lá cà vẫn là thủ đoạn chủ yếu để tiêu diệt địch. Tuy nhiên, ngày càng rõ xu hướng khai thác sức mạnh của pháo thuyền trong đối thủy cũng như thủy đối bộ. Xu hướng này phù hợp với nhu cầu giải quyết vấn đề pháo dã chiến đang đặt ra trong nghệ thuật quân sự nước ta đương thời.

Trên thế giới, khi mới ra đời, súng thần công có trọng lượng nặng, cồng kềnh, thao tác lại phức tạp nên chủ yếu nó là vũ khí của thành lũy, đặt cố định trong các pháo đài trung cổ. Đến thế kỹ XV, nhờ một số cải tiến trong kỹ nghệ súng pháo, vua Pháp Sác-lơ VIII (Charles VIII) đã thực hiện một cuộc cách mạng trong lịch sử pháo binh: đưa pháo dã chiến thành một binh chủng cơ động cùng với bộ binh. Từ đó, các nhà quân sự châu Âu không ngừng hoàn thiện khả năng cơ động cho loại vũ khí lợi hại nhất thời đó.

Ở nước ta, do quân đội cơ động chủ yếu bằng thuyền, đồng thời lại sẵn có voi trong biên chế của quân đội, nên ngay khi súng pháo ra đời đã có những tiên đề để cơ động. Trên thuyền của Trần Khát Chân năm 1390, đã thấy có pháo cơ động, chứng tỏ pháo dã chiến trên thuyền được thực hiện rất sớm ở nước ta.

Đương thời, người Trung Quốc đã đúc được những khẩu súng thần công khá lớn, nhưng những khẩu súng đó chỉ được đặt trong các pháo đài mà không mấy khi được cơ động cùng quân bộ. Nhà Minh sau khi chiếm được nước ta, được Hồ Nguyên Trừng truyền cho kỹ thuật chế thần cơ sang pháo.

Hoàn toàn không phải Hồ Nguyên Trừng đã dạy nhà Minh kỹ thuật đúc súng thần công nói chung. Vì từ giữa thế kỷ XIV, người Trung Quốc đã có những khẩu thần công thực thụ. Kỹ thuật nhà Minh phải học Hồ Nguyên Trừng mà sau đó “mỗi khi tế binh khí đều phải tế Trừng” (Cổ thụ biểu đàm, dẫn theo Vân Đại loại ngữ, t.I, tr. 299) chính là kỹ thuật chế tạo pháo dã chiến. Chỉ sau khi học được kỹ thuật này, quân đội Minh mới chính thức có một doanh thần cơ với tư cách là một đơn vị pháo độc lập trong quân đội, có khả năng cơ động cùng quân đội.

  Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ (t.I, tr. 299) có dẫn một đoạn trong phần Binh chí của Minh sử cho phép ta hình dung được kỹ thuật mà Hồ Nguyên Trừng đã dạy quân Minh: “Đến đời vua Thành Tổ nhà Minh, đánh được Giao Chỉ, được phép đúc thần cơ sang pháo. Lúc bấy giờ mới đặt ra đội súng thần cơ. Phép chế súng ấy dùng đồng đỏ, một nửa là đồng còn sống, một nửa là đồng đã nấu lẫn lộn. Dùng sắt mà đúc, thì sắt Phúc Kiến mềm tốt hơn, thứ nhì đến sắt Tây Vực. Súng có nhiều cỡ, lớn nhỏ không đều. Lớn thì kéo bằng xe, nhỏ thì dùng giá gỗ, hay vác lên vai. Súng lớn lợi cho việc chiếm giữ, súng nhỏ lợi cho việc chiến đấu, tùy tiện mà dùng. Súng (ấy) là thứ binh khí cần cho việc hành quân”.

Tầm cỡ của sáng chế này có thể so sánh với những cải tiến của anh em nhà Buy-rô (Buraux) trong các xưởng đúc pháo của Pháp thế kỷ XV mà chính nhờ những cải tiến đó, với Sác-lơ VIII, châu Âu bước vào thời kỳ pháo dã chiến tham gia mọi trận đánh trên bộ. Hồ Nguyên Trừng có thể được coi như một Buy-rô của phương Đông trong lĩnh vực pháo dã chiến. Điều đáng chú ý là sáng chế của Hồ Nguyên Trừng ra đời trước anh em nhà Buy-rô hơn nửa thế kỷ.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #178 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2012, 07:28:16 pm »

Nhờ đặc điểm gắn bó giữa quân thủy với quân bộ, nên pháo trên thuyền ở nước ta đã thực sự là pháo dã chiến cho quân bộ. Hoặc nó là phương tiện vận chuyển pháo, hoặc trực tiếp là dàn pháo cơ động, men theo các dòng nước chi chít trong nội địa bắn chi viện cho quân bộ trên bờ. Nhưng với những viên đạn đặc của thế kỷ XVI, pháo thuyền chỉ tiện dụng cho đối thủy nhằm pháo mạn thuyền đối phương. Năm Quang Hưng (1578-1599) thuyền chiến của quân Lê do Nghĩa Lộc hầu chỉ huy đã dùng pháo đạn đặc bắn chìm nhiều thuyền của quân Mạc (Binh thư yếu lược, tr. 333). Sang thế kỷ XVII, với sự phổ biến của các loại đạn nổ, hiệu năng sát thương cao, pháo thuyền mới thực sự là nỗi kinh hoàng cho quân bộ.

Xung đột Trịnh – Nguyễn diễn ra chủ yếu trên một khúc miền Trung thuộc Bình Trị Thiên hiện nay. Rẻo đất hẹp liền biển này buộc quân thủy Trịnh phải tăng cường khả năng hải chiến của mình, trong đó chủ yếu là tăng khả năng đối hải bằng pháo thuyền. Tuy nhiên, lực lượng quân thủy của cả hai bên đều không đủ sức mở ra một mặt trận trên biển. Quân Trịnh với hàng ngàn chiếc thuyền các loại tiến về phía nam, nhưng không phải để vượt biển thọc sâu vào Thuận – Quảng như trước đây Lý Thường Kiệt và Lê Thánh Tôn đã làm. Quân thủy đó chỉ làm nhiệm vụ hộ tống và chuyên chở quân lương, vũ khí cho quân bộ mở các cuộc tiến công vào hệ thống chiến lũy rất kiên cố của chúa Nguyễn ở vùng Quảng Bình hiện nay. Hầu như không thấy một trận hải chiến nào đáng kể trong suốt 50 năm xung đột liên miên đó, trừ một số trận đụng độ giữa quân thủy Đàng Trong với hạm đội Hà Lan.

Cửa Nhật Lệ là nơi diễn ra nhiều trận đánh lớn giữa quân thủy Trịnh với quân thủy, bộ phòng thủ Nguyễn. Trong đó có những trận quân thủy Trịnh thất bại nặng nề, nhưng không phải là kết quả do pháo thuyền Nguyễn mang lại. Quân thủy Nguyễn chốt khá đông ở Nhật Lệ, chủ yếu để giữ không cho quân thủy Trịnh vượt biển đánh sâu vào đất Thuận – Quảng, nhưng quân thủy Trịnh dường như lại không dám làm việc đó. Quân thủy Nguyễn cũng có vài lần đánh ra vùng bắc Quảng Bình, Nghệ Tĩnh, nhưng cũng không lần nào đụng độ lớn với quân thủy Trịnh. Có thể nói, cả hai bên trong cuộc xung đột này đều ra sức chuẩn bị cho quân thủy, nhưng hầu như sự cố gắng đó chỉ tăng cường sức mạnh cho những cuộc đụng độ trên đất liền, chúng đã không được thi thố trên biển với nhau.

Những trận đối thủy đáng kể nhất diễn ra khoảng tháng 6 năm 1656, khi quân thủy Nguyễn tiến đánh quân thủy Trịnh ở cửa Nam Giới, cửa Đan Nhai thuộc Nghệ Tĩnh hiện nay. Trong những trận này, theo Đại Nam thực lục (tiền biên, I, tr. 92) có những trận đấu pháo thực sự giữa quân thủy hai bên và thắng lợi thuộc về quân thủy Nguyễn.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #179 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2012, 07:36:19 pm »

Do số lượng pháo trên mỗi thuyền không nhiều, tốc độ bắn chậm, nên để tạo ra một hỏa lực cần thiết, quân thủy thời này thường phải dùng một số lượng đông pháo thuyền. Khi đối thủy trong sông, pháo thuyền thường dàn thành đội hình hàng ngang, nhiều hàng xen kẽ nhau. Đinh Tích Nhưỡng và Hoàng Viết Tuyển, hai tướng chuyên thủy chiến rong quân Lê – Trịnh đã từng bày trận như vậy để chống lại quân thủy Tây Sơn. Lê quý kỷ sự (tr. 89) thuật lại trận đánh của quân thủy Hoàng Viết Tuyển với quân thủy Tây Sơn do Quỳnh Ngọc hầu chỉ huy năm 1788: “Tuyển chia thuyền biển làm mười hàng. Ở các mũi thuyền đều đặt pháo lớn. Hễ gặp địch thì hàng thuyền cứ theo thứ tự lần lượt bắn. Tiếng súng liên miên không ngớt, đạn bay đầy sông, bắn vỡ luôn vài chục thuyền chiến giặc”.

Trong cả hai cuộc xung đột lớn nói trên, thấy có nhiều hình thức đề phòng quân thủy trên sông, trong lục địa cũng như cửa sông ngoài biển. Tiếp tục truyền thống xưa, hình thức phổ biến nhất vẫn là đóng cọc lòng sông.

  Hổ trướng khu cơ (tr. 329) coi đây là một trong chín “kỳ phương thủy chiến”. “Nên sai ba quân chuẩn bị cột gỗ độ 200 cái cũng được, đem đến cửa sông cắm xuống nước, xa gần so le, dài ngắn không đều, hình như răng chó cài nhau, để ngầm dưới mặt nước không để cho lộ thấy. Thuyền giặc đến tất bị cọc gỗ ngăn trở, dù thuyền nhẹ, buồm gió tốt, ra sức mà chèo cũng không đi được một bước”.

Một hình thức cản thuyền giặc nữa là dùng xích sắt chắn ngang lòng sông. Hình thức này đã được binh thư xưa nhắc đến, nhưng phải đến thời này mới thấy xuất hiện phổ biến và mang lại hiệu quả cụ thể. Dùng xích sắt có điểm thuận lợi hơn dùng cọc ở chỗ triển khai và thu dọn chiến trường đều khá nhanh gọn, thích hợp với phòng thủ ở những cửa sông có liên quan nhiều đến giao thông vận tải. Khi vô sự, có thể thu lại, khi hữu sự lại giăng ra rất nhanh. Cửa Nhật Lệ là nơi quân Nguyễn thường dùng hình thức phòng thủ này nhất và năm 1627, ngay cuộc đụng độ lớn đầu tiên với quân Trịnh, hệ thống xích sắt có gài móc, chông sắt ở đây đã làm cho quân thủy Trịnh tổn thất nặng220.

Ngoài hai hình thức phổ biến trên, thỉnh thoảng còn thấy xuất hiện một phương sách cản thuyền đối phương là dùng rồng cỏ (thảo long). Phương sách này khá đơn giản. Người ta dùng tre, gai, rơm, cơ khô… kết thành một bè cỏ lớn thả ngang sông, neo cho đậu một chỗ. Khi thuyền đối phương tới, có thể phóng hỏa làm thành hàng rào lửa trên mặt sông.

  Hổ trướng khu cơ (tr. 333) dẫn bài Kiêm Trai cho chúng ta một trận mẫu về cách dùng rộng cỏ này: “Năm Quang Hưng (1578 – 1599)… Nguyễn Hoàng đi đánh giặc Mạc ở Hải Dương, sai ông (tức Nghĩa Lộc hầu) đem ba chiến thuyền lớn đi tiên phong. Học Mạc đem vài nghìn hải phỉ đi trên vài trăm chiếc thuyền nhỏ xông lại khiêu chiến. Bạn ông là Đào Duy Từ bảo ông đem ngay tre nứa, rơm rạ đóng làm bè to, thả ngang giữa sông, rồi thuyền ta đem súng lớn bắn theo. Thuyền giặc tới, bị bè đằng trước ngăn trở, không xông lại được, bị súng của ta bắn chìm, thua chạy.

Hình thức tiến bộ và hiện đại nhất thời đó là dùng thủy lôi, cách chế cũng được giới thiệu chi tiết trong Hổ trướng khu cơ (tr. 331). Loại vũ khí này cũng có thấy trong Vũ bị chế thắng chí, tuy nhiên thực tế ít khi được sử dụng, có lẽ do cách chế tạo và sử dụng khá phức tạp, tốn kém, khó đảm bảo an toàn, trong khi đó hiệu quả lại không phải là cao.
-------------------------
220 A. de Rhohes, Sách đã dẫn.
Logged

Ùi, úi, ui....
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM