Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:39:59 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những chuyện không thể quên - Cười ra nước mắt (Phần 4)  (Đọc 462023 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #280 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2012, 09:28:15 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN

CHƯƠNG I      SINH RA  (tiếp 8 )

Nói xong, ông vái ba vái, quay sang bà đỡ ông bảo:

     -   Cụ cứ đặt nó là cái Gắng cũng được.
 
     Người ông rũ xuống, hai tay vẫn ôm đầu. Một lúc sau ông ngẩng lên cầm chai rượu rót ra đầy bẩy chén. Ông lẳng lặng uống ực bẩy hơi và lầm rầm nhắc tên bẩy người con  gái. Xong, ông cầm cả chai, ngửa cổ tu ừng ực, mắt ông đỏ đọc, trán toát mồ hôi. Thấy vậy, Tỵ lớn bảo:

     -   Thầy ơi ! Thầy đừng uống nữa, để con bê mâm mời cụ đỡ, thầy bu và các em ăn cơm.

     Ông quay lại nhìn, rồi từ tốn bảo:

     -   Con dọn cơm mời cụ đỡ. Bu và các con ăn đi, thầy không đói.

     Ông ngồi thừ trên ghế, cúi xuống vê một điếu thuốc lào cho vào nõ. Ông châm đóm vào ngọn lửa trong cái đèn cầy bằng vỏ chai, để mãi, đóm cháy tới tận tay ông mới biết. Rít hết điếu thuốc, ông  lại tợp một hớp rượu rồi mới chầm chậm nhả khói. Làn khói vần vụ, đùng đục, bảng làng lan tỏa trong đêm đông buốt lạnh.
 
     Nửa đêm hôm đó khi cụ đỡ đã ra về, trong khi cả nhà đang ngủ say, Ông khật  khưỡng đi vào buồng vợ, đứng im trong bóng tối, nhìn vợ và năm đứa con đã ngủ. Rồi ông bước ra ngoài, thu xếp tay nải. Xong, ông trở lại ban thờ, tần ngần thắp mấy nén nhang. Nước mắt ông cứ ứa ra, chảy mãi. Bỗng ông hét lên:

     -   Gần hết đời người, hai đời vợ, bẩy đứa con gái, thế thì còn thờ cúng cái nỗi gì.
 
     Mồm ông hét, tay ông gạt đi hết bát hương và hoa quả. Ông gầm lên như con thú bị thương, rồi ông lấy cái rổ lia hết bát hương, hoa quả và đồ thờ cúng vào đó, bê tất cả ra bờ ao. Mắt ông đầy nước, giọng khàn khàn chua xót, nghẹn ngào, ông hét lên:

     -   Con bất hiếu rồi bố mẹ ơi !

     Nói xong ông hất tòm cái rổ đồ thờ xuống ao. Ở trong nhà, sáu mẹ con giật mình vừa tỉnh giấc. Vợ ông tuy còn đang yếu, vẫn khóc dấm dứt  mà bảo ông:

     -   Thầy nó đừng buồn, cái số mình nó thế. Lần sau tôi sẽ đẻ cho thầy nó một đứa con trai.

     Ông quay lại gầm lên:

     -   Còn sau sau gì nữa. Hết sức hết đời rồi còn đâu !
 
     Đoạn ông cầm bọc tiền nhỏ đặt vào bên cạnh vợ, vuốt tóc mấy đứa con. Không nói năng thêm lời nào, ông lặng lẽ xách tay nải ra đi. Từ đó cả nhà không bao giờ nghe tin tức gì về ông, chẳng một ai biết ở ông đâu.

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Mười Một, 2012, 03:13:39 pm gửi bởi binhyen1960 » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #281 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2012, 09:07:05 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG I      SINH RA  (tiếp 9)

     Còn lại mình bà ngoại hắn với năm đứa con còn nhỏ, bà phải lặn lội sớm khuya kiếm ăn, đắp đổi qua ngày. Rồi thì, phần vì hậu sản, phần vì buồn nhớ chồng, phần vì nhà nghèo không đủ ăn để chèo chống tiếp tục, cố gượng đến khi dì út hắn bốn tuổi, bà hắn đành chịu nhắm mắt suôi tay, bỏ lại năm đứa con mồ côi mồ cút từ đó.

     Bấy giờ bu hắn đã 18 tuổi, đặng chẳng đừng, thay bố mẹ nuôi đàn em còn đang lít nhít. Nhà nghèo không có vốn nhưng được cái vườn ao rất rộng. Bu hắn bắt đầu xoay xở ngay từ cái vốn có này. Bà hướng dẫn các em hái rau muống cũ, thả dây muống mới, vớt bèo, bứt quả mang ra chợ bán. Được cái chị em thương yêu đùm bọc nhau, các dì hắn răm rắp nghe lời chị, chăm chỉ kiếm tiền. Số tiền kiếm được, trừ ăn tiêu dè sẻn mỗi ngày cũng bỏ ra được đôi chút. Tích tiểu thành đại, sau hai năm cũng có một chút vốn. Bu nó đong thóc về cho năm chị em làm hàng xáo. Năm chị em xoay vần cả ngày xay lúa, giã gạo, giần sàng rồi mang ra chợ bán, cám để nuôi lợn, trấu thì để đun. Đâu vào đấy, chẳng bỏ đi tí nào.

     Sau khi lấy thầy nó, bu nó chuyển về ở  nhà chồng cũng ngay thôn bên cạnh nên vẫn thường xuyên qua lại bảo ban các em. Những năm sau, bu nó lần lượt gả chồng cho bốn người em. Dì Lạp được bu nó gả cho ông Thânh, người ở Đào Du. Ông Thanh đã có một đời vợ và ba đứa con trai nhưng vợ đã chết. Dì Lạp, sau đó cũng đẻ được thêm ba đứa con trai nữa. Dì Luật, xấu gái nhất nhà vì có hàm răng “vổ vỉu”, lại đen gầy thì bu nó gả cho chú Đương, người khá đẹp trai nhưng nghèo và vai vế thấp. Dì Thiêm được gả cho chú Ân ở thôn Sài. Gia đình chú là cốt cán, rất nghèo nên đồng ý ở rể để coi chăm vườn ao nhà cửa ông bà ngoại nó để lại. Dì Thiêm chú Ân đẻ được mười người con, sau này phương trưởng cả. Dì út Gắng nó lấy chú Tròn, vì thế sau này được gọi là Gắng Trọn. Chú dì đã được một người con gái nhưng mẹ chồng dì quá khắc nghiệt đã đuổi dì đi. Dì bỏ lên Thái Nguyên buôn bán và chết ở đâu không rõ.

     Đó là vào những năm 1929 quân pháp chiếm đóng hầu hết miền bắc Việt Nam, làng nó cũng không ngoại lệ. Tây đóng đồn ngay trong huyện lỵ, dựng trại lính, xây lô cốt kiên cố. Đến nay,  còn đó, lô cốt sừng sững đầu làng, cách nhà nó khoảng 200 mét. Ngay rìa đường số Năm, là một ụ lô cốt bằng bê tông cốt thép cao tầm 3 mét, rộng khoảng 30 mét vuông, tường bê tông dày 60 phân. Năm họng châu mai hình phễu cách mặt đất khoảng 50 phân, đen ngòm như mắt những con cú vọ, gườm gườm soi về bốn phía, kiểm soát toàn bộ trục đường Năm và con đường vào làng phía đối diện. Bây giờ, ai đi trên đường Năm, vẫn có thể nhìn thấy lù lù khối lô cốt đó nằm cách đường chừng dăm chục mét.

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Mười Một, 2012, 03:19:08 pm gửi bởi binhyen1960 » Logged

lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #282 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2012, 04:59:48 pm »


...Đó là vào những năm 1929 quân pháp chiếm đóng hầu hết miền bắc Việt Nam,...
_______

Bác xem lại cái mốc thời gian này
Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #283 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2012, 09:06:33 pm »


...Đó là vào những năm 1929 quân pháp chiếm đóng hầu hết miền bắc Việt Nam,...
_______

Bác xem lại cái mốc thời gian này

     Bác Lexuantuong, theo tôi, ý tác giả là vào những năm đó quân Pháp chiếm đóng hầu khắp miền bắc Việt Nam. Các lực lượng khởi nghĩa chống Pháp đều đã thất bại từ cuối thế kỷ XIX. Pháp hoàn toàn làm chủ rồi nhưng không có nghĩa nơi nào cũng có quân Pháp chiếm đóng. Nếu hiểu như thế thì tác giả viết cũng không sai.

CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG I      SINH RA  (tiếp 10)

     Quán thợ may thầy bu nó thuê ở Văn Chỉ là căn nhà cấp 4 có hai gian hai chái nằm ngay phố huyện gần một biệt thự 3 tầng của ông cả Điền, người được cho là giầu có, tầng lớp tiểu tư sản ở quê nó lúc bấy giờ. Quán may lợp lá tranh, vách đan thưa bằng nứa, tường được trát bằng rơm bằm trộn với bùn. Cửa đi  và cửa sổ đều là cửa xương trụ, phên nứa. Thầy nó kê một cái máy khâu hiệu  Xanh-de (Singer) đã cũ. Ở phía trên, lùi vào phía sau treo một chiếc sào tre dài tầm hai mét, vắt ngay ngắn những tấm vải các mầu. Trên vách bên trái ngăn với buồng trong có đính nhiều móc để treo quần áo đã may xong. Thôi thì đủ loại, quần áo tứ thân, áo cánh, quần chân què, áo bông trần, áo the, khăn xếp, áo sơ mi, áo măng tô (manteau), com lê (comple), áo đờ mi (áo vest không có quần đồng bộ), . . . . Vì là thợ may ở thành phố về, có tay nghề cao nên thầy nó khá nhiều việc. Ban ngày bu nó bán hàng ngay trước cửa nhà, gần chợ, ban đêm ngồi đơm khuy, thùa khuyết trên cái phản kê bên gian trong.

     Tại căn nhà này các anh chị hắn lần lượt ra đời. Đầu tiên là chị Biên, chị Dụng rồi đến anh Bính. Sau anh Bính là chị Thùy. Năm đó, chị Thùy mới lên ba, đang tập nói bi ba bi bô, trông rất xinh, ai thấy cũng yêu. Vậy mà đùng một cái chị ra đi vì căn bệnh đậu mùa. Hắn nghe kể lại, chị chết thương tâm lắm. Căn bệnh quái ác đã làm chị nó mụn nhọt đầy mặt, đầy đầu, mắt toét rỉ nhoèn. Các nốt mụn cứ đóng vẩy rồi lại chảy nước vàng nhoe nhoét, ruồi nhặng bâu đầy, tay chân nứt nẻ. Chị nó ngứa quá cứ gãi đầu gãi mặt, bóc vẩy mụn ra mà cho vào miệng nhai tem tém. Thầy bu nó chạy ngược chạy xuôi tìm thầy, tìm thuốc cứu chữa cho con. Nhưng vệ sinh không giữ được, chị nó bị nhiễm trùng quá nặng. Sau một tuần ly bỳ sốt cao, chị nó đã ra đi.

     Liên tục những năm sau đó thầy bu nó sinh thêm được ba người con gái nữa, Đó là chị Thơ, chị Vận, chị Thất. Kinh tế gia đình bấy giờ đã khá giả, thầy nó mở rộng thêm cửa hàng và  nhận dạy nghề cho ba ba học trò, là anh Bôn, anh Mài và anh Điểu. Bu nó mở thêm sạp bán vải và tạp hóa. Thầy bu hắn sinh được sáu chị lại chỉ có một anh Bính là trai, nên anh được cưng chiều hết cỡ. Anh nó được đi học Quốc ngữ ở trường huyện. Bấy giờ, trường huyện chỉ dành cho con trai các gia đình khá giả. Vậy là anh nó trở thành một công tử con nhà giầu hay cậu ấm con quan, một cậu công tử bé nhỏ, trắng trẻo, đẹp trai, môi đỏ, tóc bồng. Điệu đà và đúng kiểu cách lắm, anh nó đi học có “con sen”, “thằng ở” đưa đón. Cậu ấm toàn quyền ăn sáng hoặc ăn quà vặt ở tất cả các tiệm to nhỏ của phố huyện, không cần hạn chế, chỉ việc ký sổ. Cuối tháng bu nó đều vui vẻ thanh toán hết.

     Sau thời gian tích cóp, lưng vốn đã khá khá, bu nó đã quyết định mua một mẫu ruộng ở khu bốt đá (đường đi vào Trại Lớn 35 và xã Hưng Long ngày nay). Bấy giờ anh cả nó đã 13 tuổi, xét cần phải có người để làm ruộng và quán xuyến việc nhà, bu nó đã hỏi cưới vợ cho anh nó là chị Mây con cụ hai Năng, một gia đình nông dân nhưng giầu có và nề nếp, to họ, dài dòng. Chị Mây đã gần 17 tuổi, hơn anh nó ba tuổi rưỡi. Ở cái tuổi dậy thì, chị Mây đẹp lắm. Hôm cưới, chụp ảnh trước mái nhà tranh, chị mặc áo tứ thân, anh mặc áo lương, đội khăn xếp, trông đúng là đôi đũa lệch. Chị Mây thì cao, đầu gần chạm đến mái tranh, anh Bính thì tuy trắng trẻo đẹp trai nhưng gầy còm, thấp bé, đứng chỉ cao đến ngang ngực chị Mây.

     Vào khoảng năm 1950. Chị cả Biên lúc bấy giờ đã mười bẩy tuổi. Thấy anh Bôn, người trò học nghề cũng con nhà tử tế, bản thân anh hiền lành, chịu khó, lại có tình ý với chị nên cuối năm ấy thầy bu nó đã đồng ý gả chị cho anh Bôn.

     Hai năm sau, chị thứ hai của nó là chị Dụng đã lớn phổng phao và rất xinh xắn, được người mai mối, thầy bu nó cũng đồng ý gả cho anh Chí, con cụ Cao ở xã Phùng Chí Kiên (tên xã về sau này), cách nhà khoảng chừng cây số.

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Mười Một, 2012, 10:46:49 am gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

HaHoi
Thành viên
*
Bài viết: 513


« Trả lời #284 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 09:02:06 am »

Nhờ bác TTNL cảm ơn bác Thập cho em, truyện cứ như chuyện nhà em thời xửa thời xưa.
Logged
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #285 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:58:59 pm »

.
     Bác Nguyễn Trọng Thập chuyển lời cảm ơn mọi người đã đọc và chia sẻ !

Nhờ bác TTNL cảm ơn bác Thập cho em, truyện cứ như chuyện nhà em thời xửa thời xưa.

     HaHoi !Bác Nguyễn Trọng Thập gửi lời cảm ơn.

     Bác Thập nay đã nghỉ hưu mà chuyện đang kể đến đoạn mà bác ấy còn chưa ra đời thì đúng là chuyện thời xửa thời xưa thật.


CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG I      SINH RA  (tiếp 11)

     Để ổn định và phát triển buôn bán, thầy bu nó đã tậu mảnh đất mặt phố của cụ lang Bưu khu đất rộng khoảng ba trăm mét vuông, mặt tiền hướng nam, rộng chừng hơn chục mét. Trên khu đất đó có một căn nhà tranh cấp bốn, nơi mà hắn sinh ra sau này.

     Trong khi chờ đợi để xây cất cho đàng hoàng, thầy bu nó mua thêm một mẫu ruộng, gọi là ruộng chéo, vì thửa ruộng nằm giữa ngã 3 hình chữ y nối từ phố Thứa đi vào. Bên trái rẽ sang làng Dâu, Cẩm Sơn, Cẩm Xá. Bên phải đi qua Phùng Chí Kiên, qua Dương Quang, qua ga Lạc Đạo thuộc huyện bên.

     Thầy bu nó bỏ tiền ra thuê người đào đất, đắp lò đốt gạch. Mỗi khi ra lò, gạch đẹp được xếp thành kiêu, bán cho thương lái. Gạch non, gạch xấu được chở về khu đất mới mua để chuẩn bị xây nhà. Các chị các anh lớn của nó thường được huy động kéo xe bò xuống Sặt mua than về nặn. Sau đó lại dùng xe bò chở gạch xấu về nhà. Đây là giai đoạn làm ăn hưng thịnh và tràn đầy hạnh phúc của gia đình nó. Cũng giai đoạn này bu nó sinh thêm anh Bát và chị Cửu.

     Trước sự lớn mạnh của bộ đội chủ lực và quân du kích, giặc Pháp càng ngày càng bị co cụm, thu hẹp lại. Vì vậy chúng càng điên cuồng trả đũa, hòng gây sức ép cho việc đàm phán của chính phủ ta và Pháp tại hội nghị Giơ-ne-vơ (Genève). Chúng mở các cuộc càn quét quy mô lớn vào các địa phương vùng đồng bằng Bắc Bộ nhằm giành lại sự kiểm soát.

     Chập tối một ngày đầu đông năm 1952, được cán bộ Việt Minh thông báo yêu cầu bà con toàn huyện đi "tản cư" đề phòng giặc Pháp tấn công, thầy bu nó thu xếp đồ đạc, gồng gánh các con cùng xóm làng đi “tản cư” sang cầu Tu Thúy Trúc, một vùng hẻo lánh trong địa phận huyện Ân Thi. Các anh chị lớn cùng thầy nó đẩy xe bò và mang vác đi trước. Bu nó đi sau cùng, gánh đôi quang, một bên có đầu máy khâu Xanh-ze cùng bọc tã lót, bên còn lại bu nó đặt chị Cửu. Bấy giờ chị Cửu  mới được gần một tuổi nằm ngủ ngon lành, gọn trong thúng, xung quanh cũng chèn tã lót, bên trên che miếng ni lông tránh mưa. Trời tối nhờ nhờ, rét cắt da cắt thịt, mưa bụi giăng mờ, đường trơn, lầy lội, lép nhép. Trên trời thỉnh thoảng lóe lên quầng pháo sáng, xa xa đoàng đoàng vọng lại tiếng đạn hỏa châu, tiếng chiu chiu, bùm bùm của đạn moóc-chiê (moochies – súng cối), tiếng đì đùm của các loại súng trường, súng kíp. Hối hả bấm chân, ngã nghiêng, ngã ngửa, bu nó lầm lũi đi theo đoàn người.

     Bỗng ầm ầm chiu chíu, đạn moóc-chiê nổ rền vang trên phố. Mọi người tán loạn, tiếng hò hét than khóc như ri. Cụ đỡ vừa ôm tay nải đi sau vừa hét:

     -   Mẹ cái hĩm con xuống hầm đi !

     Bu nó tất tả lao bừa vào một cái hầm tăng-xê còn trống, với tay lôi một bên quang gánh có đứa con ở trong đó xuống hầm. Rồi bu nó hổn hển kéo vội nắp hầm lại. Bên ngoài pháo sáng rực trời, tiếng đạn pháo ca-nông (pháo nòng dài) và moóc-chiê càng ngày càng gần. Bu nó chỉ biết lầm rầm cầu Trời, khấn Phật. Bỗng một tiếng nổ rất lớn ngay trên đầu, viên đạn nổ sát bên cạnh hầm, khét lẹt, đất đá văng rào rào. Sau đó là sự yên ắng đến rợn người. Một lúc lâu, thấy đã yên, mọi người gọi nhau:

     -   Hết rồi, yên rồi, lên đi !

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Mười Một, 2012, 09:07:48 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #286 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2012, 10:56:34 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG I      SINH RA  (tiếp 12)

      . . . . . thấy đã yên, mọi người gọi nhau:

     -   Hết rồi, yên rồi, lên đi !

     Bu nó ngoi ngóp rũ đất cát đầy đầu, đầy thúng, chỗ chị nó nằm. Thế mà khi ra khỏi hầm, rũ mảnh áo mưa trong bóng đêm bu nó lờ mờ nhìn thấy đứa con gái vẫn đang “ngủ li bì”. Yên tâm, sốc quang gánh lên vai, bu nó tiếp tục chạy.

     Gần sáng bu nó tới được nơi sơ tán gặp lại các con. Hạ quang gánh xuống, bế chị Cửu nó ra cho bú, bu chựt giật thót người. Trời ơi ! Chị Cửu nó bị mảnh đạn găm vào người đã nằm chết cứng trong thúng từ bao giờ. Bu nó thét lên rồi chết ngất tại chỗ. Mấy anh chị nó cùng nhào tới rồi khóc ré lên một lượt. Chị Cửu nó đã ra đi như thế !
  
     Cả nhà đã đau buồn quá sức lại còn thêm nỗi lo về thầy. Thầy nó kéo xe bò (loại xe kéo tay có hai bánh như xe cải tiến bây giờ nhưng to hơn, được làm bằng gỗ, bánh xe cũng bằng gỗ có đai sắt, có độ chục cái nan hoa cũng bằng gỗ) trở lại chuyến cuối cùng để nhặt đồ đạc mà mãi giờ này này vẫn chưa thấy tới. Ai nấy bồn chồn, hết đi ra lại đi vào, ngó trước, ngó sau, ruột gan như có lửa đốt.

     Mãi đến gần trưa hôm sau, một chị ngóng ra đầu làng mới thấy thầy nó phờ phạc, quần áo lấm lem, ướt rượt, đang còng lưng kéo cái xe bò lọc cọc vào làng. Các anh chị nó chạy ùa ra đón thầy. Mọi người bỗng giật mình sửng sốt, bên trên đống chăn bông, quần áo, nằm thẳng đuỗn một cậu thiếu niên trạc mươi tuổi, quấn băng đầy mặt, đầy người. Anh chị nó nhao nhao hỏi thì thầy nó bảo:

     -   Đẩy xe vào nhà đi, khênh nó lên giường đi đã. Thầy sẽ nói chuyện sau.

     Thấy chồng về bu nó òa lên khóc. Mấy anh chị nó được thể cũng gào theo. Thầy nó không hiểu chuyện gì, đến gần bu nó hỏi:

     -   Ở nhà có chuyện gì hay sao ?

     Bu nó nói nghẹn ngào trong nước mắt và giở chiếc khăn vuông chùm chị Cửu:

     -   Cái Cửu bị trúng mảnh đạn, chết rồi !

     Thầy nó sững lại hốt hoảng, lập cập quỳ xuống, tay run run bế chị nó lên. Nước mắt ông chảy ra chan chứa, không khóc nổi thành tiếng. Ông nâng mặt chị nó lên hôn tới tấp:

     -  Giời ơi ! Sao lạnh ngắt thế ? Cửu . . . con ơi . . . ! Con ơi . . . !

     Chị Cửu nó được gói trong lớp tã mới, bên ngoài quấn một chiếc khăn hoa nhỏ, cái khăn mọi ngày vẫn đắp cho chị. Thầy nó sửa lại hòm gỗ thông đựng đồ làm cỗ áo cho chị. Cả nhà nó lặng lẽ khiêng chị nó ra bụi tre đầu làng. Một cái hố nhỏ đón chị nó về với đất. Thầy nó vần một hòn đá to đặt vào chân mộ để đánh dấu. Nó mất thêm một người chị từ đó.

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Mười Hai, 2012, 11:04:45 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #287 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 08:38:16 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG I      SINH RA  (tiếp 13)

     Cậu bé bị thương mà thầy nó đưa về trên chiếc xe bò tên Nguyễn Văn Can, cũng là con của người cùng hàng huyện. Thầy nó kể, đêm hôm đó sau khi về nhà, nhặt được vài cái chăn và mớ quần áo cũ, rồi thầy nó hối hả kéo xe chạy dọc đường Năm. Lúc đó quân Pháp đã tràn được bộ phận cơ giới đi đầu vào làng quê nó. Đạn pháo đã ngừng nổ, thay vào đó là tiếng rầm rầm của xe ca-mi-ông (camion - xe tải - một số người đọc sai thành xe “cam nhông”) nhà binh chạy rầm rầm.

     Đang kéo xe chạy trong bóng đêm nhập nhoạng, thầy nó giật mình khi thấy bên vệ đường một đống đen lù lù bỗng nhiên động đậy. Thầy dừng xe tới gần xem kỹ, thì ra đó là một thiếu niên đang nằm rên rỉ vì bị xe nhà binh chạy qua đụng phải, toàn thân be bét máu. Nhìn trước nhìn sau không thấy ai, thầy liền cúi xuống bế cậu bé đặt lên trên đống quần áo cũ. Ông rạp người vội vã kéo xe chạy thật nhanh về nhà thương Bần cách đó chừng ba cây số. Tại nhà thương, các bác sỹ, cả người Việt lẫn người Pháp đều xúm vào cứu chữa. Cũng may vết thương không có gì quá nghiêm trọng, bệnh viện đã băng bó lại cho cậu. Thầy nó xin cho đưa về rồi cứ thế kéo xe, chạy thẳng về nơi sơ tán.

     Những cuộc càn quét của quân Pháp gặp phải sự chống trả mạnh mẽ của bộ đội chủ lực và du kích. Rồi dần dần ta từng bước đẩy lùi được nhiều cuộc hành quân càn quét của chúng. Vì thương vong quá lớn, chúng đành rút về cố thủ ở bốt Mỹ Hào. Cái bốt đó bị ta bao vây xung quanh và khóa chặt. Làng nó hoàn toàn do ta kiểm soát. Thầy nó là đội viên du kích hoạt động ngầm từ lâu, cho nên, sau khi ổn định nơi sơ tán cho vợ con, ông trở lại làng để tham gia chiến đấu, lâu lâu mới tạt về thăm nhà. Rồi đến lượt bu nó, vì buôn bán vải và hàng tạp hóa, bu thường xuyên mang hàng cho lính nên hiểu rõ đường ngang ngõ tắt và nắm tin tức địch. Không biết bu nó tham gia hoạt động từ bao giờ mà bây giờ là tổ trưởng tổ địch vận. Bu nó giao phó nhà cửa và các con nhỏ cho các đứa lớn để trở lại phố huyện tham gia chuẩn bị việc đánh đồn, phá bốt.

     Trong căn nhà cấp 4 thầy bu nó thuê, dưới cái bàn thùng đựng đồ may, khi mở cái cửa lùa, chui vào gạt vải vụn, dỡ ra tấm ván đáy sẽ hiện ra một căn hầm bí mật. Đây là căn hầm thường xuyên nuôi giấu cán bộ nằm vùng như ông Bảy Đen, ông Lý Quỳnh, ông Tài Thức (anh rể bu nó), . . . Đặc biệt lúc bấy giờ có ông Báu, người ở làng Vang làm chỉ huy du kích được tổ chức bố trí tại nhà nó thường xuyên, giả làm học sinh học may kiêm ông đồ dậy chữ nho trong bộ y phục áo the, khăn xếp để hoạt động công khai. Chính những người này đã hướng dẫn và kết nạp bu nó vào làm trong tổ quân báo. Bu nó  thường đưa đồ vào trại lính, bí mật theo dõi, ghi chép tỷ mỉ theo hướng dẫn của tổ công tác để đêm đến báo cáo tình hình địch cho tổ.

Nguyễn Trọng Thập
Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #288 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:38:51 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG I      SINH RA  (tiếp 14)

     Một tối nọ, theo lệnh cấp trên, ban chỉ huy du kích bố trí gặp chỉ huy chủ lực tại nhà nó để nhận kết quả báo cáo tình hình địch và bàn ngày giờ quyết định đánh đồn. Để che mắt địch, bu nó làm mâm cơm thịnh soạn, gọi là nhà có giỗ để mọi người ra vào cho hợp lẽ. Theo lệ thường, khoảng từ 8 đến 9 giờ tối Pháp cho quân đi lục soát từng nhà. Hôm đó một tên thầy cai người Việt và hai lính khố đỏ vào nhà nó. Thầy bu nó ra tận cửa đon đả mời vào, kéo thêm ghế, lấy thêm bát mời chúng cùng uống rượu. Uống xong chén đầu bu nó kính cẩn, tươi cười mời các quan đi xét nhà. Tên cai đội cười nói:

     -   Thôi ! Hôm nay nhà có giỗ, cả nhà cứ ăn uống tự nhiên. Ai chứ nhà anh chị đây chúng tôi lạ gì, thân với quan đồn lắm, không phải xét. Xin anh chị cho chúng tôi chén nữa để chúng tôi còn đi tiếp.

     Câu nói vô tình này của tên cai đội đã giải thoát được nguy hiểm trước mắt. Ai ngờ, nó lại mang đến nhiều hệ lụy cho thầy bu hắn sau này.

     Chỉ ít ngày sau đó, quân chủ lực và quân du  kích bất ngờ đáng úp đồn vào giữa đêm khuya. Thầy bu nó mỗi người dẫn đường cho một cánh quân tung hoành trong cái trại lính ở phố nó. Trận đánh kéo dài đến gần sáng thì quân ta làm chủ hoàn toàn. Cái đồn lính bị san phẳng.

     Đến năm năm tư, theo hiệp định Giơ-ne-vơ, quân Pháp phải rút quân khỏi miền Bắc. Người dân quê nó cũng như các vùng quê khác vui sướng không bút nào tả xiết. Mọi người dân từ chỗ tản cư được trở về nhà và thôn xóm của mình. Ở quê nó tưng bừng lắm, cờ đỏ sao vàng tung bay khắp mọi nơi, trống ếch tà rành . . . , tà rành . . . thật là rộn ràng trong ngày mừng giải phóng. Nhà nó cũng như mọi nhà khác rộn rịch bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới trong hòa bình với tất cả niềm vui sướng, niềm tin và hy vọng.

Nguyễn Trọng Thập
Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #289 vào lúc: 04 Tháng Mười Hai, 2012, 09:51:29 pm »

.

CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG I      SINH RA  (tiếp 15)

     Sau khi đã đốt đủ gạch, mua đủ vôi, cát, tre nứa, thầy nó cho xây một cái nhà ba gian rồi xây tiếp cái nhà ngang và nhà sau (như phần trên đã nói). Cả nhà nó vui mừng chuyển về nhà mới và ổn định cuộc sống.

     Lại nói về cậu thiếu niên tên Can mà thầy nó đưa về trên chiếc xe bò trong đêm chạy loạn. Anh vẫn ở cùng gia đình nó khi chuyển về nhà mới. Sau khi bình phục, anh được thầy nó dậy nghề may. Gia đình anh Can, sau khi người con mất tích, cả nhà đã chạy đôn chạy đáo đi tìm khắp nơi, dò hỏi khắp chốn nhưng vẫn không thấy tăm tích, một phần cũng là do chiến tranh loạn lạc làm cho việc tìm kiếm gặp nhiều trở ngại. Sau ngày hòa bình, tình cờ một lần hỏi dò đúng người biết chuyện thầy nó, rằng có người cứu được một cậu bé trắng trẻo bụ bẫm, gia đình ấy cử người sang xem thì nhận đúng là người con trai lưu lạc. Họ ôm nhau cùng khóc, thật cảm động. Thì ra gia đình anh Can ở ngay Bần, cách nhà nó không xa, chỉ năm cây số. Ngay sáng sớm hôm sau đó Thầy bu anh Can bê mâm sôi, thủ lợn, con gà sang nhà nó, cung kính dâng lễ lên ban thờ, thắp hương khấn vái tạ ơn ân nhân và chính thức xin cho anh Can làm con nuôi thày bu nó. Nó có thêm một người anh.

     Ở khu lò gạch ngoài ruộng chéo, thầy bu nó đã ngừng đốt gạch. Những thùng đấu lấy đất đốt gạch nước ngập thành ao thì để thả bèo, phần ruộng phẳng còn lại thì san thành ruộng để cấy lúa nếp và lúa tẻ.

     Vào một ngày đầu thu, sau khi ăn sáng xong, gọi là ăn sáng nhưng là bữa ăn đầu tiên trong ngày vào quãng giờ ngọ, ở quê nó ngày chỉ có hai bữa, bu nó uống hớp nước vối được ninh trong cái nồi đồng, với vội cái tăm và cáp cái mê nón ra đồng thăm lúa. Bấy giờ bu nó đang có chửa, cái bụng đã lớn lắm, chắc sắp đến cữ. Từ xa nhìn thấy lúa tốt bời bời, vụ mùa này chắc khá. Bu nó phấn khởi lắm. Vừa tới ruộng, chưa kịp lội xuống, bỗng dưng bu nó thấy đau quặn bụng, cái thai đang bắt đầu đạp mạnh đòi ra. Thằng cu hay cái hĩm này dữ đây. Bu nó vịn gốc cây đứng thở dốc một lúc cho dịu cơn đau rồi vội vã quay về. Khu ruộng chéo này cách nhà gần cây số, không biết có về kịp không. Về gần đến nhà, cơn đau ngày càng dữ dội, mồ hôi túa đầy mặt, mấy lần bu nó phải đúng tựa gốc cây để chống chọi cơn đau. Cố gắng lắm, cuối cùng bu nó cũng về được nhà. Vừa đến cửa, gạt cái cửa liếp để bước vào, bu nó gấp gáp gọi:

     -    Vạn lớn, vạn con đi tìm gọi cụ đỡ cho bu mau.

Nguyễn Trọng Thập

Hồ làng Thứa, Mỹ hào ngày nay


Nghè bóng làng Thứa



     Nghè lập trên 1 gò cây cao bóng cả như 1 cánh rừng nhỏ có cả gốc lim, cây lá mật (ngọt) và cây ràng ràng. Bên dưới mọc chen chúc những cây móc, cọ. Một sập thờ đá với lưng dựa và tay ngai được xây trên đỉnh gò, 2 bên trước mặt là 2 hương án tế với đôi phỗng, đôi nghê và đôi voi quỳ đều tạc bằng đá. Tường hoa thì chồng hoa thị.

     Tam quan xây nguy nga với 3 nếp lầu trang trí cửa sổ chữ thọ và đứng trấn trên nhiều bậc thềm gạch cao. Tam quan xây khoảng năm 1910. Còn 1 khoảng sân nữa với tường và bình phong mới đi ra đường cái và con ngòi lượn vòng trước mặt. Bên trái Tam quan, 1 miếu thờ chư vị được xây nép dưới chân gò nghè và xa hơn chút nữa là quán nước phục vụ khách đi đường.Gò cây nghè Bóng đã bị quân Pháp dũi huỷ năm 1949.
Giáo sư Nguyễn bá Lăng

« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2012, 10:53:49 am gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM