Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:53:08 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ngày này 34 năm trước... (phần 2)  (Đọc 82829 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Trongc6
Thành viên
*
Bài viết: 495


« Trả lời #120 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2013, 01:56:10 pm »

…
   Chúng tôi được nghỉ lại đây 3 ngày. Mắc võng hay nằm đất thì tùy, nhưng không phải đào hầm. Đây cũng chỉ là một cánh rừng do tiền trạm của trung đoàn chọn chứ không phải bãi khách của đường dây 559.

   Lâu không hành quân, được đi ô tô cũng sướng, nhưng qua 2 ngày đi xe cũng khá mệt mỏi. Chiều hôm đó và buổi tối, chúng tôi nghỉ là chính.

   Hôm sau là cả một lô việc. Thoạt đầu là báo động chiến đấu và kiểm nghiệm quân tư trang. Cái chuyện muôn thuở này tuy đã quen, nhưng quả tình không khoái. Từ lần kiểm tra trước ở bản La Vang trước khi hành quân đến lần kiểm tra này chỉ chưa đến chục ngày. Chắc cấp trên vẫn tưởng chúng tôi còn giấu diếm điều gì. Lính ta thường nói khi đánh nhau mà lấy vàng bạc gì đó thì rất hay đen đủi, dễ bị bom rơi đạn lạc, nên thực tình trận nào chiếm được cứ điểm địch, chúng tôi cũng chỉ nhăm nhăm lấy thứ ăn được chứ không để ý lục lọi thứ khác làm gì. Lấy những của đó về trước sau gì cũng phải đem nộp cấp trên, vừa mệt người mà còn để lại dấu vết nghi ngờ thì lấy làm gì. Tôi còn không thích hơn nữa là trong đoàn kiểm tra không phải chỉ có riêng cán bộ đại đội, mà còn có cả mấy ông trợ lý trên tiểu đoàn. Các ông ấy xăm soi rồi thản nhiên giở cả nhật ký của lính tráng ra xem. Đã có trường hợp nội dung trong đó bị ghi nhận lại rồi đem ra đánh giá lúc này, lúc nọ. Chính vì thế mà quyển nhật ký ghi chi tiết của tôi sau khi vào chiến trường chỉ sáu tháng sau đã phải bỏ. Nhật ký của tôi giờ chỉ còn cuốn sổ nhỏ, mỗi ngày chỉ ghi đôi ba dòng sự kiện là chính.

   Sau kiểm tra quân tư trang, chúng tôi về dọn dẹp chỗ trú quân. Vì dừng lại mấy ngày nên vẫn phải phát quang chỗ ở từng tiểu đội và căng dây đi đêm cho khỏi lạc. Buổi chiều chúng tôi được nghỉ ngơi tắm giặt.

   Con sông cạnh chỗ trú quân là một con sông to. Bây giờ là mùa khô mà ở chỗ ngang tiểu đội tôi hạ trại, chiều rộng con sông có dòng nước chảy cũng tới cả trăm mét. Tôi không rõ sông này tên gì. Nơi này vẫn thuộc đất Lào. Con đường đầy bụi chúng tôi đi hôm qua vẫn là thuộc nhánh Tây Trường Sơn.

   Xuống tắm giặt mới biết con đường đất bụi xe chạy hôm qua bẩn thật. Quần áo đỏ ngầu. Nhiều người còn phải giặt cả ba lô vì bụi nhiều quá. Có một cái hủm sát bờ, nước chảy quẩn trong đó rộng chừng hai chục mét, không sâu lắm và có nhiều bờ đá đẹp nên đa phần lính tráng tắm giặt quanh đó. Quần áo đem phơi ngay các bụi cây và tảng đá bên bờ. Rất may là nơi đây cách xa con đường xe, lại có rừng già chắn nên bụi không bay tới đây, không khí rất trong lành. Giặt quần áo xong, một số lính rủ nhau ra khúc sông rộng bơi cho thích. Tôi cũng theo tốp khoảng gần chục anh bơi ra sông. Vùng vẫy một hồi, chúng tôi rủ nhau bơi vượt sông.

   Có lẽ lâu ngày không bơi lội, nên ra đến giữa sông, dòng nước chảy mạnh hơn, tôi thấy hơi ngợp. Còn khoảng hai chục mét nữa tới bờ thì tôi thấy mệt. Đáng lẽ cứ bơi tiếp sang, nằm nghỉ ngơi, khi nào lại sức thì bơi về, tôi lại quyết định sai lầm, sợ sang đó thì không bơi về được. Thế là tôi bơi quay lại, trong khi các anh khác vẫn bơi tiếp sang bờ bên kia. Khi về ngang sông thì tôi thấy mệt hơn, nhất là lại phải chống lại dòng nước chảy mạnh. Tôi kêu to cầu cứu, nhưng bụng nghĩ chắc phen này mình nằm lại đáy sông rồi. Các anh trong đơn vị ở cả hai phía bờ đều cách xa tôi, khó mà bơi ra cứu được. Vừa bơi vừa trôi được thêm một đoạn thì tôi nghe anh Nhạn y tá kêu to.

   - Thả lỏng người đi, cứ để trôi theo dòng nước mà vào bờ dần.

   Tôi làm theo. Trôi được mấy chục mét nữa chả thấy ai, tôi lại hoảng. Tự nhiên lại nghĩ là thôi chết luôn cho xong. Nhưng muốn chết đuối phải uống no nước. Tôi chìm đầu xuống há mồm uống một ngụm to. Nhưng có lẽ do bản năng của người biết bơi nên tôi không nuốt nổi. Muốn chìm người xuống nhưng chân tay cứ khuơ nên vẫn không chìm. Một lúc sau nữa thì tôi bình tĩnh hơn, thôi kệ, cứ trôi, bao giờ kiệt sức chắc phải tự uống nước mà chết.

   Trôi được vài trăm mét gì đấy thì tới khu vực trú quân của bọn K15. Cũng có nhiều thằng đang tắm ở đó. Chỗ này dòng sông mở rộng ra và cạn hơn. Một thằng chắc phát hiện ra tôi bị trôi từ xa, vớ được một cành cây dài liền lội ra mé nước chìa sẵn. Đoạn này dòng sông uốn cong về phía đó, tôi trôi lại được gần bờ hơn. Thế là tôi cố sức vùng vẫy bơi vào và tóm được túm lá đầu cành. Tôi được mấy đứa kéo và dìu vào bờ. Nằm được một lúc thì anh em trong đại đội cũng men theo bờ chạy tới. Mọi người thở phào nhẹ nhõm, cảm ơn lính K15 rối rít rồi đưa tôi về. Thế là thần chết vẫn bỏ quên tên tôi.

   Về tới đơn vị, an toàn rồi anh em trong đơn vị mới chế riễu tôi rồi châm chọc đủ chuyện. Tôi chỉ ngồi im cười. Hoàn hồn ngồi nhớ lại chuyện xảy ra mới biết số mình vẫn còn may. Chết ở đâu không chết, lại chết đuối trên sông này do mình đi tắm và lại tự ý bơi thì thật quả là dở hơi.

   Sau cú bơi mệt lử, may mắn tối  đó chúng tôi được bồi dưỡng. Lúc chiều mấy thằng lính Hà Tĩnh trong trung đội tôi mò mẫm ra cánh rừng ven sông. Vốn nhiều kinh nghiệm đi rừng, chúng nó phát hiện ra dây củ mỡ. Nếu ở trong rừng sâu chắc đào ốm không ăn thua, nhưng may là dây củ mỡ này lại nằm trên một bờ đất ven sông. Thế là cả lũ hè nhau đào cả bờ đất đó đẩy xuống sông rồi chui xuống vỡ đất ra tìm củ. Vớ bở vì củ mỡ này rất to, tới khoảng năm cân. Anh Dũng B trưởng quyết định tập trung đường để nấu chè. Thế là buổi tối sinh hoạt B hôm đó, cả trung đội có món chè khoai xì xụp cải thiện.

   Cái “bài ca ống cóng này” là niềm vui của lính. Tết vừa rồi chúng tôi được phát mỗi người ba lạng đường, hầu như vẫn còn nguyên. Bát chè ngon khiến chúng tôi viễn tưởng về một cuộc sống tốt đẹp và nhiều lúc rất đầy đủ như bên Lào của vùng đất sắp đến. Chắc chúng tôi sẽ được sự chăm sóc của những bà má miền Nam hay những O du kích dễ thương. Không ai nghĩ rằng một chiến trường mới vô cùng khắc nghiệt đang chờ chúng tôi và những hạt đường cát là thứ xa xỉ đừng bao giờ nên mơ tới.

…
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #121 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2013, 02:06:16 pm »

Sợ thật, các cụ nhà mình điều E9 từ lúc nào mà không hay. Nếu không có bác Trongc6 kể chuyện thì có khi còn ỏm tỏi là vẫn bên Lào đến đầu 1975. Ngay đến sử của F968 cũng mơ hồ/ không nhắc đến thời điểm E9 lẳng lặng về nước. Đùng một cái là xuất hiện. Hay -nếu ngẫm theo cách điều quân chiến lược,  Grin
Logged

Trongc6
Thành viên
*
Bài viết: 495


« Trả lời #122 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2013, 10:35:02 am »

…
   Ngày hôm sau, cả tiểu đoàn tập trung học chính trị. Nơi tập trung chỉ là một bãi đất rộng khá bằng phẳng và có nhiều cây to, tựa như một bãi xe. Cả mấy trăm con người chui vào đây. Tiểu đoàn có một cái đài Orionton của Hunggari có thêm chức năng phóng thanh nên nghe khá rõ. Nội dung không dài. Chủ yếu là một bài ca chính trị về nhiệm vụ đầy vinh quang mà trung đoàn sắp đón nhận. Sau đó, chúng tôi được nghe những thông tin cần thiết:

   Trên mặt trận B3 Tây nguyên hiện nay có sư đoàn 320A đóng quân. Sư 320A vốn có 3 trung đoàn: 48, 52 và 64. Do yêu cầu nhiệm vụ, trung đoàn 52 đã được điều đi chiến trường khác. Sư 320A khuyết một trung đoàn nên Bộ điều trung đoàn 9B thế chân vào đó. Trung đoàn 9B sẽ tác chiến ở phía Tây Thị xã Pleiku, từ đường 19 kéo lên phía Bắc. Trong sư 320A, E48 có truyền thống đánh công kiên, là E chủ công của Sư. E64 có truyền thống đánh vận động và phục kích. Còn E9 chúng tôi tuy là E chủ công của sư 968, nhưng khi nhập vào đội hình 320A sẽ làm nhiệm vụ chốt giữ và đánh lấn là chính.

   Đấy là những thông tin chính và hết sức cần thiết với lính tráng chúng tôi. Thực tình, tôi chưa hình dung ra cái Thị xã Pleiku với đường 19 là như thế nào. Qua sách báo và kiến thức cũ, tôi chỉ biết Pleiku là thủ phủ của tỉnh Gialai (và người dân tộc chủ yếu ở đó thì gọi là dân tộc GiaRai), nằm trên trục đường 14 giữa hai tỉnh là Kontum và Daklak. Tôi cũng biết đi qua Pleiku có con đường 19 chạy từ Bình Định lên và chạy thẳng ra biên giới, xuyên qua sân bay Đức Cơ. Trên đường 19, đoạn phía Đông có đèo An Khê. Nơi đây năm 1954, phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, bộ đội khu 5 đã phục kích đánh tan Binh đoàn 100 của Pháp. Phía  Bắc Kontum có Thị trấn Đắc Tô-Tân Cảnh, có căn cứ Phượng Hoàng mà năm 1972 ta đã giải phóng. Còn sân bay Đức Cơ thì sau Hiệp định Pari đã được dùng làm nơi trao trả tù binh. Khu vực này đã thuộc vùng giải phóng.

   Vậy là về miền Nam, chúng tôi vẫn tác chiến trên vùng rừng núi giống như hồi bên Lào. Lại sống cùng những người dân tộc Tây Nguyên.  Không có những bà má miền Nam đôn hậu và cũng đừng mơ đến những cô du kích chít khăn rằn chèo xuồng trên kênh rạch nữa. Nhưng có lẽ thế cũng hay, vì sống giữa núi rừng, tự do và tự túc đã trở thành vốn sống đối với chúng tôi.

   Sau khi cuộc họp tiểu đoàn giải tán, chúng tôi về và tập trung theo từng đại đội. Lại một bài xác định trách nhiệm và quyết tâm với nhiệm vụ nữa của chính trị viên. Sau đó đại đội trưởng đọc quyết định phong quân hàm. Các cán bộ cấp đại đội đều được phong thiếu úy, nhưng trung đoàn đã công bố riêng từ hôm trước. Hôm nay chỉ có lính và hạ sĩ quan. Tất cả các B trưởng được phong thượng sĩ. Các A trưởng (trong đó có tôi) được phong trung sĩ. Vậy là một đám mấy thằng như tôi không phải qua nấc hạ sĩ ngày nào. Còn lại lính tráng dù cũ mới tất tần tật đều được phong binh nhất (nếu chưa được phong từ hồi Tết 1973).

   Đọc quyết định phong thế thôi chứ cũng chẳng có quân hàm quân hiệu gì. Mọi thứ kể cả tiêu chuẩn của quan lẫn lính, trước thế nào nay vẫn vậy.

   Điểm lại 6 thằng lính Hà Nội bọn tôi được bổ sung vào C6: Hai thằng mất tích ở Saravan, một thằng bị thương cũng ở đó rồi ra Bắc, nay còn lại 3. Chỉ có tôi làm A trưởng. Thằng Thái “pi tơ” (cái thằng có tài hát nhại theo văn công hồi ở Tân Lạc, Hòa Bình ấy) nay ở cùng B với tôi, về đến chỗ ở bên sông thì mò sang bắt tay tôi, chúc mừng “trung sữa”. Cái giọng nó kéo dài, cười cợt. Rồi nó bảo tôi:

   - Nếu sau này còn sống mà về thì học tiếp hay đi công nhân mà sống, chứ ăn đời ở kiếp với quân đội làm quái gì.

   Tôi gật đầu:

   - Thì tao cũng muốn thế. Nhưng bây giờ không làm A trưởng cũng không được. Mà A trưởng đã là cái gì đâu. Đầu binh, cuối cán ấy mà. Vất bỏ mẹ chứ sướng gì.

   Buổi trưa, tôi nằm võng, nhìn ra dòng sông rộng mênh mang mà chiều qua tôi còn đang chơi vơi ngoài đó, nghĩ đủ thứ chuyện.

   Trừ cán bộ đại đội và trung đội là lớp đàn anh lính cũ, còn trong mươi thằng A trưởng thì quá nửa là sàn lứa như tôi. Lính tráng trong đơn vị phải tới hai phần ba là lính thuộc mấy đợt tân binh bổ sung sau lúc đình chiến ở Lào.    Chiến trường mới lạ nước lạ cái, mình không còn trông chờ vào các anh lính cũ như trước được nữa, mà bây giờ lại là chỗ dựa cho lính mới nhìn vào. Thế là tự nhiên phải lên gân, tỏ ra cứng rắn. Lục trí nhớ ôn lại những trận chiến đấu đã tham gia ở Lào mà thấy cứ nao nao trong lòng.

   Tôi lại thấy nhớ nhà. Thư viết về nhà nhiều mà cái tới cái không. Còn thư nhà thì suốt gần năm trời ngừng chiến, tôi cũng chỉ nhận được có ba lá. Hôm trước Tết, tôi có viết thư về nhà, nhưng lúc ấy cũng chỉ báo được tin là sắp chuyển về miền Nam. Bây giờ về miền Nam thật rồi, hòm thư lại thay đổi thì chắc chẳng còn mong nhận được thư nhà nữa.

   Buổi chiều, chúng tôi nhận thêm thực phẩm. Xe ô tô chở đến giao hàng tại vị trí của từng tiểu đoàn. Lúc đầu chúng tôi tưởng đây là hàng của đường dây 559, về sau mới biết cũng là của trung đoàn chia xuống cho lính. Khi rời Nam Lào, sư đoàn ưu ái cho E9 khá nhiều thứ. Ngoài súng đạn đầy đủ thì gạo và thực phẩm cũng khá dồi dào. Lúc đầu trung đoàn chở tập trung, bây giờ lại đem chia tiếp cho lính. Chả gì cũng đã bốn ngày hành quân rồi còn gì. Nói chung ăn uống trên đường đi mấy ngày qua khá sung túc.

   Được nghỉ thêm non một ngày nữa chuẩn bị mọi thứ. Chiều tối chúng tôi hành quân ra đường lớn lên xe ô tô hành quân tiếp. Lần này toàn đi trong đêm. Đường không xóc, nhưng tốc độ đi khá chậm. Chẳng hình dung được là đi bao xa, nhưng mờ sáng thì chúng tôi dừng lại. Vậy là ngày nghỉ, đêm đi. Hôm đó, chúng tôi mắc võng nghỉ cả ngày trong rừng. Nghe cấp trên xì xào, chỗ này cách biên giới Việt-Lào chừng 10 cây số, ngang với tỉnh Kontum bên kia Việt Nam.

   Vẫn là ngày nghỉ, đêm đi. Đêm hôm ấy chúng tôi vượt biên giới vào Việt Nam và đi thêm một đêm nữa. Cái đêm vượt biên giới vào đất Kontum thật gian nan. Toàn đường đất xen đá tảng, gập ghềnh. Phần lớn con đường quanh co và đi xuống dốc là chính. Đêm tối mịt mùng, xe ô tô chạy đèn gầm chỉ soi được một quầng sáng nhỏ. Nhiều đoạn nhìn thấy một bên là vách núi, còn bên kia đen sì, không biết vực sâu đến đâu. Nhưng có lẽ không nhìn thấy lại hay, đỡ sợ. Cánh lính lái xe tuy trẻ măng nhưng thật can trường. Ô tô cứ bò bò chầm chậm vậy, nhiều lúc nghiêng ngả quá khiến chúng tôi tưởng như sắp rơi tuột, lăn qua hai bên thành xe, thậm chí là lăn qua nóc cabin mà rơi xuống đất phía trước xe khi nó xuống dốc. Hai tay cứ lên gân liên tục bíu vào thành xe, cong người uốn éo; vậy mà đêm ấy mấy chục xe vượt tuyến đường mà không có xe nào gặp nạn.

   Hai giờ sáng hôm sau, sau một chặng đường khá bằng phẳng, chúng tôi đến một vùng đất phẳng rộng mênh mông. Tất cả xuống xe, đây đã là chặng cuối cùng rồi. Có tiếng thì thào: “Sân bay Đức Cơ đấy”.

…
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Mười, 2013, 10:59:13 am gửi bởi Trongc6 » Logged

Trongc6
Thành viên
*
Bài viết: 495


« Trả lời #123 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2013, 10:24:06 am »

…

   Tôi đã xem nhiều truyện trên tạp chí Văn nghệ Quân đội dạo ở Lào, nên có biết chút ít về cái sân bay Đức Cơ này. Nhiều trận đánh đã xảy ra quanh đây từ thời còn quân Mỹ. Tôi cũng không hình dung nổi cái sân bay dã chiến này ngày xưa ra sao mà giờ lại hoang tàn như thế này. Trong đêm tối trăng mờ, mọi thứ nhìn không rõ lắm. Chỉ có cán bộ được soi đèn pin một cách hạn chế, còn lính tráng thì không được dùng. Mà thật ra có cho dùng thì đèn của chúng tôi cũng hết pin từ lâu rồi (vì nguồn pin của lính có được đều là chiến lợi phẩm tự túc). Chỉ có cán bộ cấp C trở lên được cấp pin theo hàng nhu yếu phẩm thôi.

   Sân bay chỉ hiện rõ nhất là một vệt đường mờ to mà đoàn xe ô tô của chúng tôi đang đỗ. Tôi sờ tay xuống đất, một thứ gì cứng chả hiểu đất nện hay đường nhựa. Hai bên còn nhiều khoảng rộng nữa, nhưng mọc xen đó toàn một thứ cây lúp xúp. Chắc sân bay bỏ hoang đã lâu, mấy mùa mưa đi qua nên cây cỏ hoang mọc lan tràn như thế. Bây giờ có lẽ chỉ còn dùng cho trực thăng đỗ được mà thôi.

   Chúng tôi lục đục xuống xe, thu dọn ba lô đồ đoàn rồi tập trung thành hàng lối gần đó. Sau khi kiểm tra đủ mọi thứ lần cuối, chúng tôi được lệnh hành quân. Đoàn ô tô vận tải 559 chỉ đưa chúng tôi đến đây là chặng cuối rồi chia tay, trở về tuyến đường Trường Sơn. Anh Điện, C phó đơn vị tôi đi tiền trạm từ gần hai tháng trước ra đón chúng tôi. Bây giờ tôi mới biết là anh ấy đi tiền trạm miền Nam, chứ khi trước cũng chỉ tưởng anh chuyển đơn vị khác. Anh Điện đi quanh, ghé sát mặt từng thằng lính, thăm hỏi. Anh cũng hơi ngỡ ngàng một chút khi biết tin có thêm một số anh lính cũ trong C đủ thâm niên đã ở lại Lào để ra quân. Khi mọi thứ đã ổn, anh Điện dẫn chúng tôi hành quân về hướng Nam, vòng vèo qua một ngọn đồi và một sườn núi khá cao, tới một khu rừng rậm cách nơi đổ quân chừng 3 cây số thì dừng lại. Trời vẫn chưa sáng. Chúng tôi được lệnh tản ra tìm chỗ mắc võng nghỉ nốt đêm.

   Tại vị trí dừng chân này, chúng tôi lại được nghỉ bốn hôm. Thoạt đầu là cùi gạo bổ sung. Thực chất là quay lại vị trí sân bay Đức Cơ để lấy nốt gạo và thực phẩm mà trung đoàn chia cho các tiểu đoàn, vì từ đây không còn ô tô nữa. Tất cả là cuốc bộ.

   Vị trí C tôi trú quân là một cánh rừng già bên một con suối đá. Cảnh vật hết sức thơ mộng. Tôi chưa bao giờ sang Liên Xô, nhưng nhìn cánh rừng này tôi lại thấy nó có nét gì đó giống như bức tranh Mùa thu nước Nga mà tôi đã được chị tôi cho xem khi còn ở nhà. Rừng già, cây to nhưng mọc thưa, toàn một thứ cây lá nhỏ bằng ba ngón tay. Lá vàng rụng đầy đất, còn trên cây chỉ lưa thưa chút lá, khiến nắng chiếu xuống làm vàng rực cả cánh rừng. Lá rụng ra tới sát bờ suối. Con suối khá rộng, bề ngang chừng gần hai chục mét (mùa khô đấy nhé). Dòng nước chảy khá mạnh, xen quanh những bờ đá to nhô ngang ra đến giữa lòng suối. Phía sát bờ suối có một ít cây con mọc lúp xúp. Bướm bay đầy lèn đá, chao qua chao lại từng đàn. Không hề có dấu vết bom đạn. Tôi nghĩ nơi này chắc chưa từng xảy ra chiến sự. Chiến tranh kéo dài và ác liệt vậy, nhưng núi rừng lại quá rộng nên không phải nơi nào cũng hứng chịu đạn bom. Đó chính là điều lý thú trong cuộc sống của lính tráng rừng núi chúng tôi. Gặp những nơi này nhiều khi có cảm giác ở đây chưa từng có dấu chân người, nhất là khi phát hiện những loài cây lạ chỉ có ở những khu rừng nguyên sinh. Những lúc như thế thấy thật bình yên và cảm giác thêm mến yêu cuộc sống. Trong lòng như có những khúc nhạc êm dịu trữ tình vang lên.

   Buổi sáng nơi đây trời hơi lạnh, nhưng đến trưa nắng to ra suối tắm rất ấm (dù nước vẫn mát lạnh). Chúng tôi lại được dịp tắm giặt cho sạch bụi đường Trường Sơn.

   Anh nuôi đào bếp ngay sát suối lấy nước nấu cơm. Nước đầu nguồn, lại là suối đá nên trong veo. Dịch xuống dưới một đoạn có nhiều bờ đá to như cánh phản. Chỗ này chắc xa địch, an toàn nên đại đội cho lính tráng tha hồ tắm giặt, hò reo. Đi ngược theo suối lên một đoạn khá xa, lại có một vạt đất ẩm mọc rất nhiều lá lốt. Trưa đó, anh nuôi hái lá lốt quấn giò hộp rán cho chúng tôi ăn. Món chả kiểu này từ ngày vào chiến trường đến nay mới được ăn. (Mà ngay cả hồi còn ở nhà, được ăn lúc nào tôi cũng chẳng nhớ, vì làm gì có nhiều thịt mà bày vẽ). Lạ miệng, lại tiêu chuẩn gạo đầy đủ, bữa ăn thật ngon. Chỉ có vài thằng kêu món này ăn như có mùi dầu hỏa.

   Hôm sau lại có lệnh phải đào hầm. Chỗ này đóng quân tạm mấy ngày mà vẫn phải đào hầm. Đại đội giải thích đề phòng bom pháo, nhưng lại chỉ bắt chúng tôi đào hầm bằng. Lính tráng chúng tôi nghĩ, nếu bon pháo thì mấy cái hầm này tan ngay, ăn thua gì. Chắc đây chỉ là bắt đào hầm khi trú quân cho thành thói quen, vì đã lâu lắm chúng tôi không đào hầm. Vì thế nên mấy cái hầm đào chỉ để cho có đào. Chúng tôi nghỉ và lấy tú-lơ-khơ đánh bài tiến lên là chính. Một thói quen khác khi đến nơi trú quân mới mà chúng tôi phải làm là đi lùng sục xung quanh, lần này cũng bỏ. Thế là chúng tôi cứ nghỉ, chơi và thưởng thức cảnh đẹp suối, rừng nơi đó, trong khi các cán bộ đại đội vẫn lên tiểu đoàn họp.

   Ngày nghỉ thứ ba, chúng tôi có buổi sinh hoạt đại đội. Nhiệm vụ phổ biến vẫn chỉ là chung chung, nhưng C phó Điện phổ biến cụ thể một số điểm khác cần chú ý ở chiến trường B3 này. Ở đây bom pháo nhiều hơn nên khi đến khu làm hậu cứ phải đảm bảo công tác bí mật và đào hầm cẩn thận. Phải lùng sục và canh gác nhiều hơn vì địch thường tung nhiều tốp thám báo vào sâu trong vùng đóng quân của ta. Thứ nữa là ở đây địch thường gài nhiều lựu đạn và mìn ở quanh căn cứ của chúng cũng như trên lối đi nên phải chú ý khi hành quân hoặc khi đánh địch. Điều thứ ba này đáng chú ý hơn vì nó khác hẳn vơi chiến trường Nam Lào. Bên đó bọn địch lười cài mìn và ít thủ đoạn hơn. Còn cài lựu đạn thì quả thật tôi chưa phải gỡ lần nào.

   Chúng tôi nghỉ thêm một ngày nữa. Đến đêm thì thu dọn để hành quân. Đó là một chặng đường khá vất vả so với những ngày hành quân trước. Chúng tôi phải đem theo cơm nắm cho một ngày trời. Nước lấy đủ một bi đông, dùng cho hai chặng đường hành quân. Chặng thứ nhất phải đi trong đêm, vượt qua hai dãy núi rất cao, nghỉ rất nhiều lần. Nếu không có dặn dò từ trước, chắc chúng tôi đã uống hết bi đông nước trong đêm, dù trời mát. Mờ sáng mới xuống đến chân dãy núi để nghỉ ngơi và ăn sáng. Thằng nào chót uống hết nhiều nước ráng chịu vì chỗ này không có sông suối gì.

   Mặt trời mọc và nhô dần lên cao, chúng tôi biết mình đang đi về phía Đông. Nghỉ ngơi chỉ hơn một tiếng đồng hồ lại hành quân tiếp. Đường đi khá bằng phẳng, qua nhiều cánh rừng đủ loại. Rừng già có mà rừng cây tái sinh, cây lúp xúp có, và thậm chí cả đồi cỏ tranh cũng có. Không khác rừng Lào bao nhiêu. Tới gần trưa thì chúng tôi đến nơi sẽ làm hậu cứ trú quân. Một cánh rừng già xanh um trên một dốc đồi, cũng không có dấu đạn bom. Nghe nói đây là rừng Chư Nghé.

   Hôm nay là ngày 5 tháng 2 năm 1974. Vậy là từ đêm bắt đầu rời bản La Vang, Ca Đáp bên Lào để lên đường thì cuộc hành quân chuyển chiến trường của chúng tôi kéo dài hết 13 ngày.

…
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Mười, 2013, 11:03:25 am gửi bởi Trongc6 » Logged

tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #124 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2013, 11:35:33 am »

               Chào bác Trongc6! Hay quá mấy dịp này Tranphu341 hay ghé thăm nhà bác.

               Chuyện bác kể về cuộc hành quân chuyển vùng thật hấp dẫn. Hình như con đường hành quân của đơn vị bác cũng giống đường hành quân của Sư đoàn 341 Tranphu. Cùng thời gian xuất phát nhưng Sư đoàn 341 là Từ Vĩnh Linh Quảng Trị và vào tút tận Lộc Ninh của Thây Ninh. Còn Các bác là vào Công Tum. Cũng phải qua những con đường đất đỏ gọi là ngã ba Đông Dương mà cát bột dầy cả gang tay bụi đỏ mù trời. Chính vì thế mà Tranphu cứ nghĩ là đơn vị của mình khi đọc bài của bạn.

              Tiếp tục đi bạn nhé. Hành quân rồi đấm đánh nữa. Tranphu341 và anh em đang chờ đón những bài tiếp thêo của bạn.
Logged
Trongc6
Thành viên
*
Bài viết: 495


« Trả lời #125 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 11:49:58 am »

…
   Tiểu đoàn K18 đóng quân phía Đông căn cứ Chư Nghé.

   Đại đội tôi đóng quân trong một khu rừng già khá rộng. Từ một con đường đất đỏ (sau này tôi biết là đường 10) đi qua một bãi cỏ tranh rộng mọc thưa xen lẫn nhiều cây lúp xúp và rất nhiều ụ mối độ năm trăm mét thì tới bìa rừng. Vào sâu năm chục mét có một con suối đất nhỏ chảy ngang, chỉ rộng độ hơn mét, nước trong, sâu đến đầu gối. Qua suối là bắt đầu lên dốc thoai thoải. Đại đội tôi bắt đầu đóng quân từ đây trở lên. Khu vực sát suối bố trí bếp anh nuôi. Suối đất nên phải đào giếng bên cạnh để lấy nước ngấm qua. C bộ đóng ở lưng chừng dốc, các B khác chia ra hai cánh, còn B tôi nằm phía trên đỉnh dốc, cánh suối tới trăm rưởi mét.

   Trừ những lính canh gác, số còn lại chúng tôi được nghỉ hết ngày hôm đó. Hôm sau bắt đầu phân chia khu vực đóng quân cho các B và tổ chức đào hầm, lùng sục rồi làm nhà. Mỗi A làm một hầm thùng rộng sâu 1 mét, trên đó làm nhà lợp mái tranh. Trong lòng hầm làm sạp như doanh trại, đủ chỗ cho cả A nằm, chỗ để ba lô, giá súng và một khoảng rộng ở giữa để có thể đốt lửa. Hai phía đầu nhà đào hai cái hầm chữ A to, có ngách phụ để vừa có thể tránh bom pháo, vừa có thể tác chiến. Phía trước nhà mỗi A đều phải phát bãi làm sân. Đường đi đến các A và các B cũng phải phát thành lối. Nói tóm lại là cũng không khác mấy so với làm hậu cứ bên bản La Vang ở Lào. Chỉ khác mỗi đoạn bây giờ lại phải đào hầm chữ A và vị trí các nhà đều phải nằm kín dưới các tán cây rậm. Vùng rừng này may là đất đen (không phải đất đỏ) nên dễ đào. Rừng già, cây mọc rậm và dày nên gỗ làm hầm và làm nhà rất sẵn, kiếm ngay tại chỗ, to nhỏ gì cũng có. Chỉ cần chú ý chặt cây thưa ra mỗi nơi một ít để tránh bị héo lá quang cả một góc rừng, gây chú ý cho máy bay trinh sát của địch. Riêng cỏ tranh lợp mái, chúng tôi phải thông qua các đợt lùng sục và tìm bãi cỏ tranh để cắt. Hầu như phải đi xa tới hàng cây số mới có bãi cỏ tranh rộng, còn bòn mót ở những vạt nhỏ gần khu rừng này thì chỉ cắt được từng gánh.

   Gần sát vị trí đóng quân của B tôi có một con đường mòn, nhưng chắc rất ít khi có người qua. Chúng tôi đi lùng sục, thấy một nhánh đường đi sâu và rừng rồi nhạt dần. Ở đó có rất nhiều vết hố đào củ mài của dân. Nhánh kia đi khoảng nửa cây số, thấy nương rẫy của người dân tộc. Nương nhỏ hơn rất nhiều so với nương rẫy bên Lào. Sau hai ngày lùng sục, chúng tôi xác định được khu rừng mà đại đội tôi làm hậu cứ rộng khoảng non một cây số vuông, áp sát một khúc cong của đường 10.

   Một lần lùng sục rộng, chúng tôi vượt qua rẫy của đồng bào thì gặp một bản nhỏ, chỉ chục nóc nhà. Rìa bản có mấy cây mít, chứng tỏ bản này đã trụ lại ở đây khá lâu, nhưng không có tên trên bản đồ (Sau này chúng tôi biết, vùng Gia Lai này có rất nhiều bản dân kiểu như thế. Bản nhỏ, dân ít và chắc cũng chỉ định cư được hơn chục năm. Các bản lớn hơn, trù phú và có tên trên bản đồ thì thường chỉ còn lại nền nhà và cây cối). Nhà sàn rất bé, dựng bằng gỗ và tre, mái lợp tranh. Cả bản ở lộ thiên để khỏi bị ném bom nhầm. Ngoài mấy cây mít ra thì không còn thứ cây gì khác. Không có cây gạo truyền thống ở đầu bản. Trong bản chủ yếu là người già, phụ nữ và trẻ con. Có một vài người đàn ông có vẻ đứng tuổi nhưng trông cằn cỗi. Họ ăn mặc rất lôi thôi. Đàn ông đóng khố còn đàn bà mặc thứ váy bằng một loại vải gì đó trông như vỏ bao cát. Đa phần để ngực trần. Trông họ đen đúa và mốc thếch, cả trẻ con cũng vậy. Họ im lặng nhìn chúng tôi đi qua bản, không tỏ thái độ gì dù chúng tôi có chào. Về sau chuyện này quen thì cũng chẳng cần phải chào hỏi gì cả, việc ai nấy làm. Tôi có cảm tưởng trong những cái nhà sàn vách nứa bé tí kia, chẳng thể có một thứ gì đáng giá cho chúng tôi, nếu như dân có bỏ bản chạy giặc.

   Vượt qua bản, đi cong vòng theo hướng bên trái bám theo cánh rừng chúng tôi trú quân, có một con đường mòn khá rộng. Ở đây không thấy đường xe bò nối các bản như bên Lào. Đến một ngọn đồi có nhiều cây lúp xúp, chúng tôi bắt gặp dấu vết một trận địa chốt của bộ đội ta. Có nhiều hầm chữ A chia thành 3 cụm cách nhau vài chục mét. Về sau chúng tôi biết đây là một điểm “kiềng” của một đơn vị thuộc sư 320A lập ra khi chuẩn bị đánh căn cứ Chư Nghé. Đây cũng là một điểm khác biệt với bên Lào. Bên Lào, trận địa chốt của chúng tôi có bao nhiêu người thì đào bấy nhiêu hầm, thường chỉ là ba đến năm hầm bố trí hình cánh cung. Không có kiểu làm “kiềng” bao giờ.  Ở đây phải lập “kiềng” đến cả chục cái hầm, chứng tỏ mức độ đánh nhau có ác liệt hơn.

   Đi tiếp vài trăm mét, chúng tôi gặp đường 10 và căn cứ Chư Nghé bỏ hoang. Rồi chúng tôi vòng theo đường 10 về hậu cứ chứ không phải quay lại theo lối cũ nữa. Sau này có thời gian, chúng tôi hiểu thêm về căn cứ Chư Nghé này.

   Chư Nghé còn có tên là Lệ Minh. Căn cứ này do một tiểu đoàn lính Biệt động quân biên phòng (VNCH) trấn giữ. Nó là căn cứ tiền đồn của địch, cách thị xã Pleiku độ chừng hơn hai chục cây số về phía Tây Nam, và nằm ở phía Bắc đường 19. Từ phía thị xã Pleiku, không biết điểm xuất phát bắt đầu từ đâu, nhưng có hai con đường đất đỏ to gọi là đường 5A và đường 5B chạy từ Đông sang Tây. Đường 5A nằm phía Bắc, còn đường 5B nằm phía Nam. Hai con đường này kết thúc ở đường 10, cũng là một con đường ô tô chạy, nền đất. Căn cứ Chư Nghé chiếm giữ ba quả đồi rộng, dốc thoai thoải nằm bên đường 10. Còn con đường 10 chạy ngoằn ngoèo đi qua những đâu, tôi không rõ. Chỉ biết rằng nếu đi theo hướng Bắc sẽ ra vùng giải phóng của ta.

   Căn cứ Chư Nghé rất rộng, hàng rào các loại tới 5 lớp. Trong căn cứ còn có cả một trận địa pháo 105ly với 3 khẩu. (Về sau nghe nói có một nữ bộ đội của ta tên là Thanh, người Thanh Hóa bị thám báo bắt cóc khi ra tắm suối. Sau cô phải chấp nhận chiêu hồi, làm kế toán pháo binh cho trận địa này. Cô đã tử nạn khi căn cứ thất thủ). Hầm trong căn cứ khá kiên cố, có cả rào B40 bao quanh. Hệ thống giao thông hào chạy khắp căn cứ. Tháng 9 năm 1973, trung đoàn 48 của Sư 320A đã đánh chiếm toàn bộ căn cứ này, tiêu diệt cả một tiểu đoàn Biệt động quân. Quân ta kéo pháo 105 vào sát chân hàng rào, bắn thẳng nên mới trị được các hầm kiên cố có lưới B40 bảo vệ của địch. Tù binh bắt được rất nhiều, trong đó có con gái của Tỉnh trưởng Gia Lai, là người yêu của tay thiếu tá chỉ huy tiểu đoàn BĐQ trấn giữ căn cứ Chư Nghé này. (Câu chuyện về cô gái này có liên quan khá nhiều đến những người lính C6 chúng tôi, hồi sau sẽ kể).

   Thời điểm tháng 2 năm 1974 khi chúng tôi về đây, địch đã bị đẩy lùi xa về phía Pleiku tới hơn chục cây số. Căn cứ Chư Nghé hoang tàn, không còn mùi khói súng. Phía ngoài, nơi quân ta đào hầm chuẩn bị nổ súng, cỏ đã mọc đầy. Trong trận địa chỉ còn những căn hầm nát trên các bãi đất đỏ loang lổ hố pháo và những cây cọc sắt. Pháo 105 ly, vũ khí và những thứ lấy được, lính ta đã lấy hết. Bao cát cũng bị rỡ lấy đi rất nhiều. Chỉ còn lại nhiều nhất là đạn cối cá nhân, băng đạn AR15 hoen rỉ và những mảnh quần áo rách. Bây giờ quân ta tạo thành một lối đi mới, một đường mòn từ đường 10 xuyên qua căn cứ đi về phía Tây tới bờ sông Pa. Rải rác trong căn cứ có những bộ xương người. Từ khi E48 đánh căn cứ này tới nay mới có chưa đầy 5 tháng, mà những xác lính xấu số đã phân hủy gần hết. Trên mé hầm chỗ khu vực trận địa pháo có một bộ xương mà tôi đoán là của phụ nữ vì ở chỗ vùng kín của bộ xương có tới 5 quả cối cá nhân nằm ở đó. Chắc lính ta nhét vào khi chủ nhân của nó vừa tử nạn sau trận chiến.

   Lúc đầu có việc đi qua căn cứ, chúng tôi hay nghỉ chân ở bãi đất to chỗ sở chỉ huy trong căn cứ để còn có cớ mò mẫm xem xét. Về sau thì chán và có một cảm giác buồn chán thế nào đó. Chiến tranh, số phận những con người. Với những người nằm xuống thì mọi thứ là kết thúc, chẳng còn gì vương vấn. Còn với chúng tôi, cái gì sẽ chờ đợi? Những trận đánh và những người lính lại tiếp tục ngã xuống? Bao giờ thì đến lượt mình? Chiến tranh còn bao lâu? Liệu còn trở về, hay tất cả mọi kỷ niệm đều phải gán thêm trạng từ “lần cuối cùng”: trận đánh cuối cùng, lá thư cuối cùng, lần gặp nhau cuối cùng…?

   Tôi còn qua căn cứ này nhiều lần mà không hiểu sao lần nào cũng thấy nao nao, không gạt ra được cái ý nghĩ buồn buồn ấy.

…
Logged

nguyentrongluan
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1246


« Trả lời #126 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2013, 09:44:58 pm »



@Trongc6
Ha ha , vậy là lúc E9 về đội hình F320 đã ở ngay Chư nghé hả bạn ? Chư Nghé bị E 48 đánh tiêu diệt hoàn toàn vào ngày 22/9/1973 . TRận ấy bạn lính SV bọn mình hi sinh mất 2 chú đấy . Một trận công kiên hoàn chỉnh và rất chóng vánh . Vào tháng 5 /74 bắt đầu mùa mưa rồi một hôm bọn mình qua đấy và thấy ở Chư Nghé rất nhiều đậu đũa mình lên hái và trong cửa hầm trung tâm đầy giày dép lính , mình còn thấy cả những đôi dép con gái .Sau này,  Mình hỏi Thân Như NGôn bạn mình Ngôn nói trận ấy có mấy lính Thiên Nga cũng " hi sinh " . 
Logged
Trongc6
Thành viên
*
Bài viết: 495


« Trả lời #127 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2013, 09:59:32 am »

…
   Đại đội chúng tôi tập trung cả chục ngày để làm hậu cứ. C bộ và nhóm quản lý, anh nuôi được các B cử người hỗ trợ làm nhà và đào hầm. Nhà cửa kiểu nửa chìm vì có hầm thùng nhưng khá khang trang và hầm hố rất chắc chắn. Vẫn đang mùa khô nên mọi thứ đều sạch sẽ, khô ráo. Giống như những ngày còn chiến sự trên cao nguyên Boloven, ở đây chúng tôi không làm hội trường để ăn chung nữa mà chia cơm về theo tiểu đội. Cả đại đội vẫn nấu một bếp, nhưng anh nuôi thì đã phân công chuyên trách khi đi lẻ với các B.

   Quân đội đúng là một trường học lớn. Mỗi người một nghề, vào lính bảo nhau làm được tất cả; những chuyện như dựng cột, đục đẽo vì kèo, làm rui mè, hay đánh tranh lợp mái chúng tôi đều tự làm được hết. Dạo bên Lào, tiểu đoàn lập lò rèn và đã rèn đủ cho tất cả các trung đội trong tiểu đoàn, đơn vị nào cũng có đủ từ dao rựa, liềm, cưa đến các loại đục… Vì thế chúng tôi dựng nhà về cơ bản cũng không khác ở thôn quê là mấy. Cái khác là toàn nhà hầm 3 gian, không có chái.

   Xen kẽ những ngày này, chúng tôi tiếp tục cùi gạo và đạn cối để chuẩn bị cho tác chiến. Trung đoàn bộ và các kho vẫn nằm cách xa chúng tôi cả ngày đi đường.

   Một loạt các chuyện mới lạ đến với chúng tôi. Tất nhiên hầu hết mọi chuyện đều là rỉ tai từ cán bộ các cấp mà ra.

   Các thủ trưởng trung đoàn E9 được lên họp trên sư đoàn. Sư đoàn bộ vẫn ở cách xa các đơn vị và cách rất xa địch, giống như bên Lào. Mà có lẽ nơi nào cũng thế thôi. Thế cho nên nói chuyện cánh lính trên sư bộ không biết đến mùi thuốc súng là tất nhiên. Thủ trưởng trung đoàn 9 chỉ lên họp ở sư bộ 320A thôi mà đã nhận thấy sự đói khổ của chiến trường B3 rồi. Thế là sau khi về trung đoàn, các thủ trưởng E9 quyết định đem món quà duy nhất và độc đáo mà trung đoàn có là quân phục mới, đem tặng cho sư đoàn. Lúc trước Tết ở bên Lào, chúng tôi đã được sư 968 cấp bổ sung quân tư trang. Sư 968 vốn là sư bộ binh duy nhất của đường dây 559; E9 lại là trung đoàn duy nhất đi bổ sung cho chiến trường miền Nam nên có phần được ưu đãi. Sau khi cấp đủ cho lính mà còn dư tới 2000 bộ quần áo. Các thủ trưởng E9 quyết định không trả lại sư 968 mà đem theo về miền Nam, và bây giờ đem tặng sư 320A vì thấy lính tráng ở đây quần áo quá rách. Tất nhiên số quần áo này không đủ cấp hết cho các đơn vị của sư 320A, nhưng cũng là một món quà quý. Ngoài thứ đó ra, chúng tôi chẳng có gì khác lạ. Còn những thứ như gạo, muối hay súng đạn trong những tháng ngày sắp tới lại phải trông chờ hậu cần của sư 320A cấp.

   Chỉ sau khi chúng tôi nhập vào sư 320A được hơn một tuần, cơ số gạo mang theo đi đường đã hết. Chúng tôi được phổ biến là sẽ hưởng chế độ ăn như của B3. Gạo rút từ 7 lạng xuống còn 5 lạng một ngày cho mỗi lính. Đã thấy đói rồi. Một tháng sau thì lại rút tiếp chỉ còn 4 lạng. Không những thế, cấp trên thông báo chỉ cấp cho chúng tôi lương thực có 8 tháng trong một năm. Số còn lại các tiểu đoàn phải tự túc. Thế là không chỉ đói ngay mà còn nhìn thấy trước cái đói dài dài. Cán bộ chiến sĩ đều buồn. Thế là thời huy hoàng đã qua và cái đói sắp tới còn gay go hơn năm 1972 nhiều.

   Đã đói, tất nhiên lại hay bàn chuyên ăn. Chúng tôi ngỡ ngàng nhất là chuyện đơn vị chiến đấu mà còn phải tăng gia tự túc. Nhưng B3 là thế. Những câu chuyện về B3 được cán bộ cấp C, D và ngay cả những cán bộ được sư 320A bổ sung cho các đại đội chúng tôi sau đó, truyền miệng đến từng thằng lính chúng tôi. Tây nguyên B3 là một chiến trường có vị trí lưng lửng ở miền Nam, không như các chiến trường khác. Chiến trường B4, B5 gần hậu phương miền Bắc, lại không có đất mà tăng gia nên được miền Bắc cung cấp đủ theo chế độ “cơm Bắc, giặc Nam”. Chiến trường B2 tuy xa hậu phương nhưng gần dân và được cung cấp từ đồng bằng Căm-pu-chia nên cũng no đủ. Con đường vận tải của 559 tuy vào đến được B2, nhưng lại chỉ chạy được ở nhánh Tây Trường Sơn trên đất Lào và Căm-pu-chia. Đông Trường Sơn bị căn cứ Đăcpet ngoài Kontum án ngữ nên ta không mở được tuyến vận tải Đông Trường Sơn. Hôm chúng tôi về miền Nam cũng chỉ là theo một con đường nhánh chọc từ tuyến Tây Trường Sơn sang Kontum mà thôi.

   Lại thêm một tin nữa là các thủ trưởng B3 coi vùng đất này như Quốc gia riêng, quyết tâm với cấp trên là có thể tự cung tự cấp được, trừ súng đạn, nên lính tráng cũng phải theo.

   Thực tế, lính B3 đã có nhiều thời gian đói dài, nhất là năm 1972. Nhiều lúc những quả chuối xanh luộc cũng được coi là lương thực cấp cho lính. Sau đợt vây ép Kontum mùa mưa năm 1972 không thành, cả sư 320A phải rút qua biên giới, sang lánh nhờ ở tỉnh Rat-ta-ra-ki-ri bên đất Căm-pu-chia. Đấy là một tỉnh nghèo ở vùng Đông Bắc Căm-pu-chia, nên lính tráng cũng chẳng kiếm được gì, ngoài bài ca ăn sắn. Nhưng đấy là sắn của bạn cho ta. Khi quay về đất B3 là lại đói. Để cứu đói, một biện pháp được mặt trận B3 đưa ra là: Tất cả các đơn vị, hễ dừng chân ở đâu quá 10 ngày là phải tổ chức phát rẫy trồng sắn. Dù chỉ phát được mảnh đất ven rừng, cạnh bản cũ, nhỏ cỡ trên trăm mét vuông là trồng sắn được rồi. Trồng sắn chưa chắc đơn vị mình được ăn, nhưng đơn vị nào cũng trồng như thế thì khi chuyển quân qua lại, đơn vị nào cũng có thể gặp rẫy sắn để ăn. Lúc đầu hom sắn phải kiếm bên đất Căm-pu-chia gánh về. Sau này có cây rồi thì cứ thế nhân ra.

   Trung đoàn 9 chúng tôi về B3 cũng phải làm như thế. Chỉ sau khi đứng chân chưa được một tháng đã phải phát rẫy trồng sắn rồi. Chúng tôi đã làm được khá nhiều cái rẫy như thế. Có cái rộng cả héc-ta, nhưng nhiều cái chỉ hai ba trăm mét vuông. Chúng tôi cũng gặp nhiều rẫy sắn nhỏ lẻ như thế, của các đơn vị khác trồng từ rất lâu, đã đến kỳ thu hoạch. Gặp được rất ngẫu nhiên, bất ngờ vì chẳng có cái bản đồ chỉ dẫn nào cả. Chỉ tội những cái rẫy như thế, hoặc là ở mãi vùng Đức Cơ, hai là lại áp sát gần vùng thị xã Pleiku (chẳng hiểu sao lại có rẫy tập trung chủ yếu ở đó), nên mấy tháng đầu chúng tôi cũng không kiếm được sắn, phải chịu cảnh lúc nào cũng đói, thèm ăn.

   Thời gian làm hậu cứ, có lần tiểu đội tôi đi cắt cỏ tranh gặp một đôi vợ chồng người dân tộc đang làm rẫy. Rẫy của họ cũng bé teo, xơ xác chẳng có thứ cây gì ra hồn. Ven rẫy chỉ có độ chừng hơn hai chục gốc gắn. May mắn gần đó có một bãi cỏ tranh khá rộng. Chúng tôi hỏi thăm dân qua loa rồi tranh thủ cắt hết tất cả đám cỏ tranh đó để giữ phần vì nơi ấy khá gần hậu cứ chúng tôi. Được độ vài chục gánh. Chúng tôi gánh về một ít, hôm sau lại ra gánh tiếp theo khoán mỗi lính đủ một gánh một ngày là được, nên có thời gian để chơi và nghỉ ngơi. Đêm hôm ấy, không hiểu có thằng lính ở A nào trong C tôi đói quá đã mò ra cái rẫy của cặp vợ chồng nọ. Thằng này thấy mấy gốc sắn đìu hiu thì cũng không dám nhổ cả gốc, chỉ dám dùng dao găm bới men theo rễ lấy một củ thôi, rồi lấp đất lại. Vậy mà vợ chồng người dân tộc ấy vẫn biết. Họ cảnh cáo bằng cách châm lửa đốt hết mấy chục gánh tranh mà chúng tôi để dành, chưa kịp gánh về. Hôm ấy ra nhìn đám tro còn nguyên hình những gánh tranh trên bãi đất mà não hết cả lòng. Lúc đầu chưa biết nguyên nhân tại sao mới tìm dân gặng hỏi. Sau biết chuyện họ phát hiện thấy vết lính ta đào trộm sắn nên cảnh cáo, chúng tôi đành im lặng lủi thủi ra về, đi tìm bãi cỏ tranh khác.

   Tây Nguyên B3 là thế. Lính đói nhưng dân ở đây cũng nghèo, không có nương rẫy màu mỡ và trù phú như Cao nguyên Boloven bên Lào, có đủ thứ để cho lính tráng chúng tôi đến mùa là “chỉ xin một lần rồi lấy mãi - theo phong tục Việt nam(?!)”. Mà quả thật, nhìn cuộc sống người dân nơi đây thấy rằng nếu mình có lấy trộm của họ dù chỉ một chút gì đó thôi thì cũng thật là bất công, tàn nhẫn.

   Ở vùng này không có du kích hay bộ đội địa phương. Dân họ sống trung lập. Nhưng bản lĩnh của họ cũng không thể xem thường. Không thấy người dân đi rẫy mang theo súng hay nỏ bao giờ. Vậy mà họ cũng có nhiều biện pháp mạnh tay để răn đe lính ta làm bậy. Khi chúng tôi đã đóng quân ở đây lâu rồi, thấy ở nhiều rẫy sắn, người dân còn treo những quả lựu đạn lên những cây sắn to cảnh báo. Có chỗ, họ còn gài cả lựu đạn theo phương pháp đơn giản và thủ công tại những lối mòn nhỏ đi vào rẫy của họ. Còn trong bản, tuy chỉ có vài cây mít lưa thưa quả, họ cũng cài lựu đạn cả ở trên cây và dưới gốc. Chuyện gỡ những quả lựu đạn ấy ra đối với chúng tôi thật đơn giản, nhưng chúng tôi không hành động như thế. Đơn vị cũng phải quán triệt nhiều lần để lính ta không vi phạm. Lời thề thứ hai của những người lính cụ Hồ vì thế mà cũng được thực hiện thêm phần nghiêm túc.

   Nhưng người dân tộc cũng có những cái hay, cái lạ của họ. Tuy nghèo, nhưng họ cũng có tấm lòng thơm thảo, thương người. Có lần chỉ hái đâu đó được một ít rau tạp nham đủ loại, họ mang đến cho chúng tôi. Không nỡ nhận, chúng tôi tìm cách từ chối. Thế là họ cứ thẳng đường đất, vượt qua vùng chốt của ta, đi về phía địch. Địch cũng có điểm chốt, họ không bắn vào dân hiên ngang đi trên đường bao giờ. Thế là dân gặp địch và cho mấy nắm rau đó. Lính chốt thì bên nào mà chả thiếu thốn. Còn người dân thì giải thích chuyện đó hết sức đơn giản: “Bộ đội bên này không nhận, thì ta cho bộ đội bên kia thôi. Chúng nó cũng đói mà (!?)”
…
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười Một, 2013, 10:11:54 am gửi bởi Trongc6 » Logged

Trongc6
Thành viên
*
Bài viết: 495


« Trả lời #128 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2013, 09:41:40 am »

…
   Cái thời làm nhà hòa hợp và hòa giải dân tộc, gặp gỡ giao lưu giữa lính tráng hai bên trên những vùng giáp gianh nhờ Hiệp định Pari đã qua lâu rồi. Trên Cao nguyên B3 không có nhiều vụ lấn chiếm “tràn nhập lãnh thổ” của lính VNCH như vùng dưới đồng bằng. Chẳng bên nào mạnh vượt trội hơn cả, nên cứ đóng chốt cầm canh. Phá “nhà hòa hợp” thì thôi, lính ta lại lùi lại làm những cái chốt sâu, bám sát rừng.

   Căn cứ Chư Nghé không phải do địch chiếm sau hiệp định Pari 1973. Nó đã có từ lâu rồi, sau Hiệp định thì địch giữ lại làm căn cứ tiền đồn. Tháng 9/1973, ta đánh giải phóng căn cứ đó là để phục vụ cho yêu cầu chiến lược, tạo hành lang vận chuyển ven Trường Sơn cho B3.

   Sau đợt đó, ta và địch lại lập chốt và đánh giằng co. Chỉ toàn những trận đánh nhỏ lẻ cấp C trở xuống.

   Nhưng trước đó, khi có dịp, quân ta cũng muốn ùng oàng. Lính cũ B3 kể, sau khi các “nhà hòa hợp” giải tán, một lần vào độ tháng 5 gì đó, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu lên Cao nguyên và đi trực thăng đến úy lạo một đơn vị Biệt động quân đóng ngoài sân bay Cù Hanh. Tin trinh sát ta nắm được liền báo cho Sư đoàn. Các Cụ nhà ta lâu lâu không có chiến sự cũng thấy ngứa ngáy. Thế là đơn vị pháo 105ly của sư được lệnh giã cho đơn vị BĐQ đó vài trái, nhân thể hạ sát được Tổng thống đối phương thì tốt. Lính pháo nhà ta đem bản đồ ra căn, thấy từ chỗ đặt pháo của ta đến cái bãi đất đã căn tọa độ có địch tập trung đó, khoảng cách đúng 18 cây số. Chưa thể bắn được vì pháo 105ly của ta bắn hết liều, hết tầm cũng chỉ được 17 cây 8. Thiếu mất hai trăm mét. Thế là chỉ huy ra lệnh cho lính hò nhau kéo một khẩu pháo vượt suối sang quả đồi bên kia, cách đó đúng 200 mét để đủ tầm phát hỏa. Khổ nỗi lúc đó đã vào mùa mưa, đường sang quả đồi bên cạnh dù chỉ vượt qua có con suối nhỏ, nhưng dốc và trơn nên không thể dùng xe kéo. Lính pháo đành hò dô ta kéo bằng tay. Nhưng lại có một khó khăn khác là mọi lần khi đánh trận, những con voi thép ở xa thì có xe kéo, còn vào gần trận địa thì dùng sức bộ binh. Cả C mấy chục lính xúm vào mà kéo thì trước sau gì cũng phải tới đích. Bây giờ chỉ có nhõn lính pháo, mấy tháng trời ăn nghỉ thiếu tập tành nên sức có hạn, khi kéo được pháo lên đỉnh đồi bên kia thì sư đoàn báo Tổng thống Thiệu đã lên trực thăng rời đi từ mấy chục phút trước rồi. Thế là cha con nhà pháo lại kéo pháo về. Chỉ được mỗi bữa luyện tập vàng mắt, bở hơi tai.

   Khi chúng tôi về B3 thì hầu như là tiếp nhận lại các vị trí cũ của sư 320A đã có từ cả năm trước. Khu vực này cách xa tầm pháo 105ly của địch, nên tạm yên tâm. Chỉ còn lo máy bay mà thôi.

   Đấy là vùng hậu cứ. Nhưng cứ xuất phát ra vùng chốt là nằm trong tầm pháo địch. Ở bên Lào, chỉ khi yểm trợ hành quân hoặc phát hiện vị trí quân ta, chi viện cho căn cứ lúc bị tấn công, hay phản pháo sau khi ta gãi chơi mấy quả DKB, địch mới bắn pháo. Nói chung chúng bắn pháo có chủ đích. Ở B3 lúc này, không biết địch mạnh đến đâu, nhưng chúng bắn pháo nhiều và tùy hứng. Chỗ có chiến sự đã đành, chỗ chẳng có gì nhiều khi cũng bị nã pháo, dù chỉ là vài trái. Khó chịu nhất khi ra tuyến trước là có khi đang ngủ lúc ban đêm ở một chỗ mình cho là bí mật, chả liên quan đến địa hình địa thế quân sự gì cả, bỗng dưng lại nghe tiếng đề-pa, rồi "rầm" một trái nổ vào ngay gần nơi mình trú quân. Cha con lính ta nhỏm dậy căng tai đề phòng thì lại nghe nổ tiếp một trái nữa ở mãi tít đâu đó. Cái kiểu bắn vu vơ không định trước này gây tâm lý rất khó chịu. Mãi về sau mới biết cái kiểu bắn pháo này gọi là pháo "đĩ", do mấy thằng lính pháo của địch rỗi hơi ngủ với gái rồi cho chúng nó chỉnh tầm lung tung và giật cò súng. Lính cũ B3 kể bây giờ ít đi nhiều rồi, chứ ngày trước thì đêm nào cũng có. Mà không chỉ một trái, có khi tới mấy trái cấp tập rồi mới chỉnh lại tầm. Đã có trường hợp lính trinh sát và cả các bố hậu cần quân ta nằm phía sau bị chết oan kiểu "tên bay đạn lạc" này.

   Nằm ở khoảng giữa các con đường 5A và 5B là các con đường mòn mà trung đoàn chúng tôi thường hành quân ra phía trước. Cách hậu cứ của C tôi chừng hai giờ đi đường là một khu đồi rất lớn trải theo chiều Bắc Nam có cao độ đỉnh là 525 mét. Gần nơi này có một bản gọi là Lệ Kim. Không hiểu sao ở vùng này chúng tôi vẫn thấy gọi các làng của người dân tộc là bản, chứ không gọi là buôn như sau này hay gặp ở tỉnh Buôn Ma Thuột. Một điều lạ khác là nhiều bản ở vùng quanh Pleiku này thường có tên bắt đầu bằng Lệ (như Lệ Minh, Lệ Thanh, Lệ Kim, Lệ Ngọc…). Về sau thì biết vùng này những năm dưới chính quyền Ngô Đình Diệm, phu nhân của cố vấn Ngô ĐìnhNhu là Lệ Xuân đã lên đây thâm nhập vùng người dân tộc, tặng quà, làm các công tác xã hội và lấy họ Lệ của mình đặt tên mới cho chữ đầu của hàng loạt bản ở đây.

   Mang đặc tính cao nguyên, ở đây có đủ loại rừng cây xen kẽ nhau, nhưng nhiều nhất vẫn là cây lúp xúp và rừng tái sinh. Ở rừng tái sinh không thể làm nhà, nhưng làm nơi trú quân tạm hoặc lập chốt, đào hầm thì có gỗ làm hầm rất vừa tầm. Bản Lệ Kim mang tiếng là bản nhưng cũng chỉ còn là nền đất. Trên diện tích khá rộng toàn cây cỏ mọc hoang, chả có thứ gì tận dụng được. Tôi không hình dung được những cái nhà sàn ngày trước ở đây to bé như thế nào vì mọi thứ hoặc đã cháy trụi, hoặc đã được lính ta tận dụng từ trước hết rồi.

   Đặc biệt là ở gần bản Lệ Kim còn có một khu rừng cao su rất lớn, chiếm cả một khu đồi. Ngoài nó ra thì xung quanh vùng Tay Pleiku này không còn khu rừng cao su nào khác nữa. Khu rừng cao su này chắc đã khai thác được nhiều năm vì cây rất già và to, nhưng có vẻ như đã từ lâu không còn khai thác được nữa, chưa hẳn do chiến tranh, mà có thể do rừng đã quá già cỗi. Nhiều chỗ chỉ còn toàn gốc cây cháy hoặc chết khô. Xung quanh đồi rừng cao su là một lạch nước tụ thủy khá to, mọc toàn cây môn thục. Nước đen bẩn không dùng được, khi cần phải tiếp tế từ rất xa. Đỉnh đồi khá bằng phẳng và chạy dài theo chiều ngang. Cả đại đội tôi nhận lệnh đào hầm chốt ở ven đỉnh phía sườn bên này của đồi cao su. Sau đó chúng tôi đào một loạt giao thông hào và râu tôm phía sườn bên kia đồi, dựa vào các gốc cây cao su già để tiện quan sát. Mé bên kia về phía địch trơ trụi hơn, tầm quan sát rất xa. Địch đóng chốt ở quả đồi bên cạnh, nhưng xa tới mức nếu chúng tôi bị lộ thì chúng chỉ có thể bắn ĐK hoặc câu pháo mà thôi.

   Những đêm ở đây, chúng tôi được hưởng sự tấn công của một lũ muỗi có thân mình to như những cái kim đan len. Quần vải Tô Châu (Trung Quốc) dày là thế mà chúng vẫn cắm vòi xuyên qua được. Loại muỗi này châm phát nào là chúng tôi nhảy dựng người lên phát đó. Đau đến mức nó chưa kịp hút máu thì mình đã phát hiện ra rồi. Thành ra tuy không hẳn là đã bị đốt, nhưng đau và khó chịu đến mức không thể ngủ được. Cả đêm chỉ lo đập muỗi, nên không phải chỉ một thằng gác thức, mà là cả điểm chốt đều thức. Sáng ra thằng nào thằng nấy bơ phờ vì mất ngủ. Về sau chúng tôi phải liều nghĩ ra cách căng màn trên mặt đất, cứ 3 thằng một cái màn quay ngang, đêm nằm chui phần nửa trên người vào đó, còn từ thắt lưng trở xuống thì quấn nilon chống muỗi. Cách này tuy có bí và hạn chế ngọ nguậy, nhưng tỏ ra có hiệu quả. Rất may là ban ngày nắng lên lũ muỗi bay đi đâu hết, chứ nếu chúng tấn công cả ban ngày thì chúng tôi chắc chết. Một cái may nữa là khu rừng này khi chưa bị lộ chính xác vị trí chốt của ta thì địch chỉ bắn pháo vu vơ mỗi ngày ít quả, còn ban đêm chúng cũng nghỉ. Suốt thời gian cả tuần chúng tôi ở đây, địch không lẫn dũi lần nào. Mà thật ra địa hình ở đây tơ hơ thế này thì nếu có càn như ngày trước, chúng cũng phải có xe tăng mới tấn công được. Cái sườn đồi thoai thoải trước mặt chốt của chúng tôi quang quẻ tới mức quan sát được từ rất xa nên bên nào tấn công trước thì bên ấy sẽ tổn hại nặng nề trước.

   Có lẽ chính sự quang đãng của rừng cao su mà chúng tôi lập chốt đã tạo nên thế bất ngờ và đóng vai trò quan trọng trong việc ngụy trang. Suốt cả tuần chúng tôi ở đây không bị pháo địch bắn, cũng không bị địch tấn công. Ngày nào cũng có pháo nhưng nó ùng oàng vào phía sau lưng chúng tôi hoặc tít mãi ở đâu đó. Đặc biệt máy bay trinh sát L19 thì ngày nào cũng vè vè trên đầu, nhất là lúc trời nắng to. Buổi trưa và chiều tối thì nó nghỉ không bay. Một lần thằng L19 phát hiện nghi vấn ở một cánh rừng cách đó không xa. Chúng tôi thấy rõ nó nhào xuống bắn pháo khói. Nhanh hơn ở Nam Lào chỉ có máy bay T28 vè vè đến ném bom, ở đây là máy bay phản lực nên nó đến nhanh hơn. Những chiếc máy bay phản lực cánh bằng sáng lóa từ tít trên cao nhào xuống cắt bom. Tiếng của nó nghe rin rít ghê rợn hơn T28. Loại này không giống những chiếc Thần sấm F105 hay Con ma F4 mà tôi đã nhìn thấy ngoài Bắc. Đầu cánh của nó không nhọn. Về sau thì chúng tôi biết chúng là máy bay F5E, cũng là một loại phản lực hiện đại mới trang bị cho bên địch. Chúng cũng đến theo tốp hai chiếc một, ném nhiều loạt bom xuống cánh rừng phía xa đó. Chúng tôi lại được dịp xem phim trực tiếp. Về sau biết trận bom đó cũng chẳng trúng vào đơn vị nào của ta.
…
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #129 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2013, 12:39:46 pm »

Có phải cái bản gần thác Lệ Kim, nằm đoạn Ia Kha không chú?
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM