Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp

<< < (8/21) > >>

chuongxedap:

Đợt 3 (từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 5 lăm 1950).

Sau hai đợt tác chiến, đạn còn quá ít (trung liên 100 viên, súng trường 20 viên/khẩu); bộ đội đã mệt mỏi, sức khoẻ giảm sút. Nhưng ngày 4 tháng 4, chiến dịch Sóc Trăng đã mở màn; để phối hợp với mặt trận chính, Bộ chỉ huy quyết định vượt mọi khó khăn, tiếp tục mở đợt 3, tác chiến trong phạm vi Cầu Kè, Mặt Bắt, Tiểu Cần. Phương châm là đánh nhỏ, tránh mũi nhọn của địch, kết hợp tác chiến với phá hoại, làm dân vận và địch vận.

Trong bốn ngày đêm, bộ đội phân tán từng trung đội, đại đội tiến hành bao vây các tháp canh, phum, sóc, kết hợp với kêu gọi binh lính địch trở về với nhân dân. Lực lượng dân quân được sự yểm trợ của bộ đội đã cắt đứt các tuyến giao thông Tiểu Cần - Trà Vinh, Tiểu Cần - Mặt Bắt và Tiểu Cần - Cầu Kè. Các trục đường này bị hoàn toàn tê liệt đã tạo cơ hội tốt cho bộ đội hạ được 11 tháp canh, giải tán được nhiều tổ chức bảo an và thu được nhiều vũ khí của địch.

Vào 21 giờ đêm 30 tháng 4, quân ta bao vây các bốt Sam Bua, Đông Ray, pháo kích sân bay Trà Vinh, tước vũ khí bảo an Bào Kiến, hạ lô cốt Lu Tu, chiếm bốt Hồ Kiếm. Dân quân du kích được sự hỗ trợ của công binh, phá các cầu Ô Chác, Huyền Hội; Bà Lãnh và phá lộ.

Ngày 1 tháng 5, hạ lô cốt An Bình tại vàm Bông Bót, hạ lô cốt Trinh Phụ trên đường Tiểu Cần - Mặt Bắt, đốt cháy lô cốt Đại Trường, Lò Ngò, Lâm Vồ và Sa Đô, hạ lô cốt Cầu Tre, Tha La, Đình Ông, bao vây tiến công mạnh các lô cốt Ban Chang, Ô Tà Rưng, giồng Cây Hẹ, Sóc Kha. Dân quân tràn vào phá các trục lộ giao thông, đột nhập Cầu Kè quấy rối. Trong ngày, phi cơ, pháo binh địch bắn dữ dội vào vùng Huyền Hội, Ô Đùng, Cầu Kè. Sau đó địch từ Ô Chát cắt đường ruộng xuống chi viện cho Tiểu Cần.

Ngày 2 tháng 5, địch cho phi pháo bắn phá vùng phụ cận và dùng 25 xe chở khoảng một tiểu đoàn thuộc trung đoàn RTA, thận trọng tiến quân xuống Tiểu Cần. Ngày 3 tháng 5, ta hạ lô cốt Ô Tà Rưng, đêm đến pháo kích Tiểu Cần, Cầu Kè. Dân quân khẩn trương phá lộ. Ngày 7 tháng 5, một tiểu đoàn bộ binh địch có 25 xe Cờ-ra-béc (Crabes) và phi pháo yểm trợ, càn vào Tân An - Hựu Thành bắn giết dã man. Đến 16 giờ 30 phút, ta chặn đánh gần chợ Thầy Phó xã Hựu Thành hạ ba xe Cờ-ra-béc. Hơn nửa giờ sau cánh quân của ta ở Ngã Chánh cấp tốc vận động đánh vào sườn đội hình địch. Chúng hoảng sợ rút về đồng Trà Mẹt, bỏ lại nhiều xác chết và vũ khí.

Trên các hướng kiềm căng địch: Ở Cầu Ngang, các lực lượng vũ trang và dân quân bao vây huyện lỵ, bức rút đồn Bến Giá, bao vây đồn Sóc Ruộng, địch phải chi viện một trung đội đến giữ. Du kích phá sập cầu Tân Lập, phá tuyến lộ từ Trà Vinh đi Cầu Ngang nhiều ngày. Trục lộ 70 từ Trà Vinh đi Vĩnh Long ta liên tục phá hoại. Ngay từ đầu chiến dịch ta đã đánh sập cầu Mỹ Huê, đốt cháy cầu Mây Tức, gỡ hết ván cầu Ba Sỉ... Suốt chiến dịch ta làm chủ lộ 70, địch chi viện phải dùng tàu đổ bộ lên Trà Vinh hoặc Tiểu Cần...

Ngày 7 tháng 5, Ban chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch1. Các đơn vị được lệnh hành quân về căn cứ. Quân địch tưởng ta chưa rút nên chúng dùng một tiểu đoàn cùng một đại đội cơ giới thọc sâu vào vùng hậu phương của ta. Địch tiến đến xã Hữu Thành bị tiểu đoàn 310 chặn đánh, bắn cháy ba xe lội nước, diệt toàn bộ số địch trên xe. Địch hoảng sợ bỏ chạy về Cầu Kè, bỏ lại hơn 30 xác chết và nhiều vũ khí.

Kết quả: ta đã diệt gần 700 tên địch, triệt hạ 30 tháp canh; bức rút sáu tháp canh khác; thu 240 khẩu súng và cơ bản đã xoá bỏ hệ thống tổ chức bảo an Miên của địch nằm trong thôn xóm.



Ta đã đạt được mục đích của chiến dịch đề ra; tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch với số lượng tương đối lớn, hạ và bức rút được hệ thống tháp canh, giải tán được hệ thống tổ chức bảo an Miên và thu nhiều vũ khí của địch để tăng cường cho lực lượng ta. Chiến dịch Trà Vinh thắng lợi đã tạo thuận lợi và hỗ trợ trực tiếp cho chiến dịch Sóc Trăng - hướng đánh chính, mặt trận chính của Nam Bộ. Kết quả của chiến dịch vừa gây được thanh thế cho các đơn vị chủ lực, vừa động viên tinh thần giết giặc lập công của lực lượng vũ trang địa phương, gây được lòng tin lớn với quần chúng nhân dân; đồng thời đã làm hoang mang, rệu rã tinh thần và tổ chức của địch trong vùng, đặc biệt là lực lượng bảo an Miên.

Bộ tư lệnh Khu 8 đã “chọn chiến trường” đúng nơi địch vốn đã yếu lại bố trí phân tán, công sự phòng thủ sơ sài và gần sát hậu phương của ta. Về tổ chức chỉ huy, việc đưa thành viên trong ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh vào Ban chỉ huy chiến dịch đã thống nhất được các lực lượng tham gia chiến dịch, làm cho hành động giữa quân chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương luôn ăn khớp, tiêu biểu nhất là ở đợt 3, chủ lực bao vây và hạ tháp canh, lực lượng vũ trang địa phương thì phục kích và chặn cắt giao thông rất hiệu quả. Do đó, đã huy động được lực lượng to lớn của quần chúng nhân dân tham gia phá hoại, tiếp tế, cung cấp lương thực, tải thương, v.v... Sử dụng lực lượng theo kiểu phân tán, phân phạm vi hoạt động cho từng tiểu đoàn, không có mục tiêu tập trung, không tổ chức lực lượng dự bị - cách tổ chức này ở tại thời điểm và chiến trường diễn ra chiến dịch là phù hợp, phát huy được tính chủ động của các đơn vị. Nhưng theo đó, cũng bộc lộ nhược điểm lớn là, không phát huy và đáp ứng được yêu cầu về chiến thuật của quân đội ta. Suốt chiến dịch ta chỉ vận dụng hình thức chủ yếu là phục kích và bao vây tháp canh, với lối đánh “hoả công” tuy đạt được mục đích nhưng thể hiện rõ tính chất “du kích chiến”, trình độ còn rất hạn chế của quân ta. Trong sử dụng lực lượng có lúc chưa phù hợp nên hạn chế đến hiệu suất chiến đấu (tiểu đoàn 308 có kinh nghiệm đánh cứ điểm lại không giao cho đánh Đôn Châu mà giao cho tiểu đoàn 307 là đơn vị giỏi đánh phục kích, nên đã không đánh được Đôn Châu). Mệnh lệnh của người chỉ huy trong nhiều tình huống còn chưa cụ thể rõ ràng, đơn vị thực hiện khó.

Các chính sách chiến trường (dân vận, địch vận, thương binh, tử sĩ...) cơ bản làm tốt, mang lại hiệu quả lớn cho chiến dịch. Nhưng có lúc, có nơi còn khuyết điểm: quân phiệt với dân quân, bản vị địa phương, một số thương binh bị tử vong vì chăm sóc không chu đáo, cá biệt có đơn vị đối xử không đúng chính sách với tù, hàng binh. Những khuyết điểm này ảnh hưởng xấu đến đơn vị và hạn chế thành tích của chiến dịch.
____________________________________
1. Sách “Lực lượng vũ trang nhân dân Trà Vinh...” ghi: Chiến dịch Trà Vinh, quân ta đánh chiếm 22 lô cốt: Giồng Lức, Tua Thóc, Củ Chi, ngã Ba Trẹm, Sà Lơn, Sóc Ruộng, Nộ Men, Trà Sất Ngoài, Ba Cụm ngoài, Lộ Quẹo, Bà Nhì, kinh La Bang, chùa La Bang, Lu Tu, Đình Ông, Tha La, Hồ Kiếm, Lâm Vồ, Trinh Phụ, An Bình, Sư Độ, Cầu Tre; huỷ diệt hai lô cốt: Lò Ngò, Đại Trường; bức rút sáu lô cốt: Tra Suất trong, Ba Cụm trong, Lạc Sơn, Bến Giá, Cầu Xây, Mé Láng; bắn cháy một tàu, một sà lan, một xe bọc thép, sáu xe lội nước. Ta diệt và làm bị thương 650 tên (có năm quan hai chết). Bắt tù binh 125 tên; hàng binh 184; thu 43 súng (có hai cối 60mm, ba trung liên, 11 tiểu liên, ba Thom Sơn, một vạn viên đạn, 500 lựu đạn); ba máy vô tuyến điện và một máy phát điện; phá hư sáu cầu; đào 500m3 đường, đắp 230 mô, đốn ngả 1800 cây cản đường; cắt gần 2.000 mét dây điện...
    Ta hy sinh 22 Vệ quốc đoàn, 13 dân quân, bị thương 157 đồng chí, mất một cối 60mm, hai đại liên, hai trung liên và 12 súng trường.

chuongxedap:

CHIẾN DỊCH SÓC TRĂNG 1*
(Tiến công, từ ngày 4 đến ngày 30 tháng 4 năm 1950).


Sóc Trăng vựa lúa của miền Tây Nam Bộ nằm ở cuối lưu vực sông Hậu, sát biển Đông với ba cửa biển lớn tàu bè ra vào thuận tiện: cửa Trần Đề, Định An và Mỹ Thanh. Sóc Trăng là tỉnh đồng bằng châu thổ, không có rừng núi, chỉ có rừng chồi ngập mặn ven biển, có nhiều cù lao lớn như cù lao Dung, Phong Nẩm... Hệ thống kênh, rạch, sông chằng chịt, sông Bá Sắc với hai cửa lớn, tàu 10 vạn tấn có thể ra vào; sông Mỹ Thanh từ cửa biển Mỹ Thanh vào Cổ Cò, Vàm Lẻo đến trung tâm thị xã Bạc Liêu; sông Xanh Ta, kênh Quảng Lộ, Phụng Hiệp tàu hàng ngàn tấn đi lại dễ dàng. Đường bộ có quốc lộ 1 chạy giữa tỉnh nối liền từ Cần Thơ qua trung tâm thị xã Sóc Trăng đến Bạc Liêu, nối với các tuyến tỉnh lộ, huyện lộ và đường vành đai ven biển.

Nhân dân Sóc Trăng hơn một nửa là người Kinh, còn lại người Khơ-me chiếm hai phần ba và một phần ba là người Hoa kiều và những người có quốc tịch Pháp. Bởi vậy từ năm 1949 đến đầu 1950, thực dân Pháp vừa ra sức củng cố hệ thống đồn bốt tháp canh ở Sóc Trăng, vừa ráo riết xây dựng mạng lưới tề điệp, ngụy quân, ngụy quyền, các sóc Khơ-me vũ trang, tuyên truyền phản động để chia rẽ dân tộc, ra sức xây dựng địa bàn thành hậu phương vững chắc của chúng để có điều kiện đối phó với chiến trường Bắc Bộ ngày càng nóng bỏng, đối phó với thực trạng thiếu quân số nghiêm trọng của chúng.

Về phía ta, Trung ương chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến trên chiến trường toàn quốc và giành thế chủ động trên chiến trường Nam Bộ, mở các chiến dịch liên hoàn để phối hợp với chiến trường chính mở Chiến dịch Biên Giới. Thực hiện chủ trương đó, Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Khu 9 quyết định mở Chiến dịch mùa Xuân và chọn Sóc Trăng làm chiến trường chính. Mục đích của chiến dịch là: Phá hậu phương, thu hẹp phạm vi kiểm soát của địch, phá âm mưu chia rẽ dân tộc của chúng; đồng thời tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, tích cực kiềm chế địch tại chỗ, không để chúng đưa quân ra Bắc Bộ. Khu vực mở chiến dịch là địa bàn ba huyện Châu Thành, Thạnh Trị và Kế Sách; hướng chủ yếu là huyện Châu Thành. Phương châm tác chiến là: đánh điểm, vây điểm để diệt viện, đồng thời với vũ trang tuyên truyền và phá hoại giao thông.

Lực lượng tham gia chiến dịch có tiểu đoàn 402 chủ lực của Khu và tiểu đoàn 404 chủ lực Nam Bộ, ba đại đội (1098, 1089 và 1094) thuộc liên trung đoàn 123 - 125, và lực lượng dân quân du kích của ba huyện Châu Thành, Thạnh Trị và Kế Sách và đơn vị Ít-sa-rắc. Lực lượng phục vụ chiến dịch có 7.000 dân công của hai tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng.

Bộ tư lệnh Nam Bộ cử đồng chí Võ Quang Anh làm Tư lệnh chiến dịch, đồng chí Nguyễn Hoàn làm Chính uỷ. Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Sóc Trăng đã tập trung chỉ đạo, lãnh đạo địa phương đẩy mạnh hoạt động và phục vụ chiến dịch.

Bộ chỉ huy chiến dịch đã chia địa bàn thành ba mặt trận và phân công nhiệm vụ tác chiến cho từng đơn vị: Mặt trận A (mặt trận chính) tại huyện Châu Thành, do các tiểu đoàn 402, 404, đại đội 2006, trung đội du kích Châu Thành, đội biệt động và đại đội công binh đảm nhiệm. Mặt trận B tại huyện Kế Sách và một phần huyện Long Phú do các đại đội 1089, 1098, trung đội Ít-sa-rắc và dân quân du kích hai huyện đó đảm nhiệm. Mặt trận C tại huyện Thạnh Trị do đại đội 1094, trung đội du kích huyện Thạnh Trị và một bộ phận công binh đảm nhiệm.

Đêm 4 tháng 4, đại đội 3003 chủ lực Nam Bộ nổ súng tiến công đồn Bưng Tróp trên trục lộ An Thạch đi Bố Thảo, cách thị xã 12 ki-lô-mét, do một trung đội lính Khơ-me và hai chỉ huy Pháp đóng giữ. Ta nổ súng muộn nên không diệt được đồn, phải chuyển sang bao vây để chờ đến đêm hôm sau. Đêm 5 rạng ngày 6 tháng 4, ta tiến công đến 3 giờ sáng thì địch đầu hàng. Ta bắt tù binh, thu vũ khí và san bằng đồn. Lực lượng chính trị và dân quân du kích chiếm tuyến Bưng Tróp làm công tác tuyên truyền vận động quần chúng và truy bắt, giáo dục và giải tán lực lượng Khơ-me phản động ở đây.

Sáng 6 tháng 4, một đoàn xe quân sự chở khoảng một đại đội từ thị xã Sóc Trăng kéo theo một đại bác 90mm vào chi viện, vì đường sá dân quân ta phá nên chúng phải xuống đi bộ. 11 giờ, địch hành quân đến đoạn Bố Thảo - Mỹ Phước thì lọt vào trận địa phục kích của ta. Ta nổ súng diệt gọn và thu vũ khí (khẩu đại bác địch phá cụt nòng nên ta bỏ lại, ta thu 30 súng có một khẩu cối 60mm và một trung liên). Địch cho máy bay đến bắn phá trận địa. Ta vừa rút lui vừa bắn máy bay. Sau trận công đồn diệt viện đầu tiên giành thắng lợi, địch ở Sóc Trăng lo sợ không dám ra tiếp cứu phải xin Sài Gòn chi viện bằng máy bay. Nhiều phum, sóc, chùa chiền bị máy bay bắn phá hư hỏng. Chính quyền địa phương Châu Thành vẫn huy động 2.000 nhân dân ra phá các lộ Ba Rinh - Đông Dương, Xeo Gừa - Bố Thảo, Bố Thảo - Sóc Trăng, để ngăn cản việc di chuyển của địch.

Từ ngày 7 đến ngày 17 tháng 4, lực lượng vũ trang đẩy mạnh vũ trang tuyên truyền. Các tiểu đoàn được phân tán vào các xóm, chùa nói chuyện tuyên truyền cách mạng cho quần chúng nhân dân. Bộ đội địa phương huyện Châu Thành liên tục pháo kích các lô cốt trên tuyến lộ Đông Dương, phát loa kêu gọi, bức rút một số tháp canh. Ở huyện Kế Sách, Long Phú lực lượng vũ trang tiến công gỡ đồn Tập Rèn (Kế Sách) và một đồn ở Long Phú, thu toàn bộ vũ khí. Đại đội 1098 mở nhiều cuộc vũ trang tuyên truyền từ ngã ba An Trạch đi Vũng Thơm và trên tuyến lộ Chung Đôn sát thị xã Sóc Trăng. 1.500 dân quân huyện Kế Sách phá hoại tuyến đường Vũng Thơm - Kế Sách, Vũng Thơm - Trường Khánh. Đại đội 1089 tiến hành vũ trang tuyên truyền trên tuyến lộ Tân Hương đi Long Phú. Hàng ngàn đồng bào tham gia phá lộ Cái Oanh đi Long Phú.

Dân quân du kích huyện Thạnh Trị phá sập cầu Cà Lâm và phá banh lộ Cà Lâm đi Gia Hội. Đại đội 1094 tổ chức nhiều cuộc vũ trang tuyên truyền với đồng bào Khơ me ở Trà Cuôn - Thanh Phú.

Ngày 24 tháng 4, một đại đội thuộc tiểu đoàn 402 đánh đồn Xã Vì. Ngày 27 tháng 4, tiểu đoàn 402 đánh đồn Gióc-đan (Jourdan) đều không đạt kết quả.

Ngày 25 tháng 4, tiểu đoàn chủ lực Nam Bộ, có pháo 90mm yểm trợ, tiến công đồn Mỹ Phước. Sáng hôm sau, ngày 26 tháng 4, địch cho quân tiếp viện, ta phục kích đánh tiêu diệt một trung đội địch trên lộ Bố Thảo - Tam Sóc, thu một số vũ khí. Chiến dịch kết thúc ngày 30 tháng 4 năm 1950.

Kết quả: Ta diệt được đồn Bưng Tróp, loại khỏi vòng chiến đấu hơn một đại đội tiếp viện của địch, thu một pháo 90mm và một số súng đạn. Về quân sự ta không giành được thắng lợi trọn vẹn như mục tiêu chiến dịch đề ra, nhưng về chính trị ta đã giành thắng lợi rất lớn. Ta đã phá vỡ và thâm nhập được vùng mà địch vẫn cho là “bất khả xâm phạm”; bằng tuyên truyền vũ trang, ta đã đưa được tiếng nói của cách mạng, “tiếng nói kháng chiến” của “bộ đội Cụ Hồ” vào giác ngộ cho hàng vạn lượt đồng bào trong vùng đang bị địch kìm kẹp và chia rẽ. Từ đó, làm lung lạc tinh thần binh lính ngụy, thực hiện được ý định chiến dịch: căng kéo và kìm chân lực lượng của địch, không cho chúng mở rộng vùng chiếm đóng, bình định hậu phương và tiếp viện cho chiến trường Bắc Bộ. Cũng từ các cuộc vũ trang tuyên truyền, ta đã huy động được hàng nghìn quần chúng nhân dân tham gia phá đường, tiếp lương tải đạn phục vụ chiến dịch. Đây là thành quả lớn nhất của Chiến dịch Sóc Trăng 1.

Trong nghệ thuật chiến dịch ta còn bộc lộ nhược điểm là: Trong kế hoạch, chưa dự kiến hết khả năng đối phó bằng phi pháo của địch nên khi tình huống xảy ra ta rơi vào thế bị động, lúng túng và không tổ chức bắn trả được máy bay địch. Công tác nắm địch làm chưa tốt, lực lượng ta bố trí dàn trải, không tập trung vào những mục tiêu chính nên hạn chế đến kết quả của chiến dịch.
________________________________________
*.Lúc đầu lấy tên là Chiến dịch TOFACO (tổng phản công). Sau này đổi tên là “Chiến dịch Sóc Trăng 1”.

chuongxedap:

CHIẾN DỊCH PHAN ĐÌNH PHÙNG
(Tiến công, từ ngày 15 tháng 6 đến ngày 24 tháng 10 năm 1950)


Tại chiến trường Bình Trị Thiên đầu năm 1950, địch ra sức củng cố ngụy quyền, xây dựng thêm các lô cốt tháp canh, củng cố vùng chiếm đóng, ra sức vơ vét lúa gạo, bắt lính, đánh phá dữ dội vùng tự do của ta. Cuối tháng 2, Bình Trị Thiên lại bị trận lụt lớn, lương thực thực phẩm khan hiếm, tình hình chiến trường Bình Trị Thiên hết sức khó khăn.

Mặc dù vậy, quân dân Bình Trị Thiên vẫn ra sức đẩy mạnh chiến tranh du kích, tập trung lực lượng chống càn bảo vệ nhân dân gặt mùa, cất giấu lương thực.

Ngày 14 tháng 4 năm 1950, thực hiện chủ trương “Phát triển chiến tranh du kích đến cực độ, đẩy vận động lên địa vị chủ yếu” của Trung ương, Hội nghị quân chính Bình Trị Thiên họp bàn mở Chiến dịch Đông Xuân. Hội nghị quyết định huy động cao độ khả năng của nhân dân ba tỉnh mở Chiến dịch Phan Đình Phùng nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch, phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ, giáng đòn phủ đầu quân cơ động của Pháp mới được tổ chức trên chiến trường Bình Trị Thiên, rèn luyện nâng cao trình độ đánh vận động chiến của bộ đội ta, lấy thắng lợi của chiến dịch thúc đẩy cuộc chiến tranh du kích ở Bình Trị Thiên lên đỉnh cao mới.

Quân địch ở Bình Trị Thiên lúc này, ngoài các lực lượng chiếm đóng (khoảng 90 cứ điểm, 120 lô cốt tháp canh) còn có hai tiểu đoàn Âu - Phi cơ động: tiểu đoàn An-giê-ri (RIA) và tiểu đoàn 2 trung đoàn bộ binh Ma-rốc số 4 (2/4e RTM).

Ngày 10 tháng 6, tại xóm Luật Sơn, Trường Thuỷ (Lệ Thủy), Bộ chỉ huy mặt trận Bình Trị Thiên chính thức giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Ý định của Bộ chỉ huy là tiêu diệt đội ứng chiến tỉnh Quảng Bình và một bộ phận ứng chiến liên tỉnh, lấy tiêu diệt quân ứng chiến liên tỉnh làm chính. Tổ chức diệt một cứ điểm để rút kinh nghiệm huấn luyện bộ đội đánh công kiên.

Lực lượng tham gia chiến dịch, trận hướng chủ yếu có trung đoàn 18 (gồm tiểu đoàn 346, 274); trung đoàn 95 gồm tiểu đoàn 227, 302, 310 và tiểu đoàn pháo binh 888). Hướng phối hợp có trung đoàn 101, tiểu đoàn 364 cùng lực lượng vũ trang địa phương của ba tỉnh. Chỉ huy chiến dịch là đồng chí Trần Quý Hai, Chỉ huy trưởng Mặt trận Bình Trị Thiên; Chỉ huy phó là đồng chí Lê Nam Thắng.

Để đảm bảo bí mật cho việc chuẩn bị trên hướng chính, Bộ chỉ huy mặt trận lệnh cho tất cả các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích trên hướng phối hợp tăng cường hoạt động tập kích, quấy rối, đánh phá giao thông để căng kéo, phân tán sự đối phó của địch. Mọi công tác chuẩn bị đã cơ bản hoàn thành vào trung tuần tháng 6. Chiến dịch được tiến hành theo hai đợt:

Đợt 1 (từ ngày 17 đến 27 tháng 6):

Ngày 17 tháng 6 ta mở màn đợt 1. Một đại đội của trung đoàn 18 tổ chức bao vây quấy rối đồn Sen Hạ. Đại đội Lê Hồng Phong, bộ đội địa phương Quảng Trị bao vây đồn Ba Định. Ngày 18, ta tiếp tục bao vây đồn Sen Hạ nhằm kéo quân ứng chiến liên tỉnh đến để tiêu diệt.

Đúng như dự kiến, sáng 19 tháng 6, địch đưa khoảng 400 quân từ Hòa Luật Nam vào ứng cứu Sen Hạ. Lực lượng này lọt vào trận địa phục kích của tiểu đoàn 274 trung đoàn 18 ở Sen Động, Phú Thiết, bị tiêu diệt và bắt sống 250 tên. Ta phá hủy chín xe, thu nhiều vũ khí trang bị. Phát huy thắng lợi, tối ngày 19, trung đoàn 18 sử dụng trọng pháo chi viện cho bộ binh tiến công Sen Hạ. Trận đánh không thành công, địch cho hai đại đội dù nhảy xuống Sen Hạ và Hoà Luật Nam để củng cố hai vị trí này.

Thấy chủ lực ta hoạt động mạnh, bộ chỉ huy Pháp ở Bình Trị Thiên quyết định tập trung lực lượng lớn để tiêu diệt chủ lực ta. Chúng tổ chức càn quét quyết liệt vùng Mỹ Thổ, Duy Tân và yểm hộ cho đồng bọn ở Mỹ Trạch, Liêm Thiện rút về Hòa Luật.

Từ ngày 20 tháng 6, được tin địch tập trung quân ở Hồ Xá, Mặt trận điều trung đoàn 95 và tiểu đoàn 274 vào khu vực Hạ Cờ, Chấp Lễ. Ngày 25 tháng 6, năm tiểu đoàn của ta dưới sự chỉ huy của ban chỉ huy trung đoàn 95, tổ chức trận địa phục kích suốt chiều dài bảy ki-lô-mét hai bên quốc lộ số 1 từ Sen Thủy đến ngã ba Sa Lung (Vĩnh Linh). Chiều ngày 27, một đoàn xe địch hơn 70 chiếc chở trên 1.000 quân từ Đồng Hới vào Đông Hà, đi đến Hạ Cờ (Chấp Lễ - Vĩnh Linh) thì bị chặn đánh. Cả đoàn xe địch bị chia cắt thành nhiều đoạn, song địch vẫn ngoan cố dựa vào địa hình, co cụm chống trả ta quyết liệt. Cuộc chiến đấu kéo dài suốt năm giờ mới kết thúc, ta diệt hơn 300 tên địch, bắn rơi một máy bay.

Hạ Cờ là trận đầu tiên ta sử dụng hai trung đoàn phục kích ban ngày trên địa hình đồng bằng chiến trường Bình Trị Thiên. Trận đánh đã làm tổn thất nặng nề quân ứng chiến của địch trên địa bàn, gây tiếng vang lớn trong nhân dân. Sau trận Hạ Cờ, ta cơ bản kết thúc đợt 1 chiến dịch.

Đợt 2 (từ ngày 1 tháng 7 đến ngày 24 tháng 10):

Từ ngày 1 tháng 7, chiến dịch bước vào đợt 2. Ban đầu ta đẩy mạnh các hoạt động nhỏ liên tục của bộ đội địa phương. Đến ngày 13 tháng 7, ta sử dụng tiểu đoàn 436 được tăng cường trọng pháo, cường tập Sen Hạ tạo điều kiện cho trung đoàn 95 đánh viện. Địch không tăng viện bằng đường bộ như ta dự kiến mà tăng viện bằng quân dù, ta không diệt được viện. Sau trận này, Bộ chỉ huy chiến dịch ý định cho kết thúc chiến dịch. Đúng lúc này, Bộ Tổng tư lệnh điện cho Mặt trận Bình Trị Thiên kéo dài chiến dịch Phan Đình Phùng để phối hợp với chiến trường Biên Giới.

Nhận được điện, Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương giao nhiệm vụ tác chiến khu vực bắc Quảng Bình cho bộ đội địa phương, dân quân du kích, còn chủ lực nhanh chóng cơ động vào nam Quảng Bình tác chiến.

Suốt trong đợt 2 chiến dịch (đến 24 tháng 10) ta chỉ hoạt động với quy mô vừa và nhỏ nhằm duy trì chiến đấu liên tục của chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương để tiêu hao, tiêu diệt địch. Ta tập trung lực lượng hoạt động ở Đồng Hới, Đông Hà, Quảng Trị, đánh phá các cơ quan ngụy quyền, đồn bốt, gây cho địch nhiều thiệt hại.

Nổi bật nhất trong đợt 2 là trận phục kích đoàn tàu quân sự 15 toa tại Như Sơn - Bến Đá ngày 24 tháng 10 của tiểu đoàn 227 trung đoàn 95 và một bộ phận của trung đoàn 101. Trong trận này, ta đã phá hỏng một đầu máy, 10 toa, thu một khẩu pháo 40mm, hàng trăm súng, diệt và làm bị thương 160 tên.

Kết quả toàn chiến dịch, ta diệt 540 tên, làm bị thương 300 tên, bắt 20 tù binh, phá hủy một đoàn tàu bọc thép, 40 xe vận tải, bắn rơi một máy bay thu hàng trăm súng các loại.



Mặc dù tiến hành trong điều kiện hết sức khó khăn, song chiến dịch Phan Đình Phùng đã tiêu diệt, tiêu hao một phần quân ứng chiến của địch, bảo vệ được mùa màng, phối hợp nhịp nhàng với chiến trường chính Bắc Bộ. Chiến dịch còn góp phần nâng cao trình độ của cán bộ chiến sĩ trong quá trình chuyển từ tác chiến du kích lên chính quy.

Về nghệ thuật chiến dịch, ta đã thành công trong một số lần “khêu ngòi diệt viện”, bước đầu đánh bại chiến thuật “khối ứng chiến lớn” hành binh lớn của Pháp ở chiến trường Bình Trị Thiên. Trong chiến dịch ta đã tổ chức một số trận phục kích khá lớn, diệt nhiều địch.

Tuy vậy, do chiến dịch mở ra trên địa bàn rộng, phương tiện thông tin chưa tốt, nên việc chỉ huy hiệp đồng chưa chặt chẽ, hiệu quả chiến dịch chưa cao.

chuongxedap:

CHIẾN DỊCH BẾN TRE
(Tiến công, từ ngày 3 đến ngày 31 tháng 7 năm 1950)


Bến Tre là tỉnh hẹp nhất trong chín tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (diện tích 2.224,75 km2), là tỉnh cuối nguồn sông Cửu Long, giáp với biển Đông, cách thành phố Sài Gòn 86 ki-lô-mét về hướng tây nam. Là xứ đất bồi mang hình rẻ quạt bởi bốn nhánh của sông Cửu Long (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên). Mỗi mùa nước lũ, các nhánh sông lại bồi đắp hàng triệu mét khối phù sa, tạo thành ba cù lao lớn: cù lao An Hoá, cù lao Bảo và cù lao Minh. Bến Tre được hợp thành bởi ba cù lao này. Địa hình bằng phẳng, rải rác có những giồng cát xen kẽ với ruộng vườn tươi tốt, làng mạc trù phú. Bến Tre không có rừng già, chỉ có rừng chồi (cây mắm, đước, chà là, bần) diện tích 14.286 héc ta ở ven biển, quanh năm ngập nước. Một hệ thống sông, rạch, kênh chằng chịt đã tạo nên mạng lưới giao thông thuỷ vô cùng thuận tiện. Đường bộ có các đường liên tỉnh 6A chạy từ phà Rạch Miễu (Tiền Giang) qua thị xã Bến Tre đến Mỏ Cày và ra phà Cổ Chiên; cù lao Minh có tỉnh lộ 30 nối huyện Chợ Lách - Mỏ Cày - Thạch Phú; cù lao Bảo có tỉnh lộ 26 nối Châu Thành - thị xã Bến Tre - Giồng Trôm - Ba Tri; cù lao An Hóa có tỉnh lộ 17 nối từ liên tỉnh lộ 6A đến huyện Bình Đại. Bến Tre là vùng đất tốt, người đông, nhân dân có truyền thống yêu nước và giác ngộ cách mạng, là tỉnh bị giặc Pháp tái chiếm sớm, nhưng đồng thời là nơi có phong trào chiến tranh du kích kiên cường và rộng khắp.

Trong hai ngày đêm 8 và 9 tháng 2 năm 1950, lực lượng huyện và dân quân du kích Châu Thành, bằng phương pháp cải trang kỳ tập đã san bằng 11 đồn tua, thu hàng trăm súng, lôi kéo gần 100 binh sĩ Hòa Hảo về với kháng chiến; giải phóng hoàn toàn xã Châu Bình. Đây là xã đầu tiên của cù lao Bảo được giải phóng. Sau sự kiện này, thực dân Pháp trả thù điên cuồng bằng các đợt tập trung càn quét dã man: chặt đầu, mổ bụng, moi gan, liệng xác đồng bào ta xuống sông. Một số cán bộ dao động chạy lên Sài Gòn và vùng lân cận lẩn trốn, một số nằm im bất động. Trước tình hình đó, tháng 5 năm 1950, tỉnh ủy, tỉnh đội và một số cán bộ chủ chốt của các tiểu đoàn chủ lực của Khu mở hội nghị tại cù lao Minh và quyết định mở “Chiến dịch tiến công Bến Tre” nhằm phá kế hoạch lấn chiếm cù lao Minh của địch, giải phóng và giữ vững một số vùng theo sự chỉ đạo của Khu 8. Địa bàn chiến dịch là vùng bắc Mỏ Cày gồm các xã Tân Bình, Hưng Khánh Trung, Vĩnh Thành (Cái Mơn), Vĩnh Hòa, Tân Thạnh Tây, Hòa Lộc, Nhuận Phú Tân và Đa Phước Hội. Địa hình ở các xã này liền nhau, ít sông rạch ngăn cách, cho phép ta tập trung đánh lớn, có khả năng diệt từ một đến hai tiểu đoàn địch. Hậu phương của ta rộng, cơ sở vật chất bảo đảm phục vụ chiến dịch được dài ngày.

Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch gồm: Trên vùng Cái Mơn có 22 đồn bốt, đóng trên các xã Vĩnh Hòa, Vĩnh Thành, Song Phú và Long Thới; vùng Giồng Keo có một đồn chính và 14 tháp canh; khu vực thị trấn Mỏ Cày có hai kho, do lính Pháp và Ma-rốc chiếm đóng, khu Thành Thới do lính Hòa Hảo chiếm đóng. Lực lượng ứng chiến có hai tiểu đoàn cơ động (501 và 502), tiểu đoàn UMDC thuộc lực lượng phản động đội lốt Thiên Chúa giáo của tên Lê-ông Lơ-roa đóng ở An Hoà. Ngoài ra, địch có một trung đoàn đóng ở Mỹ Tho, Vĩnh Long, Trà Vinh sẵn sàng cơ động tăng viện cho Bến Tre khi cần thiết.

Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm: ba tiểu đoàn chủ lực của khu (307, 308 và 310), hai đại đội địa phương tỉnh và một đại đội bộ đội địa phương huyện Mỏ Cày - Chợ Lách cùng dân quân du kích các xã và hàng ngàn dân công phục vụ chiến đấu.

Đồng chí Nguyễn Đăng, phó Tư lệnh Khu 8 làm Tư lệnh chiến dịch; đồng chí Võ Văn Thời làm Chính ủy; hai đồng chí Đồng Văn Cống và Bùi Sỹ Hùng làm Phó tư lệnh chiến dịch.

Phương châm tác chiến là: “đánh điểm, diệt viện” và “vây điểm diệt viện”.

Kế hoạch dự kiến: Khi mở màn chiến dịch, phải diệt cho được đồn chính Lò Heo (Cái Mơn) và đồn Giồng Keo (Tân Bình). Đồng thời bao vây uy hiếp mạnh toàn bộ hệ thống đồn bốt trong vùng. Đối tượng tác chiến chủ yếu là đánh quân cứu viện thuộc các tiểu đoàn cơ động 501, 502 và UMDC. Diệt phần lớn quân cơ động sẽ bẻ gãy kế hoạch lấn chiếm vùng căn cứ từ đó mở thêm một số “lõm” du kích ở vùng bắc Mỏ Cày.

Đêm 3 tháng 7 năm 1950, chiến dịch mở màn. Đại đội 945 tiểu đoàn 310 diệt gọn một trung đội địch ở đồn Lò Heo, thu toàn bộ vũ khí. Các đại đội của tiểu đoàn 307 gồm: Đại đội 931 đánh bốt Hoà Khánh; đại đội 932 đánh hai bốt Cây Đa và Bác Vật Vinh; đại đội 933 đánh các bốt Ông Kèo, Bà Thiết và Giáp Sang đều không thành công. Ngày 4 tháng 7, tiểu đoàn chuyển sang bao vây vòng ngoài để chờ đến tối tiến công. Đến 16 giờ, địch ở bốt Hòa Khánh rút chạy. 18 giờ, địch ở bốt Cây Đa bỏ trốn, ta bắt được một số tên. Đến 20 giờ, địch ở bốt Bà Thiết cũng bỏ chạy. Ngày 5 tháng 7, địch ở bốt Ông Kèo ra đầu hàng. Một đại đội địch từ thị xã Bến Tre hành quân bằng đường thủy theo sông Hàm Luông đổ bộ lên xã Thạch Ngãi, đánh sang Vĩnh Hòa, bị tiểu đoàn 310 chặn đánh, diệt 20 tên, thu 10 súng, số còn lại tháo chạy xuống tàu.

Đêm 6 tháng 7, bộ phận trợ chiến của tiểu đoàn 307 phục kích để đánh tàu trên Hòa Lộc nhưng địch không xuất hiện, đại đội 933 chạm súng với gần một đại đội địch ở Thành An, nhưng không kết quả. Ngày 12 tháng 7, đợt 1 chiến dịch kết thúc.

Sau đợt 1, Bộ chỉ huy chiến dịch bổ sung quyết tâm và điều chỉnh lại đội hình: Tiểu đoàn 308 về Tân Thành Tây, tiểu đoàn 307 về Gia Khánh, tiểu đoàn 310 về Tân Phú Tây.

2 giờ 30 ngày 13 tháng 7, tiểu đoàn 308 tiến công cứ điểm Giồng Keo và kết hợp gọi loa địch vận nhưng không kết quả. Ta tổ chức bao vây và liên tiếp tiến công vào các đêm 14, 17 và 18 nhưng do nắm địch không chắc nên cả ba đêm đánh không thành công. Lực lượng của tiểu đoàn 307 bố trí hai bên bờ rạch đoạn giữa chợ Xếp và Giồng Keo để đánh chặn viện (cho Giồng Keo). Lúc 16 giờ ngày 19, địch hành quân băng qua các khu vườn và cánh đồng, qua đồn Giồng Keo, tiến vào khu vực của đại đội 933. Tiểu đoàn lập tức điều đại đội 931 và 932 sang phối hợp đánh địch. Nhưng do hiệp đồng không chặt chẽ nhịp nhàng, đại đội 933 xung phong quá sớm, nên ta chưa hình thành kịp thế bao vây địch, để chúng chạy thoát về phía đồn Giồng Keo. Trận này địch chỉ chết và bị thương chừng 30 tên.

Ngày 21 tháng 7, một tiểu đoàn địch từ Mỏ Cày tiến vào Giồng Keo, có xe lội nước và pháo binh yểm trợ. Nhân cơ hội này, bọn lính đồn trú ở đồn Giồng Keo cũng rút luôn theo đường bộ dọc bờ phía nam rạch Mỏ Cày – Giồng Keo, bộ đội địa phương tỉnh truy kích, diệt được một số tên. Xã Tân Bình hoàn toàn giải phóng. Lực lượng chủ lực không đánh được quân địch này vì trước đó đã đưa lực lượng sang bố trí ở các vườn phía bắc rạch Mỏ Cày - Giồng Keo.

Bộ đội ta vẫn triển khai bao vây, bọn bị vây kêu cứu nhưng không được chi viện, vì chúng phát hiện lực lượng ta định đánh lớn nên các tiểu đoàn 501, 502 và UMDC vẫn bất động, nằm im tại thị xã Bến Tre. Nhiệm vụ chủ yếu của ta là diệt quân cơ động không thực hiện được. Cuối tháng 7, Bộ chỉ huy ra lệnh kết thúc chiến dịch.

Kết quả: Ta diệt được bốn đồn, giải phóng một xã; diệt 230 tên địch, làm bị thương một số và bắt 25 tên; thu hai trung liên, bảy tiểu liên, 30 súng trường; bắn hỏng hai xe lội nước, đốt hai xuồng máy.

Nét nổi rõ của chiến dịch là đã biết kết hợp giữa tiến công địch và tiến hành công tác binh, địch vận, khiến quân địch ở nhiều bốt hoang mang bỏ chạy; ta diệt được bốn đồn tua, 10 bốt nhỏ ở cù lao Bảo, giải phóng một xã, gây được lòng tin trong nhân dân. Nhưng do thiếu sót trong tổ chức nắm địch, trong chỉ đạo chiến thuật và trong hiệp đồng chiến đấu thiếu chặt chẽ, nhịp nhàng nên hầu hết các trận tiến công đồn bốt, lô cốt địch tương đối kiên cố đều không thành công; không tập trung được lực lượng vào những mục tiêu chủ yếu, không phát huy được sức mạnh của các đơn vị chủ lực, bỏ lỡ nhiều cơ hội diệt địch, mục tiêu chính đề ra là diệt quân cơ động không hoàn thành, mặc dù cuối chiến dịch bộ đội còn sung sức, vùng du kích chưa được mở rộng liên hoàn như dự kiến ban đầu.

chuongxedap:

CHIẾN DỊCH ĐẮC LẮC*
(Tiến công, từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1950)


Sau khi chiếm được Tây Nguyên, thực dân Pháp quyết định tách các tỉnh thuộc Tây Nguyên thành một đơn vị hành chính riêng và lập “Ủy phủ Liên bang” trực thuộc cao ủy Pháp. Dựa vào bọn tay sai và hệ thống ngụy quyền cũ, Pháp đã lập lại bộ máy cai trị từ tỉnh đến buôn, làng. Chúng củng cố và mở rộng các đồn bốt cũ, xây dựng đồn bốt mới, hình thành một hệ thống cứ điểm chằng chịt quanh các tỉnh lỵ.

Từ đầu năm 1949, địch tập trung lực lượng tăng cường càn quét ngăn chặn các đường tiến công của ta nhằm đẩy lùi các đội gây cơ sở đang tiến sâu vào Tây Nguyên. Chúng ra sức bắt lính, bắt phu, xây dựng ngụy quân, ngụy quyền, lợi dụng những sai sót của ta để tuyên truyền chia rẽ, kích động hằn thù dân tộc ở vùng Tây Nguyên.

Bất chấp mọi thủ đoạn của kẻ thù, cuộc kháng chiến ở Tây Nguyên không ngừng phát triển. Với sự kết hợp chặt chẽ giữa vận động gây cơ sở và tiến công quân sự, đến cuối năm 1949, một vùng cơ sở rộng đã hình thành trong khu tam giác Cheo Reo - Buôn Hồ - Ma Đơ Rắc (Đắc Lắc). Giữa năm 1950, các đơn vị chủ lực Liên khu và bộ đội địa phương Tây Nguyên được phát triển và củng cố vững mạnh thêm. Trung đoàn 803 được thành lập tháng 6 năm 1950, trung đoàn 84 hoạt động ở nam Tây Nguyên được củng cố.

Nhằm tiếp tục thực hiện chủ trương gây dựng cơ sở địch hậu, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, phá âm mưu củng cố vùng tạm chiếm của địch, chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh về nhiệm vụ mùa hè của Liên khu 5, Bộ tư lệnh Liên khu quyết định mở chiến dịch Nguyễn Huệ ở nam Tây Nguyên với mục đích phối hợp với chiến trường Bắc Bộ, bồi dưỡng lực lượng ta, thúc đẩy việc xây dựng cơ sở ở địch hậu. Hướng trọng điểm chiến dịch là vùng tam giác Cheo Reo - Biển Hồ - Ma Đơ Rắc.

Địch trong khu vực này có chín đại đội, trong đó một phần ba là lính Âu - Phi, còn lại là lính ngụy người địa phương. Hoạt động chủ yếu của chúng là càn quét bắt lính, quấy rối vùng tự do, thăm dò phát hiện lực lượng ta.

Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm: Trung đoàn 803 chủ lực Liên khu (ba tiểu đoàn bộ binh, một đại đội công binh, một đại đội trợ chiến); trung đoàn 84 (gồm một số đại đội độc lập và tám đại đội vũ trang tuyên truyền). Ngoài ra Liên khu còn điều một số đại đội có nhiều kinh nghiệm chiến đấu của Quảng Nam, Khánh Hoà và của trung đoàn 108, 803 bổ sung cho trung đoàn 84. Để chỉ đạo, chỉ huy chiến dịch, Liên khu thành lập Mặt trận Nam Tây Nguyên gồm các đồng chí: Nguyễn Đôn - Chỉ huy trưởng mặt trận; Trương Quang Giao - Chính ủy; Lư Giang - trung đoàn trưởng trung đoàn 803 và Nguyễn Tuyến - Trung đoàn trưởng trung đoàn 84 làm Chỉ huy phó mặt trận.

Chiến dịch được tiến hành theo hai đợt:

Đợt 1 (từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 8 năm 1950):

Bộ chỉ huy Mặt trận sử dụng hai tiểu đoàn chủ lực của trung đoàn 803 tập trung đánh các cứ điểm địch trên đường số 7 để hỗ trợ cho đại đội bộ đội địa phương, các đại đội vũ trang tuyên truyền và cán bộ dân chính đảng tiến lên Biển Hồ, đi sâu vào vùng địch hậu, gây cơ sở. Đêm 15 tháng 7, tiểu đoàn 365 tổ chức tiến công cứ điểm Ma Phu. Trong trận đánh, tiểu đoàn đã sử dụng súng phá bom do Liên khu chế tạo (sử dụng lần đầu tiên), song không diệt được đồn. Ngày 16 tháng 7, địch tăng viện từ BLá xuống ta cũng không đánh được. Các ngày sau đó ta phân tán đánh các lực lượng địch ở Ma Drik (Blang), BLôi, BLá, đường số 7, đường 21 để hỗ trợ cho các lực lượng vũ trang tuyên truyền hoạt động.

Đợt 2 (kéo dài trong tháng 9):

Chủ lực tập trung đánh quân ứng chiến càn quét vào vùng Ma Đơ Rắc - Cheo Reo, đánh giao thông trên đường 21. Các đại đội vũ trang tuyên truyền phối hợp mở rộng khu du kích Biển Hồ, tiến vào xung quanh vùng thị xã Buôn Ma Thuộc, bản Đôn, bốt Đà Lạt.

Kết quả, sau ba tháng hoạt động, ta đã diệt 120 tên (có 14 lính Âu - Phi) làm bị thương 50 tên, bắt sáu tên, thu một máy vô tuyến điện, 37 súng các loại, phá hủy một súng cối 81mm, một máy vô tuyên điện, hai xe ô tô.

Kết quả diệt địch của Chiến dịch Nguyễn Huệ không lớn, song có ý nghĩa đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng địch hậu. Chiến dịch đã góp phần phát triển xây dựng cơ sở ở Đắc Lắc, một chiến trường chính ở Tây Nguyên. Ta đã tạo được một khu căn cứ địa ở vùng tam giáp Cheo Reo - Biên Hồ - Ma Đơ Rắc, tạo bàn đạp mở rộng cơ sở vượt qua tây đường 14 sang đông Cam-pu-chia.

Về nghệ thuật chiến dịch, đây cũng là chiến dịch nhỏ trong thời kỳ quá độ tác chiến du kích lên tác chiến chính quy. Thành công của chiến dịch là ở chỗ ta đã áp dụng phương thức (kinh nghiệm ở Sầm Nưa) dùng lực lượng tập trung tiến công, kiềm chế các cứ điểm, hỗ trợ cho các đội vũ trang tuyên truyền tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm gây cơ sở, đẩy phong trào địch hậu ở nam Tây Nguyên phát triển, điều mà mấy năm trước Liên khu chưa làm được.
____________________________________
*.Còn có tên gọi là Chiến dịch Nguyễn Huệ hoặc Nam Tây Nguyên.

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page