Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp

<< < (2/21) > >>

chuongxedap:

CHIẾN DỊCH YÊN BÌNH XÃ 1
(Tiến công, từ ngày 1 đến ngày 15 tháng 6 năm 1948)


Chiến dịch diễn ra trên địa bàn huyện Yên Bình, có diện tích rộng 890km2 nằm ở phía đông bắc thị xã Yên Bái, phía tây thị xã Tuyên Quang. Từ năm 1945, Yên Bình thuộc tỉnh Tuyên Quang; từ năm 1956 đến nay thuộc tỉnh Yên Bái. Địa hình rừng núi bán sơn địa thấp dần theo hướng bắc-nam. Phía bắc có nhiều dãy núi cao, như núi Con Voi, núi Ngàng, núi Yến... rừng rậm rạp hiểm trở. Xen kẽ có nhiều dãy núi đá vôi tiện cho việc giấu quân và kho tàng của ta. Phía nam huyện có nhiều đồi cao rồi thấp dần về phía Hạ Hoà (Phú Thọ). Xen kẽ giữa vùng đồi và núi đá vôi có nhiều cánh đồng rộng tươi tốt tạo nên nhiều làng xóm (như cánh đồng Làng Bạc, Mỹ Gia, Đồng Tâm, Văn Chính, Đại Đồng, v.v...)

Về giao thông, huyện lỵ Yên Bình cách Yên Bái 19 ki-lô-mét nối liền với thị xã Yên Bái bằng quốc lộ, từ đây lại có đường liên tỉnh nối với huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; chạy song song với quốc lộ là dòng sông Chảy từ phía bắc chảy qua, dọc địa bàn Yên Bình xuôi xuống Đoan Hùng (Phú Thọ). Sông Chảy có nhiều thác lớn và dữ, như thác Ông, thác Bà, trước đây còn có tên là sông Trôi, sông Đạo Ngạn; với những ngòi lớn như: Ngòi Lự, ngòi Tràng, ngòi Loàn từ hai phía đổ ra sông Chảy tạo thành hệ thống giao thông thuỷ hết sức thuận lợi.

Trong kháng chiến chống Pháp, huyện Yên Bình có gần 24.500 người, gồm nhiều tộc người. Người Kinh và phần lớn người Tày sống ở vùng đồng bằng dọc hai bờ sông Chảy và giữa huyện. Người Dao sống trên vùng núi cao quanh huyện. Người Hoa sống chủ yếu ở chợ Ngọc và chợ Phủ. Đông nhất là người Kinh, từ năm 1900 do bị bần cùng hoá mà từ Nam Định, Thái Bình đi lên định cư dọc hai bờ sông Chảy; nhân dân ở đây rất nhạy bén với chính trị, bị hai tầng áp bức bóc lột của Nhật và Pháp, lại được giác ngộ cách mạng nên sẵn sàng ủng hộ kháng chiến. Tuy thực dân Pháp thực hiện chính sách và thủ đoạn chia rẽ dân tộc, nhưng đồng bào các dân tộc trong vùng vẫn sống hoà thuận và đoàn kết. Việc hôn nhân giữa các tộc người vẫn diễn ra bình thường, không bị ràng buộc nặng nề bởi các hủ tục.

Từ những ngày đầu xâm chiếm, thực dân Pháp thực hiện chính sách “tự trị”, dựng chính quyền tay sai ở huyện Yên Bình giống các huyện miền xuôi. Đứng đầu bộ máy là viên tri phủ, giúp việc có thừa phái, lục sự, kiểm lâm, dưới có chánh tổng, lý trưởng. Hệ thống quân sự cũng được tổ chức từ huyện đến xã phủ có châu đoàn, tổng có tổng đoàn, xã có xã đoàn. Ở huyện có lính cơ canh phòng, lính vệ làm phục dịch, xã có lính dõng. Tại chợ Ngọc (vùng thượng huyện), chúng xây dựng một đồn do bang tá chỉ huy, nằm án ngữ con đường Yên Bái - Lục Yên và Đồng Tâm - Hàm Yên. Từ 1914 đến 1945, chúng xây dựng 39 nhà thờ dọc hai bờ sông Chảy, trong đó có nhà thờ Vật Lầm xây trên quả đồi cao với tháp chuông có cửa sổ mở ra bốn phía như một cứ điểm quân sự, xung quanh có lô cốt với những lỗ châu mai. Từ các nhà thờ này, chúng dùng những tên phản động lợi dụng Thiên Chúa giáo dùng mọi thủ đoạn mê hoặc, chia rẽ nhân dân để phá hoại cách mạng. Ngoài hệ thống ngụy quân, ngụy quyền, chúng o bế số địa chủ, đại địa chủ và các cố đạo trong vùng để làm tay sai đắc lực cho chúng.

Từ tháng 5 năm 1948, trên phía tây bắc, thực dân Pháp cho quân ráo riết chiếm một số nơi thuộc hữu ngạn sông Hồng. Chúng xây đồn bốt, củng cố những nơi chiếm được như Đại Bục, Đại Phác, Đông Bồ. Một số cơ sở của ta ở vùng Tú Lệ, Gia Hội bị vỡ, đại đội độc lập 520 và đội võ trang đang đứng chân tại đây bị bật ra ngoài. Mặt đường số 4 chúng tích cực tuyển mộ lính ngụy. Mặt Yên Bình Xã và Phố Ràng chúng tiến công chiếm Võ Lăng và Bến Cóc để chuẩn bị đánh xuống Lục An Châu và Vĩnh Tuy, làm bàn đạp cho cuộc tiến công lớn vào căn cứ địa Việt Bắc trong thu đông 1948.

Để phá tan kế hoạch tiến công Lục An Châu - Vĩnh Tuy của địch, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực học tập đánh tập trung, Liên khu 10 chủ trương mở chiến dịch Yên Bình Xã 1 nhằm mục đích: “Tiêu diệt địch trong phạm vi Yên Bình Xã, Võ Lăng, Phố Ràng; nâng cao tinh thần và trình độ tác chiến của bộ đội, củng cố lòng tin trong nhân dân”. Phương châm tác chiến là: Đánh điểm, diệt viện để đẩy mạnh công tác xây dựng cơ sở cách mạng và lực lượng vũ trang trong vùng.

Lực lượng địch trong địa bàn chiến dịch gồm một đại đội, sáu trung đội (có hơn hai tiểu đội lê dương) và 300 lính dõng. Bố trí cụ thể: Phố Ràng hai trung đội; Yên Bình Xã: một đại đội (có sáu súng máy, một cối 60mm, một cối 50mm, hai AT); Hữu Bằng (làng Mun) hai trung đội; Làng Cao một trung đội; Bản Ven hơn một tiểu đội lính địa phương; Nghĩa Đô tám lính Pháp, một trung đội lính khố đỏ và 300 lính dõng (có một tên quan ba và một tên quan một Pháp, một tên quan một ngụy, vũ khí đầy đủ) và một số quân địch ở Khôn Lung.

Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm ba tiểu đoàn và hai đại đội độc lập: Tiểu đoàn 532 (chủ lực Khu), tiểu đoàn 534 (địa phương Hà Giang), tiểu đoàn 45 (chủ lực của Bộ), đại đội 700 và đại đội độc lập Ngô Khê.

Ta chủ trương tập trung lực lượng để tiêu diệt Yên Bình Xã. Phạm vi hoạt động của chiến dịch, một chiều khoảng 8 ki-lô-mét, một chiều 20 km. Chiến dịch tiến công trên ba hướng, cụ thể nhiệm vụ của các đơn vị là:

- Tiểu đoàn 534 và đại đội Ngô Khê từ hướng đường Võ Lăng đánh vào Yên Bình Xã.

- Tiểu đoàn 45 từ Khôi Ma, Hoàng Nam Đông đánh thẳng vào Yên Bình Xã.

- Đại đội 700 cùng một bộ phận của tiểu đoàn 532 từ hướng Phố Ràng đánh vào Yên Bình Xã để nghi binh thu hút địch.

- Bộ phận còn lại của tiểu đoàn 532 phục kích đánh địch trên đường Yên Bình Xã - Nghĩa Đô, Yên Bình Xã - Khôi Lung, bảo đảm cho tiểu đoàn 45 chiến đấu và lui quân.

Bộ tư lệnh Liên khu 10 trực tiếp chỉ huy chiến dịch1. Huyện uỷ và Uỷ ban kháng chiến huyện Yên Bình đã huy động 200 lượt người gồm dân quân du kích và dân công với lương thực, thực phẩm và vũ khí thô sơ đầy đủ tham gia trực tiếp phục vụ chiến dịch.

Ngày 5 tháng 6, trên hướng Võ Lăng - Hữu Bằng, tiểu đoàn 534 và đại đội độc lập Ngô Khê tiến công Gò Chè. Đến tối, vì bao vây không chặt nên địch đã lợi dụng trời mưa rút chạy về Võ Lăng Thượng. Sau đó ta tiếp tục tiến công Võ Lăng Thượng. Vì không có kế hoạch đánh viện nên lúc 14 giờ cùng ngày, 100 tên địch từ Yên Bình Xã đến tiếp viện, ta nổ súng chỉ diệt được hai tên, địch hoang mang bỏ chạy trở lại Yên Bình Xã.

Sáng ngày 6 tháng 6, ta tiếp tục tiến công Võ Lăng Thượng, nhưng cũng lại bao vây không chặt để địch chạy thoát về Yên Bình Xã - Hữu Bằng.

Trên hướng Phố Ràng: 17 giờ 10 phút ngày 6 tháng 6, đại đội 700 cùng một bộ phận của tiểu đoàn 532 tiến công Phố Ràng nhưng không thành công. Ngày 7 tháng 6, ta tiếp tục tiến công nhưng không thu được kết quả, ta chuyển sang bao vây đồn. Sau ba ngày bị vây chặt, không có tiếp tế, quân địch trong đồn hoang mang bỏ chạy. Nhưng đại đội 700 chỉ cho một tiểu đội truy kích diệt được hai tên và làm bị thương một số địch. Quân ta phá huỷ đồn, thu bảy hòm đạn đại liên và 25 quả đạn cối. Cùng ngày, trên một trung đội của tiểu đoàn 45 phục kích địch từ Yên Bình Xã tiếp viện cho Phố Ràng. Đến đoạn Thao Lung ta nổ súng, địch bỏ chạy, ta thu hai súng trường và 550 viên đạn.

Trên hướng Yên Bình Xã, 5 giờ 15 phút ngày 7 tháng 6, một đại đội của tiểu đoàn 532 đã bí mật, áp sát và nổ súng tiến công Yên Bình Xã. Đây là vị trí địch phòng thủ tương đối cứng, địa hình xung quanh là ruộng lầy và đồi thấp. Tiểu đoàn 45 hiệp đồng không khớp, đến chậm, ta phải lui quân. Ta chỉ diệt được ba tên địch, làm bị thương một tên; bên ta bị thương một người.

Từ ngày 10 tháng 6 đến 15 tháng 6, ta tổ chức tiến công Yên Bình Xã hai lần nữa; nhưng kế hoạch không chu đáo, hiệp đồng giữa các mũi không ăn khớp nên cũng không thu được kết quả. Ta chuyển sang bao vây. Quân địch rất hoang mang, 10 tên lính dõng mang vũ khí ra hàng, 10 tên khác bỏ trốn bị ta diệt bốn tên, thu bốn súng trường. Một bộ phận gồm tám lính Pháp, 50 lính dõng lợi dụng đêm tối chạy trốn về Nghĩa Đô.

Cùng trong thời gian trên, ta phục kích đánh địch tiếp viện trên đường Na Khao - Yên Bình Xã và Nghĩa Đô - Yên Bình Xã, diệt nhiều địch (trong đó có một chỉ huy Pháp) làm bị thương 11, bắt bốn tên, ta thu hai súng trường và năm gánh đạn. Chiến dịch kết thúc ngày 15 tháng 6 năm 1948.

Kết quả: Địch bị diệt 77 tên (có bảy lính Pháp, 70 lính khố đỏ và lính dõng), bị thương 70, bị bắt 11, ra hàng 45 tên. Ta thu: 68 súng trường, một khẩu Lơ-vít, một súng phóng lựu, một vạn viên đạn đại liên, 700 viên đạn súng ngắn, 25 quả đạn cối và một số quân trang, quân dụng. Ta hy sinh 17 đồng chí (có một đại đội trưởng), bị thương 35 người.



Chiến dịch Yên Bình Xã là một trong những chiến dịch tiến công đầu tiên của quân đội ta ở thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tuy còn nhiều khó khăn, bỡ ngỡ và ấu trĩ nhưng về cơ bản đã hoàn thành được nhiệm vụ và mục đích đề ra. Tiêu diệt và bức hàng được một bộ phận sinh lực địch, rèn luyện bộ đội, bảo toàn và phát triển lực lượng, gây được niềm tin cho nhân dân. Mục đích chiến dịch đề ra là thích hợp và rõ ràng. Chỉ huy các cấp và bộ đội đã nhận thức được nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch là chính, biết lấy việc tiêu diệt sinh lực địch để phá kế hoạch tiến công của chúng, động viên tinh thần bộ đội và nhân dân. Phạm vi tiêu diệt sinh lực địch cũng rõ ràng, có trọng điểm, do đó kế hoạch tác chiến đã tập trung được lực lượng vào đúng mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu.

Nhưng do chưa nhận thức sâu sắc phương châm tác chiến và tư tưởng chiến thuật “Đánh điểm, diệt viện”, nên trong kế hoạch và thực hành chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ chỉ thiên về “đánh điểm” mà không chuẩn bị chu đáo kế hoạch “diệt viện”, do đó đã bỏ lỡ mất nhiều cơ hội đánh địch cứu viện. Kế hoạch tác chiến chưa hiệp đồng chặt chẽ giữa các mũi nên khả năng tiến công bị giảm sút nhiều, nhất là trận Yên Bình Xã.

Căn cứ vào tình hình địch cụ thể tại địa bàn, nếu nhận thức rõ, sâu sắc mối quan hệ giữa “đánh điểm” và “diệt viện”, trình độ tổ chức và chỉ huy tác chiến chặt chẽ hơn thì bộ đội ta có khả năng tiêu diệt được Võ Lăng, Hữu Bằng, Yên Bình Xã và hoàn thành được nhiệm vụ tác chiến đề ra.
____________________________________
1.Ngày 25 tháng 1 năm 1948, chính phủ ra sắc lệnh 120/SL chính thức sát nhập Khu 10 và Khu 14 thành Liên khu 10; Bộ Tư lệnh Liên khu gồm: Bùi Quang Tạo làm bí thư Liên khu uỷ, Bằng Giang làm Liên khu trưởng, Song Hào làm chính uỷ Liên khu và Lê Trọng Tấn làm Liên khu phó.

chuongxedap:

CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG SỐ 3

(Tiến công, từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 12 tháng 12 năm 1948)


Thực hiện nhiệm vụ quân sự của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng từ ngày 15 đến 17 tháng 1 năm 1948 đề ra1, Bộ Tổng chỉ huy chủ trương mở chiến dịch đường số 3 nhằm mục đích “Bức địch rút khỏi Bắc Cạn và đường số 3”. Phương châm tác chiến là: “Tập trung lực lượng tiêu diệt các cứ điểm, trong đó mục tiêu quan trọng nhất là đánh Phủ Thông, kết hợp phục kích trên đường giao thông, đánh quân tăng viện và tiếp tế của địch từ Bắc Cạn lên”.

Trên địa bàn, quân địch đang chiếm đóng các vị trí: Ở thị xã Bắc Cạn hai đại đội; Phủ Thông một đại đội; Nà Pặc một đại đội; Ngân Sơn một đại đội; Bằng Khẩu hai trung đội; Tài Hồ Sìn một trung đội. Tổng số quân địch trên địa bàn chiến dịch tương đương ba tiểu đoàn. Địch thực hiện âm mưu chia rẽ dân tộc “Dùng người Việt đánh người Việt”, chúng mua chuộc, lôi kéo đồng bào các dân tộc và lập tề điệp làm lực lượng hậu thuẫn bảo vệ xung quanh các căn cứ đã chiếm được. Các cứ điểm xây dựng công sự kiên cố. Vũ khí trang bị đầy đủ và hiện đại hơn hẳn quân ta. Các vị trí của địch xây dựng khá vững chắc, nhưng cách xa nhau nên khi ta tiến công, chúng dễ bị chia cắt cô lập, khó ứng cứu được cho nhau.

Lực lượng ta gồm: Trung đoàn địa phương Bắc Cạn có một tiểu đoàn 55 và một đại đội độc lập. Trung đoàn địa phương Cao Bằng (trung đoàn 74) gồm tiểu đoàn 71 và một đại đội độc lập. Hai tiểu đoàn chủ lực của Bộ (11 và 54)2, tiểu đoàn 45 mới cơ động từ Tây Bắc về, một đại đội công binh và một đại đội pháo binh của Bộ.

Chiến dịch do Bộ Tổng chỉ huy chỉ đạo; Bộ chỉ huy Liên khu 1 chỉ huy, đồng chí Thanh Phong làm chỉ huy trưởng, đồng chí Lâm Kính làm chỉ huy phó. Từ phương châm “đánh điểm, diệt viện”, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết tâm “Tiêu diệt Phủ Thông - Bằng Khẩu và diệt viện binh từ Bắc Cạn lên”.

Phân công nhiệm vụ các đơn vị, cụ thể như sau: Tiểu đoàn 11 phối hợp với đại đội Ba Bể và đại đội pháo binh 75mm của tiểu đoàn 410 tiêu diệt đồn Phủ Thông, tiểu đoàn 73 thuộc trung đoàn 74 tiêu diệt Bằng Khẩu và dùng một bộ phận quấy rối Ngân Sơn, tiểu đoàn 54 của Bộ và tiểu đoàn 55 thuộc trung đoàn 72 tiêu diệt viện binh địch từ Bắc Cạn lên. Ngoài ra, dùng các đại đội độc lập của trung đoàn 72 và đội biệt động của ban tình báo Liên khu 1 quấy rối Nà Pặc, Bắc Cạn và phục kích Đèo Giàng.

Địa hình khu vực chiến dịch rừng rậm núi cao, đường số 3 độc đạo với nhiều đèo dốc hiểm trở, thuận lợi cho ta đánh phục kích, khó khăn cho việc cơ động binh, hoả lực của cả hai bên. Đây là vùng dân tộc ít người, thưa thớt và rất nghèo, nên ta không có điều kiện giải quyết “hậu cần tại chỗ” đảm bảo cho chiến dịch.

Thời tiết khí hậu trong vùng khắc nghiệt, dễ ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, đánh dài ngày bộ đội sẽ ốm đau nhiều.

Trong năm tiểu đoàn tham gia chiến dịch có hai tiểu đoàn (11 và 54) đã được bổ sung quân số, vũ khí tương đối khá và có thời gian đắp sa bàn chiến dịch để luyện tập. Các đơn vị khác mới được điều đến, chưa có điều kiện huấn luyện kỹ, lại có nhiều chiến sỹ mới. Chiến dịch tuy không có cơ quan chính trị chuyên trách nhưng các đơn vị đã chủ động tiến hành công tác thành trì trước chiến dịch, động viên được bộ đội tất cả đều rất hăng hái thi đua giết giặc lập công, sẵn sàng lấy súng địch đánh địch.

Về lương thực, việc bảo đảm của Chi cục Quân nhu có khó khăn vì thu mua trong dân được không đáng kể, đường sá khó khăn, nhân công thiếu nên chỉ vận chuyển được một số đến Bản Thi.

Tổ chức nắm địch, vì thiếu người và phương tiện nên chỉ nắm được tình hình địch từ Nà Pặc đến Bắc Cạn.

Thực tế chiến dịch tiến hành theo ba đợt.

Đợt 1 (từ ngày 25 tháng 7 đểu 27 tháng 7).

Ngày 24 tháng 7, các đơn vị đã tới địa điểm quy định, ngày 25 bắt đầu nổ súng (so với kế hoạch chậm 10 ngày). Mục tiêu tiến công đầu tiên là tiêu diệt vị trí Phủ Thông để mở màn chiến dịch3. 18 giờ 30, hoả lực của pháo binh bắn dồn dập vào cứ điểm, sau đó bộ binh đột nhập vào. Pháo của tiểu đoàn 410 bắn sập một phần khu thông tin, phá hỏng một số tường, rào, giao thông hào bao quanh cứ điểm. Tiểu đoàn 11 do đồng chí Vũ Yên chỉ huy chia thành hai mũi tiến công vào đồn. Mũi thứ nhất - đại đội 245 do đại đội trưởng Nguyễn Văn Thuần chỉ huy - tiến công vào hướng cổng chính; bị địch tập trung hoả lực bắn ra dữ dội, bộ đội thương vong nhiều, không tiến lên được. Ta tập trung súng bắn yểm trợ cho mũi thứ hai - đại đội 243 do đại đội trưởng Đào Đình Luyện chỉ huy - tiến công từ phía bên phải; bộ đội cắt hàng rào kẽm gai, phá hàng rào tre nứa, bắc thang xung phong qua tường trình. Hai chiến sỹ đầu tiên trèo lên bị trúng đạn của địch, hy sinh; người thứ ba lên tiếp, địch hoảng sợ bỏ chạy, tổ xung kích xung phong lên chiếm “đầu cầu”, đại đội xung phong vào đồn. Bộ đội ta dùng lựu đạn, lưỡi lê, mã tấu, mác búp đa đánh giáp lá cà, vật lộn tranh chấp với địch từng gian nhà, từng ụ súng. Địch dựa vào công sự và hoả lực mạnh cố thủ và kiên quyết chống trả, đẩy lùi nhiều đợt xung phong của quân ta. Trong khi đó, bộ đội ta lần đầu tiên dùng cách đánh cường tập để công đồn nên không khỏi lúng túng. Cán bộ cấp trung đội, đại đội vì quá ham chiến đấu, gặp nơi nào khó liền xông vào giải quyết nên quên mất vai trò bao quát của người chỉ huy. Chiến sĩ phần lớn tự động đánh giặc, thiếu hiệp đồng chặt chẽ. Vì vậy, mặc dù rất dũng cảm nhưng ta vẫn không sớm tiêu diệt được địch. Gần nửa đêm (sau 4 giờ chiến đấu), quân ta chỉ chiếm được 3 phần 4 đồn do còn một tiểu đội địch cố thủ trong hầm ngầm chống trả quyết liệt. Vũ khí ta kém, trong tay không còn lực lượng dự bị nên 23 giờ tiểu đoàn trưởng phải ra lệnh lui quân. Kết quả: Ta đã tiêu diệt đại bộ phận quân địch trong đồn, trong đó có tên đồn trưởng và đồn phó4. Diệt 100 lính lê dương, thu được năm trung liên Bơ-ren, một Tôm-sơn, một Các-bin, hai Sy-ten và 10 súng trường. Ta hy sinh 43 người (không lấy được tử sĩ), bị thương 50, mất 18 súng trường, một Tôm-sơn, một Bơ-ren.

Phía Bằng Khẩu, vì tiếp tế khó khăn, bộ đội vận động chậm, 1 giờ ngày 26 tháng 7 mới tới vị trí. 3 giờ bắt đầu tiến công; bộ đội đang đánh bộc phá để phá hàng rào thì trời sáng nên phải rút. Kết quả chỉ đốt được một vài ngôi nhà của bọn phản động, thu được một súng trường và ba súng kíp.

Phía đường số 3: 2 giờ ngày 26 tháng 7, bốn xe chở một trung đội địch tới gần trận địa phục kích của ta, nhưng chúng nghi ngờ nên lại rút. Đến 10 giờ 25 phút, tám xe chở khoảng một đại đội lên tiếp viện cho Phủ Thông. Vì để lộ nên ta chỉ đánh được trung đội tiền vệ của địch. Kết quả, ta thu được ba súng, 100 viên đạn, phá một cối 60mm, diệt và làm bị thương 6 tên. Bên ta hy sinh 43 người, bị thương tám người và mất ba súng trường.

Cùng đêm 25 tháng 7, ta tiến hành quấy rối Ngân Sơn, Nà Pặc. Riêng Bắc Cạn, do Phủ Thông bị đánh, địch ở đây đã chuẩn bị đối phó nên sang đêm 26 ta mới thực hiện được việc đột nhập quấy rối.

Sau đêm 25 tháng 7, vì không liên lạc được với nhau nên địch tưởng đã mất Phủ Thông, chúng rất lo sợ và dè dặt. Sáng 27 tháng 7, địch cho máy bay lên trinh sát, hai giờ sau hai chiếc lên thả 11 dù tiếp tế, đồng thời chúng dùng 30 xe chở hai đại đội từ Cao Bằng xuống tiếp viện. Tối 28 mới đến Bằng Khẩu, sáng 29 tháng 7 mới tới Phủ Thông.

Ngày 27 tháng 7, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho tiểu đoàn 11 đánh Phủ Thông lần thứ hai, nhưng lệnh không dứt khoát nên tiểu đoàn 11 chỉ cho một trung đội và một Badôka đến quấy rối. Ta bỏ lỡ thời cơ đánh quân tiếp viện từ Cao Bằng xuống. Đợt một của chiến dịch kết thúc.

Đợt 2 (từ 28 tháng 7 đến 6 tháng 8 năm 1948).

Địch tăng quân cho các cứ điểm: Phủ Thông, Bằng Khẩu, Ngân Sơn; tạm ngừng việc lùng sục ra xung quanh, tăng cường canh gác.

Về phía ta: tình trạng cung cấp thiếu thốn chưa khắc phục được, mặc dù đã dùng một bộ phận bộ đội đi vận chuyển. Bởi vậy, Bộ chỉ huy chủ trương phát động công tác phá hoại giao thông trên trục đường 3 và tổ chức bắn máy bay để triệt đường tiếp tế của địch. Nhiệm vụ của các đơn vị phân công cụ thể như sau: Trung đoàn 72 phục kích, đánh địa lôi và phá hoại đoạn từ Nà Pặc đến Bắc Cạn. Tiểu đoàn 11 và 54 dùng bộ phận nhỏ quấy rối Bắc Cạn và Phủ Thông, còn đại bộ phận trở về Chợ Rã chuẩn bị đợt tiến công mới. Tiểu đoàn 45 bảo vệ pháo binh và chuẩn bị cho đợt 3. Kết quả: ta chỉ phá hoại được một ít trên đường số 3, các nơi khác không thực hiện được kế hoạch.

Đợt 3 (từ ngày 7 đến 12 tháng 8 năm 1948).

Trong hai ngày 8 và 9 tháng 8, địch đã khắc phục, mở thông được đường số 3. Bộ chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ: Trung đoàn 72 phục kích đánh địch, phá hoại đoạn đường Bắc Cạn - Phủ Thông. Tiểu đoàn 45 và 11, quấy rối Phủ Thông, phục kích đoạn Nà Pặc - Phủ Thông. Trung đoàn 74 tập kích tiêu diệt Bằng Khẩu. Tiểu đoàn 54 về Phiêng Môn sẵn sàng làm nhiệm vụ bao vây Phủ Thông và phục kích đoạn Bắc Cạn - Phủ Thông.

Thực hiện kế hoạch trên, tiểu đoàn 73 của trung đoàn 74 tập kích tiêu hao địch tại Bằng Khẩu, diệt được 20 tên, thu một số súng trường. Các đơn vị khác chỉ phá hoại được một số đoạn đường và tiêu hao được một số ít quân địch khi chúng đi tuần tiễu. Bộ đội ốm đau nhiều, việc vận chuyển hậu cần rất khó khăn. Chiến dịch kết thúc ngày 12 tháng 8 năm 1948.

Chiến dịch đường số 3 là một trong ba chiến dịch tiến công đầu tiên của quân đội ta, vì vậy không tránh khỏi sự ấu trĩ trong nghệ thuật chỉ đạo và chỉ huy chiến dịch. Tuy chưa diệt gọn được cứ điểm Phủ Thông, nhưng đây là trận tiến công cứ điểm đầu tiên bằng sự hiệp đồng giữa pháo binh và bộ binh đánh cường tập. Vì vậy, qua chiến dịch cán bộ, chiến sĩ đã rút được nhiều kinh nghiệm tốt cho các trận tiếp sau. Chiến dịch còn bộc lộ khá nhiều khuyết, nhược điểm:

Mục đích chiến dịch đề ra là bức địch rút khỏi Bắc Cạn, đường số 3 là quá cao so với nhiệm vụ chiến lược của giai đoạn “tích cực cầm cự” và so với tương quan lực lượng giữa ta và địch. (Ta năm tiểu đoàn, địch ba tiểu đoàn, nhưng được trang bị mạnh hơn ta gấp nhiều lần, lại cố thủ trong căn cứ kiên cố).

Phương châm “đánh điểm, diệt viện” của Bộ tư lệnh chiến dịch đề ra là hoàn toàn đúng đắn, khoa học, nhưng bộ đội không thực hiện được cả ở khâu quán triệt tư tưởng quân sự và khâu thực hành chiến đấu; do đó đánh được điểm nhưng không diệt được viện, nghĩa là nhiệm vụ chủ yếu nhất để diệt sinh lực địch không thực hiện được.

Hướng chiến dịch lấy đường số 3 là đúng, nhưng trọng điểm ở đâu thì lại không rõ, nên bộ đội phân tán, đánh lung tung.

Khuyết điểm nổi bật trong tổ chức chiến dịch là chưa thực hiện được sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, nên không có cấp uỷ để chỉ đạo chiến dịch, không có cơ quan chính trị để lãnh đạo tư tưởng bộ đội, chưa biết liên hệ chặt chẽ với cấp uỷ và chính quyền địa phương để huy động khả năng của nhân dân phục vụ chiến dịch, do đó khâu hậu cần tiếp tế gặp khó khăn lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến sức chiến đấu của bộ đội.

Về chỉ huy không nắm được đơn vị. Lực lượng, trình độ, khả năng của bộ đội và trang bị có thể diệt được Phủ Thông, Bằng Khẩu và một vài điểm phục kích lớn; nhưng vì sử dụng lực lượng thiếu tập trung (cả bộ binh và pháo cối), nên không dứt điểm được trận nào. Không kịp thời rút kinh nghiệm trong quá trình chiến đấu để linh hoạt điều chỉnh lại lực lượng, nhất là sau đợt 1 khi tác chiến đã ít kết quả.
________________________________________
1.Hội nghị đã chỉ rõ nhiệm vụ quân sự là: “... Phá tan cuộc tiến công mùa đông 1948 của địch. Đánh đuổi địch ra khỏi Việt Bắc, trước hết là Cao Bằng, Bắc Cạn, Lào Cai...(tiêu diệt sinh lực địch, thực hiện phản công đánh những trận tiêu diệt chiến để rèn luyện bộ đội. Kiên quyết giành chủ động chiến thuật, tiến tới giành chủ động chiến lược bộ phận...)
2.Từ tháng 6 năm 1948, tiểu đoàn 36 đổi phiên hiệu thành tiểu đoàn 11; trung đoàn 17 đổi thành trung đoàn 308.
3.Đồn Phủ Thông nằm ở phía Bắc thị xã Bắc Cạn 20 km, do một đại đội và một trung đội trợ chiến thuộc trung đoàn lê dương số 3 chiếm giữ; được trang bị nhiều súng cối, đại liên do tên đại uý Các-đi-nan làm đồn trưởng, trung uý Sát-lốt-tông đồn phó. Sau hai lần bị ta tập kích trước đây (ngày 30 tháng 11 năm 1947 và 12 tháng 3 năm 1948), đồn Phủ Thông được xây dựng thành cứ điểm vững chắc, có rào dây kẽm gai, nhiều lớp rào tre nứa và tường thành trình bằng đất cao hơn đầu người bao quanh. Đồn có nhiều dãy nhà gạch, với những ụ súng, lô cốt, hầm ngầm kiên cố.
4.Về trận đánh đồn Phủ Thông, trong cuốn “Chiến đấu trong vòng vây” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân và Nxb Thanh niên 1995) tr.267 có đoạn viết: “Gần đây tình cờ tôi được đọc cuốn sách của Pháp mới xuất bản năm 1992, trong đó tác giả viết khá chi tiết về trận Phủ Thông.

Đồn Phủ Thông do đại đội 2 của trung đoàn lê dương số 3 bảo vệ. Quân số gồm 102 người. 19 giờ 30 phút ngày 25 tháng 7 năm 1948, bất thần một trận hoả lực trút xuống đồn. Đạn súng cối, những tràng liên thanh, pháo 75mm bắn thẳng làm tê liệt quân phòng thủ. Hàng rào và cửa lô cốt phía tây bị phá vỡ, bố trí phòng thủ nhanh chóng bị rối loạn. Ngay giờ đầu, đại uý đồn trưởng và trung uý đồn phó đều bị tử thương. Bộ đội Việt Nam hò hét xung phong chiếm các khu 1, 2, 3; chỉ còn khu 4 là chống cự trong tình trạng tuyệt vọng. Đại đội đã bị loại khỏi vòng chiến đấu một nửa quân số (14 chết, 33 bị thương). Riêng về lực lượng tiến công của ta, tác giả viết: gồm 5, 6 tiểu đoàn với hơn 3.000 người trong khi đó, quân số của tiểu đoàn 11 không quá 400 người.

Trận đánh không thành công trọn vẹn, nhưng đã mang lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm và một niềm tin mới: nếu chuẩn bị đầy đủ hơn thì đã tiêu diệt được đồn địch. Cũng phải thấy rằng trong một trận thí điểm, lẽ ra ta nên chọn một mục tiêu phù hợp hơn với trình độ tác chiến của bộ đội ta. Tiểu đoàn 11 được nhận danh liệu “Tiểu đoàn Phủ Thông”. Tiểu đoàn đã mở đầu cho truyền thống đánh cứ điểm của quân đội ta và trở thành một đơn vị đánh cứ điểm nổi tiếng sau này”.

chuongxedap:

CHIẾN DỊCH YÊN BÌNH XÃ 2

(Tiến công, từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 10 năm 1948)


Sau khi bị ta tiến công lần thứ nhất, tháng 6 năm 1948, địch tiếp tục chiếm đóng và củng cố, xây dựng Yên Bình Xã thành một cứ điểm tương đối mạnh để làm bàn đạp tiến công xuống phía nam và quốc lộ số 2 trong cuộc tiến công lớn vào thu đông 1948 sắp tới. Xung quanh cứ điểm có tường dày và cao gần hai mét. Bốn góc có bốn lô cốt. Trong tường có hào chiến đấu và hầm ngầm. Bên ngoài có một lớp rào dây thép gai dày 1,5m và một hàng chông. Binh lực có hơn một đại đội gồm 18 lính Pháp, hai trung đội lính khố đỏ, một trung đội lính dõng, do tên quan hai Cơ-lốt Vê-lê-át (Claude Veléard) chỉ huy. Vũ khí có một đại liên, bốn trung liên, hai súng cối (60mm và 50mm), tiểu liên và súng trường đầy đủ1.

Đầu tháng 10 năm 1948, Liên khu 10 chủ trương mở chiến dịch nhằm tiêu diệt Yên Bình Xã lần 2, phá kế hoạch chiếm đóng và âm mưu tiến công thu đông 1948 của thực dân Pháp; đồng thời tạo điều kiện thực tế để tập dượt cho bộ đội chủ lực cách đánh tập trung, tiêu diệt địch trong trận địa kiên cố.

Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: Tiểu đoàn 453 chủ lực khu, có ba đại đội (664, 666 và 676), đại đội xung kích 522 của trung đoàn 115; đại đội độc lập 671 (đang hoạt động từ Yên Bình Xã đến Trịnh Tráng), đại đội độc lập 672 (đang hoạt động từ Yên Bình Xã đến Nghĩa Đô), đại đội sơn pháo 75mm (1 khẩu và 100 viên đạn). Tuy là năm đại đội nhưng tổng quân số tham gia chiến đấu chỉ vẻn vẹn có 145 người, chưa kể pháo binh.

Nhiệm vụ tác chiến được phân công cho các đơn vị như sau: Đại đội 522 và 664, có pháo binh yểm hộ, nhanh chóng và bí mật tiếp cận, bất ngờ nổ súng xung phong vào đồn. Đại đội 522 đánh từ phía tây vào. Đại đội 664 đánh từ phía đông nam đánh vào, diệt hỏa điểm, sinh lực và đề phòng địch tập kích.

Đại đội 676 có đại đội trợ chiến yểm hộ, tiến công tiêu diệt Phố Lu, sau đó phối hợp cùng 2 đại đội 522 và 664 tiêu diệt Yên Bình Xã.

Đại đội 671 phục kích gần đồn khố đỏ và đoạn đường sau Phố Lu, sẵn sàng đánh quân địch tiếp viện cho Yên Bình Xã và tiêu diệt quân địch ở Yên Bình Xã rút chạy.

Đại đội 672 bao vây và quấy rối Nà Khao, đại đội 666 bảo vệ pháo và tổ chức các tổ nghi binh.

Chỉ huy chiến dịch: Bộ tư lệnh Liên khu 102. Trong khi chuẩn bị chiến dịch, ta đã tiến hành các mặt công tác quân vận, dân vận và địch vận. Quán triệt nhiệm vụ chiến đấu và động viên tinh thần, xây dựng quyết tâm cho bộ đội. Liên hệ chặt chẽ với chính quyền địa phương tổ chức nhiều buổi tuyên truyền, vận động, liên hoan văn nghệ làm cho nhân dân thấy được âm mưu, thủ đoạn của địch, nâng cao lòng tin tưởng vào thắng lợi của kháng chiến để huy động nhân dân giúp đỡ bộ đội trong quá trình chiến đấu. Viết và thả nhiều truyền đơn bằng nhiều thứ chữ (quốc ngữ, chữ Pháp, chữ và tiếng dân tộc), tổ chức các tổ địch vận len lỏi vào vùng địch tạm chiếm để tuyên truyền và giải thích chính sách khoan hồng của ta cho binh lính địch.

Sáng 5 tháng 10, đại đội 664 đang hành quân vào vị trí tập kết thì bất ngờ gặp một tốp địch đi lấy củi, tốp này nổ súng rồi chạy về đồn. Sau đó, địch cho máy bay thả 18 dù tiếp tế cho Yên Bình Xã. Từ giờ phút đó, các đơn vị phải tiến hành công tác chuẩn bị rất gấp.

Trận đánh thứ nhất diễn ra lúc 17 giờ 35 phút ngày 5 tháng 10. Do hiệp đồng và tổ chức hành quân không chu đáo, hai trung đội của đại đội 664 bị lạc đường, một trung đội đến chậm; đại đội 676 chưa giải quyết được Phố Lu nên không thực hiện được hiệp đồng tập trung đánh vào Yên Bình Xã. Khi phát lệnh nổ súng, chỉ có đại đội 522 tới được vị trí tập kết và thực hành xung phong. Trung đội của đại đội 664 đến chậm 30 phút, sau khi có lệnh mới xung phong, nên không thực hiện được kế hoạch tác chiến. Do đó, quân địch lúc đầu có hoang mang, nhưng sau ít phút chúng trấn tĩnh lại và tập trung binh lực, hoả lực đối phó với mũi tiến công của đại đội 522.

Trận đánh của ta không thành công. Ta chỉ phá hỏng được một số công sự, một khẩu trung liên và đốt cháy một kho đạn. Số địch thương vong ta không biết rõ. Ta hy sinh một người, tiêu thụ hết 90 viên đạn pháo.

Trận thứ hai diễn ra lúc 22 giờ cùng ngày 19 giờ 30 phút, bắt liên lạc được với đại đội 522 và 664 ở bờ suối Nậm Luông, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định sử dụng đại đội 522 và đại đội 664 tiến công Yên Bình Xã lần thứ hai. Kế hoạch tác chiến căn bản vẫn như lần thứ nhất, khác là thay việc sử dụng pháo bằng dùng công binh bí mật mở đường, mở hàng rào và dùng Badôca bắn phá huỷ lô cốt, yểm hộ cho bộ binh xung phong. Cũng lại vì hiệp đồng không chặt chẽ và tích cực (đại đội 664 xung phong chậm, các hướng nghi binh không tích cực hoạt động), nên trận đánh cũng không thu được kết quả. Chỉ bắn sập một lô cốt, phá huỷ một trung liên. Ta hy sinh hai người, bị thương bốn người.

Ngày 6 tháng 10, trung đội của đại đội 672 hai lần phục kích trên đồng Nghĩa Đô - Yên Bình Xã. Lần thứ nhất, khi Yên Bình Xã bị tiến công, vì hoảng sợ, một trung đội địch bỏ chạy về Nghĩa Đô (có bốn lính Pháp và 20 lính khố đỏ), tới Cầu Đen bị ta chặn đánh, bọn này bỏ chạy tán loạn về Na Khao và Yên Bình Xã. Lần thứ hai ta chặn đánh một trung đội địch từ Nghĩa Đô lên tiếp tế cho Yên Bình Xã, địch cũng chạy thoát. Cả hai lần địch bị chết năm tên, bị thương ba tên, ta thu ba súng trường và nhiều lương thực.

Trận thứ ba diễn ra lúc 3 giờ 30 phút ngày 7 tháng 10. Nhận thấy lực lượng địch ở Yên Bình Xã đã bị giảm sút vì thương vong và bỏ chạy, tinh thần chúng đang hoang mang, Bộ chỉ huy quyết định đánh lần thứ ba.

Kế hoạch vạch ra là: Đại đội 522 và 664 xung phong đánh vào phía tây nam đồn. Đại đội 671 và 676 đánh từ mặt sau vào. Pháo binh chuyển vị trí xuống đông nam, cách đồn 150 mét. Tổ chức các tổ nghi binh hoạt động xung quanh đồn, mỗi tổ từ ba đến năm người.

Nhưng việc tổ chức hiệp đồng vẫn không tỉ mỉ, việc kiểm tra không đầy đủ, nên đại đội 676 bị mất liên lạc trong khi điều động nên không tham gia đánh được. Pháo binh thực chất chỉ còn bảy viên đạn (Hội nghị rút kinh nghiệm báo cáo còn 25 viên). 3 giờ 30 phút, pháo và cối phát hoả, các tổ nghi binh hoạt động tích cực nên đã thu hút được địch. 4 giờ, bộ đội gỡ chông và mở thêm đường. 4 giờ 45, mỗi đại đội (522 và 664) sử dụng một tiểu đội bắt đầu xung phong vượt tường. Địch rút xuống hào bắn lại và dùng chín lính khố đỏ đánh vòng ra phía sau ta, nhưng bị hoả lực ta diệt bốn tên, số còn lại bỏ chạy. Địch trong đồn dùng lựu đạn và đạn cối tháo chốt ném ra ngoài tường để chặn quân ta. Vì binh lực ta ít, không còn lực lượng tiến công tiếp, bộ phận xung phong thì bị chặn lại, 5 giờ 15, trời đã sáng, Bộ chỉ huy nhận thấy nếu tiếp tục đánh cũng không kết quả nên ra lệnh lui quân, kết thúc chiến dịch. Cùng ngày, trên một trung đội địch từ Nghĩa Đô tiếp viện cho Yên Bình Xã, bị một trung đội của đại đội 672 chặn đánh cách Nà Khao 2 ki-lô-mét. Địch bị chết một tên, còn lại rút chạy về Nghĩa Đô. Ta thu một súng trường và một lựu đạn.

Kết quả: địch chết 36 tên, bị thương 23 tên, một đại liên và hai trung liên bị phá huỷ3. Ta hy sinh 11 người, bị thương 33 người và mất hai súng trường.



Tuy không đạt được mục đích “tiêu diệt hoàn toàn Yên Bình Xã” nhưng ta đã tiêu hao, tiêu diệt được một số địch, đáng kể nhất là đã làm cho quân địch trong đồn Yên Bình Xã và các đồn xung quanh hoang mang lo sợ, tạo nên một yếu tố khó khăn trở ngại khi quân Pháp chuẩn bị mở cuộc tiến công thu đông mới. Đây là những trận đầu tiên ta hiệp đồng giữa bộ binh và pháo binh đánh địch trong cứ điểm, qua chiến dịch, cán bộ, chiến sĩ đã trưởng thành thêm một bước và rút ra được những bài học quý báu cho những trận, những chiến dịch tiếp sau. Củng cố và gây được lòng tin trong quần chúng nhân dân.

Qua ba trận chiến đấu cũng bộc lộ rõ khuyết điểm:

Một là, xác định mục đích chiến dịch quá sức của ta (địch có 18 lính Pháp, ba trung đội lính Việt) ở mục tiêu chính (Yên Bình Xã), chưa kể lực lượng tiếp viện ở bên ngoài mà ta chỉ dùng có 145 người với trình độ và trang bị còn rất thấp kém.

Hai là, sử dụng binh lực rất phân tán. Quân số đã ít mà tổ chức ba mũi đánh chính, hai đến ba bộ phận nghi binh để tiến công Yên Bình Xã. Đồng thời lại tổ chức phục kích đánh viện trên năm địa điểm, binh lực quá phán tán nên không thể tiêu diệt được cứ điểm mà đánh viện cũng không đạt hiệu quả cao, chỉ có tính chất tiêu hao.

Ba là, tổ chức hiệp đồng giữa các cánh quân, các mũi, giữa bộ binh và pháo binh không chặt chẽ, chu đáo, bộ đội bị lạc hoặc đến chậm, do đó hiệu quả chiến đấu thấp, không đạt được mục tiêu đề ra.
______________________________________
1.Phần địa hình, thời tiết, dân cư không có gì thay đổi so với Chiến dịch Yên Bình Xã 1, nên không nêu lại ở đây.
2.Xem “Chiến dịch Yên Bình Xã 1”.
3.Ta thu bốn súng trường, 126 viên đạn, một lựu đạn và nhiều lương thực thực phẩm. Ta giải phóng được 70 gia đình gồm hơn 100 người bị địch tập trung ở Yên Bình Xã.

chuongxedap:

CHIẾN DỊCH ĐÔNG BẮC 1
(Tiến công, từ ngày 8 tháng 10 đến ngày 7 tháng 12 năm 1948)


Đông Bắc Bắc Bộ có vị trí chiến lược rất quan trọng nên thực dân Pháp chiếm đóng rất sớm. Sau thất bại ở Việt Bắc Thu-Đông 1947, Pháp càng ra sức củng cố địa bàn này. Chúng đã xây dựng được mạng lưới tề điệp, thổ phỉ dày đặc, phát triển ngụy binh (trên 95 phần trăm là người địa phương), lập được một hệ thống cứ điểm ăn sâu vào nội địa; lợi dụng thực trạng nghèo nàn lạc hậu của đồng bào các dân tộc địa phương, địch thực hiện thủ đoạn thâm độc để chia rẽ dân tộc, kìm kẹp khống chế; thực hiện âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt”; trước mắt chúng thực hiện phong toả biên giới Việt - Trung để vừa ngăn chặn, vừa cô lập cách mạng Việt Nam, bảo vệ việc khai thác, vơ vét khu mỏ than trù phú và củng cố bàn đạp để tiến công Việt Bắc một lần nữa.

Cuối thu 1948, Bộ Tổng chỉ huy quyết định mở chiến dịch Đông Bắc nhằm mục đích: Tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch, phá kinh tế và triệt đường tiếp tế cầm chân một bộ phận lực lượng của chúng để phá kế hoạch tiến công thu đông của chúng vào Việt Bắc. Lấy thắng lợi quân sự để củng cố cơ sở chính trị và phong trào chiến tranh du kích, chuẩn bị địa bàn hoạt động cho các đại đội độc lập sau khi quân chủ lực lui quân.

Phương châm của ta là: chủ động đánh thắng trận đầu, đánh liên tục. Bộ đội chủ lực tích cực đánh điểm, diệt viện, triệt phá giao thông và cơ sở hậu cần của địch; kết hợp với tác chiến của du kích, chia cắt địch để đánh từng bộ phận. Vừa đánh vừa xây dựng lực lượng vũ trang địa phương có đủ sức chiến đấu bảo vệ địa bàn sau khi chủ lực rút.

Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: Ba trung đoàn chủ lực của Liên khu 1 (98, 28 và 55), năm tiểu đoàn chủ lực của Bộ (ba tiểu đoàn độc lập: 215, 426, 517; tiểu đoàn 18 và tiểu đoàn 29 thuộc trung đoàn 308), một đại đội và một trung đội trợ chiến và toàn bộ dân quân du kích trên địa bàn chiến dịch.

Bộ Tổng chỉ huy trực tiếp chỉ đạo, Bộ chỉ huy Liên khu 1 trực tiếp chỉ huy. Chỉ huy trưởng: đồng chí Lê Quảng Ba.

Địa hình Đông Bắc chủ yếu là đồi núi, có rất nhiều rừng rậm xen lẫn một số đồng bằng. Khu vực phía nam - tây nam (Đông Triều, Phả Lại đến Lục Nam, Lục Ngạn) là vùng đồi rừng, cây cối rậm rạp. Có ba trục đường chính: đường số 4 từ Móng Cái đến Lạng Sơn. Đường số 18 từ Phả Lại qua Đông Triều, Hòn Gai, Cẩm Phả nối liền quốc lộ 4 ở Tiên Yên. Đường số 13 từ Lục Nam nối quốc lộ 1 ở Bắc Giang, quốc lộ 18 ở Phả Lại, chạy lên hướng đông bắc qua An Châu, Lục Ngạn nối với quốc lộ 4 ở Đình Lập.

Địa bàn chiến dịch là khu tứ giác An Châu - Đình Lập - Tiên Yên - Hòn Gai rộng 1.800 km2 trong đó phân khu An Châu được chọn là khu vực chủ yếu của chiến dịch.

Vì thời gian chuẩn bị gấp nên Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định vừa đánh vừa chuẩn bị vật chất hậu cần, trước mắt ưu tiên tập trung chuẩn bị cho hướng An Châu. Do đó, trước giờ nổ súng, hậu cần đã chuẩn bị tương đối đủ gạo và đạn cho hướng An Châu, Đồng Dương, Tuấn Đạo.

Về công tác chính trị, lần này cơ quan chính trị được thành lập để giúp việc đắc lực cho Bộ chỉ huy chiến dịch lãnh đạo, động viên tinh thần bộ đội khắc phục khó khăn, chiến đấu liên tục. Bộ chỉ huy cũng đã thành lập ban gây dựng cơ sở, tiến hành vũ trang tuyên truyền ở nhiều nơi, đã củng cố được những cơ sở cũ, xây dựng được một số cơ sở mới, động viên được tinh thần của cán bộ dân chính địa phương và nhân dân tích cực tham gia phục vụ chiến dịch. Đồng thời đẩy mạnh công tác vận động, tuyên truyền làm lung lạc, hoang mang tinh thần bọn thổ phỉ; giác ngộ được một số lính ngụy tình nguyện làm nội ứng khi ta đánh đồn.

Chiến dịch chia làm hai đợt:

Đợt 1 (từ ngày 8 đến 30 tháng 10). Trước ngày mở màn ta hoạt động tạo thế (sau ba lần đánh), diệt căn cứ thổ phỉ Trại Thán để triển khai lực lượng.

Ngày 8 tháng 10, ta đồng loạt nổ súng tập kích An Châu, Đồng Dương, Tuấn Đạo, Sông Rang. Ta tiêu diệt được cứ điểm Đồng Dương, bức rút ba vị trí Sông Rang, Tuấn Đạo và đồn Dấn. Nhưng không thành công trong việc tiêu diệt cứ điểm chính An Châu (chỉ chiếm được hai phần ba). Ta thu được ba trung liên, 20 súng trường, ba vạn đồng Đông Dương, phá huỷ một đại liên, ba trọng liên 12,7mm. 10 ngày sau, quân dù Pháp nhảy xuống Mai Siu tiến về An Châu. Ta bỏ lỡ cơ hội diệt viện binh địch. Cùng lúc, tỉnh Hồng Quảng phát động hai đợt đấu tranh của nhân dân, phá 2.000 mét đường, cắt năm vạn mét dây điện thoại, diệt 27 địch, làm bị thương 6 tên, gọi hàng 114 tên, thu hàng trăm súng và giải tán trên 95 phần trăm hội tề. Từ 9 đến 30 tháng 10 ta đánh nhiều trận nhỏ, quấy rối, phục kích địch trên đường 13. Ngày 1 tháng 11 ta tiêu diệt cứ điểm Đồng Khuy.

Đợt 2 (từ 31 tháng 10 đến 7 tháng 12). Sau đợt 1, địch đã phản ứng quyết liệt, chúng tổ chức tiến công khu tự do Ái Quốc, cho quân dù nhảy xuống Mai Siu càn quét đánh phá căn cứ của ta, sau đó chúng tiến về An Châu. Đồng thời chúng tăng cường sục sạo kiểm soát ở Làng Bang, phòng thủ Hòn Gai, Đình Lập, Tiên Yên, Khe Tù; tổ chức hành quân ngăn chặn và phá kế hoạch tiếp tế của ta. Ta gặp khó khăn, không đột nhập được vào vùng tạm chiếm để gây cơ sở và khai thác hậu cần tiếp tế cho bộ đội. Do đó ta không thực hiện được kế hoạch phát triển chiến dịch theo hướng Hòn Gai, Tiên Yên, mà phải chuyển sang khu vực Khe Cháy, Pắc Lang, Châu Sơn. Nhưng do chuyển hướng gấp, bộ đội chuẩn bị chưa đầy đủ nên cả hai lần tiến công, tiểu đoàn 29 và 215 không dứt điểm được Khe Cháy. Ngày 25 tháng 11, tiểu đoàn 18 tiến công Khe Mó cũng không thành công. Ngày 29 tháng 11, các tiểu đoàn 29 và 426 đánh viện nhỏ. Ta tiếp tục tiến công Pắc Lang, Châu Sơn và phá hoại đường số 4 nhưng kết quả không cao. Tình hình bảo đảm hậu cần khó khăn. Bộ đội ốm đau, sức khoẻ giảm sút nhiều. Bộ chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch ngày 7 tháng 12.

Kết quả: Ta tiêu diệt được hai cứ điểm Đồng Dương và Đồng Khuy, đánh thiệt hại nặng phân khu An Châu, bức rút bảy vị trí; diệt 150 địch, (có một quan tư Pháp) làm bị thương tám tên. Ta thu 48 súng trường, ba trọng liên 12,7mm, phá huỷ hai xe bọc thép, đốt cháy hai kho lương thực. Ta thực hiện đánh vào khu vực địch vẫn coi là “tuyệt đối an toàn”, góp phần phá kế hoạch tiến công thu đông của chúng. Ta hy sinh và bị thương hơn một đại đội.



Lần đầu tiên ta mở chiến dịch quy mô xấp xỉ bốn trung đoàn chủ lực cùng với lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn rộng, địa hình khá đặc biệt và xa hậu phương trong thời gian gần hai tháng. Ưu điểm nổi bật là sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương, nhất là giai đoạn chuẩn bị chiến dịch. Do đó đã phát huy được tác dụng của các đại đội độc lập và các lực lượng vũ trang địa phương, đội tuyên truyền, gây được cơ sở chính trị tốt trong quần chúng nhân dân; việc chuẩn bị chiến dịch khá chu đáo và đã có “bài bản”. Cũng lần đầu tiên ta biết dự kiến chủ động chia chiến dịch thành nhiều đợt có nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể cho từng đợt để có điều kiện củng cố bộ đội khi chiến đấu dài ngày.

Thiếu sót lớn nhất của ta là chưa biết tạo điều kiện đảm bảo chắc thắng cho trận mở đầu. Không chọn vào chỗ yếu mà chọn An Châu là cứ điểm mạnh; trong khi đó kế hoạch dứt điểm bằng đánh kỳ tập nhưng không dự kiến tình huống nhân mối bị lộ, phải chuyển sang đánh cường tập thì binh lực, hoả lực phải tập trung đến mức nào, do đó không dứt điểm được An Châu. Ta cũng không dự kiến và có kế hoạch cụ thể đánh quân tăng viện bằng đường không, nên khi địch nhay dù xuống Mai Siu (trung tâm chiến dịch) ta bỏ lỡ thời cơ diệt địch, kể cả khi chúng tiến về An Châu. Đợt 2 cũng không dự kiến hết các tình huống nên khi chuyển hướng tiến công đột ngột, bộ đội không chuẩn bị kịp, do đó các mục tiêu tiến công đều không thành công. Chiến dịch kết thúc trong thế bất lợi và bị động.

chuongxedap:

CHIẾN DỊCH QUẢNG NAM ĐÀ NẴNG
(Tiến công, từ ngày 24 tháng 1 đến ngày 30 tháng 3 năm 1949)


Năm 1948 và đầu 1949, cảng lớn Đà Nẵng trở thành đầu cầu tiếp nhận người, phương tiện chiến tranh phục vụ cho kế hoạch bình định Đông Dương của thực dân Pháp. Do đó, quốc lộ 1 trở thành tuyến giao thông chiến lược cực kỳ quan trọng đối với quân Pháp, trong đó đoạn đường chạy từ Đà Nẵng ra Huế qua đèo Hải Vân vừa độc đạo, vừa rất hiểm trở đã trở thành “yết hầu” vô cùng hiểm yếu đối với địa bàn chiến lược bắc Trung Bộ, Bình - Trị - Thiên và kể cả với nam Khu 4.

Trước tình hình trên, đầu năm 1949, Bộ chỉ huy Liên khu 5 chủ trương mở chiến dịch “Quảng Nam - Đà Nẵng” nhằm mục đích: đánh giao thông, làm tê liệt đoạn đường Đà Nẵng - Hải Vân - Huế. Tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích, làm suy yếu khối ngụy quân, ngụy quyền; đồng thời thông qua chiến đấu nâng cao trình độ tác chiến cho bộ đội và dân quân du kích, xây dựng lực lượng vũ trang của quân khu.

Phương châm tác chiến là: Kết hợp các hình thức chiến thuật, trong đó chủ yếu là đánh phục kích, đi đôi với phá đường, làm tê liệt giao thông của địch. Tập kích, bao vây quấy rối các đồn bốt, vừa uy hiếp vừa tiêu hao, tiêu diệt và triệt tiếp tế của địch. Đẩy mạnh công tác binh vận địch vận. Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng để đạt được hiệu suất chiến đấu cao, thực hiện được mục đích chiến dịch.

Lực lượng tham gia chiến dịch: Trung đoàn 108 chủ lực của Liên khu, được tăng cường có tiểu đoàn 19 và 79; hai đại đội độc lập và lực lượng dân quân du kích.

Chỉ huy: Bộ tư lệnh Liên khu 5. Chỉ huy trưởng: Nguyễn Bá Phát; Chính uỷ Nguyễn Quyết.

Địa bàn chiến dịch trải dài từ thị xã Hội An về thành phố Đà Nẵng, qua đèo Hải Vân ra giáp Huế. Từ Hội An về Đà Nẵng trừ khu vực núi đá Ngũ Hành Sơn, còn lại địa hình bằng phẳng, đồng ruộng, phố xá, làng mạc liên tiếp nhau, dân cư đông đúc. Quân ta dễ ém quân trong dân và trong căn cứ Ngũ Hành Sơn để ra tập kích, phục kích đánh địch. Từ Đà Nẵng ra Huế là đường đèo Hải Vân hiểm trở. Một bên là vực thẳm tiếp giáp biển Đông, một bên nối liền với dãy núi chạy theo hướng đông tây, rất thuận lợi cho quân ta đánh xong rút lui lên phía tây nhập vào đại ngàn đông Trường Sơn.

Lực lượng địch trên địa bàn có 5.000 quân (gồm một tiểu đoàn Ma-rốc; một tiểu đoàn hỗn hợp quân lê dương và quân ngụy; một tiểu đoàn (gồm một đại đội cơ giới một đại đội pháo, một đại đội cơ động); lực lượng thường trực ở sân bay Đà Nẵng có năm máy bay oanh tạc và một đại đội dù (trong đó có 60 phần trăm là lính Pháp và Đức, 20 phần trăm lính thuộc địa và 20 phấn trăm lính ngụy). Quân địch đóng trên 63 vị trí, chia thành ba phân khu. Phân khu Nam, phân khu Bắc và phân khu Chỉ huy. Lô cốt ở các vị trí xây bằng gạch. Thủ đoạn đóng quân kết hợp hành quân càn quét là chủ yếu, khi cần ứng chiến ở gần thì dùng một trung đội, ở xa dùng hai trung đội.

Để đảm bảo cho chiến dịch, Bộ chỉ huy dự kiến phải huy động được 15 tấn gạo, trong đó cần đưa đến Trung Man tám tấn, Khe Sô ba tấn rưỡi và Hải Vân ba tấn. Nhân dân trong vùng đã và đang chịu đựng nhiều thảm họa do địch gây ra, nhưng bộ đội đã cùng với các huyện ủy, chính quyền địa phương tuyên truyền vận động nhân dân tìm mọi cách vượt lên gian khổ, khắc phục khó khăn, dành dụm đóng góp gạo cho bộ đội đánh giặc. Phụ nữ và thiếu nhi vùng tây bắc Hoà Vang lấy củi, bắt tôm cá bán lấy tiền mua gạo; nhiều bà con bí mật xuống thành phố Đà Nẵng mua gạo để gửi lên chiến khu cho bộ đội, v.v... Tuy đường xa, địch lại phong toả, nhưng sát ngày nổ súng, nhân dân Hoà Vang vẫn đưa được bảy tấn gạo đến khu vực đèo Hải Vân.

Trong thời gian chuẩn bị chiến trường, du kích và bộ đội địa phương Hoà Vang đã bám đánh địch suốt một tháng, đẩy lùi hai tiểu đoàn địch ra khỏi địa bàn cho bộ đội vào tập kết theo kế hoạch để đánh địch cơ động trên đèo Hải Vân. Dân quân du kích các huyện Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Hội An, Đà Nẵng liên tục quấy rối tiêu hao địch để đánh lạc hướng chú ý của chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội chuẩn bị chiến đấu trên các hướng dự kiến.

Ngày 5 tháng 1 năm 1949, lực lượng của thị đội và công an xung phong thị xã Hội An đột nhập vào thị xã tiến công khống chế đồn Nghè Thạch và bắt tên tỉnh trưởng Hồ Ngận cùng hai tên cán bộ ngụy quyền quan trọng của thị xã Hội An (do Pháp vừa cử lên), gây hoang mang lớn trong hàng ngũ ngụy quyền tay sai của Pháp ở trong vùng.

Chiến dịch (đợt hoạt động) chia làm ba đợt:

Đợt 1 (từ 24 tháng 1 đến 9 tháng 2 năm 1949): 6 giờ ngày 24 tháng 1, một đoàn tàu quân sự gồm một đầu máy và 12 toa xe chở đầy lính từ Đà Nẵng chạy ra Huế. Đến đoạn hầm số hai trên đèo Hải Vân bị tiểu đoàn 79 dùng lượng nổ lớn đánh lật nhào cả đoàn tàu. Bộ đội tràn lên đánh giáp lá cà tiêu diệt binh lính địch.

7 giờ, một đoàn xe vận tải 18 chiếc, có xe bọc thép hộ tống, từ Đà Nẵng chạy ra Huế, lên khu vực đèo Hải Vân đã lọt vào trận địa phục kích của tiểu đoàn 19 (ở phía nam đồn Nhất), trong loạt súng đầu tiên, quân ta tiêu diệt ba chiếc xe đi đầu. Đoàn xe địch dừng lại, bọn địch trên xe bọc thép chống cự bị quân ta bám sát bắn mãnh liệt, địch phải quay đầu tháo chạy, ta diệt thêm ba xe và nhiều binh lính địch.

12 giờ, một đoàn xe 12 chiếc từ Huế vào tiếp viện. Đến cầu Rô-zê1, từ trên các xe 200 lính Pháp nhảy xuống dàn đội hình chiến đấu, các đơn vị chặn viện nổ súng xung phong. Địch liên tục nổ súng chống trả, tổ chức phản xung phong bốn lần đều bị quân ta bẻ gãy, 40 lính Pháp bị ta tiêu diệt tại chỗ, quân địch tháo chạy. Đến xế chiều quân ta rút về vị trí tập kết. Chỉ huy Pháp ở Đà Nẵng cay cú huy động một tiểu đoàn Âu - Phi, triển khai bao vây từ Quan Nam, eo ngựa Khe Sô, qua đèo Mũi Trâu và suốt hữu ngạn sông Trường Định hòng tiêu diệt lực lượng ta ở vùng tây bắc Hoà Vang. Để triệt đường quân ta vượt sông Trường Định, địch thu hết ghe thuyền của dân tập trung về đồn bốt phá huỷ, đồng thời nhấn chìm một số khác ở sông Cửa Cấm và ra lệnh thiết quân luật cả vùng tây bắc Hoà Vang không cho bất kỳ ai qua sông. Địch hy vọng quân ta bị bao vây chặt, bị đói, phải ra hàng.

Đêm 27 tháng 1, dưới sự lãnh đạo của huyện uỷ Hoà Vang và chi uỷ các xã vùng tây bắc Hoà Vang, nhân dân đã gom được 30 thuyền. Một lực lượng quân ta bí mật bơi qua sông, tập kết ở Nam Ô để nghi binh, tạo điều kiện cho lực lượng vượt sông Trường Định. Các mẹ, các chị lo tiếp tế, các em thiếu nhi dẫn đường, dân quân du kích cảnh giới và canh gác. Để phối hợp, các đội du kích Hoà Vang nổ súng vào các đồn bốt xung quanh để kiềm chế địch. Nhân dân toàn huyện nổi thanh la, trống mõ để phô trương thanh thế và đánh lạc hướng địch. Hơn 1.800 cán bộ, chiến sĩ, 28 cáng thương binh đã vượt khỏi vòng vây địch, lui quân thắng lợi. Mờ sáng 28 tháng 4, nhân dân lùa trâu bò ra đồng, xoá dấu vết, giữ bí mật đường lui quân của bộ đội.

Đợt 2 (từ 9 tháng 2 đến 15 tháng 3): Các đơn vị chủ lực của Liên khu không tổ chức đánh các trận lớn, mà liên tục kết hợp với dân quân du kích và tự vệ tổ chức nhiều trận nhỏ đánh tập kích vào các vị trí địch khắp trên địa bàn từ thị xã Hội An về thành phố Đà Nẵng và từ Đà Nẵng ra sát Huế. Trong đó vẫn chú trọng đánh giao thông bằng địa lôi, mìn tự tạo và phục kích nhỏ. Đợt hoạt động này chủ yếu làm hậu thuẫn cho việc phát triển chiến tranh du kích và xây dựng các đội võ trang (du kích thoát ly, bộ đội địa phương huyện). Ta đã xây dựng được mỗi xã có một tiểu đội du kích thoát ly (chuyên trách việc đánh địch, thoát ly hẳn việc sản xuất, dân nuôi để tập trung đánh giặc); mỗi huyện có từ 16 tiểu đội du kích thoát ly trở lên. Bộ đội và dân quân du kích đánh mạnh làm các tuyến giao thông của địch liên tục bị tê liệt. Sự vận chuyển của quân Pháp thường xuyên bị bế tắc, nhất là trên tuyến giao thông chiến lược quốc lộ 1A.

Đợt 3 (từ 15 đến 31 tháng 3): Quân ta thực hiện phá hoại và “Tổng phá hoại”, đã tổ chức nhiều trận phục kích trên các tuyến đường, đặc biệt là tuyến quốc lộ 1 - Hải Vân. Đi đôi với tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch trên cả đường bộ và đường sắt, quân ta đã đánh sập hai cầu trên đường xe lửa, phá trên 200 mét đường sắt, phá hỏng nặng nhiều đoạn đường bộ, làm chủ đoạn đèo Hải Vân, cắt đứt việc cơ động vận chuyển của địch. Pháp phải huy động một tiểu đoàn Âu-Phi thực hiện cuộc hành quân càn quét hòng đẩy quân ta ra khỏi khu vực đèo, giải toả tuyến giao thông Hải Vân. Bộ đội ta phối hợp chặt chẽ với dân quân du kích và tự vệ địa phương tổ chức nhiều trận địa hiểm hóc trên suốt dọc 10 km đường đèo, liên tục chặn đánh; cùng lúc kết hợp việc đột nhập, tập kích thẳng vào một số vị trí địch ở thành phố Đà Nẵng và thị xã Hội An, buộc địch ở khu vực đèo Hải Vân phải lui quân. Dân quân du kích khắp vùng hoạt động mạnh, chống càn, quấy rối các đồn bốt và đánh địa lôi chim sẻ trên các tuyến giao thông. Sau đó cùng với nhân dân địa phương giúp đỡ phương tiện cho bộ đội vượt sông, vượt biển, rút về khu tập kết an toàn.

Cuối tháng 3, theo lệnh của Bộ Tổng chỉ huy, tiểu đoàn 19 ra phối hợp với lực lượng vũ trang ở nam Thừa Thiên đánh thắng một số trận ở La Vang, Cầu Hai, Nước Ngọt... góp phần phát triển chiến tranh du kích trên địa bàn huyện Phú Lộc. Các đơn vị còn lại thực hiện phân tán đánh nhỏ, hỗ trợ cho phong trào du kích ở khắp vùng từ nam Thừa Thiên vào đến Quảng Nam, Đà Nẵng và ra đến ven biển Hội An.

Đêm 30 tháng 3 năm 1949, tiểu đoàn 79 do tiểu đoàn trưởng Võ Thứ chỉ huy, phối hợp với một đại đội của tiểu đoàn 19, bí mật phục kích tài Gò Cà, nằm trên đường Ái Nghĩa đi Tuy Loan. Ta thực hiện nghi binh nhử địch. Sáng 3 tháng 2, một đoàn xe địch chở đầy lính Âu Phi từ Đà Nẵng lên Tuy Loan, Gò Cà, đã lọt vào trận địa phục kích. Quân ta bất ngờ đồng loạt nổ súng, địch trên xe hoảng hốt nhảy xuống tháo chạy. Bộ đội ta truy kích. Nhân dân quanh vùng Đại Hiệp, Hoà Khương mang gậy, cuốc, dao, rựa đuổi đánh địch khắp cánh đồng. Kết thúc trận đánh, ta tiêu diệt hoàn toàn đại đội Ta-bo Âu Phi và 14 xe cơ giới. Ở địa bàn phối hợp, đại đội 8 bộ đội địa phương Điện Bàn do đại đội trưởng Đỗ Phúc Đáp chỉ huy, dùng hình thức “phục kích, độn thổ” trên đường 100 từ Bình Long đi Phong Thử, diệt hai tiểu đội, thu một trung liên và một số súng trường. Bộ chỉ huy ra lệnh kết thúc chiến dịch.

Kết quả: Qua hai tháng chiến đấu, ta đã đánh 299 trận lớn, nhỏ (có 163 trận phục kích, 27 trận tập kích, 51 trận quấy rối); diệt 660 địch, có một quan tư, 18 quan ba. Ta phá huỷ tám đầu máy xe lửa, 22 toa xe, 20 xe vận tải, hai xe thiết giáp, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng, trong đó có 24 tiểu liên, 155 súng trường. Ta hy sinh và bị thương 79 người.

Chiến dịch đã đạt được mục tiêu đề ra, quân ta giữ được quyền chủ động tác chiến trên toàn vùng, đánh phá liên tục và quyết liệt làm tê liệt tuyến giao thông chiến lược của địch nhiều đợt trong nhiều ngày. Tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Ta đã giữ được yếu tố bí mật bất ngờ; kết hợp khá chặt chẽ giữa các lực lượng vũ trang trên toàn địa bàn (chủ lực Khu bộ đội địa phương và dân quân du kích, tự vệ chiến đấu). Nét đặc sắc ở đây là sự kết hợp hài hoà giữa các hình thức chiến thuật: đánh phục kích, tập kích với chống càn, quấy rối, đánh phá giao thông, đạt được hiệu suất chiến đấu cao vừa tiêu hao, tiêu diệt địch, vừa giữ gìn và bồi dưỡng, rèn luyện được lực lượng ta. Qua chiến đấu đã phát triển được phong trào chiến tranh du kích gây được cơ sở cách mạng trong vùng địch tạm chiếm, nhất là quanh thị xã Hội An và thành phố Đà Nẵng.

Song, bao quát cả hai tháng chiến đấu thì lực lượng chủ lực đánh còn ít. Phần lớn các trận chiến đấu của các lực lượng còn nặng về lối đánh du kích, trong đó đánh phục kích để ngăn chặn, phá hoại giao thông và tiêu hao, tiêu diệt quân địch cơ động trên tuyến giao thông là chủ yếu. Chưa hình thành rõ lối đánh chính quy, bài bản, do đó nghệ thuật chiến dịch chưa bộc lộ rõ nét.
____________________________________
1.Ngày 15 tháng 5 năm 1947, quân ta diệt tên quan năm Rô-zê (Roger) Pháp tại cầu này, từ đó quân ta quen gọi là cầu Rô-zê.

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page