Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp
lexuantuong1972:
Nếu như không có những xoay vần của thời cuộc biết đâu đấy con hùm xám đường số 4 ĐVV vẫn tiếp tục đường binh nghiệp thì lịch sử chiến tranh VN có thể sẽ ghi thêm tên một danh tướng nữa.
qtdc:
Phần tóm tắt các chiến dịch này nếu bác chuongxedap sưu tầm được bản đồ đưa vào vào thì tốt.
Trận Mộc Châu là một trận độc đáo trong chiến dịch Tây Bắc 1952 mà cụ Việt rất tâm đắc, cụ đã kể khá kỹ trong hồi ức "Người lính già Đặng Văn Việt, chiến sỹ đường số 4 anh hùng".
Trích dẫn từ: lexuantuong1972 trong 08 Tháng Mười, 2012, 09:15:26 am
Nếu như không có những xoay vần của thời cuộc biết đâu đấy con hùm xám đường số 4 ĐVV vẫn tiếp tục đường binh nghiệp thì lịch sử chiến tranh VN có thể sẽ ghi thêm tên một danh tướng nữa.
Với lý lịch và tính cách của cụ Việt thì em nghĩ khó đấy bác Tường ạ. Sau này cụ làm sinh viên già đi học Bách Khoa ngành Vật liệu xây dựng.
lexuantuong1972:
Chiến dịch Tây Bắc năm 1952
CHỦ ĐỘNG NGHI BINH LỪA ĐỊCH VÀ ĐÁNH TRẬN THEN CHỐT
QĐND - Thứ Bẩy, 06/10/2012, 18:13 (GMT+7)
QĐND - Đầu tháng 9-1952, sau khi phân tích, đánh giá tình hình địch, ta trên chiến trường Bắc Bộ, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tham mưu quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch ở 4 phân khu: Lai Châu, Sông Đà, Nghĩa Lộ, Sơn La và 3 tiểu khu độc lập: Thuận Châu, Phù Yên, Tuần Giáo, giải phóng nhân dân và phần lớn đất đai Tây Bắc.
Để tiến hành chiến dịch thắng lợi, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu, Bộ tư lệnh chiến dịch triển khai đồng bộ công tác chuẩn bị cho chiến dịch, trong đó đặc biệt chú trọng kế hoạch thiết lập phương án tác chiến và nghi binh lừa địch, không cho chúng dự đoán được thế trận và bố trí lực lượng của ta.
Công tác nghi binh, lừa địch được Bộ Tổng tư lệnh và Bộ tư lệnh chiến dịch tập trung chỉ đạo thống nhất, chuẩn bị tỉ mỉ công phu và được các lực lượng trên các hướng trọng điểm chấp hành nghiêm túc, thực thi triệt để. Không phát hiện ta chuẩn bị mở chiến dịch Tây Bắc, Bộ Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương cho rằng, “hoạt động quân sự của Việt Minh trong Thu - Đông 1952 là ở Đồng bằng Bắc Bộ”, vì thế, chúng thường xuyên bố trí 29 tiểu đoàn (trong tổng số 32 tiểu đoàn cơ động chiến lược của toàn Bắc Bộ) vào vùng chiến lược này. Địch cho một số tiểu đoàn mở các cuộc hành quân càn quét thăm dò ra vùng tự do Ninh Bình và Vĩnh Phúc. “Tương kế, tựu kế”, Bộ Tổng tham mưu đưa một bộ phận trinh sát của Bộ vào hoạt động ở các hướng giáp ranh và vùng sau lưng địch ở đồng bằng Nam Liên khu 3 (Hà Nam, Ninh Bình), cho bộ đội công binh và lực lượng vũ trang địa phương làm cầu, sửa đường, lập các bến vượt, các khu tập kết giả dọc tuyến sông Đáy để củng cố sự phán đoán của địch về ta. Bộ tư lệnh chiến dịch tăng cường giáo dục, quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ các đơn vị tham gia chiến dịch ý thức phòng gian, giữ bí mật; chỉ đạo các trạm vô tuyến điện ở nguyên vị trí cũ phát sóng theo phiên trực thường lệ để chúng không nghi ngờ; tổ chức phong tỏa tin tức, bao vây, theo dõi nơi khả nghi, tiêu diệt các ổ tề điệp nằm vùng…
Bắc cầu phao tại bến Mậu A trong chiến dịch Tây Bắc (1952). Ảnh tư liệu.
Hoạt động nghi binh, lừa địch đạt kết quả đã tạo ra thế trận và niềm tin cho các đơn vị tiến hành chiến dịch. Với phương châm tác chiến “đánh điểm, diệt viện”, trong đợt 1 chiến dịch (từ ngày 14-10 đến ngày 25-10-1952), Bộ tư lệnh chiến dịch sử dụng các Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316), Trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) tiêu diệt hàng loạt vị trí quân địch dọc Đường 13, hỗ trợ đắc lực cho hai Đại đoàn 308, 312 (thiếu) bí mật luồn sâu tiến công tiêu diệt tiểu đoàn tăng cường chốt giữ cứ điểm kiên cố, giải phóng Phân khu Nghĩa Lộ. Đây là trận then chốt thứ nhất. Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo các đơn vị cơ động đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn dù (có tăng viện) và một số chốt điểm trên đoạn đường Tú Lệ-Ít Ong, đập tan hầu hết phòng tuyến vòng ngoài của địch từ hữu ngạn sông Thao đến tả ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai.
Bước vào đợt 2 chiến dịch (từ ngày 7-11 đến ngày 20-11-1952), biết rõ địch tăng cường 5 tiểu đoàn thiện chiến (2 cho Lai Châu, 2 cho Nà Sản, 1 cho Điện Biên Phủ) và tập trung 17 tiểu đoàn bộ binh, công binh, pháo binh, xe tăng mở cuộc hành binh Lo-ren đánh vào hậu phương ta ở Phú Thọ để đỡ đòn cho Tây Bắc, nhưng Bộ tư lệnh chiến dịch vận giữ vững kế hoạch tác chiến, điều Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) về phối hợp với lực lượng tại chỗ đánh địch ở Phú Thọ; đồng thời, điều động cánh quân vu hồi từ Quỳnh Nhai (hướng thứ yếu) hình thành hai mũi tiến công Tuần Giáo, Lai Châu, Điện Biên Phủ; truy kích địch từ Thuận Châu về Sơn La. Trong giai đoạn 1, ta tổ chức lực lượng vượt sông Đà, tiến công tiêu diệt địch ở Mộc Châu và một loạt vị trí khác, làm cho 4 tiểu đoàn địch còn lại ở Chiềng Đông, Cò Nòi, Tạ Khoa, Yên Châu phải rút về Nà Sản. Trên hướng phối hợp, các Trung đoàn 36, 176 và lực lượng vũ trang địa phương đánh bại cuộc hành binh Lo-ren, buộc chúng phải tháo chạy khỏi Phú Thọ…
Tuy còn có những mặt hạn chế và tiến công không dứt điểm được tập đoàn cứ điểm Nà Sản, song với việc tiêu diệt và bắt hơn một vạn tên địch (kể cả hướng phối hợp) giải phóng gần 3 vạn km2 với 25 vạn dân, nối liền các vùng chiến lược Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu 3, Thượng Lào đã là một chiến công xuất sắc. Chiến thắng đó chứng tỏ bước phát triển mới về nghệ thuật nghi binh lừa địch bằng các biện pháp linh hoạt, sáng tạo. Bộ tư lệnh chiến dịch đã chọn chính xác hướng (khu vực) mục tiêu chủ yếu, thứ yếu và có phương pháp tác chiến phù hợp “đánh điểm, diệt viện”, phối hợp chặt chẽ giữa phía trước và phía sau, giữa vu hồi, luồn sâu, chia cắt, nên đã đạt được mục tiêu chiến dịch đề ra. Chiến thắng Tây Bắc đã làm thay đổi hình thái chiến trường, không chỉ giúp ta từng bước giữ vững quyền chủ động chiến lược; các lực lượng vũ trang nhân dân (đặc biệt là bộ đội chủ lực) tích lũy thêm kinh nghiệm tác chiến quy mô lớn hơn, mà còn tạo ra những điều kiện mới để quân và dân ta tiến lên giành nhiều thắng lợi quyết định trong Đông Xuân 1953-1954.
Đại tá Trần Tiến Hoạt
http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/301/302/302/209889/Default.aspx
lexuantuong1972:
Chiến dịch Tây Bắc 1952 - Nhìn từ phía bên kia
THẤT BẠI ĐƯỢC DỰ ĐOÁN
QĐND - Thứ Tư, 17/10/2012, 22:9 (GMT+7)
QĐND - 60 năm đã trôi qua kể từ khi diễn ra chiến dịch Tây Bắc 1952, tại Pháp và các nước phương Tây đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp. Trong khi phần lớn các ý kiến đều cho rằng chiến dịch Tây Bắc là một thất bại về chiến lược của thực dân Pháp.
Năm 1952, thắng lợi liên tiếp và sự trưởng thành của quân và dân ta, nhất là từ sau Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950 làm cho tình hình nước Pháp càng rối ren. Chỉ trong tháng 2 và tháng 3-1952, nội các Pháp đổ liên tiếp 3 lần. Đờ-lát đờ Tát-xi-nhi bị gọi về nước rồi chết. Sa-lăng lên làm Tổng tư lệnh. Lơ-tuốc-nô làm Cao ủy Đông Dương. Trên chiến trường Việt Nam, thực dân Pháp chủ trương thực hiện chiến lược phòng ngự, ráo riết bình định các vùng tạm chiếm.
Toàn bộ Ban chỉ huy Phân khu Nghĩa Lộ của địch bị ta bắt sống trong trận tấn công ngày 17-10-1952. Ảnh tư liệu.
Trong bối cảnh đó, dựa vào so sánh lực lượng giữa ta và địch, căn cứ vào đề nghị của Tổng quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta quyết định mở Chiến dịch Tây Bắc (từ 14-10 đến 10-12-1952).
Thời điểm trước khi diễn ra chiến dịch, đời sống và bối cảnh chính trị của nhân dân Pháp vẫn là vấn đề nan giải đối với Chính phủ lâm thời. Tờ tuần báo Hành động (L’Action) số ra ngày 2-4-1952, ký giả người Pháp Hen-ri Clâu (Henri Clau) viết: “Dư luận tiến bộ lên án Chính phủ Pháp đang theo đuổi cuộc chiến ở Đông Dương, nhân dân Pháp bất bình vì tình trạng bắt lính kéo dài”.
Tại Hà Nội, nơi quân Pháp coi là “cái nút của chiến tranh”, tình hình không mấy lạc quan. Các nguồn tin tức đều cho thấy chiến sự sẽ xảy ra mà quân Pháp ngày càng đuối sức về mọi mặt. Tổng chỉ huy Sa-lăng vội vã điện về chính quốc xin viện trợ về lực lượng và tài chính nhưng không được chấp nhận. Khi đó, Béc-na Xta-đi là Phó chủ tịch Quốc hội phụ trách các vấn đề an ninh, tỏ ra thờ ơ và không đệ trình Chính phủ.
Liên tiếp trong hai tháng 7 và 8-1952, nhiều cuộc họp của tướng, tá Pháp đã diễn ra tại Sài Gòn và Hà Nội, ngoài việc xin viện trợ từ chính quốc còn tập trung phán đoán hướng tiến công của Việt Minh nhưng không có gì sáng sủa mà chỉ dừng ở nhận định: “Tình hình ở Tây Bắc không mấy tốt đẹp, chiến sự có thể xảy ra".
Cũng trong thời gian này, một số nhà nghiên cứu quân sự phương Tây lại nhận định rằng: “Nhìn vào nội tình chính trị nước Pháp và cuộc chiến tranh mà Pháp đang theo đuổi, chiến dịch có thể diễn ra cuối năm 1952. Nhưng rồi chiều hướng ngày càng xấu đi về mọi mặt đối với giới cầm quyền Pháp. Không hiểu số phận của cuộc chiến đi đến đâu nhưng nhân dân yêu chuộng tự do, hòa bình ở Pháp đều bất bình”.
Từ những nhận xét trên đây, không chỉ Bộ chỉ huy Pháp mà người cầm quân trực tiếp là Tướng Sa-lăng cũng tỏ ra lo lắng cho số phận của vùng Tây Bắc. Điều lo lắng ấy không có phương sách đối phó nào khác hơn khi mà chiến trường quá rộng, lực lượng Pháp và ngụy đều rất hạn chế.
Về phía ta, đến thời điểm này, công tác phòng gian, giữ bí mật, nghi binh được thực hiện tốt nên địch không phát hiện được hướng tiến công chủ yếu của ta là Tây Bắc, mà chúng nghi ngờ ta sẽ tiến công vùng đồng bằng. Bởi vậy, tướng Sa-lăng cho dàn các lực lượng cơ động dọc tuyến Trung du và phần lớn trên sông Đáy. Tất cả các cứ điểm của địch ở đồng bằng và Trung du được lệnh báo động khẩn cấp, điều đó rất trúng ý định nghi binh của ta.
Cuối tháng 9, qua tin tức tình báo, phía Pháp nghi ngờ hướng tiến công của ta, Tổng chỉ huy Sa-lăng lệnh báo động toàn khu Tây Bắc từ ngày 4-10. Đồng thời, chúng nhanh chóng triển khai lực lượng.
Sau khi ta chuẩn bị về mọi mặt, theo đúng kế hoạch, giai đoạn 1 chiến dịch bắt đầu từ ngày 14-10, các mũi tiến công nhanh chóng thọc sâu, chia cắt địch. Trước diễn biến quá nhanh, Sa-lăng không kịp trở tay. Ngày 15-10, viên Tổng chỉ huy thảo gấp chỉ thị mật từ Sài Gòn và giao cho Đại tá Bút-xa-ri chuyển cho Đờ Li-na-rét đang chỉ huy quân Pháp tại Hà Nội, trong đó chỉ rõ: “Nghĩa Lộ và Sơn La đang bị uy hiếp nặng nề… nhưng các yếu tố nắm được chưa cho phép chúng ta có chủ trương… Phải đợi cho Việt Minh lộ rõ ý định của họ”, và “Địa hình rừng núi đang buộc đối phương phải phân tán. Đó là nhân tố thuận lợi cần chú ý. Để tăng cường cho Nghĩa Lộ và bảo vệ Sơn La, không cần phải ném quân xuống Gia Hội hay Tú Lệ vì hai nơi này quá xa Nghĩa Lộ. Trước mắt, phải dành phần lớn không quân yểm trợ cho Tây Bắc”. Bản chỉ thị tới Tây Bắc quá chậm, sáng sớm 16-10, tiểu đoàn dù số 6 do thiếu tá Bi-gia chỉ huy đã đổ quân xuống Tú Lệ.
Khi đó, Tổng chỉ huy Sa-lăng đang ở Sài Gòn vẫn từng giờ, từng phút chờ đợi Đờ Li-na-rét điện báo về và tự thú nhận rằng, đêm 17-10 là “một đêm đầy lo âu, vì những tin tức hằng giờ bay vào Sài Gòn luôn mâu thuẫn nhau”.
Ngày 18-10, mọi lo ngại của tướng Sa-lăng đã thành sự thật, Đờ Li-na-rét bay từ Tây Bắc về Hà Nội báo cáo: “Thế là hết”. Nội dung ngắn gọn nhưng viên Tổng chỉ huy đã hiểu mọi điều. Thêm vào đó, Béc-na Phôn khẳng định: “Từ trên máy bay, các phi công nhìn thấy rất rõ từng đoàn tù binh kéo đi, tay giơ quá đầu, lê bước giữa hai hàng lính Việt Minh”.
Đến hết ngày 18-10, ta đã đánh những trận then chốt đầu tiên của chiến dịch ở khu vực Nghĩa Lộ thành công. Đây cũng là đòn choáng váng đối với địch. Khi trả lời báo chí về sự thất bại nhanh chóng, Tổng chỉ huy Sa-lăng biện minh: “Ông Giáp đã bất ngờ tập trung Sư đoàn 308 vào Nghĩa Lộ. Các hướng khác như Sầm Nưa, Mường Hét, Mường Hum… chỉ là nghi binh”. Do bị bất ngờ về hướng tiến công và không có sự chuẩn bị trước về mọi mặt nên thất bại ngay từ trận đầu đối với Pháp là điều dễ hiểu.
(còn nữa)
Trung tá, TS Trương Mai Hương
http://image.qdnd.vn/Upload/thuha/2012/10/17/708478520121017210831133.jpg
lexuantuong1972:
Kỷ niệm 65 năm chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947
PHÂN TÁN BINH LỰC, ĐÁNH ĐỊCH RỘNG KHẮP, SÁNG TẠO
QĐND - Thứ Bẩy, 20/10/2012, 20:32 (GMT+7)
QĐND - Ngày 7-10-1947, thực dân Pháp huy động lực lượng bắt đầu mở cuộc tiến công quy mô lớn lên Việt Bắc, nhằm tiêu diệt các cơ quan đầu não của ta. Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Phải phá tan cuộc tiến công mùa đông của thực dân Pháp” và đề ra phương hướng hành động phải đánh địch khắp mọi nơi. Tháng 10-1947, Bộ Tổng chỉ huy quyết định mở chiến dịch phản công nhằm đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn của quân Pháp lên Việt Bắc, bảo vệ căn cứ địa cách mạng và cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 7 trung đoàn bộ binh của Bộ và các Khu 1, 11 12, cùng 30 đại đội độc lập và dân quân, du kích các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên.
Chiến dịch đã diễn ra rất quyết liệt giữa ta và địch, với hai đợt chiến đấu liên tục. Đợt 1 từ ngày 7-10 đến 20-11; đợt 2 từ ngày 21-11 đến 20-12-1947. Thực tiễn chiến dịch cho thấy cuộc đấu trí, đấu lực diễn ra hết sức căng thẳng giữa ta và địch, trong đó đối với ta nổi lên một số nét đặc sắc về nghệ thuật chiến dịch:
Cán bộ Bộ chỉ huy chiến dịch thị sát tình hình trong Chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông 1947. Ảnh tư liệu.
Trước hết, ta xác định hướng tiến công kịp thời, đúng đắn. Từ phân tích tình hình, ta nhận thấy, điểm mạnh của địch là ưu thế về máy bay, pháo binh, cơ giới, nhưng chúng không thể phát huy sức mạnh hỏa lực trên chiến trường rừng núi, nhất là trong điều kiện thời tiết mùa đông. Hơn nữa, địch chủ quan mở cuộc hành binh lớn bằng hai cánh quân cách nhau quá xa. Chúng phải dùng các trục đường bộ, đường sông để tiếp tế, vận chuyển lương thực. Trên cơ sở phán đoán âm mưu, hướng tiến công, phân tích đánh giá điểm mạnh, yếu của địch, ta xác định các hướng tiến công chiến dịch. Cụ thể, hướng Tây- sông Lô (đánh địch trên dòng sông Lô và trên đường bộ, chặn địch tăng viện); hướng Đông- đường số 3 (đánh địch trên đường Bắc Cạn-Cao Bằng ); đường số 4 (đánh địch trên đường Lạng Sơn-Cao Bằng).
Ở Mặt trận Sông Lô và đường số 2, Trung đoàn chủ lực của Khu 10 và một tiểu đoàn chủ lực của Bộ, có nhiệm vụ đánh địch trên sông Lô, đoạn từ Việt Trì đến Tuyên Quang; Trung đoàn 147 và 2 tiểu đoàn chủ lực Bộ bố trí ở phía nam đường liên tỉnh Tuyên Quang-Thái Nguyên. Ở Mặt trận Đường số 3, Trung đoàn 121 để lại tiểu đoàn 25 làm nhiệm vụ cơ động, lực lượng còn lại phân tán thành 7 đại đội, hoạt động trên các địa bàn trọng điểm Thái Nguyên, Vĩnh Yên và Phúc Yên; đồng thời sử dụng các đại đội khác bố trí ở các huyện Đông Anh, Đa Phúc, Kim Anh, Yên Lãng, Phú Bình, Võ Nhai, Chợ Chu, Đại Từ, Đồng Hỷ. Trung đoàn 72 để lại Tiểu đoàn 25, lực lượng còn lại phân tán thành 5 đại đội bố trí ở Chợ Đồng, Chợ Rã, Ngân Sơn. Trung đoàn 165 được tăng cường Tiểu đoàn 11 bố trí ở các huyên Chợ Rã, Chợ Đồn và thị xã Bắc Kạn. Trên Mặt trận đường số 4, Trung đoàn 74 để lại Tiểu đoàn 73 cơ động, còn lại 6 đại đội được bố trí ở các huyện Nguyên Bình, Sóc Giang, Hòa An, Quảng Nguyên, Phục Hòa, Đông Khê. Trung đoàn 11 để lại Tiểu đoàn 374 làm nhiệm vụ cơ động, hai tiểu đoàn còn lại phân thành 6 đại đội về hoạt động ở các huyện Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Điềm He, Lộc Bình và Đồng Mỏ. Với tổng số khoảng 20 tiểu đoàn bộ binh và pháo binh tập trung triển khai lực lượng, hình thành các mặt trận trên ba hướng chiến dịch, không những ta tránh được chỗ mạnh của địch mà còn từng bước vô hiệu hóa, trước hết là hướng Tây (Sông Lô-đường số 2), tiến tới bẻ gãy từng gọng kìm, phá thế hợp vây tiến công Việt Bắc bằng hai gọng kìm của địch.
Cùng với việc xác định hướng, mục tiêu tiến công, tổ chức lực lượng tạo thế trận phù hợp, ta vận dụng cách đánh sáng tạo, linh hoạt. Sau khi xác định mục tiêu tác chiến chủ yếu là quân địch vận động trên đường bộ và trên sông, Bộ Tổng chỉ huy đã quyết định phân tán chủ lực của Bộ và các Khu 1, 10, 12 thành 18 tiểu đoàn, tác chiến trên ba mặt trận và chuyển thành 30 đại đội về hoạt động độc lập ở một số huyện trên địa bàn chiến dịch. Việc phân tán binh lực một số trung đoàn thành “các đại đội độc lập và tiểu đoàn tập trung” không phải là “bước lùi” về quy mô tổ chức sử dụng lực lượng mà là chủ trương sáng tạo phù hợp với tình hình chiến trường, nhằm đẩy mạnh chiến tranh du kích, tạo điều kiện cho các tiểu đoàn của ta tập trung tác chiến chiến dịch hiệu quả. Trên ba mặt trận (ở ba hướng chiến dịch), ta tổ chức lực lượng quy mô cấp tiểu đoàn, đại đội, nhất là ở Mặt trận Sông Lô-đường số 2, bộ đội ta chủ yếu tổ chức phục kích, kết hợp bộ binh đánh trên bộ với pháo binh đánh trên sông. Bằng cách đánh đó, ta đã khoét sâu chỗ yếu cơ bản của địch khi chúng thoát ly công sự kiên cố, thoát ly khỏi chi viện của máy bay, pháo binh; tổ chức đánh nhiều trận giành thắng lợi lớn. Các đơn vị bộ đội còn hỗ trợ dân quân, du kích hoạt động ở nhiều nơi, tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, buộc chúng phải rút lui, giữ vững căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc.
Chiến thắng Việt Bắc Thu-Đông 1947 có ý nghĩa chiến lược quan trọng, đã đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của địch, góp phần quyết định làm phá sản chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh”, giữ vững căn cứ địa kháng chiến của cả nước. Chiến dịch Việt Bắc đánh dấu mốc hình thành rõ nét về nghệ thuật chiến dịch, trong đó chọn đúng hướng (khu vực tác chiến) phản công, lập thế trận bố trí lực lượng phù hợp và vận dụng cách đánh linh hoạt, sáng tạo để đánh địch giành thắng lợi.
Đại tá, TS Dương Đình Lập
http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/301/302/302/211923/Default.aspx
Navigation
[0] Message Index
[#] Next page
[*] Previous page