Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:31:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lực lượng đặc nhiệm trên thế giới  (Đọc 95245 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #90 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 09:17:22 am »

13.ĐỘI ĐẶC NHIỆM “CHIM ƯNG” CỦA LIÊN XÔ


Tháng 9 năm 1979, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Afghanistan Amin ra tay trước, phát động đảo chính quân sự, lật đổ tổng thống thân Liên Xô Islami. Moscow quyết định phải nhổ cái gai nhọn vướng mắt này. Cùng với những đoàn quân áp sát biên giới, lực lượng đặc nhiệm”Chim ưng” của Liên Xô cũng tiến vào Kabul, mục tiêu mà lực lượng này nhằm vào chính là “đầu não”, “trái tim”, “cánh tay phải, cánh tay trái” của Kabul.

Chim ưng xuất kích
Đêm 8 tháng 12 năm 1979, một chiếc máy bay hạng nặng An-22 cất cánh từ một căn cứ không quân trên lãnh thổ Liên Xô, nó bay theo hướng bắc nam, rất nhanh đã vượt qua dãy núi biên giới, nhằm hướng Kabul bay tới.


Đây là bộ phận lực lượng đặc nhiệm “Chim ưng” đi thực hiện một phi vụ bí mật, lực lượng này có một đơn vị cốt cán tinh nhuệ, họ đều là những chiến binh hăng hái, tự gọi mình với cái tên “Chim ưng đỏ”, chỉ huy bộ phận này là một sĩ quan trung niên tên là Bulynov có có biệt danh “Chim ưng đỏ”, mang quân hàm thượng tá. Người đàn ông này quả cảm và nhanh nhẹn, được sinh ra tại vùng Trung Á giáp Afghanistan, do vậy có vẻ ngoài rất giống người Afghanistan, chính vì vậy mà KGB đã chọn ông làm chỉ huy đội đặc nhiệm. Những thành viên khác trong đội đa phần cũng là người Trung Á thiện chiến và kiêu dũng.


Ngồi ở dãy đầu tiên trong khoang máy bay là thượng uý Kjicnov, lúc này anh đang mân mê khẩu súng AK-74 láng coóng. Đây là loại súng tiểu liên mới nhất, chỉ trang bị cho lính đặc nhiệm trực thuộc Bộ Tổng tham mưu Liên Xô, có uy tín lớn. Nó vừa kết hợp được ưu điểm nhẹ nhàng, tiện lợi của súng tiểu liên lại có gắn thêm bộ phận phóng lựu đạn cỡ 40 mm, có thể sử dụng để bắn trúng mục tiêu nằm ngoài cự ly 300-400 m. Trong lần đầu diễn tập thực binh vừa rồi, thượng uý Kjicnov đã cảm thấy yêu thích loại súng hiện đại này.


Ngồi giữa là thiếu uý Lyalin vóc người nhỏ nhắn, nhưng lại là một tay thiện xạ của đội. Từ khi còn học tiểu học anh ta đã là “tay cung thủ” nổi tiếng trong trường. Anh ta có thể đứng bắn, nằm bắn vừa chạy vừa bắn, có thể bắn trong lúc mưa gió, trong bóng đêm mà không hề bắn trượt, trăm phát trăm trúng. Anh ta là học sinh của Bulynov, sau khi tốt nghiệp được giữ lại trường làm giáo viên xạ kích.


Ngồi ở cuối dãy đang nhắm mắt tĩnh dưỡng là thượng uý Pevnovf, anh ta còn có cái tên kiểu Trung Quốc là Bách Kungfu. Chính là do anh ta say mê võ thuật Trung Quốc nào là: thái cực quyền, bát quái chưởng, nào là “Mò kim đáy bể”, “Gấu chồm chim bay” những thế võ như vậy anh ta có thể giảng giải say sưa và còn có thể biểu diễn tại chỗ, các đồng đội luôn tròn mắt thán phục.


Các thành viên khác đều có tài riêng. Giả dụ như Xedov có biệt danh là “Chim bách linh”, không những là người thông thạo nhiều ngoại ngữ mà còn có thể bắt chước giọng của bất kỳ ai một cách rất hoàn hảo. Có lần anh ta bắt chước giọng của Bulynov, ra lệnh cho toàn đội báo động tập hợp, có nhiều người đã bị anh ta lừa, Bulynov dở khóc dở cười, cuối cùng phạt anh ta bằng cách kể một câu chuyện cười. Lại có tay Deive với biệt danh “Con vượn” là một tay cao thủ trèo tường vượt mái. Nghe nói tốc độ leo tường bằng tay không của anh ta còn không thua kém gì thang máy.

“Chim ưng đỏ” liếc nhìn đồng hồ, quay sang nhìn các thành viên trong đội. Sau mười phút nữa máy bay sẽ hạ cánh, ông phát lệnh: “Chuẩn bị hạ cánh”. ”Rõ”. Các chiến sĩ đồng thanh đáp lại. Máy bay lặng lẽ hạ cánh xuống căn cứ không quân Bagram ngoại ô phía Bắc Kabul.

Đội đặc nhiệm bước xuống lẫn vào trong bóng đêm, trên người họ mang sắc áo lính Afghanistan và diện mạo cũng tương tự như người Afghanistan.

Bulynov chọn một bãi cỏ khá bằng phẳng làm chỗ dựng trại, sở chỉ huy thì được đặt trên máy bay.
Vào thời gian này, dù đây là căn cứ không quân do quân đội Liên Xô kiểm soát, nhưng vẫn có một cặp mắt theo dõi mọi hành động của đội đặc nhiệm. Người đó là một tay thợ điện trong đội điện máy của căn cứ Bagram, trên thực tế hắn là gián điệp CIA. Hắn cảm thấy số người vừa đến đây không khác gì người Afghanistan, chỉ có điều khẩu súng trong tay người đang đứng ác kia rõ ràng không phải là khẩu AK-47 thường thấy mà là một thứ đồ chơi có vẻ lạ mắt. Tin tức này nhanh chóng được hắn báo cáo lên trên. Kết quả phân tích của các chuyên gia tình báo cho biết đó là loại tiểu liên AK-74 mới nhất ở Liên Xô, có nhiều tính năng ưu việt. Loại súng này chỉ được trang bị cho lính đặc nhiệm. Do vậy có thể phán đoán, đặc nhiệm Liên Xô đã có mặt tại Kabul.


Trước đó cơ quan tình báo trung ương Mỹ CIA cũng nhận được một số thông tin tương tự. Vài tháng trước khi tổng thống Amin lên nắm quyền không lâu, phóng viên Mỹ của tuần báo “Weekly” tại Moscow cũng đã đăng bài báo trong đó có nội dung anh ta đã nhìn thấy một cảnh tượng khá kỳ lạ tại thủ đô Achkhabad của nước cộng hoà Turkmenistan, trên đường phố ngoài những binh sỹ mặc quân phục mỏng manh của mùa hè, thì không biết từ đâu còn mọc ra những binh sỹ trong trang phục mùa đông. Rõ ràng ở đây đã có sự chuyển quân từ hướng bắc sang tuyến biên giới phía nam.

Ngoài ra, những thông tin phong phú do vệ tinh gián điệp Mỹ cung cấp phản ánh về một cuộc tập kết lực lượng với quy mô lớn.


CIA lập tức báo những thông tin này cho Amin, nhưng Amin nửa tin nửa ngờ, do dự không quyết định. Chính là vì từ trước đến giờ Kabul-Kremli vẫn…
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #91 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 09:22:50 am »

Luôn mỉm cười

Vào lúc con dao sắc nhọn của lực lượng đặc nhiệm Liên Xô đã ém sát trái kim Kabul, lực lượng đông đảo quân đội Liên Xô tập kết về biên giới phía nam, điện Kremlin vẫn nở nụ cười tinh quái với Amin vị tổng thống cầm quyền bằng đảo chính.

Ngay từ khi Amin nhanh tay đi trước một nước cờ gạt bỏ vị tổng thống thân Liên Xô Islami cũng đang chuẩn bị ra tay với ông ta, Amin tự lên làm tổng thống, thủ tướng kiêm tổng bí thư, phía Liên Xô nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược ôm ấp từ lâu, đã tự trái lòng mình gửi đến tổng thống Amin lời chúc mừng nồng nhiệt “Xin được nồng nhiệt chúc mừng ngài, người bạn chân thành của Liên Xô! Chúc mừng ngài trở thành tổng thống, thủ tướng, tổng bí thư của Afghanistan-quốc gia láng giềng hữu nghị vĩnh viễn của Liên Xô”.


Amin đã xé tan nát bức điện đó, chửi ầm lên: “Chính là đại sứ Liên Xô các người đã khuyến khích Islam hãm hại ta, ta sẽ không mắc mưu của các người đâu!”.

Amin kiên quyết đòi hỏi phía Liên Xô phải triệu hồi “vị đại sứ lật đổ” được cài cắm sát nách của mình về nước, yêu cầu Liên Xô rút hết các cố vấn quân sự nhan nhản tại Afghanistan về nước, yêu cầu Liên Xô không được tiếp tục thao túng cơ quan tình báo và cảnh sát mật Afghanistan, không kiểm soát quân đội Afghanistan v.v…

“Phải làm hắn dịu lại, rồi tìm cách loại trừ hắn!”. Điện Kremli hạ quyết tâm.

Moscow năm lần bảy lượt nhiệt tình mời mọc vị “người bạn chân thành của Liên Xô" đến thăm Moscow. Amin lại chẳng chút động lòng trước “mối tình đơn phương” của người Liên Xô, ngược lại Amin không ngừng liếc mắt về phía ông trùm Washington.


Vậy là điện Kremlin sử dụng tuyệt chiêu “gậy ông đập lưng ông” chủ động cung cấp viện trợ quân sự, giúp đỡ chính phủ còn chưa đứng vững của tổng thống Amin tiễu trừ các tổ chức vũ trang Hồi giáo chống chính phủ đang hoành hành ngang ngược. Tại vùng Wandake, đây quả là vùng đất lãnh địa riêng của những đội quân tinh nhuệ đến đó mong ổn định được tình hình. Nhưng kết quả mang lại thường là trái ngược, mỗi lần cử binh lính tới, không những không tiêu hao được lực lượng địch mà ngược lại bọn chúng ngày càng trở nên lớn mạnh thêm. Vì vậy khu vực đó có địa hình phức tạp, quân sĩ có đi mà không có về. Giờ đây lại thấy phía Moscow tỏ ý cung cấp viện trợ quân sự, cho điều động một lực lượng đặc nhiệm có kinh nghiệm tiễu trừ thổ phỉ đến làm trong sạch khu vực, đây chính là điều Amin hằng mong mỏi, quả là tin vui bất ngờ.

Lần đầu tiên Amin phá lệ mỉm cười với người Liên Xô, nói: “Xin mời quý vị hạ cố!”.

Nói chưa dứt lời, thì tiếng động cơ máy bay chiến đấu MiG đã gầm rú trên bầu trời Kabul, máy bay vận tải cỡ lớn kéo đến rợp trời. Lực lượng đặc nhiệm giàu kinh nghiệm tiễu phỉ cũng âm thầm xuất hiện.


Ngày hôm trước, các lực lượng đặc nhiệm được đưa đến Kabul, Amin đang nóng lòng chờ đợi thì nhận được bức điện mừng gửi đến từ Moscow. Đây chính là điện của Breznhev gửi đến, kỷ niệm một ngày ký kết “Hiệp ước hợp tác láng giềng hữu nghị Liên Xô-Afghanistan”. Trong bức điện này tuy vậy vẫn có thứ mà Amin thích thú “Liên Xô vẫn sẽ tiếp tục cung cấp sự viện trợ vô tư”. Các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu của Liên Xô còn đăng tải những tin sau:


“Ngài Amin được bầu làm Chủ tịch uỷ ban trung ương bảo vệ cách mạng toàn quốc, và nhận được sự ủng hộ nhiệt liệt của đại đa số nhân dân Afghanistan:, “Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và nhân dân Liên Xô thành thật chúc mừng và kiên trì ủng hộ”.

Amin thấy được sự chi viện từ người bạn đồng minh vĩ đại, nhìn thấy đội ngũ những chiến binh tiễu phỉ hùng hậu, ông ta hết sức cảm động, lắng nghe những lời tán tụng từ dòng Volga, nghe được những lời ca ngợi bản thân, ông ta trong lòng ngập tràn cảm giác tự mãn.


Liên Xô đã thành công trong việc ru ngủ Amin, họ cũng không tiếc sức tận dụng xu thế tình hình quốc tế nhằm đánh lạc hướng, tạo cái cớ để bố trí lực lượng quân sự. Trên mặt trận ngoại giao và tuyên truyền Kremlin không ngừng tiến hành công kích vào phương Tây, thổi phồng việc Liên Xô rút quân ra khỏi Đông Đức, phê phán kịch liệt sự kiện NATO bố trí tên lửa tầm trung tại Tây Âu. Một mặt cũng không ngừng công kích Pakistan, Mỹ và Trung Quốc phá hoại hoà bình và tiến hành hoạt động lật đổ tại Afghanistan, chỉ trích báo chí phương Tây đã bịa đặt, tung tin Liên Xô can thiệp vào công việc nội bộ Afghanistan, coi đây là sự phá hoại và làm tổn thương mối quan hệ hữu nghị anh em giữa hai đồng minh tự nhiên Liên Xô-Afghanistan.


Cho dù lúc này, cơ quan tình báo trung ương Mỹ biết rõ Liên Xô sẽ sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề Afghanistan, nhưng vào thời điểm này Washington cũng đang bối rối tháo gỡ việc khủng hoảng con tin giữa Mỹ và Hy Lạp. Trong lúc Afghanistan đang tìm cách thoát ra khỏi sự kiểm soát của Liên Xô, tại quốc gia láng giềng Hy Lạp âm ỉ ngọn lửa chống Mỹ. Ngày 16 tháng 1 năm 1979, quốc vương Baleve người đã giữ ngôi vị trong suốt 37 năm được xưng tụng là “minh quân”, khiếp sợ trước làn sóng biểu tình của nhân dân, đã hoảng hốt chạy trốn. Nhà độc tài coi Mỹ là chỗ dựa, lấy lực lượng cảnh sát mật làm công cụ đắc lực, đến hạ tuần tháng 10 khi đã cùng đường, ông mang theo khối tài sàn kếch sù đến Mỹ trị bệnh.


Ngày 4 tháng 9, học sinh Terheran giận giữ tìm đến trước cổng toà đại sứ Mỹ hô vang: “Trao trả Baleve! Xử tử Baleve!”,”Nước Mỹ chứa chấp tên tội phạm Baleve, giúp đỡ kẻ chống đối cách mạng Hy Lạp!”, “Dẫn độ Baleve về Hy Lạp, xét xử tại toà án cách mạng Hy Lạp”, trong tiếng hô khẩu hiệu rầm rộ, lúc 13 giờ, các học sinh phẫn nộ đã xông vào trong, sau đó chiếm lĩnh toà đại sứ Mỹ.


Hành động của sinh viên sau đó nhận được sự đồng tình của chính phủ Hy Lạp, phía Mỹ kịch liệt phản đối, yêu cầu phải trả tự do cho toàn bộ nhân viên sứ quán. Trong tình thế các nỗ lực ngoại giao không mang lại kết quả gì, ngày 9 tháng 11 tổng thống Mỹ Carter triệu tập phiên họp có sự tham dự của phó tổng thống, phụ tá an ninh quốc gia, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, chỉ thị cho họ nghiên cứu kế hoạch tác chiến giải cứu. Ngày 29 tháng 11 đội đặc nhiệm nhằm giải cứu này đã được chọn lựa.


Trong hoàn cảnh như vậy, nước Mỹ đành trơ mắt ếch bất lực ngồi nhìn Liên Xô bước chân vào Afghanista. Moscow đã nghe tiếng hô đầy phẫn nộ của sinh viên Terheran, nhìn thấy được diễn biến không ngừng leo thang của cuộc khủng hoảng con tin Mỹ-Hy Lạp, chụp được cơ hội trời cho can thiệp vào Afghanistan. Có điều, tuy rằng lúc này nước Mỹ không còn dư sức để quan tâm đến vấn đề Afghanistan nhưng vẫn kịp thời đưa ra lời cảnh báo tới Amin: “Gấu bắc cực đang đến”, “Bội đội đặc nhiệm Liên Xô đã đến”.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #92 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 09:39:07 am »

Lực lượng nòng cốt

Lực lượng đặc nhiệm Liên Xô là lực lượng tác chiến đặc biệt có quân số lớn nhất trên thế giới, với quân số có thể lên tới 600.000 người. Lực lượng này là sự tổng hợp của các hình thức tác chiến như chống bạo động, chống khủng bố, theo dõi, điệp báo và phản gián, ám sát bắt cóc tạo nên một thực thể với kết cấu cồng kềnh và thần bí, một viên thượng uý thuộc lực lượng này chạy trốn sang phương Tây đã miêu tả về lực lượng này như sau: “Lực lượng đặc nhiệm Liên Xô là lực lượng tác chiến mà phương Tây lo ngại nhất. Vào một buổi sáng sớm nào đó họ có thể bất ngờ xuất hiện trước cửa nhà bạn, cũng giống như danh tướng Haniban của Jataki cổ đại bất ngờ xuất hiện dưới chân thành Roma”.

Trên danh nghĩa lực lượng đặc nhiệm Liên Xô thuộc quyền quản lý của cơ quan tình báo Bộ Tổng tham mưu quân đội Liên Xô nhưng trong thực tế nó chịu sự lãnh đạo trực tiếp của cơ quan quyền lực cao nhất của Kremlin, do vậy nó còn có danh hiệu “đội quân nằm trong quân đội”.


Đội quân này đã bước ra từ trong lửa đạn của chiến tranh. Kể từ khi chế độ xã hội chủ nghĩa Xô Viết ra đời. Đảng Cộng sản Liên Xô đã nhận thức được tầm quan trọng của việc có một đội quân tác chiến đặc biệt có bản lĩnh chính trị vững vàng, đáng tin cậy, tiếp đó là việc xây dựng và sử dụng lực lượng tác chiến này được triển khai.


Năm 1918, Liên Xô thành lập “Đội kỵ binh nhiệm vụ đặc biệt”. Năm 1919, căn cứ vào quyết định của Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, “chi đội nhiệm vụ đặc biệt” được thành lập để phối hợp hành động với uỷ ban chống phản cách mạng toàn Nga (Trêca), lực lượng đặc nhiệm “Sư đoàn Jier Zenjis Jerzenskis” đầy uy lực, trong thời kỳ khó khăn trấn áp lực lượng bạch vệ đã lập được những chiến công rạng rỡ. Đến những năm cuối thập kỷ 20, lực lượng đặc nhiệm Liên Xô đã hình thành quy mô ban đầu, đã có một số đơn vị với một số loại hình khác nhau trực thuộc ngành an ninh quốc gia, trong đó bao gồm bộ đội biên phòng, lực lượng “Sư đoàn Jerzenskis” của Bộ Nội vụ và Cục Bảo vệ an ninh chính trị (Cục bảo vệ an ninh chính trị, tức uỷ ban an ninh quốc gia của Liên Xô cũ-tiền thân của KGB). Trong thời gian chiến tranh thế giới thứ 2, Bộ Tổng Tư lệnh tối cao Liên Xô còn thành lập thêm “Bộ tư lệnh trung ương phong trào du kích”, chỉ huy các chi đội làm nhiệm vụ đặc biệt thực hiện các hoạt động chiến tranh du kích, gián điệp, phá hoại, ám sát trong hậu phương quân Đức. Nhà bác học quân sự Liên Xô Papsilov chủ biên của tác phẩm “Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại” đã ca ngợi lực lượng đặc nhiệm như sau: “Trong thời kỳ chiến tranh, họ đã giết, làm bị thương và bắt sống hang vạn lính Đức, bọn gián điệp và quan chức chính quyền chiếm đóng. Họ đã làm lật nhào 18.000 đoàn tàu thiêu huỷ và phá hoại hàng vạn chiếc xe cơ giới và hàng vạn toa tàu và xe chở xăng dầu. Đã đánh mạnh vào tinh thần binh sỹ Đức, khiến chúng bàng hoàng lo sợ, ăn không ngon ngủ không yên”. Phía Liên Xô còn cho thành lập “lữ đoàn bộ binh cơ giới hoá độc lập” với biên chế 7.316 người, chia thành 212 phân đội. Trên mặt trận Xô-Đức họ xuất quỷ nhập thần, hoạt động rất hiệu quả. Trong vòng 4 năm của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, họ đã tiêu diệt được tổng cộng 140.000 tên địch, với thiệt hại nhỏ đã giành thắng lợi lớn. Thời kỳ cuối của cuộc chiến, khi Hồng quân tiến vào Berlin, họ lại quay sang khai chiến với Nhật Bản trên chiến trường Châu Á. Tập đoàn quân Liên Xô tại Viễn Đông đã thành lập “Chi đội công kích” và “Chi đội biệt phái đổ bộ đường không”, tham gia vào chiến dịch Viuễn Đông mùa hè mở ra ngày 9 tháng 8 năm 1945, đóng góp quan trọng vào thắng lợi hoàn toàn của cả chiến dịch.


Sau chiến tranh thế giới lần 2, Liên Xô vẫn giữ nguyên lực lượng chiến đấu hiệu quả này đồng thời không ngừng phát triển và sử dụng.

Qua những thập niên đầy biến động lực lượng đặc nhiệm đã trở thành lực lượng mạnh trong lực lượng vũ trang Liên Xô. Một tướng lĩnh cao cấp quân đội Liên Xô đã đánh giá trong một tạp chí chuyên ngành rằng: “Bộ đội đặc nhiệm giống như một lưỡi kiếm đã rút ra khỏi vỏ, vô cùng sắc bén, trong giờ phút nguy cấp nó thể hiện sức mạnh thần kỳ và to lớn vô song”.


Lực lượng đặc nhiệm này được cấu thành bởi kết cấu “chân kiềng”. Trong rất nhiều năm lực lượng này được bao phủ trong một bức màn bí mật. Những điều về nội bộ tổ chức này rất ít người được biết. Nhưng theo đà cuộc tấn công của Liên Xô vào Afghanistan cùng với sự kiện một vận động viên của Liên Xô đã giành được huy chương môn bơi thuyền trong thế vận hội lần thứ 19 rồi sau đó bị nhân viên phản gián Thổ Nhĩ Kỳ bắt giữ rồi sau đó đã đưa ra ánh sáng vụ này, tấm màn bí mật phủ trùm lên lực lượng này mới dần dần được gỡ bỏ.


Bộ đội đặc nhiệm Liên Xô có sự khác biệt rất lớn so với lực lượng đặc nhiệm của các nước khác. Nó không chỉ giới hạn trong lực lượng chính quy mà bao gồm cả KGB và ngành mật vụ. Ba mặt này của lực lượng đặc nhiệm đã tạo nên “thế chân kiêng” vững chãi gánh đỡ cơ cấu to lớn của lực lượng đặc nhiệm Liên Xô.


Lực lượng đặc nhiệm trong bộ đội chính quy dưới quyền chỉ huy của cơ quan tình báo Bộ Tổng tham mưu. Với biên chế khoảng 9 vạn quân, chia ra thành biên chế lữ đoàn, trung đoàn và đại đội.

Lữ đặc nhiệm: bao gồm 16 lữ, mỗi phương diện quân có một lữ phối thuộc, bao gồm 1 lữ bộ, một đại đội trực thuộc, từ 3 đến 4 tiểu đoàn dù và một số chi đội, biên chế quân số từ 1.000 đến 1.3000, có thể mở rộng trong thời chiến. Phương thức tiến hành nhiệm vụ là tập trung hoặc phân tán, khi phân tán thì có thể chia thành 135 tổ đặc nhiệm. Phương Tây cho rằng các lữ đoàn đặc nhiệm Liên Xô là lực lượng đe doạ chủ yếu. Đại đa số lực lượng này được bố trí đối diện với khu vực trung ương của khối NATO, tạo thành mối đe doạ trực tiếp liên tục. Các đại đội trực thuộc còn được gọi với các tên đại đội đối phó VIP, thành viên đều là quân nhân chuyên nghiệp, được đặt trong cấp báo động thường trực chiến đấu cao nhất, có thể xuất kích bất kỳ lúc nào. Nhiệm vụ duy nhất của họ là truy đuổi và ám sát nhân vật quan trọng của hàng ngũ địch, giới bình luận quân sự nước ngoài gọi họ là các “sát thủ máu lạnh”.


Lữ đặc nhiệm hải quân: có 4 lữ, phối thuộc cho 4 hạm đội hải quân. Một lữ gồm 1 lữ bộ, 1 đại đội trực thuộc, 1 đại đội tàu ngầm mi ni, 2 đến 3 tiểu đoàn người nhái, 1 tiểu đoàn dù, 1 đại đội thông tin và 1 chi đội chi viện. Để tránh bộc lộ tên thật, các thành viên của lữ đặc nhiệm hải quân có lúc mặc quân phục của hải quân lục chiến, có lúc lại mặc những kiểu quân phục khác. Lính dù thường mặc quân phục lính dù hải quân; đặc nhiệm trên tàu ngầm thông thường mặc quân phục của lính tàu ngầm; những người khác có thể mặc trang phục của lính hậu cần, pháo binh bờ biển hoặc đồ lính hoặc đồ sĩ quan.


Trung đoàn đặc nhiệm: có 3 trung đoàn, phối thuộc tại bộ chỉ huy tại 3 hướng chiến lược miền tây, miền tây nam và viễn đông mỗi nơi 1 trung đoàn. Trung đoàn bao gồm 1 trung đoàn bộ và 67 đại đội phá hoại, biên chế từ 700 đến 800 người.

Đại đội đặc nhiệm: có 41 đại đội, tại mỗi tập đoàn quân phối thuộc 1 đại đội. Đại đội gồm 1 đại đội bộ, 3 trung đội dù, 1 trung đội thông tin và một phân đội chi viện, biên chế 115 người, có 9 sĩ quan, 11 chuẩn uý và 95 chiến sĩ. Nhiệm vụ của đại đội là hoạt động trong vùng địch cách tiền tuyến từ 100 đến 150 km với đội hình xé lẻ thành các phân đội. Trung đội thông tin tới các tổ trong cự ly 1.000 km. Trong khi hoạt động trong vùng địch, một đại đội này có thể chia thành 15 tổ chia ra hoạt động, cũng có thể hợp thành đội hình thống nhất.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #93 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 09:43:00 am »

Ngoài ra, lực lượng đặc nhiệm Liên Xô còn bao gồm 20 phân đội đặc nhiệm tình báo và 12 phân đội trinh sát đặc nhiệm. Với 20 phân đội tình báo đặc nhiệm, tại mỗi phương diện quân hoặc hạm đội có một phân đội phố thuộc. 12 phân đội trinh sát đặc nhiệm trực thuộc cơ quan tình báo Bộ Tổng tham mưu. Nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng đặc nhiệm là: thu thập tin tức quan trọng bao gồm tin tức về vũ khí hạt nhân chiến lược, tên lửa chiến dịch chiến thuật, thiết bị tại sân bay và hải cảng, đầu mối giao thông và thông tin liên lạc, chuẩn bị bãi đáp cho máy bay trong vùng địch hậu, hoặc dẫn đường cho bộ đội phá huỷ kho vũ khí hạt nhân của địch hoạt động phá tuyến giao thông, thực hiện tấn công mang tính kiềm chế, bắt cóc, ám sát quan chức cao cấp địch.


Vũ khí trang bị thường dùng: một khẩu súng trường tiểu liên tiến công Kalasnikov 5.45 ly (AK-74, AKM-74 hoặc AKS-74), kèm đạn, 1 súng lục giảm thanh P6 9 ly, một dao găm đa năng, 6 quả lựu đạn hoặc 1 súng phóng lựu hạng nhe, lương thực và băng gạc cấp cứu. Khi độc lập tác chiến, thông thường 12 người trong một tổ, mang một điện đài R-350M mã hoá, chuyển phát nhanh. Căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể, mỗi tổ có thể được trang bị thêm một ống phóng rocket RPG-7D, tên lửa đối không vác vai “J-2” (phương Tây gọi là SAM-7), mìn định hướng, bộc phá. Lực lượng đặc nhiệm chưa được trang bị các vũ khí hạng nặng nhưng khi hoạt động trong lòng địch, các tổ có thể cướp xe tăng, xe bọc thép hoặc xe cộ các loại của địch. Lúc này, họ thậm chí mang quân phục quân đội địch. Trong hàng loạt các cuộc diễn tập, lực lượng này sử dụng xe mô tô và xe ô tô địa hình hạng nhẹ chế tạo đặc biệt. Về sau này, lực lượng đặc nhiệm hải quân còn được trang bị một số loại vũ khí mới. Chẳng hạn tàu ngầm tiên tiến nhất “quái vật” tàu đệm khí lớp “Ngỗng”, “Xe tăng dưới biển”-tức tàu ngầm mi ni.


Lực lượng đặc nhiệm Bộ Nội vụ do Bộ Nội vụ chỉ huy, trực tiếp chịu trách nhiệm với bộ thống soái tối cao. Biên chế 260.000 người, theo cơ cấu sư đoàn, trung đoàn bộ binh cơ giới. Nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ lãnh đạo cao cấp của cơ quan Đảng, chính quyền và đảm bảo an ninh cho các chuyến thăm của nguyên thủ nước ngoài, bảo vệ an ninh tại một số mục tiêu quan trọng như cơ quan Đảng, chính quyền, sân bay, cơ quan nghiên cứu, nhà máy điện, trung tâm thông tin hoặc tham gia chống bạo loạn. Phạm vi của các hoạt động tác chiến thường không vượt ra ngoài biên giới quốc gia hoặc các nước thuộc phe “xã hội chủ nghĩa". Về sau nhiệm vụ được mở rộng sang cả lĩnh vực chống khủng bố. Trong đó phải kể đến lực lượng tinh nhuệ được hết sức giữ bí mật đó là “Đội hành động đặc biệt”. Ngày 8 tháng 3 năm 1987, một chiếc máy bay chở khách động cơ phản lực TU-154, chở theo 76 hành khách bay theo tuyến Yakutzk đến Leningrad thì bị 11 kẻ khủng bố bắt cóc. Máy bay hạ cánh xuống một sân bay quân sự tại Leningrad, “đội hành động đặc biệt” được lệnh xuất kích. Trong trang phục các thợ máy làm nhiệm vụ tiếp dầu, nạp điện máy bay, họ xông vào trong khoang, tiếp đó là màn đấu súng quyết liệt diễn ra. Chỉ trong vòng một phút, 5 tên không tặc bị bắn hạ, 6 tên còn lại bị bắt, cuộc giải cứu thành công. Bộ đội đặc nhiệm KGB là chiếc “chân kiêng lớn nhất trong “thế chân kiềng” của lực lượng đặc nhiệm Liên Xô, biên chế khoảng hơn 300.000 người, còn nhiều hơn toàn bộ lực lượng vũ trang của một quốc gia thông thường. Lực lượng này không chịu sự chỉ huy của Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng tham mưu mà báo cáo trực tiếp với tổng hành dinh KGB tại Moscow, tiếp đó tin tức được nhanh chóng chuyển sang điện Kremlin. Nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng này là bảo vệ điện Kremlin và các mục tiêu quan trọng của nhà nước, bảo vệ đường biên giới, chống bạo loạn và thực hiện “những nhiệm vụ nhạy cảm” tại nước ngoài.


Trong KGB, các đơn vị đảm nhiệm công tác đặc biệt gồm có: cục 7 KGB, tức cục bộ đội biên phòng. Cục này có binh lực tinh nhuệ cấp sư đoàn hoặc trung đoàn cấp 1, trong đó có “Sư đoàn Terzenskis” nổi tiếng. Nghe nói cục bộ đội biên phòng có khoảng 7 sư đoàn như vậy. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là dẹp bạo động trong nước hoặc thực hiện hoạt động tác chiến đặc biệt ở ngoài nước. Trong lực lượng tấn công vào cung điện Daruraman của Afghanistan lần này có một bộ phận thuộc quân số của cục 7 KGB.


Cục 3 KGB, tức cục tình báo bộ đội vũ trang. Cục này có một bộ phận đặc nhiệm chuyên trách theo dõi quân đội. Căn cứ mệnh lệnh của Kremlin, họ gài người vào các cơ quan chỉ huy cấp một của các quân chủng hải lục không quân, thông qua một loạt các cơ cấu phối thuộc nằm trong các đơn vị của lực lượng vũ trang (bao gồm lực lượng đặc nhiệm Bộ Nội vụ và đặc nhiệm KGB), qua các “phòng đặc biệt” để hoàn thành những nhiệm vụ đặc biệt này, đây chính là “tai mắt tự động để KGB kiểm soát quân đội.


Cục 1 KGB, tức là cục hoạt động đối ngoại. Trong cục này có một “nhóm chấp hành nhiệm vụ” chuyên thực hiện các “sứ mạng đặc biệt quan trọng” như ám sát, bắt cóc, phá hoại, các cơ quan tình báo nước ngoài gọi họ là lực lượng đặc nhiệm “chuyên lo việc riêng”.


Vũ khí trang bị của lực lượng đặc nhiệm KGB cũng khác với những lực lượng bình thường. Ngoài súng ngắn, súng trường tiểu liên tấn công, súng bắn tỉa, súng máy và các loại vũ khí hạng nhẹ khác, họ còn được trang bị các loại trang bị đặc trưng khác như xuồng cao tốc, máy bay trực thăng,xe bọc thép, xe tuần tiễu bọc thép, xe chở quân, pháo kính nhìn đêm, đèn pha, thiết bị báo động và liên lạc, rada, thiết bị theo dõi giám sát và các loại vũ khí trang thiết bị hạng nặng khác.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #94 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 09:53:59 am »

Họ chính là những dũng sĩ trên thao trường

Các chuyên gia quân sự phương Tây cho rằng, trong trường hợp chiến tranh xảy ra, lữ đặc nhiệm “đối phó VIP” của Liên Xô sẽ được tung vào cuộc, toả đi khắp hướng ám sát các nguyên thủ, lãnh đạo của thế giới phương Tây. Nhưng chiến sĩ bí mật đó rời khỏi căn cứ, hoá thân thành các vận động viên tham dự vào đội hình “đội thi đấu thể thao”, tiến hành huấn luyện đặc biệt, sau đó họ đàng hoàng dấn thân vào thế giới phương Tây. Người vận động viên Liên Xô đoạt huy chương vàng đua thuyền tại Thế vận hội chính là một nhân vật đáng sợ kiểu như vậy.


Để hoàn thành tốt nhiệm vụ đặc biệt, quá trình tuyển chọn thành viên cho đội đặc nhiệm hết sức nghiêm khắc, ngoài sự khoẻ mạnh về thể lực và sự dũng cảm thông minh, điều chủ yếu là đáng tin cậy về bản lĩnh chính trị. Công tác tuyển chọn thông thường được tiến hành trước khi tân binh thực hiện nghĩa vụ quân sự của họ. Sau khi tuyển quân, tân binh được phân loại dựa trên yếu tố chính trị thể chất và trình độ văn hoá. Những người ở đẳng cấp cao được đưa vào lực lượng bảo vệ điện Kremlin, lực lượng thông tin tổng hành dinh KGB, lực lượng đặc nhiệm và lực lượng biên phòng KGB. Do vậy, lính đặc nhiệm có thể được chọn từ những người xuất sắc nhất, thậm chí có thể tuyển lựa từ lính dù, lính tên lửa chiến lược, lính trên tàu ngầm hạt nhân và các lực lượng tinh nhuệ khác. Sau khi tân binh được đưa vào trong hàng ngũ lính đặc nhiệm họ phải trải qua sự huấn luyện ngắn ngủi căng thẳng và được sàng lọc. Những hạt giống ưu tú, được đưa đến các tiểu đoàn huấn luyện bộ đội tác chiến và tham gia huấn luyện, ra khỏi đây họ đã trở thành các quân nhân chuyên nghiệp. Các đại đội trực thuộc của trung đoàn, lữ đoàn và “đại đội đối phó VIP” là hạt nhân của lực lượng đặc nhiệm, họ được lựa chọn từ các vận động viên, từ các quân binh chủng, các địa phương và nước cộng hoà khác nhau. Những người được chọn sẽ được biên chế vào các đại đội trực thuộc trung đoàn, lữ đoàn, được huấn luyện bài bản các khoa mục từ phá hoại, ám sát v.v… Những người này đều là quân nhân viên chuyên nghiệp.


Quá trình huấn luyện diễn ra vô cùng gian khổ, căng thẳng. Những người giáo viên huấn luyện đều mong muốn đào tạo ra những chiến sĩ có nghị lực vững vàng, dũng cảm, mưu trí, nếu có năng khiếu về ngoại ngữ thì càng tốt. Trong giai đoạn tập luyện ban đầu khoa mục rèn luyện sức bền với bài tập mang mặt nạ phòng hoá chạy vòng quanh tường thành cự ly 30 km. Nếu có ai đó không trụ được, định gỡ bỏ mặt nạ hít thở không khí tự nhiên, thì tất cả toàn đội lại phải bắt đầu bài tập từ đầu. Tiếp đó, họ được học các khoa mục như nhảy dù, đấu võ tay không, kỹ năng ám sát, phá nổ, tung tin tạo dư luận. Trong huấn luyện nhảy dù, bài tập không phụ thuộc là ngày hay đêm, khu vực, thời tiết, bao gồm kỹ năng nhảy từ độ cao lớn, mở dù trên cao hoặc độ cao lớn, mở dù thấp.


Đối với các vận động viên chuyên nghiệp, được huấn luyện theo đội hình tổ, các khoa mục chủ yếu là huấn luyện thể lực, ngoại ngữ, nghiên cứu địa hình khu vực có thể diễn ra hoạt động tác chiến (khi ra nước ngoài thi đấu thể thao), kỹ thuật liên lạc và nổ phá.

Các nhân viên điệp báo mật được huấn luyện từng cá nhân tại trung tâm huấn luyện đặc biệt. Các khoa mục chủ yếu là bảo mật, liên lạc, phá hoại và hợp tác theo đội hình nhóm.

Những chiến sĩ đặc nhiệm có thể được bất ngờ bị báo động tập hợp vào lúc đêm khuya, họ lên máy bay, nhảy dù xuống những khu vực hoang vắng không có dấu chân người, của vùng Xibêri. Sau đó họ phải đi qua chặng hành trình dài để đến được nơi cần đến, thậm chí với khoảng cách vài nghìn cây số. Tại điểm đến, đã có một đơn vị lính gác KGB tinh nhuệ thường trực, lực lượng đặc nhiệm bắt buộc phải “đánh bại” kẻ thù. Có thể thấy rằng hình thức huấn luyện này rất gần thực tế và cũng rất quan trọng. Hình thức huấn huyện này có tác dụng kép. Một là, huấn luyện kỹ năng chiến thuật cho lực lượng đặc nhiệm, hai là có thể nâng cao tinh thần cảnh giác của lực lượng quân đội trong khi làm nhiệm vụ, nhằm đối phó hiệu quả một cuộc xâm lăng thực sự. Nhưng cái giá phải trả cho hoạt động tập luyện này là khá nhiều mạng sống của các chiến sĩ trẻ tuổi. Trong những bài tập như vậy, thương vong thường xuyên xảy ra.


Khi xảy ra chiến tranh, lực lượng đặc nhiệm được néo vào vùng sau lưng địch khoảng 500 km, tiến hành trinh sát luồn sâu vào các hoạt động địch hậu. Nhằm nâng cao tính sát thực trong huấn luyện, lực lượng này thường được đưa đến những vùng đất có địa hình rất giống chiến trường giả định trong tương lai. Như vùng bờ biển Pore có địa hình rất giống miền Bắc nước Đức. Họ phải tấn công vào khu căn cứ dựng theo mô hình căn cứ quân sự NATO, những căn cứ này được lực lượng bảo vệ ăn mặc trang phục quân đội NATO canh phòng. Khu căn cứ có đủ các mô hình tàu tuần dương quét mìn của Mỹ, bệ phóng tên lửa, máy bay chiến đấu F1G và các mô hình được bơm hơi khác. Những căn cứ và mô hình huấn luyện như vậy tạo cho lực lượng đặc nhiệm cảm giác như tham gia trận đánh thực sự.
Một khi cuộc chiến nổ ra, những chiến binh này sẽ mang trên người quân phục quân đội NATO, luồn sâu vào sau lưng địch tung tin đồn nhảm, phát đi các mệnh lệnh giả hoặc sử dụng những thủ đoạn tinh vi khác. Phương Tây luôn không dám coi nhẹ mối hiểm hoạ này. Nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Anh, tướng hải quân Norden đã từng đánh giá rằng: “Có khoảng 1.000 lính đặc nhiệm Liên Xô biết nói tiếng Anh xâm nhập được vào Dableden, khi chiến tranh xảy ra sẽ gây khó khăn rất lớn cho tác chiến của quân ta”.


Các cuộc diễn tập huấn luyện của lực lượng đặc nhiệm Liên Xô có thể được coi là đáng sợ, có thể thấy được phần nào điều này qua cuộc diễn tập mùa hè diễn ra tại trung tâm huấn luyện tại Kilovgl của Liên Xô.

Lúc này trên thao trường, một chiếc xe tăng hạng trung T-72 đang nhả khói ầm ầm, phát ra tiếng động cơ chói tai, lao thẳng vào những người lính đặc nhiệm trên mặt đất. Khi các chiến sĩ đứng dậy sau khi hàng bánh xích chạy sát qua, trên người và mặt mũi họ bám đầy muội khói và bụi đất. Cơ bắp toàn thân thì căng cứng với những tiếng kêu “vo vo’” trong lỗ tai. Không nói gì người nằm dưới đất cho xe chạy qua, ngay cả người xem cũng cảm thấy dựng tóc gáy.


Người sĩ quan chỉ huy phất lá cờ hiệu, những người lính lại thi nhau nhảy xuống lòng chiến hào bằng bô tông. Lúc này, chiếc tăng đã vòng trở lại và lao tới, chạy qua chạy lại trên mặt chiến hào. Chiếc tăng chạy vài vòng rồi bất thần nhả đạn về phía trước những người lính. Sau những tiếng “ầm… ầm… “, những quả đạn nạp xăng đặc bốc lửa đùng đùng. Các chiến sĩ vội vàng lôi từ trong ba lô ra những bộ quần áo bảo hộ, mặc lên người chỉ trong mấy giây, rồi ôm súng lao vào biển lửa đang réo ào ào. Khi họ thoát ra khỏi biển lửa trước mặt họ bây giờ  là những lớp rào dây thép gai. Họ nằm dán xuống đất, cố gắng bò qua từng lớp rào. Mặt mũi, tay chân, mình mẩy họ đầy những vết cào xước của dây thép gai.


Trên không trung lại vang lên tiếng động cơ máy bay, mấy chiếc máy bay ném bom rà thấp qua đầu, mấy quả bom cỡ lớn rơi xuống toà nhà cao tầng phía dưới, khói lửa nhanh chóng trùm kín cả toà nhà. Những người lính lao đến trước toà nhà, bám vào gờ cửa sổ, như những con vuợn họ thoăn thoắt leo lên sân thượng cao 30 m. Bị lửa thiêu, toà nhà sụp xuống dần. Những chiến sĩ đang bị lửa vây bọc trên sân thượng rút từ eo lưng ra một cuộn dây, buộc một đầu vào tháp nước, sau đó bám lấy chiếc dây thừng đung đưa tụt nhanh xuống. Khi họ vừa rời khỏi toà nhà thì “Ầm!...” dội lên một tiếng động lớn, cả toà nhà đổ sụp trong đám bụi lửa.


Có thể thấy rằng trên thao trường những chiến sĩ đặc nhiệm Liên Xô quả xứng đáng là những dũng sĩ, trong chiến đấu họ sẽ là những mãnh hổ tả xung hữu đột.

Và giờ đây những con hổ đó đã xuống núi.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #95 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 08:48:11 am »

Cương như kết hợp

Lại nói đến Amin sau khi nhận được lời cảnh báo đã lập tức quay sang từ chối sự giúp đỡ “vô tư” của Liên Xô. Ông ta sai cháu trai của mình, Asabdula người lãnh đạo lực lượng cảnh sát mật quốc gia và phụ trách an ninh, tình báo trong nước cử người đi huỷ bỏ kế hoạch nhờ Liên Xô cử đặc nhiệm tiễu trừ lực lượng vũ trang Hồi giáo. Nhưng phía Liên Xô đã đáp lại rằng: “Một khi đã đến thì sẽ ở lại”.


Đầu tháng 12, Phó Bộ trưởng thứ nhất Bộ Nội vụ Liên Xô Trung tướng Papudin vội vã đưa đến một đoàn người. Khi đến Kabul, ba lính đặc nhiệm của blu được giao trách nhiệm đi theo làm vệ sĩ. Mục đích chuyến đi nhằm “giải toả sự hiểu lầm, tăng cường tình hữu nghị, hợp tác, thực hiện kế hoạch". Mục đích chủ yếu chính là thuyết phục Amin chính thức có mời Hồng quân đến giúp tiễu phỉ. Vừa gặp được Amin, viên Trung tướng đã nói ra câu nói ở trên, mang hàm ý, anh mời, chúng tôi sẽ đến, anh không mời thì chúng tôi cũng vẫn đến và sẽ không đi mà sẽ cắm trại ở lại. Trước đó, khi viên Trung tướng chân ướt chân ráo đến được Kabul, Amin đã từ chối không tiếp. Mãi đến ngày 11 tháng 12, ông ta mới chịu hỏi han ông bạn già vài câu: “Xin lỗi, do công việc quá bận, ông bạn cố gắng chờ thêm vài ngày nữa, tôi mới đến gặp được”.

“Cái gì, tại sao lại có chuyện đối đãi khách như vậy? Ông còn phải là người Afghanistan nữa hay không? Tôi đến đây hoàn toàn là vì ông, vì Afghanistan?”.

Trung tướng Papudin cố ghìm cơn giận, cố gắng nài nỉ.

Cuối cùng, Amin miễn cưỡng đón tiếp vị khách quý người Liên Xô, Amin tỏ ra cương quyết, không hề để ý gì đến sự cố gắng, thuyết phục của Papudin. “Xin lỗi ngài Trung tướng. Tôi đa được lĩnh giáo đôi chút sự giúp đỡ vô tư của quí quốc rồi. Lúc này, sân bay quân sự tại Kabul đã đỗ đầy máy bay các ngài viện trợ, dưới sự chỉ đạo của chuyên gia quân sự và cố vấn của các ngài các xe tăng của chúng tôi đang trở thành những đống sắt gỉ, dưới sự chỉ đạo của cố vấn quân sự Liên Xô sư đoàn 7 và sư đoàn 8 của chúng tôi đang “kiểm tra lại đạn được”, trên thực tế là đã loại bỏ sức chiến đấu của hai sư đoàn này”.


Bị dồn vào thế bí, Papudin đành ứng biến: “Tôi đến đây chính là để xử lý các vấn đề liên quan đến kỹ thuật. Sự lệch lạc hoặc phối hợp thiếu đồng bộ về kỹ thuật là khó tránh khói”.

Amin dồn tiếp: “Không, sự gỡ rối của các ngài, càng càng rỡ càng rối. Xin hãy rút toàn bộ cố vấn quân sự của các ngài. Cảnh vệ, tiễn khách”.

Papudin tức phát điên, nhưng vẫn cố gắng chịu đựng để không rút súng. Vì rằng, trong chuyến đi với trọng trách được giao làm Tổng chỉ huy hoạt động của quân đội Liên Xô tại Kabul, Trung tướng Papudin có những toan tính sâu sa riêng. Là một chuyên gia điệp báo lão luyện, đã từng tổ chức thành công nhiều cuộc đảo chính tại khu vực các nước Hồi giáo Trung Á. Sự tôi luyện qua thử thách cam go, khả năng vận dụng quỷ kế, khiến ông ta hết sức thành thạo lão luyện trong khả năng vạch ra kế hoạch chính biến cũng như nắm vững thời cơ. Lúc này đây ông đang dự định một kế hoạch lớn, theo chỉ thị của cấp trên. Lúc 24 giờ ngày 27 tháng 12, nhất định sẽ giải quyết xong vấn đề Amin để cho người kế nhiệm bước lên thay thế. Còn để giải quyết được Amin chỉ có 2 con đường bạo lực và phi bạo lực, xuất phát từ lợi ích của Moscow thì phương thức phi bạo lực rõ ràng là thượng sách. Vậy là Papudin đã ngấm ngầm vạch ra một loạt biện pháp đe doạ, gây áp lực, khiến Amin sẽ phải chủ động xin từ chức, chính quyền tại Afghanistan sẽ được chuyển giao một cách hoà bình. Chẳng thế mà, sau hơn một tháng hoạt động đầy hiệu quả đã khiến Amin phải tự co lại trong chiếc lồng sắt hiện đại là hoàng cung Daruraman này và rơi vào thế bó tay chịu trói. Bước tiếp theo của kế hoạch là ông ta sẽ thân chinh ra tay, vào thẳng hoàng cung, lấy lý lẽ để “giác ngộ” cho Amin ép ông ta ký vào đơn xin từ chức. Sau đó ông sẽ lấy tư cách Anh huùn Liên Xô đưa Amin trở về Moscow, tặng “món quà mừng năm mới” này lên Tổng bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Breznhev. Tất nhiên, là một chuyên gia vạch kế hoạch lão luyện, ông ta cũng chuẩn bị sẵn phương án dự phòng đó là sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề. Để thực hiện điều này, ông ta đã cho điều đến Kabul số lượng lính đặc nhiệm đáng kể, đồng thời tại vùng biên giới Liên Xô-Afghanistan cũng đã ém sẵn 100.000 quân để đề phòng bất trắc. Lúc này trong suy nghĩ của vị Thứ trưởng thứ nhất Bộ Nội vụ, khả năng giải quyết bằng biện pháp phi bạo lực là chắc ăn đến chín phần mười. Do đó ông mang theo một lực lượng nhỏ các lính bảo vệ, tiến vào hoàng cung, trong tư thế khá hiên ngang và dũng cảm.


Nhưng vào lúc này đây, ông ta đang phải thầm trách mình đã không mang thêm lực lượng bảo vệ đến. Vị khách không mời lại tiếp tục xuất hiện tại cổng lớn cửa hoàng cung.

Để giảm bớt số người tháp tùng, minh cho Papudin vào gặp tại phòng khách tại tầng ba. Vừa ngồi xuống viên Trung tướng đã liên tục nói rằng: “Lúc này đây các thế lực của chủ nghĩa đế quốc đang ráo riết xâm nhập vào nước láng giềng tự nhiên của chúng tôi đồng thời chúng còn tung tin đồn nhảm, kích động chia rẽ quan hệ hữu nghị giữa hai nước. Xin tha lỗi vì tôi đã nói thẳng, chính quyền hiện tại không đủ sức để ngăn chặn sự lộng hành của các thế lực vũ trang chống đối và sự xâm nhập của các thế lực của chủ nghĩa đế quốc. Xin hãy đừng đánh mất niềm tin và sự ủng hộ thông tin lớn của Liên Xô. Đồng chí Amin, trong thời gian ông toàn quyền lãnh đạo Afghanistan, đã thực hiện đường lối cơ hội dựa dẫm vào chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Do đó, phía mođ cho rằng ông đã đánh mất tư cách lãnh đạo đất nước và nhân dân Afghanistan…”.


Amin không đợi ông ta nói hết, đã sôi sục tức giận, đứng vụt dậy, các vệ sĩ sau lưng ông ta cũng dãn ra đề phòng.

“Phải làm gì đây? Moscow vẫn không chịu từ bỏ ý định tiêu diệt ta, nhất định phải đưa quân đội đến. Nước Mỹ đã thông báo tin tức tình báo chính xác, hàng trăm ngàn quân Liên Xô đang tập kết áp sát biên giới. Muốn tính kế hoãn binh thì phải làm gì?”.


Amin do dự không quyết

Papudin liếc mắt ra hiệu cho một phụ tá, anh này mở chiếc cặp da đen mang theo, đưa tay vào trong. Rất nhanh, người vệ sĩ đứng sau Amin cho rằng đối phương đang rút súng, chỉ thấy Amin quay người lại, người vệ sĩ đã rút ra khẩu tiểu liên cỡ nhỏ kiểu mới do Thuỵ Điển chế tạo, có kèm băng đạn 30 viên, tốc độ bắn 10 phát/giây, trong nháy mắt viên trung tướng và ba phụ tá ngã gục trong vũng máu.

Lúc này, ở tầng dưới vang lên tiếng súng nổ quyết liệt, cuộc đấu súng diễn ra giữa những bảo vệ của Papudin và lính gác. Cuối cùng chỉ có ba lính Liên Xô chạy thoát. Ba người đó chính là thành viên của đội đặc nhiệm.

Trong lúc Amin vì chọc vào tổ ong mà đứng ngồi không yên, vị đại sứ Liên Xô tươi cười tìm đến xin lỗi: “Thưa ngài tổng thống kính mến, thật vô cùng xin lỗi. Tôi thay mặt chính phủ và Tổng bí thư Breznhev trịnh trọng tuyên bố, những hành động của Papudin trong hoàng cung của ngài, hoàn toàn là hành vi cá nhân một cách thô bạo, hoàn toàn không đại diện cho ý muốn của chính phủ Liên Xô. Ngoài ra, để thể hiện sự chân tình, chính phủ nước tôi đã quyết định khoản viện trợ năm nay cho Afghanistan sẽ tăng thêm 20 triệu rúp trên con số cũ”.

Tiễn viên đại sứ ra về, Amin thấy đầu óc trống rỗng, ông ta hiểu rằng khó thoát khỏi tai hoạ.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #96 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 08:50:17 am »

Câu chuyện ân oán

Tại sao Liên Xô lại dành cho Amin và đất nước Afghanistan sự quan tâm đặc biệt như vậy. Đây là cả một câu chuyện dài.

Nghe nói, Pie Đại đế của nước Nga, Sa Hoàng, trước phút lâm chung đã có bản di chúc, viết rằng: Cho dù là bất kỳ ai kế vị ngai vàng cũng phải gắng sức tiến về phía Nam đến Ân Độ. Vì nước Nga có thể tự do đi vào Ấn Độ Dương, thì nó có thể thiết lập sự thống trị về quân sự và chính trị của nó trên toàn thế giới. Đường xuống phía Nam của nước Nga chỉ gồm 3 con đường:

Con đường thứ nhất, từ biển Đen qua eo biển của Thổ Nhĩ Kỳ đến Địa Trung Hải.

Con đường thứ hai, từ phía Nam qua Hy Lạp đến vịnh Pecxich.

Con đường thứ cuối cùng là từ Trung Á qua Afghanistan đến biển Ả Rập.


Ai cũng hiểu một điều con đường thứ ba là con đường ngắn nhất. Sau này các Sa hoàng cũng nhiều lần mở rộng bá quyền, giành giật quyền kiểm soát đất nước Afghanistan bởi vì mảnh đất này thật là quí giá. Nhưng dân tộc này cũng có tinh thần bất khuất và tâm lý báo thù quyết liệt cho nên nơi đây còn được mệnh danh là “sân đá gà” của vùng Trung Á.


Chữ Afghanistan trong ngôn ngữ Pashtuns cổ có nghĩa là người miền núi, những người ở cùng lục địa Trung Á quen gọi họ là “Nước của người miền núi”. Nó nằm ở vị trí miền Trung phía Tây của Châu Á, Tây giáp Hy Lạp, Bắc giáp Turkmenistan, Tarjikistan, Uzebekistan (3 nước cộng hoà thuộc Liên bang Xô viết trước đây), phía đông và nam giáp Pakistan, phía đông bắc có một dải đất hẹp tiếp giáp với vùng Tân Cương Trung Quốc. Tổng diện tích đất nước là 65.230 nghìn km2, đường biên giới dài 5.412 km, dân số 16.120.000, đây là một quốc gia lục địa điển hình.


Trong lịch sử, đất nước này đã từng đóng vai trò đường giao thông quan trọng giữa đại lục Âu Á, có vị thế quan trọng trong sự buôn bán, mậu dịch và giao lưu văn hoá giữa Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia Tây Á. “Con đường tơ lụa” nổi tiếng trong lịch sử đã đi qua đây.


Về mặt địa lý, Afghanistan nằm giữa cao nguyên Pamirs và cao nguyên Hy Lạp. Trong lãnh thổ là núi cao dựng đứng, sa mạc rộng lớn. Núi và cao nguyên chiếm 4 phần 5 tổng diện tích toàn quốc. Dãy núi Hindu Kush lớn nhất thế giới chạy từ đông bắc sang tây nam, kéo dài suốt 1.200 km nằm vắt ngang lãnh thổ, chia đất nước thành ba khu vực tự nhiên, miền trung núi non, miền bắc bình nguyên và địa hình cao ở tây nam. Afghanistan nằm ở dải khí hậu đại lục khô hanh, đặc điểm khí hậu là có sự chênh lệch lớn giữa nóng và lạnh, khô và ẩm.


Sự keo kiệt của Thượng đế đã khiến mảnh đất này trở nên khô cằn và đầy tai ương, đã từ lâu Afghanistan là quốc gia khá lạc hậu trong số các nước đang phát triển của thế giới thứ 3. Nhưng chính môi trường tự nhiên khắc nghiệt cũng tạo cho con người nơi đây những cá tính đặc biệt. Tại Afghanistan dường như tất cả đều tuân thủ chuẩn mực “Pashtuns”. Có nghĩa là mỗi một cá nhân đặc biệt là đàn ông đều biết cả văn lẫn võ, nhiệt tình, hiếu khách thích giúp đỡ người khác, báo thù đến cùng và cũng thiện chiến kiêu dũng.


Trong trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Afghanistan trở thàn một quân cờ quan trọng. Những năm 50 khi xảy ra cuộc xung đột giữa Afghanistan và Pakistan, Liên Xô kiên quyết ủng hộ Afghanistan, đánh lại Pakistan thân Mỹ, quan hệ Liên Xô-Afghanistan do vậy mà được tăng cường. Breznhev lên nắm quyền đã gia tăng sự kiểm soát và can thiệp vào Afghanistan. Trên bàn cờ của Moscow Afghanistan đóng vai trò quan trọng không thể coi nhẹ. Trong cuộc chiến Xô-Mỹ, nếu ở thế phòng thủ, Afghanistan sẽ là tấm bình phong phòng thủ tự nhiên phía nam; nếu ở thế tấn công đó sẽ là bàn đạp tiến về phía nam. Vào thập kỷ 70, Liên Xô đang ở thế tấn công, ý đồ của Moscow là biến Afghanistan thành trận địa tiền duyên có thể tiến có thể lùi, hướng về phía Nam có thể mở ra con đường xuống Ấn Độ Dương, về phía Tây có thể uy hiếp vùng sản xuất dầu mở Trung Đông, qua đó có thể đánh vu hồi bao vây châu Âu, điều này phù hợp với chiến lược Thái Bình Dương, nhằm đạt đến mục tiêu cuối cùng là ngăn chặn mục tiêu bá chủ thế giới của Mỹ.


Nhưng sự thật thường đi ngược lại mong muốn. Những năm cuối thập kỷ 60, quốc vương Muhammad Zahir Shad của Afghanistan không còn muốn nghe theo sự sắp đặt của “Con gấu bắc cực” chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, trung lập, cùng tiếp nhận viện trợ của cả Liên Xô và Mỹ, giữ thế cân bằng giữa hai siêu cường này. Điều này khiến phía Liên Xô rất đau đầu, âm thầm nuôi dưỡng kẻ thay thế nằm trong giới quân sự, chờ cơ hội thích hợp sẽ loại bỏ kẻ cứng đầu quốc vương Muhammad Zahir Shad. Mùa hè năm 1973, quốc vương Muhammad Zahir Shad hào hứng sang châu Âu du lịch nghỉ ngơ. Nào ngờ, trong khi ngài còn đang say sưa thưởng thức, du ngoạn phong cảnh hữu tình của châu Âu, thì “vị đại sứ lật đổ” Thiếu tướng Rocasky, bí mật đến Kabul. Vài ngày say, cựu thủ tướng Afghanistan Muhammad Daoud, được sự ủng hộ của nhóm sĩ quan trẻ hăng máu đã tổ chức cuộc đảo chính. Muhammad Doud trở thành tổng thống nước Cộng hoà Afghanistan. Đúng vào lúc người Liên Xô có thể cảm thấy yên tâm tại Afghanistan thì Muhammad Doud lại quay ngoắt 180, quay sang thân thiện với Mỹ. Sau đó năm năm, kịch bản cũ lại tái diễn, lần này người lên nắm quyền là nhân vật mà Moscow rất toại nguyện, Tổng bí thư đảng dân chủ Noỏ Muhammad Taraki. Vị tổng thống này bê nguyên xi nguyên mẫu lịch sử vào Afghanistan. Vài tháng sau tháng 12 năm 1978, Liên Xô-Afghanistan ký kết văn bản quan trọng “Hiệp ước hợp tác láng giềng thân thiện”, hai bên có hợp tác toàn diện trên mọi mặt như chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá. Kiểu hợp tác này, hay cũng là Xô hoá hoàn toàn. Quốc kỳ của Afghanistan cũng được sửa thành một màu đỏ như Liên Xô, các cánh cửa của các ngôi nhà trên đường phố Kabul cũng được quét màu đỏ, cả thủ đô trở thành “hải dương đỏ”. Người dân Afghanistan vốn có ý thức dân tộc, bị đè nén lâu ngày ngọn lửa âm ỉ lâu ngày cuối cùng đã bùng phát, ngọn lửa chống đối lan rộng khắp đất nước, các cuộc bạo động của giới quân sự, khởi nghĩa của nhân dân, ngọn lửa phẫn nộ thậm chí uy hiếp cả tính mạng của các cố vấn quân sự và chuyên gia Liên Xô cùng gia đình của họ. Thêm vào đó là sự bất hoà và mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền mới ngày càng sâu sắc, cuối cùng đã trở thành sự đối đầu giữa hai nhà lãnh đạo tổng thống Taraki và phó tổng thống, thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Amin. Trong cuộc chiến đấu sống mái này, thế lực của Amin ngày càng lớn mạnh, dần dần đã thâu tóm quyền lực quân sự và chính trị tại Afghanistan. Taraki và đại sứ Liên Xô thảo luận tìm biện pháp chuẩn bị gạt bỏ Amin. Nào ngờ, Amin đã ra tay trước, bắt gọn toàn bộ số tay chân thân tín của vị tổng thống, cuối cùng Taraki bị giết trong phòng giam bí mật.


Sau khi lên nắm quyền, Amin, con người mang tính cách phục thù mạnh mẽ của người Pashtuns đã đến tận điện Kremlin thể hiện sự giận dữ: “Hãy rút quân đội, thay đại sứ”. Ông ta còn sử dụng những biện pháp kiên quyết, sử dụng người cháu của mình là Asabdula, giành lại quyền kiểm soát lực lượng cảnh sát, tình báo và an ninh từ tay Liên Xô. Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã quyết định, cử Trung tướng Papudin và thượng tá Bulynov dẫn đầu lực lượng đặc nhiệm đến Kabul.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #97 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 08:52:18 am »

Cuộc chiến tại hoàng cung

Chiều ngày 26 tháng 12 năm 1979, Kabul.

Ánh tà dương đỏ như máu đang lui dần sau những đỉnh núi ngoại ô phía Tây, chút ánh sáng cuối ngày chiếu vào mái vòm hình tròn của cung điện và những tháp nhọn của giáo đường khiến cho công trình độc đáo được trang hoàng, đẽo gọt công phu ấy toả ra một ánh sáng rực rỡ, đẹp mê hồn.

Kabul vừa là thủ đô vừa là thành phố rộng lớn nhất đất nước, nằm ở phía đông Afghanistan, bốn bề là núi non, địa thế hết sức hiểm yếu, với độ cao 1950 mét so với mặt biển. Đây là một trong những thủ đô nằm ở độ cao lớn nhất trên thế giới.


Trong ngôn ngữ địa phương “Kabul” có nghĩa là trung tâm buôn bán, điều này cho thấy vị trí quan trọng của vùng đất này trong lòng Afghanistan từ khoảng hai nghìn năm về trước. Từ “Kabul” đầu tiên được các thương nhân Ấn Độ sử dụng giữa thế kỷ 18, vương triều Dulani thống nhất cả nước, và đặt thủ đô tại đây, từ ngày đó, nơi này đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước.


Nơi đây có địa hình núi non vây bọc, núi in bóng nước, khí hậu khá phù hợp với con người. Hoàng cung cổ kính rực rỡ với sắc vàng, những toà giáo đường Hồi giáo nằm rải rác đây đó, những di tích cổ của lăng mộ đá hoa cương Babil và ngôi mộ áo cũ của đức Ali người sáng lập ra đạo Hồi, khiến cho nơi đây luôn nồng đượm bầu không khí văn hoá đạo Hồi. Trong thành phố, những con đường trải rộng, các mái nhà lô xô, cạnh các con đường phố chính còn có những dòng suối róc rách chảy, nước trong suốt đến tận đáy. Dòng sông Kabul như một dải lụa chia đôi thành phố thành bờ Nam và Bắc. Khu phía Nam là khu thành cổ, là nơi cư trú của dân nghèo, hoàng cung dinh thự và các toà đại sứ đều nằm ở đây. Những kiến trúc biệt thự người Pháp để lại, khách sạn “Rubi”, nhà hát “Model” của người Anh để lại, cùng với những ánh sáng đèn neon nhấp nháy đã từng tạo nên vẻ phồn vinh cho nơi này.


Nhưng vào lúc này, vẻ phồn hoa đó đã hoàn toàn lùi vào dĩ vãng, Hai năm gần đây tình hình chính trị bất ổn, đã mang lại cho những điều chẳng lành, đây đó chìm trong khung cảnh tiêu điều. Đặc biệt trong hai tháng trở lại đây, bầu không khí trở nên căng thẳng đến nghẹt thở. Người Liên Xô thì tất bật, xe quân sự của họ chạy ra chạy vào. Đến đêm, trên đường phố vắng tanh, ngoài xe tuần tiễu chạy đi chạy lại, không còn thấy bóng dáng của khách bộ hành.


“Boong… boong…!”. Kim đồng hồ tại hoàng cung chỉ vào con số 8 giờ, kẻ tay chân thân tín của Amin là Asabdula vội vã bước vào phòng riêng của ông ta báo cáo tình hình khẩn cấp, bàn bạc cách đối phó với cố vấn quân sự Liên Xô. Số quân Liên Xô tại căn cứ không quân đã vượt quá con số 50.000 người. Các sư đoàn Hồng quân sát biên giới phía Bắc đã được đặt trong tình trạng báo động chiến đấu…
“Hỏng rồi!”. Amin lệnh cho cho Asabdula sử dụng nhân viên mật vụ điều tra động tĩnh của phía Liên Xô.


“Tuân lệnh!” Asabdula đang định nói thêm rồi lại thôi, quay người bước ra cửa. Đột nhiên, hai phát đạn bay đến từ bên ngoài ghim vào ngực ông ta. Kẻ cầm đầu lực lượng cảnh sát mật thành thạo kỹ năng ám sát không thể ngờ rằng mình lại có thể chết một cách phi lý ngay tại cửa nhà ông chú của mình. Cùng lúc Amin vừa đứng dậy, một phát đạn đã khoan một lỗ thủng trên tấm đệm lưng ghế.

“Quá nguy hiểm!”. Amin vội vã chui vào gầm bàn và thoát chết. Sáng hôm sau khi trời chưa sáng, Amin cùng mấy người vợ và hơn hai mươi đứa con vừa trai vừa gái và đoàn tuỳ tùng rời khỏi hoàng cung tới Daruraman ở ngoại ô. Bắn gục Asabdula chính là kiệt tác của thiện xạ Lyalin của đội đặc nhiệm. Lần trước trong chuyến Papudin ra tối hậu thư với Amin, sau đó lại mở đường máu chạy thoát cũng chính là mấy chiến sĩ thuộc “Chim ưng đỏ”. Nhưng trong lần này, Amin lại thoát được, khiến họ vô cùng nuối tiếc, họ dùng máy bộ đàm báo cáo lại tình hình với thượng tá Bulynov.

Thượng tá nghe xong, ra lệnh: “Tiểu đoàn một: điện Daruraman; Tiểu đoàn hai: đài phát thanh; Tiểu đoàn ba: tổng hành dinh lực lượng cảnh sát mật. Bắt đầu hành động!”.

Trong điện Daruraman, Amin bị những tiếng nổ từ phía trung tâm thành phố đánh thức. Thì ra Bộ Nội vụ và đài phát thanh đã bị quân đội Liên Xô giải quyết gọn. Chỉ thấy trong thành phố có vài điểm lửa khói bốc lên, tiếp đó vang lên những tiếng nổ lục bục, còn có vài kho xăng dầu cũng đang bốc lửa. Amin chộp lấy máy điện thoại, nhưng đường dây liên lạc đã bị cắt đứt. Đài phát thanh cũng im hơi lặng tiếng, nhưng chỉ một lát sau lại bắt đầu hoạt động trở lại truyền đi những bản nhạc dân tộc của Afghanistan. Lúc này “thiên tài ngôn ngữ” Xedov đã có đất dụng võ. Sau khi truyền hình ngừng phát, thì từ đó  nó cũng im tiếng hẳn. Amin đã có dự cảm về một cuộc chiến sắp xảy ra chỉ không ngờ nó lại diễn ra nhanh chóng đến như vậy. Ông ta hạ lệnh cho lực lượng bảo vệ phải liều chết giữ trận địa, sử dụng hệ thống phòng vệ trong trường hợp khẩn cấp, như vậy tạm thời có thể ngăn cản được cuộc tấn công của đối phương.

“Tốc độc và cường độ là linh hồn thực sự của chiến tranh". Thượng tá Bulynov luôn ghi nhớ câu nói này của Cutodop ông tổ ngành khoa học quân sự Nga, ông luôn lấy điều này để yêu cầu cấp dưới thực hiện.

Hiện tại, việc sử dụng bộ binh đánh đúng bài bản đã không mang lại kết quả như dự định, viên thượng tá cảm thấy bối rối. Lúc này đây quân tấn công thì đã bộc lộ lực lượng, trong khi kẻ địch thì đang ẩn nấp, nếu không nhanh chóng phá vỡ thế giằng co, thì sẽ rất bất lợi. Trước cảnh các chiến sĩ của mình bị kẻ thù nấp kín bắt hạ, ông ta đột nhiên nhớ đến câu “Địch biến ta cũng biến”, một nguyên tắc chiến thuật linh hoạt. Khi còn trong trường, chẳng phải ta thường xuyên dạy học sinh phải ghi nhớ tư tưởng quân sự này của Mao Trạch Đông hay sao? Trung Quốc có câu nói nổi tiếng về phép dùng binh: “Nước không có hình dạng cụ thể, dùng binh không có hình thái cố định”, trong tác chiến đặc biệt thì lại càng phải như vậy. Kẻ thù của họ bây giờ không phải là khối NATO mà họ thường xuyên luyện tập mà là những chiến binh đánh du kích. Bulynov như chợt bừng tỉnh. Đúng rồi! Phải phát huy sức mạnh của lực lượng hạng nặng, phá huỷ toàn bộ những vật cản trên đường tiến. Ông ta dứt khoát loại bỏ phương án ban đầu sử dụng hoả lực hạng nhẹ tấn công.

Bulynov ra lệnh:

“Sử dụng tất cả các loại hoả lực hạng nặng”

“Rõ, thưa thượng tá!”.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #98 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 08:54:05 am »

Chỉ thấy sau đó lựu đạn từ trên trời rơi xuống, đó là những trái đạn bay ra từ nòng súng của súng tiểu liên kiểu mới được bắn từ ngoài ba bốn trăm mét. Có những trái đạn làm vỡ cửa kính lọt vào trong phòng, có những trái bay qua nóc nhà rồi rơi xuống. Sau hàng loạt những tiếng nổ dậy đất, lính của Amin lớp chết, lớp bị thương, rất nhanh đã mất đi ưu thế. Cùng lúc này, những phát đạn xuyên giáp cũng được bắn ra từ xe tăng T-62 đang dừng cách đó không xa. Toà nhà nơi Amin trú ngụ, trong nháy mắt đã chìm trong biển lửa, rất nhanh, quân Afghanistan ngừng bắn, tại phía toà nhà chìm trong yên lặng.


Đã đến lúc bộ binh xung trận. Một đội đặc nhiệm do Bulynov dẫn đầu bám vào tường leo lên. Xe chở bộ binh lao vào phía chân tường toà nhà, xe chưa dừng hẳn, Bulynov và các chiến sĩ đã nhảy xuống. Trong nháy mắt họ đã nhảy vào trong qua cửa sổ tầng một. Một số chiến sĩ khác leo lên tầng hai, tầng ba bằng tay không, sau vài giây họ đã vào được tầng ba, sau đó tiếng súng rộ lên.


Bulynov ra lệnh cho các chiến sĩ xông vào phía trong. Rải rác khắp nơi là những hình hài không nguyên vẹn. Khi xông lên tầng ba, cửa cầu thang đã bị hoả lực của nhóm lính bảo vệ ngăn chặn. Hai bên lại diễn ra cuộc đấu súng quyết liệt. Vào lúc quyết định, Bulynov gương ống phóng rocket, chỉ một phát đạn, đường tiến đã bị quét sạch.

Lúc này, cũng có mấy chiến sĩ vào được tầng bốn bằng cách trèo từ bên dưới lên.

Trước đây trong giáo trình đại cương sử dụng giảng dạy tại học viện đào tạo lính dù cấp cao đã có qui định phải dùng tay không leo lên từ tầng một đến tầng năm, vào giờ phút này những giọt mồ hôi đã đổ khi tập luyện quả đã không phí hoài.


Bulynov dẫn hai chiến sĩ từ cầu thang xông lên tầng 4, mở một cánh cửa phòng, trước mặt họ vài sĩ quan đang đốt các tài liệu. Không để chúng kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, 90 viên đạn từ ba khẩu tiểu liên đồng loạt vãi ra như mưa. Nhưng vẫn có vài tên cao số đứng vụt dậy. Lúc này họ không kịp thay băng đạn mới, Bulynov và các chiến sĩ lập tức triển khai thế tấn công Kungfu, bắt đầu một cuộc đấu bằng tay không.


Nào ngờ, mấy tên nọ cũng biết Kungfu, Bulynov không thể nào có thể hiểu nổi, những kẻ vùng sơn cước không có quan hệ gì với Trung Quốc tại sao cũng đều tỏ ra không phải tay vừa, rõ ràng đây là những chiêu thức của Thiếu Lâm và Võ Đang. Lúc này không rõ từ xó xỉnh nào xông ra mấy tên lực lưỡng, Bulynov bị dồn ra ban công, mấy tên to con nọ dàn thành trận thế vận công đề khí, có vẻ sắp dồn ông ta vào chỗ chết. Đúng vào lúc ngàn cân treo sợi tóc, phía bên ngoài vang lên tiếng thét: “Nằm xuống, thượng tá!”. Bulynov vội ấn hai người đồng đội nằm rạp xuống, “Pằng! Pằng! Pằng!...”.
Một loạt đạn tiểu liên nổ ngay phía trên đầu họ. Thì ra Pevnof và Deive đã kịp thời xuất hiện. Lúc trước họ đa chặn mất lối đi. Nghe thấy tiếng súng nổ bên phòng bên, họ liền quay ra ngoài cửa sổ leo từ bên ngoài tiếp cận mục tiêu. May mắn, họ ra tay kịp thời vào gây phút quyết định.


Họ cùng nhau lao về phía đầu kia của toà nhà. Đây có lẽ là văn phòng tổng thống. Đột nhiên, hai bên hành lang vọt ra một nhóm người, Bulynov không kịp nghĩ ngợi bóp cò bắn quét. Dưới là hoả lực dày đặc đối phương, kẻ thì gục ngã, kẻ sống sót thì co cẳng chạy biến. Lúc này thì tài thiện xạ của Pevnovf đã có cơ hội thể hiện.

Kiểm tra tất cả không để sót! Bulynov lệnh cho các chiến sĩ lật từng cái xác, ông ta lấy ra tấm ảnh Amin được chuẩn bị từ trước đem đối chiếu với từng xác chết.

“Ở đây” một chiến sĩ kêu lên. Bulynov chạy đến, đối chiếu với từng người trong ảnh, quả đúng là Amin, ông ra hiệu cho Pevnovf, Pevnovf hiểu ý, anh ta lôi ra chiếc máy ảnh hiệu Volga ghi lại hình ảnh lịch sử này.

Trở thành con mồi của “Chim ưng đỏ” ngoài Amin còn có 4 người vợ của ông ta, hơn hai mươi đứa con cả trai lẫn gái, phó Thủ tướng và các Bộ trưởng trong nội các, gần 3.000 binh lính trong hoàng cung cũng trở thành vật tuỳ táng đi theo Amin.

Trên tấm vải liệm Amin viết rõ dòng chữ: “Gián điệp của Mỹ”.

Đúng vào lúc Bulynov nhảy lên xe ô tô, đi báo cáo kết quả với cấp trên thì một tiếng súng vang lên, viên thượng tá gục xuống.

Cuộc chiến đấu tại hoàng cung đã hạ màn.

Sau khi lực lượng đặc nhiệm bất ngờ đánh chiếm Kabul, Afghanistan rơi vào tình trạng hỗn loạn như rắn mất đầu. Mười vạn quân Liên Xô áp sát biên giới.

Sau đó, trong tiếng vang rền của động cơ xe tăng Liên Xô, lần lượt các nhân vật chính trị xuất hiện trên vũ đài Kabul.

Nhưng người dân Afghanistan với ý thức dân tộc và ý chí phục thù quyết liệt không bao giờ chịu khuất phục trước bất kỳ họng súng nào. Một người dân Kabul nói trước với phóng viên:

“Hãy để người Nga học lại lịch sử của chúng tôi!”. Sau khi Liên Xô tiến quân vào Afghanistan, những câu dân ca lại vang lên:

“Nếu gươm đã tuốt khỏi vỏ, háy chiến đấu hỡi anh.

Chỉ có những người dũng cảm mới chiến thắng trở về”.

Mười năm sau ngày 14 tháng 4 năm 1988, tại Geneva, bốn bên gồm Liên Xô, Afghanistan Mỹ và Pakistan cuối cùng đã ký tên vào bản hiệp ước Liên Xô rút quân khỏi Afghanistan. Ngày 15 tháng 2 năm 1989, người lính Liên Xô cuối cùng, tư lệnh quân đội lịch sử tại Afghanistan Trung tướng Glamov bước qua đường ranh giới trên chiếc cầu ở biên giới Afghanistan-Liên Xô. Điều đáng để suy nghĩ là, sau đó hai năm quốc gia của “Chim ưng đỏ” đã không còn tồn tại.

Nhưng tiếng súng nội chiến tại Afghanistan vẫn vang vọng trên bầu trời dãy Hindu Kush.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #99 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 09:00:06 am »

14. ĐẶC NHIỆM ANH THAM CHIẾN TẠI MALVINAS

Nhằm tranh giành chủ quyền đối với quần đảo Malvinas (gọi tắt là Mal, người Anh gọi là đảo Fankland) năm 1982 đã bùng nổ trận hải chiến dữ dội với qui mô lớn, cuối cùng cuộc chiến đã kết thúc bằng chiến thắng của quân Anh. Rất nhiều chuyên gia quân sự đã đánh giá rằng "lực lượng đặc nhiệm Anh đã đóng vai trò then chốt". Một sỹ quan chỉ huy của phía Argentina đã nói rằng lực lượng đặc nhiệm Anh "đã thực hiện sự mạo hiểm chưa từng thấy vào thời gian địa điểm không thể ngờ tới, hơn nữa những điều đó đều trái ngược với những qui tắc cơ bản của chiến tranh trên biển", nhưng ông ta cũng phải thừa nhận: "Những lính đặc nhiệm này quả là khó đối phó".


BIỂN NAM ĐẠI TÂY DƯƠNG NỔI SÓNG

Trên mặt Đại Tây Dương cuộn trào sóng nước, hơn 300 hòn đảo nằm rải rác như những viên ngọc, những con hải báo tự do bơi lội, đàn hải âu bay lượn trên bầu trời trong xanh, tất cả như trong một bức tranh thanh bình. Người dân trên đảo sống cuộc đời bình lặng, sáng họ ra khơi chiều về bến, mảnh đất này làm người ta bất giác nhớ đến phong cảnh điền viên đầy thơ mộng của cuộc sống nơi thôn dã.


Người Argentina gọi quần đảo này là Malvinass còn người Anh thì gọi nó với cái tên quần đảo Fankland. Điều này không phải chỉ nằm ở sự khác biệt của tên gọi mà nó còn mang trong mình cuộc chiến nhằm tranh giành chủ quyền kéo dài mấy thế kỷ. Quần đảo này tuy bị người Anh đô hộ trong thời gian dài, nhưng người Argentina chưa bao giờ từ bỏ ý định khôi phục lại chủ quyền. Những mâu thuẫn này giống như quả thuỷ lôi nằm chìm sâu dưới đáy Đại Tây Dương.


Bước vào thế kỷ 20, cuộc tranh chấp của Argentina và Anh đã lên tới mức quyết hệt, Liên Hiệp Quốc đã nhiều lần ra nghị quyết yêu cầu hai bên giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán, nhưng trong các cuộc đàm phán kéo dài dây dưa ngày tháng này, hai bên không bên nào chịu nhượng bộ. Đại đa số các hòn đảo thuộc quần đảo này đều là đảo hoang, nơi đây khá gần nam cực, khí hậu lạnh lẽo, môi trường tự nhiên khắc nghiệt, dường như không có giá trị gì đáng để các bên phải tranh chấp. Vậy tại sao Argentina và Anh lại tranh giành sống mái như vậy? Thì ra, tuy nơi đây khá xa xôi, hẻo lánh nhưng lại có vị trí chiến lược quan trọng và còn tiềm ẩn nguồn tài nguyên dầu lửa phong phú. Cách quần đảo 400 km về hướng Tây là eo biển Magienlăng nổi tiếng, đây là nơi hiểm yếu của tuyến hàng hải từ Đại Tây Dương đi vào Thái Bình Dương, đồng thời cũng là cánh cửa và là căn cứ để tiến lên Nam Cực. Điều khiến người ta thèm khát chính là bước vào thập niên 70, công tác khảo sát thăm dò cho thấy ở vùng đáy biển phía nam đảo có thể ẩn giấu nguồn dầu lửa, khí tự nhiên và các loại khoáng sản phong phú, theo dự đoán riêng nguồn dầu lửa khoảng 2 tỷ thùng, điều này làm cho quan hệ giữa Anh và Argentina càng trở lên căng thẳng, quá trình đàm phán càng khó khăn.


Vào năm 1982, cuộc đàm phán ngắt quãng 10 năm liền đã được nối lại. Lần này phía Argentina thể hiện thái độ nhiệt thành đặc biệt, hữu nghị và thương lượng vì mục đích lâu dài, nước Anh cũng cảm thấy mừng thầm. Thực ra, phía Argentina từ lâu đã hiểu rằng đàm phán sẽ không giải quyết được vấn đề gì, hy vọng nước Anh tự nguyện nhả những của quí này ra thì chẳng khác gì khuyên hổ tự lột da. Chính phủ Argentina đã quyết tâm kết thúc ách thống trì của người Anh tại đây bằng vũ lực, những thiện chí nối lại đàm phán chỉ là thủ đoạn nghi binh, nhằm ru ngủ người Anh, để đạt mục đích ra tay bất ngờ.


Vào thời điểm này nền kinh tế nước Anh đang trong tình cảnh khốn đốn, sức chiến đấu của quân đội suy giảm, không còn đủ sức cai quản một số vùng thuộc địa trong thời kỳ trước đây. Argentina cho rằng cần tranh thủ cơ hội này để cắt bỏ "cái ung nhọt thực dân” đeo đẳng lâu nay để thỏa mãn yêu cầu về mặt chính trị nội, ngoại giao và kinh tế, vậy là họ âm thầm chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu.
Một nguyên nhân khác góp phần tác động phía Argentina đẩy nhanh tiến trình sử dụng vũ lực. Ngày 18 tháng 3 năm 1982, một số người Avgentina đến cảng một hải thuộc đảo Georgia, chuẩn bị tháo gỡ những máy móc cũ trong một nhà máy chế biến cá voi thì bị phía đội Anh đồn trú tại đây gây khó dễ, tất cả bị ngăn chặn không cho lên bờ, giữa hai bên xảy ra tranh chấp, có 39 công nhân Argentina vượt qua sự cản trở leo được lên đảo và kéo lên một lá cờ Argentina. Ai ngờ chính sự kiện này đã trở thành ngòi nổ cho cuộc chiến tranh nhằm tranh giành quần đảo Malvinas.


Phía chính phủ Anh khi nhận được thông tin về sự kiện này, đã hết sức phẫn nộ đưa ra lời kiến nghị mạnh mẽ với Argentina, đồng thời cử 40 lính hải quân lục chiến đến đảo Georgia nhằm "khôi phục trật tự”. Phía Achetina cũng không có ý nhượng bộ, quyết tâm tranh thủ cơ hội này giải quyết gọn chủ quyền hòn đảo đang tranh chấp.


Ngày 2 tháng 4 năm 1982, từ lúc trời chưa sáng hàng loạt tiếng súng nổ xé toang sự tĩnh lặng trên biển Nam Đại Tây Dương, 5000 lính Argentina đi trên thuyền cao su đổ bộ lên đảo. Người dân trên đảo sáng sớm hôm đó khi thức dậy được chứng kiến cảnh tượng trên khắp các đường đi lối lại trên cảng đã là những sắc áo lính Argentina với đầy đủ vũ khí trang bị. Thì ra ngay sau 0 giờ ngày 2 tháng 4, tổng thống Roberto Viola hạ lệnh tấn công, lực lượng lính Anh tại đây không chống lại được sự chênh lệch quá lớn về lực lượng nên đành hạ vũ khí đầu hàng vô điều kiện.

Tiếp đó, Argentina cho xua đuổi toàn bộ 1800 cư dân người Anh trên đảo, lá cờ màu xanh, trắng tung bay trên đảo.

Ngày hôm sau chính phủ Argentina cho phát đi khắp thế giới bản thông cáo tuyên bố "Quân đội Argentina đã thu hồi lại quần đảo Malvinas". Rất nhanh, điều này làm dậy lên tình cảm ái quốc ở dân chúng Argentina, mọi người đi thông báo cho nhau có người rưng rưng nước mắt, tại thủ đô Buenos Aires hàng trăm ngàn người tập trung tại "Quảng trường tháng Năm" trước phủ tổng thống, họ hát vang quốc ca, hô khẩu hiệu, say sưa trong bầu không khí chiến thắng.


Sau khi Argentina ra tay chiếm lĩnh quần đảo nước Anh chấn động, tinh thần của dân chúng cũng bị kích động mạnh mẽ. Thủ tướng Anh Thatcher nổi tiếng với biệt danh "Người đàn bà thép", tuyên bố: "Hoàng gia Anh sẽ xuất quân thu lại phần lãnh thổ bị chiếm". Tiếp đó là cuộc họp với giới lãnh đạo quân đội nhanh chóng chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị sử dụng 2 phần 3 binh lực của hải quân, kết hợp với các quân binh chủng khác tạo nên đội ngũ hỗn hợp, tiến về hướng Malvinas.


Nước Mỹ và Anh có mối quan hệ sâu sắc trên mức bình thường do vậy không thể đứng trên lập trường công bằng để "hòa giải". Nước Mỹ lấy lý do phía Argentina từ chối "đề nghị hòa bình", công khai tuyên bố ủng hộ nước Anh, cấm vận Argentina, cho phép Anh được sử dụng căn cứ quân sự và các cơ sở thiết bị khác tại đảo Ason, cung cấp cho phía Anh tên lửa "Sraide" kiểu mới, thiết bị chỉ thị mục tiêu điều khiển bằng la de và các loại vũ khí trang bị khác. Phía Mỹ còn san sẻ với anh những kết quả của trinh sát vệ tinh, vệ tinh liên lạc của Mỹ cũng trở thành trạm tiếp sức cho thông tin của Anh. Như vậy vào giây phút quyết định, phía Mỹ đã lộ rõ bộ mặt thật.


Trước khi tiến hành chiến dịch quân sự qui mô lớn như vậy phía Argentina cũng đã tính đến phản ứng của Anh và Mỹ. Ngay từ hồi đầu năm, tổng thống Viola và các quan chức quân sự và. chính quyền cao cấp đã xác định rằng, việc chiếm lĩnh Malvinas sẽ không bị coi là hành động tuyên chiến, phản ứng của Anh sẽ chỉ bằng lời nói, có thể London không đủ rảnh tay để quan tâm đến việc này, còn nước Mỹ trong vai trò "đồng minh" của các nước Mỹ La Tinh, càng sẽ không dí mũi vào chuyện này. Điều đáng tiếc là, tổng thống Argentina đã đán giá sai phản ứng sau đó của Anh và Mỹ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM