Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:38:03 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972  (Đọc 38428 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #30 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 12:48:44 am »

(tiếp)

CÔNG TÁC BẢO ĐẢM KỸ THUẬT CÔNG BINH CÔNG TRÌNH VÀ NGỤY TRANG CỦA BỘ ĐÔI

Tính hiệu quả trong tác động của không quân Mỹ tới đội hình chiến đấu các khí tài và phương tiện PK trong chiến dịch tập kích đường không là không cao, và một trong những lý do là việc tiến hành kịp thời các biện pháp công binh công trình đảm bảo của quân chủng và việc ngụy trang của họ.

Các phương pháp và đặc điểm các biện pháp công binh công trình đảm bảo và ngụy trang, phần lớn được xác định bởi kích thước không lớn của lãnh thổ VNDCCH; phông địa vật độc đáo (ruộng lúa, có hình dạng hình chữ nhật rõ ràng); lượng nước lớn và đặc tính nguồn của thực vật; mực nước dưới đất cao (1 m so với bề mặt và còn thấp hơn nữa); đặc điểm lục địa của nền đất, nổi bật bởi độ bền và độ dẻo khá, cho phép cấu trúc các công trình trên mặt đất với diện tích lắp đặt lớn và không có lớp áo bảo vệ mái dốc đứng, nhưng gây trở ngại cho việc thực hiện công tác đất; sự hiện diện trong các khu vực phía bắc và tây bắc VNDCCH các rặng núi, nhô ra trên vùng đồng bằng trung tâm, với một số lượng lớn các hang động tự nhiên, phù hợp cho việc xây dựng các công trình ngầm hoạt động theo phương ngang; lũ lụt đường sông định kỳ hàng năm, làm ngập một phần đồng bằng ven sông và các khu vực đất trũng khác, v.v.

Công tác thiết bị kỹ thuật và công binh công trình các khu vực trận địa của các đơn vị và phân đội TLPK và PPK bao gồm việc xây dựng một hệ thống các trận địa bệ phóng cơ bản, dự bị và trận địa bệ phóng giả cũng như các trận địa kỹ thuật; công tác xây dựng, bảo dưỡng và phục hồi đường cơ động; tiến hành các công tác ngụy trang tổng hợp.

Trước lúc mở đầu các trận đánh tháng 12, hầu hết các nơi trú ẩn cho cabin SNR tại các trận địa phóng của các tiểu đoàn TLPK được trang bị ở khu vực ngoài trời. Tùy thuộc vào mức độ nước ngầm mà chúng được bố trí nửa ngầm hoặc ngay trên mặt đất. Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp cabin đều được bao bởi các bức tường đất chiều cao 2-3 m. Thường những con đê đất ấy được xắn và đắp từng lớp và đầm nện bằng tay. Đê quây chung này được áp dụng cho toàn bộ đài dẫn đường tên lửa. Các lối vào và ra khối đê quây này được bảo vệ tránh sóng xung kích bằng các cấu trúc thiết bị khác nhau, được làm từ các vật liệu sẵn có (thùng số 1 và 2 đổ đầy cát, các bao cát, các tấm ván tre, v.v ...).

Để bảo vệ chống bom phá mảnh nhỏ (trước hết là bom bi) theo chu vi cabin bên trong đê quây đất người ta đặt thùng số 1 đổ đầy cát, làm nền phía dưới cho các tấm phên tre đặt chéo (sơ đồ 24) và ngăn các quả bom bi lăn xuống dưới cabin và đánh trúng các hệ dây cáp điện nối giữa các cabin. Phần trên của phên tre dựa vào các đệm tre (các bó tre độ dầy đến 40 cm), bảo vệ mái cabin. Trong một số trường hợp, còn sử dụng thay bằng các bao trấu (phế liệu khi xát lúa) và các vật liệu có sẵn khác (các thùng gỗ, lốp xe cũ, bao cát, ...). Để bảo vệ cá nhân tránh bom bi đội ngũ quân nhân sử dụng rộng rãi thảm che ngực bằng rơm bện.

Kabin PA được đặt trên nền đắp cao. Về mặt kỹ thuật công binh, nó được trang bị kém.

Đài radar trinh sát và chỉ thị mục tiêu và xe vận chuyển được bảo vệ chủ yếu bằng đê đất tại nơi đặt chúng hoặc bố trí chúng trong các nếp gấp địa hình.

Để bảo vệ mạng cáp giữa bệ phóng (ПУ) và đài điều khiển (СНР) người ta sử dụng các hào cáp, phía trên được phủ các thảm tre và ngụy trang dưới nền đất, nhưng trong thời gian có mưa phải tránh nước cho cáp và thậm chí nâng cáp lên các gối đỡ (để bảo vệ tránh nước).

Đạn được chuẩn bị xong trên xe PR-11B nằm cách trận địa phóng 2-3 km trên những con đường chính hay phụ. Các khu vực này không được trang bị công trình kỹ thuật công binh để bảo vệ đạn và khí tài. Sự liên lạc giữa trận địa bệ phóng và các khu vực phân tán tên lửa không có. Việc cung cấp đạn tên lửa đến trận địa phóng phải được thực hiện ngay lập tức sau khi quả đạn trước phóng đi khỏi bệ phóng.

Để bảo vệ các quân nhân đã sử dụng các hầm trú ẩn các loại chìm hoặc nửa chìm khác nhau có mái che phủ đất hoặc mở. Trên khu vực trận địa phóng có một số lượng lớn các hầm trú ẩn cá nhân loại "hố tăng sê" («стакан»).

Phổ biến là hầm trú ẩn chữ A kết cấu khung hình tam giác làm bằng kim loại, tre hoặc gỗ. Khung được bao phủ bằng các thảm kết lá cọ, rơm rạ và đất đắp độ dày 30-40 cm (sơ đồ 25).



Sơ đồ 24. Phương án bảo vệ khí tài chống bom bi: 1- các bó tre; 2- các phên tre; 3- đê quây đất; 4- thùng số 1 (có cát).

Hầm trú ẩn kết cấu dạng này đảm bảo nơi trú ẩn đáng tin cậy chống các vụ nổ bom nổ phá cỡ nhỏ và bom bi.

Để đảm bảo tính cơ động cho các tiểu đoàn tên lửa người ta lựa chọn từ trước và trang thiết bị một phần các trận địa phóng dự bị, tuy nhiên các điều kiện và hoàn cảnh trong nhiều trường hợp lại buộc phải cơ động tới các trận địa lộ thiên hoàn toàn không được trang bị về công binh công trình.

Trận dịa kỹ thuật được đặt tại các khu vực rừng rậm trên các bãi trống cách xa nhau 5-7 km. Điều này nâng cao khả năng sống sót của tiểu đoàn đảm bảo kỹ thuật tên lửa, nhưng đồng thời giảm đáng kể hiệu suất của chúng.

Việc trang thiết bị công binh công trình các khu trận địa của binh chủng radar bao gồm việc xây dựng các trận địa cơ bản và dự bị cho các phân đội radar, thiết lập các đường truy cập, duy trì nó trong trạng thái làm việc tốt và tổ chức các biện pháp ngụy trang.

Đến đầu các trận chiến đấu tháng 12, tất cả các đại đội radar đều có 3-4 trận địa (một cơ bản và 2-3 dự bị) được trang thiết bị theo phương án dã chiến. Để phục vụ các trạm radar sóng xăng-ti-mét và đề-xi-mét người ta đắp các gò đất cao hoặc sử dụng các khu đất cao tự nhiên. Radar dải sóng mét, xe ô tô, xe kéo và các khí tài khác được che giấu ngoài trời kiểu nửa chìm hoặc trên mặt đất, tùy thuộc mực nước ngầm cao hay thấp.
......
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Chín, 2012, 01:26:38 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #31 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2012, 06:03:57 pm »

(tiếp)

Những mặt bằng này được bảo vệ bằng các lũy đất cao 2-3 m. Nguyên tắc bảo vệ cabin, hệ thống cáp điều khiển và đội ngũ quân nhân chống bom bi – cũng giống như với bộ đội TLPK. Để nâng cao khả năng sống sót của khí tài và con người trước các cuộc tấn công bằng bom và tên lửa của máy bay đối phương, các đài radar phải phân tán cách nhau khá xa để tránh bị kẻ thù đồng thời đánh trúng hai hoặc nhiều đài radar.

Hầm trú ẩn cho quân nhân được xây dựng bên cạnh mỗi trạm radar, gần đài chỉ huy và doanh trại đóng quân.

Các đường cơ động của LLPK được sử dụng rộng rãi để chuyển quân sang các trận địa mới tránh đich tấn công. Trong thời gian các trận chiến đấu tháng 12, tất cả các tiểu đoàn tên lửa PK của các cụm PK Hà Nội và Hải Phòng đã thay đổi trận địa của họ 1-3 lần. Việc chuyển quân được thực hiện bí mật vào ban đêm.

Thời gian cơ động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, và mất đến 7-18 h, nghĩa là, thực tế phải thực hiện trong vòng 1-2 đêm. Như vậy, trong mỗi cụm PK thực sự có 2-3 tiểu đoàn bận rộn di dời đến trận địa mới mỗi đêm.

Đối với bộ đội radar việc thay đổi trận địa cũng là một yếu tố thiết yếu để giữ gìn khí tài và con người tránh địch tấn công vào trận địa đã bị địch trinh sát được. Việc chuyển trận địa được tổ chức bí mật, vào ban đêm, trong thời gian một ngày đêm – đối với các đại đội có đài radar sóng mét và ba ngày (đêm) – đối với các đại đội phụ trách các đài radar sóng xăng-ti-met.

Thay đổi trận địa vì lý do chiến thuật diễn ra trong hai giai đoạn: đầu tiên chuyển đài P-12 và một phần phương tiện thông tin liên lạc, sau đó đến phần còn lại của đài radar, và đài điều khiển. Điều này đảm bảo cho các đại đội sự sẵn sàng chiến đấu liên tục. Trong "Chiến dịch Linebacker-2" vì nhiều lý do khác nhau, bốn đại đội đã thay đổi vị trí trận địa của mình.

Toàn bộ các quân nhân đều tham gia vào công tác công binh và ngụy trang, ngoài ra còn có các chiến sỹ dân quân và nhân dân địa phương. Biện pháp ngụy trang cho trận địa và các đối tượng hệ thống PK là sử dụng các tính năng tự nhiên của địa hình. Người ta tính toán rằng thảm thực vật địa phương mang đặc tính gốc, bộ đội tiến hành trang trí ngụy trang đài radar và các yếu tố khác của tiểu đoàn TLPK và đại đội radar hòa vào địa vật (nhà nông thôn, các rặng tre, cây cối, v.v.). Tất cả các công trình phụ trợ trên các trận địa được thực hiện dưới hình thức các cấu kiện gỗ nhẹ (nhà một tầng).

Một số dấu hiệu giải trang (sự không phù hợp về hình thức của đặc trưng tuyến tính của đê quây với nền ruộng lúa bao quanh, sự khác biệt về sắc thái tương phản độ chói của công trình trận địa so với địa vật xung quanh, sự tồn tại các hiệu ứng đổ bóng khi quan sát từ trên không, độ nhìn rõ của các đường tiếp cận, v.v.) được bù đắp bằng cách sử dụng rộng rãi màn ngụy trang cây cối. Đặc biệt với sự trợ giúp của màn ngụy trang mà ngụy trang được đạn tên lửa trên các bệ phóng và trên xe tiếp đạn PR-11B.

Màn ngụy trang này được cập nhật thường xuyên, do đó việc phát hiện các bệ phóng tên lửa từ trên không rất khó. Sau khi đạn tên lửa phóng đi, màn phủ ngụy trang tự nhiên sẽ bị phá hủy bởi dòng khí phản lực, làm lộ trận địa ở mức độ khá lớn. Đặc tính ngụy trang của địa hình tự nhiên được khôi phục lại chỉ sau 2-3 tuần.

Để ngụy trang ăng-ten cabin PA đài điều khiển tên lửa SNR và ăng-ten đài radar cảnh giới người ta áp dụng rộng rãi màn ngụy trang cây xanh. Phương pháp ngụy trang các đài radar P-35, P-15 và đạn TLPK được trình bày trên các hình 20-23.


Hình 20. Ngụy trang radar P-35


Hình 21. Ngụy trang radar P-15


Hình 22. Ngụy trang radar P-12.


Hình 23. Ngụy trang đạn trên bệ phóng.


Sơ đồ 25. Hầm tránh bom bi và mảnh bom đạn cho quân nhân. 1- đất đắp dày 30-40 cm; 2- khung tre chịu lực đường kính 8-10 cm; 3- dây buộc liên kết khung; 4- thảm lá cọ; 5- lối vào hầm.

Biện pháp khác trong ngụy trang đội hình chiến đấu của bộ đội TLPK chống trinh sát đường không được sử dụng khá thường xuyên là tạo ra các trận địa giả, tại đó lắp đặt các khí tài cũ, đã hư hỏng, không thích hợp sử dụng chiến đấu. Trên các trận địa giả sẽ tiến hành các hoạt động công binh tối thiểu, đủ cần thiết để tạo ra một bản sao trận địa cơ bản của tiểu đoàn TLPK.

Để mô phỏng hoạt động sống của các trận địa bệ phóng giả trong khoảng giữa các cuộc không kích người ta cho di chuyển xe ô tô vận tải trên các đường tiếp cận và khi xảy ra không kích – cho nổ các vật nổ mô phỏng vụ phóng đạn tên lửa. Thực hiện công việc đó là một đội đặc biệt hoặc theo tín hiệu của tiểu đoàn trưởng (nếu có đường liên lạc với họ), hoặc họ tự tiến hành. Trong trường hợp sau, người chỉ huy nhóm sẽ đánh giá trực quan tình hình trên không và cho điểm hỏa vật nổ.

Việc tuân thủ các kích thước và hình dạng đặc trưng của trận địa phóng của tiểu đoàn TLPK, việc có mặt tại đó các khí tài, việc mô phỏng giống hệt hoạt động sống của trận địa bằng sự di chuyển các xe vận tải, sự có mặt các thảm thực vật ngụy trang và có vụ nổ mô phỏng việc phóng tên lửa - tất cả những điều này dẫn đến việc các trận ném bom được dội xuống các trận địa này.

Để nâng cao khả năng sống sót của máy bay đã thực hiện phân tán các máy bay trong bán kính 50-120 km so với sân bay căn cứ, đặt chúng vào các hầm trú ẩn đặc biệt và ngụy trang kỹ lưỡng.

Như đã nói ở phần trên, đối phương khi tấn công sân bay luôn tập trung các nỗ lực chính vào việc phá hủy lớp phủ đường băng và các đường lăn. Hiệu suất tốt nhất trong công việc này đạt được bằng không quân chiến lược. Vì vậy, đường băng sân bay Nội Bài, bị phá hủy do những trận bom của máy bay ném bom chiến lược B-52 trong các cuộc không kích quy mô lớn đầu tiên vào ngày 18 tháng 12, được khôi phục lại sau 10 ngày đêm, còn đường lăn – sau thời gian một ngày đêm.

Người dân địa phương đóng một vai trò quan trọng trong việc khôi phục lại sự sẵn sàng chiến đấu của các sân bay.

Việc khôi phục đường băng diễn ra theo các khâu sau: cắt lớp bê tông phủ, chuẩn bị nền sỏi, lắp đặt các tấm bê tông cốt thép và chèn khe bằng vữa bitum hoặc asphalt. Các tấm bê tông cốt thép, sỏi, cát và nhựa đường đã được chuẩn bị trước các trận đánh tháng 12 và xếp chồng lên nhau dọc theo đường băng. Điều này làm tăng tốc độ công tác phục hồi trên các sân bay.

Việc thiết bị công trình công binh và ngụy trang sân đỗ máy bay được chứng minh là rất hiệu quả. Người Mỹ đã không hề tiêu diệt hoặc làm hư hỏng bất kỳ máy bay chiến đấu nào đang đậu trên mặt đất. Chỉ có 8 máy bay vận tải quân sự, đậu tại các sân đậu lộ thiên tại Sân bay Quốc tế Gia-Lâm, đã bị phá hủy một phần, một phần bị hư hỏng.

Việc thiết bị kỹ thuật công binh công trình cho nơi trú ẩn của các máy bay tiêm kích trực chiến đấu và địa điểm phân tán của các máy bay trên các sân bay được thực hiện trong nhiều năm trước và bao gồm việc xây dựng các công trình trú ẩn cho máy bay và quân nhân biên đội trực chiến, sở chỉ huy, công trình bảo vệ cất giữ khí tài, hầm trú ẩn cho quân nhân trung đoàn KQTK và các phân đội làm công tác đảm bảo.

Công trình trú ẩn cho máy bay trực chiến là một ụ chứa (капониры – caponiers) có chiều cao đê quây 3-3,5 m (sơ đồ 26).


Sơ đồ 26. Ụ chứa và bảo vệ máy bay trực chiến.
..........
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Chín, 2012, 09:20:02 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #32 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2012, 01:07:17 am »

(tiếp theo và hết)

Hầm trú ẩn cho quân nhân trung đoàn không quân và các phân đội đảm bảo chủ yếu là loại kín có mái bảo vệ bằng bê tông cốt thép.

Tại các khu vực phân tán máy bay, xe cộ và vũ khí khí tài, người ta cũng xây dựng các hầm trú ẩn mà loại hình của công trình được xác định bởi địa hình tại chỗ. Ví dụ, trên các sân bay bố trí trong các rặng núi, người ta đã thiết lập các hầm trú ẩn loại kiên cố ngầm trong lòng đất (đào ngang trong các lớp đá). Năng lực chứa của các hầm trú ẩn như vậy là khác nhau - từ 6 đến 30 máy bay MiG-21. Hầm trú ẩn tại sân bay Nội Bài có dạng chữ C, có ba mặt tiền, lối vào và lối ra được đóng lại bằng cửa cổng bê tông cốt thép kiểu 2 cánh (Sơ đồ 27).

Chiều dài của nó khoảng 350 m, chiều rộng 15-20 m, chiều cao 7-8 m. Hầm chứa công suất thấp (6-8 máy bay) tại sân bay Anh Sơn có chiều dài 75-80 m, chiều rộng và chiều cao tương tự như công trình tại sân bay Nội Bài. Lối vào được đóng bằng cửa nâng bê tông cốt thép dẫn động điện. Thiết bị kỹ thuật bên trong hầm chứa (trừ việc cấp điện) là không có.

Hầm trú ẩn cho quân nhân, xưởng sửa chữa và kho tàng tại các sân bay nằm ở khu vực miền núi cũng được thiết lập trong các không gian tạo ra bằng cách đào ngang trong sườn núi. Trên mặt bằng chúng có đường đứt nét và chiều dài lên đến 80-100 m, tiết diện ngang phần hành lang - 1,5 x1, 8 m. Ở giữa hành lang được mở rộng – thành các phòng riêng biệt.

Lối ra khỏi hầm trú ẩn được bố trí ở các mức khác nhau và được che đậy ngụy trang và thông hơi bằng các nắp làm bằng đất hoặc gỗ cây. Trong hành lang người ta thành lập sơ đồ mê cung với các lỗ châu mai cho hỏa lực. Những lỗ châu mai tương tự cũng được xây dựng ở hai bên lối vào. Thiết bị kỹ thuật nội bộ không có, thông gió – theo kiểu tự nhiên, năng lượng được cấp từ các trạm phát điện di động. Nước được trữ trong các bể chứa bê tông xi măng.

Hầm trú ẩn kiểu này đảm bảo được an toàn cho các loại máy bay, vũ khí và quân nhân khỏi mọi loại bom mà không quân Mỹ sử dụng, ngay cả khi chúng tấn công trực tiếp.

Tại sân bay nằm ở vùng đồng bằng, máy bay, xưởng quân giới và kho tàng được giấu trong các ụ chứa-có mái che (Sơ đồ 28).


Sơ đồ 27. Công trình cất giữ máy bay trong lòng núi theo phương ngang. Sức chứa đến 30 máy bay MIG-21.


Sơ đồ 28. Ụ chứa máy bay có mái che. 1- đất dày 20 cm; 2- tấm PMP hoặc K-1-Đ; 3- thanh ray.

Kết cấu cơ bản của một nhà chứa máy bay như vậy là một  khung dạng lều làm từ các cấu kiện  thanh kim loại hoặc đường ray. Khung được bao các tấm kim loại kiểu PM1-1-53 và K-1-D, và  phủ một lớp đất dầy 20 cm - bảo vệ chống bom bi, cũng như để hình thành một thảm cỏ ngụy trang. Nhà chứa thường bố trí dọc theo các trục đường chính dẫn đến sân bay.

Một số máy bay trước chiến dịch "Linebacker-2" đóng căn cứ tại các sân bay vùng đồng bằng, thì nay trong thời gian chiến dịch được giấu tại các vùng rừng núi, cách xa các sân bay. Những chiếc máy bay này được cẩu chuyển bằng trực thăng Mi-6.

Việc trang bị công trình công binh cho các SCH xác định theo tầm ý nghĩa của nó. Chẳng hạn, SCHTT cho đến giữa mùa hè 1972 hoạt động trong một công trình ngầm kiên cố, có cấu trúc xây dựng bằng các lớp bê tông cốt thép, lớp đất dày bảo vệ - 3-4 m. Lối vào công trình được trang bị các cửa an ninh bằng kim loại, nó có hệ thống thông gió cưỡng bức và điều hòa nhiệt độ.

Do kết quả một cuộc tấn công trực tiếp bằng bom phá cỡ trung bình trong thời gian không kích quy mô lớn của không quân chiến thuật hồi tháng 6 năm 1972 hệ thống kết cấu cách nước bị phá hủy, và các gian phòng bị ngập nước. SCHTT phải di chuyển sang hoạt động tại một công trình dã chiến.

SCH sư đoàn PK bố trí chủ yếu trong các công trình bí mật. Chẳng hạn SCH sư đoàn PK Hải Phòng đặt trong một công trình hầm ngầm đào trong đá theo phương ngang. Lối vào được bảo vệ bằng cửa kim loại và một tiền sảnh. Trong hầm ngầm có hệ thống thông gió cưỡng bức và dự trữ nước uống. Nguồn điện cung cấp từ máy phát điện diesel.

Hầm trú ẩn được bảo vệ chống lại bom phá bất kể cỡ nào - ngay cả khi bom rơi trúng trực tiếp hầm ngầm.

SCH sư đoàn PK Hà Nội bố trí trong một công trình bê tông cốt thép đơn tấm có lớp đất bảo vệ dày 1,5-2 m. Lối vào công trình được bảo vệ bởi hai lớp cửa kim loại với một tiền sảnh ngăn giữa chúng. Thiết bị kỹ thuật bên trong không có, thông gió theo kiểu tự nhiên.

Được bảo vệ nhất là các SCH đặt trong các hang núi tự nhiên hoặc hầm ngầm nhân tạo trong các rặng núi đá. Các lối vào SCH đều được trang bị các cửa bảo vệ có tiền sảnh.

Trên địa hình bằng phẳng SCH các đơn vị được bảo vệ một phần, chúng được đặt trong các cấu trúc bán ngầm (do vị trí nước ngầm cao). Tường làm bằng gạch, gỗ, tre, nứa, v.v, trần - bao bì hoặc các vật liệu khác, với lớp đất đắp và đê quây.

SCH dã chiến đặt trong các lều làm bằng gỗ nhẹ (nhà 1 tầng), trong các tầng hầm của các tòa nhà, và sự bảo vệ cho quân nhân tại các dạng công trình dã chiến này là kém.

SCH tiểu đoàn TLPK trong mọi trường hợp đều bố trí trong cabin "UA", mức độ bảo vệ nó xác định cả mức độ bảo vệ cho SCH tiểu đoàn. Đài điều khiển bố trí tại các trận địa của các đại đội nằm gần trực tiếp đài radar (đến 50 m), trong các căn lều, kết cấu nhẹ bằng gỗ (nhà 1 tầng), và như vậy cũng không đảm bảo được sự an toàn cho quân nhân.

Vai trò quan trọng trong việc duy trì sự sống còn của SCH tất cả các cấp là độ cơ động và mức độ ngụy trang của chúng. Ví dụ, trong giai đoạn các trận đánh tháng 12, bốn trung đoàn TLPK và hai trung đoàn radar đã thay đổi địa điểm SCH của họ. Vấn đề liên quan đến SCH tiểu đoàn TLPK và đài điều khiển đại đội radar, đó là họ thay đổi vị trí của mình cùng với việc di chuyển của các tiểu đoàn và đại đội. Thời gian chuyển SCH trung đoàn mất trung bình 2-3 giờ (không kể thời gian công binh chuẩn bị trận địa trước đó).

Vị trí đặt SCH được chọn và chuẩn bị trước, nhưng do thiếu biên chế và một số lượng khí tài thông tin liên lạc hạn chế nên không được trang bị đầy đủ. Kịp thời thay đổi nơi bố trí SCH (đặc biệt là SCH trung đoàn) trong điều kiện chưa đầy đủ công trình công binh bảo vệ hoàn toàn hợp lý và cho phép giữ được sức sống và tính liên tục trong công tác quản lý chỉ huy bộ đội.

Các tiểu đoàn tên lửa PK thay đổi vị trí hỏa lực sau 5-8 lần phóng đạn tên lửa vào ban đêm, cũng như sau trận địa của mình rõ ràng đã bị trinh sát của địch phát hiện. Việc di chuyển vị trí trung đoàn tên lửa PK thường được thực hiện theo hai giai đoạn (hai tiểu đoàn chuyển quân một lần), trong khi đó việc quản lý chỉ huy 2 tiểu đoàn đầu tiên được thực hiện từ SCH tiền phương của trung đoàn, các tiểu đoàn còn lại trên các trận địa cơ bản được chỉ huy từ SCH cơ bản. Khi xây dựng SCH tiền phương người ta sử dụng một phần phương tiện liên lạc của SCH cơ bản, còn các kíp chiến đấu của nó được trung đoàn phó lãnh đạo theo đúng quy định. Sau khi tất cả các tiểu đoàn TLPK di dời xong đến khu vực mới thì SCH tiền phương hoặc nhập vào SCH cơ bản, hoặc được sử dụng để làm SCH dự bị.

Như vậy, tập hợp phong phú các biện pháp kỹ thuật công binh công trình và ngụy trang trên các trận địa, sự sẵn có các trận địa dự bị được thiết bị đầy đủ cùng các trận địa giả, việc chuẩn bị các mạng đường kép để cơ động vận chuyển đạn tên lửa và làm công tác hậu cần kỹ thuật, xây dựng dự trữ nguyên vật liệu và kết cấu phục vụ việc khôi phục lại các sân bay, việc chuẩn bị các công trình bảo vệ lâu dài cho đội ngũ quân nhân, thiết bị vũ khí khí tài, vật tư, cũng như việc cơ động kịp thời của các phân đội và SCH các đơn vị đã nâng cao đáng kể sức sống của toàn bộ hệ thống phòng không QĐND Việt Nam.

HẾT
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Chín, 2012, 11:32:39 pm gửi bởi qtdc » Logged
Trang: « 1 2 3 4   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM