(tiếp theo và hết)Hầm trú ẩn cho quân nhân trung đoàn không quân và các phân đội đảm bảo chủ yếu là loại kín có mái bảo vệ bằng bê tông cốt thép.
Tại các khu vực phân tán máy bay, xe cộ và vũ khí khí tài, người ta cũng xây dựng các hầm trú ẩn mà loại hình của công trình được xác định bởi địa hình tại chỗ. Ví dụ, trên các sân bay bố trí trong các rặng núi, người ta đã thiết lập các hầm trú ẩn loại kiên cố ngầm trong lòng đất (đào ngang trong các lớp đá). Năng lực chứa của các hầm trú ẩn như vậy là khác nhau - từ 6 đến 30 máy bay MiG-21. Hầm trú ẩn tại sân bay Nội Bài có dạng chữ C, có ba mặt tiền, lối vào và lối ra được đóng lại bằng cửa cổng bê tông cốt thép kiểu 2 cánh (Sơ đồ 27).
Chiều dài của nó khoảng 350 m, chiều rộng 15-20 m, chiều cao 7-8 m. Hầm chứa công suất thấp (6-8 máy bay) tại sân bay Anh Sơn có chiều dài 75-80 m, chiều rộng và chiều cao tương tự như công trình tại sân bay Nội Bài. Lối vào được đóng bằng cửa nâng bê tông cốt thép dẫn động điện. Thiết bị kỹ thuật bên trong hầm chứa (trừ việc cấp điện) là không có.
Hầm trú ẩn cho quân nhân, xưởng sửa chữa và kho tàng tại các sân bay nằm ở khu vực miền núi cũng được thiết lập trong các không gian tạo ra bằng cách đào ngang trong sườn núi. Trên mặt bằng chúng có đường đứt nét và chiều dài lên đến 80-100 m, tiết diện ngang phần hành lang - 1,5 x1, 8 m. Ở giữa hành lang được mở rộng – thành các phòng riêng biệt.
Lối ra khỏi hầm trú ẩn được bố trí ở các mức khác nhau và được che đậy ngụy trang và thông hơi bằng các nắp làm bằng đất hoặc gỗ cây. Trong hành lang người ta thành lập sơ đồ mê cung với các lỗ châu mai cho hỏa lực. Những lỗ châu mai tương tự cũng được xây dựng ở hai bên lối vào. Thiết bị kỹ thuật nội bộ không có, thông gió – theo kiểu tự nhiên, năng lượng được cấp từ các trạm phát điện di động. Nước được trữ trong các bể chứa bê tông xi măng.
Hầm trú ẩn kiểu này đảm bảo được an toàn cho các loại máy bay, vũ khí và quân nhân khỏi mọi loại bom mà không quân Mỹ sử dụng, ngay cả khi chúng tấn công trực tiếp.
Tại sân bay nằm ở vùng đồng bằng, máy bay, xưởng quân giới và kho tàng được giấu trong các ụ chứa-có mái che (Sơ đồ 28).
Sơ đồ 27. Công trình cất giữ máy bay trong lòng núi theo phương ngang. Sức chứa đến 30 máy bay MIG-21.
Sơ đồ 28. Ụ chứa máy bay có mái che. 1- đất dày 20 cm; 2- tấm PMP hoặc K-1-Đ; 3- thanh ray.Kết cấu cơ bản của một nhà chứa máy bay như vậy là một khung dạng lều làm từ các cấu kiện thanh kim loại hoặc đường ray. Khung được bao các tấm kim loại kiểu PM1-1-53 và K-1-D, và phủ một lớp đất dầy 20 cm - bảo vệ chống bom bi, cũng như để hình thành một thảm cỏ ngụy trang. Nhà chứa thường bố trí dọc theo các trục đường chính dẫn đến sân bay.
Một số máy bay trước chiến dịch "Linebacker-2" đóng căn cứ tại các sân bay vùng đồng bằng, thì nay trong thời gian chiến dịch được giấu tại các vùng rừng núi, cách xa các sân bay. Những chiếc máy bay này được cẩu chuyển bằng trực thăng Mi-6.
Việc trang bị công trình công binh cho các SCH xác định theo tầm ý nghĩa của nó. Chẳng hạn, SCHTT cho đến giữa mùa hè 1972 hoạt động trong một công trình ngầm kiên cố, có cấu trúc xây dựng bằng các lớp bê tông cốt thép, lớp đất dày bảo vệ - 3-4 m. Lối vào công trình được trang bị các cửa an ninh bằng kim loại, nó có hệ thống thông gió cưỡng bức và điều hòa nhiệt độ.
Do kết quả một cuộc tấn công trực tiếp bằng bom phá cỡ trung bình trong thời gian không kích quy mô lớn của không quân chiến thuật hồi tháng 6 năm 1972 hệ thống kết cấu cách nước bị phá hủy, và các gian phòng bị ngập nước. SCHTT phải di chuyển sang hoạt động tại một công trình dã chiến.
SCH sư đoàn PK bố trí chủ yếu trong các công trình bí mật. Chẳng hạn SCH sư đoàn PK Hải Phòng đặt trong một công trình hầm ngầm đào trong đá theo phương ngang. Lối vào được bảo vệ bằng cửa kim loại và một tiền sảnh. Trong hầm ngầm có hệ thống thông gió cưỡng bức và dự trữ nước uống. Nguồn điện cung cấp từ máy phát điện diesel.
Hầm trú ẩn được bảo vệ chống lại bom phá bất kể cỡ nào - ngay cả khi bom rơi trúng trực tiếp hầm ngầm.
SCH sư đoàn PK Hà Nội bố trí trong một công trình bê tông cốt thép đơn tấm có lớp đất bảo vệ dày 1,5-2 m. Lối vào công trình được bảo vệ bởi hai lớp cửa kim loại với một tiền sảnh ngăn giữa chúng. Thiết bị kỹ thuật bên trong không có, thông gió theo kiểu tự nhiên.
Được bảo vệ nhất là các SCH đặt trong các hang núi tự nhiên hoặc hầm ngầm nhân tạo trong các rặng núi đá. Các lối vào SCH đều được trang bị các cửa bảo vệ có tiền sảnh.
Trên địa hình bằng phẳng SCH các đơn vị được bảo vệ một phần, chúng được đặt trong các cấu trúc bán ngầm (do vị trí nước ngầm cao). Tường làm bằng gạch, gỗ, tre, nứa, v.v, trần - bao bì hoặc các vật liệu khác, với lớp đất đắp và đê quây.
SCH dã chiến đặt trong các lều làm bằng gỗ nhẹ (nhà 1 tầng), trong các tầng hầm của các tòa nhà, và sự bảo vệ cho quân nhân tại các dạng công trình dã chiến này là kém.
SCH tiểu đoàn TLPK trong mọi trường hợp đều bố trí trong cabin "UA", mức độ bảo vệ nó xác định cả mức độ bảo vệ cho SCH tiểu đoàn. Đài điều khiển bố trí tại các trận địa của các đại đội nằm gần trực tiếp đài radar (đến 50 m), trong các căn lều, kết cấu nhẹ bằng gỗ (nhà 1 tầng), và như vậy cũng không đảm bảo được sự an toàn cho quân nhân.
Vai trò quan trọng trong việc duy trì sự sống còn của SCH tất cả các cấp là độ cơ động và mức độ ngụy trang của chúng. Ví dụ, trong giai đoạn các trận đánh tháng 12, bốn trung đoàn TLPK và hai trung đoàn radar đã thay đổi địa điểm SCH của họ. Vấn đề liên quan đến SCH tiểu đoàn TLPK và đài điều khiển đại đội radar, đó là họ thay đổi vị trí của mình cùng với việc di chuyển của các tiểu đoàn và đại đội. Thời gian chuyển SCH trung đoàn mất trung bình 2-3 giờ (không kể thời gian công binh chuẩn bị trận địa trước đó).
Vị trí đặt SCH được chọn và chuẩn bị trước, nhưng do thiếu biên chế và một số lượng khí tài thông tin liên lạc hạn chế nên không được trang bị đầy đủ. Kịp thời thay đổi nơi bố trí SCH (đặc biệt là SCH trung đoàn) trong điều kiện chưa đầy đủ công trình công binh bảo vệ hoàn toàn hợp lý và cho phép giữ được sức sống và tính liên tục trong công tác quản lý chỉ huy bộ đội.
Các tiểu đoàn tên lửa PK thay đổi vị trí hỏa lực sau 5-8 lần phóng đạn tên lửa vào ban đêm, cũng như sau trận địa của mình rõ ràng đã bị trinh sát của địch phát hiện. Việc di chuyển vị trí trung đoàn tên lửa PK thường được thực hiện theo hai giai đoạn (hai tiểu đoàn chuyển quân một lần), trong khi đó việc quản lý chỉ huy 2 tiểu đoàn đầu tiên được thực hiện từ SCH tiền phương của trung đoàn, các tiểu đoàn còn lại trên các trận địa cơ bản được chỉ huy từ SCH cơ bản. Khi xây dựng SCH tiền phương người ta sử dụng một phần phương tiện liên lạc của SCH cơ bản, còn các kíp chiến đấu của nó được trung đoàn phó lãnh đạo theo đúng quy định. Sau khi tất cả các tiểu đoàn TLPK di dời xong đến khu vực mới thì SCH tiền phương hoặc nhập vào SCH cơ bản, hoặc được sử dụng để làm SCH dự bị.
Như vậy, tập hợp phong phú các biện pháp kỹ thuật công binh công trình và ngụy trang trên các trận địa, sự sẵn có các trận địa dự bị được thiết bị đầy đủ cùng các trận địa giả, việc chuẩn bị các mạng đường kép để cơ động vận chuyển đạn tên lửa và làm công tác hậu cần kỹ thuật, xây dựng dự trữ nguyên vật liệu và kết cấu phục vụ việc khôi phục lại các sân bay, việc chuẩn bị các công trình bảo vệ lâu dài cho đội ngũ quân nhân, thiết bị vũ khí khí tài, vật tư, cũng như việc cơ động kịp thời của các phân đội và SCH các đơn vị đã nâng cao đáng kể sức sống của toàn bộ hệ thống phòng không QĐND Việt Nam.
HẾT