Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:23:53 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bảo Đại - Hay là những ngày cuối cùng của vương triều An Nam  (Đọc 69886 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #90 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 07:48:00 am »

Mục tiêu cuối cùng là phải chiếm lại Hà Nội và toàn bộ bờ biển Đông. Như vậy cần có xuồng đổ bộ. Người ta mua được của người Anh ở Singapore. Còn máy bay, chỉ có hai chiếc Dakota thừa của Mỹ, chúng được tháo rời, gửi từng bộ phận theo đường dân sự. Lại còn phải hứa bừa rằng hai chiếc máy bay đó sẽ không dùng để chiến đấu. May mắn là vẫn người Anh, bán lại những chiếc Spitfire, đóng hòm từ London cùng với mười sáu Dakota khác, mười hai Junker cũ và ba thuỷ phi cơ Catalina.
Đầu tháng 3 năm 1946, lợi dụng thời cơ hoà hoãn do hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng Ba ký giữa Sainteny và Hồ Chí Minh, trung tá Crèvecoeur chuẩn bị đưa quân vào Huế. Tưởng như hoà bình sẽ đến gần khi hai bên ký những văn kiện thừa nhận Cộng hoà Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện và tài chính riêng. Ngược lại, quân Pháp được phép tiến ra miền Bắc thay thế quân đội Trung Hoa, đóng quân ở một số vị trí then chốt bên cạnh lực lượng tiếp phòng Việt Nam. Việc ký kết hiệp định Sainteny-Hồ Chí Minh quả là tạo thuận lợi cho việc Pháp tái chiếm miền Bắc.
Nếu không thế, việc quân Pháp tiến về Huế không thể dễ dàng mau chóng đến thế. Crèvecoeur, không đủ quân số người Âu, phải lấy du kích người thiểu số Mẹo ở Lào bổ sung. Còn một âm mưu thâm độc khác: người Mẹo vốn thâm thù người Việt từ xa xưa. Quân Pháp vượt biên giới Lào xâm nhập lãnh thổ Việt Nam ở vùng núi phía tây Trung Bộ, vừa đi vừa đánh. Những cuộc chạm súng dữ dội nhưng ngắn ngủi, với liên quân Lào-Việt. Sau khi chiếm được Tchépone, họ dừng lại ở Lao Bảo, một cái đèo trên đỉnh Trường Sơn.
Một cuộc chiến tranh không tuyên bố. Gọi các cuộc giao chiến ấy là gì, giữa một bên là quân Pháp từ ngoài vào đánh nhau với những người cách mạng, những người chỉ một mực bảo vệ chính phủ đang nắm quyền ở Hà Nội. Một cuộc chiến tranh không tuyên bố, giấu mặt, đáng xấu hổ.
Còn những người Pháp đang mắc kẹt ở Huế. Trên báo chí chính quốc, không ai nói đến họ. Vài trăm thường dân đang sống trong cảnh sợ hãi lo âu, bị lịch sử bỏ quên.
Trong các trận giao chiến đầu tiên ấy, quân của trung tá Crèvecoeur đã chạm trán với quân của Lê Văn Sửu tư lệnh quân khu 4 gồm tất cả các tỉnh miền trung Trung Bộ đến vĩ tuyến 16.
Ở Tchépone cuộc đụng độ xảy ra ác liệt nhất. Liên quân Lào - Việt gồm ba trăm hai mươi bảy tay súng.
Quân số chênh lệch quá. Sau đó là các trận đánh lẻ tẻ trên đường Khe Sanh, con đường vắng vẻ không người qua lại ngoài vài trạm kiểm soát hay tiếp tế, hơn hai mươi năm sau trở nên nổi tiếng một cách đáng buồn đối với người Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai mà Washington gọi là cuộc chiến tranh của người Mỹ còn Hà Nội gọi là cuộc kháng chiến chống Mỹ. Việc phá cầu theo dự tính không thực hiện được. Bê tông rắn quá. Những viên đạn lõm, những gói bộc phá đã không làm sập được mố cầu. Thế là quân của Crèvecoeur vượt sông, qua cầu nhanh chóng không gặp một sự kháng cự quan trọng nào. Tuy nhiên trung tá thấy lệnh của Hồ Chí Minh được niêm yết ở khắp vùng quê, dọc đường tiến quân. Quân đội Pháp phát hiện ra bảy xác chết bị chặt đầu, chắc là của lính đào ngũ hoặc các tên tay sai phản động bị Việt Minh trừng trị. Trong một báo cáo tình báo ngày 30 tháng 3 năm 1946, Crèvecoeur viết: "Ảnh hưởng của chính phủ Hà Nội là không thể bàn cãi "(2).
Tại Huế, học sinh trường quân sự Trung Bộ, nữ thanh niên, hướng đạo sinh, thanh niên công giáo gửi thư cho các chiến sĩ ở mặt trận động viên họ giữ vững tinh thần kháng chiến cho đến khi đánh thắng kẻ thù Pháp.
Người chỉ huy mạng lưới tình báo Ban Hành động (Service Action) của người Pháp ở Đông Dương thuộc phái De Gaulle, tự hỏi: "Có thể kết luận như thế nào? Sau khi hiệp định mồng 6 tháng 3 được công bố, nhiều cuộc mít tinh biểu tình được tổ chức đây đó, phản ánh một tâm trạng hài lòng nào đấy, thấy cuộc chiến đấu chấm dứt, nhưng người ta không muốn thú nhận, bộc lộ một ý muốn rất đặc trưng của người Việt là không mất mặt, lại có vẻ chiến thắng, thể hiện trên các khẩu biệu được nhắc lại nhiều lần không mảy may thay đổi: "Độc lập! Đánh đuổi thực dân Pháp" (3)v.v...
Bất kể như thế nào, ngày 29 tháng 3 khi quân Pháp mang cờ tam tài, hoà bình tiến vào cố đô Huế, số thường dân Pháp lâu nay sống quản thúc trong khu biệt cư cảm thấy nhẹ nhõm yên tâm sau một thời gian dài chờ đợi. Tờ báo Paris - Sài Gòn mô tả: "Lúc đó là mười sáu giờ ba mươi ngày 29 tháng ba. Các đơn vị quân Pháp đột nhiên xuất hiện. Trung tá Crèvecoeur đầu đội mũ nồi xanh của đơn vị Commando, đứng thẳng trên xe Jeep, qua cầu Trường Tiền đi đầu đoàn quân tiến vào thành phố. Tiếng hoan hô vang dậy không dứt. Liên tục trong nửa giờ, chỉ trừ mấy phút gián đoạn do có đội lính tuần tra Trung Quốc đi ngang qua, diễu hành trước mặt chỉ huy các xe Dodge, GMC, xe ba bánh lắp liên thanh tự động của đơn vị biệt kích thiết giáp kị, lính quân xa, pháo binh, đầy bụi bặm, màu da rám nắng, nhưng nét mặt tươi tỉnh mãn nguyện tươi rói sung sướng. Paris? Đúng là quang cảnh giải phóng Paris được sống lại, không phải cho ba triệu dân chúng Paris mà ba nghìn người dân Pháp trong thành phố Huế, nhưng cũng là không khí ấy, niềm hân hoan ấy, cũng những thiếu nữ mặc áo mỏng, màu sáng ngồi trên xe Jeep, cũng những cái hôn ấy, những đám đông người lớn và trẻ em túm năm tụm ba, miệng nhai kẹo sôcôla Mỹ vây quanh những anh lính lái xe Jeep. Đoàn xe đã đi qua dòng người vẫn hò hét, hoan hô cười nói, ôm hôn nhau có cả tiếng khóc vì xúc động đến quá bất ngờ. Chỉ tiếc rằng ở Huế không có gì uống, ngoài nước lã.
Đoàn quân Pháp tiến vào Huế có vẻ hãnh diện, rất ấn tượng đối với Bảo Long. Cậu ta chú ý trước hết đến thân hình lực sĩ của các chỉ huy chiến xa, nhô người lên khỏi tháp pháo. Thật là những con người khổng lồ bên cạnh khổ người bé nhỏ của lính Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản.
Tờ Paris - Sài Gòn kết luận với đầu óc sáng suốt hơn: "Cái ngày quan trọng này đối với người Pháp ở Huế đánh dấu một thời đại đã chấm dứt, nó cụ thể hoá sự kết thúc chiển tranh vì từ sự đầu hàng của Nhật, số phận của họ không hề thay đổi, nhưng nó cũng nói lên một cái gì khác đã khép lại. Trong xứ Annam cổ xưa này mà người Pháp cam kết bảo hộ từ 1884, không thể quay về với quá khứ. Trước đây ở Huế người Pháp đã từng được tôn vinh, nhưng Huế bây giờ là thủ phủ của Trung Bộ, là nước Việt Nam tự do liên kết với Cộng hoà Pháp vì hoà bình và tiến bộ. Có thể cho phép tự xả hơi một ngày, nhưng chỉ một ngày thôi vì ngày nay những khó khăn đã bắt đầu xuất hiện, ở phía Pháp hay phía Việt cần có những người điềm tĩnh, thông minh có thiện chí. May thay, ở Pháp và ở Việt Nam vẫn có những con người như thế".
Trái với không khí lạc quan được miêu tả trong các bài viết, thành phố Huế của người Việt không tham gia vào ngày hội. Không có tiếng hoan hô tiếng reo hò khi các đoàn quân xa tiến thận trọng qua ngoại ô. Đa số dân chúng người Việt ở cố đô không hoan nghênh gì đội quân vừa mới thành lập của nền Đệ tứ cộng hoà Pháp.
Ngay hoàng gia dù dị ứng với cách mạng cũng chẳng hoan nghênh họ đến đây. Các cô, các cậu con bà Nam Phương, những học trò ngoan dưới mái trường của nước Việt Nam độc lập, xem họ là những kẻ thù man rợ.
Sự có mặt của quân đội Pháp càng làm cho tình hình thêm lộn xộn. Từ nay, trong một thành phố có bốn thứ quân của bốn nước khác nhau: Việt Nam, Pháp, Trung Hoa, Nhật Bản đóng bên cạnh nhau. Lực lượng Nhật Bản, dù đã thất trận vẫn đông hơn cả. Sáu mươi ngàn lính Nhật đồn trú ở Trung Bộ và Bắc Bộ hồi đầu 1946.
Ở Huế, nơi sau này người ta gọi là "chảo lửa Việt Nam" tình hình căng thẳng hơn, ghi dấu bằng một số cuộc đụng độ nhất là về ban đêm.
Tình thế kỳ cục này, sự chung đụng của những lực lượng đối địch nhau, kéo dài nhiều tháng, lúc thì yên tĩnh lúc lại căng thẳng.
Người Pháp trong khu phố Tây ở Huế tin rằng họ đã tai qua nạn khỏi. Họ ăn ngon, ngủ yên không còn phải lo nơm nớp cho mạng sống của họ, yên chí chờ đợi sự sắp xếp của Toà Đại diện Cộng hoà Pháp tại Hà Nội để trở về chính quốc hay sang một thuộc địa khác. Nhưng chỉ là thời gian tạm nghỉ. chiến sự sẽ trở lại với mức độ ác liệt hơn. Vài tháng sau, quân Pháp gây hấn ở Hải Phòng. Cuộc thương lượng hoà bình ở Đà Lạt rồi ở Fontainebleau không đạt kết quả.

Chú thích:
(1) Xem Leclerc et l Indochine: 1945-1947, - Leclerc và Đông Dương 1945 1947, Quand se noua le destin d un empire, Khi nào kết thúc vận mệnh của một đế quốc - Nhà xuất bản Albin Michel.
(2) SHAT- Viện lịch sử lục quân Pháp, Hồ sơ Crèvecoeur.
(3) SHAT- Viện lịch sử lục quân Pháp, Hồ sơ Crèvecoeur.
Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #91 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 07:49:29 am »

Chương 18

  Cựu hoàng lặng lẽ thắt dây giầy cao su. Ông cẩn thận vuốt thẳng đôi bít tất ngắn trắng. Trái với đối thủ, thay quần áo trong phòng dành riêng ở góc vườn, ông thay quần áo luôn trong buồng ngủ. Một gian phòng đẹp, rộng rãi, thiết bị nội thất theo phong cách âu châu, một tủ quần áo mô-đéc, một tủ đựng khăn, mũ, chân tủ cẩu kỳ. Chiếc giường rộng không có nệm êm như giường nằm ở điện Kiến Trung ở Huế hay ở Hà Nội, nhưng mệt vì chuyến đi xa làm cho ông quên đi độ cứng của cái giường. Vả chăng lúc nầy đang có chiến tranh dù rằng nhìn từ Park Hotel, một khách sạn bị lãng quên ở miền Nam Trung Quốc, những cuộc chiến đấu dường như lùi xa vào quá khứ. Bảo Đại đứng dậy, như cái máy, nhìn vào chiếc gương đứng để kiểm tra bộ đồ của mình. Ông chăm chút dáng chiếc quần vải, chiếc áo sơ mi cộc tay, chọn một cặp kính râm rồi xuống sân quần vợt.
Nghiêm Kế Tổ đối thủ quần vợt của ông đang đợi. Họ trao đổi vài đường ban. Xung quanh dọc hàng rào mắt cáo ngăn sân quần vợt với bãi trước khách sạn, một toán lính Quốc dân đảng canh gác, uể oải như thờ ơ với cảnh khác thường đang diễn ra. Mấy tháng trước đây, không ai chơi ban ở đây. Đã phải dọn dẹp, loại bỏ những đồ linh tinh, ngổn ngang, ghế đẩu, ghế dài, những vỏ chai. Khách sạn lại tìm lại được ít nhiều vẻ lộng lẫy của nó với sự xuất hiện của người khách du lịch không chờ đợi nầy.
Hai người chơi lên lưới. Chiếc vợt của Bảo Đại dựng trên đầu vợt, xoay tròn như một chiếc cù rồi đổ xuống. Bảo Đại được giao ban. Ông bước đến cuối sân sau vạch sơn, đánh một quả ban rất mạnh. Tiếng đập rất căng vào lưới vợt đánh thức khu vườn bao quanh.
Lẩn nầy bọn lính Quốc dân đảng chăm chú theo dõi các đường ban. Hai người chơi tốt, thẳng cánh không e dè. Dù hơi mập, Bảo Đại hầu như chiếm lĩnh sân, lên lưới mỗi khi có thể. Gần như một trận đấu của nhà chuyên nghiệp đến mức lính Quốc dân đảng xuýt xoa thở dài mỗi khi tính điểm hai trái ban đánh lỗi. Không còn phân biệt ai là cựu hoàng, ai là bạn chơi mà chỉ là hai đối thủ mải mê quần nhau qua đường ban, bất chấp thời gian và lịch sử.
Hai bên ngang sức ngang tài nên những người Trung Quốc không hề nói gì đến kết quả trận đấu.
Điều bất ngờ cho tất cả là sự có mặt của một người trẻ tuổi cao lêu đêu theo dõi cảnh tượng từ trước ban công của khách sạn. Ông ta không giống lính Quốc dân đảng cũng không giống hai đối thủ quần vợt trên sân. Cao to, tóc cắt ngắn, quần áo sẫm màu, ông theo dõi không mỉm cười vũ điệu của hai bóng trắng. Người ta gọi ông là Hương, Hà Phú Hương, một nhân vật nổi tiếng, thoát nạn từ nhà ngục Kontum trở về. Hương là một trong hai trăm ba mươi tù nhân của nhà ngục nầy, gồm công nhân, nông dân, sinh viên, phần lớn là tù chính trị. Chúa ngục là Palméséani. Hương bị đày vào đây sau những cuộc biến loạn năm 1930. Cao trào cách mạng năm 1930 đã bị dìm trong bể máu trong những vụ đàn áp tàn khốc chưa từng có, thực hiện bằng lưỡi lê, bằng súng liên thanh, đôi khi bằng cả đại bác.
Để đếm tù Palméséani gõ một chiếc ba toong vào đầu mỗi tù nhân, miệng đếm một hai ba, v.v... Những kẻ bị hạ ngục có nhiệm vụ hoàn thành xây dựng một con đường thuộc địa 14, từ Dakpao đến Dakxut, trong sáu tháng từ tháng chạp năm 1930 đến tháng sáu 1931, một trăm bảy mươi tù nhân bỏ mạng.
Không phải vì khí hậu vì sốt rét mà bị giết.
Palméséani loại bỏ những ai không chịu đựng nổi nhịp độ tiến trình công việc. Ngày 12 tháng Chạp năm 1931, tù khổ sai từ chối không chịu rời ngục Kontum đi Dakpek nơi họ bị chết nhiều, lính canh ngục liền nổ súng. Mười sáu người chết trong số những người cứng đầu nhất. Lịch sử không nói cuối cùng họ có chịu đi không. Chính quyền Pháp biết tất cả những sự kiện đó.
Ngay sau khi Việt Minh cướp chính quyền, Hương thoát ngục trở về tham gia ngay công tác cách mạng là uỷ viên phụ trách văn hoá và tuyên truyền trong Uỷ ban nhân dân Trung Bộ. Tháng 3 năm 1946 ông được triệu tập đến dinh chủ tịch chính phủ tại Bắc Bộ phủ, trước đây là dinh thống sứ Bắc Kỳ. Ông đến bằng xe đạp, phương tiện đi lại quen thuộc của ông.
Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #92 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 07:49:50 am »

Giáp, người bạn học cũ tại trường Quốc học Huế, đón tiếp ông và đưa đến gặp chủ tịch Hồ Chí Minh. Mặc dầu cấp bậc khác nhau, do công việc bận rộn, những năm đau yếu, hôm nay lần đầu tiên người cựu chính trị phạm nhà ngục Kontum mới gặp lại bạn cũ. Ông Hồ Chí Minh nói với Hương: "Anh phải đi Trùng Khánh gặp Tưởng Giới Thạch nói với ông ta rằng chúng ta cần vũ khí để đánh đuổi quân Pháp". Ông Hồ giải thích thêm: quân Pháp đã chiếm Nam Bộ, đang đe doạ Hà Nội. Ông Hương kinh ngạc vì lời yêu cầu, vì sự tín nhiệm của chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch đã giao phó cho ông sứ mệnh quan trọng nầy. Ông chẳng biết gì về chính trị đối ngoại, về những chuyến công cán ngoại giao. Nhưng ông biết rằng thời gian cấp bách và hiểu rằng vị lãnh tụ cách mạng tìm cách phân hoá Trung Hoa và Pháp, lúc nầy đang thoả hiệp thu xếp với nhau trên lưng Việt Minh.
Hôm sau, ý thức sâu sắc tầm quan trọng của sứ mạng của mình, Hương trở lại phủ chủ tịch thì gặp một nhóm người, nguồn gốc chính trị rất khác nhau, người ta bảo sẽ đi với ông. Có những bộ trưởng cộng sản, cả những người của các đảng phái quốc gia thân Trung Quốc. Thời đó, chính phủ "liên hiệp quốc gia" tập hợp những người có ý thức hệ rất khác nhau. Dù có những cuộc hội họp, đón tiếp, nhưng chính là nhờ đài phát thanh Pháp mà ông Hương được biết cố vấn Vĩnh Thuỵ cũng tham gia phái đoàn. Ông không ưa cựu hoàng lắm nhưng cũng hiểu cựu hoàng không phải cùng loại với những người kia.
Chuyến đi bắt đầu bằng ôtô ra phi trường. Chiếc Packard mang từ Huế ra, lại lăn bánh chở chủ cũ và những người cách mạng trong chuyến đi không biết trước nầy. Hàng ghế sau hơi chật, Nguyễn Công Truyền, một quan chức Việt Minh, uỷ viên phụ trách tuyên truyền trong Uỷ ban nhân dân Bắc Bộ và Hà Phú Hương ngồi cạnh Bảo Đại. Nghiêm Kế Tổ, người của Quốc dân đảng, thứ trưởng Ngoại giao làm trưởng phái đoàn trên danh nghĩa, sau khi Bảo Đại từ chối không nhận làm trưởng đoàn, sẽ đi sau. Dù còn trẻ nhưng Hương vừa trải qua mười hai năm cấm cố trong xà lim, cổ đeo gông nối với hai chiếc xiềng quanh mắt cá chân khiến cho ông không đứng thẳng được. Ông nổi tiếng là một tù chính trị ngoan cường với kỷ luật hà khắc trong nhà tù thực dân.
Trên xe ra phi trường cố vấn Vĩnh Thuỵ thổ lộ với hai bạn đồng hành, khiến họ sửng sốt: "Tôi chủ yếu là đi du lịch". Ông ăn mặc tề chỉnh, sang trọng. Một người đi du lịch, tại sao không. Ngoài câu nói trên theo thói quen, ông không nói gì thêm.
Phái đoàn lên máy bay từ phi trường Hà Nội tới Côn Minh trên chiếc máy bay DC-3 chen chúc đám quân nhân Trung Hoa, lỉnh kỉnh hòm xiểng.
Trừ ông Vĩnh Thuỵ cũng biết lái máy bay lại dày dạn trong chuyến đi xa bằng máy bay, còn với những người khác thì đây là lần đầu tiên họ đi máy bay.
Côn Minh chỉ là một trạm trung chuyển. Một quả đồi của Vân Nam, cao hơn hai nghìn mét trên mặt biển. Một khách sạn bị cuộc nội chiến làm hư hại. Họ tạm trú ở đây để chờ thiện ý của Tưởng Giới Thạch.
Tưởng thống chế để mấy ngày mới trả lời. Nghiêm Kế Tổ từ trong nước đi sau đã theo kịp họ ở đây. Không khí trong đoàn thiếu cởi mở đầm ấm. Họ không nói gì với nhau trong cuộc họp chung toàn đoàn, chỉ trao đổi riêng từng nhóm quen biết nhau. Giờ phút trôi qua chậm chạp. Vĩnh Thuỵ, không bỏ lỡ thời cơ, qua đêm với một cô hầu buồng của khách sạn. Ban ngày ông lại mặc quần áo trắng chơi quần vợt dưới con mắt sững sờ của ông Hương.
Bảo Đại, từ nay ta lại trở lại với cái tên quen thuộc của nhân vật, lại thắng ván nữa. Nghiêm Kế Tổ chạy bở hơi tai từ đầu nầy đến đầu kia của sân quần để ứng phó cũng không lại được với Bảo Đại. Cựu hoàng vẫn giữ nguyên vẻ phớt lạnh chỉ hơi đổ mồ hôi, dù trời nắng. Sau trận đấu họ đi tắm. Khách sạn được xây dựng cạnh một suối nước nóng cách đó khoảng bốn mươi cây số. Lần nầy chỉ có hai người với nhau. Không có lính Trung Quốc, không có hai ông cán bộ Việt Minh khắc khổ thường tham dự vào cuộc kiểm điểm của họ. Sau khi tắm là ăn trưa. Bí thư trưởng của tướng Lư Hán, người đã dẫn một trăm sáu mươi ngàn quân Trung Hoa vào Việt Nam mời một bàn tiệc trưa. Chỉ có Bảo Đại đến một mình không ai tháp tùng ông. Cuộc chờ đợi ở Côn Minh bảy ngày. Trong khi Bảo Đại, Nghiêm Kế Tổ, vui thú quần vợt, tắm suối nước nóng thì ông Hương không hề từ bỏ vẻ mặt cứng rắn của ông.
Có một người khác cũng cảm thấy khó chịu. Đó là lãnh sự Pháp tại Côn Minh. Ông không hiểu gì về chuyến đi của cựu hoàng. Ông ta đi tị nạn hay trái lại tham gia một phái đoàn chính thức như người ta nói(1).
Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #93 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 07:50:11 am »

Viên lãnh sự điện về nước một bài trả lời phỏng vấn của ông Hương với một tờ báo địa phương:"Người ta nói rằng cựu Hoàng đế Bảo Đại không bằng lòng chính phủ Hồ Chí Minh? Không. Ông hoàn toàn tán thành những biện pháp của chính phủ. Nếu người Pháp không tôn trọng hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3, không trao trả độc lập cho các ông, thì các ông sẽ làm gì? Trả lời: Chúng tôi sẵn sàng chiến đấu và sẵn sàng hy sinh một triệu người"(2).
Cuối cùng một chiếc máy bay DC-3 đưa họ lên Trùng Khánh, một thành phố ba triệu dân, nơi chính phủ Trung Hoa đóng.
Ở đây trong khách sạn mới "Bốn mùa", Bảo Đại được bố trí một phòng rộng có phòng tiếp khách riêng, trong lúc Nguyễn Công Truyền và Hà Phú Hương chung nhau một phòng nhỏ. Họ còn phải chờ đợi mấy hôm nữa. Cuối cùng văn phòng chính phủ yêu cầu cựu hoàng chỉ một mình ông đến nói chuyện với thống chế họ Tưởng. Người ta hỏi Bảo Đại, người đi du lịch, có phải đúng ông cầm đầu phái đoàn không? Bảo Đại từ bỏ cây vợt đến dinh thống chế. Vẻ uy nghiêm của dinh thự Tưởng Giới Thạch khiến ông nhớ lại cung điện vàng son của ông trong Tử Cấm thành Huế.
Những nghi thức trọng thể dành cho ông, mà tại Hà Nội có đôi chút lãng quên, chứng tỏ người Trung Quốc coi sự thoái vị chỉ là một giai đoạn.
Một chiếc xe công đến khách sạn đón và đưa ông đến trụ sở chính phủ. Ông được các nhân vật cao cấp Quốc dân đảng mời ăn trưa. Cựu hoàng không tiết lộ với các bạn đồng hành nội dung của những cuộc trao đổi. Sau nầy ông tâm sự với một nhân viên mật vụ Pháp:
"Người ta cho tôi biết chính phủ Việt Nam, một mặt cử tôi đi thực hiện một sứ mạng hữu nghị với Trung Hoa thì đồng thời cũng cử một phái đoàn đi gặp đại sứ Xô viết. Tưởng Giới Thạch rất bất bình. Trong thực tế, chính là Mạc Tư Khoa chỉ huy mọi công việc hiện nay ở Hà Nội"(3). Ông Hương, người phát ngôn chính thức của phái đoàn, rốt cuộc được mời dự một cuộc hội đàm với những người lãnh đạo Quốc dân đảng Trung Hoa. Cuối cùng do Bảo Đại yêu cầu khẩn thiết, toàn thể thành viên trong phái đoàn được các cố vấn của Tưởng Thống chế tiếp trong một ngôi chùa để buổi hội kiến không có tính cách chính thức vì người Trung Hoa không muốn tiếp chính thức những nhân vật cộng sản.
"Các ngài có thể cung cấp vũ khí cho chúng tôi hoặc giúp chúng tôi chiến đấu với người Pháp không?". Ông Hương nêu câu hỏi.
"Sau khi Nhật đầu hàng, chúng tôi có quá nhiều vấn đề phải giải quyết. Hơn nữa tất cả những phương tiện chúng tôi có trong tay đều cần để cầm chân quân đội của Mao Trạch Đông. Chúng tôi không có phương tiện để gíúp các ông".
Sự từ chối là dứt khoát nhưng đài phát thanh Pháp nhắc lại: "Một phái đoàn quan trọng của chính phủ cách mạng đã gặp Tưởng Giới Thạch". Thông báo nầy hình như để tỏ ra rằng mối dây liên hệ giữa nước Pháp và Trung Quốc không chặt chẽ như người ta tưởng. Chính phủ Hà Nội ra sức tuyên truyền, quảng bá rộng rãi tin nầy. Nó cũng đáng giá cho chuyến đi nầy, Hồ Chí Minh không mong gì hơn thế.
***
Buổi tối Bảo Đại được tự do nhưng có kiểm soát. Người Trung Hoa không để cho ông được tự do sống cuộc sống ban đêm của ông dù rằng, mặc dù trong thời chiến, Trùng Khánh không thiếu trò tiêu khiển hấp dẫn. Có nhiều cạm bẫy, người Pháp có thể bắt cóc ông. Cuối cùng, khi người Trung Hoa nhận thấy cựu hoàng không thể nhịn những cuộc đi ra ngoài phố đó, họ phái đến cho ông một cô gái gọi. Cô nầy ngày đêm không rời ông nữa.
Chuyến đi và những cuộc thương thuyết của Bảo Đại với thống soái gây ra một mối băn khoăn lớn trong các nhân viên mật vụ đang giám sát thành phố Trung Quốc. Báo cáo của họ mâu thuẫn lung tung.
Cựu hoàng đi Trung Hoa chính xác vì lý do gì, cho ai? Đây là một đề tài nghiên cứu thú vị của giới tình báo.
Lúc đầu, cơ quan mật thám Pháp báo tin, ông sang Trung Quốc để đạt được việc rút ba mươi nghìn quân được gửi sang Việt Nam để chống lại quân đội do Paris gửi sang. Sau đó họ lại khẳng định: ông sang để thương lượng vay hai mươi triệu đồng của các nhà tài chính Mỹ do Tưởng Giới Thạch giới thiệu. Theo một loạt nguồn tin khác, nguồn tin nào cũng nói là có nguồn đáng tin cậy, Bảo Đại suýt nữa thành nạn nhân của một vụ mưu sát ở Côn Minh, ông không ngừng kêu gọi sự can thiệp của các cường quốc đồng minh công nhận ông là chủ tịch chính phủ Việt Nam thay thế Hồ Chí Minh đã bị cộng sản Pháp mua chuộc. Một tin khác: cựu hoàng tìm cách bán cho Trung Quốc các mỏ than ở Hồng Gai để lấy súng đạn, điều chắc chắn là Nhà vua trẻ đã nhiều lần tiếp xúc với đại sứ quán Hoa Kỳ. Ông mong Washington sẽ vào cuộc và người Mỹ sẽ chấp nhận làm trọng tài giữa nước Pháp và Việt Nam mới.
Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #94 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 07:50:38 am »

Thời kỳ Nhà vua phải mưu mẹo mới mua được quyển album dán tem đã xa rồi. Chiến tranh và cách mạng đã khiến ông trở nên quan trọng. Không phải do hành vi của ông hay sự lựa chọn đã chứng tỏ sự sáng suốt nhìn xa trông rộng của ông. Nhưng từ nay ông cân nhắc các sự kiện và mánh khóe. Con người ông chứa đựng một mớ hỗn tạp nhập nhằng. Có lúc ông thật sự là một thanh niên cường tráng lúc nào cũng mang một nỗi phiền muộn triền miên. Hình ảnh ông mờ nhạt. Hơi mềm yếu. Hình như ông để cho các sự kiện kéo đi mà không có chính kiến, hay không có cả nghị lực vững vàng. Hình như ông để mặc cho ngọn gió đẩy ông theo chiều hướng tốt.
Đến lúc phải trở về, cựu hoàng thông báo thẳng thừng với các thành viên trong phái đoàn "Tôi ở lại, tôi sẽ đi du lịch". Ông thêm: "Nếu gặp vợ tôi, nhờ các ông nói giúp tôi khỏe".
Hà Phú Hương nổi giận, không giữ được những điều kìm nén trong lòng từ lúc ra đi : "Thưa ngài, ngài chỉ nghĩ đến ăn chơi, gái và cờ bạc".
Cựu hoàng mỉm cười nhưng không nói gì. Nhận xét của ông Hương đâu có sai sự thật. Chuyện nầy do Hương thuật lại, chuyện kể chắc có thể khác nếu mấy tháng sau Bảo Đại không chống lại những người cộng sản.
Rõ ràng là cựu hoàng không trở về với gia đình. Một học sinh trốn học. Một vấn đề chính trị cao siêu hay đơn giản chỉ là lo cho sinh mạng không bảo đảm an toàn, nếu trở về với cách mạng là vấn đề an toàn. Bỏ trốn hay chỉ là vắng mặt, vấn đề nầy ông đã lưỡng lự lẩn tránh từ khi cách mạng nổ ra, bây giờ ông mới giải quyết.
Quyết định của cố vấn khiến mọi người sửng sốt.
Phái đoàn Việt Nam nghe Bảo Đại nói vậy tưng hửng như từ trên cao rơi xuống. Muốn hay không, đoàn cũng phải rời Trung Hoa về nước. Ngoài Bảo Đại, Nghiêm Kế Tổ cũng ở lại không chịu về. Từ sau hiệp định 6 tháng 3, quân Pháp thay thế quân Trung Hoa lo giải giáp và hồi hương quân Nhật. Quân của tướng Lư Hán rút khỏi miền Bắc, các đảng phái đội lốt quốc gia chống phá cách mạng mất luôn chỗ dựa. Chính phủ nhân cơ hội nầy thẳng tay trừng trị chúng, giải tán các toán vũ trang, xoá bỏ chính quyền ly khai ở một số tỉnh.
Ông Hương và Nguyễn Công Truyền trở về Hà Nội để báo cáo với chủ tịch Hồ Chí Minh. Biết nói gì đây?
Một cuộc chạy trốn, một sự đào ngũ hay chỉ là ý muốn ngông cuồng đi du lịch? Kể lại có ích gì. Bình thường ra, phái bộ đi Trung Hoa sẽ phải có một người ở lại Trung Hoa là đại diện như trong quyết định của hội đồng chính phủ trong phiên họp ngày 11 tháng 3 năm 1946. Nhưng người đó là ai? Hồ Chí Minh chắc chắn biết trước ý định của ông cố vấn tối cao. Ông có viết thư cho Bảo Đại bảo ông ta ở lại chờ lệnh mới không?
Không ai khẳng định điều nầy. Ngoài mặt ông tỏ ý tiếc sự lựa chọn của Bảo Đại. Tuy nhiên nhịp cầu không vì thế bị cắt đứt. Hơn thế nữa, Hồ Chí Minh còn thuyết phục chính phủ gửi cho Bảo Đại một số tiền để ông ta có thể trở về nước trong trường hợp ông muốn trở về.
Trong thực tế, ông cố vấn tối cao không còn một xu dính túi. Tiền vợ nhờ chuyển cho chẳng còn gì, tiền nằm trong tài khoản của ông ở nhà băng Đông Dương bị phong toả. Muốn sống ở Trung Hoa ông phải vay nợ.
Lúc đầu ông vay của một người Tàu tên là Wong Phu. Ba năm sau, khi ông lại được làm quốc trưởng, người Tàu nầy gõ cửa đòi nợ. Ông vay của Lý Lệ Hà, cô nhân tình đã lặn lội sang Trùng Khánh theo ông, chia sẻ ngày đêm với ông và mở hầu bao. Bảo Đại lao vào các cuộc thương thảo với người Trung Hoa và Pháp. Ông sống nhờ vào tiền tiết kiệm của nhân tình. Sau nầy ông còn được một người Trung Hoa khác bao ông. Zing Tsong Phao, một nhân viên tình báo Trung Hoa-Mỹ, người đã tiễn ông ở Côn Minh.
Bảo Đại đi rồi, dù báo chí Hà Nội không có bài nào lên án hành động phản bội của ông nhưng đây đó những tin đồn về nguồn gốc đáng ngờ của ông được nhắc lại truyền tai nhau. Những chuyện xấu xa về tư cách ông được bàn tán, lan rộng khắp phố phường Hà Nội.

Chú thích:
(1) Hồ sơ lưu trữ bộ Ngoại giao Pháp.
(2) Yunnan Ye Pao - Vân Nam Nhật báo, số ra ngày 24 tháng 3 năm 1946.
(3) Hồ sơ lưu trữ bộ Ngoại giao Pháp - Vụ Á - Châu Đại Dương,
Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #95 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 07:52:09 am »

Chương 19

  Sắc xuân tô điểm lên cố đô Huế những màu êm dịu. Sau những cơn mưa đông liên miên rả rích không dứt, những tán cây được tô sắc hồng êm ả như được giải phóng, như một lời hứa hẹn hạnh phúc. Đặc biệt là trong năm 1946 nầy, dân chúng cố đô, và cả gia đình hoàng gia đều đặc biệt cảm nhận được điều nầy.
Ông Hà Phú Hương vừa ở Trung Quốc về, đến Hà Nội sau khi báo cáo với Hồ Chí Minh đã về Huế báo tin cho bà Nam Phương biết.
Bà Nam Phương không tỏ vẻ ngạc nhiên khi nghe ông Hương kể chuyện nhưng cũng không giấu nổi nỗi buồn sâu lắng vì từ nay bà thực sự phải sống lẻ loi đơn chiếc. Bà vẫn nói là không hề biết chồng mình có ý định chu du ở ngoại quốc. Nhưng dẫu sao, ông đã đột ngột quyết định không trở về. Mắt bà rớm lệ. Năm mươi năm sau, ông Hương vẫn còn xúc động khi nhớ lại chiều hôm đó. Lẽ nào chồng bà lại không báo trước cho bà?
Vậy là từ nay, không còn ai đứng ra che chở bà từ cấp cao của nhà nước. Nếu chiến tranh chống Pháp nổ ra, chắc chắn bà sẽ bị cô lập. Điều xấu hơn nữa, dù không được nói ra, rằng tuy bà không bị ai đe doạ nhưng vị trí của bà sẽ thực sự như một con tin cũng như cả gia đình bà và đặc biệt là hoàng tử kế vị.
Tin đồn sẽ có chiến tranh Việt-Pháp lan rộng, bà cựu Hoàng hậu không che giấu ý định của mình là rời cung An Định đến nơi an toàn hơn cho các con bà đặc biệt là Bảo Long. Cả nhà, bọn gia nhân và tất nhiên những người giám sát bà biết rõ ý định nầy.
Năm 1946 trôi qua và khả năng thi hành bản hiệp định mồng 6 tháng 3 rất mong manh. Cuộc đối đầu giữa Việt Nam và Pháp là điều không tránh khỏi.
Những vụ rắc rối mặc dù ít hơn và không đẫm máu bằng ở Hà Nội nhưng nay đã xảy ra thường xuyên hơn. Chúng diễn ra theo cùng một kịch bản. Một phát súng nổ, nhiều người Pháp bị thương hoặc chết thế là cả khu phố nổi dậy. Tình hình chỉ tạm lắng khi có sự can thiệp của tổ liên kiểm Việt-Pháp. Những tay súng bắn tỉa giấu mình trong bóng tối của các ngôi nhà và đường phố trở lại yên tĩnh để chờ đợi một vụ rắc rối mới. Phần lớn các vụ lộn xộn đều do các đảng phái đội lốt "quốc gia" gây ra đến mức xuất hiện sự mở đầu cuộc nội chiến giữa quân đội chính phủ và các nhóm thân Tưởng. Tình trạng vô chính phủ một lần nữa đe doạ thế cân bằng mong manh hồi tháng 3 và đã cứu vãn hoà bình.
Trong không khí nặng nề như vậy, bà cựu Hoàng hậu trẻ tuổi quyết định cần phải "làm cái gì đó". Bản tin tháng 8 năm 1946 của Phòng Nhì Pháp (SEHAN) đã tiết lộ âm mưu nầy, có nghĩa là gần một năm sau khi ông Hòe nghe được tin đồn.
Phe bảo hoàng, chủ yếu gồm những người công giáo, đã nhất trí hành động để trong những ngày tới cho ra đời một chính đảng thực sự đối lập với phe Việt Minh. Đảng nầy chủ trương thống nhất "ba kỳ" Trung, Nam, Bắc dưới sự chỉ đạo của Bảo Đại, mặc dù vẫn còn nhiều bất tiện nhưng còn hơn là chế độ nhiếp chính. Một hội nghị công giáo đã nhóm họp ngày 15 tháng 8 năm 1945 tại Huế, mỗi "kỳ" đều cử đại biểu đến dự họp, dưới quyền chủ toạ của bà cựu Hoàng hậu Nam Phương. Điều nầy đánh dấu một giai đoạn hoặc bước khởi động cho chính đảng công giáo đã tồn tại bí mật.
Như vậy bà Nam Phương đã bắt tay hành động thật sự. Chính đảng công giáo mà bà là linh hồn, do một cựu thượng thư, ông Trần Văn Lý, được đức khâm mạng toà thánh Vatican ủng hộ. Vậy đảng nầy muốn gì? Họ muốn Pháp trang bị vũ khí cho 30 hoặc 40 nghìn đảng viên là tín đồ công giáo. Thậm chí họ còn khuyến khích Paris hành động bạo lực ở Trung và Nam kỳ. Sau đó người của phái bảo hoàng công giáo sẽ giúp đỡ quân đội Pháp.
"Nếu chính đảng nầy còn chần chừ thì sẽ thất bại và khi đó Việt Minh sẽ nắm trọn quyền bính. Vậy là có thể đảng nầy sẽ đại diện cho một phe đối lập cần được bộ chỉ huy Pháp theo dõi và kiểm soát nếu cần"(1).

Nhưng Paris không động tĩnh gì. Âm mưu đó không thành. Nhưng dù sao, không phải chỉ lần nầy.

Chú thích:
(1) CAOM. Lưu trữ bộ Pháp quốc Hải ngoại tại Aix-en-Provence, Sở mật thám.
Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #96 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 07:53:57 am »

Chương 20

  Theo cách làm quen thuộc, người Pháp muốn lập vua mới để đứng đầu chính quyền tay sai... Dưới con mắt người Pháp, Bảo Đại là con người vô dụng, bạc nhược, hai lần phản bội người Pháp. Hết phục tùng chính phủ Vichy thân Đức, làm bù nhìn cho Nhật, lại ngoan ngoãn quy thuận Việt Minh, dễ dàng thoái vị, rồi cuối cùng ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh. Và chắc chắn là với đồng bào mình, ông ta hoàn toàn mất hết lòng tin.
Chọn ai bây giờ? Chọn Bảo Long có nghĩa là sẽ giao quyền nhiếp chính cho cựu Hoàng hậu Nam Phương. Đã có lúc giải pháp nầy được nghĩ đến. Có nhiều thuận lợi vì lúc nầy bà cựu hoàng sắp sửa kêu gọi người Pháp giúp đỡ để thoát khỏi sự kiềm toả của Việt Minh.
Tuy nhiên, giới hữu trách trong chính phủ lâm thời Pháp không dừng lại ở giải pháp nầy. Họ đi xa hơn, ngược thời gian, nghĩ đến Duy Tân, vị vua trẻ đã thách thức họ trong những năm 1916. Giờ đây ông ta ra sao?
Dân chúng thành phố Saint-Denis thuộc bán đảo Réunion biết rõ Duy Tân, đến mức chỉ gọi bằng tước hiệu "hoàng tử" mà không cần gọi đích danh. Ông có một cửa hiệu nhỏ ở trung tâm thành phố. Hoàng tử Vĩnh San tức cựu hoàng Duy Tân, nay kiếm sống bằng nghề sửa chữa, lắp đặt thiết bị vô tuyến điện làm kế sinh nhai. Chẳng phải là thiết bị vô tuyến điện cho tàu ngầm, cho các đơn vị dã chiến hay cho đội quân ngầm mà chỉ là loại máy thu thanh vô tuyến đơn giản hình tròn, có đèn sáng đặt trên quầy rượu nhà quê. Lúc đầu để tăng thêm thu nhập ít ỏi của mình, ông còn làm nghề cưỡi ngựa đua (dô-kê). Thuở nhỏ ở Huế khi học làm vua ông đã được học cưỡi ngựa.
17 tuổi, bị lưu đày xứ người, chẳng biết làm gì khác, dĩ nhiên ông đành chọn nghề cưỡi ngựa đua, đua ngựa vốn đã là một nghề. Tuy nhiên, chính phủ Pháp trước đây đã phế truất ông, thì giờ đây lại hào phóng cấp cho ông một khoản trợ cấp. Một khoản trợ cấp nhỏ, như báo chí Pháp đã vạch rõ, chỉ tương đương với lương của một công nhân làm đường(1). Tài sản của ông ở trong nước lúc đầu bị tịch thu, sau đó được trả về cho Triều đình. Thật sự phá sản, cựu hoàng Duy Tân bỏ nghề đua ngựa vất vả, quay sang đánh cá và chăn nuôi mới đủ sống. Khoản trợ cấp ít ỏi của ông không đủ nuôi cả gia đình.
Về sau, do nhu cầu bắt buộc, ông lao vào lĩnh vực thông tin vô tuyến điện và ít nhiều thành công. Cửa hiệu của ông nhanh chóng nổi tiếng trong lực lượng kháng chiến ở đảo Réunion. Ở đâu có thể nghe được tiếng nói của đài Tiếng Pháp tự do, ở đâu có thể gửi các tin tức ra ngoài dễ dàng hơn là từ cửa hiệu bé nhỏ của người chuyên về vô tuyến điện nầy. Với thời gian, vị cựu hoàng lưu đày trở nên nổi tiếng. Ông tham gia đều đặn các công việc của chi hội Tam Điểm (Tình bạn) ở Saint-Dems, cũng như tham dự các cuộc họp của Hội Nhân quyền. Chi hội trưởng hội Tam Điểm trong thư giới thiệu đã viết về Duy Tân: "Ở đâu cũng vậy, ông được mọi người chú ý về quan điểm rất rõ ràng về công lý và công bằng".
Ông là một người ham học hỏi giàu tình cảm, để lại nhiều ấn tượng khó quên. Tính tình khô khan, căng thẳng như võ sĩ samurai hay như Đôngkisốt. Một người bạn Pháp yêu cầu ông tự khắc hoạ chân dung, ông viết: "Tôi là một con người thể tạng yếu, có vẻ như tính khí tế nhị. Miệt thị gần như tuyệt đối thể chất mình. Gần như không có bản năng bảo tồn".
Tất cả đều ngược lại với người em họ Bảo Đại của ông mà tất nhiên ông coi như một kẻ cướp ngôi hạng xoàng.
Chẳng những không thù ghét nước Pháp, Duy Tân còn muốn chiến đấu vì nước Pháp.
Ngay từ tháng 9 năm 1939 ông đã muốn chiến đấu chống Đức nên ông đã đề nghị với nhà đương cục Pháp ở đảo Réunion được nhập ngũ. Thật là một cử chỉ nghĩa hiệp và đôi chút gây ngạc nhiên đối với một kẻ đi đày biệt xứ, đã từng trải qua từ đỉnh vinh quang đến cùng quẫn thật sự do chính các giới cầm quyền trên đảo gây nên. Một vị Hoàng đế bị Pháp phế truất nay lại xin sẵn sàng hy sinh cho nước Pháp.
Thế nào cũng được. Điều đó chẳng quan trọng gì. Thời thế bây giờ dành cho chủ nghĩa anh hùng và chính ông Bộ trưởng thuộc địa phải quyết định nên xử trí như thế nào đối với yêu cầu nhập ngũ lạ lùng kia.
Nhưng việc hoàng tử Vĩnh San tham gia phát thanh bí mật một năm trước đây là một cách phê phán chủ nghĩa thực dân Pháp. Do đó, ông không được gia nhập quân ngũ(2).
Không oán hận, Vĩnh San quyết định gia nhập lực lượng nước Pháp tự do và từ năm 1940 ông tích cực tuyên truyền cho phái De Gaulle. Hoạt động kháng chiến nầy đã làm ông bị cảnh sát của chính phủ Vichy bắt giam một tháng. Sau đó, ông tham gia nhiều cuộc giao chiến trên đảo, tham dự vào cuộc đổ bộ của lực lượng nước Pháp tự do vào đảo Réunion năm 1942.
Nhưng không an phận dừng lại, ông lên tiếng đòi được ra trận tiếp tục chiến đấu. Tất nhiên là vì nước Pháp.
Cuối cùng thì ông cũng được nhận vào làm chân thông tin vô tuyến điện trên một khu trục hạm với cấp bậc chuẩn uý. Một cấp bậc quá khiêm tốn đối với một người ở tuổi 40. Một địa vị thấp kém trong quân ngũ đối với một phế đế khiến ông rầu lòng đến nỗi ông tránh mặt không muốn gặp đồng bào người Việt của mình. Sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, nghĩa là sau khi Nhật đảo chính lật đổ chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương, Vĩnh San tạm gác ý muốn tham gia chiến đấu ở châu Á, đề nghị gửi những thông điệp qua vô tuyến điện kêu gọi người dân Việt Nam, đứng lên đấu tranh chống Nhật, không chấp nhận nền độc lập dưới ách chiếm đóng của Nhật.
Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #97 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 07:54:20 am »

Các nhà cầm quyền trên đảo Réunion hoan nghênh những biểu hiện yêu nước của ông ủng hộ sáng kiến về cửa hàng vô tuyến điện của ông, trao tặng ông cả Huân chương giải phóng, nhưng họ không thể để ông trở về Đông Dương. Ông đành chấp nhận ra mặt trận chống Đức ở châu Âu. Ông vui vẻ bay đi Paris nhưng khi dừng lại ở Tananarive (thủ đô Madagascar), ông được tin Đức Quốc xã đã đầu hàng...
Tháng 3 năm 1945, chính phủ De Gaulle bắt đầu tự hỏi tương lai của bán đảo Đông Dương sẽ ra sao. Hoàng đế Bảo Đại, con đẻ của chủ nghĩa thực dân Pháp, được nuôi nấng dạy dỗ từ bé tại Cộng hoà Pháp nay hình như ăn ý với kẻ thù Nhật Bản. Có lẽ giống như thời Hàm Nghi, Thành Thái hay cả thời Duy Tân, có nên nghĩ đến việc nhanh chóng thay đổi người chiếm giữ ngai vàng ở Việt Nam. Có vẻ như người Anh cũng có ý kiến như vậy. Cũng trong tháng 3 năm 1945, bộ Ngoại giao Anh yêu cầu tìm hiểu những nguồn tin liên quan đến việc hậu duệ trực tiếp của vua Gia Long, bị đày biệt xứ 29 năm trước đây, sẽ trở thành vị Hoàng đế trẻ tuổi Việt Nam(3).
Từ đó, sự nghiệp của người đã từng là Hoàng đế và đã từng đua ngựa nầy thăng tiến rất nhanh. Tháng 8 mới chỉ là chuẩn uý, đến tháng 11, ông đã thăng cấp tiểu đoàn trưởng? Rồi ban tham mưu điều ông đi Paris, đứng trong đội hình sư đoàn 9 bộ binh thuộc địa.
Nhưng sư đoàn 9 bộ binh thuộc địa đã xuống tàu đi Sài Gòn. Binh đoàn nổi tiếng nầy, dưới sự chỉ huy của Leclerc, sẽ dần dần tái chiếm Nam Bộ trước khi tiến ra miền Trung và Bắc Bộ. Ngay lúc đó, hoàng tử Vĩnh San được chuyển sang trung đoàn xe tăng đóng tại Đức. Bộ trưởng thuộc địa muốn giữ nguyên nhiệt tình hăng hái của ông nhất là chưa muốn chơi con bài Duy Tân quá vội vã bằng cách đưa ông vào binh chủng xung kích...
Tất nhiên là Vĩnh San tức điên lên, không tự kiềm chế được nữa, rồi cuối cùng ông viết thư cho tướng De Gaulle, người đã tiếp ông ở Madagascar: "Xin ngài hãy làm mọi việc để tôi có thể nhanh chóng đến đó, để có thể tự chuộc lỗi bằng sự hy sinh trong lửa đạn. Tôi muốn được dâng hiến cả thể xác và tâm hồn cho đất nước tôi, xin ngài đừng để cho người ta đem về nước một cái xác không hồn"(4). Khốn khổ thay cựu Hoàng đế Duy Tân, cứ muốn được gặp thần tượng mới của ông và là người thầy của ông là tướng De Gaulle, vì ông ta cũng như vì nước Pháp ông sẵn sàng hy sinh, ông viết: "Bây giờ tôi được biết rằng lãnh đạo tôi có một con người tôi sẽ tiến lên dù phải ngã xuống tôi cũng không cần!". Con người lạ lùng phát biểu như một lính già, cuồng nhiệt, cục cằn, ở lì trong căn phòng khách sạn Littré, chờ đợi một cuộc tiếp kiến không lấy gì làm chắc chắn - nếu không nói là hão huyền - với vị chủ tịch chính phủ lâm thời của nước Pháp. Đây là lần đầu tiên ông sống ở Paris, bởi vì đối với ông thế giới bên ngoài chỉ là Huế, với cuộc sống khép kín trong Tử Cấm thành xa lánh dân chúng và hòn đảo Réunion, nơi ông bị lưu đày đã ba chục năm. Vì thế ông tranh thủ cơ hội đi thăm các công trình nghệ thuật, rất ngạc nhiên về giá trị các đồ vật và chú ý đến cả một vài cảnh tượng làm ông xao xuyến, ông không còn thản nhiên khô cứng như trước. Trong thư gửi người bạn đã giúp ông đi khỏi Réunion, ông viết "Ở Paris, tất cả các cô gái đều đi xe đạp suốt cả ngày, nhưng là những chiếc xe đạp thực sự và vì các cô đều mặc váy ngắn và rộng nên người ta không cần phải cá cược xem quần lót của các cô màu gì?".
Cuối cùng tướng De Gaulle cũng nhớ tới ông. De Gaulle đã viết về ông trong cuốn Mémoires de guerre (Hồi ký về chiến tranh) của ông như sau:
"Để mọi việc có thể đi đến một kết thúc tốt đẹp, tôi đang nuôi dưỡng một ý định bí mật. Đó là giúp cho cựu hoàng Duy Tân được trở lại ngôi báu, nếu như người kế vị và cũng là người bà con Bảo Đại của ông ta đã bị thời thế vượt qua. Hoàng đế Duy Tân đã bị người Pháp truất ngôi năm 1916, trở thành hoàng tử Vĩnh San và đưa về đảo Réunion, tuy nhiên ông đã tham gia chiến tranh, phục vụ trong quân đội chúng ta với cấp bậc thiếu tá. Đó là một nhân cách lớn. Ba mươi năm lưu đày đã không thể xoá bỏ được hình ảnh vị vua nầy trong tâm hồn người Việt. Ngày 14 tháng chạp tới (năm 1945) tôi sẽ tiếp ông ấy và cùng với ông ấy xem xét từng người một để biết có thể cùng nhau làm được gì. Dù những người cùng chính phủ của tôi sẽ đi đến ký kết các hiệp định như thế nào, tôi dự tính sẽ đến Đông Dương để ký chính thức một cách trọng thể nhất khi thời cơ chín muồi"(5).
Kết thúc cuộc tiếp kiến, hoàng tử Vĩnh San không còn kìm nén nổi sự vui mừng. Khuôn mặt thanh tú, khô cứng, trái ngược với khuôn mặt của Bảo Đại, nở một nụ cười rạng rỡ: "Thế là xong, ông thốt lên, mọi việc đã được quyết định, chính phủ Pháp sẽ đưa tôi trở lại ngai vàng, tướng De Gaulle sẽ tháp tùng khi tôi trở lại đó!". Khi nào đây? De Gaulle dự tính chuyến đi vào đầu tháng 3.
Ông sẽ làm gì trong lúc chờ đợi? Trở về doanh trại ở Đức hay nằm chờ ở Paris? Jacques Soustelle (tham mưu trưởng quân đội Pháp, phụ trách tình báo) quyết định ông trở về đảo Réunion, đợi ở nhà ông thì sẽ tốt hơn. Pierre Messmer, với tư cách tổng thư ký Uỷ ban liên bộ về Đông Dương đã ký lá thư thông báo cho ông về quyết định nầy.
Mười hai ngày sau, chiếc máy bay chở hoàng tử Vĩnh San về đảo Réunion đã nổ tung trên bầu trời châu Phi, trong vùng phụ cận Bangui. Một tai nạn, đó thực sự là một tai nạn mà ông không tránh khỏi.

Chú thích:
(1) CAOM, Lưu trữ bộ Pháp quốc Hải ngoại, tập 1105 NF, hộp 122.
(2) CAOM, Lưu trữ bộ Pháp quốc Hải ngoại, số 2337 NF, hộp 267 - Điện của các ông Aubert và Court.
(3) CAOM, Lưu trữ bộ Pháp quốc Hải ngoại, tập số 1580 NF.
(4) Général de Gaulle, Mémoires de guerre (Hồi ký chiến tranh), Nhà xuất bản Plon, Paris.
(5) CAOM, Lưu trữ bộ Pháp quốc Hải ngoại, tập 1580.
Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #98 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 07:55:53 am »

Chương 21

  Ngày 19 tháng 12 năm 1946, từ mờ sáng, Bảo Long rời khỏi cung An Định, nơi cậu ta sống cùng mẹ và các em từ khi cha thoái vị. Người kéo xe đã chờ sẵn ngoài cổng. Cùng đi còn có một người trẻ tuổi, theo hầu từ lúc chào đời, chắc hẳn còn là người bạn thân thiết của cậu.
Không ai nói với ai một lời, như những kẻ đi trốn, hai người men theo khu vườn rộng, lùi lũi ra khỏi cung về phía thành phố. Trời hửng sáng rất nhanh và trong chốc lát tia nắng trời rụt rè của mùa đông miền Trung đã chiếu hắt lên những bức tường gồ ghề bao quanh khu nhà hát cũ đằng sau cung. Ở Huế, khu phố nầy mang dáng dấp thôn dã, nhưng trong số những người nhà quê hàng ngày vẫn làm ruộng quanh đó, không ai để ý hai người đang lén lút ra khỏi cung. Trong gia đình hoàng gia, kể cả những người thân cận, không một ai nói lên hai tiếng "đi trốn". Bản thân bà Nam Phương cũng thấy chối tai. Ngồi trong nhà bà nhìn theo đứa con trai đầu lòng và người hầu cho đến khi hai người đi qua cổng, vượt bức tường ngăn rồi bước lên chiếc xe kéo chờ sẵn. Lúc nầy xe xích lô còn ít người dùng, không phổ biến như những năm sau. Có ít người ở Trung Kỳ sử dụng xích lô mà một vài năm sau nó trở nên rất phổ biến. Hai người bước lên xe lọt thỏm trong thùng xe bên cạnh túi đựng quần áo và đồ dùng vặt vãnh. Người hầu gái của bà Nam Phương cũng vừa đến. Không hề có ôm hôn, chỉ một chút biểu hiện tình cảm. Chiếc xe bắt đầu lăn bánh, lắc lư. Bà Nam Phương lặng lẽ nhìn theo. Thực ra chỉ đi một quãng ngắn hơn trăm mét là đã đến khu nhà thờ dòng Chúa cứu thế. Ở đó đứng sau cánh cổng, một cha cố đã đợi sẵn.
***
Một vài tuần trước đó, Pháp đã nổ súng gây hấn ở Hải Phòng. Sáu nghìn người chết vì trọng pháo từ tàu chiến bắn vào. Sáu nghìn thường dân vô tội đã phải trả giá cho cơn giận dữ của cả hai bên Pháp và Việt Nam.
Tất cả bắt đầu bằng một vụ tranh chấp hải quan ở cảng Hải Phòng. Quan hệ hai bên vẫn rất căng thẳng. Việc hai bên, kẻ thắng cũng như người thua cùng đóng quân cạnh nhau trước đây còn vui vẻ cùng diễu binh ở Huế cũng như ở nhiều nơi khác nay nhường chỗ cho các cuộc đụng độ. Tình trạng lộn xộn và hy vọng qua đi, đến lúc nổ ra xung đột, tóm lại, là không thể tránh khỏi giữa Việt Nam và Pháp. Nó được nhen nhóm từ nhiều tháng nay, gần như hàng năm nay và vào tháng 12 năm 1946, nó đã thực sự nổ ra. Chính xác hơn là vào đêm 19, đầu tiên là ở Hà Nội, rồi đến Huế, nghĩa là chỉ một vài giờ đồng hồ sau khi Bảo Long rời khỏi cung An Định. Bà Nam Phương đón trước được tình hình nầy là do mạng lưới những người công giáo cung cấp đều đặn tin tức liên quan đến các sự kiện đang diễn ra tại Việt Nam.
Bà muốn đưa hết các con vào lánh trong khu nhà thờ, nhưng bà hoàng thái hậu phản đối. Cuộc tranh luận kịch liệt, không ai chịu ai đôi lúc dẫn đến việc hai mẹ con giận dỗi nhau thật sự...
Thực vậy, vấn đề trở nên nghiêm trọng. Chính quyền cách mạng không hề có thái độ thù nghịch với hoàng gia vậy có nhất thiết phải. rời bỏ cung An Định đang được bộ đội Việt Nam bảo vệ để chạy sang khu vực khác để tìm sự che chở hay không?
Theo tính toán của bà cựu Hoàng hậu, ngài Cố vấn tối cao Vĩnh Thuỵ đã bỏ đi, sống đâu đó ở Trung Hoa hay Hongkong, như vậy ông không còn vai vế gì trong chính phủ cách mạng. Ảnh hưởng của ông trên mảnh đất Việt Nam là rất ít, thậm chí là số không. Những người lãnh đạo chính phủ sẽ chuyển sang đường lối cứng rắn. Vì thế bà cựu Hoàng hậu thấy cần phải tìm kiếm một thế lực khác để nương tựa cho chắc chắn.
Biết đi đâu đây? Người Pháp đã cố thuyết phục nhưng bà khước từ dọn đến ở trong khu vực do họ kiểm soát. Đưa ngay gia đình vào khu vực quân đội Pháp để được che chở đưới bóng cờ ba sắc, con trai bà sẽ mất đi mọi cơ may trở lại ngôi báu, tách khỏi trào lưu độc lập trong lúc nầy đang tập hợp được đa số các tầng lớp dân chúng người Việt. Tất nhiên bà cần phải tìm một nơi nào gẩn đó, phòng lúc nguy cấp có thể nhanh chóng đến nơi trú ẩn an toàn. Người nữ sinh cũ của trường dòng Les Oiseaux phải xử sự khôn ngoan để không gây phiền hà cho ngài cố vấn vừa không làm liên luỵ tới con trai bà cho nên đã chọn một nơi tạm trú "trung lập" nghĩa là đứng giữa, không ngả về phía Pháp hay Việt Minh và cũng để chứng tỏ rằng không phải bà đã thay đổi lập trường chính trị. Vì vậy bà đã cho Bảo Long đi trước và đã đến nơi trú ẩn một cách dễ dàng.
Bây giờ, bà chỉ còn lo sao cho bản thân và những đứa con khác cũng sẽ ra đi tiếp. Lần nầy không giữ được bí mật nữa. Người chính trị viên đơn vị bảo vệ đã biết rõ ý định của bà đưa các con ra khỏi cung An Định. Thoạt đầu anh ta tức giận không chấp nhận lời thỉnh cầu của bà. Bà cựu hoàng từ tốn và kiên trì giảng giải lý lẽ. Cuối cùng người chính trị viên cũng mủi lòng đồng ý làm ngơ để bà đưa các con ra khỏi cung An Định(1).
Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #99 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2012, 07:56:28 am »

Cả gia đình bà cựu Hoàng hậu Nam Phương nay ở nhờ trong trường dòng Cứu thế do các cha đạo người Canada gốc Pháp cai quản.
Trong khu giáo đường tôn nghiêm phấp phới lá cờ Canada. Trung lập theo ý nghĩa chính trị mà cũng là một địa điểm nằm đúng giữa hai phòng tuyến Việt Nam và Pháp trong cuộc giao chiến sắp xảy ra nay mai. Đúng vậy, tu viện dòng Cứu thế, một bên chỉ cách cung An Định, nơi bộ đội Việt Nam đã chiếm giữ làm vị trí tiền tiêu, một quãng ngắn còn Pháp sẽ đóng quân trong nhà thờ Thiên Hựu ở phía đối diện. Tu viện mang một dáng vẻ cổ kính của các nhà thờ tôn giáo dưới thời quân chủ ngày trước, đó là một toà nhà rộng hình chữ nhật gồm hai dãy phòng dành cho các tu sĩ có hành lang bao quanh. Đó là nơi các cha xứ vẫn thường hành lễ và xưng tội. Một toà nhà thật đẹp, được trang trí một cách cầu kỳ bằng những đường chỉ bằng thạch cao. Toà nhà mang dáng vẻ của một toà lâu đài mà ngày nay các cha trông coi vẫn gọi nó với một giọng đầy mỉa mai là "một cung điện Versailles thu nhỏ". Tu viện trông càng sâu thêm khi phía bên trong là một toà nhà khác bình dị hơn, đó là giáo đường hay là một trường dòng, vào thời mà gia đình bà Nam Phương tạm lánh ở đây, thật đông đúc chủng sinh trong đó một số chỉ nhỉnh hơn tuổi Bảo Long. Từ năm 1952, một nhà thờ được xây dựng theo kiến trúc hiện đại bằng bê tông nằm sát ngay bên cạnh tu viện, làm thay đổi phần nào kiến trúc của tu viện.
Tại sao ở Huế lại có mặt người Canada? Các giám mục Việt Nam mong có các tu sĩ đến để giảng đạo cấm phòng. Toà Thánh đã đề nghị các cha người Canada tới vì xem ra dòng tu Canada hợp với ý nguyện của giáo hội châu Á. Do đó vào một ngày đẹp trời năm 1925 khoảng 15 cha cố người Canada gốc Pháp thuộc giáo phận Sainte-Anne-de-Beaupré xứ Québec thuộc Canada đã đến Huế đảm nhiệm công việc truyền giáo.
Cha Larouste, đứng đầu tu viện, buổi sáng hôm ấy đã thân hành đứng đón Bảo Long ở cổng tu viện. Ông có bộ râu rậm và dài, trắng muốt che kín ngực. Ông được làm quen với bà cựu Hoàng hậu chỉ từ khi bà ra khỏi hoàng thành sau lễ thoái vị của Bảo Đại, về ở cung An Định, hàng ngày bà đi chầu ở nhà nguyện trong tu viện ngay sát gần cung An Định.
Cuộc gặp đầu tiên giữa bà cựu hoàng và đứa con trai của mình với cha xứ diễn ra trong không khí nặng nề, gần như ngột ngạt. Theo ý Cha bề trên, nếu để cho gia đình bà lánh nạn trong trường, cộng đồng người Canada và toàn thể tu viện có thể bị liên luỵ. Bộ đội Việt Minh có thể bắt Bảo Long làm con tin để ngăn cản bà chạy sang phía Pháp.
Trong trường dòng, khi mẹ đưa các em đến, Bảo Long thản nhiên, lạnh lùng không mảy may xúc động, không ôm hôn, rơi nước mắt như phong tục yếu đuối của người Tây phương. Trong bữa ăn đầu tiên ở viện, cả nhà ăn uống bình thường, không làm dấu, không đọc kinh cầu nguyện. Bảo Long suốt ngày mặc quần soóc lửng theo lối phương Tây, được bố trí một phòng riêng.
Cậu ta cảm thấy thoải mái, nhanh chóng thích nghi với môi trường tôn giáo nhất vì mẹ của cậu là người sùng đạo Trong tu viện có nhiều chủng sinh hoặc con em các gia đình lánh nạn khác cùng lứa tuổi, cậu làm quen rất nhanh, mặc dù sau một năm học ở trường công trong thành phố cậu đã quen với nền nếp sinh hoạt nhi đồng theo cách giáo dục của Việt Minh, được hưởng thụ nhiều tự do khác hẳn lề thói giáo dục để làm vua trong hoàng cung trước đây, hoặc tác phong sinh hoạt tôn giáo trong tu viện.
Vào đây không còn có nhiều gia nhân đầy tớ nữa, ngoại trừ một cô hầu phòng duy nhất đi theo bà hoàng... Người hầu Bảo Long từ khi cậu mới ra đời đã đưa cậu đến đây cũng như người kéo xe nay nhận công việc gác cổng trường dòng(2).
Mặc dầu hoàn cảnh chật chội chen chúc, gia đình bà hoàng cũng được Cha bề trên thu xếp cho ở trong bốn căn phòng riêng sát liền nhau có cửa ra vào thông nhau để cả nhà đi lại, ra vào gặp gỡ nhau mà không phải đi qua hành lang, tránh không chung đụng với những gia đình lánh nạn khác. Các tu sĩ từ các nơi dồn về làm tu viện trở nên quá chật chội. Sáu mươi cha xứ và tu sĩ một trăm ba mươi chủng sinh, hàng chục gia đình lánh nạn gồm cả Pháp lẫn Việt. Chăn đệm xếp từng chồng khiến hành lang trở nên chật hẹp, không có chỗ len chân.
Những chiếc bàn dài được kê sát tường. Chính các cha đã thu gọn chúng lại, còn các cha được dành ở tầng hai. Đông người ở chung làm cho cuộc sống trở nên khó khăn. Nước rất khan. Các con bà Nam Phương phải học cách rửa mặt mỗi buổi sáng với một ca nước.


****
Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM