Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:09:12 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những truyện ngắn ngắn  (Đọc 22481 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #10 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2008, 02:30:14 pm »

Bức xạ     
Người viết: Vương Tâm   
17/03/2008

                                                   
                                                   Truyện ngắn Vương Tâm

Trong đời người, tôi đoan chắc rằng, ai cũng có những kỷ niệm khó quên.Và rất có thể, tôi cũng như ai đó hẳn đã có không dưới một lần hành động bất thường vì tâm trạng xúc động bất ngờ, hay đắn đo trong một quyết định có phần day dứt lương tâm. Đúng vậy, đã có chuyện đến với tôi thật ngoài sức tưởng tượng. Dễ đã hơn mười năm...Ngày ấy, không hiểu sao, tôi lại dễ mủi lòng đến vậy và đã nhận đóng vai chú rể để cùng Loan về quê. Hay nói cho đúng hơn Loan "mượn" tôi một ngày về trình diện với bố mẹ để cốt tránh cái tiếng không chồng mà lại có con. Cái chính là để an ủi ông bố già bị bệnh nặng sắp về cõi. Loan nghĩ chắc đận này bố mình khó qua khỏi, mà cả làng biết Loan đã cưới hơn một năm rồi mà chàng rể vẫn chưa có dịp về quê thăm bố mẹ vợ. Hơn nữa, để dẹp những lời đồn thổi không hay ở làng xóm, lần này Loan muốn đi cùng chồng về thăm bố mẹ.
Ngày ấy, Loan phải giải thích rất chi tiết với mọi người, nào là muốn giản tiện nên chỉ đăng ký thôi, nào là chú rể cũng nghèo mà sống ở trên thành phố cao nguyên nhiều thứ phải lo lắng nên để dành tiền làm việc khác. Quê thì xa nhất là ông bố ốm nặng, mẹ già yếu, anh em thì tản mát ở nơi xa, tổ chức linh đình tốn kém lắm. Tiền đâu mà lo cơ chứ. Xong xuôi mọi việc hai vợ chồng thu xếp về quê trình mặt sau cũng được.
Đọc thư Loan gửi về, ai cũng cho là phải. Đường sá xa xôi, đi lại tốn kém, ngay ông cô bà chú cũng ngại. ừ thế thôi! - Họ tặc lưỡi - Thế lại hay. Cái chính là hai đứa hạnh phúc, chứ còn theo cái lệ làng xưa thì kích rích khó khăn mọi bề.
Nhưng thực tình  năm trước Loan lại bị người chồng sắp cưới bỏ rơi. Trót có thai với nhau đã bốn tháng, bỏ đi cũng khó, mà Loan thì lại thề sống thề chết đòi giữ con lại. Thằng cha Sở Khanh thấy mọi việc trở nên rắc rối, thế là chuồn thẳng đem theo những lời hứa dối trá lừa đảo đã gây tai họa cho Loan.
Hồi đầu năm gặp tôi, Loan còn giấu nỗi bất hạnh của mình, vẫn tươi tỉnh kể chuyện về những dự định trong tương lai của hai vợ chồng. Tôi rất vui, vì Loan là em gái của Bản, một đồng đội của tôi thời kỳ tham gia chiến trường phía Nam. Bản đã bị sức ép của bom nên bị điếc, sau đó trở về quê sinh sống. Nghe Loan nói, vài năm sau Bản còn bị trầm uất, chẳng nói chẳng rằng, nghe chừng bị lẩn thẩn và bị mất trí nhớ. Suốt ngày Bản hùng hục làm mọi việc từ trong nhà ra ngoài đồng chẳng cần ai sai bảo.
Khi anh trai về làng thì cũng là lúc Loan lên thành phố học nghề, rồi trở thành công nhân dệt. Hoàn cảnh gia đình Loan như vậy nên khi biết chuyện tôi càng căm ghét thằng cha Sở Khanh kia. Bỗng nhiên nghĩ tới Bản, tôi thấy aý náy vì chẳng khi nào có dịp về thăm gia đình. Mãi mấy năm gần đây có dịp gặp Loan tôi mới hay mọi chuyện về Bản. Và giờ đây Loan trở thành nạn nhân đã phải nhờ cậy tôi giúp đỡ. Chợt nghĩ nhân dịp này về thăm Bản cũng hay và biết đâu tôi có thể giúp đỡ được điều gì chăng. Trong lòng tôi xáo trộn bao điều về cuộc sống về đời người... Tất nhiên, tôi suy nghĩ đến vài đêm, rồi mới quyết định nhận lời làm cái việc gọi là "rửa mặt" cho Loan với làng xóm, gia đình. Sau đó Loan sẽ sống thế nào nữa. Tất cả chỉ còn nhờ trời. Loan vừa khóc vừa van xin tôi nhận lời. Cô chỉ còn biết trông cậy và rất tin tôi nên mới nhờ việc này. Cứ ngẫm nghĩ tình cảnh của Loan mà thấy thương. Còn thương hơn nữa là tình cảm của bố mẹ Loan và Bản ở nhà, nên tôi đành nhận lời vì biết đây chỉ là việc cực chẳng đã mà Loan cần phải làm.
Ngay sau hôm tôi đồng ý, Loan viết thư về trước cho gia đình, rồi chúng tôi đi mua quà sắm lễ. Bởi lẽ lần này chàng rể ấy là tôi, mang tên Đắc Sở Khanh kia, sẽ đi gặp gỡ những người ruột thịt ở quê Loan. Phòng trường hợp mọi người sẽ hỏi han về hoàn cảnh gia đình nhà trai, tôi đã phải tìm hiểu sơ lược những chích ngang lý lịch cơ bản nhất của Đắc, nhưng Loan lại không đồng ý và nói rằng tôi cứ nói về gia đình của mình là đơn giản nhất và không muốn nhắc đến tên Đắc khốn nạn kia nữa. Mặc dù trong lòng tôi vẫn còn có những lấn cấn nhưng để làm cho đẹp mặt của Loan và gia đình Bản nên tôi vui vẻ lên đường.
                                                    *
                                                   * *
Dọc đường làng trở về nhà Loan, tôi vui vẻ chào hỏi tất cả mọi người, còn Loan bế thằng cu bên cạnh cùng đon đả cười nói với bất cứ ai gật đầu chào. Nhiều người săn đón nựng đứa bé. Ai cũng vui vẻ hỏi thăm:
- Ôi! Vợ chồng Loan về đấy, hả con?
- Hạnh phúc quá nhỉ.
- Chà! Thằng cu bụ ghê.
- Cháu tên là gì? Ra bà bế tí nào.
- Nhớ sang nhà em chơi, chị Loan nhé…
Mọi người tíu tít chào hỏi làm Loan rất vui. Thỉnh thoảng Loan lại nhìn tôi sung sướng cười. Tôi chợt nghĩ thấy mình thật hạnh phúc như đang sống trở lại những ngày vui sướng nhất trong đời. Đám trẻ con họ hàng láu táu chạy theo tôi nhận kẹo. Chúng cười nói đi theo về đến tận nhà Loan.
Ngay tối hôm đó, cả thôn truyền tin cho nhau nên nhiều người kéo đến uống nước hút thuốc theo lời mời của gia đình từ mấy hôm trước. Tôi cùng Loan đi từng bàn mời bà con cô bác uống nước ăn trầu và hút thuốc. Vui nhất là các bạn gái của Loan thuở ấu thơ đã đến từ sớm để giúp việc. Mấy cô cứ xì xào cấu chí nhau. Họ vừa cười vừa trêu chọc nhau:
- Người yêu cái Thoa còn đẹp trai hơn.
- Không anh Đắc đẹp trai hơn.
- Sao ngày trước thư cái Loan gửi về bảo anh Đắc xấu trai lắm cơ mà?
- Thế còn mày, con chết tiệt ạ, thằng Khuê của mày hẳn đẹp lắm đấy mà còn chê.
- Thấy anh Đắc đẹp trai, con nỡm này ghen với cái Loan đấy mà…
Thế là các cô cứ đấm nhau thùm thụp, rồi cười nói rúc rích ở dưới bếp. Tôi vừa tiếp khách vừa nghe lõm bõm câu được câu chăng, nhưng rất vui. Nhìn mấy cô mang ấm nước từ dưới bếp lên. Mặt cô nào cô ấy đỏ hồng vì lửa. Dưới ánh đèn sáng trưng, nụ cười xinh đẹp của các cô như tranh vẽ vậy. Tôi chủ động cầm tay Loan đi khắp các bàn cảm ơn bà con. Nhưng thật bất ngờ có ai đó lên tiếng:
- Còn anh Bản đâu nhẩy, không thấy anh ra mừng cho em gái à?
- Từ chiều còn thấy nó vừa ở đây mà.
- Chắc lại ra đồng rồi. Tối thế này có khi lại đi bắt ếch không biết chừng.
Tôi đứng lặng người một lúc vì nhớ đến Bản, Loan kéo khẽ tay tôi nhắc nhở chớ có sao nhãng việc cảm ơn mọi người. Cũng may tất cả lục đục đứng dậy vì đã đến giờ bà con gọi nhau về nhà để xem phim. Tôi thấy nhẹ nhõm trong người vì từ lúc về đến giờ mọi chuyện đều suôn sẻ.
Trò chuyện với ông bố, bà mẹ của Loan không khó như tôi tưởng. Ông bố thì nằm liệt trên giường chỉ thỉnh thoảng bắt mọi người bế thằng cu vào cho ông xem mặt. Bà mẹ vui ra mặt, hể hả cười nói với mọi người trong gia tộc. Bà thấy khỏe hẳn ra, đi lại tất tả đây đó. Loan luôn luôn đi bên cạnh để nói đỡ lời cho tôi mỗi khi có ai hỏi chuyện. Lúc bà con ra về hết, tôi mới trấn tĩnh trở lại vì dù sao tôi vẫn phải gắng gỏi bày tỏ niềm vui sướng trong mọi tình huống mặc dù đã xác định đây là một việc làm rất cần thiết cho gia đình Loan.
Nửa đêm. Tôi và Loan thu xếp rất nhanh mọi việc để sáng mai đi sớm. Hai mẹ con Loan vào buồng ngủ với bà mẹ. Còn tôi nằm ghé cùng giường với Bản. Không biết Bản về nhà lúc nào và đã lên giường ngủ. Đã nghe Loan kể về anh trai của mình, nhưng tôi không thể tưởng tượng được Bản lại ở tình trạng tâm thần như vậy. Bản hầu như không có cảm giác gì về sự trở về của Loan với tôi. Lúc đầu gặp mặt, Bản chỉ ngước mắt nhìn Loan và tôi rồi loe miệng cười hề hề và đi thẳng. Suốt ngày, đi đâu không rõ. Khi ghé lưng nằm xuống tôi mới thấy Bản trở mình và nằm lui vào phía trong. Tôi nhẹ nhàng kéo chăn chiên đắp lên người. Phải nói là một ngày căng thẳng, tuy vậy thấy vui, nên tôi tưởng mình sẽ ngủ ngon giấc ngay sau đó. Nhưng không hiểu sao trong lúc đang chập chờn trôi vào giấc ngủ... thì thấy Bản thở dài, rồi nhìn thẳng lên trần nhà. Nghĩ bụng, tôi đánh liều khẽ gọi:
- Bản ơi!
Ngọn đèn dầu trên bàn thờ nhẹ nhàng lay động. Không gian im lặng đến mức làm tôi hồi hộp sau khi gọi tên Bản. Lát sau, tôi trấn tĩnh, lay vai Bản:
- Bản ơi!
Bất ngờ Bản ngoái nhanh lại mở to mắt nhìn tôi. Cả hai không ai bảo ai đều ngồi bật dậy. Bản chăm chú nhìn tôi với ánh mắt thân quen ngày nào ở chiến trường. Cũng trong đêm hôm ấy, khi Bản bị thương ngất đi bên chiến hào, tôi lay gọi mãi tên Bản. Thấy đồng đội vừa chớp chớp mắt, tôi vội hỏi:
- Mày có nhận ra tao không, Bản ơi!
Và lúc này, trong ánh sáng mờ ảo của đêm thanh vắng, tôi thấy trái tim mình rạo rực những kỷ niệm chiến đấu bên hơi thở mạnh mẽ của Bản. Tôi đặt hai tay lên vai Bản hỏi:
- Mày có nhận ra tao không?
Bản chau mày rồi chăm chú nhìn tôi. Hắn nghiêng đầu rồi nói to:
- Dũng hả?
Tôi vội "xuỵt" bảo hắn nói khẽ thôi. Hắn trố mắt hỏi:
- Mày về đây làm gì? Tưởng mày hy sinh ngày ấy rồi cơ mà.
Tôi đánh mạnh vào cánh tay hắn:
- Chết làm sao được, chính ngày ấy mày chả ôm tao lăn xuống hào để tránh đạn à?
Bản đột ngột tươi tỉnh. Đôi mắt sáng lên như hồi nào. Hắn cũng cười nói:
- Thế mà tao cũng không chết, hay thật đấy. Bọn giặc chó má tưởng giết chúng tao dễ lắm đấy. Nhỉ ờ. ờ…
Tự nhiên đâm phấn khích, hắn vung tay làm khẩu súng giơ cao. Mồm la lên:
- Pằng, Pằng! Pằng!...
Tôi vội lấy tay che miệng hắn lại:
- Khẽ chứ!
- Sao lại khẽ? Mày bênh bọn giặc xâm lược à?
- Không!
Tôi ghé tai Bản nói khẽ:
- Mày biết tao đang làm gì không?
- Làm gì?
Tôi ngó chung quanh thấy vẫn yên tĩnh bèn nói khẽ:
- Làm em rể mày.
- Thế à? Cái Loan không báo cáo tao…
Tôi cười khì khì:
- Rõ khỉ. Thì bây giờ tao báo cáo.
Nhưng chợt hắn nghiêm mặt nhìn tôi:
- Không được! Không được.
- Sao thế?
Hắn quay lại nhìn như xoáy vào mặt tôi:
- Mày có vợ con rồi cơ mà?
Lần này thì tôi phải ôm ghì lấy Bản nói ghé vào tai hắn:
- Mày không hiểu gì à? Loan nó bị lừa…
Bất ngờ Bản đẩy tôi ngã ngửa, rồi hét lên:
- Không để kẻ địch lừa. Đồng chí Dũng hãy can đảm lên theo tôi truy kích kẻ địch. Xung phong.
Tôi hoảng quá ôm lấy đầu. Mồ hôi đầm đìa trên trán. Tôi cố vùng khỏi tay Bản, nhưng không được… Bỗng có tiếng Loan gọi:
- Anh Dũng ơi! Anh Dũng ơi…
                                                   *
                                                  * *
Tôi cố vùng dậy, mồ hôi vã ra như tắm. Tỉnh ra, tôi mới biết mình vừa trải qua một giấc mơ. Tôi vội vàng ngoái lại nhìn thấy Bản vẫn còn nằm co mình im lặng như khúc gỗ. Loan đứng ở gần đó, ghé tai tôi nói khẽ:
- Anh nói mê to quá. Sáng rồi, anh dậy chuẩn bị cùng mẹ con em để ra thành phố chứ. Phải đi sớm mới kịp ô-tô, anh ạ.
Nhưng không hiểu sao, tôi vừa đứng lên thì Bản cũng ngồi phắt ngay dậy. Tôi bất ngờ kéo tay Bản lại. Những ký ức bên chiến hào ngày nào dội về làm lòng tôi xốn xang. Tôi nhìn vào mắt Bản rồi ôm chầm lấy thân hình thân quen ấy. Bản ngước mắt nhìn tôi chằm chằm như muốn nói điều gì đó mà không cất lời được. Đôi môi Bản mím lại và đôi vai run lên. Đột nhiên Bản gỡ tay tôi rồi đi thẳng xuống bếp. Nắng ban mai vừa loé lên, Loan đã sắp sẵn mọi thứ. Tôi cúi đầu chào bố Loan, rồi dắt tay bà mẹ ra ngoài sân. Bà chậm chạp đi theo, dặn dò tôi:
- Thỉnh thoảng hai vợ chồng về thăm gia đình, bố mày cũng chẳng còn sống được bao lâu.
Loan níu lấy mẹ rồi nựng thằng con trai dậy cười với bà:
- Cún con, dậy chào bà đi nào! Chào bà…
Bỗng nhiên tôi thấy như có người đang nhìn tôi. Ngoái lại thấy Bản đang đứng tựa cửa. Tôi chậm chạp bước tới nhìn thẳng vào đôi mắt lờ đờ của Bản như thầm hỏi:
- Mày có nhận ra thằng Dũng này không, hả Bản?
Bản chỉ im lặng nhìn tôi với đôi mắt trầm đục như đang ẩn ức một điều gì. Tôi chợt nhớ đến giấc mơ đêm qua và hơi ấm của Bản đã truyền sang tôi như thuở nào cùng nằm chung trong chiếc vải dù trên cánh rừng Trường Sơn. Tôi bồi hồi chào:
- Chào anh Bản nhé, bọn em đi đây!
Bản giật mình động đậy đứng thẳng người, nhìn tôi như muốn đặt ra muôn ngàn câu nói mà không nói được. Tôi thần người vì thấy từ khoé mắt buồn vời vợi ấy, những giọt nước mắt ứa ra chảy dài xuống gò má. Bản cứ đứng như thế nhìn theo tôi. Loan cũng ôm con đi nhanh ra khỏi cửa, vừa đi, vừa nén tiếng khóc đang nghẹn trong lồng ngực.
Tôi vội bế lấy thằng bé để đỡ cho Loan. Đi mải miết trên đường lên bến ô-tô ở trên huyện, trong lòng tôi thầm mong mỏi mẹ con Loan một ngày mai sẽ gặp được một người đàn ông tốt bụng tìm đến. Mẹ con Loan xứng đáng được như vậy. Hừng đông chói chang. Dọc cánh đồng lúa vàng rộm ngào ngạt hương thơm. Tôi hít một hơi thật dài và bất chợt ngỡ như thấy ánh mắt của Bản hiện ra ở đâu đó làm bước chân tôi chậm lại. Tôi ngoái nhìn về phía làng và cảm thấy như có dấu vết bàn chân của Bản đi theo. ánh mắt ấy ẩn chứa bao điều làm day dứt lòng tôi. Chắc có thể một ngày nào đó, ngôi làng nhỏ bé này sẽ nhắc nhở tôi những điều tự sâu thẳm trong tâm trí về một thân phận người bạn đang cô đơn ở một phương trời xa. Và tôi nghĩ sẽ có ngày mình sẽ quay lại về chốn này. Để làm gì? Chẳng để làm gì cả mà chỉ cần ngồi cùng Bản trên bậu cửa và nhìn về cuối đường làng ngồn ngộn rơm vàng...
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #11 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2008, 03:42:27 pm »

Những người gặp may
     
Người viết: Nguyễn Quốc Hùng   
03/03/2008

Truyện ngắn của Nguyễn Quốc Hùng

-Cái cân làng xuống! Xuống nữa!
-Chín cái chẵn rồi, chẳng nhẽ... đánh lẻ.
-Bán chẵn!
-Mở bát!
-Chẵn! Mười cái chẵn! Cờ bạc như bịp!
Gần hai chục con bạc sát phạt nhau. Gần hai chục con bạc “cò con”, tiền bạc là những đồng lương còm. Chẳng ai xa lạ, công nhân cùng tổ với nhau cả. Tất cả xúm quanh cái đĩa nhỏ, trên úp cái chén và bên trong là bốn mảnh vỏ hạt dưa. Đang trong giờ nghỉ trưa. Trời nóng quá. Cái nắng nung chảy nhựa trên đường, sắt thép tưởng chừng cũng phải oằn lại, hầm hập nóng. Gần hai mươi con người tự nguyện giam mình trong căn phòng mười năm mét vuông, cửa đóng kín vì sợ bảo vệ, quạt không dám bật vì bay tiền. Người vòng trong thì ngồi xổm nhấp nhổm, kẻ vòng ngoài thì cúi lom khom cắm đầu vào. Mồ hôi người đứng trên nhỏ giọt xuống người ngồi dưới, mồ hôi người ngồi dưới nhỏ giọt xuống những tờ giấy bạc nhàu nát. Cả đàn bà cũng tham gia, tóc bết mồ hôi. Đàn ông thì trần trùng trục, người gầy khô, da sạm nắng. Tất cả đều dán mắt vào vận may nằm bên trong cái chén con con. Tất cả đều muốn thành tiên tri để đoán được những mảnh vỏ hạt dưa kia úp theo chiều nào. Những mảnh vỏ hạt dưa đã được thổi linh hồn vào!
Còn tôi, cái nóng trong gian phòng đang dần hút hết sinh khí trong người.
Tôi năm nay ba mươi lăm tuổi, chưa vợ. Không một người con gái nào dám đặt số phận mình vào gia cảnh tôi. Gia đình tôi sống trong gian hầm của toà nhà Tây, thế mà vẫn bị dột, mẹ thì già lại có cô em gái dở người. Không biết tôi có duyên với cờ bạc hay không, chưa một lần dám thử xem đỏ hay đen, thậm chí chưa lần nào đánh bài cho vui. Tôi tìm lời giải thích xem người ta máu mê bài bạc là do nguyên nhân nào. Chẳng lẽ là thú vui, để giải buồn trong những lúc nghỉ ngơi? Nếu bị thua sẽ còn buồn nhiều hơn. Hay là trong máu của họ có chất gây nghiện cờ bạc như thông tin trên một tờ báo đã đưa? Tôi không thể kiểm chứng được. Phiêu lưu. Tội lỗi. Họ tin vào sự may rủi. Nếu gặp may, thắng bạc, thì phải khao, phải rủ nhau đi ăn uống cũng hết. Chẳng ai nên người về cờ bạc cả. Tôi ngẫm cái câu: “của thiên trả địa” trong những trường hợp ở tổ tôi thấy đúng. Tôi không dám thả công sức của mình vào cuộc may rủi này, còn nhiều việc khác phải lo.
Không rượu, không trà, không cờ bạc, làm tốt trách nhiệm của mình, tôi tròn trĩnh như một quả bóng. Ở phân xưởng này bọn họ gọi tôi là quan hoạn.
Mồ hôi trên người tôi chảy thành dòng, ướt đẫm cả cạp quần. Nóng quá! Căn phòng nghỉ đã nhỏ bé, mái tôn sắt, tường quây cũng bằng sắt, đến cái ghế ngồi cũng bằng sắt, khác nào cho thêm củi vào bếp lò trời. Tôi biết đi đâu để tránh cái nóng lúc này được đây. Giờ nghỉ trưa, về nhà thì quá xa, dưới nhà xưởng tuy bằng sắt, có thoáng hơn nhưng bừa bộn dầu mỡ không có chỗ ngả lưng. Quanh phân xưởng duy nhất có một bóng cây nhưng chẳng lẽ lại lăn ra đất. Tôi phải chui vào cái “hoả lò” này để mặc cho cái nóng hành hạ. Tôi thầm nhủ, rồi hôm nào phải mua cái võng mắc lên chỗ cái cây để nghỉ ngơi cho khoẻ.
Đầu óc tôi căng ra như có lửa đốt trong đó, hơi thở nặng nhọc. Tôi cố tạo cho mình ảo giác để đánh lừa cái nóng bằng cách cố tình nghĩ rằng, bây giờ đang là mùa đông trên biên giới phía Bắc nơi tôi đã là người lính giữ chốt, từng phải đắp ba cái chăn chấn thủ, mặc áo bông, mũ bông mà vẫn còn thấy rét. Tiếng người cầm cái bạc cũng khô lạnh, đều đều ma quái như ngọn gió mùa đông bắc: “Cái cân làng xuống nữa!”. Bọn họ đâu có thấy nóng như tôi.
Cảm giác có một luồng khí lạnh từ trong xương tuỷ lan toả ra ngoài khiến tôi rùng mình. Lên cơn sốt rét rồi, kinh nghiệm của người đã từng trải qua nhiều trận sốt rét rừng mách bảo tôi. Một bên mông lại bắt đầu buốt nhói. Cái mảnh pháo bằng hạt ngô còn nằm lại trong mông bên phải nay lại cựa quậy. Tôi muốn ngả lưng cho đỡ mệt mỏi, nhức nhối nhưng chẳng còn chỗ nào có thể, đám cờ bạc đã chiếm hết. Tôi cố ghé nhờ bên mông lành lặn lên đầu ghế.
Cái mảnh pháo cỏn con nằm lại trong cơ thể là điều không may cuối cùng trong quãng đời người lính giữ chốt của tôi. Lần thứ ba tôi cùng đại đội hành quân lên thay chốt. Lính tráng chúng tôi tư trang gọn nhẹ, ba lô rỗng tuếch, đến cái áo mưa cũng chẳng còn. Chỉ có những anh liên lạc cho sĩ quan là vất vả, phải mang vác cho cấp trên nhiều quá. Chính thằng liên lạc đại đội gây nên hậu quả cho tôi. Cái phích trên lưng nó cứ lấp la lấp loá trong nắng chiều, làm mục tiêu cho pháo địch giã giò. Chúng tôi nằm bẹp xuống, đất đá thi nhau trùm lên người. Địch không hề tiếc đạn khi phát hiện trong đội hình có sĩ quan. Cái phích lăn lóc giữa đường, mặc cho đất đá cứ tung lên nó vẫn ngang nhiên phản chiếu nắng chiều. Tôi nằm cách cái phích gần chục mét, phán đoán ý đồ của pháo địch muốn dập tắt cái ánh sáng kia. Đợi cho một đợt pháo vừa ngớt, tôi cởi áo lao lên trùm vào cái phích. Một loạt pháo tiếp theo dội xuống. Rủi thay, mông của tôi nằm đúng vào mô đất cao để cho một loạt mảnh văng vào. Pháo địch thôi bắn khi không còn thấy mục tiêu. Tôi phải nằm điều trị tại trạm quân y ba tháng để lấy những mảnh pháo ra. Chỉ bị ở phần mềm, bác sĩ lấy ra được ba mảnh, còn một mảnh con con không lấy ra được. Phải mổ dọc mông đến ba mươi phân nhưng mảnh pháo cứ lẩn sang vị trí khác không khớp với phim chụp. Bác sĩ khâu vết mổ lại, cho biết rồi sau này nó sẽ tự đùn ra.
Có thằng nào đó tôi chẳng nhận ra, mua được tiếng bạc to, sướng qua nhao người vào vơ tiền, chân đạp cả vào đầu tôi đau điếng. Tôi không nói gì chỉ gạt chân nó ra. Có lẽ bọn người đang đam mê bài bạc kia thích tôi vì tính đó, sẵn sàng bỏ qua sai sót của người khác nếu chỉ là vô tình. Tôi biết, con người ai cũng ích kỷ cá nhân, nhất là trong thời buổi khó khăn này, cho nên không bao giờ tôi tranh chấp, đụng chạm đến quyền lợi riêng tư của ai. Thậm chí tôi còn thường xuyên giúp đỡ trong công việc đối với mọi người một cách vô tư và thông minh. Phân xưởng của chúng tôi có hơn một trăm người thì duy nhất có mình tôi trải qua chiến trận. Những câu chuyện về chiến tranh của tôi là đề tài hấp dẫn, phiêu lưu đối với mọi người vào những ngày cuối kì lương. Có những cô gái trẻ đam mê với bài bạc, với tiểu thuyết tình ái, khi nghe chuyện chiến tranh, chuyện đời sống của người dân tộc, chuyện chợ tình cũng say sưa không kém gì khi ngồi vào chiếu bạc. Họ thương hại tôi thực lòng. Nhưng sự thương hại và tình yêu là gianh giới được xác định rõ ràng trong ý nghĩ của các cô gái. Tôi cũng giữ đúng khoảng cách giữa thương hại và tình yêu ấy, chưa một lần nào thử nhích lại gần. Cũng bởi tôi mặc cảm với thân phận của tôi.
Còn bây giờ, chỉ vô tình thôi, đám người cờ bạc, trong đó có cả các cô gái thực sự thương hại tôi đang đẩy dần tôi ra khỏi ghế. Tôi cố ghé người đang đau ê ẩm dựa vào một thân hình gầy còm, nhớp nháp mồ hôi của kẻ ngồi trên cho đỡ mệt. Thỉnh thoảng đứa nào lại vẩy mồ hôi bắn cả vào người tôi. Giọt mồ hôi lầy nhầy, lạnh buốt khiến tôi rùng mình.
Bỗng nhiên cánh cửa phòng bị giật một cách thô bạo, tung hết tất cả các chốt bên trong. Đám cờ bạc giật mình, tất cả các cái đầu đều đồng loạt quay ra phía cửa, ánh mắt sững sờ chưa hiểu nguyên nhân vì sao. Năm nhân viên bảo vệ bước nhanh vào đẩy vẹt đám người trần trục, nhớp nháp mồ hôi ra rồi vơ lấy vật chứng. Các con bạc nhận ra mối nguy hiểm thì đã muộn. Tôi để ý thấy mấy người lỉnh ra ngoài cửa dễ dàng, còn lại đều bị nhân viên bảo vệ đứng chặn lại. Không có tội gì, chẳng phải sợ ai cả, cái ghế lúc này không còn ai ngồi, tôi nằm xoài xuống cho đỡ mỏi mệt. Ý nghĩ trong đầu tôi bị tê dại đi rồi lúc sau thiêm thiếp trong tình trạng cơ thể ê ẩm đau, một bên mông vẫn còn nhức nhối.
Không biết tôi thiếp đi bao lâu thì bỗng dưng bị dựng ngược dậy bởi một nhân viên bảo vệ nắm tóc tôi giật mạnh, giống như cái giật cửa thô bạo khi nãy của anh ta. Tôi bị tê dại hết cả mảng da đầu. Không kiềm chế nổi, tôi vung tay đấm thẳng vào mặt anh ta, không hề nghĩ tới hậu quả sẽ ra sao. Mấy nhân viên bảo vệ đứng xung quanh lao vào tôi để bênh người của họ. Tôi không thể phân biệt được họ đã làm thế nào với tôi bởi sau đó tôi không còn đủ tỉnh táo để nhận biết sự việc. Đến khi cái nắng gay gắt giữa trưa trùm lên người, tôi mới nhận ra cánh tay phải đang bị vặn ngược ra phía sau, đau buốt bả vai. Tôi không chịu đựng nổi khuỵ xuống. Họ kéo tôi đứng dậy, siết chặt hơn cánh tay tôi rồi dẫn đi. Tôi nhận ra Hưng còm cầm thanh sắt đứng giữa đường chặn tất cả lại:
-Bỏ anh ấy ra, anh ấy không có tội gì cả!
-Bọn cờ bạc chúng mày còn thích gây chuyện hả! Lên mà chọc bố mày ngồi trên phòng giám đốc kia kìa!
Nhân viên đẩy Hưng còm dạt ra lại tiếp tục lôi tôi đi.
-Đừng có động chạm đến bố tao. Bỏ tay ra để anh ấy đi tử tế!
Mấy nhân viên bảo vệ một phần cũng thấy cái sai, một phần phải lép vế trước thằng con giám đốc ngỗ ngược nên buông tôi ra. Tôi lảo đảo gần ngã do mất thăng bằng nhưng rồi cố gượng được bằng những bước đi chập chững, khó nhọc. Thấy vậy mấy thanh niên xúm vào đỡ tôi. Hưng còm ghé lưng bắt tôi bám vào để nó cõng. Chắc là chúng biết, khi bị sốt rét tôi sẽ mệt mỏi thế nào. Theo sau chúng tôi là đoàn người của phân xưởng. Không biết họ đi theo tôi làm nhân chứng bảo vệ tôi hay vì hiếu kỳ.
Nằm trên lưng Hưng, tôi nhận thấy hơi thở của nó gấp gáp. Hưng bước đi không còn vững. Tôi nặng hơn nó đến mười lăm cân. Đã một lần tôi được nghe hơi thở thế này, suốt đời không thể nào quên được.
...Trận sốt rét rừng hành hạ suốt một tuần liền khiến sức lực của tôi kiệt quệ. Chiều hôm đó nhiệt độ cơ thể tôi lên tới bốn mốt độ, cần phải đi cấp cứu ngay. Từ điểm chốt của chúng tôi xuống trạm quân y trung đoàn xa gần chục cây số. Bốn chiến sĩ trong đơn vị võng tôi đi. Được chừng non đường thì bỗng nhiên chiếc võng bị rách xoạc khiến tôi đập người xuống đá đau điếng. Tôi yếu quá không thể tự ngồi dậy nổi, mọi người buộc túm võng lại đặt tôi lên tiếp tục khiêng. Vừa nhấc tôi lên đòn khênh bị gãy đôi.
-Điềm xấu đây! – Mọi người thì thào với nhau. Tôi biết họ ám chỉ tôi.
Không có dao để chặt cây làm đòn khênh, mọi người phải thay nhau cõng tôi đi tiếp. Bước chân của mọi người muốn quỵ xuống bởi đường dốc lại mang tôi trên lưng, hơi thở dồn dập nhiều khi nghẹn nấc lên. Tôi thương anh em quá đòi xuống tự đi. Nhưng dù có hai người xốc nách hai bên tôi cũng không thể đứng vững, đôi chân mềm nhũn, các cơ bắp không còn khả năng hoạt động. Anh em phải cõng tôi đi tiếp.
Một loạt pháo lao tới, tiếng rít rùng rợn. Chúng tôi lăn xuống vệ đường. Khi pháo thôi bắn, tôi cố chống tay ngồi dậy. Thằng Đạo đã hy sinh cạnh tôi, người nó đẫm máu. Thằng Trường ôm đùi, thằng Phượng, thằng Cư đang băng lại cho nó....
Trong phòng phó giám đốc nội chính, tôi đã tỉnh táo lại hẳn sau mấy ngụm nước lạnh. Phó giám đốc Doanh nhìn tôi như thể nhìn một vật lạ, chậm rãi nói:
-Ông mà cũng cờ bạc cơ à? Còn chống lại bảo vệ nữa chứ, tôi hơi ngạc nhiên đấy!
-Sao lại gán cho tôi lắm tội thế. Thế cái tội để cho công nhân tự do cờ bạc, để cho bảo vệ có thói hách dịch là do ai.
Tôi xưng hô ngang hàng phải lứa với Doanh bởi trước đây học cùng khoá và lúc này chỉ có hai người trong phòng.
-Tội chứng quá rõ ràng ông còn cãi gì nữa nào!
Doanh đứng bật dậy to tiếng, mặt đỏ dựng. Có lẽ anh ta không chờ đợi câu trả lời như vậy của tôi.
Tôi thấy mình bị tự ái bởi thái độ trịch thượng của Doanh, nói mỉa lại:
-Liệu ông có ép tội tôi như ngày xưa ông làm với thằng Toàn không đấy?
Doanh nhếch miệng cười, tiếng cười giật cục rất hợp với khuôn mặt mỏng và gãy. Anh ta đi đi lại lại trong phòng tỏ vẻ bề trên, dáng đi cố tạo vẻ nghiêm nghị bằng cách ưỡn ngực trịnh trọng nhưng không giấu được mỗi bước chân khi bước đi nhấp nhổm như thăm dò xem đất nơi ấy có bị lún hay không.
Tôi nhắc lại vụ lật đổ lớp trưởng Toàn vì đến nay chỉ có tôi và Doanh biết. Hồi ấy tôi và Doanh học cùng một khoá trong trường dạy nghề. Toàn là lớp trưởng còn Doanh là lớp phó. Quy định của trường là lớp trưởng không phải tham gia một số kỳ thi để bù lại cho công tác chung của lớp. Một dịp, lớp chúng tôi được nhà máy tổ chức xuống lao động thực tế dưới các phân xưởng. Sau khi kết thúc đợt lao động, các phân xưởng trích một khoản tiền nhỏ trả công cho chúng tôi. Không ai quan tâm mình được bao nhiêu tiền bởi chúng tôi còn trẻ, chưa phải lo toan tới thu nhập hàng ngày. Còn Doanh thì biết rất rõ. Sau khi phát tiền cho cả lớp xong, Doanh gọi Toàn và tôi ra chỗ kín đáo gặp riêng. Anh ta đưa ra những chứng cứ buộc tội Toàn bớt xén tiền của anh em, mặc dù số tiền đó chỉ đủ thuốc nước lặt vặt. Toàn lý giải đó là đã biếu lại cho công nhân phân xưởng ít chè thuốc để cám ơn họ đã giúp đỡ trong thời gian lao động nhưng quên chưa nói với lớp. Doanh bắt Toàn phải đi xin xác nhận của những người đã nhận số tiền đó. Toàn không đồng ý bởi làm thế mất mặt người nhận. Doanh kéo tôi vào cuộc, lập biên bản với nội dung Toàn bớt xén tiền công của lớp. Khi ấy tôi đã quá khờ dại vào hùa với Doanh. Biên bản được gửi lên nhà trường. Cả lớp làm bản kiến nghị có đầy đủ chữ kí, trừ tôi và Doang gửi lên nhà trường xin cho Toàn không bị đuổi học. Bản kiến nghị ấy bị Doanh ỉm đi. Mấy hôm sau Doanh lại đưa bản kiến nghị ấy cho tôi để gửi lên nhà trường. Nhưng đã quá muộn, Toàn vẫn bị đuổi học. Sau này tôi mới nhận ra, Doanh muốn đổ trách nhiệm cho tôi. Doanh nghiễm nhiên thay lớp trưởng và không phải tham gia một số kỳ thi cùng lớp...
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #12 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2008, 03:42:59 pm »

Doanh ngồi xuống cạnh, vỗ vai tôi tạo vẻ thân tình. Không biết anh ta suy tính điều gì. Vừa khi ấy, quản đốc phân xưởng Cương, cũng là bạn học cùng khoá, sầm sập bước vào. Chưa để cho Cương lên tiếng, Doanh đã gắt gỏng:
-Này, ông nhận lại công nhân của ông đi, cả phân xưởng đang phản đối tôi ngoài kia. Ông ấy có dính dáng đến cờ bạc đâu, mà ông cũng phải biết tận dụng một người thợ giỏi, một người có đạo đức tốt cho phân xưởng chứ!
Cương đỏ mặt, giận giữ trút hết nỗi bực dọc lên tôi:
-Tôi biết, anh ta là thợ giỏi, là người có đạo đức nhưng bây giờ tôi không muốn nhận! Giỏi nhưng không biết phát huy cái giỏi, chỉ kể chuyện đánh nhau là không ai bằng!
Tôi không ngạc nhiên về những câu xỉ vả của Cương với tôi. Cương lại sầm sập đi ra. Doanh đổi giọng nhẹ nhàng với tôi:
-Một con chó được chủ cưng chiều. Nó có nể nang gì bạn bè đâu. Gậy của nó cứng lắm cho nên vênh vác. Không cùng hội cờ bạc với nó phải không? Ông dại lắm, thừa cơ hội để tiến thân, thành tích chiến đấu có ai sánh kịp, sao không biết tận dụng?
-Chính ông mới chậm hiểu thời cuộc, bây giờ làm gì còn có chuyện đặt thành tích của người khác lên bàn để cân nhắc!
Doanh lớn tiếng cười, mỉa mai sự kém cỏi của tôi. Doanh bảo tôi về làm, cuối giờ lên gặp lại.
Cuối giờ chiều tôi lên gặp Doanh.
-Ngồi xuống đây, tôi gọi mấy tay bảo vệ lên đánh bài cho vui.
-Đánh đùa hay đánh tiền đấy? Tôi làm gì có tiền để chơi.
-Cờ bạc không có tiền chán bỏ mẹ, cầm lấy tiền của tôi chơi.
Tôi ngạc nhiên:
-Ông là người kí quyết định ngăn cấm cờ bạc lại còn thế thì nói được ai!
-Đánh bạc trong giờ sản xuất thì cấm, ngoài ra thoải mái đi. Không hiểu sao cứ lúc có chuyện buồn phiền tôi lại ham muốn được cầm quân bài. Nó làm cho tôi khuây khoả đi rất nhiều. Cuộc đời cứ trôi đi bình bình như ông thì buồn lắm. Hãy đặt mình vào chiếu bạc đi, ông sẽ có những phút lo lắng đến cháy lòng nhưng rồi có những lúc sẽ được hưởng niềm vui đến tột cùng. Hãy tính toán cho từng bước đi của mình, thà nằm xuống còn hơn cuộc đời chẳng có nghĩa lý gì.
-Có phải vợ ông ngoại tình với chính người đã đưa ông lên địa vị này, ông chán rủ tôi đánh bạc là vậy, tôi không thích nước bài này của ông!
Doanh thở dài:
-Thôi, không cờ bạc nữa, ngồi nói chuyện với nhau một lúc, tôi chán về nhà lắm rồi. Cái giá phải trả của tôi là thế. Tôi chấp nhận nhưng cũng đau lòng lắm. Tôi đã dâng vợ cho nó để rồi chúng nó công khai ôm ấp, về nhà còn xỉ vả tôi là đê tiện. Nhục lắm! Thôi đành vậy, mà tôi đâu có thực sự yêu cô ta. Ông có biết tình yêu của tôi dành cho ai không? Cho Tâm! Người mà tôi với ông thầm yêu từ thuở học sinh ấy. Cô ấy đẹp lắm, đôi mắt tròn đen, sâu thẳm, chứa đựng tình cảm mãnh liệt. Nếu ông không phải đi bộ đội chắc đã giành được cô ta. Sao ông dại thế, viết thư về từ chối tình cảm của cô ấy. Hãy giúp tôi đi, ông bây giờ vẫn là trai tân, thiếu gì những em trẻ đẹp, còn cô ấy goá chồng ba năm nay rồi, không xứng với ông. Chỉ cần ông khuyên cô ấy từ bỏ cái phân xưởng nóng bức ấy và công việc nặng nhọc lên đây làm việc, tôi sẽ giúp cô ấy.   
-Tưởng rằng mời tôi lên là tình cảm bạn bè chân thành, thế ra đều nằm trong sự tính toán. Thiếu gì những em trẻ đẹp tình nguyện lên đây mà cứ phải cô ấy. Tôi xin ông hãy buông tha cô ấy ra, cô ấy thừa biết ý đồ của ông. - Tôi nổi nóng.
Doanh vẫn điềm nhiên, giọng nói xít lại ma giáo:
-Ông ngu lắm, gái một con trông mòn con mắt, ông chưa vợ chưa biết được cái thú vui của gái một con. Nói vậy thôi, tôi muốn cứu cô ấy ra khỏi cái miệng sói của thằng Cương. Cái thằng đồ tể! May cho nó vụ đánh bạc trưa nay không tham gia. Ông với Tâm còn sống với nó ngày nào thì nó sẽ “đì” chết ngày ấy. Ai cho ông giỏi hơn nó. Đừng khoe cái tài hơn người khác. Đời là vậy, con người cứ chấp nhặt, ganh ghé nhau từng tí một, không ai công nhận mình ngu hơn người khác. Ông giúp tôi đi, thế nào thằng Cương cũng bộc lộ điểm sai với ông. Này, chân quản đốc giành cho ông đấy. Tin tôi đi, tôi với ông hiểu nhau quá rõ dễ làm việc.
Với Doanh chẳng có gì để tôi có thể tin tưởng được và tất nhiên câu chuyện giữa hai người Tâm cũng sẽ không bao giờ được biết. Chẳng lẽ tôi lại trở thành tên ma cô hạng nhất hay sao. Còn tình cảm với cô ấy nữa, suốt đời chẳng thể nào quên. Tôi không dám nói ra tình cảm của mình với cô ấy, cho dù điều ấy lúc này là rất thuận tiện, ý tứ của cô ấy vẫn giành cho tôi. Tôi là kẻ nhút nhát chăng? Không phải, tôi không muốn cô ấy phải chịu hoàn cảnh khắc khổ của tôi và tôi vẫn còn tôn trọng tình cảm của cô ấy với người chồng quá cố.
Tôi vào phòng làm việc của Cương để báo cho anh ta tôi vẫn được tiếp tục trở về phân xưởng làm việc. Cương tỏ vẻ không được vui, chỉ gật đầu rồi sầm sập đi ra đê tôi lại mọt mình trong phòng. Vừa lúc ấy Tâm đi vào. Tôi ngượng ngùng nhìn cô ấy. Tâm đưa cho tôi xem tờ giấy mời:
-Em có giấy mời lên phòng phó giám đốc, anh biết có việc gì không?
Tôi nói giấu:
-Anh biết, Doanh muốn em giúp thống kê vài việc gì đó.
-Không phải đâu anh, em biết anh ấy muốn gì rồi. Theo anh em có nên lên trên ấy làm hay không?
-Em lên đấy sẽ có nhiều điều tiếng không hay nhưng không sao đâu, mình thế nào mọi người biết cả. - Tôi nói tin tưởng khiến Tâm yên lòng.
-Vâng, em nghe anh. Em mua cho anh cái võng, buổi trưa anh ra gốc cây mà nghỉ, đỡ nóng bức và tránh được phiền toái.
Tôi trở về bên cỗ máy tiện quen thuộc, lòng không khỏi day dứt khi không có Tâm làm việc bên cạnh. Tại sao khi nãy mình không nói được câu nào thật tình cảm với Tâm, để rồi không biết đến bao giờ có được dịp gần gũi nữa. Tôi ghen tức với Doanh, lo lắng cho từng hành động của Tâm.
Buồn phiền. Mệt mỏi. Nóng bức. Tôi ngủ thiếp trên võng trong giờ nghỉ trưa. Chợp mắt không được bao lâu, tôi trở người thấy các bắp thịt bắt đầu nhức mỏi, đầu váng vất đau. Cơn sốt rét ập đến đúng như dự đoán, tôi nằm co quắp, hai bàn chân lạnh buốt, cơ thể run lên bần bật. Không gian xung quanh mỏng mảnh và khô ròn. Tôi chỉ muốn nhao ra nắng để đốt nóng cái lạnh bên trong xương tủy đang bò ra. Nếu cứ nằm yên tĩnh thế này chỉ lát nữa cơn sốt rét sẽ qua thôi để rồi ngày mai cũng giờ này sẽ gặp lại, kinh nghiệm cho tôi biết thế. Tôi cắn răng chịu đựng để cho cơn sốt hành hạ.
Tôi đâu có được nằm yên, có nhân viên bảo vệ gọi tôi lên phòng quản đốc. Rất nhiều người đang chờ tôi đến.
-Anh có biết chuyện gì xảy ra trong phân xưởng không? - Đội trưởng bảo vệ hỏi tôi.
Tôi ngạc nhiên hỏi lại, giọng run run:
-Có chuỵên gì thế!
-Đừng giả bộ nữa. Phân xưởng mất hai mươi mét cáp điện, ông có biết không? Có người mách, chính ông nằm gác cho bọn trộm ném qua tường. Bây giờ lên ông Doanh mà chối!
Mặt tôi xám ngắt, môi thâm lại, không phải vì sợ mà cơn sốt rét bị sốc thêm. Họ dong tôi đi như dong tội phạm. Mọi người ùa ra nhìn tôi thương hại.
Lần thứ hai tôi bị dong đi, hai bên áp tải là những khẩu súng đầy sát khí.
... Khi ấy, tôi là khẩu đội trưởng cối tám mươi hai ly, phòng ngự trên điểm cao nghìn mốt. Quân dịch tiến lên ngày càng đông, quyết tâm chiếm được điểm cao. Lần thứ ba tôi gọi điện cho tiểu đoàn bổ xung quân. Bốn đồng đội nằm bất động xung quanh khẩu pháo, còn tôi thì vẫn trơ trơ không mảy may sứt sát. Hai người khác vừa bổ xung lên cũng ngã xuống. Chỉ còn mình tôi xoay xở, vừa chuyển đạn vừa lấy tọa độ vừa bắn. Tôi là khẩu đội trưởng có tài cho nên những quả đạn rót rất đúng mục tiêu. Địch không ngừng tiến, tôi gọi bổ xung quân. Một quả đạn pháo nổ gần hất tôi văng ra xa, lửa táp vào mặt rát rạt. Tôi ngất đi không biết trong bao lâu. Khi tỉnh dậy, không gian xung quanh yên ắng như chưa từng có trận đánh nào xảy ra. Không biết trận địa thế nào rồi! Tôi cố lách mình qua khe đá có lẽ bị văng vào khi nãy. Vừa chui ra khỏi, người đầu tiên tôi gặp là trung đoàn trưởng. Tôi bị kết tội sợ chết trốn tránh trong khe đá. Ai có thể thanh minh được cho tôi? Sáu chiến sĩ nằm đó không thể nói được, đại đội trưởng là người chứng kiến những đường đạn chính xác của tôi, tiểu đoàn trưởng là người nhận được yêu cầu tăng quân của tôi, tất cả đã hy sinh cả. Tại sao không mảnh đạn nào văng vào tôi để tôi được nằm xuống, khi ấy tôi sẽ được ca ngợi, sẽ được phong anh hùng. Vì thế cho nên tôi phải chịu đi giữa hai vệ binh áp tải về trung đoàn chịu kỷ luật.
Hai người bảo vệ đẩy tôi vào phòng Doanh như đẩy phạm nhân. Tâm đang viết bên bàn thấy vậy hốt hoảng chạy lại đỡ tôi.
-Sao thế này? Xảy ra chuyện gì nữa đây? Anh bị sốt rét rồi, tái thâm mặt mũi lại rồi đây này! Anh nóng quá, để em đi gọi y tá.
Tôi ngồi xuống ghế, chưa kịp nghe hết người bảo vệ trình bày với Doanh cảm thấy các cơ tay, chân và bụng co thắt lại. Tôi xoài người trên ghế, cổ tắc nghẹn lại, rít lên vì không thở được. Tâm gọi xe cấp cứu. Không biết ai đưa tôi lên xe.
Nhiệt độ cơ thể tôi lên đến bốn hai độ. Mấy người giữ chặt tôi cho khỏi vật vã để bác sĩ tiêm canxi vào cơ thể tôi.
-Đã thấy nóng đít chưa? - Bác sĩ hỏi khi thấy tôi đã tỉnh trở lại.
Tôi gật đầu. Tôi cảm nhận được hơi nóng chuyển dần từ hậu môn lan tỏa khắp cơ thể rồi bốc lên đỉnh đầu. Tôi dễ thở hơn, tình trạng co thắt đã giảm bớt nhưng người vẫn chưa hết run. Xung quanh tôi rất đông người. Tiếng Tâm gắt gỏng:
-Tại chúng mày, chính chúng mày khiến anh ấy bị thế này. Nhận tội đi, đừng để tao tố cáo, tao biết cả rồi. Chúng mày hãy thôi ngay cờ bạc, thôi ngay đi!
-Được rồi, lúc này không phải lúc nói chuyện ấy, lo cho anh ấy khỏe hẳn đã.
Yên lặng. Có ai đó nằm đè lên người tôi. Bị sốt rét mà được người khác đè lên mình thấy dễ chịu lắm. Tôi ngủ thiếp đi.
Tôi tỉnh dậy, cơ thể rệu rã. Người nằm đè lên tôi là Tâm. Tại sao cô ấy biết được người bị sốt rét được như vậy sẽ dễ chịu nhỉ? Mọi người vẫn đứng xung quanh tôi. Mấy người đưa tay quyệt nước mắt, có cả mấy cô gái trẻ hay cờ bạc. Có lẽ họ thương hại cho tình cảnh của tôi. Hạnh phúc cho tôi lắm rồi, tôi chỉ cần có thế.
-Mảnh pháo ở mông anh rơi ra rồi. - Tâm vừa khóc vừa nói với tôi.
Một giọt nước mắt rơi xuống môi tôi. Mằn mặn hay ngọt ngào, tôi không biết dùng từ nào đây. Lần đầu tiên tôi cảm nhận được hương vị cơ thể người phụ nữ truyền sang mình.

N. Q. H.
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #13 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2008, 08:05:55 am »

Cành mai sẻ

Đã qua giao thừa được nửa tiếng. Chỉ còn chưa đầy hai mươi phút nữa là hết ca trực, Bắc định chuyển sang chơi games thì trên màn hình xuất hiện dòng chữ:“Gửi Bình Dương, Phú Giáo thân thương…”.

Thật lạ, tất cả các thư trong chương trình trực tuyến “Thức giao thừa cùng bè bạn bốn phương” của tờ báo N điện tử mà anh đang đọc, đều có địa chỉ cụ thể, riêng thư này lại không. Và lời thư như năn nỉ, nhờ vả: “Tôi không biết gửi cho ai, nhưng mong quý báo cho tôi được tâm tình với đất miền Đông - nơi tôi đã chiến đấu và suốt đời thương nhớ…”. Mặc dầu chỉ là những dòng thư điện tử, nhưng Bắc như cảm nhận được trạng thái tình cảm của người viết: gấp gáp, hồi hộp, sợ lỡ chuyến tàu internet dịp giao thừa.

“ Chúng tôi những người lính của một thời chiến tranh. Quãng đời cầm súng luôn đầy ắp kỷ niệm, nhưng đất miền Đông Nam Bộ luôn nặng trĩu hồi ức. Nơi đây, chúng tôi đã được nhân dân ngày đêm chăm sóc, đùm bọc yêu thương; đã cho cơm ăn, nước uống, cho sức lực và… tình yêu để chiến đấu. Ba mươi năm rồi, đêm giao thừa nào tôi cũng nhớ đến miền Đông. Ở đó, chúng tôi đã khóc vì nhớ nhà và đã cười khi các cô gái trêu “anh Hai lớn đầu mà còn nhớ mẹ”. Hoàng ơi, Thắng ơi, còn nhớ đúng giờ này năm 1972 chúng mình đang nằm kẹt ở Phú Hưng vì bị trung đội biệt kích Mỹ chặn đường, đến khi thoát ra mới tiếc hùi hụi vì đã bỏ quên cành mai sẻ không… Giờ này, các cậu đang ở đâu. Có nhớ Bình Dương - nơi có cây cầu Phước Bình tụi mình đánh hoài không được, cuối cùng đặc công nước “hớt” tay trên không; có nhớ mảnh đất với những người con gái xinh đẹp hiền lành - mà chúng ta đã từng thề, ngày hòa bình nếu còn sống sẽ về đây lấy vợ không…”

Thư như bị kết lửng ở giữa chừng. Có lẽ vì quy định của bản báo nên đã được biên tập, cắt ngắn. Cuối thư, không có địa chỉ người viết, chỉ có dòng Email linhbuon@ttb.com.vn. Liền sau đó, chương trình lại tiếp tục được cập nhật; song những thư từ Cali, Boston, từ Bratitslava, Berlin với mẫu số chung than thở: xứ lạ - thiếu vắng hương vị quê nhà - đất Việt ơi, quê mẹ ơi, mong sớm có ngày về thăm không còn hấp dẫn Bắc nữa. Bức thư gửi Bình Dương đã choán kín dòng suy nghĩ của anh. Đúng là thư không gửi cho ai, nhưng lời gọi da diết “Bình Dương, Phú Giáo” nghe như rất riêng tư. Còn cái cầu beton cốt thép Phước Bình gãy nhịp giữa, trắng phớ, hoang phế - một chứng tích chiến tranh duy nhất của tỉnh còn lại sau 30 năm - thì lại chính là địa điểm chỉ cách quê ngoại anh chừng hai cây số…. Mẹ anh đã chả đã có lần kể một tổ đặc công bộ đội miền Bắc đã được bà ngoại nuôi dấu trong nhà, vốn ngày đó là vùng “xôi đỗ” xen kẽ ta địch đấy ư. Vậy là người viết thư này chắc chắn đã từng chiến đấu ở quê anh… Bắc đẩy “con chỏ” chậm rãi đến từng con chữ, đọc đi, đọc lại bức thư. Cuối cùng, anh đưa về chế độ in lại.

Cầm bức thư ngắn được in trên khổ giấy A4, Bắc đọc thêm một lần nữa, rồi gấp làm tư, bỏ túi ngực, tắt máy, đóng cửa văn phòng ra về. Ở nhà, mẹ và vợ anh vẫn thức. Bắc chúc tết mẹ. Trước lúc đi ngủ, anh đưa mẹ bức thư với lời giải thích đơn giản: thấy nó là lạ, người trong thư chắc đã chiến đấu ở quê ngoại mình.

* *

*

- Trời ơi. Tần đây ư – Trang thảng thốt kêu lên thành tiếng. Bức thư, ban đầu Trang cũng chỉ đọc để biết như lời giải thích của con trai, không ngờ lại là của một người mà suốt hơn ba mươi năm qua chị khắc khoải ngóng chờ. Cái khoảng thời gian đầy ắp những trạng thái, từ yêu thương, hy vọng, khắc khoải, oán trách, tuyệt vọng, đến sẵn sàng chấp nhận mọi sự thật phũ phàng, chỉ cần một lời giải thích minh bạch. Ngần nấy giằng xé trăn trở mà nay lại kết cục đơn giản như thế này ư. “Hoàng ơi, Thắng ơi. Còn nhớ đúng giờ này năm 1972…” Trang đọc lại hàng chục lần dòng chữ này và lần nào chị cũng như nghe được tiếng gọi của Tần. Tần đây chứ ai. Và quá khứ trào về, choán ngợp trong đầu óc Trang. Tất cả hiện lên rõ mồn một, như chỉ vừa mới xảy ra ngày hôm qua.

Năm 1972, Trang vừa tròn mười tám tuổi…

Cái đêm ấy, sau hàng loạt tiếng nổ từ phía thị trấn, Tần, Hoàng và Thắng trở về. Má Tư, mẹ của Trang vừa cắt bánh tét vừa trách “đánh giặc còn dài dài; giao thừa sao không ở nhà ăn tết, vội vàng chi cho cực”… Khi còn hai người trên gác đựng đồ ở nhà kho, Trang cũng trách Tần y chang cái câu của má. Tần cười hiền lành. Anh bảo, tranh thủ đi kiếm cành mai về cho má chưng tết. Nghe vậy, Trang trách, giọng pha chút hờn dỗi:

- Mai đầy ngoài vườn, anh hai đi kiếm làm chi. Nhỡ… Giật mình vì lỡ lời, Trang bịt miệng, giụt cổ, hai mắt mở to, chớp chớp lo sợ.

- Út Trang đừng lo. Hoa mai này khác - Tần gỡ tay Trang xuống khỏi miệng. Anh nghiêng đầu, ngắm khóe môi của cô, say sưa giảng giải - Nó là mai sẻ, mọc ở rừng, bông nhỏ, cánh đơn, giống hệt hoa chi mai ở miền Bắc. Nói rồi Tần lục túi áo lấy ra bông mai.

- Đây, nó đây. Ở Hà Nội, thứ mai này rất hiếm. Ngày tết nhà nào cũng có một cành đào. Nhưng nếu có thêm được cành chi mai này thì gian nhà sẽ như có được tiếng cười của cô thôn nữ - Tần gượng nhẹ đặt bông mai sẻ màu trắng mát dịu vào lòng bàn tay đỏ hồng của Trang. Bàn tay cô nhỏ nhắn, run run, nằm gọn trong đôi tay to rộng, chai sạn của Tần. Như sợ cánh hoa bất chợt bay đi, Trang khum khum đôi tay giữ bông hoa mỏng mảnh, óng ánh sương đêm

“Hoàng ơi, Thắng ơi. Còn nhớ cái cây cầu Phước Bình…” - Trong sâu thẳm, Trang lại nghe Tần gọi. Cây cầu Phước Bình bị phá sập hôm trước thì đêm sau Tần cùng nhóm đặc công rời khỏi ấp Hưng Phú. Tần đi khuất, má Tư thì thầm: “Chắc mấy anh hai mày đánh xong cầu, hoàn thành nhiệm vụ rồi, giờ chuyển địa điểm khác”. Nhưng Trang thì biết rõ không phải như vậy. Lúc Tần gói ghém ba lô, cô đã nghe anh nói với Hoàng và Thắng, giọng ấm ức: “Vậy là cánh đặc công nước hớt tay trên cái cầu của tụi mình rồi”. Tần đây. Tần ơi, anh đang ở đâu. Trang lại kêu lên thảng thốt.

… Sóng đã thôi không chồm qua mỏm đá để hết đợt này đến đợt khác ào ạt xô bờ. Bầu trời, mặt đất đã trở lại lắng dịu, hiền hòa, nhưng sóng lừng mãi tít ngoài khơi và dòng hải lưu sâu thẳm dưới đáy bể vẫn sung sức, ầm ào… Sợ bến bờ mệt mỏi, sóng êm ả, trào qua mỏm đá, nhẹ nhàng lướt trên dải cát vàng lóng lánh. Sóng biển và bến bờ hòa nhập, lanh canh reo vui tạo nên âm thanh pha lê trong trẻo… Trang mở mắt. Nàng ngây ngất. Bàn tay của Tần êm ái, chiều chuộng, đang xoa nhẹ lên bầu vú căng tròn, mịm như bột lọc của cô. Trang nhắm mắt, mặc cho bàn tay ấy lặp đi, lặp lại điệp khúc vô tận: lấp chấp, dặt dìu theo đường tròn bầu ngực rồi vuốt dài, vuốt dài xuống tít tắp thật xa, thật xa…

Mãi sau, Trang ôm cổ Tần thủ thỉ “Ôi… Anh… Em có bầu thì má sẽ nguyền rủa anh”. Nói rồi, nàng úp mặt xuống gối khóc. Nỗi thảng thốt, lo sợ ập đến. Cô sợ cho mình, không bằng sợ cho Tần. Hai tháng nay, kể từ hôm tổ đặc công tới đây, Tần được má cô quý như con đẻ. Nhà có hai chị em, Trang là út. Má gọi Tần là thằng hai, Tần gọi cô là út Trang. Bây giờ… Ôi, Trang không hình dung được, cũng như không thể chịu đựng được nếu có lúc má cô nguyền rủa Tần.

Trang bừng tỉnh dậy. Nghe rõ tiếng tim đập lùng bùng trong tai. Giấc mơ tan biến, song cái cảm giác ngất ngây, say đắm dục tình không còn phù hợp với tuổi tác đã khiến chị lả người, nghẹt thở, đầu óc váng vất. Trang bải hoải, lần từng bước ra sân hít thở. Trời hừng đông, cái tiết xuân trong lành, se se lạnh giống mùa thu miền Bắc (ngày trước Tần đã từng nói thế) làm tan biến ảo giác, nhường chỗ cho quá khứ cắt khúc, cấp tập hiện về.

Và rồi nỗi lo sợ đó đã đến. Chỉ có điều không có sự nguyền rủa của má dành cho Tần (hoặc giả có, nhưng má không nỡ nói ra lời). Chỉ khi biết sự việc đã quá muộn, lúc thắp xong nén nhang trên bàn thờ cha, má quay ra nói với Trang, giọng bời bời đau khổ: “Nếu là ngày xưa thì mày bị lột quần cuốn cổ đấy Út à”. Rồi má đưa Trang vào thị xã ở với dì Ba… rồi Bắc ra đời; rồi những ngày hy vọng, nhớ nhung, chờ đợi khắc khoải liền kề với vô vọng, với oán giận; rồi Bắc khôn lớn, càng lớn càng giống Tần (cái tên Bắc là do bà ngoại đặt để đón điều lành cho con gái). Cái hình bóng con luôn gợi về một quá khứ say đắm yêu thương lẫn hiện tại cô quạnh, chứa chất hàng trăm câu hỏi trong đầu Trang. Ngần đó năm như thế đã đằng đẵng trôi qua. Sự chịu đựng vất vả, ê chề không phải là những lời đàm tiếu của thiên hạ (nó chỉ thoảng qua và bị hút vào những biến cố vang dội của thời cuộc). Sự chịu đựng sượng sùng, bẽ bàng cũng không phải từ phía họ hàng, bởi cô bác đều biết rõ Bắc là giọt máu của một người anh hùng. Nỗi chịu đựng khắc khoải, đau đớn bao năm tháng dằng dặc với Trang lại chính ở sự mất tích của Tần. Tần đã hy sinh, hay đã nhẫn tâm bội ước.

* *

*
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #14 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2008, 08:06:28 am »


Kể từ hôm mẹ anh báo tin lành - Bắc nghĩ - gia đình anh như được tắm trong một làn gió mới. Suốt ngày họ bàn bạc. Lúc thì tràn trề hy vọng với “vậy là, chắc thế”, lúc lại thắc mắc, hồ nghi với “hay là, có thể”. Mọi người như quan tâm đến nhau hơn, xích lại gần nhau hơn, (mặc dù xưa nay cái gia đình nhỏ bé này vẫn luôn thân thiết, gắn bó). Có cái gì đó giống như một thông điệp nguyện cùng kề vai sát cánh; một lần nữa sẵn sàng chờ đón, đương đầu với biến cố dù đó là tin vui hay tin buồn. Mỗi khi Bắc đi làm về, mẹ anh lại nhìn anh với ánh mắt đau đáu, thật tội nghiệp. Trong khi khuôn mặt mẹ cố che đi sự chứa chan hy vọng, thì ánh mắt lại không dấu được nỗi hồ nghi, cam chịu. Riêng Hương - vợ Bắc - thì ngược lại. Cô không phải kiềm chế, không phải dằn lòng dấu kín cảm xúc. Gần như suốt ngày từ chỗ làm, cô liên tục gọi điện cho chồng hỏi thăm tin tức. Hương cứ làm như chỉ một vài ngày nữa, niềm vui nhất định sẽ đến. Cô làm Bắc phát sốt lên, có lúc còn chỉ vẽ cho anh cả cách lục tìm thông tin trên mạng, một công việc mà trình độ của cô chỉ là i tờ so với anh. Nhưng anh vẫn giả bộ lắng nghe. Anh không muốn làm phật ý vợ trước cái cảm giác sung sướng, chồng mình sắp tìm được cha. Cha mình là một chiến sĩ đặc công.

Bắc là nhân viên quản trị mạng nội bộ của một công ty một trăm phần trăm vốn nước ngoài, chuyên sản xuất phần mền ở khu công nghiệp tỉnh. Mối “quan hệ” mạng là công việc anh rành rẽ, thuần thục. Đã hơn mười ngày nay, anh đã liên tục mail đến địa chỉ của bức thư “Bình Dương ơi” nhưng không có hồi âm. Không nhận được hồi âm, cũng không tìm được địa chỉ hộp thư, nhưng Bắc đã xác định được tên miền của Email. Đó là…

* *

*

Trại thương binh nằm ở huyện miền trung du yên ả. Chuyến đi không có gì vất vả. Sáng nay còn ở Bình Dương, sau bốn tiếng đồng hồ vừa bay ra Hà Nội vừa bám xe khách chất lượng cao, bây giờ đã đến đây, khiến Bắc như chưa kịp có cảm giác đổi vùng. Miền đất này giống hệt như quê anh. Cũng địa tầng cao thấp uyển chuyển, cũng những sườn đồi lúp súp uốn lượn chạy theo khe hợp thủy xuống thung lũng cây cối um tùm, thấp thoáng những mái nhà…

Không lẽ cuộc tìm kiếm suốt 30 năm vô vọng nay lại đơn giản đến thế ư. Trò ú tim của tạo hóa trớ trêu đến thế ư - Bắc cố nghĩ sự việc theo hướng thi vị hóa, để tạo sẵn cho mình một sự bình tĩnh cần thiết; để át đi sự hồi hộp khiến anh gần như ngạt thở. Chưa bao giờ anh như bây giờ. Ngay cả lúc thuyết trình một phương án sáng tác phần mềm ở trường đại học Singapore, trước các bậc giáo sự danh tiếng, anh cũng không hồi hộp như bây giờ. Cha anh sẽ là ai. Cha sẽ như thế nào trong cái trại thương binh này.

Là người có tác phong làm việc khoa học, thận trọng vốn được rèn luyện trong môi trường quản lý, điều hành của doanh nghiệp nước ngoài, Bắc đã khôn khéo ngụy trang cho sự xuất hiện của mình. Không có gì phải khuất tất, song xác suất của cuộc tìm kiếm này vẫn rất lớn. Nhỡ người viết thư không phải là bố Tần thì sao (bắt đầu từ hơn tháng nay, Bắc được mẹ truyền cho cách gọi ấy). Nhỡ lại là sự trêu đùa của số phận thì sao. Chẳng phải ai khác, chính anh, anh cũng sẽ không chịu nổi. Vì vậy, tốt nhất anh chỉ nên ở một vị trí tiếp cận tầm trung bình. Sẽ dễ chịu đựng hơn nhiều, nếu…

Mọi việc diễn ra trôi chảy quá mức tưởng tượng của Bắc. Trong vai một sinh viên làm luận văn sau đại học chuyên đề về sự hy sinh mất mát của người lính trong chiến tranh, Bắc được ban giám đốc trại tiếp đón niềm nở, sẵn sàng tạo mọi điều kiện. Và rồi những diễn biến tiếp theo hệt như một cuộn tơ đã được gỡ nút rối, tuồn tuột bung ra, trơn tru đến chóng mặt.

Trong phòng truyền thống, ở gian trưng bày sản phẩm do thương binh làm ra, Bắc bị hút vào những bức tranh được vẽ rất đẹp, treo kín mít trên tường. Phần lớn là tranh phong cảnh được vẽ theo lối thủy mạc pha phong cách hiện đại, ánh lên chất liệu của chì sáp mượt mà như lụa. Cảnh vật nhiều nhất là Hà Nội với những Tháp Rùa, Chùa Một Cột, Hồ Tây có những cành phượng đỏ, ngọn cau in bóng xuống mặt nước lăn tăn gợn sóng. Kế đến là cảnh đồi núi yên ả, có vòm trời xanh ngát, được nhấn bởi những mái ngói xinh xinh, những cụm công nghiệp khỏe khoắn. Ở góc gian trưng bày, có một bức tranh tĩnh vật khổ to cỡ 90x120 đã khiến Bắc dừng lại khá lâu. Tranh vẽ đôi bàn tay thon thả, mềm mại đang nâng niu một bông mai nhỏ. Nền của bức tranh mầu xám (gam mầu họa sĩ Kramskôi hay dùng), tạo độ tương phản làm nổi bật đôi bàn tay mầu hồng nhạt và bông hoa trắng óng ánh, thánh thiện. Dù đã được linh tính mách bảo, nhưng tai Bắc vẫn ù lên khi nghe cán bộ phong trào của trại giới thiệu, vẻ tự hào: “Đây là tranh của đồng chí Tần. Anh là một họa sĩ tài hoa của trại chúng tôi”. Trong trạng thái hồi hộp, lâng lâng như mộng du, Bắc bước vào phòng hồ sơ, kỷ yếu. Cầm trong tay quyển sổ trích ngang danh sách thương binh trong trại, Bắc không nén nổi hồi hộp. Phải vất vả lắm, anh mới kiềm chế được mình, lật giở từ tốn từng trang với động tác thận trọng, gượng nhẹ. Anh chỉ sợ lỡ mình vô ý làm một cử động mạnh, lập tức quyển sách sẽ tan biến. Các trang sách gần như giống nhau, đều chỉ là những dòng chữ khô khan, nhưng đằng sau đó là những người anh hùng. Họ đã hy sinh phần lớn cơ thể và sức lực, để đến bây giờ, mọi động thái sinh hoạt đơn giản cho sự sống, đều phải cần đến người phục vụ. Đây rồi, toàn thân Bắc run lên, tim như muốn bật ra ngoài: Vũ Đăng Tần - sinh ngày… tháng… năm 1950. Quê quán… đơn vị…. Bị thương ngày… tháng 3 năm 1972 - cụt 2 chân và tay phải - Thương binh hạng 2/4… Nhập trại ngày… tháng 12 năm 1974. Phấn đấu tự phục vụ từ tháng 5-1975. Trên góc phải trang trích ngang là ảnh một người đàn ông mắt sáng, mặt vuông vức đầy nghị lực ngồi xe lăn, cười, giơ tay vẫy. Ảnh được chụp dưới gốc cây bàng. Bóng nắng dọi qua kẽ lá, in xuống nền đất như một tấm vải dù lớn… Ba Tần đây. Ba Tần vẫy con đây.

Bắc sắp được gặp ba Tần rồi. Nghĩ đến phút giây ấy, lòng anh hân hoan khôn tả. Sẽ là một tình huống như thế nào nhỉ. Sẽ gọi, sẽ dẫn giải, sẽ chứng minh, rồi kể lể lẫn lộn trước sau.. rồi, sẽ ôm ba Tần, khóc… mặc cho ba Tần ngỡ ngàng, vui sướng. Và sẽ… sẽ gì gì nữa nhỉ!

Nhưng đúng vào lúc Bắc đang hân hoan tận hưởng các tình huống ào ạt của buổi gặp gỡ sắp tới ấy thì đột nhiên trong anh lóe lên một tia chớp. Không phải tia chớp với tiếng nổ kinh hoàng mà là tia chớp với hào quang ngũ sắc và những hợp âm đầy đặn, tươi vui. Không. Không - Bắc gần như reo lên - Niềm vui vĩ đại này, cuộc hội ngộ tuyệt vời này phải - là - của - mẹ, phải được dành cho mẹ. Sẽ không có một lời dẫn giải, không cần những lời kiểm chứng dài dòng. Chỉ cần một tiếng gọi… một tiếng gọi của trầm tích quá khứ và thênh thang hiện tại, là tất cả sẽ vỡ oà, hạnh phúc sẽ tràn ngập, nỗi khắc khoải sẽ tan biến. Anh khỏe hơn mẹ, anh sẽ đủ sức chờ đợi.

Bắc giữ kín mọi chuyện (tất nhiên), chia tay với ban giám đốc trại thương binh ra thị trấn thuê nhà trọ. Anh điện thoại cho mẹ kể lại sự việc, đồng thời sắp xếp lịch trình, chỉ dẫn đường đi cho Hương. Hương sẽ tháp tùng mẹ trong chuyến bay sáng sớm mai.

Má Trang ơi, ba Tần ơi!

Chỉ bằng giờ này ngày mai thôi, dòng sông với bao năm len lỏi, bao năm trầm lắng khổ đau, gào thét thác gềnh sẽ đổ ào ra biển, thỏa thuê và reo vui bất tận…

Truyện ngắn An Bình Minh

Trại sáng tác Bình Dương (Tháng 10.2005)
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #15 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2008, 08:48:23 am »

Chuyện ở đồng tràm
Đặng Hoàng Thám

Đặng Hoàng Thám sinh năm 1955 tại Bến Tre, hiện công tác tại Hội VHNT TP Cần Thơ. Chuyện ở đồng tràm của ông đã đoạt giải nhì cuộc thi viết truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long lần thứ II-2005.

Trời tháng tư, nắng như thiêu đốt đồng bưng. Chúng tôi đi trên cánh đồng tràm chỉ còn trơ những chồi cây tái sinh èo uột. Cánh đồng này mấy mươi năm trước là vùng chiến địa. Chúng tôi đã đi qua và bây giờ trở lại...

Tư Sứt “bụp” nhát cuốc xuống nền đất khô nẻ và cứng như xi măng. Những vết phèn ám đỏ như rỉ sắt dính vào lưỡi cuốc của anh, gặp không khí, cái màu đỏ ấy đổi thành vàng sẫm, nhờn nhợn như những vết máu mới khô...

- Đây mà! Chỗ này chứ không đâu hết. Hồi đó tôi đã đứng nhiều chỗ... Chỉ có chỗ này là nhìn thấy cái lỗ mũi ló ra từ vách núi đá tai bèo độ gang tay. Cái núi gì mà buổi chiều nhìn xiên giống hình mặt quỷ, buổi sáng thì giống như cô gái đang cười trêu ai! Vậy mà người ta đã ở trên đó, ở cái chỗ tưởng chừng như chỉ có thú rừng, cỏ cây và ma quỷ!

Nhẫn nhìn lên ngọn núi mà Tư Sứt vừa mô tả. Quả thật, cái chỗ đá le ra từ trong hẻm núi nó giống như cái mũi của người ta, thế mà tại sao hồi đó, mình và Phấn không thấy! Chắc mình và cô ấy vô tình không để ý đó thôi!

- Gặp rồi! – có tiếng la gọn, giọng phấn khích.

- Gặp gì? Gặp cái gì? – mọi người nhau nhảu hỏi dồn.

- Vải dù. Vải dù - Tôi bó xác cô ấy bằng vải dù! Mà cái khăn choàng vải dù này là của tôi. Chỉ trừ tôi bị “khùng” thôi, thì tôi mới không nhận ra nó. Tôi choàng nó đi đánh giặc cả chục năm, nên tôi và nó như linh thiêng với nhau, nhìn mặt là biết ngay!

Đặng Hoàng Thám sinh năm 1955 tại Bến Tre, hiện công tác tại Hội VHNT TP Cần Thơ. Chuyện ở đồng tràm của ông đã đoạt giải nhì cuộc thi viết truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long lần thứ II-2005.

Nhẫn vẹt những người đang xúm xít bên miệng hố mà Tư Sứt và bạn anh ta mới vừa đào, còn nham nhở sình đất dèo dẻo. Hố sâu độ khoảng trên mét rưỡi. “Hà! Lạ thật. Hồi đó, tôi chôn cô ấy đâu có sâu dữ vậy! À! Mà chắc tại bùn vùi lấp. Vùng này mỗi năm mỗi ngập nước mà. Chỉ có tràm, chỉ có tràm là mới sống nổi thôi!”- Tư Sứt lẩm bẩm. Một vật gì như bằng kim loại ánh lên dưới ánh nắng gay gắt của buổi trưa hè. “Một cái lược bằng nhôm máy bay!”. Nó vẫn còn sáng màu khi Tư Sứt đã rửa lớp bùn đất phủ quanh nó hơn 30 năm! “Đúng là cái lược của mình đã dày công mài cắt từ cái yếm của chiếc máy bay đầm già bị thanh niên xung phong đường 1-C dạo đó, bắn rơi trên cánh đồng tràm này đây! Những ngày bị giặc vây trong hang núi Mo So, mình đã tranh thủ những lúc giặc ngưng đánh để mài cái lược nhôm cứng này cho Phấn. Bây giờ nó vẫn còn! Mình nhận ra nó ngay, giống như anh Tư Sứt đã nhận ra chiếc khăn choàng vải dù của anh ta. Nhưng Phấn! Người con gái xinh đẹp, tuổi mới đôi mươi không còn nữa! Cô ấy đã nằm dưới cánh đồng tràm này lâu lắm rồi! Thịt da mơn mởn ngày ấy, bây giờ chỉ là nắm đất nhão sền sệt với vài sợi tóc hiếm hoi còn sót lại...”- Nhẫn nghe lòng bùi ngùi, xót xa vô hạn!

Mở gói ấy ra luôn đi! - đồng chí trưởng đoàn ra lệnh.

Tấm vải mủ khá dày, lem luốc bùn đất, cột bằng dây đèn trái sáng được Tư Sứt mở bung ra: Một cái sọ người bị mẻ bên trán trái với hai hố mắt sâu thẳm và hai cái gò má cao; một ít xương lóng của các chi... Chỉ còn nhiêu đó! Phấn ngày xưa của Nhẫn đó sao? Thật khó hình dung nổi cái sọ không lành lặn kia với hai hố mắt to buồn như muốn khóc, đã có thời là khuôn mặt ngây thơ, trắng trẻo, sáng đẹp của một người con gái có mái tóc đen dài, óng mượt ngang lưng! Những giọt nước mắt của người đàn ông có khuôn mặt buồn, khắc khổ, dày dạn gió sương rớt xuống nền đất phèn khô quéo. Những cây nhang gầy đét được đốt lên. Gió đưa hương ngan ngát. Mùi của khói nhang. Mùi của quá khứ. Mùi của bom đạn. Mùi của gió biển có vị mặn mồ hôi người. Mùi của phèn chát xì lên từ những lỗ nẻ có dấu chân trâu. Mùi của hương hoa tràm đúng là như còn phảng phất đâu đây... “Cô Phấn! Cô đã trở về với anh em rồi đó!” - giọng Tư Sứt cảm thán ngậm ngùi. Trong phút giây hư ảo của ký ức. Nhẫn lờ mờ, rồi nhớ rõ hẳn cái đêm hôm ấy trên núi, trăng sáng vằng vặc, trăng treo trên cánh rừng tràm bạt ngàn, đen sầm sậm phía dưới đồng bằng xa xa mờ ảo...

* *

*

Hồi ấy, đang là mùa nước nổi của vùng Tây cận Nam tứ giác Long Xuyên, giáp Hà Tiên, Ba Hòn...

- Ngày mai, anh theo đoàn qua “K”, rồi lên miền Đông nhận hàng. Chắc lâu lắm mới gặp lại em!

- Anh đi đường cố bảo trọng. Lúc này, em nghe nói giặc nó “ghim” đường dây mình dữ lắm! - cô gái ngây thơ và lo lắng nói.

- Thì phải đi tới nơi tới chốn thôi! Như những lần trước vậy.

Họ là những chiến sĩ thanh niên xung phong của đường dây 1-C đang làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí từ các kho ở miền Đông về miền Tây Nam Bộ để phục vụ cho các chiến dịch và các hoạt động vũ trang của ta ở đồng bằng sông Cửu Long trong những thời điểm ác liệt nhất!

- Em có nhớ Cần Thơ mình không?

- Anh có nhớ không mà hỏi em! - cô gái gục đầu vô vai Nhẫn thổn thức. Họ là đôi nam nữ học sinh thoát ly theo cách mạng. Quê Phấn ở Phụng Hiệp, còn quê của Nhẫn ở Châu Thành. Họ ra đi phơi phới trong lòng theo tiếng gọi của quê hương. Những thanh niên, nam nữ thời ấy nhiệt tình và đơn giản lắm trong cách nghĩ, cách sống! Chỉ mong hết giặc, thanh bình, về lại quê hương với mảnh vườn, miếng ruộng và một mái ấm gia đình. Đêm ấy họ yêu nhau và thật hạnh phúc như một cặp vợ chồng giữa núi rừng hoang sơ. Chỉ có ánh trăng làm chứng!

Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #16 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2008, 08:49:17 am »

Sau chuyến đi dài ngày, Nhẫn trở lại. Nhưng anh không vào trong núi được. Thiết giáp và lính sư 21 Sài Gòn đã vây núi mấy ngày qua. Một cánh quân của ta trong núi được lệnh mở đường phá vây, bắt liên lạc, nhận tiếp tế và vũ khí để chiến đấu bảo vệ kho hàng. Phấn gặp lại Nhẫn giữa mặt trận. Mừng mừng tủi tủi chẳng nói nên lời. Họ nằm lại một chốt chiến đấu để bảo vệ các đồng chí thanh niên xung phong gấp rút chuyển một số ít hàng vào trong hang.

Buổi sáng, bình minh châu thổ đẹp lạ lùng với những ngọn núi còn mờ sương đứng hiên ngang, hùng vĩ giữa đồng bằng và biển cả. Nắng mai vàng rực rỡ. Những tảng đá lớn nhỏ rơi vãi ngổn ngang qua hàng trăm trận bom bừa và pháo bầy của giặc. Có tiếng rì rì, quần đảo của máy bay đầm già trên không.

- Nó bắt đầu lên kìa! Các đồng chí cảnh giác cao, sẵn sàng đánh trả kẻ thù để bảo vệ kho hàng - đồng chí Bảy Thanh chỉ huy đoàn ra lệnh.

Sau những loạt pháo lớn nổ rền trời kéo dài nhiều phút, bọn lính bắt đầu tấn công lên núi. Khói cháy rừng khét lèn lẹt nhưng lại có mùi thơm dìu dịu, phảng phất của tinh dầu cây cỏ bị đốt! Quân ta chống trả anh dũng nhưng vì yếu thế hơn chúng, phải rút vào hang. Bọn địch dùng máy bay thả những phuy xăng, dầu đốt hang. Lửa cháy luồn vào hang, khói mù mịt không thấy mặt người. Nhưng lạ lùng thay! Sau vài phút ngột ngạt, ngọn lửa lại phù phù cháy ngược trở ra. Đó là vì khi cháy, không khí ở đó bị nóng lên và ít đi đột ngột, gió từ các ngách hang trên núi bị hút, thổi luồn xuống, phía dưới chân núi bao giờ cũng thấp hơn trên, nên xăng dầu chảy ngược ra cũng là điều dễ hiểu! Bọn địch bị thất bại bất ngờ khi định dùng “hỏa công” thiêu rụi núi! Bọn chúng vốn nhát gan, nên khi có mấy tên liều mạng chun vào hang bị ta tiêu diệt, những tên còn lại hoảng sợ thối lui không dám bén mảng lại gần nữa. Núi đã che chở cho quân ta. Núi trở thành máu thịt của ta...

Phấn cột khăn rằn ngang bụng, cô vác khẩu “trường bá đỏ” trên vai bước những bước xiêu vẹo và mệt mỏi. Đơn vị cô bị ngăn cách bởi bọn lính ở lưng chừng núi. Đường trở vào hang bị chúng chốt chặn và canh gác nghiêm nhặt. Tổ chiến đấu của Phấn đã hy sinh và bị thương gần hết. Người này dìu người kia luồn qua những con đường hiểm trở để tránh giặc. Họ đã kiệt sức. Một tiếng nổ lớn. Phấn thấy mình phiêu diêu chập chờn, mơ mơ, màng màng trong một vùng tối sáng mờ ảo, cô không còn biết gì hết...

Ngày chiến sự thứ ba. Lối gần sẩm tối. Người ta đưa về trạm quân y một thương binh nữ bị dập xương sống, với cái đầu quấn băng trắng chỉ còn đôi mắt nhắm nghiền và hơi thở hoi hóp. Các đồng đội của cô đã gặp được cô bên một dòng suối cạn trong rừng khi quân địch vừa rút đi. Có một anh bộ đội quần áo bê bết bụi đất, ôm cô khóc. Cặp mắt anh đỏ hoe trên gương mặt bơ phờ, tiều tụy: “Đồng chí bác sĩ. Chú Chín! Ông cố cứu cô ấy, cô ấy là một chiến sĩ gái dũng cảm và tội nghiệp”. Chín Thành vỗ vai anh bộ đội: “Anh bình tĩnh. Tôi sẽ làm hết sức, để cứu đồng chí mình!”. Chín Thành chích thuốc, ghim kim truyền dịch. Anh mở băng ra và rửa ráy vết thương của người chiến sĩ kia. Chín Thành thoáng trầm ngâm. Anh hỏi: “Cô ấy quê ở đâu? Tên gì? Là sao với anh?” - “Cô ấy tên là Hồng Phấn, người Phụng Hiệp Cần Thơ. Phấn là... là người yêu của tôi. Chúng tôi cùng ra vùng giải phóng một lượt! Chúng tôi ở đoàn thanh niên xung phong Tây Đô...”.

Mặc dù Chín Thành và các nhân viên của anh đã hết sức cố gắng để mong cứu Phấn, nhưng cô ấy không qua khỏi vì vết thương quá nặng. Trạm sửa soạn an táng cho Phấn thì giặc đánh tới. Chín Thành phân công cho Tư Sứt gấp rút di chuyển thi hài các liệt sĩ đến một chỗ khác để chôn cất và dặn Tư Sứt nhớ làm dấu tích để mai này hòa bình có thể trở về tìm hài cốt, quy tập họ về quê quán. Phần anh, anh chịu trách nhiệm di dời các thương binh qua biên giới để tiếp tục điều trị. Nhẫn còn sức khỏe, anh phải theo Chín Thành để cứu những thương binh còn sống. Lúc này, hơn lúc nào hết, họ và tổ chức cần anh.

* *

*

Một người phụ nữ, có gương mặt sáng đẹp, trên trán đã hằn mấy nếp nhăn, mắt mũi đỏ hoe, tóc tai lòa xòa trên đôi vai thấm đẫm mồ hôi. Chị ôm cái quách nhỏ bằng sành da lươn, vuốt ve, khóc rưng rức: “Chị ơi! Chị ơi... Chị đi đã hơn ba mươi năm... Bây giờ mới về! Chị ơi.. Chị Phấn ơi!”. Mọi người ai nấy cũng mủi lòng, ngại ngần nhìn vào cái quách! Ba Nhẫn dìu vợ đứng lên: “Tại số phần chị ấy vắn! Tại chiến tranh mà. Thôi! Đừng khóc nữa! Đừng để Hồng Phấn tủi thân!”. Ngày hòa bình, Nhẫn tìm về gia đình Phấn. Hoa khi đó, tuổi chớm đôi mươi và đẹp dịu dàng như Phấn ngày xưa. Phấn đi trước Mậu Thân. Lúc Phấn đi, Hoa còn bé lắm, chỉ mới mười hai, mười ba tuổi đầu, tóc tai vàng hoe, vàng hoét. Cô bé Hoa - hôm chị lên đường đi thanh niên xung phong – mặc chiếc áo bà ba xùng xình, nhăn quéo của Phấn cho, chân đất, đầu trần chạy vấp lên, vấp xuống dọc theo bờ kênh tiễn chị. Cô vừa vẫy tay, vừa khóc nức nở, gọi chị đến lạc giọng! Phấn vịn cột chèo, rươm rướm nước mắt, huơ huơ chiếc mũ tai bèo từ giã mẹ và em. Cha cô đã lên miền Đông từ sau Đồng Khởi... Ngày giải phóng, Hoa tham gia công tác ở huyện đoàn, rồi yêu ông anh rể hụt của mình. Chín Thành quen thân với gia đình Phấn. Anh mai mối, tác hợp cho Ba Nhẫn và Hoa. Ba Nhẫn trở thành chồng của Hoa và là em rể của Phấn.

Hơn ba mươi năm trôi qua. Chín Thành, Ba Nhẫn, Tư Sứt trở lại cánh đồng tràm thủa trước để tìm mộ và hài cốt các liệt sĩ ngày ấy. Họ đã tìm gặp Phấn. Xương cốt của người con gái Tây Đô được đặt vào cái quách nhỏ, trên có phủ lá cờ Tổ quốc. Chín Thành vặn ống kính chụp mấy “bô” hình. Tư Sứt bắn một tràng A.K giòn giã lên trời...

Nắng chiều đã xế trên cánh đồng tràm mênh mông xa tít tắp. Lưa thưa mấy cánh cò chấp chới bay về cụm núi lam xa phía biển. Phía Hòn Đất. Chín Thành vỗ vai Ba Nhẫn:

- Thôi đừng buồn! Ngày mai chúng ta sẽ đưa Hồng Phấn về quê hương “gạo trắng nước trong” của cô ấy...

Truyện ngắn của Đặng Hoàng Thám
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #17 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2008, 03:03:12 pm »

Đồng hoang
   
1.Chiếc “Đầm già” lượn một vòng chữ C rồi phóng vút lên trời như con chim bồ cắt. Khi ở một khoảng khá cao, nó rì rào, đằm đẳm, lưng tưng như cánh diều no gió .

Sơn và Chiến ghìm hai khẩu tiểu liên AK trên một chảng ba cây, đạn đầy ắp trong băng đã lên nòng, mắt đăm đăm theo dõi chiếc máy bay trinh sát của địch đang chờn vờn trên bầu trời của cánh đồng hoang đầy lau sậy.

- Mẹ! Mày lạng xuống một cái nữa sẽ biết tay tao!- Sơn bực dọc.

- Bắn tan xác nó đi! Trả thù cho thằng Tâm…

Có một bàn tay vỗ nhẹ lên vai Sơn, giọng ấm trầm nhưng nghiêm khắc:

- Ai lệnh cho các đồng chí bắn “đầm già”? Bắn chắc gì đã trúng nó! Chỉ hại cho anh em… Chúng ta đang trụ ở một nơi khá an toàn Làm “hôi ổ” khó mà kiếm được chỗ nào tốt hơn !

- Dạ… dạ thưa chú Ba! Tụi tui muốn trả thù cho thằng Tâm. Ông nhìn kìa! Nó lạng lách trông nhức mắt quá… Chú cho tụi tui “mần” nó nghen?

- Không được! Các chú nghe lệnh tôi - không được bắn - Ba Tấn dứt khoát,rồi anh nhẹ giọng trở lại: Nếu còn sống, còn đi theo cách mạng, chúng ta đâu thiếu cơ hội để trả thù cho đồng chí, đồng bào mình. Không được nóng vội. Hãy bình tĩnh, nhất là trong lúc này. Tôi hiểu tấm lòng các chú… Nhưng phải bảo toàn lực lượng, giữ bí mật nơi đóng quân! Chiến trận tiến thoái, thắng thua là lẽ thường. Hy sinh là chuyện phải chấp nhận. Cái quan trọng là thắng lợi cuối cùng. Tôi cũng thương thằng Tâm lắm chứ!

- Dạ!… Dạ, tụi cháu nghe chú. Tụi cháu chấp hành lệnh của chú! - Sơn và Chiến hình như đã hiểu được những lời của Ba Tấn, nhưng trong lòng họ vẫn còn ấm ức, bực dọc…

Ba Tấn vấn một điếu thuốc, bật lửa, rít một hơi dài. Anh thoáng mơ màng nhìn ra con đường mòn mịt mùng lau sậy. Sơn và Chiến quảy súng lên vai, mắt nhìn lên bầu trời, trong lòng còn hậm hực. Cả ba người, hình như nhớ về cái đêm ấy.

2. - Chú Ba ! Ở đây cá mắm không thiếu. Nhưng gạo chỉ còn đủ ăn hai ngày nữa thôi!…

Ba Tấn thoáng trầm ngâm, anh nói :

- Tôi cũng đã nghĩ đến chuyện này rồi. Phải đi một chuyến ra vùng “meo” vận động bà con ủng hộ lương thực và liên lạc với mấy cơ sở mình ngoài ấy…

Ba Tấn nói với các chiến sĩ của anh:

- Đêm nay, tôi sẽ đích thân chỉ huy các đồng chí đi công tác.Tất cả chấp hành theo lệnh của tổ chức, làm theo nhiệm vụ được phân công …

Màn đêm buông xuống cánh đồng hoang. Ánh trăng thượng tuần xanh xanh, le lói như chiếc xuồng con neo trên một bến sông đầy lau sậy. Gió xạc xào thổi qua những rừng lá tối đen như mực. Đom đóm lập lòe trên những cành cây như đèn chớp… Đoàn chiến sĩ lặng lẽ, đạn lên nòng, đi theo lối mòn trong bóng đêm, lần hướng về cái vầng sáng mơ hồ ở xa xa phía bắc cánh đồng gần vùng ven thị xã. Họ ra đi xuyên qua vùng địch tạm chiếm .

- Mở cửa ! mở cửa… anh Tư. Ba Tấn đây !

Ánh đèn dầu leo lét trong nhà được vặn ra hơi sáng. Có tiếng ho khan và tiếng dép nhẹ. Cánh cửa hé ra, dội chút ánh sáng lên chiếc mũ tai bèo của Ba Tấn:

- Trời! Ba Tấn… sao chú mày về đây được? Đồn bót giăng giăng . Tụi lính đêm nào cũng đi phục… nguy hiểm quá! Thôi vô… vô nhà nhanh đi !

Ba Tấn lách mình vào cửa. Tư Cầu đánh thức vợ dậy: “ Ba Tấn và anh em về… Bà nấu cơm lẹ cho mấy chú ấy ăn đi . Chắc đói bụng hả Ba Tấn? Ăn cơm nghen… Bắt đại con gà mái trong ổ làm thịt đi cho dễ… Anh em mình trong ấy ra sao? Có khỏe không? Thằng Tâm con tôi có về với chú không? Ở trỏng, hầm hố có chắc chắn không? Mỗi lần tụi nó bắn “ô bích” tôi lo quá!

Ba Tấn thân mật vỗ vai Tư Cầu :

- Anh yên chí đi. Chỉ lo gạo… Còn mọi thứ đều ổn. Đường đi nguy hiểm quá nên tôi cho thằng Tâm ở nhà. Thằng con anh nó muốn giận tôi!

Tư Cầu gật gật đầu:

- Chú tính cũng phải. Nó là lính mới. Chú nói với nó, để má nó vô thăm, hay hơn!

- Hôm rồi, chắc anh nhận được thư tôi?

- Có. Tôi đã vận động được một số bà con ủng hộ mình một ít gạo tiền. Đang tìm cách chuyển vô cho mấy chú. Lúc này nó kiểm soát gắt lắm… Nhưng giá nào cũng phải đem vào thôi!

- Chúng tôi sắp hết lương thực nên phải mạo hiểm ra đây!

- Tôi biết. Chú xem! - Tư Cầu dẫn Ba Tấn vô buồng ngủ và giở lu ra: những bọc ni lông dày đựng đầy gạo được cột cẩn thận từng túi nhỏ.

- Anh kỹ lưỡng quá! - Ba Tấn nắm tay Tư Cầu siết chặt.

Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #18 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2008, 03:04:18 pm »

Ba Tấn và các chiến sĩ trở về, mỗi người mang trên mình gần hai mươi kí gạo, họ len lỏi qua một quãng đường khá dài, nguy hiểm luôn rình rập. Có lúc họ đi sát đồn giặc gần hai mươi mét, nghe rõ cả tiếng nói chuyện của bọn lính trong đồn.

Gần đến bìa cánh đồng để vào cứ. Có tiếng kêu như chim quốc: “quốc … quốc… quốc…”. Có người đón. Tâm và hai chiến sĩ thổi ống tre giả tiếng chim làm mật hiệu.

- Chú Ba và mấy anh về trỏng trước, để tụi tôi gác đường chận hậu cho an toàn. Chú Ba thấy ba má tôi ở ngoải có khỏe không? - Tâm hỏi.

- Khỏe cả. Anh chị Tư gom gạo của bà con ủng hộ và cho tụi mình một con gà mái đẻ…

Sau ít phút sắp xếp, Ba Tấn để Tâm và Sơn ở lại, ông và các chiến sĩ tải gạo về cứ. “Mấy đứa bây cẩn thận nghen!” - Ba Tấn  ngoái lại dặn dò…

Ba Tấn về đến cứ. Anh bỏ cái bòng gạo xuống đất, thở phào nhẹ nhõm. Các chiến sĩ ở nhà bu quanh Ba Tấn. “Có thuốc ruby và một can rượu nếp ngon đây… ” - Ba Tấn vui vẻ - “Một con gà mái đẻ nữa. Bà con mình ủng hộ hết mình đấy! Kêu mấy đứa bắt nước nấu cháo… Tụi thằng Tâm về, mình lai rai chút đỉnh. Gà mái đẻ của chị Tư má thằng Tâm cho đó! Tội nghiệp ảnh chỉ. Từ chối thế nào cũng không được. Con gà đang ấp…”.

Bỗng có tiếng súng nổ dồn phía ven cánh đồng. Ba Tấn lặng người lo lắng. Mọi người ai nấy đều bồn chồn…

Trời hửng sáng, chưa rõ mặt người. Sơn mình mẩy bê bết bùn đất và máu, quảy hai khẩu súng trở về.

- Thằng Tâm đâu?… Nó đâu? Mầy có sao không? - Ba Tấn nóng ruột như thiêu hỏi.

- Con không sao!… Thằng Tâm nó chết rồi chú Ba ơi! - Sơn khóc òa.
- Sao… Sao chết vậy? - Ba Tấn  nắm vai Sơn lắc lắc. Mắt anh đỏ như tôm luộc.

- Tụi tui sửa soạn rút. Tụi lính đi phục kích về, chạm mặt tụi tui ở ngã ba cây Trâm. Trời tối, tụi tui và tụi nó bắn nhau loạn xạ. Tụi lính nó chạy, tụi tôi cũng chạy… Chừng vài mươi bước, thằng Tâm trúng đạn ngã cái bịch xuống đất, nhưng chưa chết liền! Nó đưa cây súng thều thào bảo tui chạy đi. Nó còn ráng rút nhíp trái lựu đạn, đút cánh tay vào ngực, nằm sấp xuống, đè lên… Nó “hướt” mấy cái rồi ngoẹo đầu nằm im. Bọn lính mò trở lại… Tui nghe nổ “Ùm!” một tiếng thật lớn, ngay chỗ cái xác của thằng Tâm!… Tui “xổ” một băng về hướng ấy, rồi bò xuống đồng, vạch lau sậy, lần về đây!

Mọi người ai nấy hốt nhiên trầm ngâm. Ba Tấn co nắm đấm lại rồi thừ người đốt thuốc. Điếu thuốc cháy đến gần tận kẽ tay, anh mới hay.

- Có nấu cháo, mần gà không chú Ba? Nước sôi lâu lắm rồi !

Ba Tấn khoát tay:

- Thôi ! Bảo tụi nó nấu cơm, kiếm gì ăn đỡ… Còn con gà, để mở cửa mả, cúng thằng Tâm rồi nhậu luôn với nó. Đêm nay dò đường cẩn thận, coi có lấy được xác nó về không!

Hai ngày, sau khi Tâm hy sinh, người của Ba Tấn vẫn chưa bắt liên lạc được với gia đình ông Tư Cầu. Ba Tấn và các chiến sĩ của anh truy điệu cho Tâm xong, họ ngồi nhậu lai rai dưới rặng trâm bầu. Con gà mái đẻ vẫn chưa bị làm thịt, họ đã thay bằng một con gà trống tơ cho đúng với lệ mở cửa mả. Ba Tấn uống một hơi ba ly rượu nếp mà vẫn chẳng thấy gì. Lòng anh nằng nặng. Ba Tấn hình dung đến vợ chồng Tư Cầu: “Thằng Tâm nó là con trai độc nhất của anh chị Tư Cầu… Ảnh chỉ gởi cho mình. Không ngờ nó “đi” sớm quá vậy!”… Và còn “một người” nữa! - Ba Tấn nói khẽ với Sơn :

- Sơn này! Con Thắm ở bên cánh Quân y huyện, không biết sẽ ra sao khi hay thằng Tâm chết? Thằng Tâm coi tao như ba nó. Hôm nọ, nó tiết lộ bí mật với tao rằng: nó và con Thắm có ăn ở với nhau rồi! Hai đứa hẹn sẽ thành chồng vợ… Bây giờ. Mày biết không? Tao cầu mong… cầu mong cho con Thắm đừng có bầu, để nó khỏi dở dang đời con gái. Tội nghiệp!

Có tiếng “đầm già” sè sè, quần đảo trên bầu trời của cánh đồng…

3. Sau ngày hòa bình lập lại. Nhiều năm sau,vào khoảng tháng mười âm lịch, khi gió chướng về, đồng hoang còn lau sậy trổ bông phơ phất, trắng xóa. Người ta thấy có một phụ nữ khá đẹp, ăn vận lịch sự, dẫn một bé trai, mặt mũi khôi ngô đến bày đồ cúng và đặt hoa ở mộ của Tâm. Mấy năm về sau nầy, mộ của Tâm được quy tập về nghĩa trang Liệt sĩ huyện. Cánh đồng hoang vu thuở ấy, một thời chở che cho cán bộ, chiến sĩ ta sau năm Mậu Thân ác liệt, bây giờ đã thành vườn ruộng phì nhiêu, sum sê cây trái. Chuyện về cánh đồng máu lửa ấy chỉ còn trong ký ức của những người đã đi qua một thời chiến tranh nơi mảnh đất vùng ven nhiều ác liệt…

Người kể cho tôi nghe câu chuyện này, bây giờ tóc đã bạc trắng, đôi mắt ông thoáng ánh lên chút xa xôi: “Cô Thắm đến giờ vẫn không có chồng… Thằng bé, con của cô ấy làm bí thư hay chủ tịch xã gì ở đó… May mà còn có đứa con, không thì đồng hoang mãi hoang vu…”.

 

ĐẶNG HOÀNG THÁM
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #19 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 04:25:27 pm »

Nguyễn Quang Sáng

 

CHỊ NHUNG

 

Chờ khi trời sẩm tối, xuồng của chúng tôi mới tách bến và rặng lá hai bên bờ sông vàm Cỏ Đông như cũng chờ đến lúc trời tắt nắng mới rì rào chuyển động, khiến cho ta có cảm tưởng như gió chiều không phải từ xa thổi tới mà dậy lên từ trong những ngọn lá lao xao.

Tiếng bom pháo, tiếng gầm rú của máy bay, tiếng cánh quạt rầm rộ và nặng nề của các loại trực thăng trong suốt một ngày nắng gắt như phải tắt lặng đi, khi trên nền trời vừa bật lên những vì sao đầu tiên. Chỉ còn có những tiếng pháo nổ cầm canh vẳng lại từ những nơi xa.

Nhân lúc yên tĩnh và rỗi rãi, anh Tám Sơn, chánh trị viên tiểu đoàn, rủ tôi đi thăm một chị trong đơn vị biệt động quân của Sài Gòn, Chợ Lớn- chị Nhung. Trong trận đánh vừa qua, chị được trên phái xuống để đưa đơn vị anh đến vị trí chiến đấu; chị vốn là người quen cũ của anh. Còn tôi, tôi chưa quen cũng như chưa biết chị. Nhưng tôi cũng muốn gặp chị và nghe nói chị có dự trận đêm tết, tôi được nghe loáng thoáng một vài chuyện của trận đánh ấy. Người ta kể cho nhau nghe chuyện của một anh hùng B.40. Súng B.40, theo tôi được biết, với sức khỏe bình thường của con người, và theo sách vở đã dạy, mỗi chiến sĩ chỉ có thể bắn đến viên đạn thứ sáu là nhiều nhất. Nhưng với lòng dũng cảm của quân đội ta, có nhiều chiến sĩ đã bắn vượt mức quy định. Như trong trận đánh đoàn tầu giặc trên sông của tỉnh Long Châu Sa, có một chiến sĩ đã bắn đến viên đạn thứ chín diệt chín ổ đề kháng của địch. Tôi chưa được nghe ai bắn đến viên đạn thứ mười. Nhưng trong trận đánh vào Bộ tổng tham mưu của Mỹ- Ngụy, lúc đánh trả lại các đợt phản kích của xe tăng địch, có một chiến sĩ bắn B.40 thọc họng súng qua các cửa sổ bắn đến viên đạn thứ mười sáu. Thấy hai bên tai anh rỉ máu, một chị chạy đến không cho anh bắn nữa. Chị giật súng trên tay anh và bắn tiếp. Nghe nói chị ấy cũng tên Nhung. Tôi muốn gặp chị để hỏi lại những chuyện ấy cho rõ hơn và do tính tò mò, tôi muốn gặp tận mắt một cô gái người Sài Gòn.

Đêm tuy yên tĩnh, tôi vẫn dè dặt không dám cho xuồng bung ra giữa dòng, tôi chèo cặp theo rặng lá. Dòng sông cuồn cuộn và chảy xiết nữa, nước theo bóng đêm và ngọn gió đã lên đầy. Dòng sông trở nên mênh mang lấp lánh ánh sao, gợn lên từng đợt sóng nhẹ ộp oạp vỗ vào bờ.

Anh Tám Sơn ngồi trước mũi xuồng đối mặt với tôi, anh khoảng hơn bốn mươi tuổi, mặt xương, người gầy nhỏ trong bộ quân phục màu cỏ úa.

Đêm sáng mà tôi không nhìn rõ mặt anh, qua cái dáng lặng lẽ của anh, tôi đoán chắc anh cũng như tôi đang muốn ngồi yên lặng nghe tiếng gió, tiếng sóng và đeo đuổi những ý nghĩ riêng. Tôi không hỏi gì cũng không gợi chuyện. Nhưng sau đó một lúc, anh lại kể cho tôi nghe câu chuyện của chị Nhung.

***

Tôi quen cô Nhung từ năm một ngàn chín trăm sáu mươi. Cái ngày đầu tôi quen cũng là ngày tôi chia tay với cô, đã tám năm. Suốt trong tám năm không phải lúc nào tôi cũng nhớ, nhưng cũng có thể nói chẳng lúc nào tôi quên cô ấy. Trong những chuyến công tác, hễ gặp ai quen tôi cũng hỏi thăm cô. Tôi thường mong ngày gặp lại, nhưng khi tôi gặp lại cô thì tôi không nhận ra cô nữa. Đó là một buổi chiều tháng năm giữa trận đánh trên đường Trần Quốc Toản, cánh quân của chúng tôi thọc mạnh vào Sài Gòn, trụ lại quãng đường ấy từ mờ sáng. Bọn giặc dùng “ chiến thuật ruồi bu” có phi pháo, có trực thăng, có cơ giới yểm hộ, chúng tấn công ta bằng nhiều mũi, chẳng khác gì những mũi tên lao vào một điểm. Mãi đến xế chiều chúng tôi mới đánh bật tất cả các đợt phản kích của địch. Tiếng súng nhỏ chỉ nổ thưa thớt trên các góc phố và trên những tầng nhà cao. Nhân lúc ngưng tiếng súng, chúng tôi phân công cho một đơn vị chia nhau giúp dân ra khỏi tầm súng. Chúng tôi đoán biết sau lúc im lặng, trận đánh sẽ xảy ra ác liệt hơn. Người trong khu phố lần lượt đổ ra đường, người đi xe hơi, người đi xe Honda, xe Suzuki, người đi bộ.

Đứng trong một góc phố, nhìn những đoàn người đang nối nhau, dắt díu nhau đi trong làn khói của những nơi nhà bị pháo giặc bắn cháy, tôi thấy có một cô gái cỡi xe Honda màu đỏ chạy ngược lại dòng người, lao thẳng vào trận địa. Chiếc xe bị đội tự vệ đường phố đưa tay chận lại. Mãi lúc sau, không lâu lắm, tôi nhớ khoảng chừng năm hay ba phút gì đó, anh đội trưởng tự vệ báo cho tôi biết có người lạ muốn gặp ban chỉ huy. Lúc đó tôi đã trở vào nhà, xem lại bản đồ của đường phố. Trong chỉ huy sở có một mình tôi với ba đồng chí trinh sát trẻ. Chỉ huy trưởng và chỉ huy phó đang ở trên đài quan sát, tôi mời vào. Người muốn gặp ban chỉ huy là cô gái cỡi xe Honda lúc nãy. Cô khoảng hai mươi hai, hai mươi ba tuổi, ăn mặc theo thời trang của người Sài Gòn, quần ống hẹp, áo bà ba màu hột gà bó sát lấy thân, người thon thả với dáng nhanh nhẹn, tôi không nhìn rõ được mặt cô. Tóc uốn cao, nhưng mái tóc lại rủ xuống che mất cả vầng trán và cô lại mang kính mắt đen. Tôi đoán là cô cố ý diện như vậy để người khác không nhận ra mình. Cô khẽ cúi đầu chào tôi với vẻ lịch sự và kính cẩn, rồi đặt chiếc giỏ mây bên bàn cạnh chiếc bản đồ quân sự, lấy ra chiếc bánh mì, bẻ làm đôi, đưa cho tôi một tờ giấy nhỏ. Đó là thư của ban chỉ huy trung đoàn lệnh cho các cánh quân của chúng tôi phải chuyển đến vị trí X, vào giờ G để hợp đồng chiến đấu với đơn vị bạn và cô là người dẫn đường.

- Cô thứ mấy ? - Tôi hỏi.

- Dạ thưa út!

Sau khi xem xong thư, ngước nhìn cô giao liên, tôi thấy cô đã gỡ kính mắt đen và không hiểu sao cô lại nhìn tôi với cặp mắt mở to, vẻ kinh ngạc và như có gì xúc động đến xao xuyến. Sao cô lại nhìn mình quá đỗi lạ lùng như vậy? Tôi thầm hỏi.

Có lẽ đây là lần đầu tiên cô gặp một người chỉ huy giải phóng quân. Tôi thầm nghĩ như vậy, chẳng hiểu sao tôi muốn tránh cái nhìn lại tôi, xem cách ăn mặc của mình có đúng với tư thế của người chỉ huy quân giải phóng hay không. Tôi cảm thấy ngượng mà tự hào với bộ quân phục đầy bụi. Tuy thế, tôi vẫn đưa tay phủi nhẹ. Tôi muốn hỏi cô nhiều điều, nhưng lúc đó một đàn trực thăng đang kéo tới. Tôi chỉ còn thì giờ ra lệnh cho tổ trinh sát phải bảo vệ cô. Có lẽ vì giọng ra lệnh của tôi quá nghiêm trang, một đồng chí trinh sát trẻ liền bước vào đưa cô xuống hầm trú ẩn. Cô cầm chiếc giỏ mây đi theo anh trinh sát mà vẫn quay mặt lại nhìn tôi, tôi không còn thì giờ để xét đoán những cử chỉ lạ lùng của cô nữa. Tôi vụt chạy thẳng lên đài quan sát. Đài quan sát của chúng tôi là tầng thứ tám của một cao ốc. Nhìn qua những ô vuông cửa sổ của tòa nhà ấy, chúng tôi có thể nhìn thấy những mái nhà chen khít nhau của khu phố, có thể phát hiện được những ụ súng của địch và những đoạn đường xa.

Tôi báo cáo lại ban chỉ huy mệnh lệnh của cấp trên và bàn kế hoạch chiến đấu, kế hoạch tiến quân.

Một bầy trực thăng chín chiếc xếp thành ba tầng quần đảo qua khu phố. Tôi thấy rõ những tên lính Mỹ ngồi trong trực thăng, tay cầm súng, nhìn xuống khu phố qua cửa mở, đầu của nó như cái gáo dừa. Chúng bắn hỏa tiễn xuống từng mái ngói, chẳng mấy chốc mà chúng đã tạo thành một vòng lửa lớn vây lấy chúng tôi. Những mũi quân ở xa mỗi lúc mỗi thu gần lại, gần như gom dần về một điểm. Muốn bảo toàn được lực lượng, đó là điều phải tránh. Hỏa lực phòng không của ta đã bắn rơi hai chiếc, chúng bay rạt đi một lúc, rồi một bầy khác lại kéo tới. Vòng vây của ngọn lửa mỗi lúc một cao ngọn và thu nhỏ lại. Có lúc tôi có cảm tưởng như mình đang đứng giữa ngọn lửa. Không khí như cũng bị cháy. Gió thổi hơi lửa táp vào người nóng hầm hập. Không thể nhìn thấy được gì rõ ràng nữa. Những mái ngói đỏ, những bờ tường màu sữa, những vuông cửa xanh, những con đường và cả khu phố đã bị vùi sâu trong đám khói. Một vài chiến thương đang bị ngộp vì khói.

Phải phá vây! Chúng tôi quyết định, nhưng không thể điều quân vượt qua vòng lửa đang bốc cháy. Phải điều quân tiến thẳng trên con đường lớn, đánh vỗ mặt vào quân địch, rồi từ đó, sẽ chuyển quân vào vị trí đã định. Có thể nói đó là cánh cửa mở của vòng lửa. Thế nhưng thằng Mỹ đã đóng cánh cửa ấy bằng một chiếc xe M.41, chiếc xe đang cắm ngay ngã ba, bắn dọc theo đường. Chúng tôi tập trung hỏa lực cho các đội đánh tăng. Vì vòng lửa đang xiết chặt, muốn đánh chiếc xe tăng ấy, chẳng còn con đường nào khác hơn là tiến men theo con đường lớn. Mấy tổ đánh tăng- mỗi tổ ba người- đều không vượt lên được. Chiếc xe ấy ở quá xa tầm súng. Chúng tôi không hề nghi ngờ gì lòng dũng cảm của các chiến sĩ. Quả là chúng ta không thể nào tiến gần nó được. Nếu chiến đấu tại một vị trí có thể chiếm được, sau khi diệt được nó mà phải hy sinh, tôi tin chắc trong đơn vị của tôi sẽ có hàng trăm chiến sĩ sẵn sàng ra đi. Cái khó khăn không thể vượt được là các chiến sĩ ta đã phải hy sinh ở những vị trí hãy còn xa nó quá. Nhưng cũng không thể vì thế mà chịu bó tay. Bằng mọi cách phải diệt cho được chiếc xe tăng ấy. Ban chỉ huy chúng tôi hạ quyết tâm. Trong khi chúng tôi đang họp bàn kế hoạch, cô giao liên ấy đứng cạnh bên chúng tôi lúc nào không biết.

- Em sẽ đưa các anh đến chỗ đó, không cần phải men theo đường lớn.

Cả ban chỉ huy chúng tôi như giật mình nhìn lại cô. Căn nhà đầy khói, tôi không nhìn rõ mặt cô. Qua làn khói lảng vảng tôi chỉ nhìn thấy đôi mắt mở tròn của cô.

- Đồng chí đi bằng đường nào? - Tôi hỏi.

- Tôi... - Cô lắp bắp rồi xưng cháu -... Cháu sẽ đưa các anh luồn theo các ngõ trong khu phố.

- Chúng tôi sẽ đi! - Một chiến sĩ đã đánh tăng nhiều lần liền chạy tới nói với tôi và nhìn cô gái giao liên với đôi mắt dò hỏi:

- Chắc chớ đồng chí?

- Chắc ! Tôi biết đường - Cô giao liên đáp.

- Vậy thì ta đi thôi!- Anh chiến sĩ đánh tăng giục chúng tôi hạ mệnh lệnh. Chúng tôi tổ chức ngay một tổ ba người, cô giao liên hỏi xin một trái pháo dù, cô để vào giỏ mây.

Ba chiến sĩ đánh tăng ôm súng, đeo đạn, lao ra cửa. Còn cô giao liên có vẻ như trù trừ. Cô cầm chiếc giỏ mây đựng trái pháo dù, đứng lặng môt lúc rồi bất thần quay nhìn tôi:

- Chú Tám, chú không nhớ cháu sao? Cháu là Nhung!

- Sao? - Tôi kinh ngạc và buột miệng kêu lên như vậy. Tôi chưa kịp hỏi gì thì Nhung đã lao đi rồi. Trong khoảnh khắc đó, tôi đứng ngây người, nhìn theo cháu qua làn khói và nói thầm với mình: “ Nhung à”?

***

Anh Tám Sơn kể đến đây thì phải dừng lại vì một đoàn xuồng máy đuôi tôm đang chạy ngược qua xuồng chúng tôi. Anh Tám Sơn dù có say chuyện, nếu anh có muốn kể tiếp, tôi cũng không thể nào nghe. Tiếng máy đuôi tôm nổ vang, chiếc này nối theo chiếc kia quẫy lên từng đợt sóng lớn. Đó là đoàn xuồng dân công chở lương thực và đạn dược cho các chiến trường. Những người chèo thuyền chở khẳm vừa la ó vừa bấm đèn pin làm hiệu cho những chiếc xuồng đuôi tôm nhỏ máy lại. Đoàn xuồng đuôi tôm vừa dứt, tiếng máy nổ mỗi lúc mỗi xa, tiếng la ó của người đi trên sông im đi, những đợt sóng đuối sức lặng an dần, dòng sông vừa trở lai yên tĩnh, anh Tám Sơn vừa định kể tiếp câu chuyện thì tiếng hát của một chiếc xuồng nào đó lại vang tới:

ở tận sông Hồng em có biết

Quê hương anh cũng có dòng sông

Anh mãi gọi với lòng tha thiết

Vàm Cỏ Đông ơi Vàm Cỏ Đông (1)

Bài hát mang theo một âm điệu tha thiết của dân ca, đúng ra người ta phải đơn ca, nhưng người trên xuồng đi giữa dòng sông ngược qua chúng tôi lại đồng ca. Tôi không biết rõ trên chiếc xuồng ấy có mấy người, nhưng nghe qua những giọng trầm đục và khàn khàn tôi đoán là bốn, năm người đàn ông đang hát. Tôi bật cười vì bản đồng ca ồ ồ ấy, bài hát với những giọng trầm đục như đang là là trên mặt nước, bỗng có một giọng nữ cất cao lên: “ Ơi Vàm Cỏ Đông, ơi hỡi dòng sông”.

Bài hát bỗng như khác hẳn đi khiến tôi phải dừng chèo lắng nghe. Những giọng trầm đục của những người đàn ông đã trở thành cái bè trầm, làm nền cho giọng nữ cao đang bay chơi vơi trên dòng sông:

Nước xanh biêng biếc chẳng đổi thay dòng

Đuổi Pháp đi rồi, nay đuổi Mỹ xâm lăng

Giặc đi đời giặc, sông càng xanh trong

...

Ơ Vàm Cỏ Đông, ơi hỡi dòng sông...

Giọng nữ cao ngân dài như rung trong không gian. Đi xuồng trên Vàm Cỏ Đông trong đêm sao, nghe tiếng hát “Vàm Cỏ Đông” của một cô gái, tôi bỗng thấy bâng khuâng.

***

Logged
Trang: « 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM