Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:51:13 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chân dung một quản đốc  (Đọc 49287 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #40 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2013, 03:31:05 pm »

Trời chưa sáng hẳn, song quốc lộ 1 đã rộn rịp xe ngựa, xe đò.

Chúng tôi bắt buộc chủ nhà ngồi ở cửa, có khách thì tiếp phía ngoài, đẩy đưa để khách rút lui cho mau. Tôi đảm bảo với chủ nhà hễ thấy Tây kéo xuống, họ sẽ tản ra sau vườn rồi dông vô chợ. Hai Cũ cẩn thận dặn họ gom góp thứ gì quý đem theo.

Mặt trời chưa mọc, đã nghe ai dó gọi cửa thầy xu đi uống cà-phê. Thầy xu trả lời trót lọt. Thầy xu cho biết, đó là thằng đội rờ-sẹt, tối không dám ngủ nhà, vừa từ đòn Gò Xoài về.

Nói chung, anh ta đuổi khéo cả chục người.

Cho đến một người. Một phụ nữ. Bà đi qua cổng - chúng tôi bảo chủ nhà mở cổng cho có vẻ bình thường - le te vô nhà. Chủ nhà hoảng quá, chận bà ta lại:

- Bữa nay lễ, buôn bán cái gì !

- Ậy ! Lễ của Tây chớ lễ gì của mình. Máy trái mít của tôi đặt cọc, bữa nay tôi bẻ. Tôi xuống Biên Hòa chuyến xe đò sớm.

Bà phẹt một bãi cổ trầu, rồi xấn vô, chủ nhà kéo tay bà mà không kịp.

- Kỳ ôn, không? Thày xu bữa nay rượng lắm sao mà mới sáng sớm đã nắm tay đàn bà ? Cô xu ơi!

Bà vừa nói trây vừa bước qua cửa ngăn nhà trên, với căn phòng phía trong. Phòng mờ mờ, bà chưa kịp nhìn chúng tôi đang đứng sát tường.

- Cô xu... úy ! - Bà đã thấy - Cái gì vậy ?

Bà ngó bốn khẩu trung liên, ngó chúng tôi, giật lùi:

- Mẹ cha ông nội ông ngoại bà cố ông sơ, ông sờ, ông sằm ơi !

Bà nói lịu.

- Bà kia! - Hai Cũ gọi bà.

Bà lặp lại: Bà kia!... Tiên nhơn từ đường, ủa, âm binh thần tướng, ủa, Phật bà Quan âm, ủa!

Bà nói huyên thuyên., lùi dần, lùi dần, vấp ngạch cửa, té cái đụi. Bà chống hai tay, lùi nữa, miệng lảm nhảm:

- Nam mô bổn sư Thích ca... Nhân cha và con, và thánh thần... Cao đài Tiên ông đại bồ tát ma ha tát!

- Bình tĩnh lại ! - Tôi đỡ bà dậy. Tôi đã nhớ bà tuy bà thay đổi nhiều.

- Người ta, Việt Minh, không phải ma quỷ đâu. Bà biết Hai Cũ không? - Tôi hỏi.

- Hai Cũ? - Bà ngơ ngẩn một lúc... - Việt Minh hả?

Tôi gật đầu.

- Việt Minh vô đây chi?...

- Có chuyện... mà bà nhớ Hai Cũ không ?

- Nhớ chớ... Hai Cũ bỏ nghề ăn cướp rồi mà!

- Bà nhớ cách nay 8 năm, Hai Cũ giựt cái đồng hồ của Nhựt trên xe lửa không?

- Sao không nhớ! - Giọng bà ta gần bình thường.

- Có một cậu nhỏ lấy cây đòn gánh của bà...

- Nhớ rồi ! Giơ cây đòn gánh mà hổng dám đập...

- Phải... Cậu nhỏ đó là tôi đây...

- Vậy sao ? Mèn đéc ơi! Nay lớn đại, ai mà nhớ mặt... Vợ con gì chưa ?

Bà vụt quên mấy khẩu súng của chúng tôi.

- Hai Cũ là anh nầy. Nay là chỉ huy quân Việt Minh.

Tôi chỉ Hai Cũ cho bà. Bà nhìn Hai Cũ không chớp mắt:

- Đúng rồi... Già hơn, mà cặp chân mầy thì y như hồi đó... Ông Hai bình yên chớ?... Mà...

Tôi biết bà băn khoăn về sự có mặt đột ngột của chúng tôi ở đây. Hai Cũ nói chuyện với bà. Có lẽ bà hiểu, tuy không ừ hữ. Bà chịu ở lại trong nhà và chịu bỏ một chuyến buôn...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #41 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2013, 03:33:58 pm »

Từ xa, trên quốc lộ 1, có bóng người, cả tiếng xe. Hai Cũ và tôi theo dõi. Anh dựng khẩu F. M. sau cánh cửa. Chỉ cần một vài giây, anh đã có thể bấm cò.

- Xe có cờ! Chẳc tụi quận Xuân Lộc.

Anh định cầm súng! Tôi níu anh lại.

- Không phải !

Một chiếc xe hơi cắm cờ Tây và cờ quẻ ly dẫn đầu đoàn người áo đỏ, áo vàng. Đó là cuộc đua xe...

Các “cua rơ” còng lưng đạp lên dốc, lần lượt qua. Hết tốp này đến tốp khác. Tôi thấy mắt Hai Cũ lóe một ánh lóe dữ tợn.

Lại một tốp khác xuất hiện. Đám chạy việt dã.

Tôi biết Hai Cũ khó nén trước sự khiêu khích này, giặc coi như trên đất Trảng Bom không có Hai Cũ. Anh nhổ một bãi nước bọt:

- Mẹ cha nó ! Giống y chó tháng bảy...

Một xe dip từ thị trấn đỗ trước cổng. Chủ nhà khào khào:

- Quan một Phẩm !

Hai Cũ và tôi cũng giật nảy người. Trên xe bước xuống một sĩ quan - đeo lon thiếu úy, đôi kiếng đen to gọng, đầu chải úp mu rùa. Hai tên bảo vệ lăm lăm tiểu liên.

- Quan một Pô-lít-mi-li-te  ... Ông vô đây bây giờ.

Hai Cũ lùi vào cửa. Hẳn là anh sẽ đón Phẩm bằng một loại FM. Tôi nép cạnh anh.

Không phải lúc để cho hồi ức về Phẩm sống dậy. Cái cấp bách nhất là làm sao bảo toàn trận đánh. Không có gì dễ hơn là xả vào ba đứa một băng đạn. Nhưng, sẽ chẳng còn màn khai hỏa của chiến dịch. Bao nhiêu công sức, hy vọng của quân khu tan ngay cùng với loạt đạn ấy.

Phẩm - béo hơn trước nhiều, cái bụng chướng to - vén đồng hồ. Nó nhún vai. Ý chừng còn quá sớm cho một công việc gì đó. Nó lê cái bụng lên bậc thềm. Tất cả những người có mặt trong nhà đều nín thở. Thằng khốn nạn này - tôi nghĩ - ngay giờ chết cũng làm lợi cho giặc !

- Bắt sống! - Hai Cũ bảo khẽ. Tôi không còn thấy cách nào tốt hơn. Phẩm qua cổng. Chừng mươi bước nữa thôi. Bỗng, đứa con chủ nhà vụt khóc ré. Tôi nghe vợ thày xu cự khẽ:

- Sao bà véo thằng nhỏ ?

Bà bán mít không trả lời mà bước thật nhanh ra cửa.

- Quan đi chơi sớm! - Bà vồn vã với Phẩm.

- Ừ! Thầy xu có ở nhà không bà?

- Có chớ!... Mà quan đừng vô nhà... Thằng con của thày bị hạch chuột !

Phẩm đứng sựng:

- Dịch hạch ? Pê-xtơ ?

- Tui dốt, đâu biết pết, pót gì... Người ta nói hạch chuột...

Phẩm chỉ bước trong vài bước đã trở lại chỗ cũ.

Tôi mừng thầm. Song, Hai Cũ, mắt trừng trừng nhìn chiếc xe. Hơi thở anh dồn dập. Đây là lần đâu tôi gặp trạng thái gần giống động kinh của anh. Tôi nắm tay anh - bàn tay lạnh ngắt. Anh bám chặt cánh cửa.

Và, tôi hiểu liền. Một trong hai bảo vệ của Phẩm là Tư Chắc Cà Đao: Quả là “thầy” của Hai Cũ. Bấy lâu biệt tăm biệt tích, ai dè y theo Phẩm.

Thoạt đầu, tôi ngỡ Hai Cũ xúc động vì tình cảm cũ. Nhưng, một lúc, tôi rõ, sự xúc động của Hai Cũ không chỉ có bấy nhiêu: Tư Chắc Cà Đao khóm róm châm lửa cho Phẩm đốt. Y lột kê-pi, cúi người thấp, rón rén chìa ngọn lửa và cứ phải rê ngọn lửa mãi, vì Phẩm tuy đặt điếu thuốc lên môi rồi, vẫn đang nói gì đó. Hai Cũ như bị tát. Thầy của anh bần tiện đến mức đó! Tiếng ục ục trong cổ Hai Cũ như nồi súp-de sôi, khi Tư Chắc Cà Đao cười nhăn nhở nhìn làn khói thuốc do Phẩm phà ra. Bấy giờ, y mới thật yên tâm, đội lại kê-pi, đút quẹt vào túi, xốc khẩu tiểu liên, hai tay chống nạnh, hách dịch nhìn đoàn chạy việt dã hào hễn qua mặt.   

- Ông Thạch Suôn... Ác lắm! Lắt vú không biết mấy cô rồi...

Bà bán mít nói vào tai chúng tôi. Mãi tới nay, tôi mới biết Tư Chắc Cà Đao là Thạch Suôn.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #42 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2013, 03:36:13 pm »

Hai Cũ tẩn mẩn nòng khẩu F.M. Mọi việc có thể hỏng, bây giờ không do Phẩm mà do Hai Cũ. Tôi gạt mạnh tay anh.

- Anh không được quyền! - Tôi lấy giọng nghiêm khắc.

- Tôi chết... chắc tôi chết... - Anh thở dốc.

Bà bán mít hoảng hồn, mằn theo tường, lùi dần.

Tôi gỡ tay Hai Cũ, song anh bám rất chặt khẩu súng.

Hú vía! Phẩm, Tư Chắc Cà Đao và cả bọn đã lên xe, xe chạy về hướng Gò Xoài.

- Biết đâu chút nữa, tụi nó không quay lại? Chừng đó anh sẽ bắn - Tôi an ủi Hai Cũ.

Mặt trời lên cao. Trên đường, bọn tề các làng xếp hàng, khiêng sắc thần đi vào thị trấn. Cờ phướn phấp phới. Có cả học trò lễ, nhạc công bao quanh sắc thần.

Chà ! Toàn bọn ác ôn đầu sỏ các làng. Mấy khi chúng gom lại đông ken như vầy. Ngày thường, muốn bắt, muốn trị một đứa, trầy vi tróc vảy mà năm ăn năm thua, thậm chí tốn xương máu nữa. Nhin Hai Cũ, tôi biết anh đang tưởng tượng tràng đạn của anh chém dọc chém ngang bọn này như chém chuối. Những chiếc khăn be, những chiếc áo dài nhiễu, những bộ râu cá chốt... Hai Cũ thâm thù tề tận xương. Mà bây giờ, anh phải nép vào kẹt cửa, nín khe ! Khổ tâm quá chừng...

Đám tề qua, đến đám học trò. Chúng đi “một hai” giữa hàng rào cảnh sát. Hai Cũ chỉ thở dài...

Chốc chốc, Hai Cũ ngóng chừng mặt trời, mặt trời lên khỏi ngọn tre...

Sau học trò, đường vắng.

- Hay là hết rồi ?

Hai Cũ lo lắng hỏi tôi. Tôi không rõ, song đoán là đâu lẽ hết kỳ vậy...

Đúng, chưa hết. Đã thấy một tốp, vẻ lính tráng. Đó là bọn tàn binh - ở một trường huấn luyện nào đó. Rồi, bọn tự vệ.

Hai Cũ làm dấu với tôi: Anh muốn giục các thứ làng nhàng này qua cho rảnh.

Tiếng xe. Nhiều chiếc. Dẫn đầu là chiếc xe díp của Phẩm. Xe Phẩm chạy cách đội hình chừng vài chục thước. Đội hình gồm hai xe díp, một xe nồi đồng và năm GMC. Đoạn hậu có một xe díp.

Tất cả những người trong nhà được phép tản khỏi khu vực. Chúng tôi dặn bà bán mít hễ nghe súng nổ, cứ đến đồn gần nhất báo với chúng về chúng tôi, không sao cả. Chúng tôi cũng dặn chủ nhà như vậy. Hai Cũ dọa vợ chồng thầy xu: bà bán mít mà bị Tây tà làm khó dễ thì hai vợ chồng nên uống á phiện với dấm thanh ngay !

Chiếc xe díp của Phẩm nằm trong tầm bắn. Hai Cũ nâng khẩu FM, lấy tiêu cự... Tôi nhìn thật rõ mặt mũi và cả cái gạch trên cầu vai Phẩm. Tôi cũng thấy từng nét gương mặt vênh váo của Tư Chắc Cà Đao.

- Ngắm hai xe díp sau... - Tôi bảo Hai Cũ. Anh nhìn tôi, sửng sốt.

- Theo lệnh tôi! - Tôi dứt khoát - Một khẩu ngắm chiếc xe nồi đồng. Hai khẩu tập trung vào xe chở lính!

Hai Cũ lầm bầm. Nhất định anh chưởi tôi:

- Anh Hai chú ý hai xe díp. Đợi nó vượt khỏi ta sẽ bắn...

Hai Cũ tiếc rẻ chiếc xe của Phẩm, chỉ cần ngón tay anh khều nhẹ cò súng...

Loạt đạn trung liên của Hai Cũ thật chính xác. Miết cò hết một băng, anh lắp băng thứ hai. Và, với băng đạn thứ hai, Hai Cũ cắp khẩu FM như cắp khẩu tiểu liên, sống lưng đứng bên ngoài tường, nã vào chiếc xe nồi đồng mà loạt đạn vừa rồi của đồng chí xạ thủ chưa chuẩn xác, họng khẩu 12,7 đang chuyển về hướng chúng tôi, Hai Cũ đã buộc khẩu 12,7 bất động. Song anh bỗng lảo đảo, máu ướt đẫm nửa thân áo.

Đạn bắn Hai Cũ từ phía hàng hiên xéo với nơi chúng tôi phục kích. Tôi trông thấy cái kê-pi của Tư Chắc Cà Đao thấp thoáng giữa mấy gốc cột. Và chiếc xe díp của Phẩm đang đỗ lưng chừng dốc.

Một loạt đạn thứ hai nhắm vào Hai Cũ. Anh đã núp được bên trong tường. Tôi bắn - tất nhiên, bằng nhiên bằng Rulô - về hướng Tư Chắc Cà Đao.

Hai Cũ không ngó về hướng đó. Anh bận dán mắt nơi hình như Út Giảng đã ra lịnh xung phong, bên kia lộ, sau loạt đạn giòn của hai khẩu Mắc-xim.

- Xung phong !

Hai Cũ lao ra cổng, tay mặt buông thõng. Anh dùng tay trái rút khẩu Côn 12. Và, trong khi anh lao ra, tôi thấy cái kê-pi của Tư Chắc Cà Đao chường hẳn. Tôi định bắn yểm trợ cho anh, nhưng kìa, Hai Cũ đang day khâu Côn xước hàm răng trên của anh. Anh lên cò như thế đó.

Khẩu Côn từ tay Hai Cũ khẽ rung. Tư Chắc Cà Đao ngã vật, chiếc kê-pi từ từ rơi, thấm máu đỏ lòm...

*
*   *

Trên đường vào quân y, Hai Cũ chắt lưỡi hoài.

Tôi không muốn nhắc tới Tư Chắc Cà Đao. Chuyện đã qua, cho qua luôn.

- Phải chi bắt sống ông ta !

Tôi hiểu Hai Cũ nói như vậy là anh tiếc không tế sống được thầy mình như anh đã làm với Tám Kỷ.

Điều đó càng rõ hơn khi anh dặn Út Giảng:

- Nói cho lính biết khuyết điểm của tôi: ra trận mà tôi quên lên cò súng lục!

Tôi rời Đại đội 3 sau trận Gò Xoài. Hai Cũ nằm viện ngót hai tháng - xương cánh tay anh mẻ. Đơn vị bạn đánh không trôi đồn Gò Xoài nên vừa ra viện, Hai Cũ lăn vào kế hoạch của anh. Anh chỉ thêm bớt vài chi tiết. Đồn Gò Xoài bị hạ như anh muốn.

Bữa chia tay, tôi hỏi anh:

- Lâu rồi, sao không thấy anh tập võ buổi sáng mà tập thể dục ?

Không ngờ câu hỏi bình thường của tôi lại khiến Hai Cũ bùi ngùi:

- Tự hậu, tui thề không xài một miếng võ nào học của Tư Chắc Cà Đao.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #43 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2013, 03:55:10 pm »

   mười lăm

Tôi gặp lại Hai Cũ lần chót trước khi anh tập kết trong trận đánh trên đường 13.

Sau bao năm quen nhau, hôm nay tôi ghé nhà anh. Ngôi nhà sáng sủa ngó ra xóm Bờ Cảng. Chị Hai dọn về đây chưa bao lâu, song dàn bầu đã nặng trĩu trái. Mới - học Trường Thiếu sinh quân - nhổ giò cao nghệu, càng lớn càng giống cha, nhất là cặp chân mày. Em của Mới - lên 8 - là thằng Hùng, học trường Long Nguyên, học bữa đực bữa cái, nên tồng ngồng vậy mà chưa hết lớp ba. Anh chị có thêm một gái sau trận Trảng Bom, đặt tên là Hạnh. Cháu Hạnh nói đã sõi, đeo dính Hai Cũ.

Đại đội 3 phát triển thanh Tiểu đoàn 3 - vẫn là tiểu đoàn độc lập - và Hai Cũ là tiểu đoàn trưởng. Hứng cùng Út Giảng tiếp tục cộng tác với Hai Cũ trong quy mô lớn hơn của đơn vị và chuyện mặn lạt giữa Hai Cũ với Hứng hễ bớt mặt này thì xì mặt khác, dù rằng hai người đều góp công mở rộng đơn vị mà hai người yêu hơn mọi sự trên đời.

Hứng cưới vợ. Không phải con gái tay hương cả Ngô Văn Công như Hai Cũ trêu anh. Và sau buổi cơm thịt gà kho sả cay xé lưỡi do chị Hai thết, khi cả nhà đã ngủ, câu chuyện Hứng lấy vợ giữa anh và tôi dưới giàn bầu, mê mải đến nỗi sương đêm thấm lạnh mà hai đứa chưa chịu thôi.

Sau trận Gò Xoài, một cô gái - 17 là cùng - đến xóm Bình Sơn, nơi Đại đội 3 dưỡng quân. Cô gái tóc bôm bê, da trắng mịn, mắt bồ câu, môi trái tim ướt đỏ, mang một ba-lô hướng đạo sinh, xin gặp chính trị viên. Cô Yến, học trưòng áo tím Sài Gòn năm thứ ba, con một gia đình công chức thích kháng chiến nên tình nguyện ra bưng. Trước khi từ giã đô thành vào chiến khu xanh, cô theo một lớp y tá cấp tốc: biết đo nhiệt độ, biết thụt tháo, biết tiêm - tiêm thịt, dưới da hay tiêm mạch - biết mặt một số thuốc thông dụng. Sở dĩ cô chọn Bình Sơn là vì bạn của cô cho biết một đại đội Vệ quốc đoàn hiện trú quân tại đây. Đường ra chiến khu qua Bình Sơn tiện hơn nơi khác. Cô trốn nhà, cho nên không thích lang thang, chờ đợi. Vả lại, cô sợ đỉa, đi kháng chiến ở miền Đông hợp hơn ở Đồng Tháp Mười.

Yến khoe với Hứng nào ống chích, nào kim, nào thuốc đỏ, bông gòn... mà cô nhét đầy ba-lô. Cô không quên mang theo chiếc áo dài tím - kỷ niệm thời nữ sinh của cô.

Tất cả diễn ra trong nửa giờ: Hứng viết giấy giới thiệu Yến vào quân y đại đội.

Từ hôm đó, ngày nào Hứng cũng gặp Yến. Yến hát hay, nhất là bài Thiên Thai - cô hát được bằng liếng Ăng-lê.

Phụ trách quân y là một y sĩ - tên Thạnh. Y sĩ Thạnh học y tá ở nhà thương Chợ Rẫv, đi kháng chiến sau phong trào trò Ơn. Trước nay, Thạnh luôn nhắc người yêu chờ mình ngoài thành, khoe nào thơ, nào ảnh... Song, khi Yến vào quân y, anh làm như chưa hề có người yêu bao giờ.

Đại đội bắt đầu xầm xì về Hứng. Lại cũng có tiếng xầm xì về Thạnh. Điều đáng chú ý là Hứng và Thạnh bỗng trâu trắng trâu đen với nhau.

- Ôi ! Chẳng qua ông ta nhờ ông Thẳng nâng đỡ nên nhảy phóc lên ghế chính trị viên đại đội, chớ dốt đặc cán mai, tài cán gì... được cái mã thôi, gạt mấy cô nhẹ dạ!

Thạnh nói hành nói tỏi Hứng - trước Yến, tất nhiên.

- Ôi ! Thứ học trò lêu têu, “không có chó bắt mèo ăn cứt”, chớ va học hành lỡ dở, giao quân y cho va bằng gửi trứng cho ác !

Hứng nặng nhẹ Thạnh với Yến. Anh thường chêm một câu chẳng đâu vào đâu cả.

- Va vợ con đùm đề rồi!

Đôi khi, Hứng tỏ ra mình là cấp trên của Thạnh - vào những trường hợp hoàn toàn không cần thiết:

- Đồng chí Thạnh lên văn phòng đại đội, tôi có việc “phổ biến”.

Thạnh phải chập gót chân:

- Báo cáo! Y sĩ Thạnh có mặt!

Việc “phổ biến” ấy chỉ là: nhớ cho thương binh uống sữa hoặc giặt bặng bằng xà bông!

Hai Cũ biết hết.

- Thì trai chưa vợ gái chưa chồng, một mái tới hai trống!

Anh đánh giá sự đời gọn hơ như vậy. Út Giảng khác anh. Theo Út Giảng, Yến vào Đại đội 3 không ngẫu nhiên, chọn Hứng làm quen đầu tiên càng nên suy nghĩ và gieo bất hòa giữa Hứng với Thạnh thì rõ ràng không phải vì vô ý. Lần nào Út Giảng cũng bị Hai Cũ gạt ngang:

- Chuyện trai gái... Chớ ông hồi chưa vợ thì sao?

Rồi Út Giảng gặp Hứng. Rồi Hứng gặp Yến. Hứng chính thức báo cho đơn vị biết anh và Yến đính hôn, sửa soạn đám cưới.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #44 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2013, 03:59:06 pm »

Y sĩ Thạnh ngã lăn ra đau. Theo nhân viên quân y báo Thạnh khóc như cha chết.

Hai Cũ nổi thầu lậu:

- Nước mắt đâu mà nhiều dữ vậy! Làm như thế gian hết con gái...

Anh gọi Thạnh đến. Thạnh chối bai bải:

- Em với cô Yến chỉ là tình đồng đội thôi... Cô mà xây dựng với anh Hứng, em mừng lắm... Ai vẽ rồng vẽ rắn khiến anh Hai bực mình, là tầm bậy. Em đau thiệt mà... bị thức đêm liên tiếp..

Anh gọi Yến, Yến giẫy đông đổng:

- Cháu chỉ yêu anh Hứng !

Thế là lễ tuyên bố. Hai Cũ chủ hôn. Yến nói ngọt như đường phèn:

- Nhờ chú Hai, chú Út với cả đơn vị, tôi xây dựng gia đình với anh Hứng. Tôi hứa đặt hạnh phúc riêng trong hạnh phúc chung, trước một mình thì cố gắng một, nay có đôi bạn thì cố gắng mười. Với anh Hứng, tôi sẽ là vợ hiền...

Thiên hạ vỗ tay hoan hô. Hai Cũ khoái quá:

- Con nhỏ khôn thiệt !

Anh hơi khó chịu cái lắc đầu thiếu tin tưởng của Út Giảng.

- Thằng cha này đa nghi hơn Tào Tháo !

Hôm sau, anh được một thơ dài của Thạnh. Thạnh “tự phê” là đã nói dối. Anh ta và Yến yêu nhau, nhưng anh ta sợ Hứng. Bây giờ, đám cưới rồi, Yến đau khổ, anh ta thấy phải trình bày sự thật.

Kèm theo: hai bức thơ của Yến gởi Thạnh.

Bức thứ nhứt lúc hai người mới tỏ tình. Mùi mẫn không còn chỗ chê. Bức thứ hai, sau đêm tân hôn, tức là sáng nay. Lâm ly thống thiết hơn Chiêu Quân cống Hồ.

- Đ.m ! Sao kỳ ôn vậy?

Chửi thề xong, Hai Cũ gọi Thạnh. Y sĩ Thạnh giống như con chuột lọt vô khạp nước, lông lá sát rạt, mắt trõm lơ. Thạnh vừa khóc vừa kể cho Hai Cũ nghe. Té ra, Yến với anh ta đã ăn ngủ với nhau rồi. Không phải một lần.

Hai Cũ mời Hứng tới văn phòng. Hứng nai nịt chỉnh tề, cười nói thoải mái. Một con người hưởng hạnh phúc trọn vẹn. Hứng tâng bốc Yến tận mây xanh:

- Cô ấy hăm tôi: tôi mà liếc cô nào thì cô ấy tự tử liền!...

Hứng cho hay anh họp các chính trị viên trung đội bàn công việc hôm nay, ngày mai xin phép đưa Yến ra rẫy của đại đội nghỉ một tuần.

Hứng ra về, Hai Cũ làu bàu:

- Con nhỏ này là quỷ cái..,

Anh hăm hở đến nhà Hứng.

Ngôi nhà ấm cúng mà đơn vị cho vợ chồng mới cưới cửa khép hờ. Hai Cũ xô cửa vào:

- Cô Yến đâu ?

Anh chưa biết sẽ làm gì, ném người lên ghế.

- Chú Hai hả?

Yến nép bên cửa buồng, hỏi Hai Cũ. Anh ngó vô rồi vội quay lại. Yến trần truồng ẩn hiện sau lấm ny-lon mỏng treo làm màn.

- Chú Hai đi đâu sớm vậy ?

Đôi tay trắng muốt của Yến quàng cổ anh, bộ ngực đồ sộ ép vào đầu anh.

Hai Cũ bật dậy. Anh tát Yến không biết mấy cái. May mà anh không mang súng theo, bằng không nhất định anh bắn rồi.

- Đồ đĩ ngựa! - Anh gầm như cọp ba móng.

- Không chỉ là đĩ!  - Út Giảng bảo anh.

Khi Hai Cũ hiểu ra, khi anh và Út Giảng đến nhà Hứng “để nắm đầu con do thám dám đùa với Hai Cũ” - như Hai Cũ đấm bàn la lối, thì cô ta đã biệt tăm. Sau này, điều tra cặn kẽ, biết Hà - người chỉ đường cho Yến vô khu - là vợ bé của Phẩm. Hình như Yến cũng là mèo của Phẩm. Cùng biến mất với Yến là toàn bộ lý lịch của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 3. Y sĩ Thạnh bỏ trốn, song không thoát. Người ta xác minh: Thạnh không phải “Đơ B” - anh ta bị Yến xỏ mũi.

Hai Cũ nhận phần lỗi về mình, nên Hứng chỉ bị khiển trách. Thạnh, sau một thời gian nằm trại giáo hóa, được Hai Cũ lãnh về đơn vị, mọi giông tố đã qua. Chỉ phiền là Hứng và Thạnh mỗi lần gặp nhau y như hai tay thua cờ bạc sạch túi, cười mà giống mếu !
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #45 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2013, 02:24:43 pm »

   mười sáu

Hai Cũ tẳng hẳng tơ hơ sau khi nghe tôi truyền đạt kế hoạch tác chiến. Đây là trận phục kích lớn. Quân giải phóng Lào I-xa-la và quân tình nguyện Việt Nam đang o ép nặng căn cứ Sê-nô của Pháp ở Hạ Lào, hợp đồng với chiến dịch Điện Biên Phủ. Pháp tiếp viện cho Sê-nô bằng con đường 13. Trung đoàn Spa-hi thứ 5 sẽ vận chuyển qua vùng Bến Cát trong vài ngày tới. Tiểu đoàn 3 chịu trách nhiệm khóa đuôi đoàn xe ít nhất cũng trên trăm chiếc GMC. Theo kế hoạch, một tiểu đoàn bạn sẽ cắt phần đầu đoàn xe và Tiểu đoàn 3 của Hai Cũ sẽ tập kích vào số còn lại, khi lộ trình bị nghẽn.

- Năm cha ba mẹ vậy, đánh chác sao được ! - Hai Cũ cằn nhằn với tôi.

- Tao ớn nhất là ông nội Thu. Giao ổng cắt đội hình địch, tao ngán hơn ngán cơm nếp mắc mưa !

Thu là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn đuợc bố trí phía trên tiểu đoàn Hai Cũ. Thu và Hai Cũ từngdự chung nhiều trận đánh, biết tánh ý nhau. Thu có một lý lịch na ná Hai Cũ - phần nghề nghiệp trong lý lịch là phần khó điền nhất hạng.

- Để rồi chú mầy coi !

Tôi cố lời hơn lẽ thiệt với Hai Cũ, anh vẫn nằng nặc không nghe:

- Va chưa bỏ tật ăn hớt đâu...

“Tật ăn hớt” của Chín Thu thì tôi biết. Hồi còn ở Đại đội 3, tôi với Hai Cũ thiếu điều thắt họng vì cái “tật” - Hai Cũ gọi là “chơi cha” này. Hôm đó, chúng tôi - Đại đội 3 và đại đội của Chín Thu - hẹn nhau phục kích một đại đội Lê dương trên đường số 2, khỏi Xuân Lộc mười cây số. Giao ước rõ ràng: Chín Thu cho bọn mở đường qua, thường là hai xe díp bố trí FM, hai xe nồi đồng - nổ súng vào chiếc xe chở lính đầu tiên. Đại đội 3 xung phong đánh lựu đạn các xe chở lính tiếp sau khi chúng ùn lại. Chín Thu ham hai khẩu FM trên xe díp, cho nổ trước, nhào ra cướp súng rồi rút. Hai xe nồi đồng dừng ngay trận địa phục kích của Đại đại 3. Báo hại, chúng tôi vừa bị một trận đại liên tối tăm mặt mũi, vừa phải chống lại bộ binh từ sau thọc tới. May, trời đổ mưa, đại đội mới thoát khỏi hai gọng kềm.

Dưới cơn mưa, khiêng thương binh ỳ ạch, Hai Cũ tức ứa gan. Anh lôi cao tằng cố tổ Chín Thu ra chửi. Trời sụp tối, chúng tôi kéo qua một ngôi đình đèn đuốc sáng trưng. Thì ra Chín Thu đang trưng hai khẩu FM chiến lợi phẩm “lấy le” với mấy cô phụ nữ sắp sửa ăn cháo lòng heo nấu đúng cách chợ Đệm!

Nếu không có tôi, Hai Cũ đã bao ngôi đình, bắn chết Chín Thu rồi.

- Hồi đó khác, bây giờ khác ! - Tôi vẫn một mực giải thích.

- Để rồi chú coi !

Hai Cũ cũng một mực khăng khăng. Tôi đâm ngờ Chín Thu, phải đến chỗ anh, họp toàn ban chỉ huy tiểu đoàn nhắc tới nhắc lui kỷ luật tác chiến.

- Thằng Hai Cũ thì bao giờ biết trái đất quay! Nó nhớ chuyện đời xưa không hà! -Chín Thu hơi mắc cỡ, đánh trống lảng.

Trận đánh phức tạp hơn dự kiến nhiều. Không phải vì Chín Thu “chơi xấu” - tiểu đoàn Chín Thu đánh một trận xuất sắc, loạt đạn đầu đã quật ngã bốn xe đầy lính. Xe ùn lại. Cả mấy chục xe đưa sườn cho Hai Cũ và tất cả các cỡ súng. Toàn bộ mặt trận rung chuyển trong tiếng súng, lựu đạn và tiếng xung phong của quân ta, tiếng kêu rú hoảng loạn của bọn Spa-hi.

Nhưng, ở trận địa của tiểu đoàn Chín Thu, đại liên và lựu đạn pháo chợt nổ gay gắt. Đạn bay vút qua đầu chúng tôi.

Hai Cũ - đang hò hét truy bắt tù binh - phán đoán:

- Chết cha rồi! Tụi nồi đồng quay lại... Nguy cho Chín Thu!

Kế hoạch đã tính đến tình huống này và bố trí hai tổ Ba-dô-ca trị tụi nồi đồng. Không hiểu sao không nghe Ba-dô-ca cất tiếng.

Trên trời, vẳng hơi đầm già.

- Chú nào còn lựu đạn, thủ pháo, theo tôi!

Hai Cũ chạy lên gò, khom lưng lẫn vào các bụi găng. Non tiểu đội lập tức nối đuôi anh.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #46 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2013, 02:26:48 pm »

Mấy phút sau, tôi nghe nhiều tiếng nổ thật đanh. Hai bựng khói bốc cao. Họng đại liên trên xe nồi đồng câm bặt.

Vừa lúc đó, một biên đội Xít-phít-phay ba chiếc xuất hiện. Cả bầu trời bỗng chốc sôi sục. Ba vật đen liệng một vòng trên trận địa, nghiêng dòm dỏ.

Hứng, hấp tấp chạy dọc theo đường, về hướng Chín Thu. Tôi biết Hứng mở mũi vu hồi để thanh toán nốt số tàn binh còn chống cự.

Cự ly bay của biên dội Xít-phít-phay giãn rộng. Chiếc dẫn đầu chợt rú lên đâm bổ. Hai quả bom đen trũi nom rõ, từ cánh máy bay lao vút xuống trận địa. Tiếng bom rền gần như đồng thời với tràng đạn liên thanh ai đó miết cò thật căng, từ mặt đất quất ngược lên... Đội hình Xít-phít-phay rối loạn. Chiếc thứ hai trong tư thế sẵn sàng đâm bổ, đã vội né ngang.

...Chín Thu cõng Hai Cũ. Người Hai Cũ như - không còn xương sống, tay chân dịu nhĩu, lung lay theo bước chạy lúp xúp của Chín Thu.

Hứng - cả người cháy xám - lắc lư trên vai Phố, rên khe khẽ.

Chúng tôi tản sâu vào rừng, nơi đặt trạm quân y dã chiến.

Thạnh lầm lì đón hai thương binh. Tôi sờ mũi Hai Cù, hơi thở của anh mỏng như lá lúa.

Thạnh đặt ống nghe lên ngực Hai Cũ, tay bắt mạch. Tôi theo dõi Thạnh, thâm mong Thạnh đừng lắc đầu. Thạnh không có một cử chỉ nào cả, ngoài đôi mắt. Đôi mắt đó bảo rằng tình thế của Hai Cũ hiểm nghèo.

Thạnh tiêm cho Hai Cũ và anh tiếp tục nghe ngóng. Hứng, rên khe khẽ.

Chín Thu, quần áo rách bươm, từ đầu đến chân bê bết đất, vuốt cát dính trên đầu Hai Cũ. Đôi mắt Chín Thu đỏ chạch, nước mắt vẽ lên má lem luốc của anh những vệt ngoằn ngoèo.

Thạnh để hết tinh thần vào ống nghe. Và kìa, môi anh không mím nữa. Anh ngó tôi, gật đầu.

Thạnh quay sang Hứng. Hứng bị bỏng. Da anh, chỗ cháy đen, chỗ đỏ ửng, tóc chỉ còn là những chùm xoắn buông ra mùi khét. Thạnh nghe tim Hứng. Một lúc sau, anh ngó tôi, môi mím chặt.

Thạnh và tôi bước ra ngoài.

- Anh Hứng chắc khó qua !

Tôi lặng người.

- Phỏng 100 phần trăm... Không có cách nào cứu nổi.

Có lẽ Thạnh hiểu lầm cái nhìn của tôi, anh nói trong dằn vặt:

- Thưa đồng chí chánh ủy! Tôi nhận xét tình trạng sức khỏe của đồng chí Hứng với tư cách một thầy thuốc và với tư cách một cán bộ cách mạng.

Đây là lần đầu, Thạnh xưng hô với tôi như thế. Tôi hoàn toàn quên chuyện lấn cấn giữa Thạnh và Hứng trước đây. Tôi cũng không có quyền gì hoài nghi Thạnh.

- Anh đừng để bị ám ảnh! - Tôi nói, nghiêm khắc - Vấn đề ở đây là mạng sống của một đồng chí...

- Tôi xin lỗi anh! - Thạnh nói, giọng bình thản - Còn nước còn tát, tôi cố gắng...

Đêm đó, Hứng vĩnh biệt chúng tôi.

Chín Thu thuật lại cớ sự: Bị xe nồi đồng quật lại bất ngờ, cánh quân của anh chới với. Giữa hai gọng kềm ép chặt, bờ đường lại cao, anh gần như rơi vào giữa dòng kinh. Ba-dô-ca tịt, hai xe nồi đồng như hai con trâu nước, song song lủi vào quân anh. Tiểu liên và súng trường không chặn chúng được. Trong tình huống đó, rút lui không phải là chuyện dễ.

Hai Cũ đến thật vừa vặn. Loạt thủ pháo của lính Hai Cũ bẻ gãy trong chớp nhoáng hai chiếc nồi đồng. Chúng bốc cháy. Tuy nhiên, cơn nguy hiểm chỉ giảm chứ chưa bị loại trừ. Hơn nữa, trên trời ba chiếc khu trục đang gầm rít. Mũi vu hồi của Hứng xua đám Spa-hi chạy tháo thân, rống như bị thiến.

- Anh Hai, bom !

Hứng gào thất thanh. Anh nhảy phóc lên xe nồi đồng mà ngọn lửa đang liếm thành xe, hất họng đại liên chĩa lên chiếc Xít-phít-phay. Hai Cũ cũng gào.

- Hứng ! Xe nổ !

Gào với Hứng mà Hai Cũ lại nhảy xô về Chín Thu. Anh xô Chín Thu - đứng trên bờ - té sấp xuống lộ. Bom nổ, khẩu đại liên của Hứng chồm chồm. Rồi, chiếc xe nồi đồng bật lên những tiếng lụp bụp giống như rừng le bị cháy.

Hai Cũ chìm dưới đống đất. Hứng ngã lăn bất tỉnh, quần áo ngún khói...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #47 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2013, 03:01:18 pm »

   mười bẩy

Cửa Hàm Luông về đêm có vẻ hẹp lại. Bên kia, rặng dừa nước Ba Tri chập chờn một chớn đen lan tận giữa sông. Bầu trời lấm tấm sao, in trên dòng nước. Trăng mọc từ lâu, song nó chìm sau một khối mây đặc.

Sóng biển vỗ đều đặn. Từng lượn sóng hăm hở cuộn vào bờ, hết lượn nọ đến lượn kia, chúng tranh giành hôn bờ đất - hôn một thoáng rồi lại lùi ra - như trò đùa của trẻ thơ: ve vuốt con mèo, song không dám đặt tay lâu trên bộ lông mượt mà của nó.

Biển - vừa qua cơn động - ung dung trải dài đến nơi nào đó. Ban đêm, biển giấu cái bát ngát trong màu đùng đục.

Ngoài khơi, ngọn đèn hàng đáy vẽ những chấm đỏ hắt hiu.

Đêm và biển trôi lặng lẽ như vậy.

Bỗng, cả cửa sông vụt sáng. Ánh sáng rực lóa mắt từ ngọn đèn pha trên một chiếc tàu tuần, chầm chậm lướt đầu sóng. Bầy hải âu giựt mình, vỗ cánh xôn xao.

Đèn pha tắt, nhưng cửa sông bị đánh thức. Tàu tuần nổ máy, nặng nhọc lội ngược dòng Hàm Luông. Tiếng tàu nhỏ dần rồi mất hút. Vầng trăng mười bảy thoát đám mây đen, tưới màu bạc mơ màng, mát rượi lên cả mặt biển và ngọn cây.

Bây giờ, đến lượt chúng tôi: ba đống lửa đầu doi bập bùng. Đã mười mấy đêm liền, chúng tôi đốt lửa và chờ đợi. Chúng tôi chờ đợi những cái nháng quẹt “cọng tròn 6”. Đêm thứ nhất, thứ hai, biển bình yên. Âm ba của biển thanh thản mà chúng tôi lại bồn chồn. Thêm củi vào ba đống lửa. Bất cứ một động tĩnh nhỏ nào trên mặt biển cũng khiến tim chúng tôi đập mạnh. Thậm chí, khi mặt trời đã rựng, chúng tôi chưa chịu dụi lửa - biết đâu - thuyền đến muộn và ánh lửa tàn vẫn giúp cho họ biết đây là bến...

Ngóng đêm rồi ngóng ngày, dù đã được phổ biến: thuyền không bao giờ ghé ban ngày. Mà, cửa Hàm Luông ban ngày, thuyền đánh cá ra vô như chợ phiên.

Đêm thứ ba, thứ tư, biển động. Biển động không mạnh song đó là chuyện ít khi có vào mùa này, như người bản địa nhận xét. Sóng đánh cao, nước văng tận ba đống lửa. Gió đùa ngọn lửa đôi lúc vung tàn tựa pháo hoa. Và, đêm thứ năm, thứ sáu, thứ bảy... Quanh đống lửa, trăm thứ ước đoán: ngày khởi hành chậm... trục trặc máy... mất phương hướng... mắc cạn... Một ước đoán mà ai cũng tính tới song không ai nói ra: đụng giặc. Chúng tôi thừa hiểu tỷ lệ mỏng manh của sự an toàn trên mặt biển. Hải trình những hơn nghìn cây số, lênh đênh hằng mười ngày. Trong chúng tôi, đồng chí Thái từng công tác vận chuyển vũ khí đường biển trong kháng chiến chống Pháp. Tất nhiên, hồi đó, chỉ có ghe bầu. Song, Tuy Hòa vào Gò Công khác Hải Phòng vào đất Thạnh Phú này. Vả lại hải quân của Pháp sao mà so nổi với hải quân của hạm đội 7 và bọn tuần duyên ngụy hiện thời.

Cuộc đồng khởi cuối 1959 lật đổ trên một phạm vi rộng lớn bộ máy cai trị Mỹ -Diệm ở thôn xã. Trong một thời điểm nhất định, với đôi khẩu “quảnh tầm sào” kết hợp gậy, dao, tầm vông - và cả bập dừa nước giả súng - nhân dân Nam Bộ trói gô tề, dân vệ, hạ cờ ha sọc...

Tuy nhiên, tình hình không dậm chân mãi tại chỗ. Địch hoàn hồn, bắt đầu phản kích. Số vũ khí ít ỏi của ta khó mà đối chọi với các đội quân càn quét, bình định được trang bị “bén” hơn nhiều.

Súng, đó là dưỡng khí của cuộc cách mạng. Chúng ta, bằng nhiều cách khác nhau, tìm ra súng. Song, đâu dễ tạo súng nhanh. Súng nào phải củi. Giả tỷ như chúng ta ở vào đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, chẳng có gì bàn cãi cả. Nhưng, nửa nước đã tự do rồi... Căn cứ bây giờ chẳng phải chỉ là chiến khu Đ..

Đồng chí trong Bộ chỉ huy Miền giao cho tôi nhiệm vụ này.

Rời cơ quan Bộ chỉ huy về Ban tham mưu, tôi dường đi trên ngọn cỏ. Thế là chúng ta có súng rồi.

Dù mệnh lệnh phải giữ tuyệt mật, tôi vẫn không sao giữ riêng trong lòng nổi. Những đồng chí cùng đi với tôi có lẽ còn khó giữ hơn tôi. Đành phải “he hé” cho vài người và căn dặn:

- Đừng nói cho ai biết ! Lộ ra là không còn đầu đội nón.

Sự đe dọa kia có hiệu lực đến đâu, tôi không rõ. Chỉ biết khi bắt tay tiễn tôi, nhiều đồng chí cào cào lòng bàn tay tôi, nheo mắt, ý muốn bảo:

- Tớ “rành sáu câu” quá mà, ông bạn!

Vả lại, cái nôn nả khác thường đã tố cáo chúng lôi. Nhất là, cùng đi với tôi, một “tân binh mùa thu” là đồng chí Thái - “Thủ trưởng buôn lậu súng”, như anh em gọi đùa - vừa vượt Tây Trường Sơn vào, còn mặc quân phục và đội kê-pi lính Coong Le. Anh là chuyên viên quân khí.

Lộ trình Dương Minh Châu - Bến Tre được rút ngắn. Trong một ngày chúng tôi đến Bời Lời. Đêm, vượt lộ 1, băng luôn “đồng chó ngáp”, tảng sáng đến bờ Vàm Cỏ. Chiều, đáp xuồng máy, tảng sáng đổ bộ Hội Cư. Đêm, vượt lộ 4, vượt sông Ba Rày, vượt luôn sông Tiền. Chiều, có mặt ở Định Thủy, trình diện với Tỉnh ủy Bến Tre. Và, hai hôm sau, giáp mặt biển Thạnh Phú.

Chúng tôi lo mình chậm. Kỹ thật, còn đến nửa tháng chọn hàng chục điểm đốt lửa, chọn luồng lạch và cả con rạch không có tên trên bản đồ để giấu tàu, cất vũ khí.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #48 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2013, 03:06:57 pm »

Nhân dân ven biển Bến Tre đều tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Nơi đây lại xa đồn địch. Song, chúng tôi buộc phải ngụy trang công việc của mình: đoàn cán bộ nghiên cứu đánh tàu trên cửa sông Hàm Luông. Quân khu 2, Tỉnh ủy cử cán bộ đi với chúng tôi. Huyện ủy phân công một đồng chí thường vụ chuyên trách và tại xã, chỉ mỗi đồng chí bí thư chi bộ là hiểu cái gì thổi chừng ấy người về vùng biển hẻo lánh này.

- Địch mà ngửi ra, lôi thôi to!

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nhắc đi nhắc lại...

Chúng tôi ăn Tết vài địa phương. Cái tết giải phóng thứ hai.

- Chà ! Giờ này, mấy ảnh còn dơi dơi ai đâu, không biết - Thái chắt lưỡi.

Bức điện mà Bộ chỉ huy Miền đưa tôi đọc, vỏn vẹn mấy dòng:

Từ 18 tháng 2 (dương lịch) trở đi, đón ở Rồng Khỏe. Dấu hiệu theo quy ước: ba đống lửa, cộng tròn sáu. Khách viếng tên Lê Văn Tân.

Rồng Khỏe ghép chữ Long (Hàm Luông) và chữ Thạnh (Thạnh Phú). Ngày 18 nhằm mùng bốn Tết.

Ai cũng hy vọng chờ và ai cũng nguôi hy vọng khi đêm thứ mười hai sắp tàn. Bánh tét thì phơi khô, nồi thịt kho thì kho đi kho lại, sắc đến mức giống kho khô... Ngàv hạ nêu đã qua... Rằm cũng vừa qua.

Gói trà Thái Nguyên bao bạc số I sạch trơn qua mấy đợt “UTQ” 1 nói chuyện khào và khoanh tay rế để dằn cơn nóng ruột. Mí mắt tôi nặng trĩu. Chất đặc của trà loãng trước cơn buồn ngủ. Sau khi gắng vứt vào đống lửa mấy gộc mắm, tôi thót lên võng, quấn vào tấm vải dù.

- Dậy! Dậy ! Tới rồi!

Trong giấc ngủ cực sạy, tôi nghe ai đó gọi, lắc vội khẩn cấp:

- Cái gì ? - Tôi choàng dậy, mắt cay xè.

- Tới rồi ! - Đồng chí ở Quân khu 2 2  không chờ tôi, đã bươn bả ra doi. Tôi vọt khỏi võng và tuy chưa thấy cái gì cả, cũng reo:

- Tới rồi!

Trời rựng sáng, mặt biển bằng phẳng giống như một trảng cỏ trải rộng. Đống lửa lụi dần. Các ngọn đèn đáy mờ trong màu hồng vừa nhuốm.

Một chiếc tàu đang rẽ sóng tiến vào đất liền. Chúng tôi hốt hoảng khi nhìn ra nó: nó là tàu tuần duyên của hải quân ngụy sườn in rõ chữ trắng rất nổi: HQ 279VĐ. Nhưng, trên tàu lặng trang. Và, tàu không chạy một mình, nó kéo theo một tàu đánh cá hơi khẳm, thứ tàu thông dụng của ngư dân các vùng biển mang số hiệu Bến Tre. Đề phòng bất trắc, chúng tôi chọn chỗ núp.

- Rõ ràng, họ nháng quẹt bốn cái... cho nên tôi trả lời hai cái nháng quẹt... Sao bây giờ lại kỳ ôn vậy ?

Đồng chí cán bộ quân sự Khu 2 lúng túng.

Tôi kiểm tra: nháng 5 cái. Ở buồng lái chiếc tàu tuần, một cái nháng đáp lại. Đợi vài phút, tôi nháng ba cái, từ dưới tàu nháng đủ ba cái. Cộng tròn sáu. Dẫu sao cũng cần cảnh giác. Tôi ra lịnh cho tàu rẽ vào mội vàm nhỏ và bố trí các tổ võ trang sẵn sàng chiến đấu.

Chiếc tàu tuần và chiếc thuyền đánh cá đậu dưới rặng dừa nước giao tầng.

Hoa tiêu, quân phục hải quân ngụy. Anh có vẻ sợ sệt, không dám nhìn thẳng chúng tôi. Một người to lớn, râu lún phún, chân mầy rậm, mặt hốc hác, mắt buồn rười rượi, môi mím chặt... từ trong khoang chui ra.

- Hai Cũ ! - Tôi mừng như phát điên, nhảy lên buồng lái, ôm chầm anh.

- Anh vào, hèn chi điện ghi là Lê Văn Tân... Ai dè, anh lấy tên thằng Mới.

Hai Cũ chỉ nhếch mép đón tôi. Anh nói một câu xa lạ:

- Tâm hy sinh rồi...

Tâm nào? Hai Cũ chỉ nói bấy nhiêu. Anh hờ hững bắt tay số người ra đón.

- Cho nước sạch tắm rửa chú ấy!

Giọng anh nức nở.

Bây giờ thì tôi đã thấy. Trong chiếc thuyền đánh cá, một bó chiếu vấy máu. Đôi chân nhợt nhạt của người chết thò ra ngoài chiếu.

- Trên tàu, hết thảy mấy người ? -Tôi hỏi Hai Cũ.

- Trừ Tâm, còn hai... không kể thằng hoa tiêu, nó là ngụy.

Dưới hầm máy ngoi lên một người nữa, trẻ, đầu rối nùi, mắt trởm lơ. Hai Cũ giới thiệu:

- Không có chú Thìn, chỉ còn nước phá nổ tàu...

Chúng tôi càng lạ lùng khi, trong buồng lái, vọng ra tiếng kêu tuyệt vọng, qua bộ đàm:

- Vân Đồn 279 đâu... Vân Đồn 279 đâu... lên tiếng đi... Vân Đồn...



-----------------------------------------------------------------------
1. “Uống trà quẹo” - uống cực đậm
2. Tức Trung Nam Bộ (khu 8 ).

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #49 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2013, 03:11:16 pm »

... Hai Cũ tập kết. Anh mang theo thằng Mới, thằng Hùng. Chị Hai ở lại với con Hạnh.

Vừa chân ướt chân ráo lên xứ Sầm Sơn, Hai Cũ lo gởi gắm hai con học hành. Xong phần con, anh xin đi học. Bạn bè nghe tin Hai Cũ xin đi học đều ra giá: Ba bữa là cao!

Ngay đồng chí chính ủy trung đoàn - bấy giờ, Hai Cũ là trung đoàn phó - cũng ngờ vực:

- Anh Hai nghĩ kỹ đi!

Còn nghĩ tới bao lâu nữa? Anh có tật trời sanh hễ nói làm là làm, không là không... Anh tối dạ thiệt đó - Hai Cũ, tự cho mình như vậy - song chẳng lẽ đầu anh đặc cứng? Còn tại sao anh nằng nặc đòi học ư ? Thì cái gì chưa biết phải học cho biết. Nội chữ Cũ tên anh, mà anh hiểu còn bập trầỵ: cũ mới nè, củ khoai nè, củ soát nè, hùng hùng cũ cũ nè...

Chỉ một lúc, không ai cười anh nữa. Hai Cũ học ra học: miệt mài, cặm cụi suốt ba năm, xong chương trình phổ thông bổ túc.

Khi lãnh bằng, đồng chí giáo viên hỏi anh muốn theo lớp đại học về một môn nào mà anh thích không - anh còn thòm thèm, song lắc đầu: đủ rồi !

Hai Cũ được chỉ định làm Phó Chủ nhiệm Hậu cần sư đoàn.

Trong cương vị này, anh lân la các đoàn ô-tô của hậu cần, các xưởng cơ khí. Ô-tô - vốn là chỗ quen thân với anh - anh xuất thân lái xe mà!
Một lần nữa, Hai Cũ nổi danh. Các lính thợ tán:

- Ông Hai Cũ bắt các xe đã vào bãi tha ma rồi phải nhỏm dậy. Chiếc bất trị nhất nghe ông ấy khua mỏ-lết đã đứng thẳng: báo cáo ông Hai, em có mặt!

Cái mà Hai Cũ ỳ ạch là môn chính trị. Nói cho chính xác, môn lý luận.

Hai Cũ chẳng thấy có điều gì nghịch với anh trong các bài giảng. Song anh nghe chậm mà quên mau. Anh trầy trật với chương trình sơ trung hồi còn trong Nam và đến clmơng trình cao trung thì anh “cuốn vó chạy dài”. Hai Cũ vẫn đến lớp, đôi bài anh “mười phần hết bảy còn ba”, số bài khác thì “hết hai còn một” thậm chí có bài chẳng còn một tí gì.

Người thông cảm với Hai Cũ là đồng chí Chính ủy Hậu cần sư đoàn.

- Mỗi người có một khả năng... Đừng chê đồng chí Cũ kém chính trị. Tùy cách hiểu thế nào là chính trị.

Hai Cũ say sưa đọc báo. Anh teo dõi đài rất cần mẫn. Anh thèm tin tức miền Nam. Những năm đầu sau tập kết, Hai Cũ rười rượi. Ba thằng cắc ké lên chân. Đôi lúc, anh giận mình tại sao lại tập kết, anh mà còn ở trong Nam, anh chôn sống hết lũ ác ôn này ! Rồi, tin tức mỗi ngày mỗi tươi hơn. Hai Cũ khoái quá... Tụi chó đẻ này mà không nện cho nó, nó lừng phèn !

Bị tin tức miền Nam lôi cuốn, Hai Cù đọc luôn tin miền Bắc... Rồi tin thế giới. Hai Cũ mà dám bình luận cả buổi về cách mạng Cu-ba, nhiều người phát hoảng về các hiểu biết của anh.

Giữa năm 1960, anh được lịnh chuyển công tác.

Một Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đích thân gặp anh và chẳng rõ đồng chí Thứ trưởng trao đổi việc gì mà Hai Cũ bàn giao công tác cũ có mấy tiếng đồng hồ, leo lên côm-măng-ca, giục nổ máy, không từ giã đơn vị - bỏ luôn bữa liên hoan thịt chó.

Anh xuống Hải Phòng, hấp tấp đến nỗi - lúc anh đi như bay vào cơ quan Đoàn 759 - một sĩ quan kiểm soát quân sự đã đón anh, chập gót chân:

- Báo cáo đồng chí Thiếu tá! Xin đồng chí chỉnh đốn trang phục.

Hai Cũ nhìn lại mình: áo vẫn bỏ vào quần, nịt ngay ngắn. Người sĩ quan cười tủm tỉm:

- Xin đồng chí Thiếu tá sửa lại mũ, ạ!

Té ra, quá vội, anh đội mũ ngược.

Một thiếu sót lớn của tôi là quên thuật về bước ngoặt trong đời Hai Cũ. Anh được kết nạp vào Đảng sau trận đánh đường 13. Tôi và Hứng giới thiệu anh. Song, chính Hứng mới là người đưa anh vào Đảng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM