Biên giới Tây Nam - Phần 4

<< < (118/119) > >>

Trungsy1:
Biên giới Tây Nam sẽ có đủ 7 phần. Các bác cứ tự nhiên cho!  :D

Ngoài cựu binh chúng ta ra, còn có một bộ phận các anh em là con chung của hai dòng máu Việt - Kh'mer cùng tham gia chống diệt chủng. Các anh em này được dạy dỗ, nuôi nấng trên đất Mẹ (thường thì bố là Liệt sỹ- người Kh'mer) trong các trường ưu tiên tập trung. Sau này sang chiến trường chiến đấu rất dũng cảm vì có thù riêng Tôi biết một cái trường đặc biệt như thế ở Hải Hưng cũ. Trong Nam có trường nào như thế không các bác?

con_ech_gia:
Trích dẫn từ: Trungsy1 trong 21 Tháng Chín, 2008, 11:26:56 pm


Biên giới Tây Nam sẽ có đủ 7 phần. Các bác cứ tự nhiên cho!  :D

Ngoài cựu binh chúng ta ra, còn có một bộ phận các anh em là con chung của hai dòng máu Việt - Kh'mer cùng tham gia chống diệt chủng. Các anh em này được dạy dỗ, nuôi nấng trên đất Mẹ (thường thì bố là Liệt sỹ- người Kh'mer) trong các trường ưu tiên tập trung. Sau này sang chiến trường chiến đấu rất dũng cảm vì có thù riêng Tôi biết một cái trường đặc biệt như thế ở Hải Hưng cũ. Trong Nam có trường nào như thế không các bác?



Theo như đ/c Fan MU thì vùng Hải Hưng là nơi mà Nhà nước ta cho định cư dân K chạy nạn diệt chủng phải không bác TS? Em không hiểu số dân này làm sao kịp lấy vợ Việt sinh con đi chiến đấu chống diệt chủng? Và tại sao lại xây dựng trường riêng khi họ cũng là con cháu Việt Nam?

yta262:
Trích dẫn từ: Trungsy1 trong 21 Tháng Chín, 2008, 11:26:56 pm

Biên giới Tây Nam sẽ có đủ 7 phần. Các bác cứ tự nhiên cho!  :D
...


Trương Minh Giảng và đội quân nghĩa vụ quốc tế (1831-1834)

Nguồn:
http://www.quehuong.org.vn/vi/nr050307131435/nr050106094245/nr050113095211/ns060214121124/view
http://en.wikipedia.org/wiki/Siamese-Vietnamese_War_(1831-1834)

GIẶC TIÊM LA. Nước Tiêm La tự khi mất quyền bảo hộ ở Chân Lạp, vẫn có ý muốn sinh sự với nước Nam, nhưng còn sợ thế lực Nguyễn triều chưa dám làm gì, chỉ thỉnh thoảng sang sinh sự với những nước ở Lào. Hễ khi nào Tiêm và Lào đánh nhau, thì nhà vua sai quan quân phòng giữ những chỗ biên thuỳ, và sang cứu viện những nước bị Tiêm bắt nạt.
...
Đến cuối năm Quí Tị (1833) nhân có nguỵ Khôi khởi loạn ở đất Gia Định và tên Khôi lại cho người sang cầu cứu, vua Tiêm La bèn sai quân thuỷ bộ chia ra làm 5 đạo sang đánh Việt Nam.

Đạo thứ nhất thuỷ quân đem hơn 100 chiếc thuyền vào đánh lấy Hà Tiên; đạo thứ nhì bộ quân sang đánh Nam Vang (Phnom Penh), rồi tiến lên đánh lấy Châu Đốc và An Giang; đạo thứ ba đánh lấy mặt Cam Lộ; đạo thứ tư đánh lấy Cam Cát, Cam Môn, đạo thứ năm đánh Trấn Ninh.

Tuy rằng quân nghịch năm đạo cùng tiến, nhưng chủ đích của Tiêm La là cốt đánh Chân Lạp và Nam Kỳ, còn các đạo khác là để phân quân lực của nước Nam mà thôi.

Vua Thánh tổ được tin báo cấp, liền xuống chiếu sai quan quân phòng ngự các nơi. Phía tây nam thì sai quân thứ ở Gia Định, chia quân cho Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đi tiến tiễu ở mặt An Giang. Phía tây bắc thì sai Lê Văn Thuỵ giữ mặt Cam Lộ, thuộc Quảng Trị, Phạm Văn Điển giữ mặt Nghệ An. Lại sai Nguyễn Văn Xuân [1] làm Kinh lược đại sứ đi tiễu trừ quân Tiêm và quân Lào ở Trấn Ninh.

Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đại phá quân Tiêm La ở sông Cổ Cắng. Quân Tiêm La ở Chân Lạp cũng bị người bản xứ đánh phá. Chỗ nào quân nghịch cũng thua to chết hại rất nhiều; chỉ trong một tháng mà quan quân lấy lại Hà Tiên và Châu Đốc, đuổi quân Tiêm ra ngoài bờ cõi, rồi tiến lên đánh lấy thành Nam Vang và đưa vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân về nước.

Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân từ Nam Vang tiến lên đánh quân Tiêm, liền phá mấy trận, chém tướng bắt binh lấy được súng ống khí giới không biết ngần nào mà kể. Tướng Tiêm La là Phi Nhã Chất Tri đem đại binh chạy về nước, quan quân đuổi đánh lấy lại thành Phú Túc (Pursat) rồi cho người Chân Lạp ở lại giữ các nơi: chỗ nào hiểm yếu thì làm đồn đắp luỹ, để phòng ngự quân giặc.

Những đạo quân Tiêm và quân Lào sang đánh ở mặt Quảng Trị, Nghệ An và Trấn Ninh, đều bị tướng quân là Nguyễn Văn Xuân, Phạm Văn Điển và Lê Văn Thuỵ đánh đuổi, chỗ nào quan quân cũng được toàn thắng, giữ được bờ cõi nguyên như cũ cả.

Quân Tiêm sang đánh từ tháng giêng năm Giáp Ngọ (1834), đến tháng năm năm ấy, thì quan quân đã bình xong cả mọi nơi. Vua Thánh tổ mừng rỡ, ban thưởng cho các tướng sĩ và bố cáo ra cho mọi nơi đều biết.

yta262:
Nguyễn Tri Phương và đội quân nghĩa vụ quốc tế (1841-1845)

Nguồn:
http://www.quehuong.org.vn/vi/nr050307131435/nr050106094245/nr050113095211/ns060227123029/view
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ang_Mey
http://en.wikipedia.org/wiki/Siamese-Vietnamese_War_(1841-1845)

Khi quân của Nguyễn Tiến Lâm và Nguyễn Công Trứ dẹp xong giặc Lâm Sâm ở Nam kỳ, thì quân Tiêm La lại đem binh thuyền sang cùng với quân giặc để đánh phá. Vua bèn sai Lê Văn Đức làm tổng thống đem binh tướng đi tiễu trừ. Sai Nguyễn Tri Phương và Nguyễn Tiến Lâm giữ mặt Vĩnh Tế, Phạm Văn Điển và Nguyễn Công Nhân giữ mặt Hậu Giang. Ba mặt cùng tiến binh lên đánh, quân Tiêm và quân giặc thua to, phải rút về giữ Trấn Tây. Quan quân đuổi được quân Tiêm La ra ngoài bờ cõi, đặt quân giữ các nơi hiểu yếu để đợi ngày tiến tiễu.

Nguyên là Nặc Ông Đôn [1] đem quân Tiêm La về cứu viện để đánh lấy lại nước. Nhưng đến khi Việt Nam rút về rồi, quân Tiêm La tàn bạo, người Chân Lạp lại không phục, có người sang cầu cứu ở Nam Kỳ, vua bèn sai Võ Văn Giải sang kinh lý việc Chân Lạp.

Tháng sáu năm Ất Tị (1845), là năm Thiệu Trị thứ năm, Võ Văn Giải vào đến Gia Định, cùng với Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn, Tôn Thất Nghị, tiến binh sang đánh Chân Lạp, phá được đồn Dây Sắt.

Đoạn rồi, Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn đem binh đuổi đánh quân Tiêm La và vây tướng Tiêm La là Chất Tri ở Ô Đông (Oudon).

Tháng chín năm ấy, Chất Tri sai người sang xin hoà. Qua tháng mười thì Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn và Chất Tri ký tờ hoà ước ở nhà hội quán, hai nước đều giải binh. Nguyễn Tri Phương rút quân về đóng ở Trấn Tây, đợi quân Tiêm thi hành những điều ước đã định.

Tháng chạp năm Bính Ngọ (1846), Nặc Ông Đôn dâng biểu tạ tội và sai sứ đem đồ phẩm vật sang triều cống.

Tháng hai năm Đinh Vị (1847) là năm Thiệu Trị thứ bảy, Triều đình phong cho Nặc Ông Đôn làm Cao Miên quốc vương và phong cho Mỹ Lâm quận chúa làm Cao Miên quận chúa. Lại xuống chiếu truyền cho quân thứ ở Trấn Tây rút về An Giang.

Từ đó nước Chân Lạp lại có vua, và việc ở phía nam mới được yên ổn.

dongminhkh:
Chắc phải lập tôpíc mới với chủ đề: Quân đội Việt nam - Xưa và nay - nghĩa cả! để mọi người bàn luận về vấn đề giúp đỡ các nước láng giêngf anh em, các bác nhở! ;D Topic này sắp hết phần 4 rồi....

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page