Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:33:48 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những hòn cuội nhặt dọc đường  (Đọc 47734 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quoc_an
Thành viên
*
Bài viết: 8


« Trả lời #50 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2013, 04:25:48 pm »

Câu chuyện Đại tướng chào một binh nhì quá tuyệt vời. Đại tướng luôn quan tâm đến những người yếu đuối, thiệt thòi. Năm 2001, bộ phận FSOFT, công ty FPT có đoàn đến chúc thọ Đại tướng ở 30 Hoàng Diệu, cụ cũng để ý và gọi một bạn gái rất bé nhỏ là bạn Lê lại và hỏi cháu làm việc gì.
@chú LXT: dạo này cháu đang làm trên 201, ra vào xe nhanh lắm rồi
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Mười, 2013, 04:31:35 pm gửi bởi quoc_an » Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #51 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2013, 08:02:18 am »


Đơn giản...  là những hòn cuội
                                                                 
                                                         
Nhà văn Nguyễn Thế Tường
[/i]
Cách nay 15 năm, tôi ra Hà Nội để xuất bản tập truyện ngắn. Trung tá Phượng ở Bộ tư Lệnh Tăng Thiết Giáp mách nhỏ: “Làm bìa thì gọi cho họa sĩ này...!” Cảnh giác tôi hỏi: “Đắt không? Bao nhiêu?”. Phượng không trả lời hoặc không trả lời được. Bấm máy nghe bên kia giọng Hà Nội chuẩn, tôi lập thế làm người lịch thiệp:
- Xin thứ lỗi, anh cho biết hết bao nhiêu để tôi chuẩn bị?
- Thông thường người ta trả cho tôi chừng bốn, năm trăm...Nhưng anh cho biết truyện viết về đề tài gì để tôi...chuẩn bị?
- Dạ nhiều truyện trong tập viết về chiến tranh, về người lính...
- Thế thì anh chỉ cần có một nửa số tiền.
Tôi hơi giật mình nhưng không thể nói là không lấy làm mừng vội nói lời cảm ơn thì đầu dây bên kia họa sĩ hỏi thêm:
- Xin lỗi, ai giới thiệu mà anh gọi cho tôi?
Tôi trình bày cà kê dê ngỗng rằng có việc tới Cổ Nhuế, nhân đó mà ghé Bộ tư lệnh Tăng Thiết Giáp, tình cờ gặp anh cán bộ tuyên huấn bèn tâm sự về những truyện ngắn viết về lực lượng Tăng Thiết Giáp, rằng, vì tôi cũng xuất thân từ lực lượng này. Tiếng đầu dây bên kia cắt ngang: 
- Chiều nay anh mang bản thảo đến phố...ngõ...ngách...số nhà..., tuần sau lấy về và không nói gì đến chuyện tiền nong nhé.
Ôi trời! Tôi thực sự ngạc nhiên và phấn khởi, không khéo trao đổi vài câu nữa tôi còn nhận được tiền tài trợ, mà suýt nữa có thật nếu tôi không khăng khăng từ chối. Họa sĩ sau khi đọc bản thảo thấy có truyện ngắn “Hồi ức binh nhì” thì đòi...mua hết với giá tương trợ.
Đoạn đầu thì tin được vì nó là máu lính, bản chất lính. Phần sau thì không ổn vì là phong cách nghệ sĩ, phổi bò. Thực ra, Dũng chẳng giàu có gì. Tôi mà in thêm zăm trăm cuốn bắt đền Dũng xin tiền vợ mua thì Dũng... chết đứng.
Chuyện đã 15 năm.
Gần đây, kỷ niệm 40 năm ngày 100 sinh viên các trường đại học ở Hà Nội gia nhập lực lượng Tăng thiết giáp anh hùng. Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng, nguyên tư lệnh binh chủng phát biểu khá ấn tượng: “Một trăm người lính là con số không lớn, nhưng một trăm sinh viên được đào tạo và thử thách đầy đủ trong lực lượng Tăng Thiết Giáp thì không đơn giản”. Không biết trung tướng có ngoa ngôn, chứ quan sát 100 thằng lính sinh viên qua trận mạc của Tăng Thiết Giáp thì cả một trăm bị “ám” suốt đời. Đó là một lực lượng rất “hay”, nếu có chiến tranh thì rất nên gia nhập dẫu rằng rất có thể bị ... rán thành tóp mỡ.
Dũng đã vào đó, ở lại suốt giai đoạn chiến tranh cam go và bi tráng nhất. Ban đầu anh vượt Bến Hải trong tư thế lính chiến, lính trận giải phóng Quảng Trị. Sau, lại vượt Bến Hải để giơ lưng chịu trận ... để vẽ. Dũng vẽ, tôi không dám bình luận. Dũng viết, tôi hiểu được. Sự đồng điệu trong trái tim những người lính sinh viên Tăng Thiết Giáp “thời vàng son” ấy thì chạy đâu cho thoát! Một trăm tên lính nhận xét trang viết của Dũng sẽ giống tôi: Đơn giản là những hòn cuội Dũng nhặt được dọc đường hành quân, trên đường đời khốn khó, chông gai và quá nhiều đảo lộn. Những hòn cuội trên một dòng suối có nhiều thác nước, nhiều khúc quanh - không đơn giản.
Mươi năm trở lại đây tôi lười đọc sách, đặc biệt là loại...nhiều chữ. Có lẽ do lười biếng, một phần bởi nghề nghiệp. Ngày trẻ, để kiếm được cần câu cơm, tôi nuốt hàng tạ sách Nga - Pháp - Mỹ: Nào những Gô Gôn, Sê Khốp, Tôn stôi, Xtăng đan, Ban Giắc với cả O-hen-ry, Giắc Lan Đơn, cả “Con trâu” lẫn “Hòn đất” đều nuốt chửng. Bây giờ lười rồi biện bác: Mình viết ra còn đọc chưa hết, lại đọc của ai? Tôi đọc Dũng, trước hết vì anh viết ngắn, nén như viên thuốc trong vỉ, rồi bỗng bị hút chặt theo những ám ảnh của anh. Anh viết cái của mình, cho mình mà như của người, cho người. Một vạn liệt sĩ Thành cổ nếu bỗng ngồi dậy, nhiều vạn cựu chiến binh từng vượt Bến Hải, vượt Thạch Hãn nếu đọc Dũng chắc cũng như tôi, đọc một mạch, nhấm nháp, chia sẻ, xoa nắn từng “hòn cuội” được đẽo gọt gột rửa dưới thác nước, những khúc quanh. Những hòn cuội Dũng chọn nhặt trên đường hành quân đều như có linh hồn, đều dính máu. Một vài hòn như...có ma.
Dù sao, quãng đường chinh chiến cũng dừng lại với Dũng ở hàm...hạ sĩ quan Tăng  Thiết Giáp. Mang theo tác phong lính, hồn lính... như con ngựa bất kham đã được (bị) đóng yên, gắn hàm thiếc, đóng móng, anh đi tiếp trên đường khấp khểnh, lúc tối tăm, khi thoáng đãng, hí lên mỗi lần gặp Thảo nguyên, có lúc nhảy Đàn Khê, không ít lần bỏ cỏ, nhưng không quên...nhặt cuội. Và cái giỏ lại đầy những viên cuội mang trong lòng bao nỗi buồn vui, cay đắng, ngọt bùi, chát chua. Có khi là chân dung một thương binh tựa gốc cây, súng gác lên đùi bất lực nhìn dòng máu tuôn ra từ động mạch, ngồi chết. Lúc lại nắm bắt vội một ánh hào quang tỏa ra từ một vị tướng lừng danh rập gót giày chào người lính binh nhì trong đạo quân “Phụ tử chi binh” ra trận. Dũng không quên phác thảo chân dung những người mẹ, những người mẹ anh hùng, những người mẹ ngồi như hóa thạch trước hai tấm bằng ghi công hai con trai của quân lực hai bên, hai quốc gia trong một nước. Cũng giống bầu, giống bí mà để được leo chung một giàn phải đổ máu 20 năm. Đến tập hai, nhiều “hòn cuội” triết lý sâu hơn, đau đời hơn nhưng rồi thỉnh thoảng lại trở về gam màu “đồng đội”, như thể anh lấy đó làm điểm tựa tinh thần mỗi khi mệt mỏi.
Dũng nhặt cả những hòn cuội bẩn, càng rửa càng bẩn. Dũng để nguyên ném vào bộ sưu tập: chân dung những tên cơ hội a dua rẻ tiền, văn nghệ sĩ nửa mùa, nhà khoa học màu mè học hàm học vị, giải thưởng I-so, các quan chức xôi thịt rỗng tuếch như cốc bia uống dở chiều qua, chua lòm nhạt hoét.
Văn của Dũng viết lời yêu thương thì như có vị ngọt của tình thân ái, vị mặn của nước mắt, mà khắc họa chân dung kẻ xấu thì dòm vào thấy buồn nôn, quyết liệt, rạch ròi màu nào sáng màu ấy, không có “nhờ nhờ nước ốc”. Mỗi “viên cuội” của anh mang dung lượng một truyện ký, một truyện vừa, thậm chí một tiểu thuyết. Nhưng chớ! chớ nhiều lời, múa may chữ nghĩa nhiêu khê. Đơn giản chỉ nhặt đầy cho tập 3, Những hòn cuội dọc đường đời.
                                                                                                                                                                                 Đồng Hới, tháng 1-2012,N.T.T

Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #52 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2013, 07:02:21 am »


Đọc “Những hòn cuội nhặt dọc đường”
của Lê Trí Dũng

Trần Thức

Tôi có hân hạnh được họa sỹ - nhà báo Lê Trí Dũng tặng cho tập sách quý của ông vừa hoàn thành. Sách trình bày đẹp, khổ vuông, dày dặn hơn 400 trang viết và vẽ tới 120 bức minh hoạ công phu, như hai thể loại nghệ thuật cùng lên tiếng trong tương hỗ - tương đồng. Nhưng cái chính là nội dung tập sách đã có sức hút người đọc là tôi ngay từ những trang đầu, truyện đầu. Giống như một thực đơn “đặc sản” mà người sành ăn không thể bỏ qua. Nhưng tác giả thì lại khiêm tốn, coi đó chỉ là những Tạp văn - Tản văn - Tuỳ bút - Phóng sự - Tự sự... Viết theo cảm hứng, ngẫu hứng, như “những hòn cuội nhặt dọc đường” mà thôi.

Nói đến Tản văn - Tuỳ bút - Bút ký - Phóng sự - Truyện ngắn, tôi nghĩ ngay đến Lỗ Tấn, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Erenbourg, Maupassant, Tsekhov... Thành công của họ về những thể loại này đâu có bé?
Phần ưu ái ông dành cho tập sách, trước tiên phải kể đến những trang viết về người lính. Đó là lòng dũng cảm, đức hy sinh, tình đồng đội, đồng nghiệp, đồng bào - người lính với dân ân tình như cá với nước... Cũng như ông, hầu hết trong số họ còn rất trẻ, rất yêu đời, nhưng vì nghĩa vụ cao cả, họ phải rời mái trường thân yêu “Xếp bút nghiên theo việc đao cung”. Giữa cái sống và cái chết, chỉ cách nhau gang tấc, tức thì. Họ không còn kịp biết hôm nay hay ngày mai, mình hay đồng đội ai còn, ai mất, ai sẽ mang thương tật trên mình...

Hết chiến tranh, là thời hậu chiến. Những cuộc sống đâu có phẳng lặng, bình yên dễ dàng. Với người lính, sau khi đã “giã từ vũ khí”, thì hậu phương còn gay go nan giải hơn nhiều. Đất nước hoà bình, nhưng “nỗi buồn chiến tranh” vẫn chưa dứt, đặc biệt với người lính nghệ sỹ - chiến sỹ. Những trang viết, bức tranh, bản nhạc, vở kịch nói về cuộc chiến bi hùng đang chờ họ trên văn đàn, nơi bảo tàng, triển lãm, nhà hát, phòng hòa tấu, nhạc viện, nhạc kịch....

Từ kinh tế thời chiến bao cấp, chyển sang kinh tế thị trường thời bình. Giống như một giấc mơ, nhưng là giấc mơ có thực. Sung sướng đấy, nhưng cũng không ít ngỡ ngàng, bi hài trong cuộc sống. Có biết đâu sự đời luôn biến diễn theo phạm trù cặp đôi. Sướng đấy, rồi khổ đấy. Hạnh phúc nào mà không có mầm mống của bất hạnh, nếu con người không tỉnh táo, không có biện pháp ứng xử, ngăn ngừa.

Từ một dòng sông nhỏ, hay con kênh đào tù đọng luôn lặng lẽ, lững lờ chảy quanh làng xóm, giờ đây tất cả phải được mở rộng, khai thông, vượt lũ, thoát lũ, đưa dòng chảy vào các con sông lớn mà hợp lưu, đổ ra biển cả, Bao nhiêu là xô đổ, ngỡ ngàng, lạ lẫm trong cuộc cạnh tranh sinh tồn mới, không ít bon chen, nghiệt ngã. Hóa ra chiến tranh kinh tế - chiến tranh trên nhung lụa, còn ác liệt và phức tạp hơn cả chiến tranh bom súng.

Tập sách của Lê Trí Dũng, dù mới chỉ là “chuyện nhặt dọc đường”, nơi vỉa hè, đầu đường - quán bia, quán chè chén của các “phó thường dân”. Các tay anh chị cô cậu, theo nghĩa “bụi đời”. Ấy thế mà đã đánh thức được không ít lương tri, tâm can bạn đọc. Bỗng tôi nhớ đến thế giới “Bỉ Vỏ”, “Bảy Hựu” của cố nhà văn hiện thực Nguyên Hồng. Trong xã hội đổi mới, nhưng cũng còn không ít nghịch cảnh - những mảnh đời ngang trái, lầm than, bất đắc chí - không loại trừ cả những khách giang hồ, hảo hán, những hiền nhân quân tử còn mai danh ẩn tích nữa. Nhưng mây mù thường bao phủ, cản quang ánh sáng mặt trời. Những đề tài mà tác giả dẫn trong tập sách, phần lớn đều nằm trong những chủ đề ấy. Mở rộng ra, đó là những phạm trù nói về con người, cuộc sống với không ít những mâu thuẫn dằng dai, nan giải, luôn nảy sinh ra ngay trong lòng của chính nó. Triết học phật giáo đã đặt cho nó một cái tên chính xác: “Bể khổ trầm luân”, đối cực với “Niết Bàn”, nếu con người biết chế ngự, diệt dục, diệt lòng tham, không u mê, thì sẽ trở thành người “Giác ngộ”, người được giải thoát, tự do, theo đúng nghĩa Vị tha - Chân nhân - Chân ngã.
Thiện và Ác. Chính và Tà. Đó là những khái niệm lớn mà tác giả tập sách đã đề cập tới và đã giải quyết được tích cực phần nào những ức chế vốn mang nặng nơi bạn đọc.

Gập sách lại, là bạn đọc, tôi tự thấy mình cũng có phần trách nhiệm chia sẻ đôi điều với nỗi đau đời, nỗi đau nhân thế cùng người viết, khi con người vẫn còn mang nặng lòng tham, tính ích kỷ, hẹp hòi, biển lận, thì sự thật cần phải được lên tiếng. Mà thiên chức ấy, không ai khác chính là nhà văn - nhà báo - nhà nghệ sỹ - Trí thức phải đảm trách. Có như thế, mới “Cứu Rỗi” được con người, như Dostoievski tiên sinh đã từng nhắn nhủ hậu thế.

Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #53 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2013, 07:51:51 am »


Chuyện quẻ Cấn

Xuân Cang

Triết lý quẻ Cấn rất sâu rộng, bao trùm nhiều lĩnh vực trong vũ trụ này, trên hành tinh này nhưng thu gọn lại trong tượng quả Núi. Triết lý đó rất trừu tượng nhưng nhờ vào tượng Núi mà ta nắm cái trừu tượng đó như trong lòng bàn tay. Đó là cảm giác khi tôi đọc cuốn sách Những hòn cuội nhặt dọc đường hành quân (tản văn, NXB Tri thức - 2008) của họa sĩ Lê Trí Dũng.

Mỗi hòn cuội là Núi thu nhỏ, và đều có tinh thần quẻ Cấn đi vào minh triết Việt. Tôi xin kể hai chuyện. Tết Nhâm Tý (1972) trong khi anh lính trẻ Lê Trí Dũng đang ngồi bên bếp lửa nhà sàn trên đường hành quân qua vùng núi Thạch Thành – Thanh Hóa, bỗng thấy một ông già đội mưa tiến vào. “Cha tôi”. Cả tiểu đội sửng sốt biết là danh họa Lê Quốc Lộc (1916-1987) đã đáp tàu hỏa từ Hà Nội vào và đạp xe 20 cây số từ ga Bỉm Sơn tìm đến thăm con và đồng đội của con đang ra chiến trường.

Hai cha con đã đi bộ hàng giờ dưới trời mưa núi, im lặng không nói gì, và lần đầu tiên trong đời anh họa sĩ trẻ nhìn thấy hoa tre của núi mường Thanh Hóa. Từng chùm hoa tre vàng mướt rủ xuống như hoa lộc vừng, là thứ hoa phải vài chục năm cây tre không chặt tỉa thì mới có. Mấy năm sau đó, Lê Trí Dũng và đồng đội của mình đã gặp giữa rừng tre già một chiếc võng dù, lật tấm tăng lên là một bộ xương người, trong bộ quân phục đã mủn nát, chiếc mũ tai bèo úp chụp phía trên. “Chúng tôi đã lấy xẻng quân dụng, lẳng lặng đào cái hố nhỏ, an táng cho đồng đội theo nghi lễ đơn giản nhất, không quên đặt lên mộ một nhành hoa tre”.

Câu chuyện nhỏ, như hòn cuội, mang tính minh triết bắt nguồn từ quẻ Thuần Cấn.

Thuần Cấn là hai lần núi, hai lần ngưng chỉ. Ngưng ở đây là ngăn cản không cho ra ngoài cái thời của mình, đối với cha con hai nghệ sĩ đang trong thời bảo vệ tổ quốc. Quẻ Thuần Cấn có hào 1 dành cho người lính trẻ bảo rằng: Ngừng lại ngay từ ngón chân, không lỗi, lợi ích về việc giữ chính bền mãi mãi. Hãy cẩn trọng ngay từ bước đầu ra quân của mình, hãy nhìn núi mà học cách giữ bền chặt ý chí vì tổ quốc của mình, như những nhành hoa tre, như nấm mộ lộ thiên của người lính trẻ trên võng. Hai cha con đi hàng giờ bên nhau trong một cuộc trò chuyện rất kiệm lời, thầm lặng, nhưng Dũng sẽ nhớ suốt đời.
Quẻ Thuần Cấn còn có hào 6 dành cho danh họa Lê Quốc Lộc, ca ngợi mà cũng là lời khuyên của Thánh nhân: Đôn hậu về đạo biết ngừng đúng lúc, tốt. Phan Bội Châu giảng: chữ Hậu là trái nghĩa với chữ Bạc (mỏng). Hậu, nghĩa là dày; đất sở dĩ chở được núi sông, đựng được bốn bể, nuôi được muôn vật, chỉ vì có đức hậu mà thôi; nền móng dày mới dựng được nhà lớn, lực lượng dày mới cất được gánh nặng. Xưa nay chẳng thấy hạng người nào mỏng mảnh mà làm nên nghiệp lớn. Cái việc người cha dành cả một đêm giao thừa đi tàu hỏa, cả một buổi sáng đầu năm đạp xe dưới trời mưa tìm đến nơi trú quân của con trai, là trọng hậu không gì bằng, hành động ấy chứa tất cả phúc đức của tổ tiên, gửi gắm cả sự trông đợi của hậu phương, của non sông đất nước, dày dặn đến thế là cùng. Họ đi bên nhau, im lặng, vì tất cả đã nói lên lời: những hoa tre, con đường đất đỏ, ngọn núi trùng điệp, nấm mộ người chiến sĩ trẻ trên đường hành quân. 

Sự đôn hậu của người cha còn được tác giả Những hòn cuội nhặt dọc đường kể lại trong một câu chuyện khác. Khi Lê Quốc Lộc phác thảo một bức tranh mang tên “Từ trong bóng tối”, gọi con trai đến hỏi ý kiến. Con trai lúc này cũng đã thành một họa sĩ nổi tiếng. Anh chót nói ra một nhận xét riêng sau đó vô cùng hối hận: “Con thấy nó vẫn xưa cũ. Con muốn thấy nó đơn giản hơn, hiện đại hơn”. Anh hoảng hồn thấy ông tái mặt đi, không nói gì, lát sau sang phòng bên đóng cửa lại. Ba hôm liền anh không dám gặp ông. Nhưng cũng sau ba hôm đó, mẹ anh bảo: Thày mày hình như muốn gặp mày đấy. Anh lên phòng tranh của cha và giật mình thấy hiện lên hơn chục cái phác thảo mới. Tất cả làm anh không thể không thốt lên bàng hoàng: Đẹp quá cha ạ! Thì ra người cha đã khoan dung, đã nghe ý kiến thẳng thắn của anh, và đã làm lại. Làm lại với sức mạnh của một quả núi chỉ hào 6 quẻ Thuần Cấn mới nói lên được: Phong độ cao, tiết khí vững, làm biểu tượng người của thời đại, phúc trạch sâu bền. Bức tranh đã được Bảo tàng mỹ thuật quốc gia mua ngay sau khi hoàn thành và trưng bày.   
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #54 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2013, 07:58:40 am »


Chuyện quẻ Lữ

Xuân Cang

Cuốn sách  Những hòn cuội nhặt dọc đường gồm những tản văn của Họa sĩ Lê Trí Dũng (NXB Tri Thức - 2008), chỉ nghe tên sách đã biết cái hồn sách là quẻ Hỏa Sơn Lữ. Quả thật cả cuốn sách từ đầu đến cuối là cuộc lữ hành phiêu lưu, là chuyện quẻ Lữ, là những chuyến đi dọc đường hành quân, dọc đường đời, phản ánh hoặc minh họa cho 6 hào quẻ Lữ,  không sót hào nào.

Hào 1 quẻ Lữ nói rằng: Ở nhà trọ mà tư cách nhỏ nhen là tự chuốc lấy họa. Bài Chiếc hộp đen kể rằng trần gian khác nào cái nhà trọ của đời người, ai rồi cũng phải đến với cái chết, khi ấy cõi đời giống như chiếc hộp đen trên máy bay, nó ghi lại một cách đầy đủ hết, rất khách quan và rất công bằng, cái chuyến đi của mỗi người. Lê Trí Dũng kể một chuyện từ chiếc hộp đen ấy.

“Cơ quan tôi có ông lúc nào cũng đạo mạo, mô phạm, không bao giờ bộc lộ chính kiến, không bao giờ mất lòng ai, nói một câu nghĩ nửa ngày. Rõ là chính nhân quân tử. Mấy chục năm trời, không tiêu chuẩn đãi ngộ nào ông bỏ qua, không quyền lợi nào ông không đoạt, được phân nhà mấy lần, con cái vào cơ quan ông hết… Tóm lại chả miếng nào ông  “đớp” trượt. Thế rồi như ngàn vạn người, đến tuổi ông vẫn phải về hưu. Chỉ có hai điều mới xảy ra: Một là sau khi về hưu không ai chơi với ông nữa. Nhà ông lạnh như nhà mồ. Hai là tính tình ông đổi hẳn, ăn nói chả giữ gìn nữa, lúc vui chuyện ông còn khoe bao nhiêu là kỳ tích lăng nhăng bậy bạ xa xưa. Tôi tỏ ý ngạc nhiên. Ông bảo: “Bây giờ giữ gìn cũng chả để làm gì, gặt hái hết rồi. Còn mấy năm nữa sống thật với lòng cho thoải mái, cho sướng, đúng con người mình.” Thế ra cả đời ông chỉ đóng kịch. Người như ông, ngày nay hầu như ở đâu ta cũng gặp. Khi tôi đưa ông bài báo về chiếc hộp đen, lần đầu tiên tôi thấy ông tái mặt biểu lộ sự sợ hãi.

Hào 2 quẻ Lữ: Ở đất khách, được chỗ trọ yên lành, giữ được tiền bạc, có người giúp việc trẻ, tin cậy, giữ chính. Chỗ trọ yên lành này trong tập tản văn của LTD là người mẹ. “Cho dù có đi đến chân trời góc bể, cho dù thành bại vô thường thì những khi yếu lòng, ta vẫn muốn ngả đầu vào lòng mẹ như thuở ấu thời … mà khóc.” “Mẹ bạn tôi (anh là một người lính xe tăng) vừa qua đời. Hôm đưa mẹ về cõi, không ai bảo ai, chúng tôi đều tề tựu đông đủ như ngày nào đóng quân tại nhà mẹ. Trong cuộc chống Mỹ, mẹ đã cho bốn người con nhập ngũ trong các quân binh chủng anh hùng. Thế nhưng, ít ai biết được một điều bí mật: Mẹ còn có một người con lớn, theo chồng cũ di cư vào Nam, là lính thủy quân lục chiến của quân đội Việt Nam cộng hòa. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi qua thăm mẹ, thấy mẹ đối xử với anh không khác các con khác… Lại hình như có phần thương hơn. Sau này anh qua Mỹ, làm biên tập một tờ báo và viết sách. Cuốn tiểu thuyết hồi ký “Tháng 3 gãy súng”, chính là của anh”. Người mẹ, chính là chỗ trọ yên lành. “Người giúp việc trẻ, tin cậy” phải chăng là anh lính cộng hòa kia? Khác hẳn các nhân vật “người mẹ anh hùng” của nhiều tác giả, những người mẹ trong cuộc lữ hành của LTD có đặc điểm là có con bên hai trận tuyến. Đến nhà một bà mẹ ở Quảng Trị, “ngó lên bàn thờ (làm bằng miếng đuy-ra thùng đạn), tôi thấy ảnh hai anh thanh niên, giống nhau như đúc, một đội mũ tai bèo, một đội kê-pi có bông mai. Tôi không dám hỏi, nhưng đoán đó là hai người con trai của mẹ”.

Có một quán trọ làm nơi an dưỡng tâm hồn của chàng lính trẻ là các đồng đội. “Hai chữ đồng đội thiêng liêng đã nâng đỡ tôi qua bao nỗi khó của đời”. LTD kể anh vẽ bức tranh mang tên “Đồng đội”, khi phác thảo chân dung một người lính cõng đồng đội anh thấy nhất định phải giống Nguyễn Kim Duyệt. Chiến sĩ trẻ ấy người Hà Nội, chơi ghi-ta rất hay, là học trò lớp dạy vẽ của anh giữa hai trận đánh. Duyệt thường mang bên mình hai chiếc ba lô, anh luôn giữ khư khư một cái, nhất định không rời nó, làm cho đồng đội phải nghi ngờ. Một trận đánh, chỉ huy ra lệnh phải bỏ bớt một ba lô ra ngoài tháp pháo. Duyệt bỏ chiếc ba lô quần áo ra ngoài.  Khi anh bị thương nặng vì trúng pháo địch, tôi chuyển chiếc ba lô “bí mật” của anh ra ngoài thùng xe và mở ra, thì sững người, trong đó “toàn sách học tiếng Anh và từ điển mà Duyệt gom nhặt từ Huế, Đà Nẵng”.
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #55 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2013, 07:05:50 am »


Vận hội Hà Nội năm Nhâm Thìn

Nhà văn Xuân Cang

Tôi vừa gieo quẻ xong thì họa sĩ Lê Trí Dũng, tác giả Những hòn cuội nhặt dọc đường (Nxb Tri thức - 2008) đến chơi. Lâu nay chúng tôi chả là bạn “kinh dịch” với nhau. Trong không gian còn thoảng mùi hương tôi vừa thắp khi gieo quẻ, tôi tâm sự với anh:

- Mình vừa được một quẻ về Hà Nội, thấy “linh” lắm nhưng khó nói lắm Dũng ạ. Năm mới, mình rất mong nhận được một tín hiệu vui vẻ nhẹ nhàng, để các bạn bè Hà Nội khi nâng chén trà bàn luận với nhau, trên môi nở một nụ cười. Nhưng Thánh nhân lại cho một quẻ mà nói thẳng ra thì sợ có người không bằng lòng.

Lê Trí Dũng cười xòa:

- Em là một người Hà Nội. Em rất muốn nghe những tiếng nói chỉ dẫn đến với sự thật, nhất là anh vừa xin được của “Thánh nhân”. Anh phải nhớ, năm Bốn Nhăm, Hà Nội kéo cờ khởi nghĩa trước khi nhận mệnh lệnh khởi nghĩa của Trung ương. Anh thử nói cho nghe.

- Thế này nhé. Có hai quẻ Dịch. Quẻ thứ nhất nói chung cho cả năm, kể cả tình hình đầu năm, quẻ thứ hai nói những diễn biến sẽ có, nhất là cho cuối năm. Khi quẻ thứ nhất hiện ra mình băn khoăn không biết nói thế nào với Hà Nội. Đó là quẻ Sơn Thủy Mông. Nghe hai chữ sơn thủy, ta nghĩ ngay đến sơn thủy hữu tình, Sơn tinh Thủy tinh, đến câu thơ nước non nặng một lời thề/ Nước đi đi mãi không về cùng non… Nhưng với Kinh Dịch, sơn thủy đây là Sơn Thủy Mông. Mông là mông lung, mờ mịt. Mông còn là mông muội, cái thuở thơ ấu của loài người, của con người khi là đứa trẻ con. Dù nói thế nào, thì được quẻ Mông, ta nghĩ ngay đến một tình hình còn “mông”, nghĩa là còn “muội”, tình hình còn chưa rõ ràng, nhiều cái còn ẩn khuất, nhiều cái còn đang vỡ vạc. Chẳng nhẽ tình hình Hà Nội ta sang năm lại là như thế sao?
Dũng lại cười, cái cười của tác giả Những hòn cuội nhặt dọc đường, một tập tản văn tôi vừa đọc, thấy lạ như vừa cầm trong tay một hòn cuội rơi từ hành tinh khác xuống.

- Em thấy hình như đúng với những gì sẽ diễn ra. Mọi cái tưởng đã rõ ràng, nhưng với cái nhìn của Thánh nhân, nó khác. Anh nói rõ hơn cho em nghe cái tượng quẻ.

Tôi nói liền một mạch:

- Thế này nhé. Chuyện cổ Sơn tinh, Thủy tinh nhìn tượng Sơn Thủy trong quan hệ tương phản, thơ Tản Đà non nước, nước non nhìn tượng Sơn Thủy trong quan hệ tương giao. Còn Kinh Dịch xem tượng Sơn Thủy trong quan hệ tương tác âm dương. Núi ở trên, Suối nước ở dưới. Con suối mới hình thành, còn chưa rõ dòng chảy. Chúng ta hãy quan sát con suối từ khi nó còn là dòng nước bắt đầu dưới chân núi. Tuy cái hướng nó đã rõ ràng là xuôi xuống, nó sẽ hòa vào nhiều dòng chảy khác, sẽ thành suối, suối sẽ thành sông, sông ra biển lớn. Nhưng trong cái thời “mông” này, vừa hình thành dòng chảy, nó còn ngơ ngác, nó chưa biết sẽ rẽ theo ngách nào, len lách ra sao, có khi rẽ vào một kẽ đá và cạn khô ở đó chưa biết chừng. Thánh nhân bảo: Mông, hanh! Mông là sẽ hanh thông. Hanh thông vì sẽ thành sông. Nhưng trước mắt là còn mù mờ, chưa sáng tỏ, còn vấp váp, còn len lách. Quả thật Hà Nội ta đang đứng trước một tình hình như thế. Một mặt có Đại hội Đảng đã chỉ ra con đường suối sẽ thành sông, Hà Nội đã có sơ đồ quy hoạch, nhưng trong năm mới này Hà Nội chúng ta đang đứng trước biết bao câu hỏi, trước bao nhiêu lối rẽ, vừa chào mời, vừa thách thức.

Quẻ Mông còn mách bảo ta một vấn đề sẽ trở thành một trọng tâm, trọng điểm thu hút trí lực, tâm sức của Hà Nội ta trong năm mới. Đó là yêu cầu đổi mới giáo dục, một yêu cầu bức xúc trong những năm qua và nóng bỏng trong năm Tân Mão ta sắp đi qua. Bởi Mông là tượng con suối hình thành dưới núi, còn là tượng em bé ngây thơ, mờ tối, còn phải được chỉ bảo, dậy dỗ. Quẻ Mông rất chú trọng hào 5 và hào 2. Hào 5 tượng cho em bé, tượng cho người học trò sẵn sàng được khai mở. Hào 2 tượng cho người thày. Quẻ Mông đặc biệt ứng dụng vào sự nghiệp giáo dục. Gieo quẻ năm mới được quẻ Mông, có nghĩa là giời đất đã chỉ cho chúng ta một con đường ta sẽ phải đi, không tránh được, đó là tiếp tục đổi mới trong Giáo dục. Đổi mới thế nào, bản thân quẻ Mông đã vạch ra một cách vô cùng đúng đắn. Nhưng bài này chỉ mới dự đoán, chưa phải là lúc tôi trình bày.

- Vậy cái chỗ anh bảo “khó nói” là ở chỗ nào?

- Là ở chỗ quẻ Sơn Thủy Mông động hào 5 và hào 6 thì sẽ biến thành quẻ Thuần Khảm. Tượng quẻ Khảm là Nước. Nước thì hiểm. Người xưa nhận định không gì hiểm bằng nước sâu, nên nói đến nước là nói đến cái hiểm trở, cái nguy nan. Quẻ Thuần Khảm gồm hai quẻ Khảm gộp lại, nên thuần khảm là hai lần nước, có nghĩa hai lần hiểm. Ý của thánh nhân nói rằng phần sau của năm mới, người được quẻ sẽ rơi vào cảnh như ngập chìm trong nước. Sẽ qua hai lần hiểm. Mà cái hiểm ở đây sẽ xảy ra vào tháng Nhâm Tý tức tháng 11 âm lịch. Năm mới năm me nói ra những tín hiệu ấy quả là không tế nhị.

- Anh đang nói những tín hiệu ấy với một người Hà Nội đấy nhé. Hà Nội là gì? Là thành phố trong sông. Người Hà chúng ta đâu có sợ sông nước?
 
Khi nói chuyện với Lê Trí Dũng, tôi luôn nhớ người này là tác giả của hàng nghìn bức tranh vẽ ngựa, tôi đã ngắm những con ngựa của anh như xuyên trong mây, như bay dưới ánh trăng. Tôi nói tiếp:

- Quẻ Thuần Khảm “hai lần hiểm” không phải quẻ xấu. Người có bản lĩnh, ý chí coi đó là thời thế tiến lên giải nguy cho thiên hạ. Phan Bội Châu giảng: Người xử vào thời hiểm chồng chất là hoàn cảnh rất nguy, nhưng xem tượng quẻ mà tìm ra cách xử hiểm thì vẫn không sợ gì hiểm. Vì tượng Khảm có một hào dương ở giữa, dương là Thực, là thành tín, là chí thành. Tuy hoàn cảnh hiểm, thời hiểm mà tâm vẫn hanh thông, lòng chí thành đến đâu tác động mạnh đến đó, nên hành động được trọng, tai nạn qua khỏi, mà còn có công nữa. Người Nhật vừa trải qua một trận động đất đầy thử thách. Họ có câu thơ: Những chốn lòng thành thấu tới/ Đá vàng cũng phải nứt. Chính là dùng đạo tín thành cho cái tâm sáng, mà bước qua thời hiểm vậy. Phải chăng Hà Nội của chúng ta sang năm cũng sẽ là như vậy?

X.C.
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #56 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2013, 07:42:48 am »


NGƯỜI LÍNH XE TĂNG VIẾT VĂN... BẰNG MẮT

Hoàng Nhuận Cầm

Như chúng ta đã biết, theo một thông báo chính xác đã có hơn 500 họa sĩ, hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam từng khoác áo lính. Ngoài ra, còn có hàng trăm họa sĩ khác cũng lăn lộn sống chết trên khắp các chiến trường từ Bắc vào Nam. Họa sĩ Lê Trí Dũng cũng kịp thời có mặt trong đội quân hùng hậu đó với tư cách là một người lính thuộc binh chủng Tăng - Thiết giáp. Từ hàng trăm rồi hàng ngàn ký họa còn xém lửa bom - các tác phẩm có kích cỡ lớn của anh lần lượt nối nhau ra đời như: "Vượt trọng điểm" (sơn mài, 1974), "Vượt sông" (sơn mài, 1976), "Cánh rừng dioxin” (lụa, 1989), "Mẹ của những người lính" (sơn dầu, 1999), "Biên ải" (sơn mài, 2000), "Chân dung người lính" (sơn dầu, 2004)... Anh đã vẽ bằng tất cả sự say mê lẫn niềm kiêu hãnh về cuộc chiến tranh khốc liệt mà anh đã trải qua. Và bao trùm lên tất cả màu sắc cũng như đường nét của người lính xe tăng ấy, là một mong muốn thành tâm đóng góp phần nhó bé, làm siêu thoát và thảnh thơi cho linh hồn của những người đồng đội đã hy sinh. Anh gắn bó với đề tài chiến tranh đến nỗi, nhiều người vẫn cứ tưởng anh là họa sĩ ở bên quân đội. Đâu phải vô cớ mà trong khoảng khắc thiêng liêng nhất của mỗi năm, anh lại cất tiếng gọi thảng thốt và giữa mênh mông: "Nhớ "chúng nó" lắm, đồng đội ơi?"

Không chỉ vẽ, họa sĩ Lê Trí Dũng còn "lén lút" viết văn. Mặc dù chỉ riêng sự nghiệp hội họa của anh, công bằng mà nói cũng đã đồ sộ và huy hoàng lắm rồi. Hình như có lần anh đã từng khoe, bạn văn của anh còn đông hơn cả bạn vẽ. Và người lính xe tăng này như tôi đã giới thiệu ở trên, anh đã viết văn ... bằng mắt. Ẩn sau đôi mắt đó bao giờ cũng là một tấm lòng, và nắm trong tấm lòng đó là những con chữ dạt dào cảm xúc chân thành đến mức bi tráng. Với cuốn Tạp văn "Những hòn cuội nhặt dọc đường hành quân", tôi nhớ mãi cái động tác vừa e thẹn lại vừa tự hào khi anh đưa tặng cho chúng tôi vào đúng ngày giỗ của liệt sĩ Hoàng Thượng Lân. Người họa sĩ, người lính xe tăng đã tâm sự về cuốn sách đầu tiên của mình như sau: "Việc sáng tác hệ trọng ví như mài ngọc quý. Đang tập trung thần khí, chỉ một tiếng chuông cửa, một tiếng con quấy ... tán thần ngay. Không làm sao nhớ lại được. Còn nữa, trong sáng tác, người nghệ sĩ như một cỗ máy khổng lồ, hàng ngàn đinh ốc, mất một chiếc, trục trặc ngay. Cỗ máy tinh tế âm thầm làm việc suốt ngày đêm, lúc ăn, lúc nhậu, cả lúc ngủ, mãi mới nảy ra một ý, mỗi mình biết, ghi lại ngay trên lịch cũ, sổ tay, mẩu giấy báo, bao thuốc lá ...". Vậy mà anh chỉ dám nhận những trang viết đã hòa lẫn khá nhiều nước mắt của mình là những "hòn cuội" nhặt dọc đường. Còn tôi, tôi thấy "hòn cuội" nào của anh cũng lấp lánh và lặng lẽ toả ra cái ánh sáng của thần khí. Trong "những hòn cuội" đó rõ ràng có ngọc! Đối với nghệ thuật nói chung, điều quan trọng nhất vẫn là "cái nhìn". Và anh đã viết văn bằng mắt theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ này. Nếu chỉ dùng bút, làm sao trong "Chân dung người lính" anh có thể viết được như thế này: “Lúc vĩnh biệt anh, nhìn cái ba lô con cóc ấy có cái mũ tai bèo úp chụp phía trên, khẩu AK dựng bên, phía dưới là đôi dép đúc cao su Trung Quốc của anh mà cạnh đó là cái bi đông thủng lỗ chỗ... Tôi thấy chân dung anh, chân dung người lính giải phóng, nó vừa cô đơn vừa hào hùng, vừa có một cái gì nghĩa cả lại vừa tủi phận, nó vừa là sứ mệnh lại vừa là số phận... Bùi ngùi nhìn hàng dãy hàng dãy ba lô tử sĩ xếp thẳng hàng, chính chúng tôi cũng không biết rằng cuộc chiến sẽ còn kéo dài bao lâu và bao giờ thì đến lượt ba lô của mình đội điểm nghiệm điểm danh".

Rồi trong "Viên gạch Cổ Thành", cũng bằng đôi mắt của một người lính xe tăng, anh đã dựng lên một bức tường tưởng niệm không lời ngay giữa trái tim của bạn đọc chúng ta: "Trời sáng dần, trên chiếc bàn gỗ lũa hình con rùa, viên gạch Thành Quảng Trị, Viên Gạch Thiêng Cổ Thành vẫn nằm đó, lặng lẽ, thần bí. Một nửa cháy xém, đen thui vì napan, nửa kia lỗ chỗ vệt đạn và cào xước của bom pháo, nó vỡ hình lưỡi rìu cổ, dựng đứng lên trông giống một bức tượng đài".

Bây giờ thì trên bàn viết của tôi là cuốn tạp văn thứ hai mà anh vừa gửi tặng. Không hiểu sao lần này anh lại bỏ đi hai chữ "hành quân" mà chi lấy là "Những hòn cuội nhặt dọc đường". Tuy vậy, dù muốn dù không dấu chân của  những người lính, cả người sống lẫn người chết, vẫn cứ in đầy lên các trang viết của anh. Và anh vẫn tiếp tục viết văn bằng mắt. Một cuốn sách vuông vắn và đẹp đến lạ lùng với 120 minh họa của chính anh. Tôi thích nhất bức có tên là "Mẹ" của anh - anh đã vẽ nó bằng niềm cảm xúc biết ơn vô hạn và lòng yêu thương vô bờ. Đó là hình ảnh một bà mẹ ngồi im một chỗ "giống như một khúc củi khô đen cháy, sắt lại" - Mẹ ngồi lọt thỏm vào giữa một đống vũ khí và những bộ quần áo lính của cả hai 'bên chiến tuyến. Có lẽ cảm thấy chưa vẽ hết nỗi lòng và tâm sự của mình, anh lại tiếp tục viết thêm... bằng mắt: "Xung quanh mẹ là những người trai trần trụi, còn vương những mảnh quân phục rách bươm với gương mặt lưu lại dấu vết của tổ tiên Việt tộc: hàm vuông, trán rộng, môi dày, lông mày lưỡi mác, mắt đen, sâu, tóc dày và thẳng, cổ to, mũi hơi hếch... gương mặt biểu lộ sự trung thực, chất phác, dễ tin, can trường, dám yêu hết mình... Tôi đi ra biển Cửa Việt. Suốt mấy dặm không một bóng người, nước biển xanh một màu kỳ lạ, cát thì trắng đến kinh người, trời xanh thăm thẳm, từng cọn mây trắng khổng lồ trôi nhanh qua. Để nguyên quân phục, tôi từ từ lội ra đến ngập đầu, mặc cho nước mắt hòa cùng nước biển, thấy vị hai thứ cũng mằn mặn như nhau”

Đồng đội! Đồng đội! Tôi nôn nao đến tận đáy lòng trong tiếng gọi "Đồng đội' của anh: "Cứ mỗi độ xuân về, lòng lại không khỏi trào lên nỗi nhớ đồng đội. "Đồng đội" hai chữ thiêng liêng đã nâng đỡ tôi qua bao nỗi khó của đời. Tôi không công thần, không "ăn mày dĩ vãng", không nói mãi một việc "biết rồi...". Nhưng nói gì thì nói, ở nơi đó tôi đã tìm thấy tình người đích thực, thấy sự hy sinh cao cả... Và thế là tôi vẽ bức “Đồng đội". Nền tranh đó một màu máu, chính giữa tranh là hai người lính đang cõng nhau tìm về đơn vị. Cây rừng và vách đá Trường Sơn, một mảnh trăng vắt ngang trời..."

Lê Trí Dũng ơi! Đồng đội của tôi ơi! Đêm nay trên đầu tôi, một mảnh trăng cũng vắt ngang trời. Nếu tôi khen văn của anh viết hay thì thật là không phải, thật chả ra làm sao cả! Có một thứ văn dị ứng với mọi sự bình phẩm dông dài - thứ văn đọc lên là để cùng nhau thấm thía và cùng nhau chia sẻ về những chiêm nghiệm trong trẻo mà dữ dội, tìm thấy ở giữa những góc khuất của cuộc đời - ấy là văn của Lê Trí Dũng. Tôi còn nhớ như in lời thì thào của anh trước cổng tòa báo Văn Nghệ, khi anh kín đáo tặng tôi một viên đá được bọc trong giấy xi măng - viên đá mà anh nhặt về từ Thành Cổ Quảng Trị: "Thấm nhiều máu và vong hồn của những người lính lắm đấy! Nhớ thỉnh thoảng thắp hương, Cầm nhé!".

Phiến đá ấy đang nằm sừng sững ngay trước trang giấy của tôi. Xung quanh phiến đá đầy những chân hương và hồng rực lên cái màu linh thiêng - cái màu mà Lê Trí Dũng đã bao lần nhận thấy và đã viết lại bằng đôi mắt rưng rưng của mình: “Riêng trong tôi, hình bóng những người lính đội mũ tai bèo, xốc AK, đứng thẳng người xả đạn trong ánh hoàng hôn... mãi mãi khắc sâu vào tâm khảm, suốt đời chẳng thể nào quên”.

Đêm đã rất khuya.
Bên hàng xóm có tiếng khóc của trẻ sơ sinh, rồi tiếng ru của người mẹ dịu dàng cất lên:
Bồng bồng con nín con ơi
Giữa sông cá lội, trên trời chim bay...
Tôi buông bút - tìm một nén hương, thành kính xoè diêm và châm lửa.

HNC
Báo Văn nghệ Công an 12/2008

Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #57 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2013, 05:16:44 pm »


MỘT HÒN CUỘI ... GÓP THÊM
                                       
Nhà văn  Trần Huy Quang

      Trước khi đọc tạp văn của Lê Trí Dũng tôi cũng đã được xem rất nhiều tranh của Dũng. Dũng vẽ ngựa, hàng mấy trăm bức về ngựa, xem ngựa của Dũng tôi chỉ thấy hồn ngựa, ma ngựa, tinh ngựa như đang bay về chốn hư không, đầu óc tôi ong ong tiếng vó ngựa dồn dập trên chiến trận, tiếng hú tiếng hí tiếng gió cuốn theo vó ngựa, tiếng lá bay, tiếng bụi cuốn như cơn lốc ở chốn mù mịt nào. Dũng vẽ gà cũng hằng trăm bức gà, vẽ sen khô, vẽ những người lính trận, nhất là lính xe tăng, nửa thật nửa không thật, nửa ở hiện tại nửa ở huyền tích, xa xôi, mờ mịt. Tôi chỉ cảm nhận được đó là những đường nét thật tài hoa.

Hai tập tản văn của Dũng là “Những hòn cuội nhặt dọc đường hành quân”, và “Những hòn cuội nhặt dọc đường”. Tập trước là những trải nghiệm, những bài học nhân sinh, những kỷ niệm, những triết lý về con người và về cái thời mà Dũng còn là một anh lính họa sỹ trong một lữ đoàn xe tăng mà năm 1975 đã tiến vào đánh chiếm Dinh Độc Lập. Tập “Những hòn cuội nhặt dọc đường” không còn chữ “hành quân”, đây là dọc đường thiên lý, là con đường của hành trình Dũng đi lang thang để vẽ, có khi đó là con đường dốc thoai thoải đến bãi đá cổ Sapa, cũng có khi đó là con đường Dũng mải mê vẽ hằng đêm để tìm cho ra khí phách của giống ngựa, cũng có thể đó là con đường Dũng mò mẫm mãi mới ngộ ra cái gì là chân giá trị trong mớ mịt mù những giá trị thật giả lẫn lộn, đặng tìm ra cái gì không đáng tôn thờ trong cái đống ta đang tôn thờ. Đừng đòi hỏi Dũng phải cháy lên một cách ào ạt, hay rạch ròi một ranh giới như thực tại sống. Mà ở đời làm sao có được một sự rạch ròi kia chứ? Hơn nữa, từ bé Lê Trí Dũng đã sống trong tiếng chuông chùa, chung quanh là những người thân như mẹ, như bà, như ông ngoại ông nội, thấm đẫm tinh thần Phật giáo, cũng là tinh thần Việt hay tinh thần phương Đông. Một loạt tạp văn của Dũng viết về ma, về âm dương tướng số, về kiếp trước kiếp sau với luật nhân quả ( Khẩu súng ma, Thai giáo, Kiếp trước, Kiếp sau, Kiếp sau nữa, Ma cà rồng, Trong cõi hồng trần, Thanh kiếm Đường Khê, Âm dương tướng số) hoặc rải rác chỗ này chỗ khác là lý số, là âm dương ngũ hành của khoa tử vi có thể là những ảnh hưởng có từ tấm bé và khi lớn lên được học hỏi chiêm nghiệm bồi đắp dần cho đến lúc anh ngộ ra sự sắc sắc không không ở đời, mọi danh lợi đều là phù vân.  Cái điều mà người xưa đã nói rất nhiều nhưng khi đọc Lê Trí Dũng, tôi vẫn thấy thích thú, hấp dẫn bởi vì Dũng nói không phải để dạy ai, Dũng nói một cách chân tình, còn thêm chút lính tráng, bởi những trải nghiệm của mình, và nhất là vì cái thời đồng tiền làm được tất cả, mọi bậc thang giá trị đều bị đảo lộn, sự giả dối lên ngôi. Thì cái điều Dũng nói là cần thiết, hóa ra cái tưởng mọi người đều biết thì ra lại  không biết.

Trong truyện ngắn hay tiểu thuyết, các nhà văn đều viết từ cuộc đời của mình nhưng được chia ra phổ vào các nhân vật nên là cuộc đời nhà văn mà không ai nghĩ là của nhà văn cả. Nhưng trong tản văn của mình, Lê Trí Dũng không có chỗ ẩn nấp mà anh cũng không ẩn nấp. Dũng thể hiện thái độ sống một cách mạnh mẽ. Anh kính trọng những họa sỹ bậc thầy về tài năng và nhân cách (Người lính trên chiến trường hội họa, Minh họa tản mạn ký) hoặc cũng rất yêu mến những bạn bè có chân tài (Ký họa ở chiến trường)... Phía khác, Dũng phê phán kịch liệt sự giả dối trong nghệ thuật, nhất là rất ghét lối sống giả dối hèn hạ của nghệ sỹ,  nhận hết bổng lộc rồi mới phản tỉnh, đi tìm cái bản ngã của mình, để tiếp tục nhận thêm “dũng cảm bội tinh” (Xốn xang tháng 7). Có một lớp nghệ sỹ, không nhiều mà cũng không ít, đầy đủ các loại danh hiệu, học vị, giải thưởng, tưởng như họ không còn thiếu thứ gì nhưng Dũng phát hiện ra họ còn thiếu một thứ, ấy là... liêm sỉ.

Tuy nhiên, đó chưa phải là điểm mạnh trong các tạp văn của Dũng. Cái mạnh của Dũng là những trang viết về thế thái nhân tình, về tình đồng đội. “Đồng đội”, “Chuyện kể về một người lính xe tăng” đau xót và thật như một hồi ký. Có những việc như chôn đồng đội, hay đồng đội cõng mình qua làn đạn quả là không bao giờ quên được, để hàng năm họ rủ nhau trở về bên dòng Thạch Hãn để thả những vòng hoa đẹp xuống dòng nước không phải để giải tỏa một ẩn ức chiến tranh như người khác mà thực sự họ đã vì một tình đồng đội vĩnh hằng cao hơn tất cả. Cái tình của người viết là tình của người trong cuộc chứ không phải thương vay khóc mướn gì cả. Thương bạn rồi thương mình trong một thời tao loạn đạn bom băng qua cái chết mà sống, Lê Trí Dũng lan man nghĩ sang thế thái nhân tình. Cuộc đời là sao nhỉ? Đã có lòng tốt sao còn có sự ác độc, có anh hùng sao còn có sự hèn hạ? Thật ra phải hỏi, có thật sao không có giả, có phàm trần sao không có thần tiên? Lê Trí Dũng vừa lý giải về nó vừa không hiểu về nó. Vì nó có tất cả. Vì phải có tất cả mới làm nên cuộc đời, ví dụ có đạo lý thì hiển nhiên là có vô đạo, có công lý là có bất công. Trong tập “Những hòn cuội nhặt dọc đường” có nhiều minh họa rất đẹp nhưng tôi thích cái minh họa Dũng in vào cuối sách, bên cạnh cái cổng vòm cổ kính là một xã hội rất Việt Nam, có nho sỹ, có thượng thư, có cảnh sát, có ăn mày, có doanh nhân com lê cà vạt, có triết gia, có đĩ điếm, có cô yếm thắm răng đen, có chàng bặm trợn uống rượu bằng bát như Lỗ Trí Thâm bên Tàu, có họa sỹ, có nhiếp ảnh gia, vân vân... Tất cả như bị chi phối bởi một cái gì đó rất vô hình mà cũng rất vô biên. Tôi đoán là Lê Trí Dũng sau khi viết “Xốn xang tháng 7” bàng hoàng nhận ra “ở cái đất mà...coi văn hóa chả ra cái đếch gì..” và cũng bàng hoàng nhận ra tiếp “mỗi dân tộc, mỗi cuộc chiến đều có số phận riêng mà trong đó số phận mỗi người lính rất mỏng manh, bé nhỏ xiết bao” (Khẩu súng ma) rồi tiếp đến là đứa con trai anh làm anh sởn gai ốc bằng một câu hỏi không còn ngây thơ của lứa tuổi nó “Bố ơi, không biết cái tòa thành ấy nó có vị trí trọng yếu thế nào về chiến lược mà mình phải đổ quân vào đó nhiều thế?” (Nén hương của sự tri âm) thì anh vẽ bức minh họa ấy. Rõ ràng, từ anh lính lệ, ông quan, nho sỹ cho đến triết gia, nghệ sỹ, doanh nhân thắt cà vạt, và cho đến anh lính họa sỹ trong xe bọc thép cũng chỉ như chiếc bách nhỏ nhoi bé bỏng mong manh trong cơn lốc xoáy được tạo ra bởi một chiếc gậy phù thủy vô hình.
Sau cùng, tôi có một điều tâm đắc muốn nói thêm, đó là những cái mà Lê Trí Dũng gọi là những hòn cuội. Những triết lý, những tư tưởng, những kỷ niệm, những lời tri ân...nảy ra trên đường đời, dù đó là đánh giặc hay làm nghệ thuật, Dũng gọi đó là “những hòn cuội nhặt được dọc đường.” Một kết cấu rất hội họa. Là hòn cuội thì có to có nhỏ, có hòn tròn có hòn không được tròn, hòn trơn hòn nhám, hòn đẹp hòn xấu, có hòn màu nâu có hòn màu trắng. Tự nhiên vốn vậy. Cái tài của người đặt tên sách là dù viết về cái gì, ma quái, tướng số, đến nạn kẹt xe, từ văn học đến hội họa, dài ngắn, trữ tình hay trào lộng, đều không lọt ra ngoài, hàm chứa được tất cả. Mà dài ngắn, nhiều ít tùy hứng được. Thích viết in năm ba cuốn nữa cũng được. Không ai dám bảo thiếu mà cũng chẳng ai dám bảo thừa. Hòn cuội mà. Cả đống cũng hoàn chỉnh mà một viên cuội cũng hoàn chỉnh.

Bắt chước Dũng tôi ghi những cảm nghĩ của mình về hai tập “Những hòn cuội...” thử làm một hòn cuội góp thêm vào đống cuội của Dũng, nó là gì cũng được, có lẽ không ai bắt bẻ, vì cũng là một hòn cuội mà.

Đầu năm Nhâm Thìn
T.H.Q

Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #58 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2013, 07:40:32 am »


NGƯỜI TÔI TỪNG GẶP
Thái An
nhà báo

1.
Phàm là một kẻ mê tranh, nếu từng một lần được xem tranh họa sĩ Lê Trí Dũng triển lãm hẳn sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước sức sáng tạo tràn trề và độc đáo đến vậy. Mang triết lý Phật giáo vào hội họa cũng là một thách thức khi cần một cách truyền tải dễ hiểu, nhưng không kém phần sâu sắc và ấn tượng.
Nếu để miêu tả ngắn gọn nhất tranh Lê Trí Dũng, có lẽ tôi sẽ chỉ dùng một từ “Đẹp”. Tuy nhiên tranh ông không nhất thiết phải đắt, phải làm người xem sửng sốt, mà cái chính là khiến người ta cảm thấy thích thú, dễ chịu. Làm hài lòng các cảm xúc, tâm hồn, tinh thần, trí óc…Đó là những thứ có thể không thật sự cần thiết phải có, nhưng nếu có nó sẽ làm cho cả họa sĩ lẫn người thưởng thức, người sở hữu tranh ông, cảm thấy gần nhau hơn.
Đó có lẽ cũng là lý do người ta thường coi tranh đẹp là một thứ tặng vật xa xỉ. Để sở hữu cần có cả cơ duyên.
Mở đường cho xe ra tiền tuyến.
Các sáng tác của ông, dù đề tài chiến tranh cách mạng, tĩnh vật, hay những Con Giáp…, mỗi đề tài một sắc thái cảm xúc khác nhau, nhưng đều lấy sợi chỉ xuyên suốt  làm linh hồn sáng tạo, đó là Con Người - tặng vật tốt đẹp nhất của tạo hóa. Sự sáng tạo được thăng hoa thể hiện những mong muốn, khát khao về một tương lai tốt đẹp, cùng tìm kiếm để rồi “ngộ” ra một con đường chân lý.

2.
“Tôi mê ngựa từ bé. Con ngựa đầu tiên tôi vẽ trong đời là con ngựa Xích thố của Quan Vân Trường trong Tam Quốc Chí. Đến giờ tôi vẫn còn nhớ “Con ngựa toàn thân sắc đỏ như lửa, tịnh không có một cái lông nào tạp, ngày đi nghìn dặm”, lớn lên lại biết thêm vô vàn ngựa hay khác…”, họa sĩ Lê Trí Dúng tâm sự. Sau nhiều năm vẽ ngựa, với ông con ngựa không còn là ngựa nữa, nó hóa thân thành người.
Họa sĩ nói tiếp, “Con ngựa tôi khoái nhất là một con ngựa đơn sắc, gần như chỉ hai màu đen trắng, quay lưng lại người xem, bờm xù, dáng thản nhiên, ngạo nghễ. Hình như ít người đồng cảm với con ngựa này. Cũng phải, bởi ước vọng đoàn viên, ước mơ hạnh phúc vẫn là ước muốn muôn đời. Nhưng cô đơn lại là số phận của những nghệ sĩ đích thực”.
Tôi nghĩ không hẳn thế. Biết bao người, bao thế hệ đã mê “Ngựa”, cả ngựa đơn sắc, mê “Sen tàn”, “Hổ”, “Gà”… Say tranh Lê Trí Dũng.
Sen tàn.
Tôi trong số đó. Ám ảnh bức “Sen tàn” khổ lớn. Những vệt đen loằng ngoằng.
Màu nhòe trên giấy dó, tung hoành, gẫy đổ. Bật lên chỉ một - nụ - đỏ - cánh - sen. Ý tưởng ở đây là sự sống, là sức sống mãnh liệt của vạn vật, trỗi dậy dù trong đổ nát hay tàn héo. Như người ta vậy. Có bản lĩnh ắt qua được vận hạn, an nhiên, tự trưởng thành.
Quả thực như lời của tác giả “Sen tàn”, họa sĩ Lê Trí Dũng, tác phẩm hội họa muốn hay phải “xuất được cái thần”. Nó cũng giống như phép xem tướng. Nếu chỉ đạt đến “hình tướng” mà không đạt đến “thần tướng”, là không được.

3.
Cũng người nghệ sĩ tài hoa ấy chia sẻ, rời quân ngũ hơn ba chục năm rồi, ông vẫn vẽ đề tài chiến tranh cách mạng. “Kể từ ngày đó… Trở lại chiến trường rồi ra quân, đi khắp miền Tổ quốc. Đã 35 năm trôi đi. Trải mọi thăng trầm. Không khi nào tôi quên đồng đội, bao tài hoa ra trận. Không khi nào quên được những mũ sắt, mũ rơm, những hầm trú ẩn, những tàu lá chuối ngụy trang, những bát chè xanh của các mẹ, các chị…”
Mấy năm gần đây, Lê Trí Dũng viết văn. Đã cho ra hai đầu sách, hai tập tản văn - “Những hòn cuội nhặt dọc đường”.
“Tựa” cho tập sách, nhà phê bình - họa sĩ Phan Cẩm Thượng viết : “Nếu chúng ta không quá đòi hỏi về một thứ văn bút hoàn hảo, thì rất thú vị khi đọc tản văn của Lê Trí Dũng. Nó được đúc rút từ những tháng năm thơ dại tưởng cuộc sống là một bức tranh màu hồng, được hun bởi một thứ khói thuốc súng khét lẹt, bởi thời hậu chiến gian khó và bởi sự ngổn ngang tâm thế của hiện tại”.
Họa sĩ Lê Trí Dũng hiện là Ủy viên BCHTW Hội Mỹ Thuật Việt Nam khóa 7, tham gia giảng dạy tại một số cơ sở đào tạo.

Vừa chào đón năm Canh Dần bằng triển lãm 60 con Hổ, tháng 5 tới ông dự định tham gia triển lãm tranh cùng bốn họa sĩ cựu chiến binh từng tham chiến tại mặt trận phía Nam.
Với một kẻ say nghề, lại có những mối quan hệ phong phú như Lê Trí Dũng, đôi khi người ta không biết ông lấy đâu ra thời gian? “Biết sắp xếp công việc và kiểm soát thời gian khôn ngoan, ta sẽ giải quyết mọi chuyện ổn thỏa”, ông nói.

4.
…Tôi gặp họa sĩ Lê Trí Dũng một chiều cuối xuân tại trụ sở Hội Mỹ thuật VN, 51 Trần Hưng Đạo Hà Nội. Ông vừa trở về sau chuyến đi miền núi Cao Bằng cùng mấy anh em BCH TW Hội.
Được hỏi “công thức” làm việc của mình, Lê Trí Dũng trả lời: “Đam mê, tiếp cận đúng và quyết định đột phá. Tôi đang làm một công việc duy nhất là sáng tác. Tôi say mê nó. Nhưng tôi say mê cái hệ quả của nó hơn. Tiền có thể mua được, nhưng bạn bè, tự trọng hoặc lòng tin thì không”.
Còn ước vọng? - “Tôi mong muốn sự tử tế hiện hữu nhiều hơn và lan rộng trong cuộc sống này”.
Chia tay, tôi hỏi: “Điều gì đáng sợ nhất trong cuộc đời?” “Cái ác!” Anh trả lời chắc chắn, như thể cái ác đang hiện hữu từng giờ, sẵn sàng chui ra từ gầm giường anh bất kỳ lúc nào. Nhưng cái ngu cũng đáng sợ như không bao giờ đứng thứ hai. Và còn đáng sợ hơn nếu cái ác đội lốt một cái gọi là thiện và cái ngu đội lốt một cái gọi là thông minh, tinh nhạy.
- “Nếu trong đời vấp phải hai “cái đó” thì phải làm thế nào? Tôi lại hỏi:
- “Khinh bỉ và im lặng”!

5.
Quần quật trên cánh đồng sáng tạo, người nghệ sĩ ấy vẫn tinh tế, phong độ. Thần thái dung dị, hài hước…
Với Lê Trí Dũng, tranh đẹp là một quý vật. Quý vật phải tìm được quý nhân. Và cách tốt nhất để những bức tranh đẹp trở nên đẹp hơn là giới thiệu và đưa nó đến với những người thực sự hiểu được giá trị của nó.

20.3.2013
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #59 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2013, 08:06:15 am »

Tin vào nước mắt

Bút ký của Tân Linh

“Không phải nước mắt nào cũng làm ta yếu mềm” - (Tân Linh).
“Đi Quảng Trị, nghĩa là “về” Quảng Trị” – (Lê Trí Dũng)

Câu văn của tác giả và của nhân vật đã nói một cách gãy gọn nội dung bài ký. Nếu bạn không đủ thời giờ và sự kiên nhẫn, hãy cứ đọc chừng ấy. Phần còn lại dành đọc sau. Không sao. Dù thế nào cũng xin cảm ơn bạn!

Lê Trí Dũng vừa từ Quảng Trị về.
Quảng Trị, từ bốn mươi năm nay, với anh là miền đất nợ nần. Nhưng có lần tôi bảo với anh rằng, tôi là người Quảng Trị, đất ấy nợ các anh chứ!  Họa sĩ không chịu: “Không! Chúng ta nợ đất ấy, nợ những người nằm xuống cho hôm nay chúng ta được sống, được hưởng hòa bình, được dẫm đạp nhau mà đi lên…”
 Dũng chực khóc bên ly café đen luễnh loãng Hà Nội sáng cuối tháng Bảy này…Dũng khóc. Anh khóc cho những người bạn mình đã không về sau cuộc chiến. Nước mắt anh không bi thương mà ấm nồng, mà tự hào kiêu hãnh…Rồi anh lại khóc khi tôi đọc tặng anh bài thơ Tìm bạn đăng ở báo Tiền Phong năm 2006: …Tuổi hai mươi bạn về dưới cỏ/ Phía âm dương cách biệt biết tìm đâu/ Tên của bạn theo người về với đất/ Bia không tên thương hồn bạn cơ cầu… Rồi không nén được, tôi cũng đã khóc cùng anh, khóc cho những người bạn có tên và không tên ở những cái nghĩa trang quốc gia, cùng các nghĩa trang Liệt sĩ khắp nơi tại Quảng Trị…Hai mươi năm trước, sau chuyến triển lãm tranh từ Mỹ về anh đã kể tôi nghe chuyện mình đã khóc cùng một cựu binh Mỹ ở Main khi sang Hoa Kỳ tổ chức triển lãm cùng những người lính hai chiến tuyến một thời. Trầm xuống, giọng Dũng: “Khi tôi lấy chiếc vòng lưu niệm bằng xương động vật có gắn một hoa hồng ra quàng vào cổ Kewill, bỗng dưng anh ta quỳ xuống chân tôi, run rẩy: Thế là tôi thanh thản được rồi, tôi  đã được một VC(Việt cộng) tha thứ, bằng một đóa hồng!...” Không hiểu sao tôi lại khóc, các cựu binh Mỹ có mặt lúc ấy cũng khóc…”. Dũng đã may mắn trở về, may mắn thành họa sĩ tài danh… Nhưng anh đã lại dành phần lớn cuộc đời sáng tạo của mình để vẽ về chiến tranh. Chiến tranh, như một ám ảnh, như một vết chàm trên gương mặt nhân loại. Anh vẽ người lính không thấy người. Chỉ còn lại chiếc ba lô, cái mũ tai bèo, cái bi đông và trên đó là khẩu AK 47 nòng ghếch cao lên…Nhà anh hãy còn cái ca Mỹ của người chỉ huy đã cho anh như một lá bùa hộ mệnh. Nhờ cái ca hợp kim ấy cất sau đáy cóc ba lô mà mảnh đạn đã không xuyên qua người anh mấy lần… Người chỉ huy đơn vị tên Bình đã là ân nhân cứu mạng anh bao lần bởi đã tặng người lính - họa sĩ của mình cái ca Mỹ và dặn nhét vào cóc ba lô. Dũng đã sống nhờ cái ca Mỹ ấy bởi nhờ nó mảnh bom không xuyên được vào người, còn người chỉ huy thì nằm lại… Anh trở về để tri ân tất cả. Tri ân đồng đội. Tri ân mảnh đất Quảng Trị đã cho anh bản lĩnh làm người…Cái ca Mỹ của chiến sĩ - họa sĩ Hoàng Thượng Lân còn đó trên bàn viết của anh. Ấm ảnh và đớn đau vì chiến tranh, dẫu cuộc chiến khốc liệt ấy đã đi qua hơn nửa phần đời…Vẽ về nỗi ám ảnh của chiến tranh chính là cách anh thể hiện khát vọng hòa bình. Anh thành danh với hội họa, nhưng tôi hơi bất ngờ  với một Lê Trí Dũng viết. Ba tập tản văn tùy bút  của anh ám ảnh lạ lùng. Ám ảnh bởi anh viết xúc động quá. Tôi bảo anh rằng, chỉ cần viết gây xúc động cho người đọc đã là thành công rồi. Dũng không nhận, anh bảo:  Lúc không vẽ được thì viết ra vậy thôi ! Nhưng không phải ai cũng viết được như anh. Phải dày dặn trường đời trận mạc và đủ trải nghiệm, giàu cảm xúc và vốn chữ nghĩa mới xuất thần như vậy. Bao nhiêu bức họa về Quảng Trị chưa đủ, ba cuốn sách  mà phần lớn lớn bài viết trong đó lại cùng hướng lòng mình về miền đất máu lửa một thời làm ta thắt lòng khi nghĩ về hình ảnh người họa sĩ từ Hà Nôi lặn lội vào Quảng Trị mỗi năm một lần để “sống” với đồng đội, với ký ức thời hoa lửa… Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đã có cùng cảm xúc với tôi khi đọc văn Lê Trí Dũng. Hoàng Ngọc Hiến viết: “Tiểu thuyết về chiến tranh thì Bảo Ninh là tác giả được Lê Trí Dũng mến mộ nhất. Còn tản văn (hoặc tạp văn) về chiến tranh, tôi vẫn cho rằng Lê Trí Dũng là hơn cả.  Dọc đường hành quân, rong ruổi trên đường đời, đường nghệ thuật, Lê Trí Dũng nhặt được không biết bao nhiêu hòn cuội. Đọc hai tập hồi ký - tản văn của tác giả, tôi nhặt được một hình ảnh lẫm liệt anh bộ đội giải phóng, một cách nhìn phương Đông và dăm ba nụ cười u-mua...”. Vâng nụ cười có vẻ u mua nhưng chữ trong những tản văn tùy bút về đời, về chiến tranh - hòa bình thì anh chắt ra từ trái tim. Trái tim người nghệ sĩ dễ rung động. Nước mắt tôi chảy theo những trang anh viết về chiến tranh và đồng đội. Trong tản văn mà thực chất là một kiểu hồi ký của mình, Lê Trí Dũng đã kể chuyện mình đã khóc khi chuẩn bị in cuốn Khúc tráng ca Thành cổ. Anh khóc tủi phận và tủi cho những người đồng đội dày công chuẩn bị tư liệu biên soạn và cuối cùng nó không ra đúng tháng Bảy  vì… thiếu tiền. Anh khóc bởi tiếng bom ùa về lẫn trong tiếng cụng ly tiền tỷ của những đại gia chia chác lợi lộc từ các dự án, hay sau những phi vụ mua quan bán tước…Anh đã viết với ngổn ngang tâm thế. Người lính Giải phóng quân ấy trở về đời thường và anh đâu có hình dung nổi thế sự đa đoan, bể dâu nổi chìm như vậy. Nói như nhà phê bình Mỹ thuật Phan Cẩm Thượng là “Anh đã chạm được vào cửa ngõ của những tâm trạng xã hội”.

Ngày cuối tháng bảy năm nay, tôi gọi cho Lê Trí Dũng, định rủ anh đi Quảng Trị. Đầu dây bên kia: “Mình với Lê Việt Khánh, cậu con trai mình đang ở Quảng Trị. Để được “sống” với bạn bè nằm lại nơi này ông ạ! Đang vào chúc mừng Hội Văn nghệ Quảng Trị tái lập 20 năm…” Vậy là lỡ hẹn với họa sĩ rồi. Hình như gã hăm hở về nơi ấy, như thể muốn được tiếp thêm năng lượng thì phải. Nhưng khi vừa ra Hà Nội anh đã điện rủ đi café … Lời đầu tiên xin lỗi Tân Linh vì đi Quảng Trị lần này là đi theo “ông con trai”. Lạ không? Ông con trai  mình sinh năm 1978, nghĩa là muộn nửa con giáp sau ngày Quảng Trị giải phóng. Vậy mà cu chàng chủ động tổ chức chuyến đi  với lời mời rất chi là …người lớn. “Con mời bố đi với con một chuyến về Quảng Trị”. “Có dự án nào trong ấy à?”. “Không! Đi hành hương về chiến trường xưa của bố thôi”. Tôi cảm động không nói được gì. Tôi khóc vì sung sướng. Sung sướng không phải vì con trai lo cho một chuyến đi, mà vì tôi không ngờ một chàng trai thời @, trong lúc người ta băm bổ kiếm tiền và hùng hục ăn chơi thì cu cậu lại tổ chức cho cha chuyến hành hương về phía trận mạc…Lê Trí Dũng kể: "Lần này luật sư Lê Văn Hiến - một đồng đội cũ đón và dẫn đi thăm mộ họa sĩ Hoàng Thượng Lân. Đứng trước nấm mộ "gió" Lân ở Quảng Trị tôi thắp hương khấn cầu cho linh hồn bạn siêu thoát phù hộ độ trì cho gia đình bạn hữu còn sống”. Giữa ngày tháng Bảy này, kể những câu chuyện thật mà như có gì kỳ bí về đất ấy, anh đương dẫn tôi về cái ngày  gia đình nhà báo Hoàng Nguyên Kỳ vào nghĩa trang bốc mộ người con trai - họa sĩ Hoàng Thượng Lân. Lân chơi với Lê Văn Hiến từ ngày vào Quảng Trị và chiến đấu trong cùng một đại đội. Hiến cũng từng ra Hà Nội với gia đình Lân như con trong nhà. Lần này gia đình vào xin đưa mộ Lân về nghĩa trang liệt sĩ tại  Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì. Đoàn vào Đông Hà.  Cả nhà Lê Văn Hiến đón tiếp chu đáo. Hiến làm con gà, chuẩn bị sửa cái lễ để ra nghĩa trang Trường Sơn nơi Lân nằm, để thắp hương trước khi di dời. Tự tay Hiến cắt tiết con gà nhưng anh bỗng giật mình khi làm hết mọi cách mà con gà trống vẫn không chảy ra một chút tiết nào. Phải chăng đây là điểm báo chẳng lành? Hiến không nói nhưng ai cũng linh cảm điều gì đó đang đến…. Cả nhà im lặng lên đường đến Nghĩa trang Trường Sơn. Điều tiên đoán xấu nhất đã xảy ra: Mộ của Liệt sĩ Hoàng Thượng Lân đã bị ai đó bốc nhầm…Người quản trang chỉ nhớ rằng: “Hôm trước có gia đình ở xã Cẩm gì đó ngoài Hà Tĩnh vào bốc mộ liệt sĩ đưa về quê chắc đã nhầm tên”.  Cẩm gì? Thôi chết rồi. Phải về Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Phòng Lao động Thương binh xã hội cho biết có gia đình ở xã bên vào bốc mộ liệt sĩ  Hoàng… về nghĩa trang liệt sĩ huyện… Mọi chuyện đã rõ. Vậy là lại tìm được di cốt Hoàng Thượng Lân đưa về nghĩa trang Ngọc Hồi cạnh mộ liệt sĩ - họa sĩ Hoàng Tích Minh…

 Hai cha con về Cửa Việt. Người con chụp lại những bức ảnh cái bãi xe tăng mà trong tản văn Lê Trí Dũng đã viết về nó như là một ám ảnh…

(Còn tiếp)
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM