Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:20:35 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giải phẫu một cuộc chiến tranh  (Đọc 112715 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #170 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2008, 10:24:13 am »

CUỘC NÉM BOM LỄ GIÁNG SINH VÀ VIỆC KÝ HIỆP ĐỊNH PA-RI

Nhà Trắng muốn Việt Nam dân chủ cộng hòa giải quyết khó khăn của họ, và họ đi tìm được cách thuyết phục người Việt Nam nối lại các cuộc hội đàm ngày 20 tháng 11. B.52 vào lúc đó ném bom tàn bạo phía nam vĩ tuyến 20, cho nên đe dọa duy nhất còn lại là ném bom phía bắc vĩ tuyến đó. Biết rõ chỗ mạnh và chỗ yếu của mình, nên khi những người Mỹ lừa lọc đưa ra một bảng kê dài các yêu cầu thay đổi mà một số có tầm quan trọng cơ bản, thì Đảng chấp nhận những điểm nhỏ, nhưng do dự với những điểm còn lại. Lập trường cơ bản của họ là văn kiện tháng 10 phải được ký nguyên vẹn. Cũng trong những tuần đó, họ sơ tán hai thành phố lớn nhất khi Kít-xin-gơ đe dọa ném bom.

Điều nổi bật trong lúc này là tính chất không tưởng của cố gắng Ních-xơn nhằm đạt tại bàn thương lượng cái mà Mỹ đã không làm được trong mười năm tại chiến trường. Rõ ràng không có vấn đề Hà Nội tin ở người Mỹ trước việc họ nuốt lời đối với hiệp định tháng 10, họ chuyển vũ khí ào ạt cho Thiệu và việc họ đẩy mạnh ném bom.

Danh tiếng và sự nghiệp của Kít-xin-giơ đang được thử thách. Ông ta nghĩ rằng nếu chấp nhận văn bản tháng 10 thì đe dọa trở lại chiến tranh bằng không quân sẽ bị tiêu tan. Sau một thời gian muốn đạt được hòa bình trong tháng 10, bây giờ ông ngả qua phía cực đoan khác và tán thành tăng sức ép quân sự. Ông ta cũng tìm cách để vận động người Trung Quốc và người Nga ảnh hưởng đến Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngụ ý chắc chắn rằng ném bom bắc vĩ tuyến sẽ được nối lại nếu Việt Nam dân chủ cộng hòa không ủng hộ và chấp nhận các yêu cầu của Mỹ. Tuy nhiên, người Xô-viết chỉ đồng ý chuyển những đề nghị của Việt Nam dân chủ cộng hòa, không cho biết có thể giúp ích gì vào lúc nào, Lê Đức Thọ không những không đòi trở lại hiệp định tháng 10 mà còn giữ Mỹ lại bàn thương lượng với những thỏa hiệp nhưng ít hơn nhiều so với yêu cầu của Kít-xin-giơ.

Còn Kít-xin-giơ thì tuy không sẵn sàng đưa ra bất kỳ thỏa hiệp nào, nhưng cũng như Tổng thống tin rằng Quốc hội sẽ chấm dứt cuộc chiến tranh nếu Nhà Trắng không làm được, và bây giờ Kít-xin-giơ đề nghị ném bom và rải mìn Hải Phòng và Hà Nội. Tổng thống biết rằng ông ta đang gặp khó khăn nghiêm trọng trong việc duy trì kiểm soát chính trị trong nước, và khi ông ta chỉ thị cho Kít-xin-giơ cắt đứt hội đàm tại Pa-ri ngày 13 tháng 12 bằng việc đưa ra những yêu cầu không thể chấp nhận được để khiêu khích Lê Đức Thọ, thì ông ta đã tránh xa thế giới bên ngoài. Từ đầu tháng 10, ông ta chấm dứt các cuộc họp báo và ông ta chỉ giới hạn những tiếp xúc hàng ngày của mình với Ơ-li-sơ-man, Hon-đô-man, và Kít-xin-giơ là những người giúp làm cho ông ta đỡ căng thẳng trong cuộc khủng hoảng lớn nhất của nhiệm kỳ tổng thống.

Ngày 16 tháng 12 Kít-xin-giơ gặp các nhà báo và cố tránh những vấn đề cụ thể của các vấn đề ở Pa-ri. Cũng vào lúc này Tổng thống tán thành nối lại cuộc ném bom và ngày 18 tháng 12 Ních-xơn cho phép ném bom Hà Nội và Hải Phòng; ông ta không ngờ có một cơn phẫn nộ mãnh liệt bởi vì các cuộc leo thang trong những tháng trước hầu như không bị phản ứng. Trước đó Kít-xin-giơ tính toán rộng: "Chúng tôi đã làm mọi thứ chúng tôi có thể làm đối với Bắc Việt Nam chỉ trừ việc ném bom ào ạt bằng B.52 vào phần ba ở phía bắc...".

Mười hai ngày ném bom kéo dài vào khu vực Hà Nội - Hải Phòng là nhằm để hăm dọa và khủng bố Việt Nam dân chủ cộng hòa đối với tương lai nhưng đồng thời cũng gây sức ép với người Nga và Trung Quốc để họ buộc Việt Nam dân chủ cộng hòa vào quỹ đạo. Nói chung lúc đó mọi người kể cả không quân đều thừa nhận rằng B.52 là rất không chính xác và việc ném bom không có tác dụng quân sự lâu dài.
Nếu xét phía Mỹ thì khu vực Hà Nội - Hải Phòng là vào loại được bảo vệ tốt nhất của thế giới. Không quân Việt Nam dân chủ cộng hòa bây giờ là sung sức tuyệt vời. Không quân Mỹ làm việc quá sức sau những tháng hoạt động căng thẳng, thiếu sự yểm trợ của không quân chiến thuật và thiếu trang bị phòng thủ.

Sự phối hợp giữa không quân chiến lược và chiến thuật cũng rất kém vì sự mất tinh thần lan rộng do triển vọng hòa bình trước mắt và do làm việc quá sức gây ra. Kỷ luật là một vấn đề nghiêm trọng ngày càng tăng. Khi B52 bất đầu 12 ngày khủng khiếp, thì Việt Nam dân chủ cộng hòa đã để ra ba tuần trước đó để chuẩn bị đón chúng, sơ tán hơn nửa triệu người của riêng Hà Nội. Khi các máy bay bắt đầu hoạt động, chúng đã gây ra thương vong đáng sợ cho các mục tiêu dân sự nhưng đồng thời cũng phải chịu trả một giá chưa từng có.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #171 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2008, 10:24:59 am »

Phản ứng đầu của chính quyền Mỹ là giảm đến mức tối thiểu con số về những tổn thất của khu vực dân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa và của không quân Mỹ nhưng cả hai cách trình bày đều không chính xác. Khoảng hai trăm B.52 được dùng trong các cuộc tiến công, còn không quân chiến thuật bảo vệ thì thiếu đến mức mà các phi công B.52 coi là quá đáng. Hãy thừa nhận mười lăm B.52 bị bắn hạ, trong khi Việt Nam dân chủ cộng hòa đưa ra con số ba mươi tư. Ít nhất sáu B.52 không thể bay lại được và một số nhân viên Lầu Năm Góc thừa nhận không chính thức rằng số máy bay bị mất là gần với con số của Việt Nam dân chủ cộng hòa đưa ra, đó là chưa kể máy bay chiến thuật mà Việt Nam dân chủ cộng hòa khoe là đã hạ bốn mươi bảy chiếc.

Điều gây lúng túng cho Mỹ là Việt Nam đã bắt bốn mươi tư phi công Mỹ. Một sĩ quan thừa nhận: "Chúng tôi đã mất nhiều máy bay và tôi không nghĩ rằng chúng ta thấy trước được cái giá cao như vậy". Ngay với tổn thất mà họ thừa nhận thì cũng có nghĩa là tỷ lệ tổn thất của B.52 là trên 10 phần trăm trong mười ngày, một con số cao hơn con số mà các phi công có thể chấp nhận được và do đó mà làm cho họ mất tinh thần. Chính quyền rêu rao rằng Hà Nội phải quỳ gối, tên lửa đất đối không (SAM) đã cạn, nhưng điều chắc chắn hơn là lực lượng không quân Mỹ không thể hoạt động lâu hơn nữa. Vì những lý lẽ vững chắc Việt Nam dân chủ cộng hòa xem cuộc chiến đấu trên Hà Nội là một chiến trường vĩ đại.

Tất cả điều mà cuộc ném bom lễ Giáng sinh đưa lại là cô lập chính quyền Mỹ về mặt chính trị và đặt nó vào thế phòng ngự. Đa số báo Mỹ xem cuộc ném bom này là kinh tởm trong lễ Giáng sinh: ý kiến của tờ Thời báo Niu Yoóc là "sự khủng bố trên một quy mô chưa từng thấy". Phản ứng trong những nước thường là thân Mỹ cũng rất nghiêm trọng. Bốn mươi lăm trong số bảy mươi ba thượng nghị sĩ được hỏi ý kiến sau khi cuộc ném bom bắt đấu, đã chống lại nó và chỉ mười chín tán thành. Bốn mươi lăm tự tuyên bố sẵn sàng ủng hộ đạo luật chấm dứt chiến tranh. Tổng thống không còn cách gì hơn là ra lệnh, chấm dứt ném bom bắc vĩ tuyến hai mươi ngày 30 tháng 12.

Vào đầu tháng giêng cả Thượng lẫn Hạ viện đều bỏ phiếu cắt kinh phí quân sự cho Việt Nam, kể cả chính phủ Việt Nam cộng hòa. Ngay khi chiến lược dùng ném bom để gây sức ép Trung - Xô đối với Hà Nội đã thất bại, Kít-xin-giơ vẫn còn lập luận rằng "nếu lời tiên đoán" của các chuyên gia chúng ta là đúng thì Mát-xcơ-va và Bắc Kinh đang gây sức ép với Hà Nội. Rõ ràng hơn là sự lên án công khai của Brê-giơ-nép gọi cuộc chiến tranh là "dài nhất và bẩn thỉu nhất" trong lịch sử Mỹ, một sự lên án đe dọa cả quá trình diễn biến của các quan hệ Xô - Mỹ.

Các phóng viên nghĩ rằng đã có những dấu hiệu rõ rệt của những thảo luận giữa Liên Xô và Việt Nam dân chủ cộng hòa về viện trợ quân sự lúc đó. Có ý kiến cho ràng Brê-giơ-nép sẽ vì vấn đề Việt Nam mà hoãn chuyến đi Mỹ đã được dự định. Một cuộc họp tập hợp quần chúng ở Bắc Kinh chống Mỹ có Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Nguyễn Thị Bình phát biểu và Chu Ân Lai và vợ Mao tham dự, đã được đưa nổi bật trên báo chí Trung Quốc. Tiên đoán của Kít- xin-giơ củng cố thêm những ảo tưởng của ông ta và của Tổng thống, nhưng điều chắc chắn hơn là các đồng minh đã tập hợp lại để ủng hộ Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Điều duy nhất mà Nhà Trắng đã làm là tỏ ra có đầy đủ khả năng để dùng sức mạnh không quân hòng ép buộc một hiệp định hòa bình. Đó là mục tiêu chủ yếu của việc ném bom, Ních-xơn muốn một mình Mỹ có "khả năng đơn phương chống vi phạm" cũng như duy trì "lòng tin vào việc kiểm soát hiệp định". Để chứng minh rằng việc trì hoãn là đáng giá, chính quyền lập luận và cảm thấy rằng trở lại các điều khoản tháng 10 sẽ làm tiêu tan hình tượng của quyết tâm Mỹ. Vấn đề duy nhất là thế giới đã trở nên phức tạp hơn nhiều so với điều mà Ních-xơn và Kít-xin-giơ đã suy nghĩ, và Tổng thống mới được bầu cử đã tỏ ra với tất cả mọi người là một con người rất đáng sợ và vô cùng nguy hiểm. Hình ảnh đó không hề bao giờ mất đi được.

Khi các cuộc thương lượng bắt đầu lại ở Pa-ri ngày 2 tháng giêng chính quyền Mỹ lâm vào một vị trí tương đối yếu hơn nhiều. Quốc hội bây giờ bước vào cuộc chiến một cách quyết định và Nhà Trắng không còn có thể vừa vì lý do chính trị vừa vì lý do kỹ thuật mà nối lại các cuộc tiến công bắc vĩ tuyến 20 nữa. Ních-xơn cũng muốn nhanh chóng có một hiệp định hòa bình và sẵn sàng chấp nhận dự thảo tháng 10. Chỉ Kít-xin-giơ còn muốn bòn thêm vài nhượng bộ gỡ thể diện để bào chữa cho nỗi thống khổ của Mỹ đã gây ra cho Việt Nam dân chủ cộng hòa vào lễ Giáng sinh. Thiệu thì chỉ đơn giản bị gạt ra một bên.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #172 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2008, 10:25:35 am »

Trong các cuộc thương lượng tháng 11 và tháng 12, cả hai bên đưa ra và rút lại nhiều thay đổi, nhưng không thay đổi nào ảnh hưởng đến thực chất của hiệp định tháng 10. Những thay đổi cách viết có tính chất trang trí được thông qua nhanh chóng ở Pa-ri, và không phải là lời lẽ mà là ý định sẽ xác định sự thực hiện hiệp định. Mỹ đã giành được những câu, đoạn mà họ cho là tốt hơn, nhưng cuối cùng chỉ ảnh hưởng đến hình thức chứ không phải thực chất, Mỹ không đạt được sự gạt bỏ Chính phủ Cách mạng lâm thời ra khỏi những đoạn đó, có nghĩa là ngụ ý thừa nhận sự tồn tại của chính phủ đó, nhưng khi văn bản cuối cùng được hoàn thành thì Ních-xơn tuyên bố công khai rằng Mỹ thừa nhận Việt Nam cộng hòa như là "chính phủ hợp pháp duy nhất của Nam Việt Nam", nổi lên rằng Mỹ sẽ áp dụng một số điều khoản của hiệp định mà họ ủng hộ và bỏ qua phần còn lại. Rõ ràng chính quyền Mỹ bây giờ muốn giải quyết theo các điều khoản của tháng 10.

Về sau Kít-xin-giơ đặt câu hỏi: "Các điều thay đổi có đủ ý nghĩa để bào chữa cho nỗi thống khổ và sự cay đắng của những tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh không? Có lẽ là không đối với chúng ta; hầu như chắc chắn là có đối với Sài Gòn. Rõ ràng, chúng tôi nghĩ rằng hiệp định tháng 10 là đầy đủ...". Nhưng Sài Gòn không đạt được điều họ muốn, tức là không có hiệp định nào, và không ai ở Oa-sinh-tơn nghĩ rằng nó sẽ bỏ chính sách "bốn không” nhất là bây giờ nó có vô số vũ khí để thực hiện chính sách đó. Thiệu được dùng làm lý do hợp lý duy nhất cho cuộc ném bom lễ Giáng sinh, được sử dụng như một đe dọa cho Việt Nam dân chủ cộng hòa trong tương lai cũng như một sự khẳng định với thế giới ý muốn, thậm chí sự tha thiết của Tổng thống duy trì hình ảnh sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự của Mỹ.

Thực chất của Hiệp định Pa-ri là nó tách các vấn đế quân sự và chính trị ra khỏi nhau, các vấn đề quân sự thì rất cụ thể và các vấn đề chính trị thì còn phải thương lượng thêm trong tương lai để thực hiện. Mỹ tìm cách rút được quân cuối cùng của mình và được trao trả tù binh mà không phải thừa nhận thất bại quân sự của hai thập kỷ cố gắng. Cách mạng muốn đẩy Mỹ ra khỏi nước và đã đạt được. Cách mạng cũng tìm cách hạ mức viện trợ quân sự cho Việt Nam cộng hòa trên cơ sở một đổi một và hủy bỏ các căn cứ Mỹ do đó mà thay đổi so sánh lực lượng quân sự. Điều này Cách mạng cũng đạt được trên giấy tờ.

Toàn bộ văn kiện bây giờ phụ thuộc vào ý đồ và các mục tiêu thực tế của mỗi bên và vào quá trình phức tạp của chiến tranh và quyền lực mà chúng phản ánh, nhưng những then chốt của hiệp định tạo ra một tiêu điểm cho việc thảo luận và cho các sự kiện về sau. Một cuộc ngừng bắn sẽ có hiệu lực ngày 27 tháng giêng với sự ký kết chính thức. Trong vòng sáu mươi ngày Mỹ phải rút vũ khí và nhân viên quân sự của mình và tháo gỡ các căn cứ, và hai bên sẽ trao đổi các binh sĩ bị bắt của nhau. "Mỹ sẽ không tiếp tục sự dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam".

Ban liên hiệp quân sự tạm thời bốn bên đã được thành lập để ngăn chặn việc nối lại chiến tranh ở miền Nam giữa các khu vực kiểm soát hỗn hợp trên khắp đất nước, nhưng nguyên tắc nhất trí làm cho nó trở thành bất lực. Một nghị định riêng thành lập ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát gồm có Ca-na-đa, Hung-ga-ri, Ba Lan và In-đô-nê-xi-a làm cho tình hình thêm phức tạp. Ủy ban này giám sát cuộc ngừng bắn và cũng theo nguyên tắc nhất trí. Không bao giờ nó có thể làm chức năng một cách nghiêm túc được.

Về mặt chính trị hiệp định quy định một Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm Chính phủ Cách mạng lâm thời, Việt Nam cộng hòa và một Lực lượng thứ ba, nhưng nó cũng vậy cũng đòi hỏi sự nhất trí trong việc phấn đấu cho "quyền tự quyết", cho tuyển cử tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế và nhiều điều khác có vẻ đáng mừng nhưng chẳng có quan hệ gì với điều có thể xảy ra. Tuy nhiên việc có nhiều tổ chức để thực hiện hiệp định tạo ra điều kiện để cho Việt Nam cộng hòa luôn luôn có tiếp xúc với Chính phủ Cách mạng lâm thời. Quan trọng nhiều hơn nữa tất nhiên là việc các đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời có quyền có mặt trên khắp đất nước.

Một vấn đề rất trọng yếu giữa họ với nhau là việc thả các tù dân sự, mà Chính phủ Cách mạng lâm và Việt Nam cộng hòa phải "làm hết sức mình" để giải quyết trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực, nhưng không có biểu thời gian bắt buộc và đó là vấn đề trở thành một nguồn gốc quan trọng của tranh chấp. Điều 21 của hiệp định yêu cầu Mỹ "đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh" của Việt Nam dân chủ cộng hòa, một thủ đoạn mặc cả của Mỹ mà kỳ lạ thay, Việt Nam dân chủ cộng hòa lại chấp nhận một cách nghiêm chỉnh hơn là thái độ thực tế của mình trong quá khứ đã có thể cho phép.

Nhìn chung lại tất cả, trong hiệp định và các nghị định thư ký tại Pa-ri, Mỹ rõ ràng cam kết rút ra khỏi Nam Việt Nam. Mặc dù câu chuyện rắc rối xảy ra sau đó, Mỹ đã rút phần lớn nhân viên còn lại của họ; và, quan trọng nhiều hơn nữa Mỹ không còn được đưa thêm quân vào. Còn đối với phần lớn còn lại, các sự kiện chứng minh rằng các cuộc chiến tranh cách mạng không chấm dứt bằng ngoại giao.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #173 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2008, 10:27:01 am »

NHỮNG MONG CHỜ VÀ THỰC TẾ CÁCH MẠNG

Nhiệm vụ khó khăn dự tính các giai đoạn tiếp theo của cuộc chiến tranh đã choán tâm trí các nhà lãnh đạo Đảng suốt mùa thu 1972. Mỗi một sự trì hoãn ký hiệp định buộc họ phải xem xét những triển vọng luôn luôn theo đuổi của tình hình. Quân đội Việt Nam cộng hòa đã bị đánh bại nặng nề trong mùa xuân, nhưng vào tháng 11, họ được vũ trang tốt hơn bao giờ hết, và tinh thần sa sút và sự lãnh đạo yếu kém của họ có thể không hoàn toàn phủ định hỏa lực của họ. Ngược lại các lực lượng Cách mạng đã kiệt hàng cung cấp, bị mệt mỏi, chưa bổ sung được cho những tổn thất trước đó.

Ước tính của Mỹ về quy mô các lực lượng cách mạng miền Nam là khoảng từ 219.000 đến 308.000 trong khi các lực lượng vũ trang Việt Nam cộng hòa về danh nghĩa có gần 1,1 triệu quân trang bị tuyệt vời. Trong khi những con số này không khác bao nhiêu những ước tính trong năm năm trước, nhưng có một thực tế là quân đội chiến thắng lại tạm thời kém khả năng tiếp tục chiến đấu hơn đội quân bại trận.

Về mặt chính trị, tình hình nhanh chóng diễn biến theo hướng chống lại Thiệu, và Đảng tin rằng chiều hướng đó sẽ tiếp tục. Tình trạng bị động là một vấn đề lớn của Cách mạng trong các đô thị cho đến mùa xuân năm 1972, nhưng sự tăng cường đàn áp của Thiệu đã đoàn kết một loạt các nhóm rời rạc và chưa hoàn toàn thành hình thuộc các thành phần giai cấp giữa, sinh viên và tôn giáo, chống lại Thiệu hơn bao giờ hết. Nhiều người trong số đó thấy rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã không bị đánh bại về quân sự và rất có nhiều khả năng thắng tốt. Ngoài những người cơ hội, có một số càng ngày càng tăng những người, nông thôn cũng như thành thị, thấy rằng hòa bình sẽ không đến nếu không có một chế độ hòa giải hơn ở Sài Gòn, nghĩa là phải gạt Thiệu.

Sự chống đối Thiệu bắt đầu đoàn kết tất cả những thành phần có động cơ nhiều mặt đó lại với nhau. Lực lượng thứ ba ngày càng tăng nhưng mất đoàn kết thường xuyên đã tập hợp sau năm 1971 quanh các vấn đề hòa bình và đàn áp và có phần cấp tiến hơn phe chống đối Phật giáo mà Mỹ đã khéo léo cộng tác. Khu vực đô thị nơi mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng còn yếu nhất từ năm 1968, bây giờ tỏ ra rất hứa hẹn. Đảng tin rằng một hình thức mặt trận đoàn kết nào đó sẽ xuất hiện có lẽ dựa vào công thức ba thành phần còn chưa rõ ràng của Hiệp định Pa-ri, như là một giai đoạn "dân chủ dân tộc" có thể kéo dài và chuyển tiếp đến việc nắm quyền lực hoàn toàn.

Trong tháng 10, Đảng chỉ thị cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng chuẩn bị thực hiện hiệp định, tránh chiến đấu với quân đội Việt Nam cộng hòa nếu được, trừ việc cố chiếm càng nhiều điểm càng tốt và cắm cờ Mặt trận trước khi ngừng bắn... Cuộc đấu tranh sẽ chủ yếu là chính trị và bao gồm những cố gắng làm mất tinh thần và tan rã các đơn vị quân đội Việt Nam cộng hòa. Khi việc ký ngày 31 tháng 10 không xảy ra, Trung ương Cục ra lệnh cho các đơn vị tôn trọng mọi ngừng bắn nếu được ký và đợi chỉ thị, và có lẽ trong hai tháng tiếp theo, không đưa ra thêm chỉ thị nào.

Nhiều tổ chức địa phương, như trong quá khứ, bắt đầu đối phó với tình hình với cách mà họ cho là tốt nhất. Trong thời gian này, các lực lượng cách mạng, cũng như quân đội Việt Nam cộng hòa và phi công Mỹ, chiến đấu càng ít càng tốt và đã cùng nhau đạt được một số thỏa thuận "sống và để nhau sống" ở địa phương. Nhiều người trở nên hoang mang, và một số mất tinh thần.

Mặt khác, Thiệu rất quyết liệt về kế hoạch của ông ta trong giai đoạn này. Người anh em hùng mạnh và cố vấn thân cận nhất của ông ta Hoàng Đức Nhã nói với một phóng viên Mỹ: "Họ tìm cách cắt cổ chúng tôi, nên chúng tôi có quyền cất cổ họ". Việt Nam cộng hòa sử dụng báo chí và vô tuyến truyền hình để nhắc nhở toàn dân trong tháng 10 rằng ai là cộng sản hoặc giúp cộng sản sẽ bị phạt tù, tịch thu tài sản và giết chết. Không hề có nghi ngờ gì rằng ngay dù cho Thiệu có ký một hiệp định hòa bình, ông ta cũng sẽ không thi hành.

Ngay khi các hiệp định được ký kết tháng giêng. Thiệu ra lệnh cho các tỉnh trưởng bắt tất cả những người tình nghi chính trị và cho phép cảnh sát "bắn những kẻ gây rối" tại chỗ. Một chương trình đàn áp rộng rãi được vạch ra trong báo chí của Thiệu và, trước hết Việt Nam cộng hòa chuẩn bị không để cho những người tị nạn trở về các làng cộng sản.

Các nhà lãnh đạo Đảng tin rằng Việt Nam cộng hòa giảm sút nhanh chóng về chính trị và suy yếu về kinh tế. Còn Mặt trận thì mạnh lên về chính trị ở đồng bằng sông Cửu Long và thậm chí ở Sài Gòn sau những ngày ảm đạm của những năm 1969-1971. Họ thống nhất với nhau rằng một sự đổi mới quân đội cách mạng cả về trang bị lẫn về tinh thần đòi hỏi phải có một thời kỳ chuyển tiếp trong đó Đảng sẽ nhấn mạnh hoạt động chính trị và xác định xem hiệp định có được thi hành và Mỹ có chấm dứt ném bom hay không. Đảng hoan nghênh Hiệp định Pa-ri như một thắng lợi lớn làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho họ và giúp họ tranh thủ thời gian phát triển sức mạnh chính trị và quân sự của mình.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #174 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2008, 10:28:08 am »

NHỮNG MONG CHỜ VÀ THỰC TẾ:
MỸ

Thiệu nói rõ ngay từ đầu rằng ông ta không chấp nhận những yêu sách chính trị của Đảng Cộng sản, càng ít chấp nhận hoạt động của họ. Không ai ở Oa-sinh-tơn chờ mong điều gì khác hơn. Xem Hiệp định Pa-ri chỉ là một cuộc ngừng bắn, ông ta khẳng định rằng hiệp định thừa nhận Việt Nam cộng hòa là chính phủ duy nhất của Nam Việt Nam, một luận điệu mà Ních-xơn đã công khai củng cố vào cuối tháng giêng. Sự tăng cường đàn áp của ông ta đầu năm 1973 đã được thấy trước ở Oa-sinh-tơn.

Mỹ đã gây mọi sức ép để Thiệu ký hiệp định, nhưng một khi Thiệu đã ký, thì họ cho Thiệu mọi phương tiện để vi phạm hiệp định. Thiệu ngăn cản có hệ thống ngay từ đầu công việc của Ban liên hiệp quân sự bốn bên. Ngoài việc ném bom và hầu như tiêu diệt phái đoàn chính phủ Cách mạng lâm thời trong Ban liên hiệp trong dịp Tết 1973, thỉnh thoảng Thiệu cũng không chịu giúp phái đoàn Mỹ.

Cố gắng của Nhà Trắng duy trì quân đội Việt Nam cộng hòa trong điều kiện cao nhất đã khuyến khích ảo tưởng vô cùng tai họa của Thiệu rằng ông ta có khả năng giải quyết cuộc chiến tranh bằng sức mạnh vũ khí, tuy rằng trên thực tế phần đông các cố vấn quân sự Mỹ biết rằng đó là việc hết sức phù phiếm.

Mùa xuân năm 1972, khi việc rút quân cũng rút hết các nhà kỹ thuật cần thiết cho việc bảo quản trang bị tiên tiến nhất của quân đội Việt Nam cộng hòa, Lầu Năm Góc có kế hoạch thay bằng những cố vấn gọi là dân sự trên cơ sở thuê theo hợp đồng. Lầu Năm Góc muốn dùng những công dân không phải là Mỹ nếu được nhưng cuối cùng lại buộc phải dựa nhiều vào nhân viên quân sự Mỹ trước kia. Các chuyên gia quân sự Mỹ kết luận tháng 10 năm 1972 rằng trên mức độ cơ bản, một bộ phận lớn quân đội Việt Nam cộng hòa không thể bắn súng trường chính xác hoặc sử dụng súng máy tốt cho nên họ dùng đạn dược một cách quá mức. Họ không đủ khả năng bảo quản và sử dụng gần hai nghìn máy bay và, tám trăm xe tăng mà họ đã có vào cuối năm 1972. Hậu cần không quân của họ thiếu nhân viên đến 50 phần trăm. Họ cần khoảng một nghìn phi công. Các quân chủng khác cũng gặp những khó khăn đại loại như vậy.

Theo điều khoản của hiệp định Pa-ri, Mỹ phải giải tán Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ ở Sài Gòn và thay vào đó Mỹ đã thiết lập một cơ quan tùy viên quốc phòng (DAO) gồm 50 sĩ quan cộng với 1.200 dân sự Mỹ mà số đông là những sĩ quan cấp giữa và cấp cao đã về hưu. Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Pa-ri tìm mọi cách để không cho thành lập đội quân trá hình đó nhưng đã không thành công. Bây giờ DAO hoạt động kín đáo vì nó đã vi phạm tinh thần và lời văn của hiệp định. Vì lý do đó số lượng của DAO không rõ ràng. Đầu tiên Lầu Năm Góc báo cáo con số dự định là 10.000, nhưng đến tháng 3 thì thừa nhận 7.200 nhân viên dân sự, nhưng khoảng 1.000 là nhân viên cơ quan phát triển quốc tế (AID). Chính phủ Cách mạng lâm thời thì tố cáo Mỹ có từ 10.000 đến 20.000. Sau đó thì Lầu Năm Góc thừa nhận đã thuê "trên" 23.000 trong tháng giêng qua hợp đồng, trong đó "trên" 5.000 là người Mỹ. Bất kể số lượng chính xác là bao nhiêu, cố gắng của Oa-sinh-tơn nhằm duy trì quân đội Việt Nam cộng hòa là rất lớn, vi phạm Hiệp định Pa-ri và làm cho Thiệu có khả năng sử dụng sức mạnh quân sự của mình.

Việc Mỹ và Việt Nam cộng hòa cùng nhau không tôn trọng hiệp định là điều chắc chắn và có tính toán trước. Trong khi Nhà Trắng theo chiến lược như vậy thì các nhà dân sự trong Lầu Năm Góc, đặc biệt là Le-đô, lo ngại rằng Mỹ tự đưa mình vào một tình hình nguy hiểm. Ý kiến của Le-đô được nhiều người khác chia sẻ và họ cảm thấy rằng dù có được giúp như thế nào, quân đội Việt Nam cộng hòa cũng không thể tiến lên được và sẽ cũng hoạt động tồi tệ hơn. Lập trường của Le-đô cho rằng đòi hỏi của Việt Nam cộng hòa là không giới hạn và đã đến lúc Mỹ phải rút ra khỏi Việt Nam.

Trong khi đó ngày 17 tháng giêng Tổng thống báo cho Thiệu rằng ông ta sẽ "công khai xác định" ba "bảo đảm" ngay sau khi Hiệp định Pa-ri được ký; một là Mỹ sẽ thừa nhận Việt Nam cộng hòa "như chính phủ hợp pháp duy nhất của Nam Việt Nam". Điều này có nghĩa là Mỹ từ bỏ tiền đề chính trị cơ bản của toàn bộ giải pháp, và tất nhiên là Thiệu sẽ không làm kém hơn. Hai là "chúng tôi không thừa nhận quyền của quân đội nước ngoài ở lại trên lãnh thổ Nam Việt Nam", một sự bác bỏ thậm chí nguy hiểm hơn nguyên tắc quân sự cơ bản của hiệp định. Và cuối cùng, "Mỹ sẽ phản ứng mạnh mẽ đối với các vi phạm của hiệp định". Nhìn chung lại, lời hứa đó cho thấy rằng Nhà Trắng đã bỏ những điểm thiết yếu của hiệp định, trừ những điểm có lợi cho họ và hiệp định như vậy đã chết khi còn trứng nước trừ điều khoản rút số quân Mỹ còn lại.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #175 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2008, 10:28:47 am »

Để dụ dỗ Thiệu hơn nữa, Ních-xơn tán thành gửi cho Thiệu một công hàm đơn phương, bí mật và chi tiết nói lên các cách suy diễn đó về hiệp định, một công hàm mà Thiệu góp phần viết ra và đã đọc bản thảo nhưng không nhận được bản chính thức cho đến ngày ký hiệp định. Trong khi đó, Tồng thống cũng cho thấy rằng ông ta sẽ xác nhận lại ba bảo đảm chính trong một buổi phát thanh ngày 23 tháng giêng để đánh dấu ngày ký tắt hiệp định, nhưng trên thực tế, ông ta chỉ nói rõ bảo đảm thứ nhất. Diễn văn của At-niu tại Sài Gòn một tuần sau, không được chú ý lắm, nói rõ hai điểm đầu nhưng rất mơ hồ trong việc nối lại chiến tranh không quân.

Hơn nữa, đe dọa nối lại chiến tranh không quân không phải chỉ là một đe dọa để ve vãn Thiệu ký hiệp định, mà còn tránh cho Mỹ khỏi thua cuộc chiến tranh ở Việt Nam và mất "lòng tin" quốc tế vào chiến tranh hạn chế. Còn Kít-xin-giơ thì làm rõ tại một cuộc họp báo tuần tiếp theo rằng Mỹ tiếp tục để lực lượng không quân và hải quân của mình đóng gần để đề phòng "điều có thể xảy ra" và sự triển khai sẽ "tùy thuộc vào mức độ của sự nguy hiểm".

Tổng thống thật sự có ý định nối lại ném bom B.52 chống lại Việt Nam dân chủ cộng hòa và nhất là Hà Nội, nếu những người Cộng sản làm điều gì mà ông ta cho đáng với sự trừng phạt đó. Ngày 26 tháng 3, để đáp ứng với quyết định của Ních-xơn, Lầu Năm Góc xin Quốc hội chuẩn chi 225 triệu đô-la để chuẩn bị khoảng 120.000 tấn bom dành cho Việt Nam "để giữ cho khu vực được ổn định". Bộ trưởng Quốc phòng Ri-sat-xơn, khi Thiệu sắp đi Ca-li-phoóc-ni-a để gặp Ních-xơn ngày 1 tháng 4, đã công khai nói về việc có thể nối lại cuộc ném bom.

Thiệu rất thích thú với chuyến đi của mình bởi vì không những ông ta chứng minh cho những người chống đối trong nước rằng ông ta có sự ủng hộ và viện trợ của Mỹ mà còn được Tổng thống cam kết đưa không lực trở lại chiến tranh nếu Cộng sản tiến hành một cuộc tiến công lớn. Nhưng Thiệu phải thông qua Sứ quán Mỹ để yêu cầu sự yểm trợ không quân của Mỹ.

Nhưng sau tháng 8, khi Quốc hội quyết định cấm chiến tranh không quân trên khắp Đông Dương, thì quân đội Việt Nam cộng hòa phải đủ sức kéo dài cuộc chiến đấu để Tổng thống có mười lăm ngày cần thiết xin sự thỏa thuận của Quốc hội. Một hệ thống "dây nóng" giữa bốn vùng chiến thuật của quân đội Việt Nam cộng hòa cũng như giữa bộ tổng tham mưu ở Sài Gòn với Bộ chỉ huy yểm trợ của Mỹ ở Thái Lan đã hoạt động được đầu năm 1974. Do đó Thiệu có mọi lý lẽ để chờ đợi sự can thiệp không quân của Mỹ, và cho đến Oa-tơ-ghết, có khả năng thật sự rằng Ních-xơn sẽ đưa B.52 trở lại vào cuộc chiến tranh.

Hành động của Thiệu phản ảnh sự bảo đảm đó và ông ta có thể tùy ý vi phạm hiệp định bởi vì ông ta tin rằng Mỹ sẽ cứu nếu Việt Nam dân chủ cộng hòa phản ứng lại bằng quân sự. Lòng tin kéo dài cho đến khi Ních-xơn rời Nhà Trắng và không bao giờ Thiệu từ bỏ nó. Ông ta cho rằng không thể tưởng tượng được sau hai thập kỷ dính líu, Mỹ sẽ để cho Cộng sản chiếm quyền mà không sử dụng không lực hùng mạnh của mình để ngăn chặn. Ních-xơn cũng nghĩ như vậy.

Cũng quan trọng như việc đe dọa nối lại cuộc chiến tranh không quân, Oa-sinh-tơn cho rằng các quan hệ khéo léo của Ních-xơn với Trung Quốc và Liên Xô sẽ cản trở hành động của Cách mạng, ít ra là bằng sức ép và giảm viện trợ. Nhiều thành viên của chính quyền Mỹ tin rằng tình hình nguyên trạng sẽ tiếp tục được duy trì. Xơn-li-ven quy sự hợp tác của Trung Quốc vào ý của họ muốn có một Đông Dương Ban-căng hóa, thoát ra khỏi sự kiểm soát của Việt Nam dân chủ cộng hòa và không sẵn sàng chấp nhận ảnh hưởng của Liên Xô, đó là lập luận mà ông ta giữ đến cuối năm 1973.

Nhìn chung lại Mỹ cho rằng chiến tranh đã trở thành một vấn đề thời gian, mà họ cho là có lợi cho phía họ. Với miếng mồi viện trợ kinh tế, với sự đe dọa trở lại cuộc chiến tranh, với sự giúp đỡ Trung - Xô và với vũ khí và sức mạnh của Thiệu, chính quyền Ních-xơn chắc rằng họ đã thực hiện chính sách chấm dút chiến tranh trong bốn năm qua với những điều kiện xem như là một thắng lợi "danh dự".
Hòa bình được công nhận là không chắc chắn, nhưng Nhà Trắng tin rằng có thể dành bốn năm tiếp theo cho cái mà Kít-xin-giơ gọi là "mối ám ảnh quốc gia của chúng ta" và có thể bỏ lại đằng sau những căng thẳng và xung đột khủng khiếp. Oa-sinh-tơn có thể nghĩ đến "một chính sách đối ngoại toàn cầu" một lần nữa.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #176 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2008, 09:30:14 pm »

PHẦN SÁU
CUỘC KỦNG HOẢNG CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA VÀ SỰ KẾT THÚC CHIẾN TRANH, 1973 - 1975

chương ba mươi lăm
CÁN CÂN LỰC LƯỢNG Ở NAM VIỆT NAM, ĐẦU NĂM 1973, VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA

CÁN CÂN LỰC LƯỢNG ĐẦU NĂM 1973

Vào đầu năm 1973, cả Cách mạng lẫn Việt Nam cộng hòa đều có ý thức sâu sắc về những điểm yếu quân sự của chính mình. Tuy vậy, cán cân lực lượng quân sự bây giờ chuyển sang phía Cộng sản một cách không sao đảo ngược được.

Vào lúc ký Hiệp định Pa-ri, Việt Nam cộng hòa có một ưu thế trang bị áp đảo, nhưng tình hình như vậy cũng đã xảy ra đầu năm 1971 và mùa xuân năm 1972 và trong cả hai trường hợp, chỉ có sự can thiệp của Mỹ mới cứu vãn nổi Việt Nam cộng hòa ra khỏi thảm họa, Việt Nam cộng hòa chủ yếu là thất bại chủ nghĩa bị tinh thần và kỷ luật sa sút, trong khi Cách mạng tạm thời bị kiệt sức về vật chất và thể lực, nhưng có sức hồi phục cao, và với một khả năng vô cùng rộng lớn và với thời gian, Cách mạng sẽ trở thành lực lượng chiến đấu thắng lợi.

Điểm nút của thế tiến lui đều khó của Việt Nam cộng hòa là chiến lược và sự cố kết nội bộ của họ. Bằng việc cung cấp cho Thiệu vô số vũ khí và đưa ra một bảo đảm rõ ràng bằng miệng là sẽ trở lại chiến tranh, chính quyền Ních-xơn đã khuyến khích nhà độc tài hung hăng sử dụng quân đội của mình. Cả Thiệu lẫn Mỹ đều xem Hiệp định Pa-ri không hơn gì một sắp xếp quân sự, có lẽ không hơn gì một sự tạm nghỉ mà thực chất phụ thuộc vào mức độ đe dọa không lực của họ. Thiệu không hề bao giờ tin rằng một mình ông ta có thể đối phó với một cuộc tiến công quân sự lớn của Cách mạng, và ông ta cùng các sĩ quan cho rằng Mỹ sẽ can thiệp trong trường hợp đó để cứu họ.

Vấn đề cơ bản của Cách mạng vào đầu năm 1973 không phải chỉ vì Thiệu mạnh mà vì Cách mạng cần thời gian để củng cố lực lượng của mình nhầm đối phó với thực tế đó. Sau Hiệp định Pa-ri, Cách mạng tạm thời giữ thế phòng ngự không phải vì thắng lợi của ngoại giao hòa dịu hoặc vì sự ném bom lại mà chính là vì những hạn chế vật chất của mình. Đe dọa ném bom càng ngày càng kém hiệu lực đối với các nhà lãnh đạo Đảng và cho đến khi chiến tranh kết thúc, họ không hề biết gì về việc Mỹ tích trữ bom. Họ tiếp tục nhận được viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc vì họ khéo sử dụng bất đồng Trung - Xô hơn là Oa-sinh-tơn. Tuy họ có lo ngại về tương lại nhưng họ có thể thấy trước sẽ nhận được một số viện trợ tối thiểu bất kể sự ve vãn của Mỹ như thế nào. Với những Hiệp định Pa-ri, Đảng tin là đã tranh thủ được một lúc nghỉ ngơi để giải quyết các vấn đề cấp bách khác và để chuẩn bị đối phó với quân đội Việt Nam cộng hòa mà ít nhất một số nhà lãnh đạo Đảng còn đánh giá cao về mặt chiến thuật.

Những khó khăn vật chất của chính mình đã làm cho Cách mạng đánh giá thấp những điểm yếu chính trị và cơ cấu của chế độ xã hội Việt Nam cộng hòa. Tuy có một thiểu số nghĩ khác nhưng một giả thuyết bao trùm của Đảng cho rằng, Đảng phải có giai đoạn dựa vào các phần tử của lực lượng thứ ba để thành lập một phe đối lập chống lại chế độ và có thể phải chia quyền với họ trong một giai đoạn chuyển tiếp.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #177 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2008, 09:31:56 pm »

Đầu năm 1973, Đảng xem thắng lợi hoàn toàn trong một tương lai không xa lắm, là một điều có thể có nhưng không chắc xảy ra. Còn đối với Thiệu, đe dọa lớn nhất không phải là từ những đội quân mà từ cái xã hội mà ông ta và Mỹ đã dựng lên, và thời gian chứ không phải thời cơ là kẻ thù xấu nhất của ông ta.

Chính trong lĩnh vực không quân sự này mà cán cân lực lượng chuyển biến một cách quyết định chống lại Thiệu và Mỹ, Hiệp định Pa-ri đưa lại cho các lực lượng không quân sự đó thời gian để gây tác động trong khi Cách mạng tăng cường sức mạnh vũ trang và chính trị của họ. Thời gian làm cho mâu thuẫn không chỉ trong nội bộ Việt Nam cộng hòa mà còn trong nước Mỹ và trên thế giới phát triển mạnh mẽ, và không ai ở Hà Nội có thể hình dung được phạm vi và sự đa dạng của những thay đổi thuận lợi cho họ đang phát triển, thúc ép và xác định giai đoạn cuối cùng của cuộc đấu tranh kéo dài ba thập kỷ.

Nhìn về mặt Hiệp định Pa-ri đưa lại thời kỳ nghỉ ngơi chỉ có hại cho Thiệu, thì nó đánh dấu một điểm ngoặt quyết định trong so sánh lực lượng. Quy mô đầy đủ và những khía cạnh của sự thay đổi này chỉ trở nên hoàn toàn rõ ràng vào mùa xuân năm 1975.

Về mặt chính trị, những hành động của Thiệu trong năm 1972 làm cho ông ta bị cô lập hơn bao giờ hết. Bất kể tình cảm của họ đối với những người Cộng sản như thế nào, đa số lớn người Việt Nam mong muốn hòa bình. Ai tìm cách không thực hiện các điều khoản chính trị của hiệp định chắc chắn sẽ làm cho họ trở nên thù địch.

Vai trò của Thiệu trở nên nguy ngập vì hệ thống nhà nước và kinh tế của ông ta tỏ ra không đủ khả năng đối phó với một loạt các khó khăn xã hội, kinh tế và cơ cấu mà chiến tranh gây ra. Tuy những khó khăn đó ngày càng tăng, sự có mặt và tiền của của Mỹ đã làm giảm bớt những tác động của chúng, cho đến năm 1972. Việt Nam cộng hòa không chỉ là một xã hội phụ thuộc về mặt tài chính mà còn tham nhũng một cách có hệ thống, và chính điều bất lương đó là rất thiết yếu cho việc giữ Thiệu nắm chính quyền. Tóm lại nền chính trị của Thiệu bị kẹp trong một ê-tô cho đến thất bại cuối cùng.

Trong hoàn cảnh như vậy, so sánh lực lượng ở Nam Việt Nam chuyển biến có lợi cho Đảng nhanh chóng hơn và toàn bộ hơn là Mỹ và Thiệu có thể tưởng tượng. Ở một mức độ nhất định, những hậu quả tích lũy của chiến tranh và sự gây chấn thương cho hệ thống xã hội đã bắt đầu, hơn bao giờ hết, xác định quy mô của sự thay đổi và thúc đẩy sự thay đổi đó. Khó mà thấy được tính chất chung, và những điểm chính của sự kết thúc chiến tranh chống lại Thiệu hơn là đối với các giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh chống Pháp năm 1952-1954 và chống Mỹ năm 1971-1972.

Ở một quy mô nhất định, không thể thấy trước tất cả các biến số lớn, bởi vì nền chính trị của Mỹ là một trong những biến số đó và trong tháng giêng năm 1973 không có ai thấy trước được sự mai một chính trị của Ních-xơn. Sự đa dạng của lịch sử, tính chất của chiến tranh không phải chỉ là cuộc xung đột của những người cầm súng mà chủ yếu là một cuộc đấu tranh chính trị và xã hội, và tầm quan trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế và của sự rối loạn của con người, tất cả những điều đó bây giờ nổi lên hàng đầu.

Sự chấm dứt của chiếc tranh Việt Nam sau ba mươi năm không thể hiểu một cách đơn giản trên cơ sở những đội quân và những tướng lĩnh, hoặc những nhân vật lãnh đạo họ. Vì vào năm 1973, chiến tranh ở Việt Nam vượt quá giới hạn của các đội quân và các nhà lãnh đạo và đang được tất yếu xác định do kinh nghiệm tích lũy về con người, xã hội, kinh tế, chính trị và cả quân sự nữa mà ba mươi năm đấu tranh của hàng triệu nông dân, binh sĩ và các nhà hoạt động chính trị đã tạo ra. Đảng Cộng sản bây giờ là người có lợi trong các quá trình lớn hơn đó, và việc Đảng có đánh giá chính xác hay không những quá trình đó là không quan trọng bằng sự bất lực của các kẻ thù của Đảng vì không thể làm được gì để đảo ngược các di sản tai họa của chính những chính sách và thể chế của họ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #178 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2008, 09:33:04 pm »

CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA

Thật là mỉa mai, ngay sau khi ký Hiệp định Pa-ri, chính người Mỹ và các nhà lãnh đạo Việt Nam cộng hòa là người quyết định liệu sẽ có chiến tranh hay hòa bình. Quyết định đi vào xung đột của họ tăng thêm quá trình diễn biến kinh tế và chính trị làm cho họ càng bị động hơn về chiến lược trong phần còn lại của cuộc chiến tranh.

Theo quan điểm của Mỹ, quyết định của họ phụ thuộc vào liệu đấu tranh quân sự có tỏ ra là quan trọng hơn động viên chính trị và kinh tế để duy trì sự sống còn của Việt Nam cộng hòa hay không. Oa-sinh-tơn chưa hề bao giờ xem đấu tranh không quân sự là quyết định cả, và mùa thu năm 1972 Nhà Trắng tin rằng chiến lược hòa dịu, triển vọng của việc ném bom trở lại, sự kiệt quệ của Việt Nam dân chủ cộng hòa và vũ khí mới của Việt Nam cộng hòa, tất cả đã đưa lại một chiếc ô cho sự củng cố quyền lực của Thiệu.

Suốt mười tám tháng tiếp theo việc ký ở Pa-ri, chính quyền Ních-xơn hoàn toàn chịu trách nhiệm về quy mô các hành động quân sự của Thiệu. Chỉ đến mùa hè năm 1974, quyền chủ động cuối cùng mới được chuyển cho Quốc hội. Về mặt lý thuyết chiến đấu và phương pháp chiến tranh, Mỹ đã "truyền lại cho người Nam Việt Nam... khái niệm đạt hiệu quả tối đa với mất mát tối thiểu về người. Điều này đòi hỏi phải dùng trang bị cao và vũ khí nặng...". Một loạt các cơ quan Mỹ, bắt đầu là Cơ quan tùy viên quốc phòng (DAO) ở Sài Gòn và thông qua nhiều hệ thống quân sự khác nhau, đã kiểm soát thời điểm và quy mô toàn bộ các hoạt động quân sự của Việt Nam cộng hòa trong năm 1973 và đầu 1974.

Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ đã vạch ra các kế hoạch quân sự cho Việt Nam cộng hòa từ đầu chiến tranh, và những người kế tục họ đã tiếp tục viện trợ cả sau năm 1973. Lầu Năm Góc báo cáo cho Quốc hội mùa xuân năm 1974 rằng: "Các đường lối chỉ đạo của Bộ Quốc phòng vạch ra quy mô của lực lượng và nhịp độ các cuộc xuất kích v.v. còn phái đoàn Mỹ thì sử dụng các cơ quan chức năng để thông qua việc vạch kế hoạch, cung cấp các số lượng đặc biệt về hàng cung cấp, vật liệu, trang bị và vũ khí cần thiết...". Sự phụ thuộc sâu sắc đó đưa lại cái mà các sĩ quan Việt Nam cộng hòa về sau mô tả là một tâm trạng thuộc địa thụ động trong đó họ chờ đợi người Mỹ làm tất cả những gì thiết yếu trong lĩnh vực quân sự, bao gồm sự can thiệp trở lại để cứu họ nếu cần.

Sau tháng giêng năm 1973, Thiệu được chính quyền Mỹ giao cho nhiệm vụ củng cố quyền lực bằng sức mạnh vũ khí. Một số khá lớn người Mỹ vạch chính sách, tin rằng cán cân quân sự ngấp nghé chuyển sang phía có lợi cho Việt Nam cộng hòa và đã đến lúc giành ưu thế.

Trong tuần đầu sau lệnh ngừng bắn, hai bên tìm cách giành những điểm chiến lược. Cố gắng của Việt Nam cộng hòa giành đất kéo dài cho đến giữa năm 1974 nhất là ở các vùng chiến thuật III và IV. Mùa thu năm 1973 các đơn vị của Thiệu tiến sâu vào các căn cứ của Chính phủ Cách mạng lâm thời ở khu tây bắc Sài Gòn cũng như ở tỉnh Bình Định thuộc vùng chiến thuật II. Mùng 4 tháng giêng năm 1974, Việt Nam cộng hòa bắt đầu một đợt tiến công kéo dài năm tháng khi Thiệu công khai tuyên bố chiến tranh đã được "bắt đầu lại" và đã được đưa vào các khu vực Chính phủ Cách mạng lâm thời. Những cuộc hành quân quy mô nhiều sư đoàn đã được thực hiện ở các vùng chiến thuật III và IV và chiếm nhiều lãnh thổ căn cứ của Cách mạng.

Chính sách xâm chiếm thành công của Thiệu đã gây ấn tượng thuận lợi cho nhiều quan chức Mỹ và làm cho ông ta tiếp tục được cung cấp đạn dược. Phần đông những quan chức này trước kia rất nghi ngờ Thiệu và quân đội của ông ta, nhưng khi ông ta chiếm được thêm đất mà Cách mạng không đánh trả, thì họ có vẻ hài lòng. Cuối năm 1974, người Mỹ phụ trách thu nhặt tình báo ở Sài Gòn nói rằng việc để cho quân đội Việt Nam cộng hòa vi phạm Hiệp định Pa-ri đã làm cho "các lực lượng vũ trang Nam Việt Nam trở thành một công cụ của chính sách của Mỹ" Và các nhà lãnh đạo Nam Việt Nam rõ ràng rất biết điều đó.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #179 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2008, 09:33:42 pm »

Nhưng một nhóm nhỏ các cố vấn Mỹ và sĩ quan Việt Nam cộng hòa đi đến kết luận rằng chính sách của Thiệu nhằm chiếm giữ thêm lãnh thổ sẽ dàn mỏng lực lượng ra những vị trí dễ bị tiến công và làm giảm sức cơ động, do đó dễ bị lực lượng cơ động và tập trung của Cộng sản đập nát. Thế chủ động chiến lược trong chiến tranh đang chuyển sang phía Cách mạng và Cách mạng sẽ dùng nó khi Cách mạng cho là lợi nhất. Thậm chí một số còn cho rằng Thiệu có thể chiếm và giữ đất là do bị kẻ thù giương cạm bẫy.

Chính sách giữ người và giữ đất tối đa của Thiệu là một chiến lược phòng thủ thụ động. Thắng lợi của chính sách đó phụ thuộc vào hai điều kiện: một là không có sự chống lại của Cách mạng và hai là có quân đông để có thể rải ra khắp nơi và được xe tải và máy bay lên thẳng cung cấp lương thực đạn dược tại chỗ. Những chiến lược của Thiệu sẽ trở thành một thảm họa nếu một trong hai nhân tố đó thay đổi.

Tóm lại Thiệu và người Mỹ cùng theo chung một chiến lược. Do có quyền giám sát và cung cấp đạn dược cho Thiệu, nên chính quyền Mỹ có quyền phủ quyết các hành động của Thiệu. Vì Thiệu luôn luôn có thiên hướng làm quá mức nên những tháng đầu sau Pa-ri, các sĩ quan Mỹ thấy cần thiết phải xác định cho Thiệu nên làm gì và không nên làm gì.

Tháng 2 năm 1973, quân đội Việt Nam cộng hòa dùng hết 78.000 tấn bom đạn, tức là gấp đôi số mà Mỹ thả xuống trong cuộc sấm sét tháng 12 năm 1972 chống Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong năm 1973, quân đội Việt Nam cộng hòa dùng đến 326.000 tấn đạn dược, nhiều hơn bất kỳ năm nào trước năm 1970 và bằng trên hai phần năm toàn bộ sản lượng đạn năm 1973 của Mỹ. Do đó Cơ quan tùy viên quân sự quốc phòng đã giảm số lượng xuống 205.000 tấn cho năm 1974 gần với số lượng tiêu thụ năm 1968. Nói một cách khác, trong năm 1973 Việt Nam cộng hòa tiêu thụ đạn dược mười bảy lần nhiều hơn quân đội Cách mạng, năm 1974 thì mười hai lần nhiều hơn.

Ngay cả trong tháng giêng năm 1975, họ sử dụng hơn gấp chín lần. Chiến lược Việt Nam cộng hòa là dựa vào hỏa lực tiến công, sự kiểm soát lãnh thổ bằng một đội quân lớn trong tình trạng tĩnh tại lệ thuộc vào vận tải để nối liền các căn cứ của họ lại với nhau. Đó là chiến tranh kiểu Mỹ và rất tốn kém. Kết quả tất yếu của chiến lược đó là tàn phá khủng khiếp.

Lầu Năm Góc báo cáo rằng năm 1973, 25.500 quân đội Việt Nam cộng hòa và 39.000 địch bị giết. Con số đó của Việt Nam cộng hòa là 13.800 và 48.200. Năm 1974, Lầu Năm Góc đưa con số 29.900 quân Việt Nam cộng hòa và 61.000 cộng sản bị giết. Năm 1973 khoảng 15.000 dân bị giết, 70.000 bị thương và 818.700 trở thành người tỵ nạn. Dù cho Hiệp định Pa-ri đạt được gì đi nữa, hòa bình không nằm trong những điều đã đạt được.

Một hậu quả quan trọng khác của hành động Việt Nam cộng hòa là sự kiểm soát chặt chẽ việc đi lại của nhân dân. Đầu năm 1973 có khoảng 640.000 sống trong các trại tỵ nạn của Việt Nam cộng hòa mà ba phần tư là từ các tỉnh phía bắc đang trong tay Cách mạng và đã từng ủng hộ Cách mạng lâu năm rồi. Chiến lược tỵ nạn của Việt Nam cộng hòa được tiến hành trên hai mức. Một mặt không những không cho những người tỵ nạn trở về nhà, mà còn tiếp tục kéo họ ra khỏi những khu vực hoặc do Chính phủ Cách mạng lâm thời kiểm soát hoặc còn đang tranh chấp. Những người không chịu đi thì bị đốt nhà. Việc này một số quan chức Mỹ cho là Việt Nam cộng hòa đã khuyến khích những nạn nhân ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời. Việt Nam cộng hòa cũng không cho phép người tỵ nạn trở về những khu vực mà họ không hoàn toàn khống chế.

Một chương trình tỵ nạn thứ hai gồm 200.000 người, có tính chất chủ yếu là quân sự. Những người bị tập trung vào khu vực này không được tín nhiệm, bị bao vây bằng dây thép gai và thậm chí không được ra khỏi trại nếu không có giấy phép đặc biệt. Các nơi định cư này được xếp ít nhất vào các thôn loại "A". Một nhà báo Bưu điện Oa-sinh-tơn viết: "Nhưng đó là loại kiểm soát giống như loại kiểm soát của cai ngục đối với tù nhân, như các quan chức địa phương thừa nhận, và nói chung là không có hiệu quả".
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM