Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:31:45 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một thời chiến trận Phần II  (Đọc 173459 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #270 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2015, 06:50:17 am »


            Chào bác chủ, chào bạn binhf9! Bác bình lại tiếp tục những trận chiến cam go trong cuộc chiến BGTN.

            CÓ THỂ NÓI NĂM 78 LÀ NHỮNG THÁNG NGÀY CAM GO NHẤT CỦA CUỘC CHIẾN. VÌ BỌN pỐT ĐANG THẬT SỰ NGÔNG CUỒNG VỚI Ý ĐỒ ĐÁNH CHIẾM THỊ XÃ TÂY NINH. Rồi từ đó làm bàn đạp đánh chiếm các tỉnh miền Tây mà chúng vẫn nói đấy là phần đất xa xưa của chúng.

           Các đơn vị ở biên giới lúc nào cũng phải căng ra chốt đất, đánh Pốt lấn chiếm. Nhất là khi ta có chủ trương đưa chiến tranh sang đất của chính nó từ 15-20km thì bọn chúng càng điên cuồng cay cúa hơn. Vì thế cuộc chiến ngày càng khốc liệt hơn. Trong những ngày tháng đó có đồng chí Trung đoàn Trưởng căng thẳng quá khi chiến sỹ, khi lính của mình hy sinh thương vong nhiều. Trung đoàn trường đã " Ngất sửu" không đủ sức khỏe để chỉ huy trung đoàn chốt giữ đánh địch.

            Bạn binhf9 à! Khi ĐƠN VỊ TRANPHU341 BÀN GIAO, ĐỔI CHỐT CHO F9 BẠN THÌ CHỖ TRANPHU341 ĐANG CHỐT GIỮ TẠI KHU VỰC CHI PHU- RỪNG sỞ TRỤC ĐƯỜNG 1 RỒI.

            Các bạn sau khi nhận chốt, ít ngày sau lại tổ chức tiến công lên tiếp đến tận cầu Padasot. Tranphu341 biết là trong thời kỳ này các bạn cũng vô cùng vất vả trong việc bảo vệ chốt của mình.

              Chúc các bạn luôn khỏe chắc tay phím!

Logged
phuockhanh
Thành viên
*
Bài viết: 658


« Trả lời #271 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2015, 09:54:21 am »

(tiếp)   Ở thị xã Riêm Riệp không chỉ có các đơn vị bộ đội mà có cả đoàn công tác bên dân chính. Phóng viên thuộc các nước Xã Hội Chủ Nghĩa cũng có mặt để đưa tin. Đoàn ca múa nhạc Bông Sen từ thành phố Hô Chí Minh sang, chia ra từng tốp đến các đơn vị bộ đôi biểu diễn. Trong đoàn có hai nghệ sỹ nổi danh thời bấy giờ là NSND Quốc Hương và NSUT Tô Lan Phương. Họ biểu diễn không sân khấu, không phông màn, hát trong nhà, góc sân, trên bãi cỏ, ngoài vườn cây, bên trận địa, bên giường bệnh. Chỉ có cây đàn ghi-ta, cây sáo trúc... Nghệ sỹ Quốc Hương hát đến năm sáu bài trong một buổi biểu diến và bao giờ cũng có bài “ Tiểu đoàn 307”, “Tầm vu”; Tô Lan Phương không bỏ qua bài “Đường tàu mùa xuân”. Ai cũng hát say xưa, không biết mệt dù rằng khán giả chỉ vài ba chục người lính đứng, ngồi chung quanh và bao giờ cũng có tiết mục hát theo yêu cầu của bộ đội.
   Xiêm Riệp là thành phố cố đô của Campuchia trước đây với đền Ăng Co Thôm, Ăng Co Vát là kỳ quan nổi tiếng thế giới. Có mặt ở đây không được tham quan là một thiệt thòi lớn dù chỉ đặt chân tới một lần. Bênh viện quân đoàn đã tổ chức cho xe chở thương, bệnh binh đến thăm khu đền kỳ vĩ này.
   Đền Ăng Co cách trung tâm thị xã Xiêm Riệp khoảng 10km, giữa một khu rừng thưa. Khuôn viên rộng chừng cây số vuông, bốn chung quanh là hồ nước trồng sen, mùa này sen chưa có hoa. Một con đường lát đá, hai bên có lan can bằng đá đi qua hồ vào đền. Bốn góc có bốn ngọn tháp và giữa đền là một ngọn cao nhất. Nhìn chính diện cả bốn mặt chỉ thấy ba ngọn, ước lượng cao chừng 50m, ngọn giữa cao hơn. Cả khu đền đều bằng đá. Tường là những phiến đá dày khoảng 50 phân, dài độ 2m được ghép xít xịt vào nhau, không có chất kết dính. Đường lát đá, lan can bằng đá chạm khắc hình rất đẹp. Đá lợp mái, đá tiện làm con song cửa sổ, đá tạc tượng. Trên mặt tường chạm khắc hoa văn mềm mại, những vũ nữ có bộ ngực căng tròn, đội mũ hình tháp, động tác múa mền mại, uyển chuyển. Hình tượng vũ nữ đều chạm đối xứng và giống nhau. Dưới ngọn tháp chính giữa, cao nhất, bốn mặt tháp đều có bức tượng phụ nữ nằm nghiêng ngực trần. Dọc hành lang đều đặt nhiều bức tượng ghi từ năm 1833-1856, các bức tượng này đều bị lính Pôn Pốt chặt mất đầu.
   Không có người thuyết minh, chỉ được nghe truyền miệng là đền này được xây từ thế kỷ thứ 12. Chung quanh đây, phải đi xa 10 km mới có núi đá. Những phiến đá này được những bàn tay vô cùng khéo léo, tài nghệ đục đẽo, hàng nghìn viên như một và bằng cách nào có thể đưa lên cao năm, sáu chục mét? Có được ngôi đền lưu truyền cho muôn đời con cháu, người dân Căm Pu Chia đã phải đổ biết bao xương máu?  Là những người chiến sỹ Việt Nam đến đây giúp nhân dân Cămpuchia thoát nạn diệt chủng của chế độ Khme-Đỏ. Đứng trước một công trình kỳ vĩ để lại cho muôn đơiù sau, chúng tôi vô cùng cảm phục dân tộc Khme bao nhiêu thì càng căm thù bọn Pôn-Pốt bấy nhiêu. Chúng đã gây ra cuộc chiến đẫm máu với dân tộc Việt Nam và gieo thảm họa diệt chủng ngay với cả dân tộc của chúng.
   Tôi ra viện về đoàn thu dung của sư đoàn sau một tháng điều trị. Gặp lại Đậu Đình Văn và Nguyễn Văn Thước là cán bộ trung đội và tiểu đội khi tôi còn ở Trung đoàn 24. Cả hai đang là cán bộ khung của đoàn thu dung. Tôi ở cùng anh em luôn. Chưa có xe đưa về đơn vị nên có nhiều thời gian đi thăm cố đô xưa của Căm puchia. Vào Khu nhà của bà Hoàng Xi-mô-ni, vợ Hoàng thân Xi-ha-núc. Nhìn bên ngoài chẳng có gì khác lạ, giống nhu trăm ngàn ngôi nhà khác, nhưng vào bên trong mới thấy xa hoa, lộng lẫy, chẳng biết mô tả từ ngữ thế nào cho đúng…
   Bên con sông chạy giữa thị xã, dân chúng kéo về dựng lều ở đen kín bên bờ chờ được về nhà cũ. Trẻ con, người lớn xuống dòng sông đục lờ lờ nước hến tắm gội, giặt dũ, múc nước nấu ăn. Họ phóng uế ra chung quanh nên ruồi nhặng được mùa sinh sôi nẩy nở nhanh một cách kinh khủng. Có chỗ dẵm chân cả lên ruồi. Bộ đội mang thuốc diệt ruồi trộn cơm đổ ra khay sắt tráng men chỉ mấy tiếng sau đã đầy khay.
   Một hôm tôi đi thăm hồ nuôi cá sấu, cách trung tâm thị xã khoảng hơn một cây số, khi về thì gặp Nguyễn Văn Sinh trước đây làm quản lý của đai đội tôi khi còn Trung đoàn 24 hồi năm 1975. Hiện nay Sinh làm trợ lý quân nhu trung đoàn, đang trên đường về nước lĩnh hàng cho đơn vị. Đây là dịp may hiếm có để gửi thư về vì đã hơn hai tháng tôi không viết thư do không có điều kiện, tôi liền viết vội mấy dòng thông báo bị thương nhưng đã khỏe và ra viện. Sinh cho biết một tin buồn là anh Thịnh tiểu đoàn trưởng công binh Sư đoàn 10, đã hy sinh trên đường đi kiểm tra, bị địch phục.  Hồi đánh Mỹ anh là trưởng tiểu ban công binh Trung đoàn 24, tin làm tôi xững người, buồn nao nao khó tả. Khi còn ở Trung đoàn 24 anh đã gắn bó với đại đội công binh, lúc nào cũng như người anh cả của đại đội trong suốt bốn năm chiến đấu ở tỉnh Kon Tum. Vậy mà hôm nay anh đã hy sinh trong cuộc chiến bắt buộc này! Hơn 30 năm sau tôi gặp anh Nguyễn Xuân Dùng trưởng ban trinh sát trung đoàn ngày đánh Mỹ, hiện nay anh đã về hưu ở Hà Nội, cấp bậc thượng tá, khi nhắc đến anh Thịnh, anh Dùng kể là sau khi hy sinh bọn lính Pôn Pốt mang đốt xác trong xe rồi chúng lấy xác nhét vào trong cống qua đường, tìm mã mới thấy. Nỗi đau như nhân lên gấp đôi trong tôi.
   Các cánh quân đang tiến công dũng mãnh dồn quân Khme-Đỏ về các tỉnh Bát Tam Bang và Pua Xát. Một mặt chúng tổ chức chống cự, đồng thời kết hợp với hoạt động nhỏ lẻ phục kích trên các trục đường giao thông, tập kích lực lương bảo vệ các trục đường. Chiến thuật đánh du kích bọn lính Pôn Pốt tỏ ra thiện chiến hơn. Khi xe đưa tôi về thị xã Bát Tam Bang, dù trên đường vẫn có nhiều bộ phận chốt bảo vệ nhưng vẫn gặp xe ô tô bị bắn cháy. Những bộ phận đi nhỏ lẻ dễ bị chúng phục kích nhất. Với chiến thuật này chúng đã gây mất mát lớn nhất cho Quân đoàn 3 là quân đoàn trưởng Kim Tuấn bị phục kích khi trên đường đi kiểm tra tác chiến ở tỉnh Bát Tam Bang, gần biên giới Thái Lan. Ông bị thương nặng dù đã khẩn trương gọi trực thăng đưa về Thành phố Hôc Chí Minh nhưng đã hy sinh trên đường. Ông mới được phong hàm thiếu tướng cách đấy mấy tháng. Trong cuộc chiến ngắn ngủi này Quân đoàn 3 mất đến cả cấp sư đoàn, quân đoàn.
        Đang là đầu tháng tư, trời nắng lắm, ngồi trên xe gió tạt làm khô da rất khó chịu. Trên đường gặp những xe chở tử sỹ về nước, dù dã bọc trong ny lông, nhưng vẫn bị ruồi nhặng bám theo quanh xe. Quá trưa tôi về đến thị xã Bát Tam Bang, gặp Thuấn là đồng hương Hải Phòng, cùng Trung đòan 24 trước đây. Thuấn vừa tốt nghiệp Trường quân chính quân đoàn và đang huấn luyện khóa tiểu đội trưởng cho bộ đội cách mạng Cămpuchia. Gặp Tân Khải Thanh một trung đội trưởng của tôi khi huấn luyện khóa tân binh Hà Nam, sau thời gian chiến đấu Thanh đã trưởng thành là cán bộ đại đội, bị thương đang điều trị ở trạm phẫu quân đoàn.
        Cũng như thị xã Xiêm Riệp, thị xã Bát Tam Bang dân bị đuổi đi nay về tụ tập ở bên ngoài, ven con sông đang mùa nước cạn. Hai đêm ở đây tôi thấy sự hồi sinh về tinh thần của nhân dân Cămpuchia đã bắt đầu khởi sắc. Họ tổ chức biểu diễn ca múa nhạc trên sân khấu ngoài trời, tuy còn sơ sài. Những ca sỹ, diễn viên có lẽ từ thời trước còn sót lại, họ hát múa đẹp, và trang phục đẹp, có vẻ chuyên nghiệp. Dân chúng và bộ đội xem rất đông, vỗ tay cổ vũ nhiệt tình. Câu cuối một bài hát diễn viên hát rất to: Ôn xlanh boong tê ! Sau này tôi hỏi thì câu đó được dịch là: Em có yêu anh không?  Tối nào cũng có đoàn chiếu phim của quân đội Việt Nam chiếu cho dân chúng và bộ đội xem.
Sau hai ngày ở Bát Tam Bang xe của trung đoàn ra đón về. Đi gần cả buổi chiều, với phần nửa quãng đường chạy tắt trên những cánh đồng khô cằn, mặt ruộng nứt nẻ. Đường tắt như thế này là an toàn hơn vì không có cây cối, vật che khuất để lính Pôn Pốt ẩn nấp, mật phục. Trung đoàn đang làm nhiệm vụ truy quét và đánh địch dọc theo đường 5 từ Bát Tam Bang về tỉnh Pua Xát, tổng con đường này dài khoảng 105km. Đang cuối mùa khô nên rất ít khi gặp chỗ có nước. Mà có nước thì lại đục như nước vo gạo, bẩn, nhưng rõ ràng có còn hơn không. Tất cả đưa vào bụng lính là sạch hết, miễn sao diệt được nhiều lính Pôn Pốt là tốt rồi.
         Sau hơn tháng nằm viện tôi về trung đoàn lúc này đã có sự sắp xếp lại. Trung đoàn trưởng Lào chuyển đi, trung đoàn phó Lý lên thay, chính ủy Giáp chuyển, anh Luân lên thay. Tham mưu trưởng là anh Quyền, anh Khiêm chuyển đi.
      Tôi về đến ban tác chiến trung đoàn gặp chiến sỹ đồ bản mới tên Dũng lên thay chiến sỹ mất tich ở sông Mê Công. Dũng đẹp trai có cái răng kểnh rất duyên, thấp đậm, nhanh nhẹn, tháo vát, người Hà Nội. Ngay từ đầu trông đã có cảm mến, khi hỏi biết Dũng là sinh viên Đại học tổng hợp Hà Nội, nhập ngũ và bổ xung vào cuối năm ngoái khi trung đoàn đang tác chiến ở Mi Mút (đầu năm 2014 tôi gặp Dũng ở Hà Nội sau 35 năm xa nhau, gặp gỡ nhau do giao lưu trên mạng Máu và Hoa). Ban tác chiến có anh Thanh đã xuống tiểu đoàn 4 làm tiểu đoàn trưởng và Thành, người Nghệ An, trợ lý tác chiến đã hy sinh khi đi cùng tổ trinh sát bám địch. Hôm đó tổ của Thành vừa đi chưa bao lâu thì nghe hàng tràng tiếng súng AK vọng lại. Biết là có chuyện chẳng lành. Tham mưu trưởng Quyền cử một tiểu đội đến thì cả 4 người đã hy sinh bên bờ ruộng vì lọt vào ổ phục kích của địch. Trước khi rút đi chúng cắt rời từng bộ phận cơ thể như đầu, chân, tay vứt ra khắp ruộng. Hành động giết người man rợ như thời trung cổ của lính Pôn Pốt không thể tượng tượng nổi. Sự tàn ác đó lại sảy ra trong trận đánh chiếm phum Cô cô lo mấy ngày sau đó.
       Trận đánh chiếm phum Cô cô lo của Tiểu đoàn 4 do anh Thanh làm tiểu đoàn trưởng. Trận đánh được chia làm hai mũi tiến công, có hỏa lực của trung đoàn chi viện. Sau khi hỏa lực bắn phá thì bộ binh vận động đánh mục tiêu. Hướng Đại đội 1 có một trung đội đã tiến gần sát công sự địch thì bị mũi thọc sườn của địch đánh cắt ngang đội hình. Trung đội này mất liên lạc phía sau trong thế bị địch bao vây. Mũi tiến công thứ 2 của Đại đội 3 vấp sự chống trả quyết liệt của địch. Mặt khác việc tổ chức xốc lại đội hình chưa được chặt chẽ nên ta không dứt điểm được mục tiêu, đành phải lui quân. Tôi là người trực tiếp nắm tình hình sau khi trận đánh kết thúc để báo cáo về tác chiến sư đoàn. Số hy sinh 21, bị thương 24, mất 12 súng bộ binh các loại. Yêu cầu của nhiệm vụ là phải đánh chiếm bằng được phum này để làm bàn đạp cho bước tiến tiếp theo của trung đoàn.
        Ngay ngày hôm sau được sự chi viện hai xe tăng T58 (xe chiến lợi phẩm thu của lính Pôn Pốt) cùng pháo binh sư đoàn, ta đã chiếm được phum Cô cô lo. Bọn lính Pôn Pốt vô cùng dã man, xác các chiến sỹ hy sinh ngày hôm trước đền bị chúng chặt đầu, chặt tay, cắt chân vứt khắp nơi. Trong số những chiến sỹ hy sinh có một cán bộ đại đội phó tên Đường.  Khi còn chiến đấu ở huyện Sa Mát tỉnh Tây Ninh, Đường đã lập thành tích suất sắc, chỉ huy tiểu đội đi phục kích đã diệt gọn một tiểu đội địch. Đường hy sinh là mất một hạt giống đỏ của trung đoàn.
       Sau khi chiếm được phum Cô cô lo, sở chỉ trung đoàn chuyển về dừng chân qua đêm ở trong một ngôi chùa. Vào hai giờ đêm tiếng súng Ak bỗng nổ rộ đánh thức mọi người dậy. Tôi nằm trên võng dưới tán cây soài sai trĩu quả, do trùm vỏ chăn nên lúng túng mãi mới dậy được. Ai cũng nghĩ bị địch tập kích vào đơn vị nào đó. Tôi điện nắm tình hình thì được biết một chiến sỹ gác của đại đội trợ chiến phát hiện tiếng động, ghi địch nên nổ mấy loạt AK, thế là cả đại đội bật dậy nổ súng theo. Từ đó chẳng ai ngủ được, đến 3 giờ sáng ra xếp đội hình chiến đấu (còn nữa)




« Sửa lần cuối: 07 Tháng Mười, 2015, 10:14:47 am gửi bởi phuockhanh » Logged
xuanv338
Thành viên
*
Bài viết: 1573


muốn xoa bài viét thừ


« Trả lời #272 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2015, 11:23:32 am »

CB chào ông anh đất Cảng. Chà chưa từng thấy ai chạy khỏe , dẻo dai như bác P/K.Đocj bài viết khá dài của bác mà kính phục. Bác có một trí nhớ tuyệt tác, văn viết mạnh mẽ và vẫn mềm. Những bài ca đi cùng năm tháng được bác nhắc tới tên và còn nhắc cả tên những người nghệ sỹ hát, cố nghệ sỹ Quốc Hương, người nghệ sỹ đã đi xa chúng ta rất lâu rồi mà giọng hát của ông vẫn còn đọng mãi trong tâm hồn người cựu lính. Những tên làng, tên phố, tên những người của đất chùa Tháp được anh hệ thống bằng văn  làm người đọc thấy lôi cuốn. Ở tuổi này mà bác đang chạy xô mấy diễn đàn và trang mạng. Ở đâu cũng âm vang hồi ức lính. xuanv338 chúc bác mạnh khỏe viết dẻo và hay.
Logged
phas
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1311


một thời trận mạc ....


« Trả lời #273 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2015, 12:22:37 pm »

tôi không có điều kiện sống nhiều trên đất campuchia , chỉ có vỏn vẹn năm năm . cho nên , văn hóa khơ me , phong tục khơ me tôi không biết nhiều tôi
muốn hỏi bác nào biết giải thích cho tôi với  ! ý nghĩa của bức tượng đá bốn mặt này là thế nào ? xin cảm ơn .
Logged

KRALANH ,CHOONGKAN, SAMRONG ,NÚI CÓC !   NHỮNG ĐỊA DANH KHÔNG BAO GIỜ QUÊN !
MỘT THỜI TRẬN MẠC !!!
phuockhanh
Thành viên
*
Bài viết: 658


« Trả lời #274 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2015, 01:00:52 pm »

CB chào ông anh đất Cảng. Chà chưa từng thấy ai chạy khỏe , dẻo dai như bác P/K.Đocj bài viết khá dài của bác mà kính phục. Bác có một trí nhớ tuyệt tác, văn viết mạnh mẽ và vẫn mềm. Những bài ca đi cùng năm tháng được bác nhắc tới tên và còn nhắc cả tên những người nghệ sỹ hát, cố nghệ sỹ Quốc Hương, người nghệ sỹ đã đi xa chúng ta rất lâu rồi mà giọng hát của ông vẫn còn đọng mãi trong tâm hồn người cựu lính. Những tên làng, tên phố, tên những người của đất chùa Tháp được anh hệ thống bằng văn  làm người đọc thấy lôi cuốn. Ở tuổi này mà bác đang chạy xô mấy diễn đàn và trang mạng. Ở đâu cũng âm vang hồi ức lính. xuanv338 chúc bác mạnh khỏe viết dẻo và hay.

tôi không có điều kiện sống nhiều trên đất campuchia , chỉ có vỏn vẹn năm năm . cho nên , văn hóa khơ me , phong tục khơ me tôi không biết nhiều tôi
muốn hỏi bác nào biết giải thích cho tôi với  ! ý nghĩa của bức tượng đá bốn mặt này là thế nào ? xin cảm ơn .

Một câu hỏi của  Pha s thật là khó. Chỉ có cách tìm tài liệu để tham khảo. PK xin cung cấp nguyên văn một một đoạn bài viết:

"Nằm ngay vị trí trung tâm của Angkor Thom là Đền Bayon với 216 gương mặt cười khổng lồ và đầy bí ẩn. Cho đến bây giờ cả người dân địa phương cho đến những nhà khoa học cũng chưa giải đáp nổi ý nghĩa cũng như gương mặt của các bức tượng có cười, có suy tư có buồn đau…Bên cạnh đó đền Bayon cũng có rất nhiều những bức tranh khắc rất tinh xảo về sinh hoạt của người Khmer xưa, các đoàn quân diễu binh, các đoàn xe chở lương thực và một bức tranh trạm trổ lớn miêu tả lại một trận chiến.
Đền Bayon được xây dựng vào thế kỉ thứ 12 dưới thời vua Jayavaraman VII. Sau cái chết của vua Jayavarama, nó được sửa đổi và trùng tu có hơi hướng của đạo Hindu giáo và Phật giáo nguyên thủy theo hơi hướng tôn giáo riêng của các vị vua sau này.
Điểm nổi bật nhất của đền Bayon là sự xếp đá khéo léo tạo thành các tòa tháp với nhiều gương mặt đá thanh bình của tầng trên cùng và trung tâm của ngôi đền. Ngôi đền cũng được biết đến với hai bức tường phù điêu khắc họa liên hoàn của những cảnh thần thoại, lịch sử, và trần tục. Viện JSA của Nhật Bản – viện đang có nhiệm vụ trùng tu ngôi đền – đã mô tả ngôi đền là “biểu hiện nổi bật nhất của phong cách baroque” của kiến trúc Khmer, tương phản với phong cách cổ điển của Angkor Wat.

Sự tương đồng giữa 216 khuôn mặt khổng lồ trên tháp ngôi đền với các bức tượng khác của vuaJayavaraman đã khiến nhiều học giả kết luận rằng những khuôn mặt này chính là đại diện cho vua Jayavarman VII. Tuy nhiên, nhiều người khác lại nói rằng, đây là những gương mặt của Bồ Tát Quán Thế Âm (hay Lokesvara). Hai giả thuyết này cũng không được coi là loại trừ lẫn nhau.
Học giả George Coedès đã đưa ra giả thuyết rằng, trong số các vị quốc vương Khmer, Jayavarman luôn coi mình như là một “devaraja” (thần vua), trong khi đó, người tiền nhiệm của ông là người theo đạo Hindu và coi mình là đồng bản thể với Shiva và biểu tượng của mình Linga. Jayavarman là một Phật tử và ông đã xác định bản thể của mình tương đồng với Đức Phật và Bồ Tát..."

Mong muốn ý kiến của các CCB ta.

Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #275 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2015, 07:12:09 am »


            Chào bác chủ phuockhanh! Chào các bác!

            Đúng như xuanv338 nói bác chủ ngày càng dẻo dai, ngày càng lên tay trong việc viêc viết và kể lại những dòng ký ức của mình. Những bài viết của bác là những tư liệu, là những thước phim thật quý, thật giá trị không những cho thế hệ con cháu chúng ta học tập, noi gương, hiểu biết về một thời Cha Ông họ đã sống, đã chiến đấu để phần nào làm họ có cái nhìn khác thật khác thât thực tế nhân văn chân chính chứ không thể chỉ có " TIỀN-QUYỀN-CÙNG NHỮNG GIAN DỐI HIỆN TẠI". Ngay anh em mình cùng trang lứa cũng hiểu được đơn vị mình, đơn vị bạn những đồng đội cùng thời sống chiến đấu như thế nào. Quý quý hóa lắm bác chủ à.

            Bác chủ à, trong bài viết của bác trên có nói có kể nhiều đến các Khu Đền mà đại diện là Ăng Co Thum, Ăng Co Vát. Thực sự 2 quần thể này cũng đã có nhiều rất nhiều đoàn chuyên gia khảo cổ của trên thế giới đến để tìm hiểu. Nhưng có lẽ cũng chỉ hiểu được phần nào thôi . Nhiều, còn nhiều vấn đề đang còn ẩn chứa trong đó trong từng khuôn mặt tượng, khuôn mặt các Đấng Thần linh như bác đã nói. Chỉ có điều là khu đền lớn như vậy mà sau này bỏ hoang. Người Pháp sau đó mới phát hiện lại. Mà mới đây người ta cũng đã thống báo mới tìm ra được 1 khu Đền lớn nữa mới lạ chứ.

            Nói chung là những khu Đền đều được xây cất ngang thời nhà Trần, nhà Lý của mình như vậy là chúng có độ tưổi khoảng trên dưới 800 năm. thua xa về thời gian của Kim Tự Tháp. Thật vô cùng khâm phục một nền văn hóa, một nền khoa học thiết kế kiến trúc xây dựng cùng toán học vv.. Riêng về đá thì người ta đã thấy nơi lấy cách khoản 60-70 km chứ không phải 10 km như bác nói. Nó ở khu vực Núi Hồng thì phải.

           Còn bác nói là các bức tượng đã phần đều bị quân Pốt, Khơ me Đỏ chặt đầu thì có thể bị "oan" cho chúng. Vì dịp Tranphu341 cùng đoàn ccb sang thăm nghe họ thuyết minh là thời đó đế chế này rộng tới cả triệu km vuông. ( Hiện tại còn có 178 ngàn km vuông". Lúc đó trong khu vực còn có các vương quốc Chăm Pa và xiêm cũng rất mạnh. Những cuộc chiến qua lại. thắng thua hoán đổi. Khi quân của các nước thắng thì chúng không thể đủ sức tàn phá hết được mà chỉ đã chặt các đầu Rắn, Đầu Tượng để tượng trưng vv..

           Sơ bộ như vậy kính bác luôn khỏe!
   
Logged
phuockhanh
Thành viên
*
Bài viết: 658


« Trả lời #276 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2015, 08:03:16 am »

i.

          " Còn bác nói là các bức tượng đã phần đều bị quân Pốt, Khơ me Đỏ chặt đầu thì có thể bị "oan" cho chúng. Vì dịp Tranphu341 cùng đoàn ccb sang thăm nghe họ thuyết minh là thời đó đế chế này rộng tới cả triệu km vuông. ( Hiện tại còn có 178 ngàn km vuông". Lúc đó trong khu vực còn có các vương quốc Chăm Pa và xiêm cũng rất mạnh. Những cuộc chiến qua lại. thắng thua hoán đổi. Khi quân của các nước thắng thì chúng không thể đủ sức tàn phá hết được mà chỉ đã chặt các đầu Rắn, Đầu Tượng để tượng trưng vv..

           Sơ bộ như vậy kính bác luôn khỏe!"
   ...................................................................
[/quote]
Cảm ơn Xuan 38 và Tranphu341 sang đọc bài của Pk để lại những lời động viên ấm lòng...nhưng PK luôn nhủ là chớ có phổng mũi quá mà quên nhiều điều cần thiết ...
Tranphu 341 có tham gia cùng PK về khu đền Angco. Thực ra ngày ấy được tham quan cũng như cỡi ngựa xem hoa, chứ có ai thuyết minh đâu. Mọi người tuyền miệng cho nhau nghe thôi.
Nhưng những bức tượng nhỏ hơn người thật, mất đầu để dọc lối đi trong vòm cuốn (vòm cuốn- chắc chưa đúng danh từ đâu) chung  quanh thì trên tượng đều ghi các năm như 1833-1856, đoán là năm tạc ( trang ghi chép ngày đó). Những ngày PK đi trên đất CPC tượng ở chùa đều bị đập phá, bẻ đầu. Ở khu đền linh thiêng như Ăngco trước khi Pon-Pốt nắm quyền chắc sẽ không có chuyện tượng bị mất đầu, mà chỉ có Khme- Đỏ nắm quyền mới có chuyện chặt đầu tượng...Ở đây có khi tranphu341 hiểu sang những bức tượng khác thì phải? Sau khi có chính quyền mới điều chắc chắn là không thể để những bức tượng mất đầu thế được.
Đây là trang ngày trước PK ghi chép.

Logged
phas
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1311


một thời trận mạc ....


« Trả lời #277 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2015, 08:55:52 am »

  Angkor Wat là ngôi đền và Angkor Thom vốn là hòang thành của các triều đại xưa của người Khmer. Ang, nghĩa là người tu hành, Kor nghĩa là đất nước. Angkor là đất nước những người tu hành.

Nằm ở Tây Bắc Campuchia, Angkor, thủ đô của Đế quốc Khmer cổ đại có khả năng được lập vào khỏang thế kỷ thứ 9 sau CN bởi nhà vua Jayavarman II. Dù vậy, thành phố chỉ đạt đến đỉnh vinh quang vào thế kỷ 12 dưới triều các Vua Suryavarman II và Jayavarman VII. Công trình đẹp nhất và nổi tiếng nhất trong thành phố, ĐỀN ĐẾ THIÊN ĐẾ THÍCH, nằm cách Hoàng thành Angkor Thom do Vua Jayavarman sáng lập khỏang 1 cây số về hướng nam.

Angkor Thom với 12km chu vi, rộng mênh mông (Thom có nghĩa là lớn), là một quần thể kiến trúc độc đáo được xây dựng bằng đá chồng lên nhau không có ximăng gắn kết. Có 5 cổng thành (chiến thắng, chào mừng, ma quỷ, thiệt hại và tướng quân). Từ cổng chính dẫn vào có 2 con rồng bằng đá khổng lồ dẫn vào bên trong, bên phải có các thiên thần ôm mình rồng, bên trái có ma quỹ cũng ôm mình rồng. Cả hai đang tranh giành nước trường sinh theo truyền thuyết Đạo Hinđu. Với 39 bậc dẫn lên thiên đàng. Từ đó Nữ thần Apsara xuất hiện ban nước bất tử làm nên một huyền thoại tuyệt đẹp và là niềm tự hào trong tâm tư mỗi thế hệ dân chúng. Apsara trở thành biểu tượng cho cái đẹp cái thiện của dân Cao Miên. Có nhiều con rồng bằng đá đặt được khắp nơi. Rồng 3 đầu chỉ tam bảo, rồng 5 đầu chỉ ngũ giới, Rồng 7 đầu chỉ 7 ngày trong tuần, rồng 9 đầu chỉ bát chánh đạo. Đền Tapromh, nơi Hollywood chọn làm bối cảnh quay bộ phim “bí mật ngôi mộ cổ” với rừng cây Knia và cây Tùng có những bộ rễ bao phủ xuống những tường thành đá rêu phong cổ kính.

Đền Angkor Wat được dâng hiến cho Thần Hinđu VISNHU bởi nhà vua Suryavarman, trị vì giữa những năm 1131 và 1150 sau CN. Đền được xây trong một thời gian trên 30 năm và điển hình cho một số trong các mẫu hình đẹp nhất của nghệ thuật Khmer và Hinđu (Ấn Độ cổ).
Trải dài trên một bề mặt khoảng 81 hecta (8.100 m2), khu công trình liên hợp gồm có 5 tháp (ngày nay ta thấy nêu trên cờ tổ quốc của Campuchia). Những ngọn tháp nầy được cho là tượng trưng năm đỉnh của núi MERU, nơi ở của các Vị Thần và Trung Tâm của Thế giới Hinđu. Angkor Wat làm nổi bật bức phù điêu liên tục dài nhất thế giới,chạy dài bên ngòai các bức tường hành lang, thuật lại những câu truyện về Thần thọai Hinđu.

Đây là công trĩnh vĩ đại, làm bằng đá xếp lên nhau với 3 tầng, sức người đưa từng tảng đá từ xa đến, kỷ thuật ghép đá, nghệ thuật chạm trổ nằm ngoài sức tưởng tượng của người dân đương thời nên họ coi đây là công việc của Thượng đế. Vì thế, Angkor wat còn có tên là Đế Thiên Đế Thích. Với sự tàn lụi của Đế quốc Khmer cổ, Angkor Wat được biến thành một ngôi đền Phật giáo và liên tục được duy trì, chính điều ấy đã giúp bảo quản nó. Vào năm 1992,Ủy Ban Di Sản Thế Giới của UNESCO đã công bố công trình này cùng vời toàn bộ thành phố Angkor là di sản văn hoá thế giới.

cách đây mấy năm lúc đó kampuchia là nước chủ nhà luân phiên của khối ASEAN , lúc đó khối ASEAN họp ở phnumpenh khi đề cập vấn đề biển đông
đại diện của kampuchia nói rằng ! vấn đề biển đông để cho các nước ASEAN và trung quốc giải quyết, không yêu cầu bên ngoài , nhất là mỹ can thiệp .
tôi mang câu chuyện này nói với một vị tướng lĩnh từng chỉ huy chiến trường CPC, tôi nói rằng ! họ ( CPC )quên mất mấy vạn quận tình nguyện hy sinh
trên chiến trường CPC vì nghĩa vụ quốc tế nhanh vậy sao ? ông ta cười nói rằng ! cậu còn nhớ bức tượng đá bốn mặt ở quần thể ăngko không.....hi...hi
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Mười, 2015, 09:01:10 am gửi bởi phas » Logged

KRALANH ,CHOONGKAN, SAMRONG ,NÚI CÓC !   NHỮNG ĐỊA DANH KHÔNG BAO GIỜ QUÊN !
MỘT THỜI TRẬN MẠC !!!
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #278 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2015, 07:36:15 am »


           Vâng chào bác chủ cùng các bác!

           Những hiểu biết của anh em mình thì cơ bản như chúng ta đã nói đã bàn. Nhưng thực sự về bí mật của những khu Đền đặc biệt là Ăng co Thum, Ăng co Vát thì từng phiến đá, từng bức hình đều có được gửi gắm và đó những ý nghĩa của người kiến trúc, người họa sỹ nhà khoa học nhà tạc tượng vv.. Cho đến bây giờ các nhà nghin vứu khảo cổ cũng chưa thể liệt kê hết được.

           Các bạn có nói đây là nơi tu hành thì có lẽ không thật đúng, Theo Tranphu341 được giới thiệu khi đi thăm quan du lịch bên đó thì 2 quần thể Đền trên thực chất là cung điện của nhưng vị vua thời đó. Chung quanh quần thể đều có tường cao, có hồ rộng nuôi cá sấu bảo vệ, để chống tấn công. Trong khu Đền còn có cả nơi vui chơi như sân đấu voi, sân đấu ngựa chọi gà.

           Giaỉ thích như bạn Phas về cụm từ Ăngco Theo Tranphu341 thì đơn giản từ Ăng Co tiếng Cămpuchia dịch sang tiếng Việt là GẠO. Đất Cămpuchia chủ yếu là lúa gạo nên 2 khu đền này lấy đặc trưng gạo để đặt tên.

           Tiếp nữa là Ăng co Thum chứ không phải là THOM. Chữ THUM dịch sang chữ Việt mình là LỚN hoặc TO. Ý nói đây là khu đền lớn. Nhưng thực ra khu Đền Ăngco Thum lại nhỏ hơn Ăng co Vát. Vì Ăng co Vát xây dựng sau.

             Sơ bộ như vây. Chúc các bạn luôn vui khỏe!

           
Logged
phuockhanh
Thành viên
*
Bài viết: 658


« Trả lời #279 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2015, 10:15:26 am »

     (tiếp và hết)      Mũi tiến quân của trung đoàn là binh chủng hợp thành, có hai đại đội xe tăng và xe bọc thép, tổng 16 chiếc, xe tăng T58 thu được của Khme-Đỏ, xe bọc thép M113 của Mỹ, hai khẩu pháo 105ly và xe ô tô chở bộ binh. Không có đủ ô tô để chở bộ binh nên Tiểu đoàn 5 dự bị cùng Cơ quan hậu cần và các đại đội trực thuộc không trực tiết tham gia chiến đấu phải hành quân bộ. Mục tiêu chính là đánh chiếm phum Trích Đây.
            Bốn giờ sáng xe bắt đầu xuất phát. Đường xuyên qua những cánh rừng non, phần lớn là những rừng cây lá nhỏ như lá táo, cành và thân đều có gai nhọn dài như gai cây găng. Mới có một trận mưa đầu mùa cây đã đâm chồi nẩy lộc, lá xanh non mỡ màng, có cây đâm hoa trắng như hoa mận. Vừa tiến vừa nắm địch, nhiều chỗ ghi có địch phải dùng hỏa lực 12ly7 và pháo của xe tăng bắn dọn đường. Do đó tốc độ tiến quân chậm lại. Mãi đến trưa đến phum Cơ Ban Mu, lính Pôn Pốt đã bỏ chạy. Như vậy mới tiến quân được đoạn đường dài khoảng 25km. Tạm dừng chân cho bộ đội ăn cơm nắm. Một số chiến sỹ ra con suối gần phum lấy nước uống bị địch ở trong rừng gần bắn ra. Ngay lập tức, gần như tất cả súng 12ly7 trên xe tăng quay nòng về hướng có tiếng súng nổ nhả đạn pình… pìng vang cả khu rừng. Quân Pôn Pốt không có phản ứng gì nữa. May mà những đồng chí đi lấy nước không ai việc gì.
        Ăn cơm xong, cuộc hành quân lại bắt đầu. Khi thì cắt qua cánh đồng, khi chạy trên đường xe bò kéo cuốn bụi mù mịt. Nắng và bụi, khát nước và nhất là ngồi trên xe văng vật làm cho bộ đội mệt bơ phờ. Lúc ở Cơ Ban Mu vì bị địch bắn nên không ai ra lấy nước, khi xe dừng lại trên cánh đồng, bộ đội nhẩy ào xuống một con mương còn từng vũng nước cứ vục lấy vục để mà uống cho dỡ khát.
         Đã có lệnh trên đường tiến quân, gặp những kho thóc lúa được phép phá hủy vì e sợ quân Khme-Đỏ quay lại lấy làm lường thực để  hoạt động. Gặp phum nào là xe dừng lại cho bộ đội nhẩy xuống, cầm những bó đuốc chạy đến đốt kho và cả những ngôi nhà bỏ không. Lửa khói bốc cao tre nổ lốp bốp.
         Phum Trích Đây là mục tiêu cuối cùng trong cuộc tiến quân này. Ta đã sử dụng hai khảu pháo 105ly và pháo trên xe tăng bắn phá giữ dội. Quân Khme Đỏ không chịu nổi phải tháo chạy. Ta đã diệt và bắt sống hơn chục tên.    
         Đã là cuối tháng 4-1979, đơn vị đang tác chiến trên vùng tây bắc Căm Pu Chia, quá xa Việt Nam và trong những cánh rừng còn nhiều tàn quân Pôn Pốt hoạt động nên việc vận chuyển thực phẩm, nhu yếu phẩm gặp khó khăn. Để bảo đảm sức khỏe cho bộ đội chiến đấu trong giai đoạn gay go này, cấp trên cho phép bộ đội được nhận thịt bò, thịt lợn dân mang cho (trước đây không được phép nhận), hoặc được sử dụng lợn gà trong trại chăn nuôi tập thể khi đơn vị đánh chiếm được. Các đơn vị đóng ở đâu nếu gặp rau quả ở những phum mà dân đã bỏ lại được phép lấy để tăng thên khẩu phần ăn hàng ngày.
          Đường tiến quân của Trung đoàn vẫn bám theo trục đường 5, đã qua tỉnh Bát Tam Bang, bắt đầu sang tỉnh Pua Xát. Các mũi tiến công của toàn chiến trường đã dồn ép quân Khme-Đỏ về vùng giáp biên của tỉnh Pua Sát. Chúng co cụm về khu vực Tà Sanh,  Pai Lin.
Ngày 29-4-1979 là ngày ấn định bắt đâu mở chiến dịch tổng công kích vào sào huyệt cuối cùng của Khme-Đỏ nằm giáp biên giới Thái Lan ở Pai Lin. Lực lượng tham gia gồm có Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, Quân khu 7 và Quân khu 9. Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3, một trung đoàn có nhiều kinh nghiệm đánh luồn sâu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, được giao nhiệm vụ luồn sâu vào vùng biên giới giáp Thái Lan, chặn đường rút chạy của quân Pôn Pốt sang đất Thái Lan. Lực lượng không quân cùng tham gia chiến dịch.
          Cấp trên đã thông báo xuống các đơn vị phần thưởng dành cho chiến sỹ và đơn vị lập được thành tích suất sắc trong chiến dịch, cụ thể: Bắt được Pôn Pôt, Iêng Sa Ri hay Khiêu Sam Pon (đã phát ảnh cho các đơn vị) được thưởng 1000đồng (bằng 10 tháng lương của hàm đại úy) và một chuyến đi phép đặc biệt. Phát hiện kho thóc 100 tấn được tính thành tích tương đương diệt gọn 1 đại đội địch, 1000 tấn được tính thành tích tương đương gọn diệt 1 tiểu đoàn địch. Trung đoàn 2 của chúng tôi tham gia chiến dịch là trung đoàn thiếu, chỉ có Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 6 tham chiến. Tiểu đoàn 5 và C15 đứng chân bảo về phía sau.
          Tôi được giao nhiệm vụ ở lại phụ trách bộ phận bảo vệ phía sau. Gồm Đại đội 15 và bộ phận hậu cần của trung đoàn. Ngày hôm sau Đại đội 15 khi đi lùng sục trong rừng bắt đươc 5 lính Pôn Pốt đang đang lẩn trốn, chúng không có súng, có hai là phụ nữ. Tôi gọi chiến sỹ phiên dịch đến và cho gọi hai phụ nữ lên để hỏi. Cả hai còn trẻ, khai 20, 21 tuổi, đều mặc đồ đen, khăn rằn choàng qua vai, da lại rám nắng nên trông già hơn nhiều. Cả hai khai là ở đội say lúa của công xã. Tuy chẳng có gì kiểm chứng lời khai, nhưng xét thấy những người phụ nữ này chẳng có gì là nguy hiểm, họ chỉ là nạn nhân của chế độ Khme-Đỏ tàn bạo nên tôi thả cho họ về. Khi được chiến sỹ phiên dịch dịch lại, hai người phụ nữ đứng dạy chắp tay và nói: “o cươn!”(cám ơn). Còn ba thằng lính trông lì lợm, nó cứ nhìn chằm chằm như kiểu thách đố. Hỏi thuộc đơn vị nó chỉ nói loanh quanh. Điên tiết tôi cho trói vào ba cột của lán nhốt bò, chờ sử lý sau. Chẳng hiểu mấy cậu chiến sỹ trói thế nào, gác làm sao mà đêm một thằng tự cởi trói trốn mất. Nó trốn một mình, may là nó không cởi trói cho hai thằng kia để cùng chạy, hoặc nó mà lấy súng bắn lại thì hậu quả thật khó lường.
          Ngày hôm sau Tiểu đoàn 5 và Địa đội 15 nhận lệnh tiến theo trung đoàn. Tôi và số cán bộ ban hậu cần, bộ phận phục vụ được xe chở  ra ga Mung, một ga xe lửa trên đường sắt chạy từ Phnôm Pênh đi Bát Tam Bang. Chúng tôi ở ngay trong toa tàu khách bỏ không đang đứng ngay trên ga. Những toa tàu này rất đẹp, nhập của Pháp, sản xuất năm 1969. Dưới thời Khme-Đỏ đã bỏ không. Nhiều tiệm nghi trong toa rất đẹp đã bị đập phá. Chung quanh dân về ở khu vực này rất đông. Vẫn như những ngày đầu mở màn chiến dịch, lính Pôn Pốt chạy đi, thì dân tìm cách chạy lại. Vẫn là cảnh sống xô bồ, vạ vật, lôi thôi nhếch nhác bên ven đường và hàng ngày đi kiếm ăn, họ những nạn nhân vừa thoát khỏi địa ngục trần gian là “ công xã” của bọn Khme-Đỏ.  
         Tin chiến dịch phát triển rất thuận lợi, các đơn vị phát hiện nhiều kho súng đạn, có hàng nghìn khẩu B41 và pháo cối các loại, có cả pháo 130ly. Chiến dịch 4 kết thúc. Xe ô tô chở chúng tôi chạy trên đường 5 về trung đoàn. Bên đường, dòng người đen như đàn kiến khổng lồ bò trên đường. Lần này chúng tôi đi cùng chiều với họ. Họ mang theo xoong nồi, một vài bao thóc lúa, những thứ không thể thiếu cho cuộc sống hàng ngày. Phương tiện vận chuyển được cho là tốt nhất là xe hai bò kéo, một bò kéo, xe cải tiến kéo tay, xe tự chế vội vàng, chở được hai ba cái bao đồ, hai ba người kéo, người đẩy. Họ lấy cả mặt bàn cân bàn làm xe chuyên chở, trọng lượng bàn cân tạ bằng sắt còn nặng hơn mấy những thứ họ để ở trên. Đó là những gia đình có người là đàn ông. Cảnh khốn khổ nhất là những gia đình chỉ có phụ nữ. Không biết bao bà mẹ đầu đội bao, tay bế, tay dắt con, những đứa trẻ lớn hơn lẽo đẽo chạy theo sau. Họ đi ngày và tranh thủ trời mát đi đêm trên con đường dài hàng trăm cây số. Có người già cả quá hoặc do ốm yếu không thể tự đi được buộc phải nằm lại trong những cái lều hay căn nhà bỏ hoang ở bên đường. Họ nằn đấy chờ chết. Đây là hậu quả cai trị kiểu dồn dân của chế độ Khme-Đỏ để lại.
         Trung đoàn bộ đứng chân ở phum Tum Lênh. Nhiệm vụ của các đại đội là phái đưa từng trung đội đi lùng sục trong vùng núi, phát hiện địch lẩn trốn và nhất là kho tàng hay những nương sắn, lúa đều phải tiệt phá vì chắc chắn là vùng này dân sẽ không về đây sinh sống. Nhiệm vụ này kéo dài cả tháng trời.
         Ngày 13-6-1979 mỗi Trung đoàn của cả Quân đoàn 3 tổ chức một bộ phận đi tiền trạm chuẩn bị cho việc rút về nước, lên biên giới phía Bắc.
         Bộ phận này có gần 20 người, do Trung đoàn phó Nguyệt chỉ huy (anh Nguyệt người dân tộc), ban Tham mưu là anh Quyền, cùng anh Lữ. Cán bộ trợ lý ở tham mưu có tôi và anh Thanh Hải thông tin. Ngoài ra còn có một số trợ lý ban hậu cần cùng các chiến sỹ đi phục vụ, tôi không còn nhớ tên. Trước khi đi cán bộ và chiến sỹ tập hợp trải ny lông, xếp hết quân tư trang cho cán bộ Chính sách của trung đoàn đến kiểm tra xem có ai vi phạm chính sách chiến lợi phẩm không. Khi lên sư đoàn, trước khi lên xe cán bộ sư đoàn đến kiểm tra lần thứ hai và khi về đến thủ đô Phnôm-Pênh quân cảnh của Bộ yêu cầu mang ba lô vào trong nhà để họ kiểm tra lần thứ 3. Tất cả các lần kiểm tra không phát hiện cán bộ hay chiến sỹ vi phạm chính sách.Trên đường về nước qua các tỉnh Công Pông Xưa Pư, Công Pông Chư Năng rồi đến thủ đô Phnôm Pênh. Ở Phnôm Pênh đã thấy lác đác người dân đi lại. Trước khi rời Phnôm Pênh xe chạy vòng quanh khu Hoàng cung, vì vướng tường bao chúng tôi chỉ nhìn thấy mái ngói màu xanh, vàng rực rỡ của cung điện thấp thoáng trong lùm cây xanh tốt. Qua phà Niếc Lương, qua tỉnh Svây Riêng thì về đến Tây Ninh. Sau gần một năm xa đất nước hôm nay đoàn quân chúng tôi lại trở về đất mẹ! Trong cuộc chiến ấy đã bao đồng chí, đồng đội phải ngã xuống vì nghĩa vụ quốc tế cao cả?
          Nghỉ mấy ngày ở cứ của Trung đoàn ở Đồng Ban, dành một ngày về thị xã Tây Ninh vào Tòa Thánh Đạo Cao Đài tham quan. Chúng tôi được người sứ đạo đón tiếp chu đáo và lịch sự. Được nghe giới thiệu, vào thánh đường nghe giảng giải ý nghĩa của việc thờ một con mắt…Lâu rồi không còn nhớ nữa.
          Trên đường ra Bắc chúng tôi bị chết hụt ở đèo Cù Mông, tỉnh Bình Định. Khi xe lên đến đỉnh dốc, đã được nghỉ lại ít phút để lấy “sức” xuống đèo. Khi xe chạy thấy càng xuống dốc càng lao nhanh đến chóng mặt, gió tạt vù vù, ngồi trên thùng người cứ văng bên nọ vật bên kia thật khủng khiếp. Chẳng ai biết có chuyện gì, đến cua gấp xe đâm sầm vào tường chắn bên đường, hất tung ra vệ đường, bánh trước chồm lên đống đá bên đường và quặt vào cua, chạy theo đường khoảng hơn trăm mét thì dừng lại. Tất cả mọi người dù bi va đập đau điếng đều nhảy ào xuống hỏi lái xe nguyên nhân. Cùng lúc đó anh Quyền đẩy cửa xe, tay ôm đầu gối bò ra khỏi ca pin, ngồi bệt lên bờ cỏ nhăn nhó vì đau đớn do đầu gối đập vào cần phanh tay. Lái xe mặt tái xanh kể lại là khi mất phanh hơi, hô anh Quyên ngồi bên kéo phanh tay, do anh Quyền không biết cách kéo phanh nên xe cứ ầm ầm lao xuống. Thần cứu mạng của chúng tôi chính là cái đống đá ở đầu cua bên phải. Khi bánh xe trước trèo lên đống đá làm xe nghiêng về lòng đường, tạo thuận lợi cho lái xe đánh tay lái về đường chính, thoát khỏi lao xuống vực sâu, không chung số phận với bao xác xe còn nằm ngổn ngang ở dưới. Ngồi cho hoàn hồn một lúc lâu chúng tôi mới về trạm khách ở Diêu Trì cách đó không xa.
           Một tuần rong ruổi trên đường, ra đến miền Bắc bầu không khí chuẩn bị chiến tranh  đã thấy rõ hai bên đường, nhất là từ các tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình đã xây dựng những trận địa chiến đấu trên những quả đồi ven đường quốc lộ số 1. Tháng 8-1979 đại quân của Quân đoàn đã về đứng chân ở hai tỉnh Thái Nguyên và Lạng Sơn. Trung đoàn tôi về đóng quân ở huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn
 HẾT.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM