Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:02:39 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Re: Những chuyện không thể quên - Cười ra nước mắt (Phần 4)  (Đọc 97436 lần)
0 Thành viên và 16 Khách đang xem chủ đề.
sauchinbaymot
Thành viên
*
Bài viết: 628


Nhớ Rừng!


« Trả lời #210 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2013, 05:32:40 pm »

Gọi Hạc (14)

Ở tiểu đoàn Thu dung, mọi người dò đoán áng chừng đến cuối tháng 10 mới gom đủ quân để tổ chức một chuyến đưa vào Quảng Trị. Trong Quảng Trị, biết là quân ta đã rút sang bờ bắc Thạch Hãn từ trung tuần tháng 9 và sư 325 non trẻ giờ đã trở thành sư đoàn chịu trách nhiệm chính cho mặt trận Quảng Trị khốc liệt. Nặng nề nhưng vinh quang.

Đột ngột, sáng 13.10, tiểu đoàn thông báo: Sáng 14.10 nhóm đi vào tuyến trước sẽ lên đường. Người vui, kẻ buồn. Mấy đứa mình thở phào, thôi chấm dứt những ngày vạ vật, lêu têu ở Thu dung. Thì ra, khi tiểu đoàn Thu dung báo cáo vào sư đoàn có nhóm 9 chiến sỹ trinh sát đi học ở Cục 2 về, sư đoàn đã ra lệnh tổ chức để sớm đưa nhóm trinh sát vào mặt trận. Vì vậy, dù mới gom được hơn chục người, trong đó 9 trinh sát đã chiếm quá nửa, tiểu đoàn vẫn quyết định cho xuất quân.

Lần hành quân hướng Nam này, bọn mình hành quân theo đúng kiểu “đường giao liên”, có người dẫn đường, chia thành chặng, có trạm nghỉ, trạm ngủ rõ ràng, nhàn hạ hơn nhiều so với đoạn tự đi từ Hà Nội vào Kỳ Anh hồi tháng 9.

Từ d27 ở Kỳ Tây, đi chếch vào Kỳ Lạc, chính là nơi bọn mình đóng quân khi mới từ Hà Bắc vào hồi đầu năm, rồi xiên xiên vượt sang Quảng Bình, vượt Ròn, vượt Ranh, men chân núi mà đi. Cũng có hôm, sáng đi qua Khe Sắn ở Vạn Trạch, cả bọn bị F4 nó bổ nhào, nhưng không đúng đội hình. Sáng ấy cũng là lần đầu tiên bọn mình nhìn thấy B52, lừ lừ bay ngay trên đầu rồi "cua". Mịt mù đất đá khói lửa ở phía xa vài cây số.  

Đến chiều 30.10, mất hơn nửa tháng thì đến được Bãi Hà, thấy gọi là Khu C, trạm dừng chân cuối cùng trên đất Bắc. Khu C lọt thỏm trong những khu rừng già. Đêm lính mắc võng trên sườn núi thấp. Bọn mình được thông báo sáng 31.10 sẽ vượt sông Bến Hải. Nôn nao, hồi hộp. Nhưng thật buồn, sáng tinh mơ, trước khi xuất kích thấy Minh bần thần. Sao vậy? Minh bảo:“Đứa nào vừa lục ba lô của mình, …”. "Mất gì không?" Lính vào chiến trường thì có gì ngoài trái tim mà mất. Minh bảo: “Mất cuốn nhật ký!”. Mình hiểu. Chẳng ai có thể dùng nhật ký của người khác để sinh lời, để làm gì, có khi chỉ là tò mò, nhưng với tác giả thì nhật ký là vô giá. Buồn ghê gớm. Mình động viên Minh. Hai đứa lặng lẽ đi. Mới sáng tinh mơ. Một loạt bom nổ rất rền đâu đó, nghe tiếng vọng bùng bùng giữa bốn bề núi rừng, không rõ bom nổ hướng nào, gần hay xa. Trời sáng hẳn thì thấy những người lính cáng thương căng thẳng, gấp gáp đi ngược chiều.

Khoảng 8 giờ sáng thì bọn mình vượt sông Bến Hải, trên một quãng sông nông, nước chỉ đến ngực. Chính thức đặt chân lên Miền Nam, đất Cam Lộ. Những ngày thực sự chinh chiến đã ở ngay phía trước.    
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười Một, 2013, 09:17:30 am gửi bởi sauchinbaymot » Logged

Nhật ký Viết lại
Congairuou
Thành viên
*
Bài viết: 9


« Trả lời #211 vào lúc: 20 Tháng Mười Một, 2013, 12:45:34 am »

Hôm nay, 20/11- ngày Nhà giáo Việt Nam lại làm con nhớ đến bố nhiều hơn! Trường lớp rộn ràng, ngồi dự meeti g và cảm giác như bố đang ngồi đâu đó rất gần con! Chúc mừng bố nhân ngày 20/11, người thầy đáng kính trọng với bao thế hệ học sinh, sinh viên và các giảng viên trẻ; người thầy kính yêu nhất trong con!
Logged
sauchinbaymot
Thành viên
*
Bài viết: 628


Nhớ Rừng!


« Trả lời #212 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2013, 08:46:13 pm »

Gọi Hạc (15)


Toán Thu dung của f325 đặt chân lên đất Quảng Trị vào sáng ngày 31.10.1972. Đến trạm đón tiếp tiền phương, nhóm trinh sát sư đoàn chưa kịp đặt ba lô nghỉ đã có người của Ban 2 đến đón.
 
Quảng Trị vừa qua một mùa hè lịch sử, hãy còn nóng hầm hập Cổ Thành. Gặp lại chỉ vài khuôn mặt quen lính cũ và nhiều khuôn mặt lính mới. Tự thấy bọn mình quá non nớt, ngỡ ngàng, ngơ ngác so với đồng đội cả cũ và mới đều đã dạn dày, từng trải. Hai đứa nghe kể những chuyện người mất, người còn, trong đó có cả những chuyện đáng tự hào về Hồ Bảo, khi bọn mình chia tay ở Kỳ Lạc hãy còn lơ ngơ liên lạc, giờ đã là chiến binh vững vàng, dày dạn.
  
Chỉ một hai ngày sau, hai thằng binh địa đã được điều động ngay vào cuộc. Đơn vị đang rất cần trinh sát binh địa. Mình đi trước, lên Ái Tử, nơi e18 đối diện với Cổ Thành để điều tra vụ Thủy quân lục chiến vượt sông sang Nham Biều, còn Minh về ban 2 mấy ngày rồi bổ vào miền Tây với e95. Mỗi đứa một hướng, một việc, mỗi đứa theo một nhóm, túi bụi, chẳng còn biết tin gì về nhau, cũng chẳng ganh tỵ đứa nào “sướng” hơn đứa nào.

Mình nghĩ, khoảng thời gian ngắn ngủi từ khi vượt sông Bến Hải đến trước hiệp định Bảy Ba chính là quãng thời gian cô đặc nhất trong cả cuộc đời mình. Không ngờ, với Minh cũng vậy. Mình hiểu, dấu ấn của quãng thời gian cô đặc ấy chính là bút danh Tích Tường – Như lệ mà Minh chọn cho mình.
 
Cuối Bảy Hai, ta rút khỏi Thị xã Quảng Trị lui về phòng thủ bên bờ Bắc sông Thạch Hãn. Từ Thị xã ngược lên thượng nguồn khoảng dăm ba cây số, ta vẫn trụ lại được một dẻo đất nhỏ bên bờ Nam. Đó chính là hai làng Tích Tường và Như Lệ.

Sau này, Minh viết: “Tôi không biết tại sao không thấy ai nhắc đến Tích tường, Như Lệ cả. Mọi người chỉ nhắc đến Thành cổ. Chỉ có những lính đã chiến đấu ở thành cổ, sau lại chốt ở Tích Tường, Như Lệ mới nói rằng ở đây còn dã man hơn cổ thành”.

Sau 81 ngày đêm, Tích Tường Như Lệ là điểm nóng của mặt trận Quảng Trị. Thành Cổ Bảy Hai là nơi cả nước, cả thế giới biết đến, nơi chúng ta có quân thuộc 3 sư đoàn tham chiến đánh lại 3 lữ đoàn Thủy quân lục chiến, còn Tích Tường Như Lệ, cũng mảnh đất hẹp bên bờ Nam sông Thạch Hãn, nhưng chỉ một tiểu đoàn của e95, f325 bám trụ trước sức tấn công áp đảo của sư Dù rồi sau đó là Thủy quân lục chiến. Địch đã chiếm được Thị xã, chúng rảnh tay và muốn bằng mọi giá nhổ nốt cái gai Tích Tường Như Lệ. Ác liệt.

Đọc những gì sau này Minh viết về những tháng ngày Tích Tường Như Lệ oanh liệt, bi hùng ngay trước Hiệp định Bảy Ba, mình thấy xen lẫn chia sẻ và mến phục bạn. Minh viết:
 
"Thật là kỳ lạ ! Ôi, . . . . Đây có phải là cuộc sống ?
Không! Đây là hơi thở của cuộc chiến đấy !
Một bức tranh bằng chì với những nét kỷ hà sắc nhọn, nhạt nhòa đủ cả, . . . nhảy múa rồi tĩnh lặng, chớp lóe lên rồi bỗng đen xẫm lại. Một dòng sông và một bến bờ trĩu nặng . . ."


Không phải văn chương. Chỉ có thể là từ nhịp đập con tim của chính người lính trong cuộc.

* Trích lại bản đồ Minh mô tả đường vào Tích Tường Như Lệ cuối 72-đầu 73 http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,16167.90.html
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Mười Một, 2013, 09:06:08 pm gửi bởi sauchinbaymot » Logged

Nhật ký Viết lại
HaHoi
Thành viên
*
Bài viết: 513


« Trả lời #213 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2013, 11:10:20 pm »

Vâng, em đã vô cùng ấn tượng với đoạn văn trên và bây giờ đọc lại, lại càng nhớ anh TTNL ! Không thể quên được !
Logged
sauchinbaymot
Thành viên
*
Bài viết: 628


Nhớ Rừng!


« Trả lời #214 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2013, 10:46:39 pm »

Gọi Hạc (16)

Trong những dòng Minh viết sau này cũng như trong Nhật ký viết lại của 6971 về Hiệp định Bảy Ba đều có chung cảm giác thở phào. Dù chưa phải là hòa bình thật sự, nhưng đã chùng lại, dịu đi rất nhiều. Dù trên chốt vẫn đì đòm đôi chỗ, nhất là mạn e95, nhưng đã hết B52, hết pháo giàn, pháo bầy, pháo khoan. Và đã có những tia sáng màu xanh da trời mảnh mai dù rất mong manh, mơ hồ.
 
Dọc theo chiến tuyến, ta cũng như địch đều bố trí lại đội hình cho hợp lý. Hai trung đoàn 64 và 48 của 320 được rút ra phía sau, để lại cho 3 trung đoàn của sư đoàn 325 và trung đoàn 27 quản toàn bộ tuyến phòng ngự từ bãi cát ven biển Long Hội phía Đông, qua Nham Biều lên Đá đứng, Phương Thúy trên miền Tây, sát với khe Trai. Phía địch, 3 lữ Thủy quân lục chiến rải từ mép biển lên đến Thị xã, tiếp đến Tích Tường, Như Lệ là sư đoàn 1 thay thế sư Dù.

Sau hiệp định, đại đội trinh sát sư đoàn C20 cũng có nhiều thay đổi. Những ngày đầu, các nhóm trinh sát, các đài trinh sát độc lập hay phối thuộc với các trung đoàn rải rác khắp mặt trận Quảng Trị lần lượt kéo về hậu cứ, “chốt” ở làng Quất Xá – Cam Lộ, ven đường Chín. Đơn vị xốc lại đội hình, nhận bổ sung nhiều chiến sỹ ưu tú từ các trung đoàn về, sắp xếp lại biên chế, tổ chức học nghiệp vụ trinh sát.

Đối với bọn mình, có thể nói đấy là một quãng lặng đơn ngắn ngủi êm đềm sau dồn dập, cao trào, túi bụi những chuỗi nốt đơn, nốt kép. Trước đó, ba đứa phi công hụt cứ người Nam, kẻ Bắc, bây giờ mới lại được ở bên nhau kể từ sau khi chia tay ở Hà Tĩnh. Minh đã nhớ về những ngày đó:

“Chiều muộn, sau khi cơm nước xong TBH, SauChinBayMot và tôi thường đi dạo trên con đường làng. Con đường đất dẫn chúng tôi ra cánh đồng, đường Quốc lộ số 9 ngay kia. Mặt Trời đã khuất sau đỉnh năm bốn bốn. Ráng chiều đỏ hắt lên từ sau dãy núi. Cái núi già nguyên sinh trở nên sẫm màu thăm thẳm. Quay lại nhìn về phía làng. Một cảnh tượng thanh bình đến lạ lùng. Những dải khói lam chiều mỏng mảnh uốn lượn nhẹ nhàng bốc lên từ những mái nhà lẩn khuất sau rặng tre ngà. Lạ thật ! Sao chỉ có những buổi chiều thanh bình như thế này mới thấy màu khói lam ngăn ngắt như vậy nhỉ ?  Nhà ai đó kia?  Rặng duối rậm rạp, hàng cau cao vút. Thấp thoáng sau những cây mít là những giàn trầu biêng biếc xanh.

       TBH học hết năm 2 khoa toán ĐHSP còn SauChinBayMot và tôi cũng vừa hết năm thứ nhất khoa vật lý ĐHTH. Chúng tôi nhập ngũ cùng một ngày 6/9/1971. Mới hơn một năm thôi mà sao biết bao nhiêu chuyện. Chuyện nắng chuyện mưa, chuyện vui chuyện buồn, chuyện sống chuyện chết. Cuộc chiến ác liệt ở Quảng Trị chỉ là vài ba tháng thôi, nhào nặn chúng tôi thành những người hoàn toàn khác. Thỉnh thoảng tôi liếc ngang nhìn hai người bạn. Vẫn trẻ thế nhưng sao dày dạn, rắn giỏi, từ tốn, đĩnh đạc và bao dung. Dường như tất cả cái mãnh liệt của trai trẻ đã lẩn vào trong. Hai người bạn tôi đây đã trở nên đẹp lạ ! Nét đẹp của những người lính chiến, như những bức tượng đồng ngạo nghễ. Trong lòng tôi không khỏi không ngưỡng mộ mà thốt lên: “đẹp thật !”


Đọc lại Làng Quất Xá của Minh cứ tưởng như đang thời huấn luyện chính quy những năm Năm Tám – Sáu Hai ở ngoài Bắc:
 
“Nhà của tiểu đội tôi nằm mé gần làng, dưới một gốc cây đại thụ, lá xum xuê nhiều tầng, chỉ vài bóng nắng lấp lánh trên mái tranh. Dưới mái tranh là căn nhà âm. Mỗi thằng biết vài thứ, bảo nhau làm từ A đến Z, từ việc làm vì kèo, luồn con xỏ, chống kèo, đặt đòn tay, đặt dui, kết mè, đánh tranh, lợp mái, . . . cứ như chuyên nghiệp vậy. Chúng tôi đóng cọc xuống đất, gác các thang giường rồi đặt giát lên trên. Các tấm giát giường được ken bằng tre theo kiểu chõng. Mấy đứa còn lấy sơ vót tre đánh nhẵn bóng. Đặt lưng xuống, mát lạnh.
       Tiểu đội tôi làm xong nhà sớm. Mấy thằng nghĩ ra chuyện làm bồn hoa. Thằng Lê Văn Ngữ, dân Nam Định (không nhớ là Hải Hậu hay Xuân Trường), truyền thống cây cảnh. Nó bắt mọi người vào làng đánh duối để trồng làm tường hoa. Ở Quất xá rất nhiều nhà trồng hoa nhưng chỉ có mỗi giống hoa vạn thọ (loại hoa cúc lớn) thành ra bồn hoa của tiểu đội tôi cũng chỉ có vạn thọ. Mấy tiểu đội khác thấy vậy cũng bắt chước làm theo. Thằng Ngữ và thằng Sự rất chịu khó, nó đi nhặt phân trâu bò, đánh tơi với đất, đem đổ xuống hố để trồng mướp. Thằng Sự nó tia thấy trên gác bếp nhà chủ có mấy quả mướp giống, nó xin một quả từ bao giờ.

Ba thằng tôi bước xuống nhà âm thấy mấy đứa đang ngủ say. Căn nhà sạch sẽ mát mẻ, gọn gàng. Cơm phần chúng tôi để trên bàn giữa nhà, qua cái bàn là cái giá súng dựng ngay ngắn, tám khẩu AK báng gấp. Giá ba lô làm ở hai đầu hồi, trên cao, bốn thằng một cái”.


Cuộc sống lính cách bom đạn chỉ mấy chục ngày về thời gian, cách chiến tuyến chỉ chục cây số không gian mà êm đềm, tràn ngập yêu thương như cuộc sống của Bạch Tuyết và Bảy chú Lùn trong rừng sâu. Đọc chuyện Làng Quất Xá và chuyện Vợ chồng du kích sau này của Minh cứ tưởng như là bài thơ Việt Bắc viết bằng văn xuôi, mà còn mộc mạc, chân thành, ân tình, bình dị hơn nhiều so với lục bát. Minh nhớ tên từng người, từng đứa trẻ, thật sự chia sẻ với  những số phận Quất Xá “cười ra nước mắt”. Nhớ lại, mấy lần tranh luận gì đó với Minh về Quất Xá năm xưa, bạn lại rút điện thoại ra gọi về làng để kiểm chứng, cứ như gọi về chính quê mình.

* Chuyện XIII: làng Quất Xá: http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,17948.110.html
Logged

Nhật ký Viết lại
sauchinbaymot
Thành viên
*
Bài viết: 628


Nhớ Rừng!


« Trả lời #215 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2013, 10:21:03 pm »

Gọi Hạc   (17)

Nếu ví những ngày tháng sau Hiệp định Bảy Ba đối với bọn mình là một nốt lặng trắng thiêng liêng, quý giá mà trước và sau đó là dằng dặc, tơi bời bom pháo, hy sinh thì những ngày ngắn ngủi, đẹp đẽ ở Quất Xá mới chỉ là một nốt lặng đơn ngắn ngủn, phần lặng còn lại ở đâu đó phía trước.
 
Sau đó bọn mình phải rời Quất Xá, rời bỏ cuộc sống “Bạch tuyết và 7 chú lùn” ở ven sông Hiếu để nhích dần lên sát chiến tuyến. Ban đầu bọn mình xuôi theo sông Hiếu về phía Đông Hà, dừng lại ở một thôn ven sông, sát Đông Hà. Sau này Minh nhớ và viết là thôn Tân Định. Mình tra nhật ký và bảo Minh: Không phải Tân Định mà là Đông Định. Minh lại rút điện thoại ra gọi về Quất Xá: “Alô, Phóng hè, Anh Lê Minh nè”, rồi lúc sau Minh gật gật đầu: Đúng, Đông Định.

Ở Đông Định khoảng chục ngày, chưa ấm chỗ, bọn mình lại đi tiếp về phía thị xã Quảng Trị. Nơi dừng chân là làng Trà Liên Tây. Đây là nơi C20 sẽ ở trong dân lâu nhất, khoảng hơn 1 năm, không phải là một năm hòa bình, cũng không phải là một năm chiến tranh mà là một năm tuyệt trần, không bao giờ quên, ăm ắp những kỷ niệm dễ thương bên dòng sông Thạch Hãn trong xanh. Trà Liên Tây thành tên thứ hai của một trong ba đứa bọn mình, Trà Liên Tây thành biết bao vui buồn trong Chuyện XVI của Minh (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,17948.110.html) mà lần đọc nào mình cũng không cầm được nước mắt, dù cũng vẫn chỉ là những sự kiện chính mình cũng đã viết trong Nhật ký viết lại.
    
“Còn ít ngày nữa là được hai năm trong quân ngũ. Thế mà mới chỉ có hai năm. Hai năm biết bao nhiêu là sự, đi biết bao nhiêu là đường đất, ở biết bao nhiêu nơi chốn. Biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, bao nhiêu cười và bao nhiêu lần rơi lệ. Đời lính cứ xuyên qua ngày tháng, mải miết đi. Mấy khi ngoái lại nhìn những con đường dài đã đi qua, mấy khi nhìn thật xa về phía trước mà thấy ngày về. Ngày trở về, phải là ngày mà cuộc chiến này đã thắng. Biết là năm năm hay mười năm, . . . Thường thì chẳng khi nào hỏi mà cũng không bao giờ có câu trả lời. Nhưng mà ngày đó sẽ đến. Bất luận là lúc đó như thế nào mỗi người lính đều góp sức thúc đẩy nó đến gần hơn. Có thể biết và không biết mình có còn đến ngày đó hay không - Một triết lý tự nhiên đối với mỗi người lính - không lo lắng, không đợi chờ.

Đại đội tôi có 5 đứa cùng nhập ngũ một ngày – ngày 6/9/1971. TraLienTay hết năm 2 ĐHSP, Hà Văn Tất hết năm 2 ĐHY, Trần Văn Việt hết năm1 ĐHY. SauChinBayMot và tôi vừa hết năm một ĐHTH. Hai thằng học cùng lớp và theo nhau suốt từ ngày nhập ngũ đến nay, chuyển qua nhiều đơn vị khác nhau nhưng lúc nào cũng có đôi. Năm thằng tụ lại c20 từ tháng 1/1972 đến giờ. TraLiênTay có sáng kiến họp nhóm 6/9/71 để kỷ niệm hai năm. Ban ngày phải tập tành. TraLienTay là bê trưởng, Tất và Việt là y tá của đại đội, SauChinBayMot và tôi là a trưởng, không thể bỏ anh em để tổ chức kỷ niệm riêng được. Chúng tôi chọn buổi tối, sau giờ điểm danh để gặp nhau. Tôi đưa ra ý kiến là họp mặt trên thuyền thả trôi trên sông Thạch Hãn cho nó bí mật và lãng mạn. Tôi được phân công lo “món” thuyền. TraLienTay thì lo viết giấy mời 3 vị khách. Đó là Hùng “côn”, An “đen” và anh Thắng “quản”. Tất cả là 8 “nhân khẩu”. Đồ liên hoan thì mỗi người đóng góp một ít, ai có gì góp nấy, chỉ là đồ ngọt, nhẹ nhàng.

Giữa hai thôn Trà Liên Tây và Trà Liên Đông có một bến đò. Người chèo đò là cha con út Túy ở gần nhà tiểu đội 2 của tôi. Tôi đã nói chuyện với ông già để mượn thuyền và ông già vui vẻ cho mượn ngay vì ông rất biết tôi. Mỗi lần có dịp qua sông bao giờ tôi cũng chèo đò thay cho ông hay thay cho út Túy. Lần đầu, ông già phải dạy tôi từng động tác “bát”, “cạy” và chỉ một lần qua sông là tôi đã biết cách chèo thuyền. Nhiều lần qua sông, tay chèo tôi đã vững nên ông già rất yên tâm. Ông già có hai con thuyền, một con thuyền bằng gỗ cũ ông vẫn chở bà con sang sông bao nhiêu năm nay. Sau ngày ngừng bắn, ông kiếm được ở Ái Tử một con thuyền bằng đuya-ra sơn màu cứt ngựa. Con thuyền này có vẻ như là một chiếc xuồng máy của lính Mỹ nhưng không còn máy gắn trên đó. Được cái nó cũng rất nhẹ và lướt tốt.

Cái giấy mời mà TraLienTay làm rất cầu kỳ, bay bướm. Ngày giờ mời khách còn được cho vào một câu đố có tính chất toán học. Chả gì cũng là lính sinh viên mà lỵ. Chuyện này bác 6971 đã kể trong chuyện “Nhật Ký Viết Lại”.

Sau giờ điểm danh, mọi người đi ngủ cả. 5 thằng 6/9/71 và anh Thắng “quản” đã có mặt ở bến đò. Trăng  đã mọc ở phía bên kia bờ sông. Đêm nay là một đêm gió mát nhưng nhiều mây. Tuy vậy nhờ có trăng nên đêm khá sáng. Chúng tôi có thể nhìn ra rất xa. Làng Trà Liên Đông đen thẫm những rặng tre in hằn lên trên nền trời bàng bạc. Mặt sông cũng sáng mờ mờ, lấp lóa sóng nước. Nhìn về phía Trà Liên Tây, ánh trăng muộn đang lên nhuộm một màu xám mờ ảo. Làng xóm đã chìm vào giấc ngủ, không một tiếng gà gáy hay tiếng chó sủa. Gió hiu hiu thồi,  những cây tre đung đưa, khe khẽ phát ra tiếng kêu kẽo kẹt làm cho cảnh đêm càng thêm thanh vắng.

Chờ mãi không thấy Hùng và An đến. Mọi người quay sang phía TraLiênTay lo lắng sợ câu đố toán có làm cho hai thằng đó tính toán sai ngày giờ không. Bác TraLienTay cứ giãi bày mãi là cái bài toán ấy cho nó vui thôi chứ ai mà chằng giải ra được. Chờ lâu vẫn không thấy khách, mọi người mới trèo lên thuyền. Tôi đẩy con thuyền ra khỏi bờ rồi nhảy lên sau cùng. Tôi chèo thuyền ra đến giữa sông và thả cho thuyền trôi tự do. Đã qua mùa lũ, nước sông Thạch Hãn chỉ chảy chầm chậm.

Cũng dòng sông này, một năm trước đây đã dậy sóng ngày đêm bởi pháo kích, nhấp nhoáng lửa, ùng oàng đạn nổ và đỏ ngầu mặt nước. Doanh, bạn tôi đã bị trúng pháo đúng cái đêm 16/9 năm ngoái khi vượt từ bên Thành sang bờ Nhan Biều. Bạn đã trôi đi đâu ? Bạn về với biển ? Hay bạn nằm lại đâu đó dưới đáy sông ?. . . chơi vơi ! Mẹ đã đi tìm bạn. Nắm đất ven bờ, nơi Thành Cổ, thấm máu, giờ trở thành ngôi mộ - Trịnh Thúc Doanh.
 
Con thuyền lãng đãng trôi trên dòng Thạch Hãn. Mọi người ôn lại những kỷ niệm từ ngày nhập ngũ. Rồi chuyện Thành Cổ, Tích Tường Như lệ, Nhan Biều, Xuân An, Ái Tử, cao điểm 108, cao điểm 20, Phương Thúy, Tanh Lê, Tân Kim, Quất Xá. Thôi thì Nhã Nam, Yên Thế, Việt Yên Hà Bắc đến Kỳ Sơn, Kỳ Anh Hà Tĩnh, Quảng Trạch, Bố Trạch, Lệ Thủy, Bãi Hà, Bến Hải, . . .  Tranh nhau nói, tưởng như không bao giờ cho hết.

 Khi thuyền đã trôi đến quá thôn Trà Liên đến khúc sông rộng đã quá nửa đường tới ngã ba sông Cam Lộ (Hiếu Giang), mọi người mới bất chợt bừng tỉnh. Tôi vội chèo thuyền, ngược dòng một đoạn rất dài. Mọi người vẫn tiếp tục chuyện trò rôm rả. Không ai để ý xem con thuyền đã ngược đến đâu.

Rồi lại bất chợt, ai đó giật mình tỉnh giấc mộng mà kêu lên rằng: “Chết rồi ! Có khi gần đến An Mô rồi ! Chỉ tẹo nữa thôi là đến vùng  địch đấy !” Ai nấy đều hú vía, thót tim. Nếu tôi quá tay chèo tí nữa thì xong. Địch mà thấy thuyền đi giữa sông thì trên bờ chúng nó choang chết ngay tắp lự. Kinh Thật ! Chỉ có mình tôi là biết thuyền đang ở đâu. Nhưng mà tôi chẳng nói gì. Cứ kệ cho mọi người nghĩ thế. Sau này, chuyện đêm đó “xuýt” đi chơi vào vùng địch được ghi vào nhật ký của bác SauChinBayMot và nhiều lần ôn lại kỷ niệm này thấy vẫn hay. Ngay cả khi chỉ có hai đứa SauChinBayMot và tôi, bác ấy nhắc lại, tôi vẫn “im thin thít như thịt nấu đông”. Cứ để như vậy cho câu chuyện thêm phần thú vị. Còn với riêng tôi, lại có cái thú vì mọi người tá hỏa lên. Cớ sao phải cải chính làm gì cho mất hứng của câu chuyện nhỉ ?

Nhưng gần 40 mươi năm rồi cũng đến lúc nói ra sự thật. Sự thật cũng chẳng làm ai mất hứng nữa !

Lúc đó mọi người mải nói chuyện nên không nhìn ra xung quanh. Lúc giật mình mới tá hỏa lên tưởng đã gần địch lắm. Thật ra, con thuyền chưa đến khúc sông quẹo ở đoạn Tả Kiên. Đoạn này, sông ngoặt gấp, lòng sông có nhiều đá, khá nông và nước chảy nhanh hơn nhiều. Đến đoạn này cũng còn chán mới tới chỗ địch. Phải qua một đoạn trống dài của sân bay Ái Tử mới đến chỗ địch. Dù sao thì việc nhầm đó đem lại cảm xúc cho mọi người chứ có gì đâu mà phải đính chính. Đến bây giờ đính chính cũng đâu có muộn.

Tôi sẽ mô tả vị trí con thuyền đêm đó trên bản đồ dưới đây. Trên bản đồ, chúng tôi xuất phát từ điểm A, Để cho thuyền trôi đến điểm B. Chèo thuyền từ B đến C. Điểm D là điểm ngoặt ở thôn Tả Kiên, chỗ này nước chảy xiết hơn, dưới đáy có đá. Khi bơi lấy củi các lần thứ hai trở đi trong trận lụt hai tháng trước đó, tôi đều phải lội dọc theo đường làng đến gần điểm D mới lao ra sông. Nếu đi ngược dòng một chút nữa là chạm vào khu vực Ái Tử. Đến đây, bên bờ sông phía tây không còn làng mạc cây cối gì nữa. Lúc bơi thuyền đến điểm C mọi người tá hỏa lên. Tôi cứ để vậy cho máu lính nó bốc lên đầu một tý. Xúc cảm ấy vẫn còn giữ gần 40 năm sau mỗi khi nhắc lại.

Bây giờ mới nói ra sự thật là, . . . còn xa địch lắm !

Bác SauChinBayMot và TraLienTây tha cho tôi tội im lặng nhé ! Cái tội im lặng - “không chết người” !


Sau này, mãi sau này, một lần đi trong đoàn cựu chiến binh của Viện Khoa học về thăm chiến trường xưa Quảng Trị, khi cả đoàn đi Lao Bảo, mình đã tách đoàn, một mình xuống bắt xe máy về lại Trà Liên Tây, một ngày mưa như mưa tháng Bảy năm xưa (Bảy Ba). Và năm tiếp sau, khi bọn mình cùng đoàn cựu chiến binh Đại học xây dựng về lại Quảng Trị, mình lại làm trinh sát dẫn Minh và Hùng côn tách đoàn về lại Trà Liên Tây.  

"35 năm sau, tôi mới có dịp lần đầu về thăm lại làng Trà, một buổi trưa cuối tháng bảy năm 2009. SauChinBayMot, Hùng “Côn” và tôi nhảy xuống xe ở cuối căn cứ Ái Tử, nơi bắt vào con đường - con đường xưa. Con đường ngày nào chúng tôi đã đi để vào căn cứ khai thác vật liệu làm nhà, để tập dò gỡ mìn và chui hàng rào của căn cứ. Vậy mà đã ba mươi lăm năm.

Chúng tôi đi qua một trảng cát lẫn với đá sạn đỏ và những cây dứa dại, giữa buổi trưa chớm sang chiều. Một buổi trưa hè Quảng Trị nắng gắt và nhột nhạt. Làng Tả Kiên vẫn như xưa, vẫn con đường ngoằn ngoèo đất cát pha trộn với sạn đỏ. Vẫn những cái cây tả tơi như ngày xưa. Vẫn những ngôi nhà nhỏ, mái tôn với những đụn rơm đầu ngõ.

Khi bắt vào làng Trà, cảnh vật thay đổi hẳn bởi cây cối xanh um tùm. Con đường làng bây giờ dường như nhỏ lại vì cây cối rậm rạp hai bên, không tỉa xén. Ba thằng đi dọc đường làng vắng lặng. Hầu như không gặp ai mà cũng chẳng có con mắt nào, ở đâu đó, trong các căn nhà thấp nhỏ núp dưới bóng cây dõi theo chúng tôi. Làng Trà vẫn nghèo như ngày nào. Dường như tất cả mọi vật đều ầm ầm chuyển động, chỉ có cái làng này đứng lại, tĩnh lặng trong thế giới riêng bất biến, không suy tư, không nhòm ngó - bàng quan và thẫn thờ.

Chắc hẳn, từ cái ngày đơn vị hai mươi rời khỏi đây thì làng Trà lại chìm đắm vào cái vốn có của nó như trước những ngày có bom rơi đạn nổ trên mảnh đất này - như từ bao đời nay, vẫn vậy !".

« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2013, 10:25:03 pm gửi bởi sauchinbaymot » Logged

Nhật ký Viết lại
sauchinbaymot
Thành viên
*
Bài viết: 628


Nhớ Rừng!


« Trả lời #216 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2013, 02:58:28 pm »

"... Chúng tôi đi qua một trảng cát lẫn với đá sạn đỏ và những cây dứa dại, giữa buổi trưa chớm sang chiều. Một buổi trưa hè Quảng Trị nắng gắt và nhột nhạt. Làng Tả Kiên vẫn như xưa, vẫn con đường ngoằn ngoèo đất cát pha trộn với sạn đỏ. Vẫn những cái cây tả tơi như ngày xưa...".

Về lại Quất Xá, Đông Định không thể nào nhận ra làng xóm năm xưa. Đông Hà, Nham Biều, ... đến cả Tích Tường Như Lệ cũng vậy. Đường xá, bờ sông, nhà cửa, hàng quán đã khỏa sạch dấu vết xưa.

Nhưng lạ thay, làng Trà thì dường như không thay đổi. Vẫn thế, dường như vẫn thế. Đầu làng, tiếp giáp với Tả Kiên, bên này lối đi vẫn là gốc duối cổ thụ thân nham nhở sẹo, bốn chục năm chẳng lớn được là bao. Bên kia con đường cát vẫn sẫm xanh mà sắc ngọt những tàu dứa dại như những ngọn kiếm biêng biêng dưới nắng gắt xứ Quảng. Thạch Hãn bao dung, vẫn một mùa xanh, một mùa nâu, một mùa hiền, một mùa dữ, một bờ lở, một bờ bồi. Bạn tôi đội mũ tai bèo, đi dưới nắng gắt và nhột nhạt để về một vùng dĩ vãng. Nao nao, nao nao, "Lối xưa xe ngựa, hồn thu thảo. Nền cũ lâu đài bóng tịch dương".  
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Mười Hai, 2013, 11:30:10 pm gửi bởi sauchinbaymot » Logged

Nhật ký Viết lại
tralientay
Thành viên
*
Bài viết: 301


« Trả lời #217 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2013, 10:52:57 pm »

Cám ơn 6971. Mình đọc rất kỹ các phần Gọi Hạc. Muốn viết ít dòng về TTNL mà nghĩ chưa ra.
Thôi mình gửi tạm mấy cái ảnh làng Trà Liên Tây chụp hè năm ngoái. Mình thấy làng nhiều đổi thay. Cây cối xanh và nhiều hơn, nhiều nhà gạch nhà ngói hơn, đường làng nhiều chỗ lát bê-tông ô-tô con đi được. Tìm mãi thì cũng thấy chỗ ven sông vẫn những bụi tre nơi ngày xưa lính C20 hay tập đào hầm bí mật, và tụi trẻ con làm bè chuối bơi trên đoạn sông ngày xưa chỗ C20 tập bơi. Nhớ bạn biết bao.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Mười Hai, 2013, 06:28:43 am gửi bởi tralientay » Logged
tralientay
Thành viên
*
Bài viết: 301


« Trả lời #218 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2013, 10:59:52 pm »

Vẫn bờ sông xưa
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Mười Hai, 2013, 06:25:28 am gửi bởi tralientay » Logged
tralientay
Thành viên
*
Bài viết: 301


« Trả lời #219 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2013, 11:01:29 pm »

Ngày ấy làng Trà Liên hầu như không có trẻ thơ, chỉ có mấy chú giải phóng tập bơi ở đây.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Mười Hai, 2013, 11:30:28 am gửi bởi tralientay » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM