Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:34:13 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII  (Đọc 37141 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #30 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2016, 03:30:08 pm »


        Trước sự uy hiếp của đế quốc Nguyên Mông, Chiêm Thành không hề khuất phục. Cũng như Đại Việt, tuy nhiều lần sai sứ mang tê voi đến cống Hốt Tất Liệt, vua Chiêm Indravarman V1 nhất định không chịu vào chầu. Một trong những người kiên quyết chống lại âm mưu xâm lược của Hốt Tất Liệt là thái tử Harjit, con của Indravarman V mà thư tịch Trung Quốc gọi là Bổ đích2. Bấy giờ, vua Chiêm đã già, Harijit nắm tất cả trọng trách trong nước. Người thanh niên anh hùng đó đã không chịu lùi bước trước kẻ thù3. Sau khi đã chuẩn bị lực lượng, vương triều Chiêm Thành biểu lộ một thái độ cứng rắn hơn. Năm Nhâm Ngọ (1282). đoàn thuyền của sứ bộ Nguyên đi Xiêm gồm có vạn hộ Hà Tử Chí, thiên bộ Hoàng Phủ Kiệt và của sứ bộ Nguyên đi Mã Bát Nhi (Mābar) gồm có tuyên úy sứ Vưu Vĩnh Hiền và A Lan (Á Lan, Alan) khi đi qua Chiêm Thành, đều bị bắt giữ4.

        Nhân cơ hội đó, Hốt Tất Liệt ra lệnh xuất quân đánh Chiêm Thành. Việc các sứ Nguyên bị bắt giữ ở Chiêm chỉ là cái cớ để Hốt Tất Liệt gây chiến vì thực ra, hắn đã huy động quân đánh Chiêm Thành trước cả ngày cử sứ đi Xiêm5. Nhưng để che đậy dã tâm của mình, trước khi đoàn quân của Toa Đô lên đường Hốt Tất Liệt còn giả giọng nhân đức: “Lão vương không có tội gì, kẻ nghịch mệnh là con của y và một người man mà thôi, nếu bắt được hai người đó thì sẽ theo như việc cũ của Tào Bân6, trăm họ không giết một người7.

        Tháng 11 năm Nhâm Ngọ (2/12 – 31/12/1282), Toa Đô dẫn bính thuyền xuất phát từ Quảng Châu. Ngày 29 tháng 11 (30/12/1282) bọn chúng đến Chiêm Thành cảng8. Kinh thế đại điển tự lục chép: “Cửa cảng phía bắc liền với biển, bên cạnh có 5 cảng nhỏ, thông với Đại Châu của nước ấy, phía đông nam có núi ngăn, phía tây có thành gỗ” 9. Rõ ràng Chiêm Thành cảng là cửa Quy Nhơn ngày nay. Bấy giờ, kinh đô Chiêm là Vijaya (tức thành Chà Bàn, ở Bình Định) mà thư tịch Trung Quốc gọi là Đại Châu. Từ trong vịnh Quy Nhơn, có thể theo cửa nhánh sông, “5 cảng nhỏ”, để tiến về phía Vijaya. Phía tây của vịnh, tức là trong đất liền, quân Chàm đã xây dựng thành gỗ để ngăn chặn quân Nguyên tiến về phía kinh đô. Khi đặt chân lên đất Chiêm Thành, đoàn quân của Toa Đô đóng ở vùng bờ biển Quy Nhơn10. Từ ngày 30 tháng 11 (31/12/1282), quân Chàm tăng cường việc phòng thủ ở thành gỗ11. Bốn mặt thành gỗ dài khoảng hơn 20 dặm, trên dựng những giàn gác (lâu bằng), đặt hơn 100 cỗ pháo Hồi Hồi ba cần12. Ở phía tây cách thành gỗ 10 dặm là hành cung của vua Chiêm Indravarman tự đem đại quân đóng ở đây để ứng viện cho đội quân Chàm ở thành gỗ13. Tình hình bố phòng như vậy đã nói lên quyết tâm chiến đấu của người Chàm.

-------------
1.    Theo bi ký Chính thì vua Chiêm bấy giờ tên là Indravarman (V). Indravarman (V) tức là ông hoàng Harideva, khi lên ngôi năm 1257, lấy tên là Jaya Simhavarman, đến năm 1266 thì đổi tên là Indravarman (xem E.Aymonier: Première étude sur les inscriptions tchames. J.A. janv-fév, 1891, p.58, L. Finot BEFEO, IV. P.51). Nhưng theo thư tịch Trung Quốc thì vua Chiêm bấy giờ được chép bằng nhiều tên khác nhau. Nguyên sử q 210 Chiêm Thành truyện t.4a chép tên vua Chiêm được Hốt Tất Liệt phong làm Chiêm Thành quận vương là Thất Lý Cha Nha Tín Hợp Bát Lạt Cáp Điệt Ngõa. Kinh thế đại điển tự lục (Nguyên văn loại q.41, bản đã dẫn, t.570) lại chép là Thất Ly Cha Nha Tín Hợp Bát Lạt Ma Cáp Điệt Ngõa. Nguyên sử q.II Bản kỷ, t.9a cũng chép giống như Kinh thế đại điển tự lục chỉ khác ở chỗ chữ cáp chép thành chữ hợp. Như vậy là Nguyên sử - Chiêm Thành truyện chép sót chữ ma. Cái tên phiên âm đó có thể khôi phục thành tên tiếng Phạn (Sanskrit) là Cri Jaya Sinhavarman Mahadeva (theo Yamamoto Tatsuro: đã dẫn, t.106) hoặc Çrijaýaimhavarmaha [ri]deva (theo P. Pelliot: Mémoires sur les coutumes du Cambodge de Tcheou Ta - Kouan, Paris, 1951, pp. 107-108). Chúng ta thấy cái tên đó phù hợp với tên Jaya Simhavarman trong bi ký Chàm trước năm 1266. Như vậy là sau 1266 vua Chiêm còn dùng tên này.

        Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4a còn chép tên vua Chiêm sai sứ cống, tháng 2 năm Chí Nguyên 17 (3-3 - 31-3-1280) là Bảo Bảo Đán Nã La Da Cùng Nam Bạt Chiêm Bả Địa La Da. Kinh thết đại điển tự lục (đã dẫn) cũng chép như vậy. Về cái tên này, E.M. Durand khôi phục là Pu Pa tanā rāya (K’iong-na-pa) Champa di raja (E.M. Durand: Notes sur les Chams IX.L’Abiseka cham. BEFEO VII, 1907, pp. 345-346) G. Maspéro khôi phục là Pu pon tama rāja… Campādhirāja (G. Maspéro: Le Royaume de Champa. Paris et Bruxelles, 1928, p.175, n.II, p.253, n.7). Hai cách khôi phục đó gần giống nhau. G.Maspéro chỉ đổi chữ rāya (tiếng Chàm, nghĩa là “lớn”) thành rāja (tiếng Phạn, nghĩa là “vua”). Theo Durand, tên đó có nghĩa là “vị chúa tể của đất đai rộng lởn là Kiong-nan-pa (…), vua của Chăm-pa (Chiêm Thành)”. Theo G.Maspéro, tên đó có nghĩa “vị chúa tể của vương địa… vua của Chăm-pa”, “Pu pon tana rāya” là đoạn tiếng Chàm thường gặp trong các bi ký Chàm (xem E.Aymonier: Première étude sur les inscriptions tchames, Paris, 1891, các trang 29, 42, 51), nhưng E.M. Durand và G.Maspéro đều không hiểu, và do đó không khôi phục được ba chữ Cùng Nam Bạt

        Năm 1890, học giả Nhật là Sugimoto Naojiro (Sâm Bản Trực, Trị Lang) cho rằng thư tịch Trung Quốc đã chép lầm lẫn, đúng ra chữ nam phải đứng trước, cùng chữ cùng là chép lầm từ chữ ấn. Như vậy, Sugimoto đã chữa tên phiên âm là Bảo Bảo Đán Nã La Da Nam Ấn Bạt Chiêm Bả Địa La Da. ông đã khôi phục 7 chữ đầu là “Pu pon tana rāya nan” có nghĩa là “vị chúa tể của đất đai rộng lớn này” (nan có nghĩa là này đoạn này cũng đã gặp trong bi ký Chàm. Xem Anmonier - đã dẫn). Còn An Bạt, theo ông, là phiên âm tắt của tên In[dra]var[man], hoặc In[dra]var[madeva]. Do đó, ông đã khôi phục toàn bộ tên vua Chiêm này là Pu bon tana rāya nan Indravarmadeva Campādhi-rāia, có nghĩa là “vị chúa tể đất đai rộng lớn này là Inclravarmadeva, vua của Chiêm Thành” (xem Sugimoto Naojiro: Shinam shiraretaru Ckyampa no kokugo (quốc hiệu Chăm Pa mà Trung Quốc biết) trong Toyoshi ronso, Kyoto 1950 t.556-559). Như vậy, đấy cũng chỉ là Indravarmadeva (V) mà thôi, không phải là người khác.

        Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện và Kinh thế đại điển tự lục (Đã dẫn) đều chép tên vua Chiêm vào các năm Chí Nguyên 19 (1282) và 20 (1283) là Bột Do Bổ Lạt Giả Ngô Pelliot đã khôi phục là “ Pu Yuvarāja (P. Pelliot: Mémoires sur les coutumes du Cambodge de T cheou Ta-kouan, Paris 1951, p.1`0). Như vậy, đúng là Pulyan Crī Yuvarāia Vlom, hiệu của Indravarmadeva (V) trước khi lên ngôi trong bi ký Chàm (Xem G.Maspéro: Le Royaume de Champa, 1928, p.174).

        Tóm lại, dẫu thư tịch Trung Quốc phiên âm bằng các tên khác nhau, chúng ta đều thấy đó là tên Indravarman(V) trong bi ký Chàm.

2.   Kinh thế đại điển tự lục (bản đã dẫn) và Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện chép tên con trưởng vua Chiêm là Bổ Đích. Theo bi ký Chàm, con của Indravarman (V) là hoàng tử Harijit. Về sau làm vua tức Jaya Sinhavarman (III) (chính sử Việt Nam gọi là Chế Mân) Bổ Đích có lẽ không phải là tên mà chỉ là tiếng xưng hô. Nguyên sử q. 12 Bản kỷ t.10b chép tên vua Chiêm năm Chí Nguyên 20 (1283) là Bổ Để. Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép các tên vua Chiêm như Bố Trì (Thiên gia bảo hựu 2, 1203), Trà Hòa Bố Để (Thiệu Phong 2, 1342) (Trà Hòa Bố Để vốn làm chức Bổ Đề, Thiệu Phong 12, 1352 Bố Đề (Đại Hòa 4, 1446). Yamamoto Tatsuro cho rằng Bổ Đích, Bổ Để, Bố Trì, Bố Để, Bố Đề là phiên âm tiếng Chàm Bhopatih (Tiếng Phạ Bhūpati) có nghĩa là “vương”, “bệ hạ”. Nhưng Yamamoto cũng cho Bổ Đích có thể là do chữ pati tiếng Phạn nghĩa là “chủ”, “chúa” (Xem T.Yamamoto: On Tawālis ī described by Ibn Batūin the Memoirs of the Research Departement of the Toyo Bunko No 8, 1936, P.108; T.Yamamoto: Annam shi kenkyu I, 1950, t.112, 144). P.Pelliot lại đoán định là dịch âm từ tiếng Chăm putirai.

3.   Theo Marco Polo thì khi chống nhau với Toa Đô (mà Polo chép là Sugatu), vua Chiêm đã rất già (“que mout estoit de grant aajes”, theo bản Benedetp 1928, t.167). Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4a chép: “Con [vua Chiêm] là Bổ Đích (xem chú thích trước - T.G.) chuyên giữ việc nước, cậy hiểm không phục”. Kinh thế đại điển tự lục cũng chép tương tự.

4.   Kinh thế đại điển tự tục (bản đã dẫn, t.570); Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4a.

5.   Theo Nguyên sứ q.12 Bản kỷ t.3b-4a thì Hốt Tất Liệt điều quân Hoài Chiết, Phúc Kiến, Hồ Quảng giao cho Toa Đô đánh Chiêm ngày Mậu Tuất tháng 6 (16-7-1282), đến ngày hôm sau, ngày Kỷ Hợi (17-7-1282) mới sai Hà Tử Chí đi sứ Xiêm.

6.   Tào Bân (931-999) là tướng của Tống Thái Tổ, đánh Thục, hạ Nam Đường, không giết một người dân nào. Hốt Tất Liệt đã học được cái điển tích ấy ở tên Hán gian Diêu Xu khi hắn sắp đánh Vân Nam năm 1252. “Hoàng đệ Mông Cổ Hốt Tất Liệt sắp đánh Vân Nam, dạ yến trong quân. Diêu Xu kể việc Tống Thái Tổ sai Tào Bân hạ Giang Nam, không giết một người, vẫn để họp chợ. Hôm sau, Hoàng đệ lên yên, nói lớn: Hôm qua ngươi nói chuyện Tào Bân không giết người, ta có thể làm được như thể” (Tục tu trị thông giám, Tống kỷ q.173 (bản Trung Hoa thư cục, t.4730) - Cũng xem Nguyên sử q.158 Diêu Xu truyện, t.2a).

7.   Kinh thế đại điển tự lục (bản đã dẫn, t.570); Nguyên sử q210 Chiêm Thành truyện, t.4a.

8.   Kinh thế đại điển tự lục (Nguyên văn loại, q.41, bản đã dẫn, t.570). Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện không chép ngày quân Nguyên đến Chiếm Thành cảng.

9.   Kinh thế đại điển tự lục (bản đã dẫn, t.570). Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4a cũng chép tương tự.

10.   Kinh thế đại điển tự lục, như trên, Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4b.

11.   Kinh thế đại điển tự lục (bản đã dẫn, t.570) chép: “Bắt đầu từ ngày 30 (31-12-1282), quân Chiêm Thành dựng thành gỗ” Nguyên sử Chiêm Thành truyện không chép ngày). Vì trước đó Kinh thế đại điển tự lục và Nguyên sử đều đã nhắc đến thành gỗ và hẳn là quân Chàm đã chuẩn bị chiến đấu từ trước chứ không thể sau khi quân Nguyên đến mới dựng thành, nên chúng tôi cho rằng ngày 30, quân Chiêm chỉ tăng cường thêm việc phòng thủ ở đây, có thể là xây dựng thêm thành lũy cho kiên cố hơn, chứ thành đã có từ trước, không phải đến ngày 30 mới bắt đầu xây dựng.

12.   Nguyên văn trong Kinh thế đại điển tự lục (Nguyên văn loại q.41, bản đã dẫn, t.570) và Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4b là “Hồi Hồi tam sảo pháo”. Có người dịch là “Súng Hồi Hồi ba ngòi”. Nói đến súng và ngòi là nói đến những vũ khí xạ kích có nòng kim loại và dùng thuốc nổ. P.Pelliot cũng cho rằng “Hồi Hồi pháo” (p’ao musulmans) là đại bác (canon) có dùng thuốc nổ (b) Pelliot: Mémoires sur les coutumes du Cambodge de Tcheou Ta Kawan, Paris, 1951, p.118). Thực ra không phải như vậy, chữ “pháo” thời Tống Nguyên là chỉ máy bắn đá, đến giữa đời Minh mới dùng chữ “pháo” với nghĩa là hỏa khí xạ kích hình ống. Như trong Vũ kinh tổng lục (Tăng Công Lượng và một số người khác soạn năm 1044). “Hỏa pháo” cũng chỉ là một thứ máy bắn đá bắn các chất cháy (xem L. Carrington Goodrich and Fêng Chia-shêng: The Early Development of Firearms in China trong Isis, vol. XXXVI, pt.2, No104, Jan.1946; Phùng Gia Thăng: Hỏa dược đích phát minh hỏa Tây truyền, Hoa Đông nhân dân xuất bản xã, 1954). “Hồi Hồi pháo” cũng là một loại máy bắn đá. “Hồi Hồi pháo” còn gọi là “Tây Vực pháo” hay “Tương Dương pháo” trong các thư tịch đời Nguyên vì loại “pháo” này do những người Hồi giáo ở Tây Á chế tạo và dùng trong khi quân Mông Cổ vây thành Tương Dương của Nam Tống. Theo Nguyên sử q.203 A Lão ngõa Đinh truyện và Diệc Tư Mã Nhân truyện t.5b-6a, thì vào năm 1271, Hốt Tất Liệt đã sai sứ đến Ba Tư, bấy giờ dưới quyền thống trị của hãn Mông Cổ A-ba-ga (Abaga), để mời một số thợ chế tạo “pháo”. A-ba-ga đã cử hai người Hồi giáo là A-la út Đin (‘Ala ud-Din, A Lão ngõa Đinh) và I-xma-in (Ismāmīl, Diệc Tư Mã Nhân) đến Đại Đô (Bắc Kinh) coi việc chế tạo pháo. Những cỗ “pháo Hồi Hồi" này được dùng trong các trận tấn công Tương Dương và Phàn Thành. Theo Nguyên sử q.7 Bản kỷ t.10b-11a thì tháng 12 năm 1272 “người Hồi Hồi là Diệc Tư Mã Nhân (Ismāmīl) sáng chế “cự thạch pháo”, đem dâng, dùng ít sức mà bắn rất xa, vua sai dùng ở mặt trận Tương Dương”. “Hồi Hồi pháo” là “cự thạch pháo” nghĩa là pháo bắn những viên đá lớn. Theo Diệc Tư Mã Nhân truyện thì những viên đá đó nặng 150 cân và chìm xuống đất 7 thước (Nguyên sử q.203, t.6a). Trịnh Tư Tiêu (1239-1316) trong Tâm sử (q.2, t.71a) có mô tả “Hồi Hồi pháo”. Ông nói rằng Hồi Hồi pháo “được chế tạo ở các nước Hồi Hồi “Hồi giáo” và có sức công phá hơn các “pháo” thường. Cái dàn làm bằng những khúc gỗ lớn đóng xuống đất. Những viên đá bắn đi lớn đến mấy thước và khi rơi xuống, chôn sâu đến ba bốn thước”. Như vậy, “Hồi Hồi pháo” rõ ràng là mây bắn đá, chưa phải là súng có nòng kim loại và thuốc nổ. “Sảo” tức là cần gỗ đặt trên giá, các viên đạn treo vào đấy. Vũ kinh tổng yếu tiên tập (của Tăng Công Lượng đời Tống, bản in niên hiệu Chính Đức (1506-1522) đời Minh có vẽ các “đơn sảo pháo”, “song sảo pháo”, “ngũ sảo pháo” (q.12. t.36a-42b). Kinh thế đại điển tự lục, mục Quân khí (bản đã dẫn, t.592) chép rằng quân Nguyên có pháo 15 “sảo”, 9 “sảo”, 7 “sảo”, 5 “sảo”, 3 “sảo”. Người Chàm bấy giờ có pháo Hồi Hồi có lẽ là do buôn bán với người A Rập.

13.   Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.570; Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.4b.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #31 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2016, 04:04:47 pm »


        Trước khi tấn công và đồn lũy của Chiêm Thành, cũng như trọng tất cả mọi cuộc chiến tranh xâm lược khác, bọn tướng Nguyên đã sai sứ dụ hàng. Bọn chúng tưởng rằng binh lực mạnh mẽ của mình có thể làm cho đối phương khiếp sợ. Nhưng đô trấn phủ Lý Thiên Hựu và tổng bả Giả Phủ theo lệnh của Toa Đô bảy lần đến gặp vua Chiêm bảy lần thất bại trở về1. Quân dân Chiêm Thành không đời nào chịu hạ vũ khí trước kẻ thù. Sau khi bọn Lý Thiên Hựu và Giả Phủ đi sứ không có kết quả, tên sứ Nguyên đi chiêu dụ nước Chân Lạp và Xu-lay-man (Sulaymān) xin Toa Đô đi dụ hàng vua Chiêm lần nữa2. Ngày 18 tháng 12 (18/l/1283), Xu-lay-man cùng với Lý Thiên Hưu và Giả Phủ lại đến doanh trại vua Chiêm nhưng bọn này chỉ mang được về bức thư của Indravarman trả lời rằng đã xây dựng thành gỗ, chuẩn bị giáp binh, hẹn ngày quyết chiến3.

        Trước thái độ bất khuất của Chiêm Thành. Toa Đô chần chừ chưa dám tiến quân. Mãi đến ngày 15 tháng giêng năm Quý Vị (Chí Nguyên 20, 13/2-12/3), Toa Đô mới ra lệnh cho binh thuyền xuất phát. Vào nửa đêm, quân Nguyên chia ra làm ba mũi tiến về phía thành gỗ Chiêm Thành. Mũi thứ nhất do an phủ sứ Quỳnh Châu Trần Trọng Đạt, tổng quản Lưu Kim, tổng bả Lật Toàn chỉ huy, đem 1.600 quân đi đường thủy tiến vào phía bắc thành gỗ. Mũi thứ hai do tổng bả Trương Bân, bách hộ Triệu Phùng4 chỉ huy, đêm 300 quân đánh vào doi cát phía đông. Còn  mũi chủ yếu do Toa Đô tự chỉ huy, gồm 3.000 quân, chia làm ba đường5 tấn công vào mặt nam thành gỗ. Quân Nguyên phải vật lộn với sóng gió cho đến sáng mới vào được tới bờ. Số thuyền bị vỡ mất đến 7, 8 phần 106.

        Giặc vừa tới, quân Chàm liền mở cửa nam thành gỗ ra nghênh chiến. Cờ trương trống thúc, mấy chục voi và hơn vạn người hùng dũng xuất trận7. Quân Chàm cũng chia làm ba để đối phó với ba đội quân mặt nam này của Toa Đô. Tên qua đạn lại, trận đánh diễn ra mỗi lúc một ác liệt. Quân Chàm chiến đấu rất dũng cảm. Suốt buổi sáng thế giằng co vẫn duy trì, nhưng đến trưa, quân Chàm không giữ vững được trận địa. Cửa nam bị vỡ, cánh quân Toa Đô tràn vào. Từ bên trong cánh quân này đánh ra phối hợp với hai cánh phía bắc và phía đông. Chẳng mấy chốc quân Nguyên hoàn toàn thắng thế. Mấy nghìn người Chàm bị hy sinh. Quân giữ thành và tiếp lương đến mấy vạn người đều rút lui8. Thành gỗ lọt vào tay giặc.

        Thành gỗ này là cứ điểm đầu tiên của người Chàm đồng thời cũng là nơi tập trung khá nhiều quân sĩ tinh nhuệ và vũ khí. Thành gỗ thất thủ là một tổn thất lớn đối với Chiêm Thành. Do đó, sau lần đọ sức đầu tiên này, vua Chiêm thấy chưa thể ứng chiến ngay với quân Toa Đô. Vì thế, vừa được tin thành gỗ mất, Indravar-man bỏ hành cung, rút tất cả lực lượng vào núi. Trong khi rút lui, lương thực không chuyển vận kịp, vua Chiêm đã cho đốt tất cả các kho để khỏi lọt vào tay giặc. Cũng vào giờ phút đó, vua Chiêm ra lệnh xử tử Vưu Vĩnh Hiền và A Lan9. Hành động đó biểu thị lòng căm thù giặc và ý chí kiên quyết của Inđravarman và quân dân Chàm. Vua Chiêm và triều đình rút lui vào núi là để tiếp tục cuộc kháng chiến, nhưng bề ngoài, vua Chiêm tìm mọi cách làm cho Toa Đô tin rằng mình đã mất hết dũng khí không dám chống lại quân Nguyên nữa, có như thế mới đủ thời gian chuẩn bị lực lượng.

        Ngày 17 tháng giêng âm lịch (12/2/1283), Toa Đô chấn chỉnh đội ngũ tiến đánh Đại Châu tức kinh đô Vijaya (Chà Bàn) của Chiêm Thành. Ngày 19 tháng giêng (17/2/1283), Vua Chiêm sai sứ đến gặp Toa Đô “xin hàng”. Ngày 20 (18/2/1283), quân Nguyên tiến đến phía đông nam Vijaya, Toa Đô cho sứ Chiêm trở về. Tên tướng Mông Cổ nói rằng nếu vua Chiêm hàng thì sẽ “tha tội”(!). Ngày 21 (19/2/1283), quân Nguyên tiến vào kinh đô Chiêm Thành. Bấy giờ quân đội Chàm đã rút hết vào vùng rừng núi phía tây bắc. Vijaya bỏ trống, vì thế Toa Đô đã dễ dàng chiếm đóng đô thành này. Vua Chiêm lại sai Bác Tư Ngột Lỗ Ban Giả10 đến gặp Toa Đô, nói rằng ông ta phụng vương mệnh đến hàng, còn quốc chủ và thái tử sẽ đến sau11. Toa Đô sai người đem hịch đi “triệu” vua Chiêm đến. Trong khi đó, Toa Đô lại kéo quân ra đóng ở ngoài thành Vijaya12. Có lẽ hắn lo sợ khi đóng quân trong một tòa thành trống nên vừa kéo vào đã kéo ra đóng ở bên ngoài như thói quen của quân đội Mông Cổ13. Ngày 23 (21/2/1283), vua Chiêm sai cậu là Bảo Thoát Thốc Hoa14 đi với hơn 30 người, mang 100 tấm vải tạp bố(15), 3 đĩnh bạc lớn, 57 đĩnh bạc nhỏ, 1 vò bạc vụn và 1 ngọn dáo chín dóng làm bằng vàng lá, đến nói với Toa Đô rằng: “Chúa nước tôi muốn đến nhưng đang ốm chưa đi được nên trước hết sai đem ngọn dáo của mình lại để tỏ lòng thành, còn con trưởng là Bổ Đích (tức Hanjit - T.G). hẹn ba ngày nữa xin đến ra mắt16.


Chiến sĩ Chiêm Thành thế kỷ XII - XIII

--------------
1.    Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.570; Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.4b.

2.   Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.4b. Tên viên sứ đi Chân Lạp, Chiêm Thành truyện phiên âm là Tốc Lỗ Man, tức Sulaymān, đấy là một tên Hồi giáo.

3.   Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.4b. Chiêm Thành truyện không chép rõ ngày, đây là theo Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t 570.

4.   Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.570 chép là Phùng; Nguyên sử q 210 Chiêm Thành truyện, t.4b chép là Đạt.

5.   Kinh thế đại điển tự lục, chép là hai đường, Chiêm Thành truyện chép là ba đường. Chúng tôi cho là Chiêm Thành truyện chép đúng vì sau này quân Chàm cũng chia làm ba đội ứng chiến.

6.   Theo Kinh thế đại điên tự lục, đã dẫn và Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, đã dẫn. Quân Nguyên đã tiến quân đường thủy để tấn công thành gỗ, có lẽ quân Nguyên đóng ở vùng cửa Quy Nhơn và đã cho thuyền tiến ở trong vịnh Quy Nhơn, lên phía bắc để đánh vào các mặt thành gỗ.

7.   Đây là theo Kinh thế đại điên tự lục và Nguyên sử Chiêm Thành truyện. Nguyên sử q.29 Toa Đô truyện t.7b chép là 20 vạn, hẳn là phóng đại để đề cao công Toa Đô.

8.   Theo Kinh thế đại điển tự lục và Nguyên sử Chiêm Thành truyện thì mấy vạn quân Chàm tan vỡ hết, nhưng căn cứ vào chỗ sau này lực lượng kháng chiến của Chiêm Thành phục hồi nhanh chóng, chúng ta có thể suy đoán rằng ở trận này, sau lúc đầu giao tranh quyết liệt, thấy đuối sức, quân Chiêm đã rút lui chứ không phải hoàn toàn tan vỡ hết.

9.   Đoạn này theo Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.570, Nguyên sử q 210 Chiêm Thành truyện, t.4b.

10.   Trong chương này, có một số tên Chàm, chúng tôi không thể khôi phục lại nguyên tiếng Chàm, đành để nguyên tên phiên âm của thư tịch Trung Quốc, đọc theo âm Hán Việt.

11.   Theo Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.571.

12.   Kinh thế đại điển tự tục, bản đã dẫn, t.571 chép: “Quân ta lại đóng ở ngoại thành”, Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.4b cũng chép: “Quan quân lại đóng ở ngoài thành”.

13.   Từ Đĩnh sứ Nam Tống đi Mông Cổ đã ghi lại trong Hắc Thát sự lược rằng: “Thấy người Thát (tức người Mông Cổ - T.G.) chưa hề đồn trú trọng binh ở trong thành. Đi qua các quận huyện phía nam và phía bắc sông Hoàng Hà, trong thành tuyệt không có một tên lính, chỉ ở thôn xóm ngoài thành là có người ngựa canh gác. Quân đóng rải rác, nếu thấy động gió bụi nổi lên, thì kỵ sĩ canh gác gọi nhau, sục sạo bơn phía, nếu biết được sự thực thì cấp báo cho đầu mục” (bản in Giang Tô 1903, t.9b).

14.   G.Maspérọ đoán là lên tiếng Phạn Bhadradeva (Le Royaume de Champa, 1928, t.179), nhưng chúng tôi thấy không chắc chắn lắm.

15.   Theo Kinh thế đại điển tự lục, Nguyên sử - Chiêm Thành truyện, chép là 200 tấm.

16.   Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.571, Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.5a.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #32 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2016, 04:17:14 pm »


        Bấy giờ Toa Đô muốn thấy ngay mặt kẻ đầu hàng, không bằng lòng những đều kiện trên. Hắn trả lại - hoặc vờ trả lại - các lễ vật của vua Chiêm. Bảo Thoát Thốc Hoa cố nài, nói rằng nếu không nhận là khinh rẻ nước Chiêm. Trước những lời lẽ đó của Bảo Thoát Thốc Hoa, Toa Đô bảo là hãy tạm nhận để rồi tâu về triều. Thế là bước đầu của kế hoạch trá hàng đã thực hiện được. Nhưng muốn để cho tên tướng Mông Cổ tin hơn, Bảo Thoát Thốc Hoa còn phải dùng nhiều mưu kế khác. Ngày 29 (27/2/1283) 1, Bảo Thoát Thốc Hoa lại đến chỗ Toa Đô. Lần này, ông dẫn theo người con thứ tư và người con thứ năm của vua Chiêm2. Ông nói: “Trước kia [vua Chiêm] có 10 vạn quân nên mới dám gây chiến, nay tất cả đều thua tan hết. Nghe những tên lính bại trận trở về nói rằng Bổ Đích (tức Hanjit - T.G.) bị thương đã chết. Quốc chủ bị tên bắn trúng vào má nay đã đỡ nhưng còn hổ thẹn và sợ hãi chưa dám đến yết kiến. Vì thế nên sai hai con đến trước để bàn việc vào cửa khuyết bệ kiến (chỉ việc về triều Nguyên - T.G.)” 3. Bảo Thoát Thốc Hoa tưởng rằng việc đưa hai người con vua Chiêm đến làm con tin sẽ làm cho Toa Đô tin hơn. Nhưng viên tướng Mông Cổ này chẳng phải tay vừa, hắn không tin hai người đó đúng là con vua Chiêm nên không nhận làm con tin. Hắn cho tất cả trở về và đòi vua Chiêm phải đến hàng sớm. Xảo quyệt hơn, Toa Đô lại mượn cớ thăm bệnh vua Chiêm, sai thiên hộ Lâm Tử Toàn, tổng bả Lật Toàn, Lý Đức Kiên cùng đi với Bảo Thoát Thốc Hoa và hai hoàng tử Chiêm (có thể là hai hoàng tử giả. Rõ ràng Toa Đô cho ba tên này đi là để do thám tình hình Chiêm Thành. Bị bắt buộc dẫn kẻ thù vào căn cứ của mình, Bảo Thoát Thốc Hoa ở vào một tình thế khó xử, một mặt phải tìm cách ngăn chúng lại, để chúng không biết đường đi lối lại và tình hình chuẩn bị trong căn cứ địa, một mặt phải làm thế nào kế hoạch trá hàng trước đây không bị lộ. Nhưng con người mưu trí Bảo Thoát Thốc Hoa đã thoát được tình thế đó. Một kế hoạch mới được vạch ra. Ngày 30 (28-2-1283), hai hoàng tử Chàm giữa đường bỏ về trước4. Hẳn là hai người đó theo kế hoạch của Bảo Thoát Thốc Hoa về trước để báo cho vua Chiêm tìm cách đối phó. Vì thế, khi bọn Lâm Tử Toàn theo Bảo Thoát Thốc Hoa đi vào núi chừng hai dặm đường thì vua Chiêm sai người ra ngăn lại. Như vậy là bọn sứ Nguyên không thể vào được căn cứ của người Chiêm. Nhưng trong tình hình đó, Toa Đô có thể phát hiện ra rằng những việc giao thiệp của Chiêm Thành với hắn chỉ là mưu kế trá hàng và hắn có thể đem quân tấn công ngay trong khi Chiêm Thành còn cần một thời gian nữa để chuẩn bị lực lượng chiến đấu. Bảo Thoát Thốc Hoa đã khôn khéo kịp thời thay đổi chiến thuật ngoại giao. ông đổ tội “lật lọng” cho vua Chiêm và vờ như mình muốn làm tay sai cho Toa Đô Sau khi bọn sứ Nguyên bị ngăn lại, giữa con đường núi đó, Bảo Thoát Thốc Hoa đã nói với viên thiên hộ Lâm Tử Toàn: “Quốc chủ dùng dằng không chịu ra hàng, nay lại phao lời là muốn giết tôi, ông hãy về thưa với tỉnh quan (chỉ Toa Đô - T.G.) rằng quốc chủ đến thì đến, không đến thì tôi sẽ bắt đem nộp” 5. Bọn Lâm Tử Toàn quay về doanh trại quân Nguyên, còn Bảo Thoát Thốc Hoa thì về căn cứ của mình, hẳn là để bàn định với vua Chiêm và thái tử Harijit những kế hoạch mới. Ngày hôm đó, vua Chiêm sai giết bọn Hà Tử Chí, Hoàng Phủ Kiệt hơn một trăm người, có lẽ là để đề phòng chúng trốn thoát làm lộ kế hoạch chống giặc của Chiêm Thành.

        Ngày 8 tháng 2 (8/3/1283), không quản gian nguy, Bảo Thoát Thốc Hoa lại lặn lội đến doanh trại của Toa Đô. Dám làm như vậy là vì ông tin tưởng vào kế hoạch mới, vào tài biện thuyết của mình và hơn hết cả là vì ông có một tấm lòng yêu nước nồng nàn. ông đã tìm cách làm cho Toa Đô tin rằng mình thật sự muốn trở thành tay chân của hắn. ông nói: “Cha ông chú bác tôi ngày trước đều làm quốc chủ, đến anh tôi thì bị Bột Do Bố Lạt Giả Ngô (Pu Yuvaraja, tức Indravarman V, xem chú thích trên - T.G.) hiện nay giết rồi cướp ngôi. Hắn lại chặt hai ngón cái ở tay trái và tay phải của tôi. Tôi thật rất oán hắn. Xin đi bắt cha con Bột Do Bố Lạt Giả Ngô, Bổ Đích (tức Harijit - T.G.) và Đại Bạt Tản Cơ Nhi đem dâng” 6. Ông còn xin được cấp quần áo “Đại Nguyên” để mặc lúc đi chiêu dụ người Chiêm. Câu chuyện về mối cừu thù giữa Bảo Thoát Thốc Hoa và vua Chiêm không rõ có thật hay chỉ là điều bịa đặt để đánh lừa Toa Đô, nhưng nếu có thì mối thù đó đã xóa bỏ và trước sự xâm lược của quân Nguyên, Bảo Thoát Thốc Hoa vẫn là người con trung thành của dân tộc Chàm và là người thân tín của Indravarman7.

        Toa Đô vẫn thành thạo trong mưu chước đem đanh lợi mua chuộc những tên phản quốc ở các nước bị chinh phục. Hắn đã tin Bảo Thoát Thốc Hoa đưa áo mũ Nguyên cho ông, “phủ dụ” rồi để ông trở về.

---------------
1.    Theo Kinh thế đại điển tự lục, còn Nguyên sử Chiêm Thành truyện, không chép rõ ngày.

2.   Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.5a chép tên người con thứ tư của vua Chiêm là Lợi Thế Ma Bát Đô Bát Đức Thích, Kinh thế đại điển tự lục bản đã dẫn, t.571 chép chữ đức làm chữ đích. Tên người con thứ năm thì Chiêm Thành truyện chép là Thế Lợi Ấn Đức Thích. Kinh thế điển tự lục lại chép là Lợi Thế Ấn Đức Thích. Chúng tôi cho rằng tất cả các chữ thích đều là chép nhầm từ chữ lạt. Và như vậy, tên người con thứ năm theo Chiêm Thành truyện phải là Thế Lợi Ấn Đức Lạt. Chúng ta dễ dàng thấy đây là phiên âm tên tiếng Phạn Crī. Indra. Kinh thế đại điển tự lục chép Thế Lợi thành Lợi Thế là nhầm. Và như vậy, tên người con thứ tư bắt đầu cũng là Thế Lợi chứ không phải Lợi Thế. Ba chữ cuối, Bát Đức Lạt, có thể nhận được là phiên âm tiếng Phạn Bhadra. Ba chữ giữa, chưa rõ. Như vậy, tên người con thứ tư là Crī [Ma-ba-tu?] Bhadra.

3.   Kinh thế đại điển tự lục, t.571, Nguyên sử q.210 t.5a.

4.   Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.571, Nguyên sử Chiêm Thành truyện, không chép ngày.

5.   Kinh thế đại điển tự lục, t.571, Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.5a.

6.   Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.5a. Kinh thế dại điển tự luc, bản đã dẫn, t.571, chép là Thái Bạt Tản Cơ Nhi. Chưa rõ tên tiếng Chàm của người này, hẳn là một quan chức cao cấp trong triều đình Chiêm.

7.   Dựa vào câu nói trên của Bảo Thoát Thốc Hoa và vào chỗ Bảo Thoát Thốc Hoa là cậu của vua  chiêm hiện tại cũng như dựa vào một số bi ký Chà, G. Maspéro dựng phổ hệ của gia tộc đó như sau:


        (xem Le Royaume de Champa, 1928 t.173).

        Phổ hệ này chỉ đúng khi câu chuyện mà Bảo Thoát Thốc Hoa kể là có thật. Không có một tài liệu nào khác chứng minh điều đó.
[/color]
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #33 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2016, 04:24:41 pm »


        Ngày 15 tháng 2 (15/3/1283), Bảo Thoát Thốc Hoa lại trở lại doanh trại Toa Đô với mục đích thực hiện nốt bước cuối cùng trong kế hoạch của mình. Lần này ông dẫn năm người gồm có tể tướng Báo Tôn Đạt Nhi, đại sư Toát Cập,… “ra hàng” 1. Ông tưởng rằng đưa một số đại thần đến như vậy thì có thể dễ đánh lừa Toa Đô. Nhưng ác thay, tình thế lại không diễn ra theo ý muốn của ông. Trong lúc ông trở về gặp Indravarman và Harijit để bàn định kế hoạch thì ngày 13 tháng 2 (13/3/1283) có một số người Trung Quốc trú ngụ ở Chiêm Thành đứng đầu là Tăng Diên đã đến được trại của Toa Đô. Tăng Diên nói rằng vua Chiêm hiện ở núi Nha Hầu phía tây bắc Đại Châu (kinh đô Víjaya), tập hợp quân đội hơn ba nghìn người và đang cho gọi quân ở các quận khác về để sắp sửa phản công, vì sợ kiều dân Trung Quốc tiết lộ bí mật nên đã đem giết hết, bọn Diên biết nên trốn thoát2. Toa Đô liền sinh ra nghi hoặc. Vì thế nên đến ngày 15 (15/3/1283) vừa thấy mặt Bảo Thoát Thốc Hoa là Toa Đô cho gọi ngay Tăng Diên ra đối chất. Trong giờ phút nguy hiểm bất ngờ đó, Bảo Thoát Thốc Hoa rất bình tĩnh. Người thuyết khách vô cùng mưu trí đó đã vặn lại Tăng Diên và bảo với Toa Đô rằng bọn Diên là kẻ gian, hãy trói ngay lại, chứ quân đội của vua Chiêm đã tan vỡ hết còn đâu mà dám đánh nữa. Trước thái độ và lý lẽ của Bảo Thoát Thốc Hoa, Toa Đô đã tin theo. Không bỏ lỡ cơ hội, Bảo Thoát Thốc Hoa tiếp tục hoàn thành kế hoạch của mình. ông nói với Toa Đô rằng nay còn 12 châu quận nữa chưa hàng phục, xin mỗi châu sai một người đến chiêu dụ. Ông đề nghị Toa Độ và an phủ sứ Trần Trọng Đạt cùng với ông, mỗi bên cử một người đi thuyền theo đường thủy đến Cựu Châu (Quảng Nam) 3 để chiêu dụ và đánh chiếm vùng đó. Còn về mặt bộ, ông đề nghị Toa Đô, Trần Trọng Đạt cùng với ông “đi bắt quốc chủ, Bổ Đích và đánh thành” 4 Đó là một kế hoạch rất khôn khéo của Bảo Thoát Thốc Hoa nhằm phân tán lực lượng của Toa Đô cũng như đưa hắn vào bẫy.

        Toa Đô vẫn không hay biết tý gì. Tin lời Bảo Thoát Thốc Hoa, ngay ngày hôm đó, hắn điều một nghìn quân ra đóng ở tháp Bán Sơn5. Đồng thời hắn sai Lâm Tử Toàn, Lý Đức Kiên đem một trăm quân theo Bảo Thoát Thốc Hoa tiến về hướng Đại Châu (Vijaya) để đánh vua Chiêm. Hắn còn dặn toán quân này nếu gặp nguy thì báo cho quân ở tháp Bán Sơn đến cứu.

        Bảo Thoát Thốc Hoa, dẫn bọn Lâm Tử Toàn đến phía tây thành Vijaya thì bỏ mặc bọn chúng ở đó, đi tắt ra cửa phía bắc, cưỡi voi vào núi. Đến đây giai đoạn trá hàng của Chiêm Thành đã chấm dứt. Trong một tháng trời hòa hoãn, Chiêm Thành đã có thì giờ để củng cố lại lực lượng. Indravarman và Harijit đã xây dựng căn cứ ở núi Nha Hầu phía bắc Vijaya. Đó là một thành gỗ nằm giữa khoảng rừng sâu núi hiểm. Số quân tập trung ở đây khá lớn. Theo lời một người Chàm mà bọn Lâm Tử Toàn đã bắt được thì số quân đó đã lên tới hơn hai vạn. Đó là chưa kể số quân ở Tân Đa Long (Panduranga) tức Phan Rang ngày nay) và Cựu Châu (Quảng Nam) mà vua Chiêm đã cho gọi nhưng chưa đến nơi. Indravar-man còn sai sứ đi xin viện binh của Đại Việt, Chân Lạp và Đồ Bà (Java). Có lẽ Đại Việt đã phái quân sang giúp Chiêm Thành. Sau này, năm 1284, nhà Nguyên có trách Đại Việt đã giúp Chiêm Thành 2 vạn quân và 500 chiến thuyền6.

-------------
1.    Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.5b chép là Báo Tôn Đạt Nhi và Toát Cập. Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.571 chép là Bảo Tôn Đạt Nhi và Triệt Cập. (báo và bảo gần âm, toát và triệt gần tự dạng). Kinh thế đại điển tự lục không chép rõ Triệt (hay Toát) - cập là đại sư như Nguyên sử. Những đại thần Chiêm Thành này có lẽ cũng là giả.

2.   Kinh thế đại điển tự tục, bản đã dẫn, t.571. Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.5b. Người Trung Quốc ở đây, các sách trên chép là Đường nhân. Chư phiên chí chép rằng Đường nhân bị thổ nhân (chỉ người Chàm - T.G.) giết hại thì (nhà nước) truy tìm người giết, bắt đền mạng (bản Nhật Bản 1914, t.2a). Như vậy chúng ta biết rằng bấy giờ ở Chiêm Thành có nhiều người Trung Quốc ở và pháp luật Chàm thế kỷ XIII bảo vệ tính mạng họ. Đến khi Nam Tống bị Mông Cổ tiêu diệt, nhiều quan lại Tống cũng chạy sang Chiêm Thành. Sách Trạc anh đình bút ký chép: “Tống mạt, Thẩm Kính Chi sang Chiêm Thành xin quân để khôi phục, Chiêm Thành lấy cớ nước nhỏ từ chối… Chiêm Thành đãi là khách, nhưng không làm quan. Kính Chi cuối cùng buồn giận phát bệnh chết”. Theo Tống sử q.418 và Tống quý tam triều chính yêu thì tên thừa tướng hèn nhát của Nam Tống là Trần Nghi Trung cũng bỏ chạy sang Chiêm Thành và khi quân Nguyên tấn công Chiêm Thành thì y bỏ chạy sang Xiêm. Theo Phật tổ lịch đại thông tải (soạn 1333) thì y chạy sang Lạc Hạc (tức La Hộc, một quốc gia ở hạ lưu Mê Nam), có lẽ đúng hơn. Tất nhiên còn một số hoảng sợ đầu hàng Nguyên như trường hợp một số quan lại Tống ở Đại Việt (xem chương VI). Có lẽ vì thế mà vua Chiêm phải ra lệnh giết “Đường nhân” để khỏi tiết lộ bí mật, trong khi trước đó, pháp luật Chàm bảo vệ họ.

3.   Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.571, Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.5b. Chư phiên chí của Triệu Như Quát đời Tống cũng chép đến Cựu Châu ở Chiêm Thành và ghi rõ rằng “Quốc đô gọi là Tân Châu” (Bản in Nhật Bản năm 1914, t.2a). Từ cuối thế kỷ X, Chiêm Thành đã dời đô từ Indrapura (Đồng Dương, Quảng Nam) và Viíaya (Chà Bàn, Bình Định). Nếu gọi Tân Châu là vùng đô mới ở Bình Định thì rõ ràng Cựu Châu là chỉ vùng đô cũ ở Quảng Nam. Có lẽ Cựu Châu không phải chỉ là đô thành Indrapura, mà là cả đất Quảng Nam. Theo các bi ký Chàm, vùng Quảng Nam có tên là Amarāvatī.

4.   Kinh thế đại điển tự lục, t.571, Nguyên sử q.210, t.5b.

5.   Địa điểm này có quan hệ mật thiết với Đại Châu (Vijaya). Ngày nay vùng gần Chà Bàn còn có một số tháp Chàm cổ trên các đồi, có lẽ tháp Bán Sơn ở trong số đó.

6.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện t.5b: “Tháng 3 năm [Chí Nguyên] 21 (19-3 - 16-4-1284)… vì an phủ sứ Quỳnh Châu là Trần Trọng Đạt nghe Trịnh Thiên Hựu nói rằng Giao Chỉ thông mưu Chiêm Thành, sai 2 vạn quân và 500 thuyền ứng viện, [vua Trần] lại gửi thư đến hành tỉnh, đại lược nói: Chiêm Thành nội thuộc tiểu quốc, đại quân đến đánh, thật đáng xót thương, nhưng chưa từng dám nói một lời, đó là thời trời việc người, tiểu quốc cũng biết vậy. Nay Chiêm Thành phản nghịch, mê muội không tỉnh, đó là không biết trời biết người vậy. Kẻ biết trời biết người mà trái lại đồng mưu với kẻ không biết trời biết người, tuy trẻ con lên ba cũng biết là không nên huống hồ là tiểu quốc”. Đây có thể chỉ là một cách chối khôn khéo. Ngay lời thư cũng nhận là “xót thương” Chiêm Thành. Trần Trọng Đạt, Trịnh (Lý?) Thiên Hựu là những viên tướng đánh Chiêm Thành, có thể bọn chúng biết sự thực.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #34 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2016, 04:35:57 pm »


        Với lực lượng khá hùng hậu như vậy, Chiêm Thành đã sẵn sàng ứng phó với bất cứ một cuộc tấn công mới nào của Toa Đô. Khi biết là bị mắc lừa, Toa Đô vô cùng tức tối. Hắn lập tức tổ chức một cuộc tấn công trả thù vào căn cứ địa của Chiêm Thành. Ngay ngày 16 tháng 2 (16/3/1283) hắn sai bọn vạn hộ Trương Ngung dẫn quân tiến vào chỗ vua Chiêm ở. Nhưng vì đường sá gập ghềnh hiểm trở nên mãi ba ngày sau, ngày 19 (19/3/1283), cánh quân Trương Ngung mới tiến đến cách thành gỗ 20 dặm1. Đến đây quân Nguyên đã vấp phải một sức kháng cự rất mạnh. Ngoài những hào sâu, quân Chiêm còn dùng nhiều gỗ lớn để ngăn giặc. Hơn hai nghìn binh sĩ đã cầm cự rất anh dũng. Cuối cùng quân Nguyên cũng vượt qua được những chướng ngại vật, tiến sát dưới thành gỗ. Nhưng càng vào sâu, bọn chúng càng đến gần chỗ chết. Núi rừng hiểm trở đã chặn chúng lại, trong khi đó quân Chiêm từ hai bên đổ ra, đánh vào phía sau lưng giặc, không cho chúng rút lui. Bị hãm vào tình thế tiến không được, thoái cũng không được, lại trở tay không kịp vì tài chiến đấu của những người lính Chàm gan dạ, cánh quân của Trương Ngung vô cùng hoảng  hốt. Bọn chúng phải “liều chết cố đánh” mới sống sót “thoát được về doanh trại” 2.

        Sau lần thất bại nặng nề này, Toa Đô đã thấy rõ được sức chiến đấu của người Chiêm. Hắn không còn dám nghĩ đến một cuộc tấn công mới vào căn cứ của Indravarman trong vùng núi hiểm trở kia. Nhưng không phải vì thế mà Toa Đô đã chịu bỏ dã tâm chiếm đóng Chiêm Thành. Hắn bắt đầu mưu toan một kế hoạch mới lâu dài và thâm độc hơn.

        Toa Đô rút quân từ doanh trại ở phía ngoài thành Vijaya ra vùng bờ biển Quy Nhơn ngày nay. Hắn chấn chỉnh tàn quân, dựng thành gỗ, tích trữ lương thực, giao cho tổng quản Lưu Kim, thiên hộ Lưu Quyên, Nhạc Vinh trông coi việc phòng thủ3.

        Toa Đô cho đóng quân ở đây là có ý chờ đợi viện binh để tổ chức những cuộc tấn công mới vào lực lượng Chiêm Thành. Bấy giờ Hốt Tất Liệt cũng đang chú ý đến việc tăng viện cho đạo quân Toa Đô. Ngày Ất Tỵ, 20 tháng 2 (20/3/1283), Hốt Tất Liệt đã sai hành tỉnh Long Hưng (Nam Xương, Giang Tây) cho quân đi hộ tống thuyền lương đến Chiêm Thành4. Ngày Bính Dần, 13 tháng 5 (9/6/1283), Hốt Tất Liệt lại ra lệnh cho viên bình chương hành tỉnh Kinh Hồ là A-ric Kha-y-a (Arïq- Qaya) 5 điều động 7 nghìn quân Hán (người bắc Trung Quốc) và 8 nghìn quân tân phụ (người nam Trung Quốc) chuẩn bị tăng viện cho Toa Đô6. Hốt Tất Liệt còn cho những tù phạm tội nặng định đi đánh Nhật Bản bổ sung vào đạo quân đi Chiêm Thành7. Đến ngày Kỷ Mão, 26 tháng 5 (22/6/1283), khi viên tuyên úy sứ bốn châu Hải Nam là Chu Quốc Bảo tâu xin thêm quân đánh Chiêm Thành thi Hốt Tất Liệt cho lấy một vạn rưởi quân mà A-ric Kha-y-a đã điều động8. Hai ngày sau, Hốt Tất Liệt lại ra lệnh cấp cung tên, giáp trượng cho Toa Đô9.

        Để tăng cường việc xâm lược Chiêm Thành và các nước phương Nam khác, ngày Bính Dần, 16 tháng 9 (7/10/1283), Hốt Tất Liệt đã sáp nhập hành tỉnh Kinh Hồ với hành tỉnh Chiêm Thành là một10. Điều đó có nghĩa là làm cho hành tỉnh Chiêm Thành, cơ quan xâm lược các nước phương Nam, có một cơ sở ở trong nước. Hành tỉnh Kinh Hồ - Chiêm Thành được thiết lập sẽ tiến hành dễ dàng hơn việc huy động và tổ chức lực lượng ở các tỉnh phía nam sông Dương Tử dốc cho cuộc chiến tranh xâm lược các nước phương Nam11. A-ric Kha-y-a được cử làm bình chương chính sự của hành tỉnh này. Theo lệnh của Hốt Tất Liệt, A-nc Kha-y-a đòi Đại Việt phải giúp quân lương và cho mượn đường đánh Chiêm Thành nhưng Đại Việt đã cự tuyệt12. Thái độ kiên quyết đó của vua Trần đã gây khó khăn lớn cho bọn xâm lược Nguyên Mông trong việc tiếp viện cho Toa Đô ở Chiêm Thành. Chúng đành phải dùng đường thủy là con đường đầy nguy hiểm đối với chúng. Ngày Đinh Dậu, 17 tháng 10 (7-11-1283), Hốt Tất Liệt sai Khu-tu-khu (Qutuqu) 13 thống lĩnh số quân của hành tỉnh Dương Châu mới tăng thêm cho Toa Đô14. Nhưng việc chuẩn bị tiếp viện cho Toa Đô tuy kéo dài gần suốt năm Quý Vị (Chí Nguyên 20, 1283) vẫn chưa có một đội binh thuyền nào đến được Chiêm Thành. Các cuộc khởi nghĩa lớn của nhân dân Trung Quốc ở Quảng Đông đã chặn mất con đường tiếp viện. Nguyên sử chép: “Năm [Chí Nguyên] 20 (1283), ở Quảng Đông, trộm cướp nổi lên, cắt đứt đường vận chuyển lương thực đi Chiêm Thành” 15

---------------
1.    Ở chỗ này, Nguyên sử Chiêm Thành truyện chép là “thủy thành”, nhưng Kinh theé đại điển tự lục chép là “mộc thành” (thành gỗ). Như vậy rõ ràng là Chiêm Thành truyện đã chép nhầm chữ mộc ra chữ thủy. Ngay sau đó Chiêm Thành truyện cũng chép là quân Nguyên tiến đến dưới “mộc thành” (thành gỗ). Kinh thế đại điển tự lục đã chép đúng.

2.   Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.571, Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.5b.

3.   Sau khi Trương Ngung thất bại trở về, Kinh thế đại điển tự lục, t 571, và Nguyên sử Chiêm thành truyện, t.5b chép rằng: “Hành tỉnh liền chỉnh đốn quân, tích trữ lương thực, dựng thành gỗ, sai tổng quản Lưu Kim, thiên hộ Lưu Quyên, Nhạc Vinh phòng thủ”. Chúng không rõ là thành gỗ được xây dựng ở đâu. Từ khi tiến quân vào Vijaya ngày 19 tháng 2 năm 1283 cho đến khi Trương Ngung đi đánh vua Chiêm ngày 16 tháng 3 năm 1283, doanh trại Toa Đô không chuyển đi nơi nào khác, như vậy là vẫn ở ngoài thành Vijaya. Nhưng khi đoàn quân tiếp viện cho Toa Đô ngày 2 tháng 4 năm 1284 đến cảng Thư Mi Liên (cửa Quy Nhơn) “là nơi Toa Đô đóng hành tỉnh cũ, thấy doanh trại nhà cửa đã bị đốt hết, mới biết quan quân đã về” (Kinh thế đại điển tự lục, Nguyên sử - Chiêm Thành truyện). Như vậy là Toa Đô đã từ Quy Nhơn đi chứ không phải từ ngoài thành Vijaya ra vùng cửa biển Quy Nhơn. Cõ lẽ Toa Đô thấy đóng ở vùng Vijaya (Chà Bàn, Bình Định) đi. Do đó, tuy tài liệu không chép rõ, chúng ta thấy là sau khi tấn công vào quân Chiêm thất bại, Toa Đô đã dời từ doanh trại ngoại thành Vijaya ra vùng cửa biển Quy Nhơn. Có lẽ Toa Đô thấy đóng ở vùng Vijaya gần rừng núi và căn cứ vua Chiêm dễ bị nguy hiểm, mặt khác, đóng ở Quy Nhơn có thể dễ dàng đón quân tiếp viện.

4.   Nguyên sử q.12 Bản kỷ, t.8b.

5.   Nguyên sử phiên âm là A Lý Hải Nha. Tên tướng người Uigur này đóng một vai trò quan trọng trong việc xâm lược Đại Việt năm 1285, xem chú thích ở chương VI.

6.   Nguyên sử q.12 Bản kỷ t.10a-b.

7.   Nguyên sử, Bản kỷ chép việc này vào ngày Giáp Tuất tháng 5 (17-6-1283) (q.12, t.10b).

8.   Nguyên sử q.12 Bản kỷ t.10b. Một vạn rưởi quân đó là gồm 7 nghìn quân Hán và 8 nghìn quân tân phụ đã nói ở trên.

9.   Nguyên sử q.12 Bản kỷ, t.10b.

10.   Nguyên sử q.12 Bản kỷ, t.12a.

11.   Theo Nguyên sử q.63 Đại lý chí t.la, lộ Vũ Xương (Thượng) thời Đường sơ là Ngạc Châu, rồi đổi làm quận Giang Hạ, rồi lại đổi làm quận Vũ Xương, đến đời Tống đổi làm Kinh Hồ bắc lộ. Năm 1274, nhà Nguyên lập Kinh Hồ đẳng xứ hành trung thư tỉnh. Năm 1277 gộp Ngạc Châu hành tỉnh (Hồ Bắc) vào Đàm Châu hành tỉnh (Hồ Nam). Như vậy Kinh Hộ là gồm Ngạc Châu và Đàm Châu. Hành tinh Kinh Hồ được thiết lập trong quá trình tấn công Nam Tống và phụ trách việc xâm lược Nam Tống. Sau khi tiêu diệt Nam Tống, nhà Nguyên lại sáp nhập cả Lưỡng Quảng vào hành tỉnh này và gọi là hành tỉnh Hồ Quang (Từ Nguyên cũng chú rõ là hành trung thư tỉnh Hồ Quảng thống lĩnh Hồ Nam, Hồ Bắc, Quảng Đông, Quảng Tây). Tuy thế, các tên Kinh Hồ, Hồ Quảng, Kinh Hồ - Chiêm Thành vẫn thường được gọi lẫn lộn với ý nghĩa như nhau. Nguyên sử q.122 HổĐò Thiết Mộc Lộc (Qutuq Tämtür) truyện (Thiết Mại Xích (Tämäči) truyện phụ) chép: “Bây giờ (1285 - T.G.) tên hành tỉnh gọi là Kinh Hồ - Chiêm Thành, là Kinh Hồ, là Hồ Quảng”.

12.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện t.5a chép năm Chí Nguyên 20 (1283) “bấy giờ A-ric Kha-y-a (A Lý Hải Nha) làm bình chương chính sự hành tỉnh Kinh Hồ - Chiêm Thành, Hoàng đế (chỉ Hốt Tất Liệt - T.G.) muốn Giao Chỉ giúp binh lương để đánh Chiêm Thành, sai dụ theo ý mình. Hành tỉnh sai Đạt Lỗ Hoa Xích Ngạc Châu là Triệu Chư mang thư dụ Nhật Huyên”. An Nam chí lược q.3 Đại Nguyên Phụng sứ cũng chép: “Năm Chí Nguyên 20 (1283)… sai hành trung thư tỉnh Kinh Hồ - Chiêm Thành, dụ An Nam cho mượn đường, giúp hữu thừa Toa Đô đánh Chiêm Thành, lại sai Đạt Lỗ Hoa Xích Ngạc Châu Triệu Chư đi dụ, thế tử (chỉ vua Trần - T.G.) không nghe”. Xem chương IV.

13.   Khu-tu-khu (Qutuqu), Nguyên sử q.12 Bản kỷ phiên âm là Hốt Đố Hốt, Nguyên sử q.123 Bản kỷ q.210 Chiêm Thành truyện và Kinh thế đại điển tự lục phiên âm là Hốt Đô Hổ.

14.   Nguyên sử q.12 Bản kỷ t.12b.

15.   Nguyên sử q.166 Trương Ngọc truyện (Trương Vĩnh Thực truyện phụ). Theo Nguyên sử q.12 Bản kỷ thì tháng 3 năm Chí Nguyên 20 (4-1283) Lâm Quế Phương, Triệu Lượng Kiềm nổi dậy ở Quảng Châu, lập nước La Bình, niên hiệu Diên Khang (t.9b). Theo Nguyên sử kỷ sự bản mạt q.1 (bản Thương vụ, t. 1) thì cuộc khởi nghĩa này tập hợp hơn 1 vạn người. Nguyên sử q 12 Bản kỷ cũng cho biết là tháng 9 năm đó (10-1283) “Quảng Đông trộm cướp nối lên, sai một vạn quân đi đánh” (t.12a). Như vậy cuộc khởi nghĩa tháng 9 ở Quảng Đông rất lởn. Kinh thế đại điển tự lục mục chiêu bô (Nguyên văn loại q.41, bản đã dẫn, t.587) cho biết là tháng 9 năm Chí Nguyên 20 (10-1283), ở Quảng Đông Khu tướng quân tập hợp hơn 10 vạn người xưng làm vua, đặt niên hiệu, đánh chiếm các thành ấp, Thái đại lão, Chung đại lão, Đường đại lão ở huyện Tăng Thành đều hưởng ứng, chiếm các vùng Bình Khang, Hạ Lý, Đông Đoàn Thôn, quân Nguyên phải kéo đi đàn áp.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #35 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2016, 10:36:19 pm »


        Trong khi đó, ở Chiêm Thành, Toa Đô lâm vào một tình trạng khá bi đát. Hắn đóng quân ở bờ biển Quy Nhơn đợi tăng viện nhưng mỏi mắt trông chờ suốt một năm trời vẫn không thấy tăm hơi. Quân lính của hắn lại bỏ trốn về nước khá nhiều, có lẽ vì thiếu lương, đói khát và vì hoảng sợ trước những cuộc tập kích của quân kháng chiến Chiêm Thành1. Toa Đô không còn hy vọng gì vào việc chiếm đóng vùng quốc đô Chiêm Thành, vì ở đây, lực lượng chiến đấu của người Chiêm càng ngày càng phát triển. Nếu kéo dài việc đóng quân chờ thời ở đây, cánh quân của Toa Đô có thể gặp nguy cơ bị tiêu diệt. Đã đến lúc tên tướng Mông Cổ thấy cần phải rút khỏi vùng Quy Nhơn, nơi hắn đã tốn công chinh phục xây dựng trong hơn một năm trời. Tuy vậy, hắn vẫn chưa từ bỏ âm mưu xâm chiếm Chiêm Thành. Không phải chỉ có ngà voi và trầm hương ở xứ sở này quyến rũ bọn kẻ cướp Nguyên Mông. Chúng cố sống cố chết bám lấy đất Chiêm là vì từ đây chúng có thể đánh toả xuống phương Nam và nhất là có thể đánh thọc vào lưng Đại Việt, kẹp Đại Việt vào hai mũi kìm phía nam và phía bắc. Toa Đô là một trong những tên xâm lược nhận thức được rõ ràng điều đó2. Vì thế, sau khi rời khỏi vùng Quy Nhơn, cửa Crī Vinaya3 của người Chiêm, ngày 6 tháng 3 năm Giáp Thân (Chí Nguyên 21, 24/3/1284) Toa Đô tiến quân ra phía bắc Chiêm Thành, vùng gần biên giới phía nam của Đại Việt4.

        Mãi đến đầu năm Giáp Thân (Chí Nguyên 21, 1284) Hốt Tất Liệt mới thực hiện được việc tăng viện cho Toa Đô. Ngày 10 tháng 2 (27/2/1284) viên tham nghị ở trung thư tỉnh là Mang Lai Bu-kha (Manglai Buqa) tâu với Hốt Tất Liệt về việc hành tỉnh Kinh Hồ - Chiêm Thành đóng thuyền để chở lương tiếp viện cho quân ở Chiêm Thành5. Ngày định vị, 28 tháng 2 (16/3/1284), Hốt Tất Liệt ra lệnh cho A-ta-khai (Ataqai) 6 phát 1 vạn 5 nghìn quân và 200 thuyền đi giúp việc đánh Chiêm Thành. Thuyền không đủ, hắn lại ra lệnh cho tỉnh Giang Tây phải cấp thêm7. Tướng được cử đi tăng viện cho bọn vạn hộ Khu-tu-khu (Qutuqu), Ô Mã Nhi (Ô-ma, ‘Omar) 8, Lưu Quân Khánh9.

        Không biết Toa Đô đã dẫn quân ra phía bắc, bọn Khu-tu-khu cứ nhắm phía nam Chiêm Thành, vùng quốc đô mà tiến. Ngày 15 tháng 3 (2/4/1284) chúng đến cảng Thư Mi Liên (tức cửa Quy Nhơn) thì thấy doanh trại nhà cửa của Toa Đô đã cháy hết10. Vạn hộ Lưu Quân Khánh tiến quân vào Tân Châu (Bình Định) 11, gặp được người Chiêm Thành mới biết Toa Đô đã rút. Lưu Quân Khánh bắt người này dẫn đường đến gần chỗ vua Chiêm đóng12. Ngày 20 tháng 3 (7/4/1284), Khu-tu-khu sai bách hộ Trần Khuê đi dụ vua Chiêm hàng. Ngày 27 tháng 3 (14/4/1284), Indravarman sai người đến gặp Khu-tu-khu, nói rằng sang năm sẽ cho con đem cống vật sang Nguyên, còn hiện nay thì đất nước đã bị quân Toa Đô cướp phá, không còn gì để cống nạp13. Trước sự từ chối của vua Chiêm, bọn Khu-tu-khu thấy không thể đóng lại được ở đây Hơn nữa, nhiệm vụ của chúng là tăng viện cho cánh quân đánh Chiêm Thành, vì thế chúng cần tìm gặp Toa Đô ngay. Nhưng cánh quân này chưa gặp được Toa Đô thì binh thuyền của chúng đã gặp bão bị tan nát hết14.


-------------------
1.    Nguyên sử q.12 Bản kỷ t.12b chép: “Ngày Đinh Dậu [tháng 10 Chí Nguyên 20] (7/11/1283), giết quân ở Chiêm Thành bỏ trốn về. Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.2b chép: “Ngày Quý Sửu [tháng 5 Chí Nguyên 21] (21/5/1284), quan ở Khu mật viện nói rằng quân tan vỡ của Toa Đô đã sai Lý Hằng thu thập”. Ban đầu Hốt Tất Liệt đã ra lệnh xử tử những người lính trốn ở Chiêm Thành về nhưng về sau thì lại cho thu thập số quân đó để sử dụng vào việc đánh Đại Việt (xem chương VI). Như vậy số bỏ trốn hẳn là ngày càng đông. Không có một tài liệu trực tiếp nào nói đến hoạt động chiến đấu của người Chiêm khi quân Toa Đô đã rút ra Quy Nhơn. Nhưng do chỗ quân Toa Đô “tan vỡ”, “bỏ trốn” nhiều nên chúng ta có thể nghĩ được như vậy

2.   Toa Đô đã đề nghị đánh chiếm Đại Việt và đóng quân ở Việt Lý, bắc Chiêm Thành (xem chương VI).

3.   Cửa Quy Nhơn, tức cửa Thị Nại, Việt sử lược q.2, t.13 chép tên phiên âm đầy đủ là Thị Lị Bì Nại, có thể khôi phục thành tiếng Phạn Crī Vinaya.

4.   Về ngày rút quân của Toa Đô, xem Kinh thế đại điển tự lục, đã dẫn, t.571 và Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.6a.

5.   Kinh thế đại điển, mục Trạm xích trong Văn Lạc đại điển q.19, 418. Manglai Buqa, sách này phiên âm là Minh Lý Bất Hoa.

6.   A-ta-khai (Ataqai), Nguyên sử Bản kỷ phiên âm là A Tháp Hải, nhưng không nói rõ A-ta-khai này là người nào. Nguyên sử q.129 có A Tháp Hải truyện, chép về A-ta-khai tên thừa tướng đã đem quân đánh Nhật Bản (cũng xem Nguyên sử q.208 Nhật Bản truyện). Tân Nguyên sử q 182 Trương Huyên truyện t.2b chép rằng Trương Huyên (cha Trương Văn Hổ, tướng vận lương vào Đại Việt năm 1287) đã làm chức chiêu thảo trong quân A-ta-khai đánh Nhật Bản năm Chí Nguyên 20 (1283) và “năm 21 (1284). vẫn theo A-ta-khai đem chu sư 1 vạn 5 nghìn người đánh Chiêm Thành. Như vậy, A-ta-khai phát quân đánh Chiêm Thành đúng là A-ta-khai đã đi đánh Nhật Bản. Nhưng chúng tôi cho rằng Tân Nguyên sử chép nhầm chứ A-ta-khai chỉ “phát quân” chứ không đến Chiêm Thành vì Nguyên sử A Tháp Hải truyện không nhắc đến việc đánh Chiêm Thành và trong danh sách những tướng tăng viện không có A-ta-khaì (A-ta-khai giữ chức cao hơn Khu-tu-khu, nếu đi, y phải là chỉ huy và tên y phải được chép).

7.   Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.2a. Số quân 1 vạn 5 nghìn là của Dương Châu và đã chuẩn bị từ trước.

8.   Ô-ma (‘Omar), Nguyên sử q.103 Bản kỷ t.2b phiên âm là Hốt Mã Nhi nhưng ngay trang sau, t.3a, lại phiên âm là Ô Mã Nhi. Đây là tên Ô Mã Nhi, hay Ô Mã Nhi Bạt Đô (‘Omar-ba’atur) vào Đại Việt năm 1285 và 1287 chép trong Nguyên sử q.209 An Nam truyện. Vì tên Ô Mã Nhi đã được gọi quen nên trong sách này chúng tôi vẫn giữ là Ô Mã Nhi mà không phiên âm là Ô-ma nữa. Ở đây, chúng tôi chỉ lưu ý người đọc rằng ‘Omar là một tên người Hồi giáo. Có khi được gọi là Ô Mã Nhi Bạt Đô. Bạt Đô (Ba’atur) là một danh hiệu Mông Cổ có nghĩa là Dũng sĩ.

9.   Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.2b.

10.   Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.6a. Theo Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.2b thì sau khi đến cảng Thư Mi Liên, quân Nguyên tiến vào Tân Châu. Sách Doanh nhai thắng lãm đời Minh chép rằng Chiêm Thành “có cửa biển gọi là cảng Tân Châu, bờ cũng có tháp đá làm mốc, thuyền đến đấy thì buộc vào, có trại gọi là Thiết Tỉ Nại”. Cảng Thư Mi Liên đúng là cảng Tân Châu. Thiết Tỉ Nại (âm Trung Quốc đọc tỉ là p’i) tức Thi Lị Bì Nại trong Việt sử lược và là Thi Nại. Như vậy cảng Thư Mi Liên là cửa Çrī Vinaya của Chiêm Thành, tức cửa Quy Nhơn.

11.   Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.2b-3a.

12.   Theo Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.572, Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.6a và Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.3a. Kinh thế đại điển tự lục và Chiêm Thành truyện chép tên người sứ Chiêm là Văn Lao Cùng Đại Ba Nam, còn Bản kỷ thì chép là A Bất Lan, tuy điều sứ giả trình bày thì các tài liệu trên chép tương tự nhau.

13.   Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.3a chép: “Ngày Đinh Sửu [tháng 5, Chí Nguyên 21] (14-6-1284) bọn Khu-tu-khu (Hốt Đô Hố), Ô Mã Nhi, Lưu vạn hộ (tức Lưu Quân Khánh - T.G.) đem 2 vạn quân tỉnh Dương Châu đến chỗ quân Toa Đô, gặp gió thuyền tan. Sắc đòi lại cáo mệnh hổ phù của bọn Ô Mã Nhi...”. Ngày 14 tháng 6 năm 1284 là ngày tước hổ phù bọn tướng tăng viện chứ không phải là ngày quân tăng viện gặp bão. Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.2b cho biết rằng ngày Canh Tý tháng 4 (8-5-1284), A-ric Kha-y-a xin đến bờ biển thu nhặt quân tan vỡ ở Chiêm Thành và ngày Quý Sửu tháng 5 (21/5/1284) thì Khu mật viện nói rằng đã sai sứ chiêu dụ quân tan vỡ của Giang Hoài, Giang Tây tức quân tiếp viện đi Chiêm Thành. Như vậy, tuy không biết rõ ngày quân Nguyên gặp bão, chúng ta cũng biết là ngày đó ở vào sau ngày 14 tháng 4 năm 1284 (ngày sứ Chiêm gặp Khu-tu-khu ở Bình Định) và trước ngày 8 tháng 5 năm 1284 (ngày A-ric Kha-y-a đi thu nhặt tàn quân).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #36 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2016, 10:50:36 pm »


        Bấy giờ, Toa Đô đã đem quân ra phía bắc, đánh vào vùng hồ Đại Lãng1. Ở đây Toa Đô lại sai đẵn gỗ làm thành, vỡ ruộng cày cấy để tự cấp. Từ đó, Toa Đô đem quân đánh tỏa ra vùng đất Ô Lý và Việt Lý (tức vùng Quảng Trị và Thừa Thiên ngày nay) 2. Toa Đô tăng cường cướp bóc, tích trữ lương thực3. Hắn muốn áp dụng trên đất Chiêm chính sách đồn điền của bọn thống trị Mông Cổ ở Trung Quốc. Điều đó biểu lộ âm mưu đóng chốt lâu dài ở vùng này của Toa Đô. Nhưng quân số của hắn đã hao hụt khá nhiều, việc chiếm đóng vùng này cũng không phải là dễ dàng. Vì thế, ngày Canh Ngọ, 22 tháng 5 (7/6/1284), Toa Đô phải xin Hốt Tất Liệt cho thêm quân4. Nhưng viện binh còn đâu nữa, bao nhiêu binh thuyền chuẩn bị trong hơn một năm trời đã tan tác hết. Toa Đô phải đóng quân trong tình trạng khốn quẫn thiếu lương.

        Như vậy là âm mưu xâm lược Chiêm Thành của Hốt Tất Liệt đã thất bại. Cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân Chàm đã làm cho hắn không thực hiện được việc chiếm đóng Chiêm Thành và biến đất này thành một căn cứ để tấn công các nước khác ở Đông Nam Á. Máu của nhân dân Chàm đã đổ là để bảo vệ những cánh đồng phì nhiêu cày bằng hai trâu, bảo vệ trầm hương và rượu dừa, bảo vệ những ngày hội bơi thuyền xem cá trong tháng tư hay lễ cưỡi voi vào ngày nguyên đán, có nghĩa là bảo vệ cuộc sống lao động thanh bình của họ5. Nhưng chính cuộc chiến đấu rất anh dũng và mưu trí của nhân dân Chàm đã làm cho Hốt Tất Liệt không bắc được chiếc cầu xuống phương Nam và cũng do cuộc chiến đấu đó, tên vua Mông Cổ không có một căn cứ mạnh mẽ và vững chắc ở phía nam để tấn công vào Đại Việt. Nhờ đó, nhân dân Việt ít đổ máu hơn trong cuộc chiến tranh mới.

        Nhưng Hốt Tất Liệt vẫn không từ bỏ dã tâm xâm lược Chiêm Thành. Hắn lại bắt đầu chuẩn bị một kế hoạch mới. Tháng 5 năm 1284, Khu mật viện đã sai Lý Hằng đi thu thập những quân đào ngũ của Toa Đô và cho người chiêu dụ đám tàn quân Giang Hoài, Giang Tây đi tiếp viện tan tác trở về. Những tên lính tìm đến đều được cấp lương thực. Thuyền chèo hư hỏng được sửa chữa lại. Số quân mới chiêu tập được đó giao cho A-ric Kha-ya điều động, dùng cho cuộc “Nam chinh” mới6. Nhưng cũng có nhiều tên trong đám tàn quân không chịu trở lại con đường chết ấy nữa, cái đói khát khổ sở trên đất Chiêm đã biến chúng thành những đám thổ phỉ, cướp bóc quấy nhiễu nhân dân miền Nam Trung Quốc7.

        Ngày Đinh Sửu 29 tháng 5 (14/6/1284), Hốt Tất Liệt đã ra lệnh tước hổ phù8 của bọn Ô Mã Nhi (‘Omar), những bộ tướng đã đi tăng viện cho Toa Đô, lấy bọn Bôn-kha-đa (Bolqadar) 9 ở Hà Tây thay thế bọn Ô Mã Nhi, đặt dưới quyền chỉ huy của A-ric Kha-y-a10. Đến ngày Mậu Tý 12 tháng 7 (24/8/1284), Hốt Tất Liệt hạ chiếu cho con trai hắn là Thoát Hoan (Toan) đánh Chiêm Thành11. Nhưng tiến đến Chiêm Thành bằng con đường nào? Hốt Tất Liệt đã hoảng sợ trước sóng gió của biển cả phương Nam. Hắn quyết định đánh chiếm Đại Việt, rồi sau đó sẽ đánh chiếm Chiêm Thành.

        Trong khi đó, vương triều Chiêm Thành vẫn tiếp tục đấu tranh ngoại giao để đòi quân Toa Đô phải rút khỏi đất nước12. Đến đầu năm 1285, Toa Đô tiến từ Ô Lý, Việt Lý ra phía bắc, tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt, nhưng viên tham chính là Y-gơ-mi-sơ (Yïgmïš) vẫn đóng quân lại ở vùng hồ Đại Lãng. Cho đến khì cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt hoàn toàn thất bại thì tên tướng đó mới rút hết quân khỏi đất nước Chiêm Thành13. Như vậy là đến lượt cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân Việt lại chặn đứng được cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mông Cổ xuống Chiêm Thành và góp phần vào việc giải phóng hoàn toàn đất nước này.

-----------------
1.    Có lẽ là vùng phá Cầu Hai ở Thừa Thiên hiện nay. Không có tài liệu để biết Toa Đô tiến quân ra phía bắc bằng đường gì. Nhưng chắc là Toa Đô đã tiến quân bằng đường thủy. Đi bằng đường thủy, y có thể sử dụng đoàn thuyền đã đem theo, tránh được những sự xung đột với quân dân Chàm trên đường bộ, bảo toàn quân số vốn đã hao hụt để tiến đến nơi quy định. Không có tài liệu nào chép về những trận đánh trước khi Toa Đô đến hồ Đại Lãng. Sau này, đoàn quân tiếp viện đến Quy Nhơn không gặp Toa Đô cũng đi theo đường thủy để tìm Toa Đô. Nguyên sử q.129 Toa Đô truyện t.7b nói rằng ở hồ Đại Lãng, Toa Đô giết được 6 vạn người. Hẳn đấy chỉ là một sự bịa đặt.

2.   Theo Nguyên sử q.129 Toa Đô truyện. Chư phiên chí của Triệu Nhữ Quát khi chép các vùng đất Chiêm Thành có chép đến các tên đất Ô Lệ và Việt Lý. Ô Lệ tức Ô Lý trong Nguyên sử. Văn hiên thông khảo của Mã Đoan Lâm và Tống sử q.489 Chiêm Thành truyện đều chép rằng châu Ô Lý ở bắc Chiêm Thành. Chúng tôi đoán Ô Lý tức đất Ulik trong một bi ký Chàm thế kỷ XII ở Mỹ Sơn (Mỹ Sơn 92B, xem G.Maspéro, sách đã dẫn, t.165). Tuy bi ký đó không nói rõ, nhưng theo tinh thần của bi ký, chúng tôi biết được Ulik ở phía bắc Amarāvati (Quảng Nam). Theo Toàn thư thì vua Chiêm là Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) đã đem châu Ô và châu Lý làm sính lễ để cưới công chúa Huyền Trân. Năm 1307 vua Trần Anh Tông đã đổi hai châu Ô và Lý thành châu Thuận và châu Hóa (Toàn thư q.6, t 22a) tức là đất Quảng Trị, Thừa Thiên hiện nay. Có lẽ châu Ô tức Ô Lý trong Nguyên sử còn châu Lý là Việt Lý (phải chăng Việt Lý tức đất Vuyar trong bi ký Chàm nói trên?).

3.   Nguyên sử q.129 Toa Đô truyện t.7b chép rằng sau khi đánh Ô Lý, Việt Lý, Toa Đô “tích thóc được 15 vạn để cấp cho quân”. Có lẽ là 15 vạn thạch.

4.   Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.3a chép “Ngày Canh Ngọ [tháng 5] (7-6-1284) hành tỉnh Kinh Hồ - Chiêm Thành (chỉ Toa Đô) đem quân tiến chiếm đất Ô Mã gần An Nam, xin thêm quân”. Ô Mã là chép nhầm từ Ô Lý.

5.   Về phong tục và thổ sản Chiêm Thành thế kỷ XIII, có thể xem Chư phiên chí của Triệu Nhữ Quát.

6.   Nguyên sử q.13 Bản kỷ, t.2b.

7.   Nguyên sử q.98 Binh chí t.8a chép: “Tháng 11 [Chí Nguyên 22] (28-11-26-12-1285), quan ngự sử đài nói: “… Trước có 5.000 quân đánh Chiêm Thành, trừ số vận lương tử vong, còn 1.122 người. Bọn đó đều quen tính hung bạo, dân lấy làm khổ, nên cấp áo quần, lương thực, cho làm đồn điền để tự cấp, tuyệt được sự quấy nhiễu của chúng.

8.   Theo quân chế đời Nguyên, “vạn hộ đeo kim hổ phù, chân phù làm hình con hổ nằm, đầu là minh châu, phân biệt các hạng ba hạt châu, hai hạt châu, một hạt châu, thiên hộ đeo kim phù, bách hộ đeo ngân phù” (Kinh thế đại điển tự lục - Quân chế, trong Nguyên văn loại q.41, bản đã dẫn t.591).

9.   Ở đây, Nguyên sử q.1 3 Bản kỷ t.3a phiên âm là Bột Lỗ Hợp Đáp Nhi. Bột Lõ Hợp Đáp Nhi cũng là Bột La Hợp Đáp Nhĩ trong bia A-ric Kha-y-a (Diêu Toại soạn, trong Nguyên văn loại q.59, bản đã dẫn, t.856) và Bột La Cáp Đáp Nhi trong Nguyên sử q.209 An Nam truyện. Đó là Bolqadar, tên tướng Mông Cổ đã hai lần tiến vào Đại Việt năm 1285 và 1288. Xem thêm chú thích ở chương VI.

10.   Nguyên sử q.3 Bản kỷ t.3a.

11.   Nguyên sử q.13 Ban kỷ t.4a.

12.   Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.4b chép rằng ngày Tân Hợi tháng 8 (16-9-1284), vua Chiêm cho một sứ bộ gồm 11 người đến cống 3 con voi và đòi rút quân Toa Đô về.

13.   Theo Nguyên sử q.131 Diệc Hắc Mê thất (Yïgmïš) truyện t.11a và Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.13a.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #37 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2016, 10:57:47 pm »


CHƯƠNG VI

CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ HAI

       “Bến Chương Dương cướp giáo,          
        Cửa Hàm Tử bắt thù…”.                      
        Trần Quang Khái                              

        Vào một ngày tháng 11 năm Giáp Thân (8/12/1284 – 6/1/1285) từ vùng đất phía bắc Chiêm Thành giáp Đại Việt, viên bại tướng Mông Cổ là Toa Đô đã tâu về với Hốt Tất Liệt:

        “Giao Chỉ liền đất với Chân Lạp, Chiêm Thành, Vân Nam, Xiêm, Miến, nên lập tỉnh ngay trên đất ấy và đóng quân trấn giữ ở ba đạo Việt Lý (vùng Quảng Trị ngày nay - T.G.), Triều Châu (miền bắc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc - T.G.), Tỳ Lan (tây bắc đảo Hải Nam - T.G.), lấy lương ở đó cấp cho quân sĩ, tránh được việc vận tải đường biển mệt nhọc” 1.

        Đề nghị của Toa Đô phù hợp với âm mưu của tên vua Mông Cổ - Hốt Tất Liệt. Ngay khi đặt được nền thống trị của mình lên toàn bộ đất Trung Quốc, Hốt Tất Liệt đã muốn mau chóng mở rộng bản đồ đế quốc Mông Cổ đến các nước Đông Nam Á và đặc biệt xúc tiến mạnh mẽ kế hoạch xâm lược Đại Việt. Năm 1279, Nam Tống mất, cũng là năm Hốt Tất Liệt ra lệnh đóng chiến thuyền đánh Đại Việt. Sau việc lập An Nam tuyên úy ty và sai một nghìn quân đưa Trần Di Ái về nước năm 1282 bị thất bại, Hốt Tất Liệt đã luôn luôn sách nhiễu vương triều Trần, mượn đường, đòi lương, kiếm cớ gây sự để tấn công xâm lược.

        Cho đến nay, khi Toa Đô đã thất bại thảm hại trên đất Chiêm Thành và hai vạn quân tiếp viện của Ô Mã Nhi cũng tan tác vì bão biển, Hốt Tất Liệt càng muốn mau chóng chiếm lấy Đại việt. Những đội quân viễn chinh đường biển của Mông Cổ bị thất bại liên tiếp làm cho vua Nguyên thấy không thể trì hoãn việc lập một căn cứ cho quân bộ kỵ trên đất liền. Không có một nơi nào có vị trí thuận lợi để chọn làm căn cứ tốt như Đại Việt, Toa Đô đã nghĩ như thế. Nhưng khi lời tâu của y chưa về đến Đại Đô thì đội quân xâm lược Đại Việt đã lên đường theo lệnh Hốt Tất Liệt. Tên chúa tể Mông Cổ đã làm trước cái việc mà Toa Đô mong muốn.

        Do thất bại nặng nề ở Đại Việt năm 1258 và ở Chiêm Thành năm 1283, nên lần này đi đánh Đại Việt, Hốt Tất Liệt đã huy động một lực lượng rất lớn. Trong số đó có cả số quân tan vỡ ở Chiêm Thành trở vế2. Để chỉ huy đội quân khổng lồ đó, vua Nguyên đã chọn những tên tướng giỏi, từng lập nhiều chiến công. Thoát Hoan (Toan) và A-ric Kha-y-a (Aïq-qaya) được cử cầm đầu đạo quân viễn chinh này3.

---------------
1.    Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.5b.

2.   Nguyên sử Bản kỷ q.13, 2b chép rằng tháng 5 năm 1284, A-ric Kha-y-a (A Lý Hải Nha) xin đến bờ biển thu nhặt quân tan vỡ ở Chiêm Thành để lại sai đi đánh phương Nam, khu mật viện nói đã sai Lý Hằng đi thu tập quân tan vỡ của Toa Đô và sai sứ đi chiêu dụ quân tan vỡ của hai tỉnh Giang Hoài, Giang Tây (quân đi tiếp viện cho Toa Đô). Số quân đó đều được “cấp lương, thuyền chèo hỏng đều được sửa chữa, đợi A-ric Kha-y-a (A Lý Hải Nha) điều động. Tân Nguyên sử q.160 A Lý hải Nha truyện chép: :Năm [Chí Nguyên 21] (1284) sắc cho A-ric Kha-y-a (A Lý Hải Nha) điều 7 nghìn quân Hán, 8 nghìn quân Tân Phụ (tức quân Nam Trung Quốc - T.G). theo Trấn Nam vương đi đánh An Nam. A-ric Kha-y-a tự xin đến bờ biển thu tập quân tan vỡ ở Chiêm Thành để lại sai đi đánh phương Nam và những quân chưa đến”.

3.   Toan hay Toon, Nguyên sử phiên âm là Thoát Hoan, thời Thanh Càn Long đổi làm Thác Hoan (xem Nguyên sử ngữ giải). Các sách sau đó như Tục tự trị thông giám cũng chép như vậy. Vì tên Thoát Hoan đã được gọi quen nên trong sách này, chúng tôi không phiên âm theo tiếng Mông Cổ là Tô Gan hay Tô Gôn nữa.

        A-ric Kha-y-a (Arīq-Qaya), Nguyên sử phiên âm là A Lý Hải Nha, A Lạt Hải Nha, A Lỗ Hải Nha. Bài bia do Diêu Toại soạn năm 1300 (Hồ Quảng hành tỉnh tả thừa thần đạo bi trong Nguyên văn loại q.59, bản đã dẫn, t.851) phiên âm là A Lực Hải Nha. Thời Thanh Càn Long đã đổi phiên âm một cách sai lầm là A Nhĩ Cáp Nhã (xem Nguyên sử ngư giải). Về tên các tướng chỉ huy Mông Cổ, Toàn thư chép hơi khác: "[Năm Thiện Bảo 5], mùa thu tháng 7 (26-7 - 23-8-1283), sai trung phẩm Hoàng Ư Lệnh, nội thư gia Nguyễn Chương đi Nguyên, gặp thái tử A Thai, bình chương A Lạt hội 50 vạn quân các xứ Hồ Quảng, định kỳ sang năm vào cướp (Bản kỷ, q.5, t.43b).

        Về tên A Thai, Cương mục (q.7) cho là do sử của ta nhầm vì sau này trong chiến tranh, tướng chỉ huy là Thoát Hoan. Trong suốt cuộc chiến tranh này, các thư tịch Trung Quốc đều không thấy nói đến tên tướng nào là A Thai. Toàn thư, sau đoạn trên cho đến hết chiến tranh lần thứ hai cũng không thấy nhắc đến tên A Thai nữa mà chỉ nhắc đến tên Thoát Hoan. Ngay trang sau trang trên (q.5, t.44a), Toàn thư đã chép: [Năm Thiệu Bảo 6] tháng 12 (7/1 – 5/2/1285), Trần Phủ từ Nguyên về nói: vua Nguyên sai thái tử Trấn Nam vương Thoát Hoan, bình chương A Lạt và A Lý Hải Nha đem quân giả cớ mượn đường đánh Chiêm Thành, chia đường vào cướp”. Mãi đến trong chiến tranh lần thứ ba, Toàn thư mới lại chép đến Thoát Hoan và A Thai (q.5, t.54b). Vậy A Thai là ai? Trước hết chúng ta thấy rằng A Thai đúng là một cái tên Mông Cổ, phiên âm tên Atai (gốc từ tiếng Tuyếc, Ataï có nghĩa là “ông nội”). Trong Nguyên sử có hai người cùng có tên A Thai (xem Uông Huy Tổ: Tam sử đồng danh lục q 17, 5b). Nguyên sử q.131 Mang Cổ đái truyện chép rằng năm 1287, Mang Cổ đái (Mangqudai) “theo chư vương A Thai sang đánh Giao Chỉ”. Vậy thư tịch Trung Quốc cũng thừa nhận một viên tướng Mông Cổ đến Đại Việt vào cuộc chiến tranh lần thứ ba tên là A Thai. Nhưng đấy cũng là chỗ chép duy nhất. Toàn thư cho biết A Thai là thái tử cũng như Thoát Hoan, nhưng trong số các con của Hốt Tất Liệt, theo danh sách của Nguyên sử và của Ra-si-ut-Đin trong Tập sử biên niên, không có ai tên là A Thai. Do đó chúng tôi cho rằng A Thai (Tức Atai) là một viên tướng, dầu là chư vương (tức thân vương), cũng không đóng vai trò quan trọng trong cuộc xâm lược Đại Việt như Toàn thư đã chép, y không phải là thái tử cũng không phải là tổng chỉ huy. Có chỗ Toàn thư đã chép riêng hai tên nhưng có chỗ đã lẫn lộn người này thành người kia.

        Toàn thư đã chép thái tử A Thai cùng bình chương A Lạt đem 50 vạn quân vào Đại Việt (q.5, 43b), hoặc chép khi thất bại, “thái tử Thoát Hoan, bình chương A Lạt chạy qua Lô Giang (q.5, t.49a) nhưng có chỗ lại chép đến “Trấn Nam vương Thoát Hoan, bình chương A Lạt và A Lý Hải Nha” (q.5, t.44a). Tuy vậy, chúng tôi cho rằng A Lạt và A Lý Hải Nha (A-ric Kha-y-a) chỉ là một người. Theo các thư tịch như An Nam chí lược, Nguyên sử q 209 An Nam truyện, q.128 A Lý Hải Nha truyện), bia A Lý Hải Nha của Diêu Toại (1238 - 1314) và Nguyên triều danh thần sự lược cửa Tô Thiên Tước (1293 -1352) thì trong cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần thứ hai, không có viên quan bình chương nào khác ngoài A-ric Kha-y-a (A Lý Hải Nha, A Lực Hải Nha…), tức là viên bình chương chính sự của hành tỉnh Kinh Hồ (hoặc gọi là Kinh Hồ - Chiêm Thành hay Hồ Quảng) được Hốt Tất Liệt cử phụ trách việc các nước hải ngoại. Trong suốt cuộc chiến tranh, Nguyên sử Bản kỷ và An Nam truyện thường nhắc đến “quan hành tỉnh” hoặc “bình chương” là chỉ viên tướng này. A Lạt ( Toàn thư bản khắc gỗ, có người đọc là A Thích, đó là do lầm lẫn chữ lạt với chữ thích), theo chúng tôi, chỉ là một cách phiên âm tên A-ric Kha-y-a (Arïq-Qaya). Trong Nguyên sử, có nhiều chỗ không phiên âm Arïq-Qaya là A Lý Hải Nha mà phiên âm là A Lạt Hải Nha (q.7 Bản kỷ Chí Nguyên 9; q.8 Bản kỷ Chí Nguyên 12; q.173 Thôi Úc truyện, t.4b). Như vậy A Lạt hay A Lý Hải Nha cũng chỉ là A-ric Kha-y-a mà Toàn thư đã lầm thành hai người.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #38 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2016, 11:07:20 pm »


        Thoát Hoan là con của Hốt Tất Liệt, được phong làm Trấn Nam vương ngày 21 tháng 7 năm 12841. A-rich Kha-y-a là viên tướng người Ui-gua (Uigur) được Hốt Tất Liệt trọng dụng từ khi mới lên ngôi. Y là một viên tướng giỏi, rất gian hùng và tàn bạo, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc chinh phục Nam Tống, được xếp vào loại công thần của Vương triều Nguyên2. Hốt Tất Liệt đã cử y làm binh chương chính sự ở hành tỉnh Kinh Hồ, chuyên trách việc xâm lược các nước ở phương Nam. Giờ đây, tên tướng nhiều uy quyền đó được giao nhiệm vụ phụ tá tên hoàng tử Mông Cổ đem quân tiến vào Đại Việt.

        Bên cạnh A-ric Kha-y-a còn có Lý Hằng, viên tướng đã đánh bại Văn Thiên Tường, cùng với Trương Hoàng Phạm tiêu diệt vương triều Nam Tống trong chiến dịch Nhai Sơn3. Ngoài ra, trong đạo quân xâm lược Đại Việt lần này có nhiều tên tướng khác đã quen chiến trận ở miền Nam Trung Quốc.

        Để tạo thành hai gọng kìm tấn công vào hai mặt của Đại Việt Thoát Hoan đã sai viên tả thừa Tang-gu-tai (Tang’utai) 4 đến chiêm Thành, ra lệnh cho Toa Đô đem quân từ Ô Lý, Việt Lý đánh vào mặt nam của Đại Việt5.

        Để cung cấp cho đạo quân xâm lược, nhà Nguyên đã chuẩn bị một số lương thực rất lớn. Theo lời của viên quan ở hành tỉnh Hồ Quảng thì “A-ric Kha-y-a xuất chinh thì, thu 3 vạn thạch lương dân đã khốn đốn” 6. Nhân dân Trung Quốc ở các tỉnh miền Nam không những phải nộp thóc gạo mà còn phải chịu phu dịch chuyển vận lương thực. Trên con đường của đạo quân xâm lược, các địa phương phía Bắc phải trưng lương và vận chuyển xuống phương Nam. Chẳng hạn, theo một bi ký thì bấy giờ Sâm Châu (nay là huyện Sâm tỉnh Hồ Nam) phải nộp một nghìn thạch gạo và phải chở đến Quế Châu (nay là huyện Quế Lâm tỉnh Quảng Tây). Viên vạn hộ coi Sâm Châu là Để Trạch đã nói: “Từ đây vào đất Quế, đi bộ nghìn dặm, dân phải gồng gánh, mỗi người được năm đấu mà thôi, thế là phải hai nghìn người làm phu gánh, lại mang theo quần áo lương thực đến một nửa, đi chưa đến nửa đường, ắt vứt tất cả mà bỏ trốn, có thể biết trước được như vậy”. Lấy cớ để tránh được tình trạng đó, y đã bỏ tiền cho các huyện vay đến Quế Châu mua gạo, rồi trả lãi cho y7.

        Ngoài việc chuẩn bị lương thảo, Hốt Tất Liệt đã chuẩn bị thuốc men và thầy thuốc cho đội quân viễn chinh: Kinh nghiệm lịch sử dạy cho y biết rằng những đoàn quân xâm lược phương Bắc xuống Đại Việt không chỉ khốn đơn vì sức chống trả ngoan cường của quân dân Đại Việt mà còn vì sự “phản ứng” của khí hậu phương Nam. Trong số những thầy thuốc đi theo đội quân Thoát Hoan có Trâu Tôn. Về sau tên thầy thuốc này bị bắt, khi được tha, y đã ở lại Đại Việt8.

-----------------
1.    Nguyên sử q.13 Thế Tổ bản kỷ, t.3b chép việc phong Trấn nam vương vào ngày giáp dần tháng 6 năm Chí Nguyên 21 (21/7/1284). Theo danh sách các hoàng tử con Hốt Tất Liệt trong Nguyên sử (q.107 Tông thất thế hệ) thì Thoát Hoan là con hàng thứ chín (danh sách này có 10 người), còn theo danh sách trong Tập sử biên niên của Ra-sit ut-Đin (bản đã dẫn, II) thì Thoát Hoan đứng hàng thứ mười một (Ra-sit ut-Đin chép là Tu-gan, danh sách này có 12 người).

2.   Nguyên sử loại biên (q.19, t.13a) xếp A-ric Kha-y-a vào loại công thần thử ba của triều Nguyên, ngang hàng với Bayan (Bá Nhan), Uriyangqadai (Ngột Lương Hợp Thai), Lý Hằng… Nguyên sử tân biên xếp y vào loại công thần bình Tống, ngang với Bay-an, Aĵu (A Truật),… A-ríc Kha-y-a đã cùng với Bayan và Aĵu chỉ huy việc chinh phục Nam Tống. Chính y đã hạ được Phàn Thành, Tương Dương, Ngạc Châu, Giang Lăng và chiếm 20 châu miền Nam như Tân, Dung, Khâm, Hoành, Ung… và cả Hải Nam. Y là một viên tướng có nhiều kinh nghiệm chỉ huy chiến trận, đã chiếm các thành Tống bằng nhiều mưu mẹo khác nhau (dụ hàng, dùng pháo, lấp sông, tháo nước, phá cầu,…). Y là một tên tàn ác, đã tàn sát nhân dân Đàm Châu, chôn sống tất cả nhân dân ở Tĩnh Giang, uống rượu óc hai tướng Tống ở Tân Sinh… Bài bia Diêu Toại soạn và Nguyên sử A Lý Hải Nha truyện đề cao những hành động mị dân xảo trá của y. Nguy Nguyên, tác giả Nguyên sử tân biên đã phê phán: “A-ric Kha-y-a làm cỏ Đàm Châu, Tĩnh Giang, thậm chí tuyên phủ Chu Dị Tôn, chế trí Cao Đạt ở Giang Lăng đã hàng, y còn giết cả vợ họ… Thế mà những người bình luận ngược lại đã khen A-ric bảo toàn được dân Đàm Châu, không hề chuyên việc tàn sát. Bi chí chỉ dựa theo lời gia đình y nên có thể sai lầm, đến như sử cũ (chỉ Nguyên sử - T.G.) soạn vào đời khác (đời Minh - T.G.) nào phải kiêng kỵ gì mà vẫn rập khuôn như vậy thế thì búa rìu dùng để làm gì” (q.29, 23b).

        A-ric Kha-y-a là một viên tướng có thế lực của triều Nguyên. Rất nhiều viên tướng hay quan chức sang Đại Việt (hoặc chuẩn bị sang Đại Viện trong và sau mấy lần chiến tranh đều vốn ở dưới trướng y, do y bồi dưỡng, cất nhắc như A-gu-ruc-tri (Áo-lỗ-xích), Lưu Quốc Kiệt, Trình Bằng Phi, Toa Đô, Tang-gu-tai, Triệu Tu Kỷ, Phàn Tiếp, Ô Mã Nhi, Bôn-kha-đa, Vân Tòng Long, Trương Vinh Thực… Cính viên hình bộ thượng thư Thôi Úc đã tâu với Hốt Tất Liệt: “A-ric Kha-y-a nắm quyền binh dân, con cháu phe đảng chia giữ các chức trọng yếu, quan lại ra vào cửa y đến bảy tám phần mười, uy quyền y không kém Ahma, nên bãi chức và thanh toán phe đảng y, tuy có người không dơ bẩn cũng nên đổi đi chỗ khác, chớ để giữ lâu ở Hồ Quảng” (Nguyên sử q 173 Thôi Úc truyện, 4a). Nói nhiều về A-ric Kha-y-a, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng vương triều Trần đã phải đối phó với một tên chỉ huy giỏi, xảo quyệt và tàn bạo. Trong khi đánh Đại Việt, y lúc nào cũng ở bên cạnh Thoát Hoan, nhiều mưu kế là do y bày ra, nếu chỉ nói đến Thoát Hoan mà không nhắc đến vai trò A-ric Kha-y-a là một thiếu sót.

3.   Xem Nguyên sử q.120 Lý Hằng truyện.

4.   Kinh thế đại điển tự lục và Nguyên sử q.209 phiên âm là Đường Ngột Đải. Nguyên sử q.13 phiên âm là Đường Cổ Đái. Hồ Quảng hành tỉnh tả thừa tướng thần đạo bi của Diêu Toại phiên âm là Đường Ngột Đái, An Nam chí lược phiên âm là Đường Cổ Đái. Tang’utai ~ Tanggudai có nghĩa là “người của xứ Tang’ut”, tức Tây Hạ.

5.   Nguyên sử q.209, 5b chép: “Tháng 2 (năm Chí Nguyên 22) 8/3 – 5/4/1285), hành tỉnh Kinh Hồ - Chiêm Thành nói rằng Trấn Nam vương năm trước phụng chỉ thống lĩnh quân đội đánh Chiêm Thành (thực là đánh Đại Việt T.G.), sai tả thừa Tang’gu-tai đi ngựa trạm đến Chiêm Thành, hẹn hữu thừa Toa Đô đem quân hội hợp”.

        Toàn thư chép: “Nguyên soái Toa Đô dẫn 50 vạn quân từ Vân Nam qua Lão Qua (tức Lào - T.G.) thẳng đến Chiêm Thành, cùng người Nguyên hội ở Châu Ô, Lý” (q.5, t.48a). Điều này sai lầm vì Toa Đô bấy giờ vẫn ở Chiêm Thành. Việc Tang-gu-tai chạy ngựa trạm khiến chúng ta nghĩ rằng y đã đi đường bộ, phải chăng là qua đường Lào nhưng có khả năng là Nguyên sử chép nhầm.

6.   Nguyên sử q.209, An Nam truyện, t.8b.

7.   Dĩnh Xuyên vạn hộ để công thần đạo bi (Diêu Toại soạn năm 1304). Xem Mục am tập, bản Vũ Anh điện tụ trân, q.17, t.3b.

8.   Toàn thư (q.7, t.15b) khi nói về thầy thuốc Trâu Canh đời Trần Dụ Tông, có chép: “Canh là con Trâu Tôn, người Bắc (chỉ Trung Quốc - T.G.), khoảng năm Thiệu Phong, quân Nguyên vào cướp, Tôn là thầy thuốc đi theo quân. Đến khi thua, bị bắt, ở nước ta chữa thuốc cho các vương hầu lúc đó, kiến hiệu nhiều. Người trong nước nhiều lần đem ruộng, nô cho y, trở nên giàu. Canh thừa nghiệp cha bèn nổi tiếng”. Niên hiệu Thiệu Phong (1341-1358) không có quân Nguyên xâm lược. Cương mục chữa lại là năm Nguyên Phong (1251-1258), như vậy là muốn chỉ cuộc xâm lược năm 1258. Toán quân lần ấy không chắc có thầy thuốc Trung Quốc đi theo. Chúng tôi cho rằng phải chữa niên hiệu Thiệu Phong ra Thiệu Bảo (1279-1285) thì đúng hơn. Đó là niên hiệu có cuộc xâm lược lần thứ hai (1284-1285), lần này ta đã bắt được rất nhiều tù binh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #39 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 06:31:12 am »


        Đưa quân nhiều tướng giỏi, chuẩn bị chu đáo mọi điều kiện, Hốt Tất Liệt tưởng có thể dễ dàng biến nước ta thành một tỉnh của đế quốc Nguyên Mông1. Nhưng đó chỉ là mộng tưởng của tên vua Mông Cổ. Quân dân Đại Việt, đứng đầu là vương triều Trần, tất nhiên không chịu khoanh tay ngồi đợi quân giặc đến cướp nước. Trong hơn hai mươi năm đấu tranh ngoại giao, nhà Trần đã thấy rõ dã tâm của bọn phong kiến Nguyên Mông. Những năm về sau, triều đình Trần càng dự đoán được cuộc chiến tranh xâm lược to lớn này. Vì vậy, bề ngoài nhà Trần cố giữ quan hệ hòa hảo với Hốt Tất Liệt, nhưng bên trong vẫn ra sức chuẩn bị lực lượng để đối phó. Ngoài việc lo xây dựng, củng cố quốc gia về mọi mặt kinh tế, chính trị, quân sự… nói chung, những năm gần chiến tranh triều đình Trần đã xúc tiến một loạt những biện pháp nhằm đưa toàn quốc vào cái thế sẵn sàng chiến đấu. Tháng 10 năm Nhâm Ngọ (2/11 – 1/12/1282), hai tháng sau khi được tin viên trấn thủ Lạng Châu là Lương Uất báo về: quân Nguyên đòi mượn đường đánh Chiêm Thành nhưng thực ra định xâm lược2, vua Trần đã ra Bình Than, đóng lại ở Trần Xá Loan3 mở hội nghị vương hầu bách quan. Cuộc họp này có mục đích “bàn kế đánh phòng” và “chia quân giữ nơi hiểm yếu” 4. Không họp ở Thăng Long có lẽ một phần vì triều đình Trần muốn tránh con mắt dò xét của bọn sứ Nguyên. Trong lúc ở kinh thành, “sứ giặc đi lại ngoài đường” 5 thì một cuộc họp lớn như thế nhất định không thoát khỏi sự chú ý của chúng. Nếu không dò biết được nội dung hội nghị và kế hoạch phòng thủ của ta thì chúng cũng có thể phỏng đoán được mục đích của hội nghị do việc tụ hội đông đảo quý tộc quan liêu một cách bất thường. Vào những năm 1281, 1282, quan hệ ngoại giao Việt - Nguyên đã rất căng thẳng, nhưng vương triều Trần vẫn còn cố gắng trì hoãn thời gian để chuẩn bị lực lượng kháng chiến. Vì thế, để tránh được kẻ thù kiếm cớ gây chuyện lôi thôi, việc giữ bí mật cuộc hội nghị lớn này là cần thiết.

        Nhưng có lẽ cuộc họp trên sông nước Bình Than còn vì một lý do khác quan trọng hơn. Sông Bình Than - sông Lục Đầu ngày nay - là một địa điểm xung yếu. Từ Bình Than có thể theo đường sông tỏa ra các lộ phía bắc và phía đông kinh đô Thăng Long. Bình Than nằm trên con đường từ phía bắc xuống theo thung lũng sông Thương và từ biển vào theo sông Bạch Đằng. Ngay từ thời Lý, danh tướng Lý Thường Kiệt đã chọn nơi đây làm địa điểm tập trung một phần lực lượng quan trọng để bảo vệ kinh đô. Các cứ điểm quân sự thời Trần cũng ở dọc theo sông Bình Than. Chính vì thế, cuộc hội nghị mở ở Bình Than còn có ý nghĩa là để cho vương hầu tướng lĩnh có thể quan sát thực địa mà bàn cách phòng thủ và chiến đấu. Sau hội nghị, các tướng có thể kéo quân về các vị trí đã định ở các lộ, “chia quân đóng giữ nơi hiểm yếu”.

        Với mục đích bàn kế đánh giặc giữ nước, hội nghị quân sự Bình Than có một ý nghĩa chính trị to lớn là làm cho chủ trương kháng chiến của triều đình thấm xuống khắp vương hầu bách quan, huy động được lực lượng của tất cả các tầng lớp quý tộc quan liêu tham gia kháng chiến tích cực.

        Đây là lần đầu tiên, sử giả biên niên phong kiến ghi chép đến một cuộc hội nghị quý tộc quan liêu rộng rãi. Phiêu kỵ đại tướng quân Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, một viên tướng dũng lược, vì phạm tội bị cách chức, ra bán than ở Chí Linh. Đến nay vua Trần tha tội cho ông, gọi về hội nghị. Khánh Dư đến Bình Than, còn mặc áo ngắn, đội nón lá. Trong cuộc họp, Khánh Dư đã có nhiều ý kiến phù hợp với ý vua6.

        Chúng ta không có tài liệu về những ý kiến được thảo luận trong hội nghị Bình Than. Toàn thư chỉ cho biết hội nghị “bàn kế đánh, phòng”. Nhưng rõ ràng chủ trương kháng chiến đã chiếm ưu thế tuyệt đối. Giai cấp phong kiến lúc này còn mang một tinh thần quốc gia dân tộc mạnh mẽ, họ có quyết tâm kháng chiến để bảo vệ đất nước. Sau hai mươi lăm năm nén hờn nhịn nhục trong cuộc đấu tranh ngoại giao, họ thấy đã đến lúc phải cầm lấy vũ khí chống giặc giữ nước. Tinh thần chiến đấu dũng cảm của họ trong quá trình chiến tranh đã chứng minh ý chí đó của họ. Hội nghị Bình Than đã góp phần khích động tinh thần kháng chiến của quý tộc quan liêu và củng cố mối đoàn kết của giai cấp phong kiến trước cuộc xâm lược của kẻ thù dân tộc.

        Tất cả các vương hầu quý tộc đều có mặt ở Bình Than; nhưng những thiếu niên như Hoài Nhân Vương Kiện, Hoài Văn Hầu Quốc Toản không được tham dự hội nghị vì còn ít tuổi. Uất ức vì không được dự bàn việc nước, Trần Quốc Toản đã bóp nát quả cam cầm trong tay mà không biết. Lúc trở về, Quốc Toản lập một đội quân hơn một nghìn gia nô và thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, chờ ngày giết giặc cứu nước. Trên lá cờ của đội quân do người thiếu niên đó chỉ huy, người ta thấy đề sáu chữ: “Phá cường địch, báo hoàng ân” (phá giặc mạnh, báo ơn vua) 7.

        Việc mộ quân lính, sắm khí giới của cậu bé Hoài Văn Hầu cũng cho ta hình dung được không khí rộn ràng chuẩn bị kháng chiến trong toàn quân, toàn dân ở kinh đô cũng như ở phủ đệ các vương hầu sau cuộc hội nghị trên sông Bình Than.

---------------
1.   Theo Tân Nguyên sử q.160 A Lý Hải Nha truyện thì năm 1284, sắp đánh Đại Việt, đồng thời với việc phong Thoát Hoan làm Trấn Nam vương, Hốt Tất Liệt đã trao chức An Nam hành trung thư tỉnh tả thừa tướng cho A-ric Kha-y-a.

2.   Toàn thư q.5, 41b chép: “Tháng 8 [năm Nhâm Ngọ, Thiệu Bảo 4] (3/9 – 2/10/1282) quan trấn thủ Lạng Châu (tức Lạng Sơn - T.G.) Lương Uất tâu hữu thừa [tướng] Toa Đô đem 50 vạn tinh binh giả tiếng mượn đường đánh Chiêm Thành, thực ra là đến xâm lược”. Chúng ta đã biết rằng Toa Đô đi đường thủy từ Quảng Châu đến Chiêm Thành. Từ giữa năm 1282, Hốt Tất Liệt đã ra lệnh chuẩn bị binh thuyền để đi đường biển sau nhiều lần đòi mượn đường không được. Đây có lẽ là chỉ việc nhà Nguyên lại đòi mượn đường để gây sự một lần nữa chứ không phải Toa Đô đã đem quân đến biên giới Lạng Sơn rồi mới quay về đi đường Quảng Châu. Toa Đô chỉ mang đi 5 nghìn quân, còn đạo quân xâm lược nước ta thì đến 1283 mới điều động. Cũng có thể Lương Uất nghe được tin Nguyên sẽ điều động 50 vạn quân, nhưng đấy là số quân sẽ do Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a chỉ huy.

3.   Cương mục, Chính biên (q.7, 28a) chú thích: “Bình Than, tên bến, ở xã Trần Xá huyện Chí Linh”. Đại Nam nhất thông chí, Hải Dương, Giang Đạo lại chua: “Xã Bình Than, thuộc đất huyện Quế Dương tỉnh Bắc Ninh, đối ngạn với xã Dược Sơn huyện Chí Linh”. Có lẽ Cương mục đã dựa vào địa điểm Trần Xá Loan (Vụng Trần Xá?) Toàn thư đã chép mà chú thích Bình Than là xã Trần Xá (nay thuộc huyện Nam Sách, Hải Dương). Kỳ thực, Toàn thư không nói rõ Bình Than là Trần Xá Loan, mà chỉ nói vua ra Bình Than, ở lại Trần Xá Loan (Bản kỷ q.5, 41b). Theo An Nam [Chí Nguyên], Bình Than là tên sông. “Sông Bình Than, có tên là Bàn Than, lại có tên là Bài Than (bản Viễn Đông bác cổ in là Suy Than chúng tôi cho là nhầm từ chữ Bài Than), ở huyện Chí Linh, phát nguyên từ Xương Giang (sông Thương - T.G.) đến sông Thị Cầu (sông Cầu - T.G.) hai nhánh hợp lưu, chảy qua hai núi Chí Linh, Phả Lại, quanh co mênh mông, không biết bến bờ...” (bản Viễn Đông bác cổ, t.46). An Nam [Chí Nguyênl lại cho biết: “Núi Phả Lại… mặt kề Bình Than” (t.42), “Sông Như Nguyệt (sông Cầu - T.G.)… dưới thông với sông Bình Than” (t.43), “sông Đức (sông Đuống - T.G.)… dưới thông với sông Bình Than”. Theo những đoạn trên đây của An Nam chí [nguyện], chúng ta có thể xác định một cách chắc chắn rằng sông Bình Than là sông Lục Đầu ngày nay, trên tiếp nước sông Thương và sông Cầu, dưới tiếp nước sông Đuống. An Nam chí [nguyên] chép sông Bình Than “đến cửa sông Đồ Mô, chia làm hai nhánh chảy vào biển” (t.46). Rõ ràng đấy là chỗ hợp lưu hai con sông Thái Bình và Kinh Thầy. Ngày nay, xã Trần Xá ở gần chỗ hợp lưu này, cách chừng 1km. Vua Trần ra Bình Than, chắc là đi thuyền theo sông Đuống đến sông Lục Đầu, tiến đến chỗ hợp lưu sông Lục Đầu và sông Kinh Thầy, Trần Xá Loan hẳn ở chỗ này.

4.   Toàn thư q.5, t.41b.

5.   Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn.

6.   Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.42b chép: “Bấy giờ thuyền vua đóng ở bến Bình Than, nước triều xuống gấp, có thuyền lớn chở than củi, chủ thuyền đội nón lá, mặc áo ngắn. Vua chỉ và bảo với thị thần rằng: “Người kia chẳng phải là Nhân Huệ vương sao”. Lập tức sai thuyền nhỏ đuổi đến cửa cảng Đại Than (cửa sông Đuống - T.G.) thì kịp. Quân hiệu nói với chủ thuyền: “Vua có lệnh triệu ngài”. Khánh Dư nói: “Lão già là kẻ buôn bán có việc gì mà triệu”. Quân hiệu trở về tâu hết với vua. Vua nói: “đúng là Nhân Huệ đấy, người thường tất không dám nói thế”. Lại sai nội thị đi gọi. Khánh Dư mặc áo ngắn, đội nón lá. Vua nói: “Nam nhi mà đến thế thực là quá lắm vậy”, rồi xuống chiếu miễn tội. Khánh Dư lên thuyền lạy tạ. Vua ban cho áo ngự ngồi hàng dưới các vương, trên công hầu, cùng bàn việc công, nhiều điều thích hợp.

7.   Toàn thư q.5, t.43a.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM