Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:11:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện  (Đọc 53247 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #20 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2016, 01:33:15 pm »


Ở mặt trận phía nam, phân khu Hồng Cúm (Isabelle) của địch có một lực lượng khá mạnh với 2.000 quân, có đủ bộ binh, pháo binh, xe tăng và sân bay; ta chỉ có một trung đoàn làm nhiệm vụ kiềm chế, nhưng trận địa tiến công và bao vây vẫn ngày càng xiết chặt. Từ đầu tháng 4 năm 1954, trận địa của Trung đoàn 57 đã lấn vào hàng rào của địch, vươn tới các lô cốt tiền duyên. Địch đã nhiều lần phản kích giải tỏa nhưng đều thất bại, với hơn 200 tên bị diệt. Tranh đoạt dù tiếp tế, chỉ tính từ 30 tháng 3 trở đi, trung đoàn đã thu được khoảng 60 tấn hàng gồm đạn pháo, cối, đồ hộp, thuốc men..., trong đó có 600 viên đạn pháo 105 ly.

Đợt tiến công thứ hai đã thu nhiều thắng lợi nhưng ta chưa hoàn toàn đánh chiếm được A1 và C1 là hai điểm cao mà cả địch và ta đều cho là quan trọng nhất. Chiến dịch phải kéo dài. Máy bay Pháp và Mỹ tăng cường đánh phá các tuyến đường tiếp tế vận chuyển của ta. Rồi những trận mưa đầu mùa ập đến. Việc bảo đảm gạo, đạn cho mặt trận gặp khó khăn nghiêm trọng. Trên vách liếp lán làm việc của anh Văn, ngoài bản đồ Điện Biên Phủ, bản đồ chiến sự toàn Đông Dương, còn có một bản biểu đồ theo dõi tình hình tiếp tế gạo, đạn hàng ngày cho mặt trận. Một buổi sáng trung tuần tháng 4, đường chỉ đỏ trên biểu đồ tụt xuống gần số không. Do trời mưa to, đêm hôm trước gạo nhập kho chiến dịch chưa đầy 1 tấn! về đạn pháo 105 ly, tuy đã có thêm nguồn bổ sung tại chỗ do địch thả dù, nhưng có ngày có khẩu chỉ còn dăm ba viên đạn. Bộ binh rất tin tưởng pháo nên hay yêu cầu bắn chi viện. Bộ chỉ huy chiến dịch phải giáo dục ý thức tiết kiệm, chống tư tưởng ỷ lại vào hỏa lực và quản lý nghiêm ngặt việc dùng đạn pháo: xin bắn trên 3 viên phải có ý kiến của Tham mưu trưởng, trên 10 viên phải có sự phê chuẩn của Tổng Tư lệnh kiêm Chỉ huy chiến dịch.

Anh Văn phải tạm giao việc chỉ huy tác chiến cho anh Thái, dành liền mấy ngày để chỉ đạo công tác hậu cần, cùng các đồng chí chỉ huy cung cấp bàn biện pháp đưa nhanh gạo, đạn ra chiến trường. Anh viết gấp một điện khẩn báo cáo Bác Hồ và Trung ương. Đồng chí Trường Chinh điện trả lời: Bộ Chính trị đã chỉ thị tăng cường động viên sức người, sức của cho tiền tuyến. Đã tạm thời đình chỉ các lớp huấn luyện, cho cán bộ về các địa phương vận động nhân dân và lãnh đạo công tác chi viện cho mặt trận.

Mùa mưa năm 1954 hình như đến sớm. Ngoài việc gây trở ngại lớn cho công tác tiếp vận, mưa xuống cũng làm cho cuộc sống và chiến đấu của hàng vạn bộ đội ta vất vả vô cùng. Theo báo cáo của các đơn vị, của anh Lê Quảng Ba - Đại đoàn trưởng 316 và nhất là của anh Vương Thừa Vũ - Chỉ huy Đại đoàn 308 ở cánh đồng phía tây, các giao thông hào và chiến hào đã ngập nước. Nhiều chỗ bùn nhão, ngập tới ngang ống chân. Những hôm mưa to, nước ngập lên ngang bụng. Hai bên vách hào ẩm ướt. Mùi bùn tanh tưởi, mùi rễ cây rỉ nhựa hăng nồng, quyện lẫn mùi mồ hôi và thuốc súng, tạo nên một mùi “tổng hợp” đặc biệt khó chịu. Sau trận mưa rào, nắng lại dữ dội hơn, không khí chiến trường oi ả, ngột ngạt. Bộ đội dễ sinh bệnh tật, nhất là sau hơn 4 tháng lao động và chiến đấu vất vả, khẩn trương.

Tại Sở chỉ huy, đêm đêm mỗi khi nghe tiếng sấm, anh Văn ra khỏi lán, thấy những đám mây đen ùn lên đầu núi và những ánh chớp lóe trên bầu trời, anh lại thao thức bồn chồn, không sao ngủ được. Anh lo gạo đạn lại không lên kịp, anh thương cán bộ, chiến sĩ đang bì bõm trong các chiến hào lầy lội, anh nghĩ đến thương binh đang nằm trong những căn hầm ẩm thấp... Rồi những biểu hiện tư tưởng hữu khuynh tiêu cực xuất hiện, như ngại gian khổ, ngại thương vong, kém sâu sát đơn vị, hoặc chủ quan khinh địch.

Tuy không một ai trong lãnh đạo cũng như đội ngũ cán bộ bị Mỹ đe dọa ném bom nguyên tử làm cho “khiếp sợ” (!?), có chủ trương hoặc đề nghị: “Trước khi nước lũ dâng cao, rút thật nhanh bộ đội ra khỏi Điện Biên Phủ” như mấy cuốn sách nước ngoài đã viết, nhưng cuộc đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực nói trên cũng cực kỳ quyết liệt.

Như vậy là quyết định ngày 26 tháng 1 năm 1954, tuy đã được thực tiễn chứng minh là đúng qua những trận thắng trong đợt 1 và đợt 2, nhưng vẫn còn đứng trước những thử thách cực kỳ to lớn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #21 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2016, 01:37:22 pm »


Sau khi đi sâu chỉ đạo giải quyết cụ thể các vấn đề tồn tại về chiến thuật kỹ thuật, về bảo đảm tiếp tế, đặc biệt là tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh tư tưởng sâu rộng chống hữu khuynh tiêu cực, anh Văn cùng Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định mở đợt tiến công thứ 3, bắt đầu từ đêm 1 tháng 5. Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, đợt tiến công phát triển thuận lợi. Đồi A1 trước cũng định đánh vào đêm đầu. Nhưng do phải chờ công binh đào xong con đường hầm dài hơn 40 mét từ chân đồi phía đông vào dưới hầm ngầm của địch để đặt gần 1.000 cân thuốc nổ, nên đến đêm 6 tháng 5 mới đánh.

8 giờ tôi ngày 6 tháng 5 năm 1954, tôi đang lấy tin trong hầm tác chiến thì anh Văn đến. Sau khi nghe báo cáo tình hình chuẩn bị chiến đấu của các đơn vị, anh bảo tôi đưa sổ để ra mệnh lệnh tiến công. Anh cầm bút viết:

Mệnh lệnh:

    1. Thời gian quy định đúng 8 giờ 30 phút, không được chậm.

    2. Đến 8 giờ 30 phút thì:

        a. Đồi A1 bộc phá.

        b. Pháo và H6 bắn tập kích lần thứ nhất.1

        c. Bộ binh các hướng đều xung phong.

        d. Hang Cang lập tức chế áp pháo địch.2

    3. Các nơi phải lấy giờ cho đúng.

    8 giờ 15

    Ngọc.3

Anh chú thích thêm vào bên cạnh: Thời gian trên nhất định phải giữ cho đúng để thực hiện bộ pháo hiệp đồng chặt chẽ4.

Tôi đưa sổ cho trực ban tác chiến truyền đạt mệnh lệnh cho các đơn vị.

Ta dự định dùng tiếng nổ của bộc phá đồi A1 làm hiệu lệnh nổ súng chung cho toàn mặt trận. Nhưng đã quá 10 phút mà vẫn chưa nghe tiếng nổ. Anh Văn gọi điện thoại hỏi đơn vị thì hóa ra bộc phá đã nổ, nhưng vì ở sâu trong lòng đất nên tiếng vang không lớn. Lợi dụng lúc quân địch đang bàng hoàng vì sức chấn động của ngót 1.000 cân thuốc nổ, bộ binh ta từ nhiều hướng đánh lên đồi A1, tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn Lê dương, bắt sống chỉ huy và 200 binh lính. Các đơn vị khác cũng nổ súng đúng giờ, đánh chiếm các vị trí còn lại trên dãy đồi phía đông, ở phía bắc cầu Mường Thanh. Đại đoàn 308 đã đánh chiếm vị trí Nà Noọng ở phía tây nam sở chỉ huy Đờcátxtơri 300 mét.
______________________________________
1. H6 là mật danh củaa hỏa tiễn 6 nòng do Trung Quốc   vừa viện trợ.
2. Hang Cang là tên Hồng Cúm.
3. Ngọc là bí danh anh Văn trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
4. 20 năm sau, tôi đã đưa anh Văn xem lại bản mệnh lệnh này. Anh chỉ thị cho sao chụp để đưa Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam) và đăng báo Nhân Dân ngay 7.5.1974.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #22 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 07:45:31 am »


Cùng với các đồng chí khác theo dõi cuộc chiến đấu suốt đêm 6 tháng 5 trong hầm tác chiến, anh Văn thở phào nhẹ nhõm. Như vậy là từ đêm 30 tháng 3 đến đêm 6 tháng 5, trải qua 38 ngày đêm chiến đấu, qua 4 lần tiến công đồi A1, quân ta đã giành toàn thắng trên cao điểm cuối cùng. Vị trí Nà Noọng được coi là “con mắt” của phân khu trung tâm đã bị tiêu diệt. Thắng lợi cuối cùng đã ở trong tầm tay.

Sáng ngày 7 tháng 5, mặc dầu thấm mệt, anh Văn, anh Thái vẫn nán lại ở hầm tác chiến, chỉ thị cho quân báo và các tổ trinh sát theo dõi sát từng động tĩnh của địch. Trước đó ta được tin: sau khi kế hoạch mang tên “Cuộc hành binh chim kền kền” (Opération Vautour: chủ trương dùng không quân Mỹ ném bom nguyên tử xuống Điện Biên Phủ để cứu nguy cho quân đội Pháp) không thực hiện được, Na-va đề ra kế hoạch “Chim hải âu” (Opération Albatros), cho một lực lượng từ Thượng Lào tiến lên phối hợp với tàn quân Đờcátxtơri phá vây, mở một đường máu rút chạy.

Anh Văn trực tiếp gọi điện thoại, lệnh cho chỉ huy các đại đoàn phải bao vây thật chặt, không để một tên nào chạy thoát. Đồng ý cho các đơn vị chưa hoàn thành nhiệm vụ trong đêm được tiếp tục đánh ban ngày.

14 giờ 30 phút, anh Văn hội ý với đồng chí Vi: Tranh thủ lúc địch đang rối loạn, ra lệnh ngay cho các đơn vị đồng loạt mở cuộc tổng công kích vào Mường Thanh.

17 giờ 30 phút, Đại đoàn 312 báo cáo về, toàn bộ địch trong phân khu trung tâm đã đầu hàng. Đã bắt sống được tướng Đờcátxtơri. Cả khu vực Sở chỉ huy Mường Phăng vốn rất nghiêm mật, bỗng sôi động hẳn lên, tiếng reo hò vang dội. Nhưng gương mặt anh Văn vẫn chưa lộ vẻ vui mừng. Anh gọi điện hỏi anh Lê Trọng Tấn:

- Có đúng là đã bắt được Đờcátxtơri hay không?

- Báo cáo anh, anh em báo cáo lên là đã bắt được.

- Căn cứ vào đâu mà biết nó đúng là Đờcátxtơri?

Cả anh Tấn và anh Độ đều chưa trả lời được. Anh Văn chỉ thị:

- Phải bắt cho được Đờcátxtơri. Không để địch đánh tráo chỉ huy. Đề phòng nó đưa tên khác ra thay, còn nó tháo lon trốn chạy! Phải đối chiếu nhân dạng của nó với ảnh trên căn cước. Phải kiểm tra cấp hiệu, phù hiệu. Tấn, Độ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc này đấy nhé! Các đồng chí có ảnh của Đờcátxtơri không?

Đơn vị trả lời không có. Anh Văn nói với anh Thái cho một cán bộ đi xe Jeep xuống ngay Đại đoàn 312, mang theo một tấm ảnh của Đờcátxtơri.

Theo dõi mặt trận phía nam, sau khi nghe anh Lê Chưởng và anh Nam Long báo cáo, anh Văn lệnh cho Đại đoàn 308 phái một đơn vị xuống ngay Hồng Cúm, phối hợp với Trung đoàn 57 Đại đoàn 304 tiêu diệt, bắt sống toàn bộ quân địch, không cho chúng chạy thoát về Thượng Lào.

Suốt chiều hôm đó, tôi luôn ở cạnh anh Văn. Anh bảo tôi điện giục Đại đoàn 312 báo cáo nhanh về việc bắt Đờcátxtơri.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #23 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 07:51:36 am »


Lát sau, anh Tấn gọi dây nói báo cáo đúng là đã bắt được Đờcátxtơri cùng toàn bộ Bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm. Đờcátxtơri vẫn mang theo cấp hiệu. Ta đã đối chiếu người với ảnh, kiểm tra kỹ giấy tờ và chữ ký của y.

Anh Văn cẩn thận hỏi lại:

- Đồng chí đã tận mắt nhìn thấy Đờcátxtơri chưa?

- Báo cáo anh, Đờcátxtơri đã được dẫn về Sở chỉ huy Đại đoàn, hiện đang đứng trước mặt tôi cùng các sĩ quan tham mưu của tập đoàn cứ điểm. Hắn vẫn còn cầm can và đội mũ đỏ.

Đến lúc này, anh Văn mới thực sự yên tâm. Anh phấn khởi nói:

- Chúc mừng các đồng chí! Tôi sẽ điện ngay về báo cáo với Bác, với Trung ương và Chính phủ!

Anh chỉ thị cho Ban Tuyên huấn mặt trận thảo gấp một bản thông cáo đặc biệt của Bộ Tổng tư lệnh đưa anh sửa chữa bổ sung để Đài Tiếng nói Việt Nam kịp truyền đi trong đêm nay. Đồng thời báo ngay tin địch ở Mường Thanh đầu hàng cho các đơn vị bộ đội và dân công ở phía sau qua đường dây điện thoại.

Cuộc chiến đấu ở Mường Thanh đã kết thúc, nhưng anh còn phải cùng anh Thái chỉ huy bộ đội tiêu diệt gọn quân địch ở phân khu nam. Qua máy điện đàm và hệ thống loa địch vận, ta kêu gọi chúng đầu hàng và sẽ được đối xử tử tế. Nhưng địch vẫn ngoan cố tìm cách tháo chạy.

8 giờ đêm ngày 7 tháng 5, bộ phận truy kích thuộc Trung đoàn 57 báo cáo đã bắt gặp địch. 12 giờ đêm, anh Lê Chưởng báo cáo về Bộ chỉ huy chiến dịch: đã bắt toàn bộ 2.000 địch ở Hồng Cúm, kể cả tên chỉ huy là đại tá La-lăng (Lalande).

Thế là sau 56 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng: Sự phản kích và giãy giụa điên cuồng của địch đã chứng minh quyết định thay đổi phương châm và cách đánh chiến dịch ngày 26 tháng 1 của anh Văn là hoàn toàn đúng đắn. Kế hoạch Na-va đã hoàn toàn phá sản.

Đã quá khuya và quá mệt sau một ngày và hai đêm căng thẳng, anh nở nụ cười rạng rỡ rồi ngả mình thiếp đi trên chiếc giường tre...

Tôi tiếc rằng mình không phải là nhà văn để miêu tả lại thật hay những phút giây hân hoan và xúc động đó. Giờ phút ấy, tôi bỗng nhớ lại hình ảnh Anh Văn sáng ngày 26 tháng 1, tuy mệt mỏi nhưng gương mặt vẫn cương nghị trước khi hạ một quyết tâm táo bạo, kịp thời. Tôi nhớ lại những ngày tháng tư đầy trắc trở khó khăn, anh phải tập trung suy nghĩ; nhớ những đêm anh thao thức vì trời đổ mưa to, sấm chớp đầy trời...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #24 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 07:52:41 am »


Tiếng chuông điện thoại cắt đứt dòng cảm xúc của tôi. Đồng chí Vi gọi điện: “Chúc mừng Võ Tổng và các đồng chí Việt Nam!”. Anh Văn trả lời: “Chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của đồng chí Vi, các đồng chí Cố vấn và nhân dân Trung Quốc!”.

Lời cảm ơn của anh Văn rất chân thực: Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ở cơ quan chỉ huy cũng như ở các đại đoàn, trước cũng như sau khi thay đổi phương châm chiến dịch, các bạn Trung Quốc đã giúp đỡ ta một cách tích cực, nhiệt tình. Bạn coi cuộc chiến đấu của ta cũng như của bạn, không nề gian khổ. Bạn đã giới thiệu cho ta kinh nghiệm chiến đấu của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc trong chiến dịch vây hãm quân Tưởng ở Hoài Hải, của Quân chí nguyện Trung Quốc ở Triều Tiên, đặc biệt là kinh nghiệm xây dựng công sự trận địa.. Bộ đội ta đã vận dụng những kinh nghiệm đó một cách sáng tạo. Trong toàn chiến dich, cùng 20 khẩu pháo, Trung Quốc đã viện trợ cho ta 3.600 viên đạn pháo 105 ly, chiếm 18% tổng số đạn tiêu thụ trên mặt trận1. Bạn đã giúp ta 1.700 tấn lương thực, chiếm 6,8% tổng số gạo dùng trong chiến dịch. Tỷ lệ không cao, nhưng nghĩa tình rất sâu nặng. Chiến tranh Triều Tiên vừa kết thúc, bạn còn nhiều khó khăn. Đây là số gạo từ Vân Nam chuyển đến Nậm Cúm ở sát biên giới với Lai Châu. Ta đã kết hợp đường bộ với đường sông, dùng gồng gánh, dùng thuyền, dùng mảng vượt qua 102 ghềnh thác chở về Điện Biên Phủ trong tháng 4 năm 1954. Trong những ngày cuối chiến dịch, cùng với 1 tiểu đoàn pháo ĐKZ 75 ly, 1 tiểu đoàn gồm 12 giàn hỏa tiễn sáu nòng do các bạn Trung Quốc trang bị và huấn luyện cũng đã kịp đưa lên mặt trận, tham gia vào trận cấp tập hỏa lực đêm 6 tháng 5. Mặc dù độ tản mát còn cao, nhưng đuôi lửa, tiếng rít và tiếng nổ dữ dội của loại vũ khí mới này đã làm tăng thêm nỗi kinh hoàng của quân địch vốn đã kiệt sức và tuyệt vọng sau 54 ngày đêm chiến đấu.

Hôm sau, mồng 8 tháng 5, tại Mường Phăng, cơ quan Hậu cần tổ chức một bữa “tiệc” bánh cuốn với rượu vang chiến lợi phẩm để ăn mừng chiến thắng. Hai đồng chí Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh và một số Cố vấn cùng liên hoan với Bộ chỉ huy chiến dịch. Anh Văn đã cùng đồng chí Vi hân hoan nâng cốc chúc mừng thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, chúc mừng tình hữu nghị chiến đấu giữa nhân dân và quân đội hai nước anh em...

Dĩ nhiên chiến thắng Điện Biên Phủ trước hết là chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam, của những người trực tiếp chiến đấu và đổ máu trên chiến trường, của toàn dân ta ở hậu phương đã dốc sức chi viện cho tiền tuyến. Sự viện trợ quý báu về vật chất và kinh nghiệm của Trung Quốc, Liên Xô và các nước anh em, sự đồng tình ủng hộ của Đảng Cộng sản và nhân dân lao động Pháp, của nhân dân tiến bộ toàn thế giới tuy không phải là quyết định nhưng là yếu tố vô cùng quan trọng. Phát huy sức mạnh của toàn dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại luôn luôn là bài học thắng lợi của cách mạng và chiến tranh cách mạng Việt Nam.
___________________________________
1. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ta dùng khoảng 20.000 viên đạn pháo 105 ly, gồm 11.000 viên chiến lợi phẩm của chiến dịch Biên Giới, 3.600 viên do Trung Quốc viện trợ kèm theo pháo, 440 viên chiến lợi phẩm thu tháng 12.1953 ở mặt trận Trung Lào và khoảng 5.000 viên thu tại trận do địch thả. Sau chiến tranh Triều Tiên, đạn pháo 105 ly Trung Quốc rất khan hiếm. Trước yêu cầu cấp thiết của chiến dịch, bạn đã vét từ các kho được 7.400 viên để chuyển cho ta, nhưng đến giữa tháng 5.1954 mới tới, sau khi trận đánh đã kết thúc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #25 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 08:38:34 pm »


*
*   *


35 năm sau, trong hồi ký về Điện Biên Phủ, Anh Văn coi quyết định ngày 26 tháng 1 năm 1954 thay đổi phương châm và cách đánh chiến dịch là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình. Tôi nghĩ: Đây còn là một quyết định lịch sử trong một chiến dịch lịch sử.

Bằng quyết định đó, Anh đã đưa mọi người trở về với chủ trương đúng đắn ban đầu của tập thể Tổng quân ủy trong tờ trình gửi lên Bộ Chính trị ngày 6 tháng 12 năm 1953. Anh đã trải qua một quá trình cân nhắc thận trọng, xử lý khôn khéo và kiên trì thuyết phục để vừa giữ vững nguyên tắc, vừa bảo đảm đoàn kết nhất trí cao trong lãnh đạo trước khi bước vào một trận đánh một mất một còn với địch.

Bằng quyết định đó, ta đã không chấp nhận một trận quyết chiến để phân thắng bại trong 3 đêm 2 ngày với một đội quân tinh nhuệ và thiện chiến của địch, khi chúng còn sung sức, lại có ưu thế về trang bị kỹ thuật, đặc biệt là không quân và pháo binh, điều mà cả Đờcátxtơri, Cô-nhi và Na-va đều mong đợi để chúng có cơ hội “nghiền nát chủ lực Việt Minh”! Thử nghĩ: một khi các đại đoàn thiện chiến hàng đầu của quân đội ta thất trận và bị tốn thất nặng nề ở Điện Biên Phủ thì cục diện cuộc kháng chiến sẽ ra sao? Chắc chắn là sẽ khó khăn phức tạp khôn lường. Còn lâu ta mới giải phóng được miền Bắc để tiến lên giải phóng hoàn toàn đất nước! Làm sao có thể tiêu diệt nhanh gọn cả một tập đoàn 49 cứ điểm với trên 16 ngàn quân, khi mà diễn biến thực tế của chiến dịch đã chứng minh: chỉ riêng một ngọn đồi A1, ta phải trải qua 38 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, với không ít thương vong!

Bằng quyết định thay đổi phương châm và cách đánh, ta đã chủ động chuyển sang vây hãm dài ngày, nhằm từng bước triệt đường tiếp viện, tiếp tế của địch cả trên bộ và trên không, rồi tập trung binh lực, hỏa lực, lần lượt tiến công tiêu diệt từng trung tâm đề kháng, để bảo đảm chắc thắng trong từng trận. Ta đã làm cho lực lượng của tập đoàn cứ điểm ngày càng tổn thất tiêu hao, khó khăn ngày càng chồng chất, ý chí chiến đấu của địch ngày càng sa sút để cuối cùng hoàn toàn đánh gục chúng khi quân số chúng vẫn còn đông, lập nên một chiến công lịch sử!

Chiến công lịch sử đó đánh dấu bước tiến nhảy vọt về khả năng chiến đấu của quân đội ta: Từ chỗ tiêu diệt được từng tiểu đoàn hoặc tiểu đoàn tăng cường của địch, phòng ngự trong từng cụm cứ điểm riêng lẻ, tiến lên tiêu diệt hàng vạn quân tinh nhuệ của chúng trong một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Ký giả Robert Guillain đã viết: “Ngay cả trong đại chiến thứ hai vừa qua, trên chiến trường châu Âu, quân đội Pháp cũng chưa bao giờ dựng lên một hệ thống phòng ngự dã chiến lớn mạnh như ở Điện Biên Phủ1. Ta đã đánh bại hình thức phòng ngự cao nhất của quân viễn chinh xâm lược Pháp, đè bẹp ý chí xâm lược của bọn thực dân, buộc Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, thủ đô Hà Nội và miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng.

Với 16.200 quân tinh nhuệ của địch bị tiêu diệt và bắt sống cùng tất cả tướng tá chỉ huy và Bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm, Điện Biên Phủ là trận đánh tiêu diệt lớn nhất, gọn nhất, điển hình nhất trong lịch sử chiến đấu của quân đội ta và lịch sử đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử thế giới cận đại và hiện đại, quân đội một nước nhỏ, kinh tế chậm phát triển, vũ khí kém cỏi, đã đánh bại quân đội xâm lược của một cường quốc công nghiệp phương Tây.

Trong tác phẩm “Trận Điện Biên Phủ” xuất bản năm 1963, tác giả người Pháp Jules Roy từng nhận xét: “Trên toàn thế giới, nơi trận Oa-téc-lô trước đây từng gây chấn động kém hơn, sự thất thủ Điện Biên Phủ đã gây nên nỗi kinh hoàng khủng khiếp. Đây là một trong những thất bại lớn nhất của phương Tây, báo hiệu sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa và sự cáo chung của một nền cộng hòa - Tiếng sấm của sự kiện còn tiếp tục rền vang...”.

Kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 7 tháng 5 năm 1964, Bác Hồ viết trên báo Nhân Dân: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn2”.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của dân tộc Việt Nam và của cả loài người tiến bộ! Trước hết đó là thắng lợi của Tư tưởng Hồ Chí Minh: Với lòng tin mãnh liệt vào sức mạnh quật khởi của dân tộc, từ năm 1925, Người đã sớm công bố “Bản án chế độ thực dân Pháp” để 29 năm sau, theo lệnh Người, quân và dân Việt Nam đã thi hành bản án ấy trên pháp trường Điện Biên Phủ! Bản án tử hình đó đã chấm dứt vĩnh viễn nền thống trị thực dân của Pháp trên toàn cõi Đông Dương, đồng thời gióng lên hồi chuông báo ngày tận số của chủ nghĩa thực dân trên thế giới.

Việt Nam - Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ!

Ba tiếng đó đã cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc bị nô dịch đứng lên giành quyền sống. Ba tiếng đó còn vang vọng mãi đến mai sau...

Kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, dân tộc ta đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại. Tổ quốc Việt Nam mãi mãi ghi công các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống ở Điện Biên Phủ và trên chiến trường ba nước Đông Dương, ghi công các vị chỉ huy, cố vấn Trung Quốc, các cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công và toàn dân toàn quân ta đã góp phần làm nên một Đông Xuân thắng lớn trên cả nước và một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
________________________________
1. Robert Guillain: “La fin des illusions” (Hết ảo tưởng).
2. Hồ Chí Minh - Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, H.2002, tr. 261.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #26 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 08:41:09 pm »


CUỘC CHẠY “VIỆT DÃ QUÁI ĐẢN”
TRẦN MINH HỒNG
Nguyên Trung đội trưởng, cán sự chính trị Đại đội 399,
Tiểu đoàn 89, Trung đoàn 36, Đại đoàn 308

Trong tập “Kết thúc những ảo tưởng” khi nói về cuộc truy kích của lực lượng Việt Minh phối hợp với quân Pathét Lào dọc phòng tuyến sông Nậm Hu trước khi quân ta nổ súng tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nhà báo Pháp Robert Guillain đã có một nhận xét thú vị: “Đây là một cuộc chạy việt dã quái đản xuyên qua rừng rậm, vượt lên trên sức của bất kỳ đội quân nào!”. Tôi có may mắn tham gia sự kiện đó - một cuộc hành quân dài 200km nhằm cắt đứt hành lang Điện Biên Phủ và Luang Prabang mà địch mới thiết lập, hoàn thành thế bao vây cô lập tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Ngày ấy, ngày cuối tháng 1 năm 1954, đơn vị chúng tôi đang giấu mình trong những cánh rừng phía tây Mường Thanh, chuẩn bị cho trận tiến công “tốc chiến tốc thắng” tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Mọi việc sắp hoàn tất cho giờ G nổ súng thì bỗng nhiên, ngày 26 tháng 1, chúng tôi linh cảm có điều gì khác lạ. Buổi chiều, có lệnh thay đổi, bỏ lại tất cả những thứ không cần thiết, trang bị thật gọn nhẹ, khẩn trương chuẩn bị hành quân. Anh em băn khoăn không hiểu vì sao?

Chúng tôi mỗi người một khẩu súng và một cơ số đạn trên vai, thắt cái “ruột tượng” dựng hai ngày gạo rang vào lưng rồi gấp rút lên đường. Xuyên rừng chiều, cả Đại đoàn 308 chia thành hai cánh quân, vượt biên giới sang đất bạn Lào. Tiểu đoàn 89 chúng tôi được “lãnh ấn” tiên phong đi đầu đội hình Trung đoàn 36 tiến về hướng Nậm Bạc - Luang Prabang.

Nửa đêm hôm đó, trong lúc chúng tôi đang bì bõm lội suối gần biên giới thì được tin địch ở đồn tiền tiêu Nga Na Soong trên đất bạn vừa rút chạy. Thế là bắt đầu cuộc truy đuổi, lúc đi, lúc chạy, đơn vị nào khỏe được phép vượt lên trước, đơn vị đi đầu gặp địch là đánh, đơn vị sau nếu không cần yểm trợ chiến đấu thì cứ vượt qua tiến lên phía trước, tiếp tục bám đuổi địch.

Quân địch ở Nga Na Soong rút chạy trước chúng tôi gần 10 tiếng đồng hồ nhưng đến trưa hôm sau - ngày 27 tháng 1 đã bị chúng tôi truy kích suốt đêm đuổi kịp. Chúng không ngờ “quân ta” thần tốc đến thế nên gặp là hoảng loạn, chống cự yếu ớt. Đại đội đi trước nổ súng, địch bỏ chạy tản mác. Đại đội 399 chúng tôi vượt lên dẫn đầu đội hình tiểu đoàn, băng qua hiện trường ngổn ngang chiến lợi phẩm. Đây là một nguồn cung cấp bánh quy, đồ hộp bổ sung vào cái túi lương thực đường trường.

Dù đi thêm hàng trăm cây số đường rừng hoang vắng, chúng tôi không lo lắm vì khẩu phần hai ngày gạo rang vẫn còn bên lưng.

Rừng Lào về mùa khô xơ xác cây lá. Những rừng săng lẻ, rừng khộp, nứa, vầu đại ngàn tiếp nối, nhiều đoạn đường vắt nhiều vô kể, chúng vươn đầu ngọ nguậy dưới chân bước, tua tủa như những bàn chông. Lại có ngày hành quân toàn đồi trọc, hết triền núi này đến triền núi khác, thỉnh thoảng mới gặp con suối với những bản Mèo và những nương lúa, nương thuốc phiện. Nhiều anh em chúng tôi mới lần đầu nhìn thấy loại cây thuôc phiện chết người này với những bông hoa trắng, tím hồng trông thật quyến rũ.

Trải qua tám ngày đêm xuyên rừng vượt núi truy kích địch, các đại đội trong Tiểu đoàn 89 luân phiên nhau dẫn đầu đội hình Trung đoàn, trên đường truy kích đã đụng độ với địch gần mười trận, tiêu diệt, bắt gọn và làm tan rã hàng trăm tên địch.

Đến chiều ngày 2 tháng 2, chúng tôi tới Nậm Bạc. Thật mát mắt khi nhìn thấy màu xanh của lúa trải ra giữa thung lũng phì nhiêu. Có một khu đồn lớn và sân bay địch, xung quanh là những bản làng trù phú san sát những ngôi nhà sàn bên hàng dừa xanh. Một con sông nhỏ uốn lượn bên những thửa ruộng bậc thang. Anh em chúng tôi băng rừng vượt núi, vừa hành quân, vừa tác chiến, đến đây chưa kịp thở thì tiểu đoàn trưởng Nguyễn Liệu chớp thời cơ ra lệnh nổ súng tấn công, địch hốt hoảng rút chạy, bỏ lại nguyên vẹn kho tàng.

Giải phóng xong Nậm Bạc, đại đội 399 nhận ngay lệnh lên đường. Đại đội trưởng Nguyễn Hữu Thành phổ biến nhiệm vụ mới, đốc thúc anh em ăn vội bữa cơm chiều, bổ sung món chiến lợi phẩm lương khô “hảo hạng” rồi lại tiếp tục hành quân.

Rời thung lũng Nậm Bạc, chúng tôi hướng tới Nậm Ngà. Đang đà chiến thắng, cán bộ chiến sĩ háo hức, quên cả mệt nhọc, hăng hái lên đường. Trừ trung đội 1 ở lại Nậm Bạc tham gia thu dọn chiến trường, đại đội chúng tôi còn bảy mươi tay súng. Đi cùng còn có hai cán bộ cấp phó tiểu đoàn 89 và trung đoàn phó Ngô Ngọc Dương, Phó chính ủy trung đoàn Phạm Hồng Cư trực tiếp xuống đốc chiến, luôn có mặt trong đơn vị dẫn đầu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #27 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 08:42:56 pm »


Trận “tao ngộ chiến” ngã ba Nậm Ngà

Rời khỏi thung lũng Nậm Bạc, trời đã tối mịt. Đường càng đi càng khó, chúng tôi mò mẫm bám theo nhau. Đom đóm lập lòe bay trên đội hình hành quân như trêu đùa, anh em quờ tay bắt, xiết lên ba lô, hoặc cài sẵn miếng gỗ mục phát sáng để nhận ra nhau. Càng về khuya, đôi mắt đã díp lại mà đôi chân cứ bước như một cái máy; ngại nhất là lúc đội hình dồn lại, người đi trước mỗi khi di chuyển chủ động lay gọi người đi sau. Cái tuổi 18 của chúng tôi được thử sức.

Nửa đêm có lệnh dừng lại. Hai trung đội của Hoàng Như Phan và Phạm Thế Trung đi trước và sau đội hình cắt cử người canh gác, còn chúng tôi đặt ba lô xuống, lựa thế là nằm ngủ thiếp đi ngay; đâu ngờ rằng có một cánh quân địch đông tới sáu bảy trăm tên trên đường tháo chạy từ Mường Sài về Nậm Ngà, đang trú quân gần đây, hướng hành quân của chúng đâm thẳng vào đội hình chúng tôi đang nằm. Mãi đến sáng ra nhìn lại, tôi mới biết đây là một ngã ba, nơi con đường chúng tôi đi men theo một con suối khá rộng gặp nhánh đường rừng từ Mường Sài tới, hợp lại đi thẳng về hướng Nậm Ngà. Mặt đường lồi lõm vết chân trâu, vậy mà đêm qua đặt lưng xuống chúng tôi đã đánh một giấc ngon lành.

Khi chúng tôi được báo thức thì mặt trời đã ló dạng trên cao nhưng sương mù vẫn còn phủ trắng, cách mười thước không nhìn rõ mặt người. Tôi vươn vai đứng lên mà chân như khuỵu xuống, gắng gượng lò dò từng bước, một lát sau mới quen dần. Xuống suối tôi vục mặt trong lòng nước mát, rửa các kẽ chân suốt ngày ngâm trong đôi giày Ba-ta sũng nước đã lở loét trắng bệch.

Ít phút sau, có lệnh chuẩn bị hành quân. Tôi vừa choàng khẩu tiểu liên K50 lên người đã giật nảy mình khi nghe tiếng đạn K50 nổ vang từ phía trung đội 2 và tiếng hét “có địch”. Bất giác chúng tôi như một phản ứng dây chuyền, tất cả đều kêu to “có địch” và cắt rừng ào ạt lao về phía có súng. Đang mong gặp địch nên anh em rất phấn khích, các loại súng thi nhau nhả đạn. Địch bắn trả, đạn đan chéo trên đầu, cành lá gãy đổ, những thân cây bị xé toạc, vung vãi. Một trận “tao ngộ” diễn ra ác liệt. Thì ra tiểu đoàn ngụy Thái số 1 (1er BAT) từ phía Mường Sài rút về Nậm Ngà, tối qua chúng dừng lại trú quân cách đây chừng một cây số. Sáng ra địch hành quân sớm, tổ “xích hầu” đi đầu sục sạo với trung, đại liên yểm trợ vừa qua khỏi khúc quanh bìa rừng thì vấp phải trạm cảnh giới của ta. Tiểu đội phó Thúy, người đứng gác cuối cùng vừa được lệnh rút về hành quân thì trông thấy địch. Giây phút bàng hoàng ngơ ngác nhìn nhau, Thúy định thần trước, anh kêu lên “có địch” rồi quét luôn một loạt K50 quật ngã chúng, giành thế chủ động cho ta. Địch bị tấn công phủ đầu quyết liệt, hốt hoảng tưởng sa vào trận địa phục kích, lúng túng bắn trả, yểm trợ nhau tháo chạy, tan vỡ từng mảng, chỉ còn không đầy hai trăm tên lui về chỗ trú quân đêm qua, lợi dụng ít công sự sẵn có, chúng dừng lại để thu thập tàn quân. Lực lượng của ta vốn mỏng, chỉ bằng một phần mười lực lượng địch, lại rải rác tác chiến đuổi địch suốt trên một cây số, đến nay chỉ còn khoảng 40 tay súng, cũng không thể tiến thêm được nữa. Hai bên chiếm hai ngọn đồi cách nhau chừng hơn trăm mét, ở giữa là một cái lõm hình yên ngựa.

Tôi đôn đốc anh em đào công sự thì phó chính ủy trung đoàn Hồng Cư đến hạ lệnh tôi quay về phía sau thay chính trị viên đại đội Tấn để giải quyết “hậu chiến”. Quãng đường dài hơn một cây số ngổn ngang súng đạn của địch tháo chạy vứt bỏ và hàng trăm tên địch tan tác còn luẩn quẩn đâu đây. Khẩu K50 của tôi đã bắn nhiều nên tôi nhặt thêm một khẩu tiểu liên Thompson còn đầy đạn choàng lên người. Càng gần tới ngã ba nơi chạm trán giữa ta và địch, quang cảnh chiến trường còn bề bộn ngổn ngang, càng thấy nhiều xác địch rải rác đó đây. Một tên da trắng bị trúng đạn vào đầu, nằm sấp ven đường, đã bị thương gần một tiếng đồng hồ mà vẫn còn sống, rên rỉ. Tại khúc quanh đường rừng nơi bắt đầu trận đánh, một tên da trắng khác bị thương trúng chân, chắc là sĩ quan chỉ huy đơn vị đi đầu đã lột lon, bỏ áo cởi trần ngồi ngav giữa đường đi. Nhìn cái thế ngồi của nó khi trúng đạn, mặt quay về phía quân ta, cái bộ ngực lông lá và nhất là cặp mắt xanh lè cứ giương lên nhìn, tôi đột ngột giận sôi lên nhìn vào mắt nó, bắt dẹp vào bên đường, quên bẵng đi nó đang bị thương. Đáng ra nói “Va-tăng” thì tôi buột miệng nói “A-lê” rồi chỉ tay vào đường nói tiếp “ici”, vẻ mặt tôi có vẻ “dữ” nên tôi thấy nó tái mặt đi và lê lết vào ngay chỗ tay tôi chỉ.

Gặp anh Tấn đang tất bật chỉ huy thu dọn chiến trường, tôi nhận bàn giao và tiếp tục công việc của anh, với một tiểu đội trong tay, phải thu gom chăm sóc hơn chục thương binh, tử sĩ của ta, tiếp tục truy bắt, cai quản đám đông tù binh địch đã hơn sáu mươi tên. Ngoài ra, còn hơn 40 người dân tỉnh Phú Thọ bị địch càn quét bắt làm tù binh người Bắc Kỳ (chúng gọi họ là PMT - (Prisonniers Militaires Tonkinois), đưa sang Lào, buộc đi theo tiểu đoàn 1er BAT làm phu khuân vác. Tôi động viên và sử dụng ngay họ vào việc tỏa đi khắp rừng tìm kiếm cho bằng hết thương binh, tử sĩ của ta có thể còn sót lại.

Lúc này, xảy ra một chuyện: khi đồng chí Dược, y tá đại đội, bảo hai bác PMT đã đứng tuổi, trông hiền lành đứng đắn, khiêng chuyển một cáng thương binh của ta, tôi thấy hai bác này lại tỏ ra trù trừ ngần ngại. Bực mình, tôi trách mắng thì hai bác òa lên khóc. Họ trật áo cho tôi xem, hai vai của họ xưng tấy lên đỏ hỏn như hai khối u nhọt đọng máu sắp vỡ. Hai bác kể: bọn địch coi PMT như những con lừa, con ngựa, trút mọi thứ bắt mang vác. Hôm qua có mấy PMT kiệt sức quỵ xuống bị chúng bắn bỏ xác bên đường. Hai bác nghẹn ngào nói trong nước mắt: “Đêm qua chúng em trằn trọc không ngủ được, đoán chắc rằng hôm nay sẽ là ngày cuối của cuộc đời vì không thể cố gắng kéo lê được thân xác “ngựa thồ” thêm nữa. Đến giờ giao thừa, mọi người ngồi dậy ôm nhau khóc, trăn trối những lời sau cùng để ai còn sống sót về kể lại cho gia đình vợ con quê nhà. May nhờ ơn cứu tử của bộ đội...”

“Giao thừa” - “Giờ giao thừa”... nghe hai bác PMT nói, chúng tôi mới biết đêm qua là đêm cuối cùng của năm Quý Tỵ, trận đánh sáng nay đúng vào sáng mùng một Tết Giáp Ngọ, một trận đánh thắng to, đón mùa xuân mới. Trận đánh đầu xuân này được Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét trong cuốn “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử” là “trận đánh lớn nhất trên đường truy kích” trên đất bạn Lào mùa xuân năm 1954.

HẢI TÂN ghi
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #28 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 08:44:36 pm »


KÉO PHÁO Ở ĐIỆN BIÊN
NGUYỄN VĂN TẠI
Cựu chiến binh Trung đoàn 141, Đại đoàn 312

Tôi có vinh dự là chiến sĩ Đại đoàn 312 tham gia kéo pháo vào trận địa trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, lúc đó tôi 28 tuổi, nay đã tuổi 83.

Khoảng trung tuần tháng 1 năm 1954, ta đưa pháo vào trận địa. Này “hò dô ta nào, kéo pháo ta vượt qua đèo”… Các bạn có biết không? Mỗi khẩu pháo nặng hàng mấy tấn thép được kéo lên dốc, phải dùng tới 150 đến 160 chiến sĩ trẻ, khỏe để kéo, phải đi quanh co những ngọn núi có độ dốc cao tới 60 đến 70 độ. Lại có lúc phải đưa pháo qua những vực sâu thẳm mà không có đường, phải lấy đá kè đắp thành đường cho pháo đi qua... Khi lên dốc phải vừa kéo vừa có người liên tục dùng khúc gỗ nhỏ có hình cạnh tam giác chèn vào phía sau bánh xe của pháo, để pháo khỏi tuột xuống dốc. Sau mỗi nhịp kéo, khẩu pháo chỉ nhích lên chừng 30 đến 40 cm. Mỗi đêm, nếu đường ít dốc và khô ráo thì pháo nhích được vài ba cây số, nếu gặp trời mưa, đường trơn thì chỉ kéo được 500 đến 600 mét.

Kéo pháo lên dốc đã vất vả, nhưng đưa pháo xuống dốc còn cực nhọc gấp nhiều lần. Vì phải xuống theo sườn núi quanh co, một bên là vách đá dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm. Phải có hàng trăm người ghìm dây thả pháo từ từ, số người đứng trước thì thay nhau chèn pháo, giữ cho khẩu pháo đi đúng hướng, đúng đường xuống dốc. Qua thực tế kéo pháo, anh em có sáng kiến làm “tời”, buộc dây kéo pháo vào trục tời, đầu bên kia buộc vào hai càng của pháo, dùng tời thả pháo xuống dần, vừa thả vừa chèn để pháo khỏi lao nhanh, nhằm đảm bảo an toàn cho cả người và pháo.

Việc kéo pháo vào trận địa thường bố trí vào ban đêm, để tránh phi pháo của địch. Khi qua rừng rậm, đường kéo pháo kín đáo thì được tranh thủ kéo pháo ban ngày. Sau hơn một tuần khẩn trương kéo pháo cả ngày lẫn đêm, các chiến sĩ của sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ kéo pháo vào trận địa quy định, bảo đảm bí mật, an toàn.

Bỗng nhiên ngày 26 tháng 1 năm 1954, Đảng ủy mặt trận họp nhất trí với đề xuất của đồng chí Chỉ huy trưởng chiến dịch quyết định đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đại đoàn 312 lại được lệnh kéo pháo ra.

Để hoàn thành nhiệm vụ kéo pháo ra, Chỉ huy trưởng quyết định thành lập Ban chỉ đạo, chỉ huy kéo pháo ra, có đồng chí Chính ủy pháo binh và đồng chí Lê Trọng Tấn - Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 tham gia. Phiên họp đầu tiên bàn nhiều biện pháp lãnh đạo tư tưởng bộ đội, quyết tâm vượt khó, giữ vững lòng tin, nhấn mạnh việc kéo pháo ra phải an toàn tuyệt đối cả về người và pháo. Việc kéo pháo vào đã khó, lãnh đạo kéo pháo ra còn khó gấp nhiều lần.

Để cô lập triệt để tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tạo mọi thuận lợi cho các đơn vị kéo pháo ra và cho công tác chuẩn bị của toàn chiến dịch, Đại đoàn 308 được lệnh mở cuộc tiến công mới vào phòng tuyến của địch ở lưu vực sông Nậm Hu (Thượng Lào) vào chiều ngày 26 tháng 1 năm 1954.

Đại đoàn 312 chúng tôi bắt đầu kéo pháo ra từ ngày 27 tháng 1 năm 1954. Trở lại những dốc đèo hiểm trở, đường kéo pháo ngày càng lầy lội, vì có hàng vạn người qua lại. Địch bắn đại bác trúng Đại đội 21 đang kéo pháo ra, một số chiến sĩ hy sinh và một số bị thương. Nhưng mọi người không hề nao núng.

Nhiệm vụ gian nan và nguy hiểm, đã có nhiều chiến sĩ ốm, sốt liên miên, không ăn uống được, cán bộ cho nghỉ vẫn xung phong kéo pháo. Nhiều cán bộ, chiến sĩ thức trắng đêm, ăn uống thiếu thốn, thiếu rau xanh nên phải đào củ mài, lấy bắp chuối, rau chuối, rau rừng để ăn thêm... Những đêm cuối tháng trời tối, đường dốc cheo leo, việc kéo pháo càng nặng nhọc, đổ cả mồ hôi và máu. Ở đơn vị bạn có đồng chí Tô Vĩnh Diện đã hy sinh thân mình cứu pháo, không để pháo lao xuống vực sâu... Tấm gương anh dũng hy sinh của anh Diện đã cổ vũ tinh thần các chiến sĩ kéo pháo toàn đơn vị.

Trong những ngày kéo pháo gian khổ, nhân dân hậu phương đã gửi hàng ngàn lá thư, tặng phẩm, bánh chưng ra tiền tuyến cho bộ đội ăn tết, cổ vũ phong trào thi đua lập công mừng xuân mới. Đúng Tết âm lịch, ngày 5 tháng 2 năm 1954, các đơn vị toàn Đại đoàn hoàn thành nhiệm vụ kéo pháo ra đúng điểm quy định tại cây số 70 đường Tuần Giáo.

Trong thời gian kéo pháo, chỉ tính riêng Trung đoàn 141 đã có 29 đồng chí hy sinh, 106 đồng chí bị thương. Đại đội 243 của Trung đoàn 141 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.

Đồng chí Hoàng Vân - Đội trưởng Đội văn công Đại đoàn đã sáng tác bài “Hò kéo pháo” ngay tại trận địa “Dốc núi cao cao, nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi. Vực sâu thăm thẳm, vực nào sâu bằng chí căm thù”. Bài hát sẽ còn vang vọng mãi đến mai sau...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #29 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 08:47:14 pm »


HANG ĐÁ BẢN TÀ KHEO
KIM CÂN
Nữ chiến sĩ quân y Điện Biên Phủ

Tại bản Tà Kheo thuộc tỉnh Sơn La có một hang đá trong rừng sâu thật vững chắc và rộng rãi có thể cho hàng trăm người trú chân ăn ngủ tránh mưa tránh nắng. Nơi đây, ta đã đặt phòng mổ cho thương binh. Có bốn chục thương binh nặng nằm điều trị trong hang đá này.

Hôm ấy, ngày 10 tháng 3, một máy bay “bà già” bị bộ đội ta bắn cháy, rơi cách bản Tà Kheo 1km. Ngồi trong hang đá mà nghe tiếng động xé trời, máy bay bốc cháy ngùn ngụt hàng tiếng đồng hồ, thế mà hang đá vẫn sừng sững giữa trời che chở bao thương binh nặng và chiến sĩ quân y.

Vào lúc 14 giờ, Tỉnh đội báo qua có 8 tên biệt kích ở trên núi Sam, ta đã bắt được 4 tên, còn 4 tên chạy thoát. Tỉnh đội lưu ý các đơn vị cảnh giác đề phòng chúng trà trộn vào đơn vị.

Đến 21 giờ, đồng chi Cao Đình Tự đi khám bệnh giúp dân về đến bờ suối thì thấy con ngựa bạch bị hổ cắn chết nằm bên bờ suối máu vần còn chảy liền báo cho anh chị em biết, có ai đi trông coi tử sĩ phải cảnh giác, hết sức chú ý kẻo hổ lôi mất tử sĩ. Mọi người trong đơn vị ai cũng lạnh gáy, thế mà tôi cùng anh Nguyễn Văn Hiểu cùng tuổi phải canh gác doanh trại và 4 tử sĩ từ 11 giờ khuya đến 1 giờ sáng hôm sau trong khi tiết trời không thuận, mưa phùn gió bấc rét thấu xương, toàn thân ướt sũng.

Đang rét run cầm cập, khoảng 12 giờ đêm có tiếng động, không biết hổ hay là trăn rừng hoặc hươu nai gì đó mà nghe rõ cây rừng gãy răng rắc dồn dập; vừa sợ 4 thằng biệt kích trên núi Sam, vừa sợ hổ vồ, toàn thân tôi run lẩy bẩy, hai hàm răng cứ đánh cầm cập, tôi sợ quá bàn với anh Hiểu:

- Anh Hiểu ơi! Hay là tôi và anh đứng dựa lưng vào nhau cho đỡ rét và đỡ sợ...

Rồi từ hôm ấy chúng tôi không bao giờ dám nhìn mặt nhau và không dám ngồi ăn cơm cùng bàn. Tất nhiên chuyện này chỉ có hai chúng tôi biết... Sau đó, anh Hiểu trên đường di chuyển thương binh đã hy sinh ở đèo Pha Đin, tôi rất thương anh Hiểu, nên viết vào sổ nhật ký mấy câu thơ tôi nhớ mãi đến bây giờ.

Mấy câu thơ như sau:

      Hai người dựa lưng nhau

      Vào một đèm đông lạnh
      Giữa núi rừng thẳm sâu
      Áo che thân mỏng mảnh
      Hai người dựa lưng nhau
      Anh người trai khỏe khoắn
      Tôi cô gái măng tơ
      Dựa lưng vì nhiệm vụ
      Lòng trong trắng như tờ
      Chắc tay cầm báng súng
      Canh tử sĩ... hùm beo
      Nổi da gà vì sợ
      Tiếng hú khua lưng đèo
      Vẫn chưa phai kỷ niệm
      Chiến tích bi hài xưa
      Lòng bồi hồi nhớ lại
      Những ngày đẹp như mơ.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM