Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:26:32 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Từ Đồng Quan đến Điện Biên  (Đọc 47990 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #80 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2016, 08:06:02 am »


*

*       *

        So với tập đoàn cứ điểm Nà Sản thì Sầm Nưa là một tập đoàn cứ điểm tương đối yếu hơn. Từ đầu tháng 12 năm 1952, tướng Sa-lăng đã sang Luông Pha-băng để trấn an, cam kết với vua Lào, Pháp sẽ làm hết sức mình để bảo vệ Lào. Trong suốt ba tháng đầu năm 1953, Bộ chỉ huy Pháp đã điều lên Sầm Nưa ba tiểu đoàn, gấp rút xây dựng công sự để biến Sầm Nưa thành một tập đoàn cứ điểm gồm 11 vị trí. Do địa hình chi phối nên địch phải bố trí tập đoàn cứ điểm theo chiều dài, ngoại vi mỏng và chưa kín, còn nhiều sơ hở, nhất là phía nam. Con đường duy nhất để tiếp tế lương thực và đạn dược là sân bay ở xa. Nếu ta khống chế sân bay thì địch khó chống cự nổi.

        Anh em trung đoàn 209 vào sân bay Sầm Nưa lấy được cả bánh mì, đồ hộp. Chúng tôi đang trinh sát thì được tin có một tên dẫn đường của ta ra hàng địch (sau ta bắt được tên phản bội này ở Thái Nguyên). Chúng tôi quyết định tạm ngừng trinh sát, rút ra an toàn vì địch chưa kịp phản ứng. Thức ăn mang theo cũng vừa hết. Tôi giao cho Nam Long tìm cách cải thiện để lấy sức ra đón bộ đội. Mường Liệt có nhiều khỉ, Nam Long là tay thiện xạ, cứ mỗi viên một con. Được khỉ anh em lột da, luộc rồi nấu cháo cho thêm tí muối, vài lá mùi tàu ăn cũng ngon. Trở về vùng biên giới Việt - Lào, chúng tôi gặp bộ chỉ huy chiến dịch của liên quân Lào - Việt: các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thái, Xu-pha-nu-vông, Cay-xỏn Phôm-vi-hản.

        Bộ chỉ huy chiến dịch cho chúng tôi biết: chừng một tháng sau, khi chúng ta bắt đầu huy động nhân vạt lực lên trung tuyến thì địch công bố trên đài phát thanh rằng quân ta sắp mở cuộc tiến công vào Tây Bắc và Thượng Lào, nhằm các mục tiêu Xiêng Khoảng, Sầm Nưa hoặc Nà Sản. có hôm địch công khai đưa tin quân ta đang chuẩn bị tiến công vào Thượng Lào bằng hai hướng: một hướng từ Mộc Châu sang Sầm nưa, một hướng từ Điện Biên Phủ lên Luông Pha-băng.

        Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: mặc dù quân địch rêu rao nhưng sự thực chúng chỉ biết ta có một cánh quân theo đường số 7, còn hướng chính chúng vẫn phân vân không hiểu là định đánh Sầm Nưa hoặc Nà Sản. Chúng lại có phần nặng vê phá đoán ta đánh Nà Sản, cho nên ngày 7 tháng 4 năm 1953, chúng vội vã rút quân từ Cò Nòi về Nà Sản, tăng cường lương thực, đạn dược cho tập đoàn cứ điểm này trong một tuần lễ. Không quân địch oanh tạc mạnh trên đường số 41 và đường Quang Huy đi Tạ Khoa.

        Bộ chỉ huy hạ quyết tâm mở chiến dịch. Yêu cầu chính trong lúc này là phải tranh thủ thời gian, tổ chức những đơn vị gọn nhẹ, hành quân bôn tập cưc kì bí mật và nhanh chóng, tiến nhanh vào Sầm Nưa để bao vây địch, ngăn chặn không cho chúng tăng viện hoặc rút lui, đợi bộ đội đến nơi đây đầy đủ thì tiến công tiêu diệt. Kế hoạch dự định trong đêm 14 sáng 15 thì khống chế sân bay và hoàn thành bao vây thị xã Sầm Nưa, đợi đến chập tối ngày 17 công kích.

        Chúng tôi về dến Mộc Châu thì cũng vừa lúc đại đoàn lên. Chúng tôi tổ chức hiệp đồng lần cuối cùng rồi lên đường. Chúng tôi bí mật vượt sông Mã. Đang hành quân gấp thì được tin trưa ngày 13 tháng 4 năm 1953 địch đã rút khỏi Sầm Nưa. Về sau chúng tôi được biết ngay từ 5 tháng 4, khi Man-pơ-lát, trung tá chỉ huy quân khu Sầm Nưa về Hà Nội báo cáo, tổng chỉ huy Sa-lăng đã cùng viên trung tá này bàn kế hoạch khi cần thiết thì rút khỏi Sầm Nưa. Do có sự bát trắc, kế hoạch tiến công của ta bị lộ. Sa-lăng hạ lệnh cấp tốc rút quân khỏi cứ điểm này ngay trong đêm 12 tháng 4.

        Được tin địch rút nhiều người cho rằng cơ hôi tiêu diệt địch đã hết. Có người nói thế là “công cốc”. Còn cách địch những hai ngày đường, đuổi sao kịp. Nhưng bộ chỉ huy chiến dịch lại nhận định khác. Bộ chỉ huy cho rằng địch đã rút khỏi công sự thì tinh thần càng sút kém, đường rút lui dài trên 200 ki-lô-mét. Ta vẫn có điều kiện tiêu diệt địch. Do đó, Bộ chỉ huy hạ quyết tâm: truy kích địch đến cùng, tiêu diệt toàn bộ quân địch rút lui.

        Cuộc truy kích lớn nhất của bộ đội ta đã diễn ra trên hặng đường dài 270 ki-lô-mét, từ Sầm Nưa đến đường số 7, đến Bản Ban, Lát Bua.

        Ta phát hiện địch rút lui hơi muộn. Từ ngày 12, địch từ Sầm Nưa đã đánh nống ra để nghi binh. Đêm 12 trời lại mưa như trút. Đến năm giờ sáng đại bộ phận quân địch đã ra khỏi thị xã Sầm Nưa, nhưng mãi đến trưa ta mới phát hiện. Tiểu đoàn 888 trung đoàn 176 đại đoàn 316 tiến vào thị xã tức khắc đuổi địch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #81 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2016, 08:09:31 am »


        Nhận được tin báo, Bộ chỉ huy chiến dịch lập tức ra lệnh cho các đơn vị, đồng thời điện cho bộ phận quân báo chia đi các ngả đường tiến quân, đón các đơn vị truyền đạt mệnh lệnh: “Tổ chức những đơn vị gọn nhẹ, nhanh chóng đuổi kịp, tiêu diệt cho bằng được”. Lúc này bộ phận đầu tiên của quân ta đã xuất phát chậm hơn bộ phận đi cuối đội hình địch tám giờ, và chậm hơn bộ phận đi đầu của đội hình địch 19 giờ. Thời gian lúc này là lực lượng.

        Tiểu đoàn 888 trung đoàn 176 đại đoàn 316, đơn vị bao vây, bám ngay địch. Trong dêm, tiểu đoàn đuổi kịp bọn đi sau, nổ súng đánh bặt gọn toàn bộ bọn cầm đầu ngụy quyền tỉnh, trong đó có những tên tỉnh trưởng, tỉnh phó, chánh án tỉnh Hua Phăn, huyện trưởng uyện Sốp Hào cùng 40 tên ngụy Lào. Trung đoàn 98 đại đoàn 316 còn cách Sầm Nưa 14 ki-lô-mét được tin địch rút, trung đoàn trưởng Vũ Lăng ra lệnh cho toàn đơn vị tiêu diệt truy kích ngay trong đêm. Vũ Lăng tổ chức nhiều phân đội nhỏ trang bị gọn nhẹ, tách khỏi đội hình trung đoàn tìm đường cắt rừng tiến lên trước, chặn không cho địch rút. Từ Mường Hàm, đường rất khó đi. Các chiến sĩ đuỏi địch suốt đêm đã thấm mệt. Các cán bộ tiểu đoàn xuống từng đại đội động viên, tổ chức lại đơn vị.

        Sáng hôm sau, đơn vị đi đầu của trung đoàn 98 phát hiện địch ở chân dốc bản Nà Noọng. Đây là cơ quan chỉ huy phân khu Sầm Nưa. Địch có tiểu đoàn biệt động ngụy Lào số 8 và hai đại đội thuộc tiểu đoàn dù ngụy Lào số 1. Đại đội đi đầu của trung đoàn 98 một mặt báo cáo ngay lên trung đoàn, một mặt tổ chức tiến công luôn. Lúc đầu địch hoang mang la hét, nhưng khi thấy binh lực ta it chúng quay ra chống cự.

        Tuy chưa nhận được báo cáo, nhưng nghe súng nổ, trung đoàn trưởng 98 biết ta đã chạm địch, liên tổ chức một đại đội theo đường mòn vượt qua Nà Noọng 15 ki-lô-mét chặn đầu, một đại đội xuyên rừng đi tắt qua Bản Mèo ngăn không cho địch sang Mường Pơn. Trưa ngày 14 trận đánh kết thúc, ta diệt 58 tên, bắt sống 228 tên. Nhưng Man-pơ-lát đã cùng tiểu đoàn 2 ngụy Lào, một đại đội dù và một trung đội lê dương rút về Mường Pơn từ đêm trước.

        Lúc này trung đoàn 102 đại đoàn 308 đã đến Mường Pơn nhưng địch đã rút khỏi Mường Pơ, trung đoàn phải truy kích hai ngày nữa mới đuổi kịp địch, diệt năm đại đội, bắt sống thiếu tá Giơ-nu-đê chỉ huy tiểu đoàn. Còn Man-pơ-lát chỉ huy Sầm Nưa phải một tháng sau mới về.

        Ở cánh nam, chúng tôi được thông báo đại đoàn 304 đã tiêu diệt vị trí Noọng Hét. Địch ở Bản Ban và thị trấn Xiêng Khoảng bỏ chạy. Trung đoàn 209 phát hiện địch rút chạy để truy luôn theo đường Sầm Nưa - Hứa Mường; đến Mường Pơn gặp bộ phận đi cuối cánh quân địch liền tổ chức tiến công đánh tan đội hình địch và tiếp tục truy giữa Mường Pơn và Bản Ban trên đường số 7. Đang truy kích địch, chúng tôi nhận được điện của Bộ chỉ huy chiến dịch: “Noọng Hét bị tiêu diệt, Xiêng Khoảng bỏ chạy, chúng không có đường thoát, phải tích cực truy quét bọn tàn binh”. Thế là ta và bạn đã len lỏi trong các khe suối, lên các đỉnh núi cao, đi vào những khu rừng tìm vết tích để lùng bắt bọn tàn binh. Trong gần nửa tháng trời, ta và bạn gọi hàng được 300 tên địch, trong đó có viên trung úy tri châu Sầm Tơ.

        Chiều ngày 19 quân ta tiến vào thị xã Xiêng Khoảng, truy kích quân địch và tiêu diệt bộ phận đi cuối của chúng.

        Địch kì vọng rút Sầm nưa về để tăng cường cho cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Bản Ban. Nhưng nay Sầm Nưa bị tiêu diệt, chúng lại thấy quân ta chia làm nhiều hướng tiến về Cánh Đồng Chum, địch buộc phải vộ vã mang quân từ Nà Sản sang và từ đồng bằng Bắc Bộ lên, biến Cánh Đông Chum thành một tập đoàn cứ điểm mới.

        Trước thắng lợi liên tiếp của chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương nhân đà chiến thắng, tăng cường cho hướng kiềm chế ở lưu vực sông Nậm Hu tranh thủ tiêu diệt địch và giải phóng vùng giàu có và quan trọng này.

        Từ nhiệm vụ kiềm chế, được tăng cường lực lượng, trung đoàn 148 đã tiêu diệt Mường Ngòi đêm 21 tháng 4. Ngày 25, địch ở Bản Sẻ bỏ chạy. Đêm 26, ta tiêu diệt Pắc Sèng. Đêm 17 ta đã tiêu diệt vị trí Mường Khoa.

        Cũng trong thời gian này, theo mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, những cánh quân khác của ta tiến theo đường Mường Xủi và hướng Luông Pha-băng, uy hiếp thủ đô Lào và phối hợp tác chiến với bạn ở lưu vực sông Nậm Hu. Địch vội vã điều trung đoàn sô 1 của chúng lên bảo vệ Luông Pha-băng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #82 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2016, 07:17:22 pm »


*

*       *

        Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt và làm tan rã 2.800 quân trong đó có ba tiểu đoàn và 11 đại đội, tức là một phần năm tổng số lực lượng địch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn gồm toàn tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và một phần tỉnh Luông Pha-băng, trong đó có lưu vực sông Nậm Hu - một vùng giàu có vào bậc nhất ở Thượng Lào, chúng tôi nhận nhiệm vụ cùng bạn xây dựng vùng giải phóng, căn cứ địa mới của cách mạng Lào.

        Với kinh nghiệm của Sơn La trong những ngày dầu cách mạng và kinh nghiệm mới đây trong việc củng cố Tây Bắc, chúng tôi lại sát cánh cùng các bạn Lào cấp tốc tổ chức những độ vũ trang tuyên truyền đi theo bờ sông Mã, sông Chu. Vừa cầm súng, anh em vừa cấp tốc tập những bài hát, những điệu múa, những hoạt cảnh nói lên tinh thần đoàn kết hai dân tộc Việt - Lào cùng nhau đánh kẻ thù chung. Chúng tôi đi vào các chùa chiền lạy Phật, thăm các vị sư sãi, biếu các vị những tấm dù vàng may áo cà sa. Ở những bản nhà cửa bị đốt phá, anh em giúp dân làm lại nhà, sửa lại vườn. Những đơn vị kí giấy vay nhân dân gạo, nay có gạo dân công từ bên nước đưa sang lại mang gạo trả lại dân. Có nơi anh em mở lò rèn giúp dân có công cụ cầm tay, phuc hồi sản xuất. Được hậu phương chi viện hết lòng nên công tác của chúng tôi khá thuận lợi. Trong chiến dịch này nhân dân các tỉnh Phú Thọ, Thanh Hóa đã góp phần xứng đáng bảo đảm cho chiến dịch toàn thắng.

        Trong chiến dịch, chúng ta đã huy động hơn 3.000 dân công, 2.000 xe đạp thồ, hơn 800 thuyền thuộc chín tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình, Vĩnh Phúc. Anh chị em dân công đã đưa sang bạn gần 5.000 tấn gạo, hơn 100 tấn muối, hơn 100 tấn rau khô, 100 con trâu, 2.000 con bò. Tiêu biểu nhất là đoàn dân công Hậu Lộc (Thanh Hóa) đi 677 người, từ đầu đến hết chiến dịch không rơi rớt người nào. Anh em dân công Phú Thọ đã mang hơn 600 thuyền nan đi bộ suốt bảy ngay đêm, đến địa điểm đúng thời gian quy định. Khi vào sông Mã, luồng lạch chưa quen, anh em vừa đi, vừa dò. Sông Mã lắm thác, nhiều ghềnh. Có đoạn chỉ 32 ki-lô-mét mà có tới 25 cái thác. Mỗi lần qua thác, anh em lại phải khênh thuyền, vác gạo mà năng suất vẫn tăng 20 phần trăm.

        Về xe đạp thồ, nổi bật nhất là đoàn xe thồ thị xã Thanh Hóa. Đoàn có 175 xe, mỗi xe thồ trung bình 80 ki-lô-gam, có xe thồ đến 170 ki-lô-gam. Khi địch ném bom lửa trúng đội hình, anh em đã xông vào cứu xe. Khi đến Sầm nưa, thấy địch đã rút, bộ đội đang truy kích, anh em đã xung phong thồ gạo xuống Mường Hàm.

        Đất mẹ thân yêu đã tiếp cho chúng tôi sức mạnh vật chất và tinh thần để cùng nhân dân Lào, cùng các bạn Quân đội giải phóng Lào tạo nên bước ngoặt trong cuộc kháng chiến của bạn. Từ chỗ chỉ có những căn cứ du kích nhỏ hẹp, bạn đã có một địa bàn rộng lớn dựa lưng vò Tây Bắc, Thanh Hóa, Nghệ An của ta. Về ta, từ đây cũng không lo mặt phía tây như trước. Đúng như Trung ương Đảng ta chỉ ra “giúp bạn tức là tự giúp mình”, lần này, chúng tôi thấy cần phải thiết thực giúp bạn để bạn tự làm lấy, bởi vì cách mạng Lào trước hết phải do nhân dân Lào quyết định.

        *

        Cuộc mít tinh mừng chiến thắng ngay tại thị xã Sầm Nưa không khí thật đông vui, nhộn nhịp. Trong tiếng vỗ tay như sấm dậy của những bàn tay Lào - Việt, tôi bỗng nhớ tới những người cộng sản Việt Nam và Lào trong Đảng cộng sản Đông Dương trước đây. Nhưng đồng chí tình nguyện quân Việt Nam đã sang đây từ Cách mạng tháng Tám, nay một số không còn nữa. Những kinh nghiệm của những người đi trước, cả Lào và Việt đã mở đường cho chiến thắng hôm nay. Trong niềm vui dào dạt của chiến thắng, sau cuộc truy kích dài chưa từng có, tôi thấy mắt cay cay. Bất gác tôi đưa tay giụi mắt và tôi lại nhớ tới Bác hồ cùng câu hỏi của Bác sau chiến dịch Hoàng Hoa Thám: “Chú Tấn! Chú đã rửa mắt chưa?”, thưa Bác, vâng lời Bác dạy, sau mỗi trận đánh, sau mỗi chiến dịch, cháu vẫn lắng nghe ý kiến của anh em, cháu rất chú ý những kinh nghiệm của các đơn vị bạn để không ngừng tự vượt mình.

        Cuộc mít tinh kết thúc. Một điệu nhạc dìu dặt khoan thai cất lên. Điệu múa lăm-vông bắt đầu. Một đoàn thiếu nữ Lào quàng lên vai tôi một vòng hoa Chăm-pa, buộc vào cổ tay tôi những sợi chỉ chúc phúc. Nhân dân Lào đã coi chúng tôi, những chiến sĩ Việt Nam như con em mình.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #83 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2016, 07:22:27 pm »


CHƯƠNG MƯỜI

MỞ ĐẦU TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC ĐÔNG XUÂN 1953-1954

        Trong phần này tôi muốn ghi lại những thu hoạch của mình trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954. Tôi muốn nói về sự chỉ dạo chiến lược của Bộ thống soái tối cao của quân đội ta: Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Bởi vì chính sự chỉ đạo khoa học, tài trí đó đã tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

        Từ sự phân tích biện chứng về so sánh lực lượng giữa ta và địch trên quy mô toàn Đông Dương; tài thao lược trong việc buộc địch phải làm những điều mà chúng không muốn; cách đánh giá kẻ thù đúng như nó có đến những nhận định tỉnh táo, thiết thực, không áp đặt theo ý chủ quan mong muốn… Tất cả những vấn đề đó cho tới nay vẫn giữ nguyên giá trị và có ý nghĩa thiết thực trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc.

        Cho đến năm 1953, cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của chúng ta đã bước sang năm thứ tám. Tháng 1 năm 1953, Hội nghị lần thứ tư của Ban chấp hành Trung ương bàn về hai vấn đề chính:

        - Lãnh đạo kháng chiến và chính sách quân sự.

        - Phát động quần chúng triệt để giảm tô, tiến tới cải cách ruộng đất.

        Trong hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc một báo cáo quan trọng gồm 10 điểm. Tôi xin trích những điểm mà tôi cho là có liên quan tực tiếp tới vấn đề xây dựng và tác chiến của các đại đoàn chủ lực:

        1. Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do. Đó là phương hướng chiến lược hiện nay.

        2. Bộ đội chủ lực ở chiến trường Bắc Bộ thì phải dùng vận động chiến linh hoạt để tiêu diệt từng mảng sinh lực địch, làm cho địch yếu đi, phối hợp với công kiên chiếm từng từng bộ phận để tranh lấy những cứ điểm và thị trấn nhỏ, ở đó địch sơ hở, yếu ớt. Làm như vậy để đạt mục đích đánh chắc, ăn chắc, mở rộng vùng tự do. Đồng thời có thể dùng công kiên chiến hút lực lượng địch đến mà đánh, phân tán lực lượng địch, làm rối loạn kế hoạch của địch và tạo điều kiện cho vận động chiến.

        3. Chiến tranh sau lưng địch phải mở rộng du kích chiến để tiêu diệt và tiêu hao từng bộ phận nhỏ của địch đề phòng địch càn quét, bảo vệ tính mệnh, tài sản cho dân; đủ khuấy rối, phá hoại, kiềm chế địch; tuyên truyền và giáo dục quần chúng những vùng đó, thu hẹp nguồn ngụy binh của địch, mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích của ta, đặng thành lập và củng cố những căn cứ du kích sau lưng địch…

        Điều đặc biệt quan trọng có liên quan đến tổ chức và cách đánh của chủ lực ta, Người nêu trong điểm thứ mười:

        10. Cần phải tăng cường cải thiện trang bị cho bộ đội, nhất là xây dựng pháo binh.

        Hội nghị Trung ương nhất trí với bản báo cáo của Bác và chỉ rõ: Để tạo điều kiện hoàn toàn giải phóng Bắc Bộ quân đội ta phải đánh địch ở những nơi sở hở, đồng thời hoạt động mạnh sau lưng địch. Bất kể ở miền núi hay đồng bằng, quân đội ta phải đánh những lực lượng, những cứ điểm ngày càng mạnh của địch.

        Tháng 3 năm 1953, Tổng Quân ủy ra nghị quyết về chỉnh quân chính trị. Chỉnh quân Chính trị có cán bộ trung cấp, cao cấp do Tổng Quân ủy trực tiếp phụ trách, khai mạc tại Việt Bắc vào tháng 6 năm 1953. Ngày 7 tháng 8 năm 1953, cán bộ sơ cấp và chiến sĩ tiến hành chỉnh quân chính trị.

        Chỉnh quân chính trị đã thiết thực nâng cao giác ngộ giai cấp cho bộ đội lên một bước. Ranh giới giữa bóc lột và lao động được phân biệt rõ. Tôi bỗng nhớ tới cha mẹ tôi ngày trước. Cha tôi là một ông đồ nghèo có tham gia Văn Thân. Ông tôi mất sớm. Không kế sinh nhai, cha tôi bỏ làng Nghĩa Lộ (Hoài Đức) ra Hà Nội kiếm ăn, tôi phiêu bạt mãi tới Rặng Ổi (Vĩnh Tuy), Hà Nội, cha tôi gặp mẹ tôi, một cô gái lao động vùng bãi. Cha tôi dạy học, mẹ tôi chăn lợn, nuôi anh em tôi ăn học. Khi tôi lên bảy, cha tôi mất. Mẹ và hai chị tôi thắt lưng buộc bụng nuôi chúng tôi. Tôi vừa đi học vừa làm thợ sắp chữ cho một nhà in, vừa học vẽ truyền thần. Nhưng cả hai nghề đó đều không đủ nuôi thân. Tôi quay sang bán bánh mì, vừa được no bụng, vừa được tập môn thể thao mà tôi ưa thích nhất: môn bóng đá. Tôi đã trải qua những cơn đói thắt ruột, cái đói không ngủ được của tuổi mười ba, mười bốn.

        Thấy tôi còn trẻ, đá bóng được (lúc đó tôi đang đá cho đội Nội Châu), không quân Pháp tuyển tôi vào lính. Tôi được giác ngộ và tham gia cách mạng trong khi vẫn là cầu thủ của đội A-vi-ông-tông (đội bóng của không quân Pháp).

        Cùng với cuộc chỉnh quân chính trị, thực tiễn đấu tranh của nông dân và địa chủ đã tác động mãnh mẽ đến đời sống chính trị và tư tưởng của quân đội ta. Chỉnh quân chính trị và thực tiễn đấu tranh đã nung nấu thêm lòng căm thù quân giặc cướp nước, tăng thêm lòng yêu nước, yêu nhân dân lao động, củng cố khối đoàn kết giữa nhân dân và quân đội. Chỉnh quân chính trị đã làm cho tuyệt đại đa số những cán bộ, chiến sĩ là nhân dân lao động tự khẳng định mình. Lòng tự hào thay thế cho tự ti. Những anh em xuất thần từ các thành phần khác thấy rõ phương hướng phấn đầu để tự rèn luyện mình thành những người chiến đấu cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #84 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2016, 07:24:47 pm »


        Tiếp đó là chính huấn quân sự. Nội dung huấn luyện mùa hè năm 1953 nhằm nâng cao trình độ đánh công sự kiên cố và trình độ đánh vận động cho bộ đội, nhằm tiêu diệt những vị trí lớn hơn và những cánh quân ứng chiến mạnh hơn theo hướng thành thạo đánh ban đêm và cả ban ngày, đánh địch có phi pháo phối hợp. Cách đánh tập đoàn cứ điểm và đánh những trận vận động lớn được nghiên cứu và chuẩn bị chu đáo.

        Mùa hè năm đó dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ, tôi được giao nhiệm vụ cùng anh Cao Văn Khánh phụ trách tổ nghiên cứu chuyên đề “Tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm”. Trên cơ sở nghiên cứu những kinh nghiệm thành công và thất bại của chúng ta trong khi tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản, dựa vào cách bố trí của địch ở thị xã Hòa Bình, ở Sầm Nưa mới đây, tham khảo kinh nghiệm của giải phóng quân Trung quốc và Hồng Quân Liên Xô, dựa vào trí tuệ của tập thể, chúng tôi đã biên soạn tài liệu tiến công tập đoàn cứ điểm.

        Quá trình nghiên cứu biên soạn, chúng tôi xem xét những chỗ mạnh, những chỗ yếu thực sự của tập đoàn cứ điểm, không lấy nguyện vọng chủ quan của mình thay cho hiện thực. Vì sao các tướng tá địch lại gọi tập đoàn cứ điểm là “con nhím”. Bên trong cái vỏ ngoài có tính chất tuyên truyền đó là nội dung gì mang tính bản chất nhất của hình thức phòng ngự này. Ý nghĩa của sự xuất hiện hình thức phòng ngự mới trong giai đoạn chiến lược hiện nay? Chúng tính toán những gì khi sử dụng binh lực tập trung, hỏa lực dày đặc, bố trí gồm nhiều cứ điểm? Những hạn chế của tập đoàn cứ điểm là gì? Chúng ta có thể lợi dụng đến đâu những hạn chế đó?

        Đặt vấn đề rồi lại tự trả lời, chúng tôi đã đi đến kết luận: trước hết hình thức tập doàn cứ điểm không phải là một sản phẩm của trí tuệ. Sự xuất hiện tập đoàn cứ điểm có nguyên nhân của nó. Đó là sự trưởng thành về tác chiến của quân đội ta.

        Trước đây khi trang bị vũ khí của quân đội ta còn yếu, đánh đồn chỉ có súng trường, tiểu liên, dao tông và mác xung kích thì địch xây dựng những cứ điểm nhỏ theo hình thức tháp canh. Cứ điểm nhỏ thì đội ứng chiến cũng nhỏ. Khi quân ta đã có pháo 75, phóng bom, cối 120, ba-dô-ca, mặc dù tự sản xuất lấy, nhưng đủ sức tiêu diệt những cứ điểm trung đội, đại đội địch (Pheo, Phố Lu…) trong chiến dịch Sông Thao thì địch bố trí thành cụm cứ điểm có hỏa lực mạnh, công sự tương đối kiên cố (Đông Khê, Thất Khê). Đội quân ứng chiến cũng lớn hơn. Những binh đoàn cơ động (G.M) ra đời. Và sau hàng loạt chiến dịch của quân ta ở chiến trường Trung Du, Tây Bắc, Thượng Lào thì hình thức tập đoàn cứ điểm xuất hiện. Sự xuất hiện của hình thức phòng ngự mới này cũng không phải hoàn chỉnh ngay.

        Hình thức tập đoàn cứ điểm đã hình thành ở trình độ thấp trong chiến dịch Hòa Bình vào cuối năm 1951, ở Cánh Đồng Chum và Nà Sản vào năm 1952 và đầu năm 1953. Phát-xít Đức đã từng bố trí trước Béc-lin hình thức tập đoàn cứ điểm mạnh hơn Pháp rất nhiều và đã từng đặt tn tập đoàn cứ điểm là “chiến lược con nhím”. Nhưng cái “con nhím” Đức có xe tăng, máy bay, pháo binh yểm hộ đó đã không ngăn chặn được sức tiến công như vũ bão của Hồng quân Liên Xô. Sức mạnh của tập đoàn cứ điểm cũng có giới hạn của nó. Không có cái gì là bất khả xâm phạm. Và khi đã nhận thức được quy luật phát triển của nó thì tìm cách đánh nó không phải khó khăn lắm. Nhưng đánh nó bằng gì? Chỉ có trang bị như năm 1952? Đây là một trong những vấn đề gay cấn trong lúc thảo luận. Nhưng những lo lắng của chúng tôi dã được Bộ Chính trị Trung ương Đảng trù liệu từ năm 1951 và trong mùa hè 1952.

        Nàay 27 tháng 3 năm 1951 đại đoàn 351 được thành lập. Trung đoàn sơn pháo 75 được chấn chỉnh. Trung đoàn lựu pháo 105 được thành lập với 20 khẩu pháo 105 và 3.500 viên đạn. Trung đoàn công binh một xưởng sửa chữa xe pháo cúng thuộc đại đoàn 351, tiểu đoàn pháo phòng không 37 mi-li-mét ra đời. Bộ đội công binh đã có phương tiện bảo đảm. Phương tiện thông tin có vô tuyến diện và máy bộ đàm được bố trí cho cả tổ chức chỉ huy và tổ chức hiệp đồng. Đơn vị vận tải cơ giới được thành lập.

        Từ đầu năm, hàng triệu dân công đã được huy động vào mặt trận giao thông vận tải. Chúng ta đã làm được 3.500 ki-lô-mét đường ô-tô. Đại đoàn đã có đội điều trị. Trang bị của bộ đội đã được cải thiện.

        Chỉnh quân chính trị và chỉnh huấn quân sự mùa hè năm 1953 đã nâng cao giác ngộ giai cấp và dân tộc, nâng cao khả năng chiến đấu hiệp đồng cho quân đội ta, nâng cao trình độ chiến thuật, kĩ thuật, tác phong chiến đấu và trình độ chỉ huy của chúng tôi. Những điều kiện để tiến công tập đoàn cứ điểm được nghiên cứu, triển khai chuẩn bị.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #85 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2016, 07:25:52 pm »


        Trong lúc chúng ta thiết thực chuẩn bị cho bộ đội về chính trị, quân sự thì bộ chỉ huy quân Pháp cũng có những thay đổi mới. Ở nước Pháp, chính phủ chủ chiến do La-ni-en làm thủ tướng chủ trương tiếp tục chiến tranh dựa vào viện trợ Mỹ. Đây là chính phủ thứ 18 của nước Pháp kể từ khi xâm lược nước ta. Sa-lăng, tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương, viên tướng đã từ đồn trưởng lên tướng bốn sao, trong ba mươi năm đã niều lần qua lại Đông Dương, người đã từng tự hào là am hiểu chiến trường Đông Dương nhất” bị triệu hồi về Pháp. Theo báo chí Pháp hồi đó, Sa-lăng bị chê là con người “có tầm nhìn thiển cận”, người nô lệ trung thành của những biêu đồ và cơ quan tham mưu chuẩn bị sẵn” chỉ biết hành động một cách bị động tùy theo diễn biến của tình hình và những biến cố do đối phương tạo nên, không biết tạo ra hoàn cảnh có lợi để chiến thắng. Người thay thế Sa-lăng là tưởng bốn sao Hăng-ri Na-va.

        Tướng Na-va tuy chưa có danh vọng như Đờ Lát đờ Tát-xi-nhi, nhưng là một tướng trẻ, đã từng cộng tác trực tiếp với thống chế Gioăng trong bộ tham mưu khối Bắc Đại Tây Dương. Báo chí Pháp đã đề cao viên tướng xuất thân từ tình báo, là người đã được đào tạo trong những trường lớn, có tư tưởng tiến công, có tác phong năng nổ, biết tìm ra lối thoát một cách mạnh bạo và dứt khoát…

        Sang Đông Dương tháng 5 năm 1953, Na-va cố tìm một giải pháp để thoát khỏi những mâu thuẫn quá lớn trong thế bố trí chiến lược giữa rừng núi và đồng bằng, giữa phân tán và tập trung binh lực. Điểm nổi bật nhất về chiến lược lúc đó của quân Pháp là sự giằng xé rất gay gắt và sử dụng binh lực giữa các chiến trường Tây Bắc Việt Nam, Thượng Lào vùng vùng châu thổ sông Hồng. Thế trận bị đảo lộn trên chiến trường Thường Lào hồi tháng 3 năm 1953 đã khoét sâu thêm những mâu thuẫn đó của quân Pháp.

        Nhận bàn giao của tướng Sa-lăng, có tham khỏa kế hoạch của viên tướng này, Na-va chủ trương trên các trục đường chiến lược phải xây dựng những cứ điểm mạnh kết hợp với lực lượng cơ động tại chỗ. Tập trung lực lượng xây dựng một lực lượng tổng dự bị chiến lược mạnh, đủ súc đối phó với các cuộc tiến công quy mô lớn của đối phương. Muốn bảo đảm an toàn ở một vùng đặc biệt nào đó, phải thiết lập các tập đoàn cứ điểm đủ sức dung nạp một binh đoàn cơ động từ hai đên bốn tiểu đoàn. Na-va phán đoán trong thu đông 1953, ta có ba khả năng:

        - Đồng bằng Bắc Bộ có thể là hướng tiến công bất ngờ.

        - Từ Bắc Bộ, đối phương có thể tiến công xuống phía nam phối hợp với lực lượng ở Liên khu 5, uy hiếp toàn bộ miền Trung và Nam Đông Dương. Đây là khả năng đáng sợ nhất đối với Pháp, bời vì quân viễn chinh sẽ phải đối phó trên nhiều hướng và sẽ gặp nhiêu khó khăn.

        Thựng Lào cũng là một hướng tiến công của đối phương. Tình huống này sẽ đặt Pháp trước những khó khăn rất lớn. Về quân sự, Pháp không thể điều phần lớn lực lượng sang Lào, nhưng nếu bỏ Thượng Lào sẽ dẫn đến những hậu quả lớn về chính trị.

        Từ nhận định trên, Na-va đề ra phương hướng hành động của quân Pháp trong hai năm sắp tới như sau:

        Trước mắt, tránh giao chiến với bộ đội ta ở bắc vĩ tuyến 18; tập trung vào việc xây dựng lực lượng tổng dự bị mạnh; phát huy ưu thế, đẩy mạnh hoạt động ở chiến trường miền Nam. Khi đã có ưu thế về lực lượng cơ động chiến lược, sẽ thực hành tổng tiến công, giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định về chiến lược, thay đổi hẳn cục diện chiến trường.

        Sau một tháng đi thị sát, Na-va vạch kế hoạch mang tên ông ta. Kế hoạch Na-va có hai bước:

        Bước thứ nhất, trong chiến cuộc đông xuân 1953-1954 duy trì thế phòng ngự chiến lược ở vĩ tuyến 18, giữ vững đồng bằng Bắc Bộ, bảo vệ Thượng Lào (trước hết là Luông Pha-băng và Cánh Đồng Chum), khẩn trương xây dựng lực lượng tổng dự bị chiến lược; tiến công chiến lược ở miền Nam, đánh chiếm các căn cứ kháng chiến, trước hết là vùng tự do Khu 5 và Khu 9.

        Bước thứ hai, với lực lượng cơ động chiến lược đã được xây dựng từ mùa thu năm 1954, thực hành tổng giao chiến trên chiến trường miền Bắc (từ Đèo Ngang trở ra), giáng cho chủ lực lượng đối phương những đòn nặng nề, nhằm tạo ra một thế chiến lược mạnh làm hậu thuẫn cho giải pháp chính trị.

        Về xây dựng lực lượng, Na-va rất chú trọng xây dựng quân ngụy. Lấy đối tượng tác chiến là bộ đội địa phương tỉnh và huyện của ta, Na-va đã xây dựng được 122 tiểu đoàn khinh quân ngụy (Việt Nam 108 tiểu đoàn, Lào và Cam-pu-chia 14 tiểu đoàn). Lực lượng này sẽ thay thế lính Âu Phi cùng với ba sư đoàn quân ngụy.

        Xây dựng lực lượng cơ động chiến lược mạnh gồm bảy sư đoàn, có sáu sư đoàn bộ binh (24 G.M) và một sư đoàn không vận (ba G.M) nâng tổng số lực lượng dự bị lên 27 binh đoàn (G.M) gòm 12 G.M ngụy và 15 G.M Âu Phi.

        Phát triển mạnh biệt kích hỗn hợp không vận (G.C.M.A) để quấy rối phá hoại hậu phương ta.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #86 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2016, 07:30:18 pm »


        Na-va được thêm 12 tiểu đoàn rút từ Bắc Phi và từ Triều Tiên về. Để có đủ số quân theo kế hoạch, ngày 5 tháng 8 năm 1953, Na-va rút Nà Sản bằng đường hàng không. Cùng với các biện pháp trên, hàng nghìn thổ phỉ đã được thả xuống Lào Cai, Lai Châu, Sơn La.

        Về ta, tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp bàn về chủ trương tác chiến trong Đông Xuân 1953-1954. Có hai phương án được nghiên cứu:

        Phương án thứ nhất, chủ trương tập trung toàn bộ hoặc phần lớn bộ đội chủ lực ở đồng bằng, hoạt động tương đối phân tán, tranh thủ tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân địch, phối hợp đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, bảo vệ vùng tự do. Sau khi địch tổn thát lớn đến một mức độ nhất định, vùng tự do được củng cố, ta sẽ tùy tình hình mà tiếp tục để bộ đội chủ lực ở đồng bằng hay điều động đi hướng khác.

        Phương án thứ hai, lúc này địch tập trung cao độ quân chủ lực để tác chiến với ta ở đồng bằng. Chiến trường đồng bằng nhiều thuận lợi cho địch. Đánh lớn ở đồng bằng chỉ có thể thu được những thắng lợi có hạn, nhưng không thay đổi được cục diện chiến tranh mà chủ lực ta có thể bị tiêu hao. Tây Bắc và Lào là nơi địch yếu nhưng chúng không thể bỏ. Đưa chủ lực lên hướng đó mặc dù có khó khăn rất lớn về tiếp tế, nhưng ta buộc địch phải phân tán lực lượng, tranh thủ tiêu diệt sinh lực địch, đồng thời đẩy mạnh hoạt động ở khắc các chiến trường sau lưng địch, tạo điều kiện để tiến tới giải phóng đồng bằng Bắc Bộ.

        Sau khi cân nhắc kĩ, Bộ Chính trị phê chuấn phương án thứ hai.

        *

        Trong lúc bàn cờ chiến lược đang chuẩn bị những nước đi quyết định thì đại đoàn chúng tôi sau chỉnh quân chính trị và chính huấn chính trị vẫn nằm chờ trong các khu rừng già bắc Phú Thọ. Bộ đội đã chuẩn bị xong súng đạn, ba-lô, dép lốp và những thứ cần thiết của người lính cơ động: lương thực, thực phẩm, hộp dầu chống lạnh, cuộn kim chỉ. Ở trong những khu rừng này chúng tôi vừa có thể sẵn sàng phản công nếu địch tiến công ra phá hậu phương ta, lại vừa có thể tiến nếu chiến dịch mở. Chúng tôi được lệnh giữ tuyệt đối bí mật, không cho địch biết ta ở đâu và sẽ đi đâu. Các lán trú quân đều phải ở sâu trong rừng rậm. Không ai được ra khỏi rừng trừ anh nuôi và cán bộ, khi có việc ra phải cải trang. Trong nhưng ngày chờ đợi căng thẳng đó, một vấn đề thường được anh em thảo luận là kế hoạch Na-va. Địch đang tập trung ở đồng bằng thì về xuôi đánh hay là đánh chúng trên chiến trường rừng núi? Những anh em quê ở dưới xuôi thì nóng lòng muốn trở lại quê nhà. Những anh em tuy quê ở miền núi hoặc trung du có người cũng muốn vê xuôi tuy có ác liệt nhưng đỡ gian khổ, đỡ phải trèo đèo lội suối… và đỡ đói.

        Nhưng đánh giặc không thể lấy tình cảm làm điểm xuất phát. Lại càng không thể mang nguyện vọng cá nhân áp đặt vào tình hình. Lúc đó, chúng tôi những cán bộ đại đoàn cũng hiểu được phần nào sự lựa chọn hướng tiến công chiến lược của Bộ Chính trị. Chúng tôi nhất trí hoàn toàn với quyết tâm của Bộ chính trị. Qua các chiến dịch tiến công từ năm 1950 đến nay, chúng tôi đã thấy ở đồng bằng ta chỉ có thể thực hiện được ưu thế tuyệt đối trong một thời gian ngắn, Ở rừng núi ta có thể thực hiện và giữ vững ưu thế binh lực trong suốt cả chiến dịch tiến công hoặc trên những hướng nhất định của chiến dịch.

        Trong lúc chúng tôi kiên trì chờ lệnh thì ngày 17 tháng 7 năm 1953, Na-va cho quân dù đánh lên Lạng Sơn, binh lực sử dụng là ba tiểu đoàn dù nhằm đánh phá kho tàng của ta. Theo tin tức tình báo của phòng nhì Pháp thì tại một hang đá ở Lạng Sơn, ta có 8.000 khẩu súng do Pháp chế tạo. Cuộc hành binh mang mật danh Hi-rông-đen. Đây là cuộc hành binh quy mô lớn, phương tiện hiện đại, hành động chớp nhoáng và được giữ bí mật đến phút chót. Sau nay qua hồi kí và những bài báo của các phóng viên chiến tranh thì ngày 14 tháng 7, nhân quốc khánh Pháp, khi quân dù tập trung dự lễ, Na-va đã ra lệnh cho cho cơ quan tác chiến phải thảo xong kế hoạch tác chiến trong 48 giờ trước khi triển khai lực lượng. Mười lăm giờ ngày 16 tháng 7, tướng Gia, người chỉ huy mới hạ đạt mệnh mệnh. 0 giờ ngày 17 lệnh báo động chuẩn bị. Bảy giờ sáng ngay 17 máy bay cất cánh. Tám giờ 10 phút 85 lần chiếc Đa-cô-ta thả ba tiểu đoàn dù xuông bắc thị xã Lạng Sơn. Mười ba giờ ngày 17 kết thúc cuộc hành binh. Quân dù rút theo đường Đình Lập - Tiên Yên, được ba tiểu đoàn bộ binh lên đón.

        Kết quả theo thông báo của Bộ chỉ huy quân Pháp thì phá được 1.000 súng Tiệp và bảy tấn chè (?). Các phóng viên đi theo tỏ ra hoài nghi vì theo tin tức tình báo là 8.000 súng Pháp, nay sao lại chỉ có 1.000 súng Tiệp. Hơn nữa Việt Minh đâu có nghiện chè đến mức tích lũy tới bảy tấn, lại để trong hang. Họ không tin nên đi điều tra, nhưng những người lính này đã thú nhận do vội vàng và cũng sợ nên họ chỉ đặt thuốc nổ ở cửa hang rồi điểm hỏa cốt cho có tiếng nổ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #87 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 05:10:11 am »


        Ngày 26 tháng 7 năm 1953, Na-va tổ chức cuộc hành binh Ca-mác-giơ ở vùng Hải Lăng - Phong Điền giáp giới Quảng Trị, Thừa Thiên, do tướng Lơ Blăng, chỉ huy quân Pháp ở miền Trung chỉ huy, mục đích nhằm cất vó trung đoàn bộ binh 95. Na-va đã huy động bốn tiểu đoàn bib, hai tiểu đoàn dù, ba thiết đoàn, một thủy đội, hai trung đoàn pháo, 12 tàu chiến, 160 xe lội nước, 60 máy bay vào cuộc hành binh quy mô này. Quân Pháp đã bao vây một khu vực hẹp nhưng không tìm thấy trung đoàn 95, phải kết thúc cuộc hành binh.

        Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Na-va lại mở chiến dịch “Hải âu” ở vùng giáp giới giữa Ninh Bình - Thanh Hóa, nhằm đánh quy mô đại đoàn 320 mà Na-va cho là đang ở vùng Rịa - Nho Quan và đại đoàn 304 ở Thanh Hóa. 22 tiểu đoàn bộ binh, tám tiểu đoàn pháo, hai tiểu đoàn cơ giới cùng với lực lượng hải quân, không quân đã được huy động để mở một chiến dịch “lớn nhất kể từ thời tướng Lơ-cléc”. Đại bộ phận của hướng chủ yếu tiến công ra Rịa, một cánh khác đổ bộ lên Thanh Hóa.

        Ngày 27 tháng 10 một tiểu đoàn trực thuôc bộ binh cơ dộng số 4 bị chính đại đoàn 320 diệt gọn. Tiếp đó là tiểu đoàn ngụy Thái số 3 và hai đại đội lê dương bị diệt gọn trong những ngày sau. Sau 23 ngày hành quân với 4.000 quân bị diệt cả ở trước mặt và sau lưng, ngày 6 tháng 11, Na-va phải cho lui quân.

        Sau ba cuộc hành quân, trong báo cáo gửi về Pa-ri ngày 10 tháng 11, Na-va thú nhận một sự thật: “Chất lượng quân viễn chinh (Pháp) kém đến nỗi nếu chạm trán với đối phương ở ngoài tầm yểm trợ của pháo binh (trên mười ki-lô-mét) thì bộ binh của chúng ta (Pháp) nhất định bị đánh bại”. Cho tới trung tuân tháng 11 năm 1953, Na-va vẫn cảm thấy bị giằng xé giữa hai yêu cầu bức thiết là nên tập trung binh lực ở đồng bằng sông hồng để chuẩn bị đối phó với chủ lực mà ông ta yên trí thế nào cũng đánh xuống đồng bằng, hoặc sẵn sàng tung lực lượng đi cứu nguy nếu Thượng lào bị uy hiếp.

        Trong lúc đó thì Pa-ri chỉ thị: “Bảo vệ Lào trở thành một yêu cầu chính trị quan trọng đối với quan viễn chinh Pháp”. Nhưng làm thế nào để bảo vệ Thượng Lào có hiệu quả nhất với cái giá rẻ nhất?

        Trong tay ông ta không có đủ binh lực để vừa phòng ngự từ xa, vừa phòng ngự trực tiếp, nghĩa là vừa có lực lượng để chốt giữ các mối giao thông quan trọng, lại vừa có lực lượng để tung vào một vùng trọng yếu của đối phương để vừa giam chân lực lượng ta, vừa đỡ đòn cho cả Thượng Lào và đồng bằng sông Hồng. Na-va cũng có nghĩ đến phòng ngự vận động trên đất Lào, nhưng trang bị, phương tiện không có, trình độ chiến thuật của quân Pháp cũng chưa đáp ứng được. Mặc dù đã ra quân liên tục nhưng khối chủ lực ta vẫn nguyên vẹn, Na-va vẫn chưa thể thỏa mãn với những cái đã làm được. Khi họp báo Na-va thường nói: “Chúng ta đã ăn xong những món đầu bữa rồi, nhưng còn phải chén nốt món kháng chiến nữa. Mòn kháng chiến đó ngay càng tỏ ra đặc biệt khó nuốt”.

        Khối lực lượng thuộc lực lượng dự bị chiến lược của ta chưa xuất kích như một lưỡi gươm treo lơ lửng trên đầu kế hoạch Na-vạ.

        Trong suốt mùa hè, Na-va đinh ninh quân ta sẽ tiến đồng bằng. Nhưng đùng một cái ông ta được tin đại đoàn 316 đang tiến lên Tây Bắc. Ông ta kết luận chung ta đã thay đổi kế hoạch. Thực ra mũi tiến công của đại đoàn 316 lên Lai Châu đã nằm trong kế hoạch tác chiến của Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy từ tháng 9 năm 1953.

        Sau khi thông qua phương án tác chiến chiến lược, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến, đại thể là:

        - Sử dụng một bộ phận chủ lực mở cuộc tiến công lên hướng Tây Bắc, tiêu diệt quân địch còn chiếm đóng Lai Châu, giải phóng hoàn toàn khu Tây Bắc.

        - Đề nghị với Quân giải phóng Pa-thét Lào phối hợp với các đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam mở cuộc tiến công vào hướng Trung Lào, tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng Phong-xa-lì.

        Phối hợp cùng Quân giải phóng Lào và Ít-xa-rắc Cam-pu-chia, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch ở Trung Lào, Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia, mở rông vùng giải phóng tới sau lưng Sài Gòn, đánh thông đường chiến lược Bắc - Nam Đông Dương. Ở miền Nam kế hoạch tác chiến được hoạch định như sau:

        Tập trung phần lớn chủ lực Liên khu mở cuộc tiến công lên Tây Nguyên, ta đánh tốt thì chúng bắt buộc phải lui quân.

        Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ đẩy mạnh chiến tranh du kích.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #88 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 05:11:06 am »


        Thực hiện chiến tranh này, ta có thể giải phóng đồng bằng Bắc Bộ mà không phải tập trung quân ở đồng bằng. Đây là một kế hoạch chủ động mở cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn, có phối hợp chặt chẽ các lực lượng (chủ lực Bộ, chủ lực các quân khu, bộ đội tỉnh, huyên và dân quân du kích), giữa các chiến trường trong cả nước ta và giữa ba nước trên bán đảo Đông Dương.

        Điểm then chốt trong kế hoạch Na-va là tập trung binh lực, xây dựng bằng được khối cơ động chiến lược mạnh. Kế hoạch của ta trong Đông Xuân 1953-1954 là kiên quyết buộc địch phải phân tán, phá vỡ khối cơ động tập trung của địch, điều động từng bộ phận chủ lực của chúng ra những hướng khác nhau rồi chọn một số hướng thuận lợi để tiêu diệt địch. Đây là một kế hoạch mà tướng Na-va không thể ngờ tới. Cuộc tiến công của đại đoàn 316 lên Tây Bắc là nằm trong kế hoạch tác chiến Đông Xuân chứ không phải chúng ta thay đổi kế hoạch bỏ đồng bằng lên Tây Bắc như Na-va đã nhận định.

        Cái tin có đơn vị chủ lực ta lên Tây Bắc mà Na-va nhận được chính là cuộc tiến công giải phóng Lai Châu của đại đoàn 316. Trước đó, trung đoàn 176 đại đoàn 316 đã lên Sơn La. Sau gần một tháng hoạt động, kết hợp giữa tiến công quân sự với địch vận, nắm vững công tác vận động quần chúng, trung đoàn 176 đã cùng lực lượng vũ trang Sơn La quét sạch hơn hai nghìn tên phỉ dọc đường số 31, giữa tả ngạn sông Mã và hữu ngạn sông Đà, mở đường cho chủ lực ta giải phóng Lai Châu.

        Đầu tháng 11, từ Thanh Hóa, đại đoàn 316 hành quân lên Tây Bắc. Trước nguy cơ bị uy hiếp ở nơi sơ hở nhất và yếu nhất, có khả năng gây ra những đổ vỡ lớn, Na-va ra lênh mở cuộc hành quân Cát-xto: cho quân nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ vào ngày 20 tháng 11 năm 1953.

        Trước đó, khoảng đầu tháng 11, trong bộ tham mưu quân Pháp ở Bắc Bộ đã nổ ra cuộc tranh luận có nên lên Tây Bắc hay không! Kế hoạch Cát-xto đã được hoàn tất từ đầu tháng 11 năm 1953. Địch dự kiến sẽ chiềm Điện Biên Phủ bằng ba lực lượng: từ Thượng Lào lên, từ Lai Châu về cộng với quân dù nhảy xuống Mường Thanh. Quyết tâm lúc đầu của Na-va là chiếm Điện Biên Phủ xong sẽ rút quân ở Luân Châu về; sau đó sẽ tùy khả năng, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Quyết tâm đó của địch chưa tính đến khả năng tác chiến của quân đội ta với trang bị đã được tăng cường trong cả mùa xuân và mùa hè năm 1953 và những chuẩn bị trong những năm trước đó để nâng cao khả năng tác chiến, chất lượng của khối chủ lực cơ động, đặc biệt là pháo binh, pháo cao xạ.

        Quân Pháp đánh chiếm Điện Biên Phủ. Một tình huống chiến lược mới đã xuất hiện.

        Với binh lực 5.000 quân gồm sáu tiểu đoàn dù (tức là hai phần ba lực lượng quân dù toàn Đông Dương), hai đại đội pháo, một đại đội công binh và 240 tấn dụng cụ, rồi đây địch sẽ làm gì? Giở lại những văn bản trong thời điểm đó, ta thấy địch tăng viện cho Tây Bắc khi bị tiến công là nằm trong dự kiến của ta. Đánh chiếm Điện Biên Phủ là một hành động bị động vì trong cả mùa hè Na-va đinh ninh ta sẽ đánh đồng bằng. Ta dự kiến về địch ở Điện Biên Phủ: địch có thể vừa giữ Điện Biên Phủ, vừa giữ Lai Châu, nhưng sẽ có một nơi chính, một nơi phụ. Do địa hình, có thể Điện Biên Phủ là chính. Nếu bị uy hiếp mạnh, chúng có thể co về một nơi và tăng viện thêm. Cũng chưa thể khẳng định co về nơi nào. Khả năng co về Điện Biên Phủ có nhiều hơn. Bị uy hiếp mạnh hơn nữa, chúng có thể tăng viện thêm và biến Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm. Nhưng chúng cũng có thể rủt khỏi Điện Biên Phủ.

        Trong những ngày đầu, ta chưa vội quyết đoán địch sẽ chiếm đóng Điện Biên hay sẽ rút. Và nếu chúng chiếm đóng thì sẽ chiếm đóng lâu dài hay chỉ trong một thời gian ngắn. Tôi cho rằng trong lúc những căn cứ để phá đoán về địch chưa đầy đủ thì không vội vã khẳng định là cần thiết trong chỉ đạo chiến lược.

        Xem lại tài liệu của địch trong nhưng ngày đầu tháng 11 năm 1953, ta thấy bản thân chúng cũng có những khó khăn. Rút khỏi Điện Biên thì mất Tây Bắc và có thể cả Thượng Lào. Tăng thêm quân để giữ Điện Biên thì khối quân cơ động lại bị phân tán. Và nếu tăng quân lên chiến trường rừng núi, nơi không phát huy được thế mạnh về trang bị kĩ thuật, quân Pháp có khả năng bị thiệt hại lớn hơn. Cho nên trong những ngày đầu đánh chiếm Điện Biên Phủ, chính kể địch cũng vẫn chưa có quyết tâm dứt khoát.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #89 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 05:14:18 am »


        Từ nhận định trên, kết luận của chúng ta là: vô luận tình hình như thế nào, việc địch mang quân lên Điện Biên là có lợi cho ta. Căn cứ vào nhận định đó, bộ Tổng tư lệnh ra lệnh cho đại đoàn 316 gấp rút hành quân lên Lai Châu.

        Ngày 7 tháng 12 năm 1953, tại sở chỉ huy tiền phương của Bộ Tổng tư lệnh, đồng chí Hoàng Văn Thái, Phó tổng tham mưu trưởng ra lệnh cho bộ chỉ huy đại đoàn 316: “Địch đã rút lính Âu Phi bằng máy bay từ Lai Châu về Điện Biên Phủ. Chúng có thể tiếp tục rút khỏi Lai Châu bằng máy bay hoặc bằng đường bộ qua Phong-xa-lì về Điện Biên Phủ. Đại đoàn có nhiệm vụ cắt bằng được con đường Lai Châu - Điện Biên Phủ, không cho địch co về Điện Biên Phủ, đồng thời giải phóng Lai Châu. Nếu địch bỏ chạy, đuổi đánh đến cùng”.

        Chấp hành mệnh lệnh của Bộ, đại đoàn 316 đã lệnh cho trung đoàn 176 (đã lên Sơn La từ trước để tiễu phỉ) chia làm ba mũi: một tiểu đoàn lên Điện Biên Phủ bám địch ở vùng Him Lam - Bản Tấu, ngăn chặn không cho địch nống ra; một tiểu đoàn sang Lào giúp bạn củng cố vùng giải phóng Sầm Nưa và bảo vệ sườn cho đại đoàn; một tiểu đoàn ở lại bảo vệ Sơn La, Tuần Giáo. Để chuyển sang truy kích, đại đoàn đã nhanh chóng tổ chức làm hai cánh, sử dụng hai trung đoàn 174 và 98 làm lực lượng chủ yếu đanh địch rút lui. Cánh chủ yếu tới Tuần Giáo thì sẽ tắt qua đèo Pa Thông, cắt đường Lai Châu - Điện Biên Phủ ở Pu San, Mường Pồn. Cánh thứ yếu có tiểu đoàn 439 trung đoàn 98 tiếng thẳng vào thị xã Lai Châu theo đường cái lớn.

        Đêm 10 tháng 12 năm 1953, tiểu đoàn 439 lợi dụng đêm tối tập kích quân địch ở đồn Pa Ham dưới chân đèo Cla-vô hiểm trở. Đây là vị trí tiền tiêu của địch cách thị xã Lai Châu khoảng 30 ki-lô-mét. Sau 30 phút tiến công, quân ta đã tiêu diệt gọn vị trí này tiêu diệt hai đại đội địch, bắt sống hai đại đội khác. Hai mươi tư giờ ngày 11 tháng 12, tiểu đoàn đến sát thị xã Lai Châu. Chưa nắm được địa hinh và tình hình đich, nhưng tiểu đoàn nhận định khi đã bị mất Pa Ham và đèo Ca-vô chắc địch sẽ dao động mạnh. Tiểu đoàn hạ quyết tâm thừa thắng tiến công ngay thị xã.

        Được đồng bào địa phương dẫn đường, tiểu đoàn đánh chiếm cầu sắt, sân bay, thị xã. Địch không chống cự nổi phải bỏ chạy. đúng hai giờ sáng gay 12 tháng 12 năm 1953, tiểu đoàn 439 đã cắm cớ trong thị xã Lai Châu. Kế hoạch rút khỏi Lai Châu vào sáng ngày 12 tháng 12 mang mật danh “Pô-luýt” bị phá sản hoàn toàn.

        Hai trung đoàn 174 và 98, cánh chủ yếu của đại đoàn 316 sau hai ngày đêm ròng rã xuyên rừng, vượt núi, chiếu đường hành quân đã gặp địch. Ngày 12 tháng 12, đúng ngày ta vào Lai Châu, bộ phận đi đầu đã gặp địch trên đường rút quân của chúng. Trung đoàn 174 bố trí ở khu vực Mường Muôn Mường Pồn đón đánh quân địch từ Lai Châu chạy về. Sáng ngày 12 phát hiện trong bản Mường Pồn có địch, trung đoàn đã tổ chức bao vây. Đây là cánh quân từ Lai Châu kéo về Điện Biên nhưng bị chặn đánh ở nam Mường Pồn đã co lại phòng ngự lâm thời để chờ cánh quân từ Điện Biên lên đón.

        Sáng ngày 13 tháng 12 quân ta nổ súng. Sau 30 phút chiến đấu, quân ta đã làm chủ trận địa, loại khỏi vòng chiến đấu hai đại đội. Trung đoàn 98 bố trí trên đỉnh núi Pu San cùng tiểu đoàn của trung đoàn 176 đánh địch từ Điện Biên Phủ lên Mường Pồn đã đánh tan tác cánh quân đi đón ở Bản Tấu ngày 11 và Pu San ngày 1 tháng 12.

        Trong 12 ngày đêm, đại đoàn 316 đã liên tục đánh địch trên chặng đường dài 300 ki-lô-mét. Đây là cuộc truy kích tiêu biểu cho quyết tâm chiến đấu cao, tốc độ tiến công nhanh, sức chiến đấu dẻo dai có hiệu suất chiến đấu cao của bộ đội. Đòn tiến công của đại đoàn đã góp phần giáng một đòn mạnh vào kế hoạch Na-va. Na-va buộc phải tăng cường binh lực cho Điện Biên Phủ để tránh nguy cơ bị tiêu diệt, vì phòng nhì vừa báo cho ông ta một tin dữ; các đại đoàn thiện chiến của đối phương bấy lâu mất hút nay đang trên đường lên Tây Bắc. Đó là các đại đoàn 308, 312, một bộ phận đại đoàn 304 và cả đại đoàn công pháo 351. Một tình huống chiến lược mới buộc Na-va buộc phải có quyết tâm mới. Chính quyết tâm này đã phá vỡ kế hoạch Na-va.

        Tin của phòng nhì báo cáo về một cuộc hành quân của ba đại đoàn chủ lực ta lên Tây Bắc được báo cáo cho Na-va vào ngày 28 tháng 11. Ngày 3 tháng 12, Na-va hạ quyết tâm: khẩn trương xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh để đương đầu với cuộc tiến công lớn của đối phương có nhiều đại đoàn manh. Điện Biên Phủ phải đứng vững lâu dài bằng bất cứ giá nà để bảo vệ Thượng Lào, nhằm giảm sức ép của đối phương đối với đồng bằng Bắc Bộ.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM