Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:43:25 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử nhà tù Côn Đảo 1862 - 1975  (Đọc 68018 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #180 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2017, 11:41:04 am »


        Từ khi tàu Lạc Hồng chìm, việc tiếp tế ra đảo do tàu TCS-131 (Thương cảng Sài Gòn 131) đảm nhiệm. Ban chỉ huy quyết định hành động khi tàu TCS- 131 chở chuyến hàng ra đảo cuối tháng 12-1964. Lần ấy không thành. Phần lớn lực lượng của Đội III nằm trên xà lan, vào bờ từ chiều, đến 20 giờ 30 mới trở ra tàu. Lực lượng xung kích của Đội I đã sẫn sàng nhưng trời tối, địch cảnh giác hơn, ta không khống chế được. Ban chỉ huy quyết định dừng trận đánh.

        Ba lần tiếp theo, trận đánh dự kiến vẫn không nổ ra được, vũ khí mang ra tàu phải quẳng xuống biển. Ban chỉ huy tổ chức kiểm điểm, xây dựng quyết tâm, bố trí lại lực lượng. Ban chỉ huy xác định rõ mục tiêu, phải chủ động điều hành công việc khổ sai, sao cho đúng thời điểm “giờ G” phải tập kết lực lượng, bằng mọi giá phải khởi sự trong chuyến dọn tàu sắp tới. Lực lượng được bố trí lại như sau:

        Đội 1 là lực lượng xung kích gồm 8 người: Nguyễn Văn Mạnh (tức Ba Đạn, Ba Thọ là đội trưởng), Huỳnh Công Thưởng, Bùi Văn Của, Trần Xuân Dư, Nguyễn Văn Tài, Phạm Văn Via, Nguyễn Văn Tuội, Nguyễn Ngọc Anh. Đội 1 có nhiệm vụ bắt gọn tốp lính bảo an áp tải, cướp súng uy hiếp địch, hỗ trợ cho các lực lượng còn lại hành động.

        Đội II có nhiệm vụ đánh chiếm tàu hàng, bắt gọn toàn bộ giám thị, trật tự áp tải và nhân viên thủy thủ trên tàu, lực lượng gồm 11 đội viên: Võ Văn Thuật (Đội trưởng), Nguyễn Quốc Gia, Trần Văn Bền, Nguyễn Kế Hoa, Lê Văn Chánh, Lữ Sĩ Hoa, Huỳnh Đình Danh, Tiêu Tùng Khải, Trần Văn Hằng, Nguyễn Ngọc Cấn, Nguyễn Kim Hườn.

        Đội III gồm 9 người do Lê Văn Thành chỉ huy, có nhiệm vụ chiếm sà lan, sà lúp, bắt gọn tốp nhân viên địch trên xà lúp và làm chủ tình thế, kỹ thuật, dùng sà lúp chở lực lượng vượt đảo về đất liền. Các đội viên của Đội III là Nguyễn Văn Kỉ, Hồ Văn Lân, Lê Vãn Hiểu, Nguyễn Văn Phụng, Phan Ngọc Châu, Nguyễn Văn Cư, Đào Minh Quân, Nguyễn Thành Danh.

        Trong Đội III có Lê Văn Hiểu là thợ máy tàu, bị bắt quân dịch vào Hải quân ngụy thời Ngô Đình Diệm,  sau đào ngũ về tham gia cách mạng, rồi bị địch bắt, đày ra Côn Đảo.

        Sáng 27-2-1965, tàu TCS-131 vào vịnh Côn Lôn, kéo một hồi còi dài trước khi neo đậu tại Đá Trắng. 6 giờ 30, kíp dọn tàu gồm 47 tù nhân Sở Lưới xuống xà lan ra tàu.

        Các báo cáo của nhà tù trong những ngày sau đó cho thấy, kíp dọn tàu hôm ấy khá trật tự, phạm nhân làm việc tích cực, không có dấu hiệu gì nghi ngờ. Nhưng mọi việc đã được định đoạt ngay từ phút bất ngờ nhất. Ban chỉ huy thông nhất đã truyền đạt mệnh lệnh ra quân.

        Tất cả các đội viên đã được tổ chức trong các mũi xung kích đều bám chắc mục tiêu, từng người được phân công theo sát từng đối tượng tác chiến. Mỗi người có sẵn trong túi những gói tiêu, ớt bột, như là gia vị của bữa ăn trưa, nhưng khi khởi sự có thể trở thành vũ khí lợi hại để bịt mắt đối phương. Các loại nịt quần, dải rút được chuẩn bị chắc chắn sẽ thành dây trói. Một sô chĩa, bù loong, sắt nhọn đã được giấu sẵn trên xà lan, một số khác giấu ở khu vực cầu Tàu, ở rẫy Sở Lưới sẽ được chuyển vào thời điểm thích hợp. Ban chỉ huy thống nhất bí mật điều hành công việc, khi làm nhanh, làm chậm sao cho chuyến hàng tập kết đủ lực lượng vào đúng “giờ G”.

        Mỗi chuyến dỡ hàng từ tàu TCS.131 xuống đầy sà lan hết 2 giờ, từ sà lan chạy vào bờ bốc hàng lên bờ rồi chạy ra cũng khoảng 2 giờ. Làm việc suốt trưa nắng giữa mùa khô gió chướng, ai cũng thấm mệt. Không chịu nổi sóng gió, buổi chiều có 5 can phạm xin lên bờ là: Cao Văn Mi (số đính bài C.14453), Trương Công Quang (A.3321), Hứa Phong Lưu (C.16764), Trương Văn Chỉ (C. 16246), Phạm Minh Tú (C. 15562) tất cả đều là thường phạm, không nằm trong tổ chức chiếm tàu vượt đảo.

        Theo gợi ý khéo của Ban chỉ huy thống nhất, Giám thị Nguyễn Văn Thâm đã đề nghị xin nhân lực của Sở Chỉ Tồn tăng cường cho kíp dọn tàu. Giám thị chủ Sở Lưới Nguyễn Văn Trương điều đình với Giám thị trưởng. Khi ấy phòng 18 Chỉ Tồn có 16 phạm nhân mới lao động khổ sai về. Một người kiên quyết từ chối, còn 15 người miễn cưỡng đi theo chủ Sở Lưới.

        16 giờ, sà lúp kéo luôn một lượt 3 sà lan chất đầy hàng vào bờ. Lê Văn Thành điều khiển lực lượng trên xà lan dỡ hàng thật nhanh lên bờ. Đây là chuyên hàng quyết định thời điểm cho trận đánh. Nhân lúc giải lao, Lê Văn Thành và Nguyễn Văn Kỷ xin phép vào Sở uống nước. Ba bó sắt nhọn bọc giẻ lận lưng quần theo các anh xuống sà lan.

        Phụ bếp tàu TSC.131 Lê Văn Bạt vào thị trấn Côn Sơn chơi, theo xà lan ra chuyến này để kịp dọn bàn ăn bữa tối cho thủy thủ. Xà lan cặp mạn tàu, Bạt xem đồng hồ: 17 giờ 55 phút, rồi chạy vội vào phòng ăn. Trong bản thẩm vấn sau đó, Lê Văn Bạt khai rằng, phút kinh hoàng đã xảy ra với hắn và đồng bọn ngay khi cánh cửa phòng ăn vừa khép lại.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #181 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2017, 04:19:25 am »


        Nhận được tín hiệu từ Võ Văn Thuật, Nguyễn Văn Mạnh dẫn đội các đội viên xung kích leo nhanh lên lồng cu, tiến công đội lính gác. Trong vòng một phút, các anh đã làm chủ tình hình, trói gọn 3 tên lính, dùng ba khẩu súng vừa đoạt được không chế boong tàu. Đội trưởng Nguyễn Văn Mạnh truyền đạt tiếp mệnh lệnh: “Anh em các đội xung phong lên”.

        Tất cả các đội đã áp sát mục tiêu, nhất tề hành động. Phần lớn số giám thị, thủy thủ đều nhanh chóng đầu hàng. Riêng tên trật tự ác ôn Nguyễn Văn Hường chống trả quyết liệt, nhưng Đội viên Trần Văn Hằng với lòng can đảm và sự hỗ trợ của đồng đội đã hạ gục hắn, trói gô vào sàn tàu. Tất cả chỉ diễn ra trong vòng 5 phút, chẳng khác nào một cảnh trong phim kiếm hiệp.

        Trời vừa tối, bọn địch ở đảo vẫn không hề hay biết gì. Ban chỉ huy khẩn trương chỉ đạo các công việc giải quyết tù hàng binh, phá máy và quấn chân vịt tàu Thương cảng, chuyển vận vũ khí, lương thực, phương tiện đi biển sang sà lúp. Biên bản số 01/CSQG-CS lập trong đêm 27-2-1965 trên tàu TCS-131 ghi rõ tổn thất của địch như sau:

        - Dụng cụ bị phá hủy: sa bàn (1 cái), đền soi (2), rađa (1), cửa gió thông hơi phòng cơ khí trưởng (1), dây điện đèn chạy tàu (bị cắt), xuồng cứu nguy (bị phá chân vịt).

        - Dụng cụ bị mất: ống nhòm (2), đèn bấm (6), phao lớn (10), xa bàn (1), phao cá nhân (72), súng bắn pháo hiệu (1), chèo đầm (14), thùng bánh lạt (2), thùng nước ngọt (4), dao Nhà bếp (3), dẩy neo, dãy kéo các loại...

        - Nhân viên bị mất tích: Nguyễn Văn Nghĩa (sĩ quan vô tuyến điện).


        Biên bản còn cho biết, Tiểu đỉnh (sà lúp) mang tên Cần Thơ - Sóc Trăng của tỉnh Côn Sơn bị cướp mất cùng 4 súng carbine và 360 viên đạn. Các nhân viên Trần Hiếu Lễ (phó thuyền trưởng), Nguyễn Văn Huê (phụ thợ máy), Nguyễn Văn Thâm (Phó Sớ Lưới) bị bắt theo. Thiếu tá Nguyễn Thế Tỵ - Phó Tỉnh trưởng Nội an ra lệnh báo động toàn đảo, rồi huy động nhân viên công an, binh sĩ võ trang bằng đại liên, dùng ghe chèo cấp tốc ra tàu TCS.131. Chúng gấp rút sửa chữa tàu, cho đến một giờ 35 phút sáng 28-2-1965 khởi hành cuộc truy đuổi. Lúc 17 giờ ngày 28-2, tàu chạy đến Hòn Khoai, không thấy dấu vết gì, chúng quay trở về Côn Đảo.

        Khi ấy, 57 tù nhân vượt đảo đã ung dung trong căn cứ của một đơn vị quân giải phóng. Các báo cáo của tù chính trị khi về căn cứ hiện lưu tại Vụ Bảo vệ Đảng Trung ương cho biết, khoảng gần 20 giờ tối 27-2-1965, chiếc xà lúp khởi hành, không bật đèn, lách qua eo biển giữa Hòn Trác và Hòn Tài, vòng qua Hòn Bà, Hòn Vung rồi nhằm thẳng hướng đất liền. Lê Văn Hiểu, Nguyễn Ngọc Cẩm và Nguyễn Văn Ngày thay nhau trông coi máy và chạy tàu.

        Thử thách lớn nhất trên đường về là chiếc xà lúp lâu ngày chưa thay rửa thùng dầu, sóng gió lớn ngoài đại dương đã làm sục cả nước và cặn dưới đáy lên tràn đầy các bình lọc, làm chết máy. Có lúc tổ máy phải dừng tàu để súc rửa toàn bộ hệ thống lọc dầu, có lúc phải vừa chạy vừa xả e (nước và bọt, cặn) tại các bình lọc. 8 giờ sáng ngày 28-2-1965, tàu cặp vào bờ biển vùng giải phóng Bạc Liêu, cách chi khu Đầm Dơi 22 hải lý. Tàu mắc cạn cách bờ 1 km. Ban chỉ huy cho anh em đổ bộ vào bờ, đem theo tù binh và vũ khí.

        Một giờ sau, khi tất cả đã vào đến bìa Rừng Sác thì máy bay địch phát hiện con tàu và oanh tạc cả khu rừng. Toàn đội tiến sâu vào rừng, đến khoảng 10 giờ thì gặp đơn vị Quân giải phóng đang làm nhiệm vụ đặc biệt tại khu vực này. Ban chỉ huy đã bàn giao tù binh vũ khí và tuân theo sự hướng dẫn của Quân giải phóng về địa điểm tập kết an toàn.

        Cuộc chiếm tàu vượt đảo của 57 tù nhân kíp dọn tàu thắng lợi trọn vẹn. Lực lượng vượt đảo sau khi kiểm điểm tại chiến khu đã trở về địa phương, đơn vị cũ hoặc theo sự phân công của Tổ chức Trung ương Cục. Trần Văn Hằng, người thanh niên can đảm có công hạ thủ tên Hường, trật tự ác ôn nguy hiểm nhất đã được tuyên dương công trạng và kết nạp Đảng sau đó 2 tháng. Người cán bộ Thành đoàn Bùi Minh Trực vượt ngục về chuyến ấy đã hy sinh anh dũng trong trận càn Xêđaphôn của Mỹ trên địa đạo Củ Chi.

        Vụ 57 tù nhân chiếm tàu vượt ngục làm cho mâu thuẫn nội bộ địch thêm trầm trọng. Quyền Trưởng ty cảnh sát quốc gia Côn Sơn Nguyễn Ngọc Lành đã báo cáo Tổng Giám đốc Cảnh sát quốc gia tại văn bản số 279/CSĐB/CSBĐ/M ngày 4-3-1965, về những nguyên nhân khiến cho tình hình an ninh xấu đi dẫn đến cuộc bạo động vượt ngục xẩy ra. Những vấn dề căn bản trong 9 nguyên nhân mà Ty Cảnh sát nêu ra là: chính quyền Côn Đảo chủ quan, không tin tưởng và giúp đỡ hoạt động của công an, không có hiện pháp bố phòng đặc biệt khi có tàu đến, mọi tin tức và sự việc xẩy ra đều thông báo cho Ty Công an để cộng tác điều tra.

        Kết quả là Tỉnh trưởng Tăng Tư - Phó Tỉnh trưởng Nội an Lê Thế Tỵ, phụ tá Quản đốc TTCH Trần Hữu Khoẻ bị phạt 50 ngày trọng cấm  vì tắc trách. Không lâu sau, Tăng Tư và Trần Hữu Khoẻ đều mất chức, bị đổi về đất liền.

--------------------
        1. Hình phạt dành cho quân nhân ngụy vi phạm kỷ luật nhà binh, chưa đến mức phai truy tố ra toà.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #182 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2017, 04:24:11 am »


        Tù án chính trị chống chào cờ ngụy

        Năm 1964, trong khi toàn bộ tù chính trị câu lưu đã vươn lên chống chào cờ ngụy, chống toàn bộ các thủ đoạn cải huấn thì cuộc đấu tranh của tù án chính trị mới bắt đầu. Chống chào cờ ngụy là trung tâm phong trào đấu tranh của tù án chính trị trong giai đoạn này. Đó là sự khẳng định vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng dân tộc miền Nam Việt Nam ngay trong lao tù, “người đại diện duy nhất hợp pháp cho nhân dân miền Nam, không còn thừa nhận chính quyền Sài Gòn, dù chỉ là nhà đương cuộc”.

        Chào “quốc kỳ” là điều bắt buộc ghi trong nội quy nhà tù. Ngụy quyền Sài Gòn đã biến việc chào cờ thành thủ đoạn tố cộng. Mỗi lần chào cờ, chúng bắt tù nhân hô những khẩu hiệu phản động, ủng hộ chế độ phi nghĩa đang đày ải họ và đả đảo chế độ cộng sản mà họ tôn thờ. Vì thế, đấu tranh chống chào cờ vừa là cuộc đấu tranh của những người cách mạng dưới ngọn cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chống chế độ ngụy quyền Sài Gòn vừa là cuộc đấu tranh giữa ý thức hệ cộng sản và hệ tư tưởng tư sản.

        Từ khi chế độ độc tài Ngô Đình Diệm sụp đổ (1-11- 1963), tù án,chính trị cỏn Đảo đã phát khởi cuộc đấu tranh chống chào cờ. Anh Đô (người Gia Định) không hô khẩu hiệu phản động khi chào cờ bị chúng đánh chết ở hầm dá Trại II. ông Phan Văn Khá (Tiền Giang) chống chào cờ bị còng tại hầm đá Trại II trong gần một năm trời. Mặc dù không trụ được lâu dài trong cuộc đấu tranh quyết liệt và đơn độc ấy, ông vẫn là ngọn cờ đầu thôi thúc cuộc đấu tranh của tù án chính trị.

        Từ năm 1965, nhiều chuyến tù chính trị vừa bị lưu đày từ Chí Hòa ra Côn Đảo đã chống chào cờ. Theo báo cáo của Ban An ninh Trung tâm Cải huấn Côn Sơn, chuyến tù nhân ra đảo ngày 18-1-1965 có 5 tù binh và 7 tù chính trị chống chào cờ. Trong phiên họp tuần đầu của tháng 4-1965, Ban Quản đốc đã cho phép các Trưởng trại dùng bạo lực không hạn chế để dập tắt phong trào chống chào cờ ngay khi vừa nhen nhóm.

        Thực hiện chủ trương này, Giám thị trưởng Trung tâm cải huấn 2 bắt tất cả tù nhân bị cấm cố đều phải mặc quần áo chỉnh tề, ra sân sắp hàng chào cờ cùng với những tù nhân chịu làm khổ sai vào các buổi sáng.

        Ngày 29-4-1965 tại phòng 6 Trại II, 56 trong số 80 tù nhân bị cấm cố đã không chịu mặc quần áo ra chào cờ. Địch còng tất cả vào 2 hầm đá, mỗi hầm chưa đầy 8m2. Bọn gác ngục dùng bao bố bịt kín lỗ thông hơi, hòng biến 2 hầm đá thành nấm mồ tập thể. Tù nhân la ó đòi mở lỗ thông hơi, tên giám thị ác ôn Lê Ván Khương lạnh lùng tuyên bố: “Không khí cũng là của chính phủ “quốc gia”, các anh không chào cờ, không thừa nhận chính quyền “quốc gia” thì các anh không được thở”.

        Sau 36 giờ, anh Sinh (quê Bến Tre) đã tắt thở, 2 người khác hấp hối. Địch cho mở lỗ thông hơi song tiếp tục duy trì tình trạng tồi tệ đó thêm 2 ngày nữa.

        Ngày 7-6-1965, 20 tù nhân mới từ Chí Hòa ra đảo không chào cờ. Họ tuyên bố là người của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, đại diện hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam, không thừa nhận chính quyền Sài Gòn, nên không chào cờ ngụy. Địch còng tất cả và cho bọn trật tự thả sức đánh đập. Sau 3 tuần bị đàn áp khốc liệt, 20 anh lần lượt bị đánh rớt.

        Giông như học trò đi thi, cặp từ “đậu” và “rớt” đã trở thành phổ biến đối với lực lượng tù án chống chào cờ. Cuộc “thi” này không chỉ đòi hỏi có trí tuệ mà cả phẩm chất chính trị, tư tưởng, nhân cách, lòng trung thành và sức chịu đựng bền bỉ kiên cường. Mỗi vinh quang và cay đắng trong sự thành bại của cuộc “thi” này, người tù đều phải trả giá bằng máu và tính mạng mình.

        Ngày 26-6-1965, trong số 250 tù án chính trị từ Chí Hòa bị đày ra Côn Đảo có 96 người chống chào cờ. Địch giam riêng ở phòng một Trại II và tập trung hàng chục tên trật tự ác ôn dùng củi gộc đàn áp nhiều trận đẫm máu. Sau một tuần, 9 người “đậu” được bị đưa về hầm đá, trong đó có Phạm Thông, Hồ Văn Tiên, Nguyễn Văn Tựu, Nguyễn Văn Nuôi và Tào Tựu.

        Chuyến tàu ra ngày 2 tháng 9 năm 1965 “đậu” được Phan Văn Hải.

        Chuyến 26-2-1966, “đậu” được Nguyễn Tử Tòng.

        Chuyến 1-12-1966, “đậu” được 11 người, trong đó có Ngô Đình Thời, Nguyễn Văn Trường và Phạm Uyển.

        Chuyên 5-2-1967, “đậu” được 27 người, trong đó có Nguyễn Văn Chánh và Hoàng Thanh, nâng tổng số chống chào cờ lên 64 người. Tối 5-2-1967, địch đưa toàn bộ số tù án chống chào cờ vào chuồng cọp I, giam 4 người một chuồng, còng cả hai chân.

        Đó là những ngọn cờ đầu trong phong trào chống chào cờ của tù án chính trị Côn Đảo.

        Cùng thời gian này, lực lượng tù án ở các sở tù khổ sai vươn lên chống chào cờ hàng loạt. Đầu tháng 4-1967, tổng số tù án chống chào cờ tảng vọt lên 180 người.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #183 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2017, 04:25:58 am »


        Thiếu tá Nguyễn Văn Vệ, Đặc phái viên hành chính kiêm Quản đốc trung tâm cải huấn Côn Sơn quyết định dùng biện pháp mạnh để đàn áp, khuất phục, bức hàng.

        Đang giam 4 người một chuồng, Nguyễn Văn Vệ ra lệnh dồn lại 6 người và sau đó là 9 người một chuồng. Chuồng Cọp rộng 1,4 mét, dài 2,2 mét, không đủ chỗ còng 2 chân, chúng còng mỗi người một chân, còng làm 2 lớp. Giờ ăn cơm từ 5 phút rút xuống 2 phút. Ăn xong, chúng cho 9 người một gô nước sôi, chuyền nhau trong một phút, chậm là đánh. Chúng bắt tất cả nằm, ai ngồi dậy hay đổi tư thế nằm là đánh hoặc lấy sào bịt đồng thọc xuống. Anh Trương Công Định (Thủ Đức) bị chúng thọc sào nhọn làm toác da đầu. Anh Na kêu xin thuốc cho người bệnh bị chúng dùng ống khóa đập vào ngực hộc máu tươi.

        Đêm đến, tên Tám Kính thường tụ tập bọn trật tự ác ôn như Ba Đen, Tư ốm, Đào Thanh Huy, Một, Giỏi nhậu trên óc chuồng cọp và kích động bọn này. Chúng đổ nước dơ, nước tiểu xuống đầu những người tù chuồng cọp rồi hè nhau xuống đánh. Hầu như đêm nào cũng có người tù ở chuồng cọp đổ máu, ngất xỉu. Mạng sống bị đe dọa, nhân phẩm bị chà đạp, thể xác và tinh thần của những người tù chuồng cọp bị dày vò, đau đớn và căng thẳng suốt 24/24 giờ mỗi ngày ở chuồng cọp. Không chịu nổi chế độ đàn áp quá khắc nghiệt, 77 người rớt trong tuần đầu, còn lại 103 người tiếp tục cuộc chiến đấu.

        Từ ngày 7 đến ngày 11-4-1967, lần lượt có 27 người tham gia tuyệt thực làm 3 đợt đòi:

        1. Được tự do bảo vệ tư tưởng.

        2. Không được đảnh đập.

        3. Tăng khẩu phần ăn.

        4. Cho về trại để được rộng rãi.

        5. Tăng giờ ra chơi.


        Địch đàn áp quyết liệt không chỉ những người tuyệt thực mà cả số không tuyệt thực, vì cho rằng số này sợ chết, không dám đấu tranh. số tuyệt thực địch phân tán mỗi chuồng 2 người, không cho đem cơm nước vào và bỏ mặc không giải quyết yêu sách gì. Mười hai ngày không ăn không uống, hơn một nửa số tuyệt thực phải bỏ cuộc.

        Ngày 20-4-1967, đồng chí Dương Văn Thưa - Tỉnh ủy viên Tây Ninh dùng mảnh sắt mổ bụng, quyết tử hy sinh. Địch còng luôn cả hai chân, hai tay và bỏ mặc không chữa chạy. Một số người không chịu đựng được sự căng thẳng và ác liệt kéo dài đành bỏ cuộc.

        Thấy tinh thần một số tù nhân đã nao núng, chúa đảo Nguyễn Văn Vệ tập trung toàn bộ số giám thị và trật tự an ninh ác ôn khủng bố một trận quyết định vào ngày 22-4-1967. Tên giám thị ác ôn Lê Văn Khương, Trưởng ban chuyên môn trực tiếp chỉ huy trận này. Bọn trật tự ác ôn như những con thú say máu xông vào đánh dập tù nhân bằng củi đòn suốt một buổi sáng. Sau trận đòn đẫm máu ấy chỉ còn lại 8 người đậu được ở vị trí chống chào cờ.

        Địch vẫn bỏ đói, bỏ khát và không giải quyết yêu sách. Hai hôm sau anh Ngô Gấm và anh Hồ Văn sắc rớt, còn lại sáu người quyết tử chiến đấu bảo vệ khí tiết là: Hoàng Thanh, Phan Văn Huệ, Nguyễn Tử Tòng, Phạm Thông, Nguyễn Văn Trường (trong số 27 người tuyệt thực) và Ngô Đình Thời (trong số không tuyệt thực). Ngô Đình Thời năm ấy chưa đầy 18 tuổi.

        Cuộc tuyệt thực kéo dài đến 19 ngày, sau hàng chục công điện báo cáo và xin ý kiến của Tổng nha cảnh sát, Tổng nha cải huấn, chúa đảo Nguyễn Văn Vệ phải chấp nhận các yêu sách, để cho 6 người được tự do tư tưởng, không cưỡng bức chào cờ ba que, trả lại mọi sinh hoạt bình thường. Khi đó, 6 người đậu được chỉ còn hấp hối. Có người phải bắt từng con muỗi, con rệp ăn cầm hơi nhưng họ đã không khuất phục trước bạo lực, không thừa nhận lá cờ của chế độ Sài Gòn.

        Đây là cuộc đấu tranh quyết liệt nhất của tù án chính trị chống chào cờ, khẳng định vị trí bảo vệ khí tiết của tù án chính trị bảo vệ khí tiết. Đó là tiêu biêu thôi thúc lực lượng tù án chính trị vươn lên mạnh mẽ trong những năm sau này.

        Trong cuộc đấu tranh tháng 4 năm 1967, tù án chính trị chịu chấp nhận tổn thất không nhỏ. Nguyễn Văn Vệ còn giở thủ đoạn bỉ ổi, cưỡng bức những người vừa bị đánh rớt diễu hành quanh chuồng cọp hô khẩu hiệu phản động để nhục mạ họ. Nhưng tấm gương khí tiết kiên cường của những ngọn cờ đầu trong phong trào chống chào cờ của tù án chính trị là niềm cổ vũ thôi thúc mọi người tiếp tục vươn lên. Nhiều người vừa rớt trong đợt đàn áp tháng 4 năm 1967 đã lần lượt tuyên bố chống chào cờ trở lại.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #184 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2017, 04:32:01 am »


        Chống kế hoạch “Ngũ niên tự túc”

        Trong lúc áp dụng chế độ kỷ luật nghiệt ngã đối với số tù chính trị chống chào cờ tại khu vực hầm đá, chuồng cọp, chuồng bò, chúa đảo Nguyễn Văn Vệ lại nới rộng chế độ đối với số tù nhân chịu làm khổ sai, thuộc Trung tâm Cải huấn II (TTCH II) bao gồm Trại II, Trại III và các sở tù. Từ năm 1965 đến 1968, nhân số TTCH II biến động ở mức từ 3.000 đến 5.000 người.

        Báo cáo ngày 14-5-1965 của Ban an ninh TTCH chọ biết toàn đảo có 3318 tù nhân, trong đó có 527 tù chính trị câu lưu giam tại Trại I (TTCH I), 951 tù án ở Trại II, 1185 tù án ở Trại III, số còn lại cũng thuộc TTCH II, ở rải rác các sở ngoài. Đông nhất là Sở vệ sinh-văn phòng (202) và Ban an ninh tình báo (222). TTCH II do Nguyễn Vãn Thà làm Giám thị trưởng Trung tâm. Theo một bản báo cáo của tù chính trị, lưu tại Ban an ninh Trung ương Cục vào tháng 2-1967 thì cơ cấu giam giữ tù nhân tại TTCH II như sau:

        Trại II

        - Phòng 1-2-3 có lúc gọi là “khu tu dưỡng”, giam tù án tử hình và chung thân, có lúc giam giữ đến 200 án tử hình, hiện chỉ còn trên dưới 20 người, giam tại phòng 3. Phòng một và 2 giam tù án chung thân (gần 200 người), làm các công việc khổ sai nội trại.

        - Phòng 4: Giam tù áo trắng, làm bồi bếp, phục dịch văn phòng Quản đốc, văn phòng Giám thị trưởng, công nhân tư gia cho các gia đình công chức, giám thị.

        - Phòng 5: Giam tù làm Nhà bếp, hướng nghiệp.

        - Phòng 6: Biệt giam nhẹ, gồm số tù bị địch chú ý trong các cuộc đấu tranh, hàng ngày đưa đi làm ớ các Sở xa, An Hải, An Hội, bị cách ly với số tù nhân trong trại (khoảng 150 người).

        - Phòng 7: Biệt giam nặng, khoảng 100 người, gồm phần lớn là số chống chào cờ trong các đợt bị đánh rớt. Từ tháng 9-1966, số này bị đưa đi làm Sở Rẫy Thiên Thu vừa khai phá.

        - Phòng 8: Giam số thường xuyên đau yếu, bệnh hoạn, được bố trí làm các việc nhẹ như quét dọn vệ sinh, kẻ vẽ, may vá quần áo tù.

        - Phòng 9: Giam kíp tù làm công xưởng.

        - Phòng 10: Khoảng 120 người, làm Sở chỉ tồn (công việc khổ sai nặng nhọc khống cố định).

        - Phòng 11: Giam số tù nhân làm trật tự trại.

        Trại III

        - Phòng 12: Sở Tẩy (vệ sinh toàn đảo).

        - Phòng 13: Sở chăn nuôi và kíp phục vụ ở nhà thương.

        - Phòng 14-15: Sở Củi.

        - Phòng 16; Sở Ruộng.

        - Phòng 17: Trật tự trại, y tế trại, văn phòng.

        - Phòng 18: Sở ươm cây, Sở rẫy Cộng hòa, Sở rẫy Rảo an, Sở rẫy Tỉnh trưởng.

        - Phòng 19: Sở vệ sinh.

        - Phòng 20: Sở Chỉ Tồn.

        - Phòng 21: Thợ hồ, thợ sắt, hướng nghiệp, lò vôi.

        - Phòng 22: Lò gạch, nuôi vịt.

        - Phòng 23: Không cố định đối tượng giam giữ.

        - Phòng 24: Bệnh lao, thương hàn và bệnh nan y.

        Mỗi phòng giam từ vài chục đến khoảng 120 người. Ngoài 24 phòng thuộc Trại II, Trại III, TTCH II còn cho phép một số kíp tù nhân được ở các trại tạm giam tại Sở khổ sai như: Lò Gạch (khoảng 180 người) Công Xưởng (khoảng 150), Sở Lưới (khoảng 90), Sở Chăn nuôi (khoảng 70), Nhà Đèn (khoảng 30), Sớ Ruộng, Cỏ Ống (khoảng 100), Văn phòng Quản đốc (khoảng 80), Ban Văn nghệ (khoảng 60). Sở làm công cho Mỹ xây dựng đài Loran có khoảng 250 tù nhân được thiết lập nhất thời từ 1964 đến 1966, xong công trình, chúng đưa về trung tâm. Vào mùa gió chướng, để ngăn chặn tù nhân vượt ngục, địch đưa phần lớn số tù nhân các sở này vào trong trại ngủ, trừ một số ít làm trật tự an ninh, số án nhẹ (dưới 2 năm) và một số được ưu đãi làm ở Ban văn nghệ, Văn phòng.

        Ban lãnh đạo lâm thời các trại tù án được thành lập từ năm 1963 (có lúc danh xưng là Đảng ủy, Đảo ủy) không có vai trò đối với lực lượng tiên phong chống chào cờ mà chỉ có ảnh hưởng nhất định với khối tù án chính trị chịu làm khổ sai. Thực chất, ban lãnh đạo lâm thời chỉ dừng ở mức một Đường dây Côn Đảo, vừa giữ mối liên hệ với Trung ương Cục, vừa tổng hợp tin tức, tình hình địch ta để thông tin và hướng dẫn hoạt động của tù nhân.

        Năm 1965, bộ phận Đường dây Côn Đảo có nhiều xáo trộn. Võ Văn Thuật cùng 56 tù chính trị Sở Lưới cướp tàu vượt đảo về đất liền thành công (27-2-1965). Nguyễn Xuân Kí bị điều qua Cỏ Ống. Nguyễn Văn Ngư bị cấm cố và sau đó mãn án, chuyển qua câu lưu tại TTCH II, chì còn lại Trương Minh nắm giữ đường dây liên lạc với Trung ương Cục. Các kíp tù, Sở tù khổ sai tự hình thành Ban chỉ đạo hoặc Bộ phận trách nhiệm theo sự tín nhiệm để lãnh đạo các hoạt động và tranh đấu của tù nhân. Chống khổ sai với các mức độ “lãn công, khai bệnh, trì trệ, phá hoại bí mật” là hình thức đấu tranh phố biến của các kíp tù khổ sai thuộc TTCH II trong giai đoạn này.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #185 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2017, 04:32:41 am »


        Năm 1966, kế hoạch “ngũ niên tự túc” của chúa đảo Nguyễn Văn Vệ được cố vấn Mỹ phê duyệt, trình Nha cải huấn và sau đó được thực thi tại đảo. Thực chất của kế hoạch này là dùng viện trợ Mỹ để mở rộng các sở tù khổ sai, bóc lột lao động của tù nhân, dùng tù nuôi tù, cho tù nhân được hưởng một phần hoa lợi để khuyến khích lao động, đồng thời siết chặt kỷ luật nhà tù, thẳng tay đàn áp các cuộc đấu tranh để triệt tiêu ý thức phản kháng của người tù.

        Theo kế hoạch này, viện trợ Mỹ được đầu tư mở rộng các cơ sở hướng nghiệp, dạy nghề, chăn nuôi, đánh cá. Các Sở rẫy An Hải, An Hội, Sở Ruộng, Sở chăn nuôi, Lò gạch, Lò tương được mở rộng. Nhiều sở rẫy mới được thành lập như Hòa Ni I, Hòa Ni II, Thiên Thu I, Thiên Thu II, Sơn Khê, Đồng Vọng, Đông Phong (sở Bông Hường cũ). Viện trợ Mĩ được đầu tư mua giống, phân bón, công cụ. Tù nhân lao động khổ sai được hưởng hoa lợi theo những tỷ lệ khác nhau: Trồng tỉa hưởng 25%, chăn nuôi 10% (không trừ vốn), hướng nghiệp 40% (sau khi trừ vốn). Trừ tù án tử hình và số chống chào cờ bị cấm cố trong Chuồng Cọp, còn lại tất cả tù nhân đều được huy động vào lao động khổ sai.

         Nhiều tù nhân ở các phòng cấm cố đã được Vệ giải tỏa, đưa đi lao động khổ sai. Ở các kíp khổ sai nặng nhọc như đốn củi, dọn tàu, khiêng gạch, sắt, xây chùa

        Núi Một, xây bốt 48 thường nổ ra các cuộc đấu tranh đòi hạ mức khổ sai, làm công, phá hoại. Khẩu hiệu “ăn mặn - uống đậm - đi chậm - vác nhẹ - nắng ngủ - mưa nghỉ - nhát gió - kỵ sương mù” phố biến trong các kíp tù khổ sai, với nghĩa là vận dụng mọi hoàn cảnh làm giảm nhẹ lao động khổ sai, nhằm phá vỡ kế hoạch “ngũ niên tự túc” của Nguyễn Văn Vệ.

        Tháng 12-1967, Sở Củi (phòng 14 và 15 Trại III) mở đầu cuộc đấu tranh công khai chống dọn củi ngoài giờ. Bằng lý lẽ đúng đắn và tinh thần kiên quyết, tù nhân Sở Củi đã trực diện đấu tranh chống dọn củi từ xà lan lên bờ ngoài giờ trong suốt một tuần. Nhiều người chịu đòn, chịu phạt xà lim nhưng cuối cùng địch phải nhượng bộ, chấm dứt nạn khổ sai quá giờ. Lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh này là số tù nhân cấm cố của phòng 6 và phòng 7 Trại II mới giải tỏa về Sở Củi.

        Thắng lợi của Sở Củi đã khích lệ phong trào đấu tranh của tù án chính trị ở các sở tù khổ sai. Ngày 20- 12-1968, kíp Chỉ Tồn phòng 5 Trại II chống khai thác đá tại Núi Một về xây lao mới. Cuộc đấu tranh này bị đàn áp dã man. Ngày hôm sau, địch bắt kíp Chỉ Tồn phòng 5 đi đốn củi ở hòn Bảy Cạnh. Mỗi ngày 60 người đi làm, địch đưa 120 trật tự an ninh đi kèm, chúng dùng củi đòn đánh đập rất dã man từ lúc xuống xà lan cho đến lúc về. Ngay ngày đầu đã có 15 người trọng thương. Sau 6 ngày đàn áp trả thù, hầu hết tù nhân kíp Chỉ Tồn phòng 5 đều mang thương tích, nhiều người phải nằm bệnh xá, nhưng tất cả vẫn từ chối đi khai thác đá cho chủ thầu Mỹ xây khu trại giam mới.

        Ở các sở rẫy, tù chính trị đấu tranh bằng cách phá hoại sản xuất. Khi chăm sóc rau, họ làm lay gốc, dứt rễ để rau héo dần rồi chết. Sở rẫy Hòa Ni rộng 2 héc ta, 70 tù nhân lao động khổ sai coi một vụ chỉ thu hoạch được 100 trái dưa leo. Địch trả thù rất dã man. Có người chỉ ăn một trái dưa do chính tay mình trồng bị chúng đánh chết ngất tại ruộng, phải khiêng đi cấp cứu. Chuyện “trái dưa 2 người khiêng” được phổ biến rộng rãi trong tù chính trị nhằm giáo dục căm thù, phát động phong trào.

        Sở rẫy Thiên Thu II được thành lập từ tháng 9- 1966 là một sở kiểu mẫu trong kế hoạch “ngũ niên tự túc” của chúa đảo Nguyễn Văn Vệ. Lúc đầu giám thị Phạm Minh Tâm, phụ tá Trưởng ban chuyên môn làm chủ sở. Sau vụ vượt ngục của Hoàng Đình Khiển, Trần Văn Thạch và Nguyễn Văn Trúc, Vệ giao cho giám thị Huỳnh Đại Phước (đã 3 đời làm giám thị ở nhà lao này) làm chủ sở với sự hỗ trợ của 100 tự trật an ninh để cai quản 120 tù chính trị vừa giải tỏa từ Trại IV cấm cố mà phần lớn là số chống chào cờ bị đánh rớt. Xung quanh rẫy còn có 4 tháp canh của lính bảo an canh gác. Vệ cho tù nhân sở này được hưởng 25% hoa lợi (mức cao nhất trong các sở rẫy) với ý đồ vừa kích thích họ sản xuất theo kế hoạch “ngũ niên”, vừa triệt tiêu một bộ phận tù nhân chống chào cờ.

         Trái với ý đồ của Vệ, tù chính trị Sở Rẫy Thiên Thu đã tổ chức chống phá một cách hiệu quả. Rau mới trồng được vài ngày lại bị nhố nhớm lên cho chết dần. Khi làm cỏ, xới xáo thì chặn dứt rễ cái cho cây thui chột. Cả một rẫy đu đủ đang chuẩn bị ra quả được bón phân đậm đặc làm cháy rễ, chết gần hết. Sau 11 tháng không thu hoạch được bao nhiêu, lại xảy ra 2 vụ vượt ngục, Huỳnh Đại Phước phải xin Vệ cho giải tán sở.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #186 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2017, 03:07:38 pm »


        Cuộc vượt ngục đầu tiên tại Sở rẫy Thiên Thu do các anh Hoàng Đình Khiển, Trần Văn Thạch và Nguyễn Văn Trúc thực hiện. Khiển và Thạch đã từng vượt ngục lần đầu vào ngày 19-8-1965, bơi 12km qua Hòn Cau, ẩn náu hơn một tháng thì bị bắt vào cấm cố chung với số chống chào cờ ở Trại IV.

        Ra Sở rẫy Thiên Thu, Khiển và Thạch lại tính chuyện vượt ngục. Lần này họ kết tập thêm Nguyễn Văn Chúc thành bộ ba. Khiển là trưởng nhóm, Thạch là tham mưu, Trúc là hướng đạo. Trúc trước đó ở Sở củi, thông thạo đường rừng và các chòi canh của trật tự. Họ vượt khỏi Sở rẫy Thiên Thu vào một buổi chiều đầu năm 1967, qua mũi Lò Vôi, vượt phi trường Cỏ Ông, ẩn náu tại Đầm Tre. Họ bẻ lá cây lót trong hốc đá đế nằm, đào củ nưa, củ nần, bắt ốc, bắt vích ăn qua ngày, chờ mùa gió chướng sẽ đóng bè vượt biển. Địch huy động lực lượng tổ chức truy tìm nhiều ngày và phát hiện ra nơi ẩn náu của 3 người từ những chiếc mai vích chôn không kỹ.

        Ít lâu sau cuộc vượt ngục không thành của ba anh Khiển, Thạch, Chúc, hai anh Nguyễn Văn Me và Nguyễn Văn Tài lại tiếp tục vượt ngục một cách táo bạo. Hai anh đào một căn hầm bí mật cách Sơ rẫy Thiên Thu không xa, tích trừ lương thực, thực phẩm, nước uống rồi ẩn náu tại đó, chờ qua đợt truy nã của địch sẽ lên núi đóng bè. Địch tổ chức truy nã gắt gao vì chúng phán đoán tốp vượt ngục còn ẩn náu quanh đây. Gió chướng chưa nổi thì chưa thể đóng bè vượt ngục được. Sau một tuần chúng phát hiện được căn hầm bí mật vào lúc Nguyễn Văn Tài bò lên lấy nước khi trời chưa tối hẳn.

        Lần này chúa đảo Nguyễn Văn Vệ trực tiếp khảo cung, tìm hiểu lý do và phương thức vượt ngục. Hai anh đã tố cáo sự tàn bạo của chế độ nhà tù và tuyên bố rằng thà lên rừng ở với thú dữ, thà vượt biển làm mồi cho cá mập còn hơn là phải chịu cảnh địa ngục trần gian ở nhà tù này. Cả hai cuộc vượt ngục đều không đạt mục đích giải thoát nhưng lại góp phần làm phá sản Sở Rẫy Thiên Thu, một sở kiểu mẫu trong kế hoạch “ngủ niên tự túc” của Vệ. Sản xuất không hiệu quả, tù nhân liên tiếp vượt ngục, Nguyễn Văn Vệ phải giải tán Sở rẫy này, đưa tù nhân vào cấm cố trở lại.

        Xưa nay vượt ngục thường xảy ra ở các kíp tù và các sở tù khổ sai ngoài trại giam, nhưng lần đầu tiên ở nhà tù này đã nổ ra một cuộc vượt ngục tại phòng cấm cố tù án tử hình trong Trại II, nơi được duy trì chế độ an ninh nghiêm ngặt nhất. Ba tù án tử hình tổ chức vụ vượt ngục táo bạo ấy là Nguyễn Văn Hai (chiến sĩ biệt động thành Sài Gòn - Gia Định), Lê Hồng Tư (lực lượng vũ trang Thành đoàn Sài Gòn - Gia Định), Phạm Văn Dẩu (quân giải phóng Gia Định).

        Tháng 10 năm 1966, ba người công kênh nhau trổ nóc nhà giam vào lúc nửa đêm rồi vượt tường trại ra ngoài, nhằm hướng Núi Chúa đi lên. Vì bị cấm cố từ ngày ra đảo nên cả 3 đều không biết đường, quanh quẩn mãi gần sáng mới đến được chân núi.

        Địch phát hiện và truy nã từ lúc 3 giờ sáng. Chúng siết chặt vòng vây quanh triền núi. Lê Hồng Tư đuôi sức, lạc đội hình, bị bắt lúc 10 giờ sáng. Nguyễn Văn Hai và Phạm Văn Dẩu tìm được nơi ẩn náu an toàn suốt ngày hôm ấy. Đêm đến, Dẩu theo Hai xuống núi, ẩn tại chùa Hòa Sơn Tự. Các thầy chùa (cũng là tù) biết nhưng không khai báo. Họ nấu cơm để sẵn tại bếp, đêm đến 2 anh bò vào ăn. Ngôi chùa ở ngay trong thị trấn, bằng kinh nghiệm của người lính biệt động, Nguyễn Văn Hai nhận định rằng địch bố phòng và truy tầm tù trốn hướng về phía núi, khe suối, bãi biển hơn là trong thị trấn. Nguyễn Văn Hai kiếm được một bộ quần cộc, áo thun còn mới, chiều tà anh đóng bộ đi dạo từng đoạn đường để nắm tình hình, dáng dấp như một công chức, ít ai biết mặt một kẻ tử tù quanh năm cấm cố trong trại.

        Cuộc đào thoát của số tù trọng án ở nhà lao cấm cố làm chúa đảo Nguyễn Văn Vệ điên đầu. Hắn cho tổ chức nhiều cuộc hành quân lục núi, phục kích các ngả đường, án ngữ các bãi biển suốt ngày đêm, cho sà lúp tuần tra quanh đảo và các hòn phụ cận. Ẩn tại chùa 4 ngày đêm, thấy tình hình không êm, 2 anh vượt sang Cỏ Ống, núp tại Suối Ớt.

        Bọn Mỹ đang xây đài Loran ở Cỏ Ông, bố phòng rất cẩn mật. Ngày thứ 8 của cuộc vượt ngục, Nguyễn Văn Hai bị bắt trong một lần đột nhập vào trạm gác kiếm đồ ăn. Hai ngày sau, Phạm Văn Dẩu bị địch vây bắt được. Tất cả bị đưa về hầm đá Trại II. Nguyễn Văn Hai bị chúng đánh đập nhiều trận dã man cho đến chết. Lê Hồng Tư và Phạm Văn Dẩu bị cấm cố vô thời hạn cho đến ngày giải phóng. Sau cuộc vượt ngục của tù nhân khám tử hình, Nguyễn Văn Vệ cho dây thép gai chăng kín trần các trại giam và tăng cường các biện pháp an ninh, tình báo, mật báo nhằm phát hiện và ngăn chặn các âm mưu vượt ngục.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #187 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2017, 03:12:47 pm »


        Bước phát triển mới của phong trào chống chào cờ

        Từ cuối năm 1967, phong trào chống chào cờ bước vào một giai đoạn mới. Chuyến lưu đày 6-1967 từ Chí Hòa ra đảo có 14 người chống, địch đàn áp quyết liệt tại Trại IV, bọn trật tự an ninh đánh dập hết bó roi mây này đến bó roi mây khác. Ba ngày sau chỉ còn Sầm Thanh Liêm và Nguyễn Ngọc Minh đậu được. ít ngày sau, Cao Văn Chín rớt trong đợt đó đã vươn lên chống lại. Địch đưa 3 anh sang chuồng cọp II giam ở chuồng 30, cạnh chuồng Năm anh chống chào cờ đậu được trong đợt đàn áp tháng 4-1967 (Phạm Thông mãn án đã chuyển qua trại câu lưu).

        Tháng 10-1967, lực lượng chống chào cờ tăng lên 15 người, địch chuyển các anh qua chuồng cọp I giam ở các chuồng 57, 58 và 59, mỗi chuồng 5 người, còng một chân, không cho tắm giặt, không cho ăn rau. Tháng 2- 1968, số chống chào cờ tăng đến 30 người, chuyến lưu đày tù Chí Hòa ra trong tháng đó có 68/300 người chống chào cờ. Sau 4 ngày đàn áp, còn “đậu” được 10 người, trong đó có Đặng Trung Tâm, Lê Tùng, Nguyễn Việt Hùng, Lê Văn Ngọc (Bảy Bê) và Nguyễn Thới (tức Hòa thượng Thích Thành Tuệ).

        Lực lượng tù án chính trị ở các trại giam, phòng giam và các sở khổ sai đều có những hình thức tố chức, liên lạc và chỉ đạo khác nhau. Tuy nhiên, cho đến lúc đó, ngay cả những tố chức danh xưng là Chi uỷ, Đảng ủy, Đảo ủy cùng chưa chủ trương chống chào cờ. Trong một số trường hợp, những người chống chào cờ còn bị phê phán là “tả khuynh” “cực đoan”, “anh hùng cá nhân”... Một số người từng có cương vị cao ngoài đời, từng tham gia bộ phận trách nhiệm ở trong tù đã tìm cách dùng uy tín, lý lẽ và kinh nghiệm của mình để thuyết phục số anh em đang chủ trương vươn lên chống chào cờ chấp hành tập thể, ở lại cùng tập thể.

        Trong hoàn cảnh đó, những chiến sĩ tiên phong vẫn kiên trì quan điểm chống chào cờ. Họ tuyệt đối tin tưởng vào thắng lợi tất yếu của cách mạng, tin tưởng vững chắc vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh. Họ quan niệm rằng, trong lúc kẻ thù dùng mọi thủ đoạn để triệt hạ khí tiết thì những người tù chính trị phải đặt mục tiêu đấu tranh bảo vệ khí tiết lên hàng đầu.

        Năm ngôi sao toàn thắng trong cuộc đấu tranh chống ly khai cùng hàng trăm người hy sinh vô cùng anh dũng trong cuộc đấu tranh ấy đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho toàn thể tù chính trị Côn Đảo noi theo. Sáu tù án chính trị chống chào cờ đậu được trong đợt khủng bố khốc liệt tháng 4-1967 đã đặt nền tảng và thôi thúc lực lượng tù án vươn lên chống chào cờ ngày càng mạnh mẽ.

        Học hỏi kinh nghiệm của lớp người đi trước và bằng kinh nghiệm của chính mình, nhiều người đã tự xác định phương châm và nguyên tắc đấu tranh trong tù. Trong đấu tranh dân sinh dân chủ thì cá nhân phục tùng tập thể, nhưng trong đấu tranh chính trị, bảo vệ khí tiết thì mỗi người tự quyết định sinh mạng chính trị của mình; có tập thể thì cùng tập thể đấu tranh, không có tập thể thì tự mình quyết định. Họ tâm niệm một cách sâu sắc rằng, mỗi người tù chính trị đều phải tự mình chịu trách nhiệm trước Đảng, như khẩu hiệu mà họ hằng tâm niệm: Đảng đã trao Đảng cho ta, ta phải giữ ta cho Đảng.

        Điều cần phải “giữ” lúc này không chỉ là tính mạng mà trước hết và cao nhất là sinh mạng chính trị, là phẩm chất và khí tiết. Nếu cần, họ sẵn sàng hy sinh cả tính mạng mình để bảo vệ khí tiết, bảo vệ lý tưởng độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội, không khuất phúc trước bất cứ bạo lực nào. Đó chính là phẩm chất của những người anh hùng mang chí lớn mà nhiều năm sau, tập thể tù án chính trị mới nhận ra và vươn lên, noi theo.

        Kế từ khi cuộc tiến công Tết Mậu Thân (1968) nổ ra, địch siết chặt kỷ luật nhà tù, lập các phương án chống tù nhân bạo động. Tháng 5 năm 1968, số chống chào cờ tăng lên đến 71 người, hạt nhân phong trào đấu tranh bảo vệ khí tiết của tù án chính trị ngày càng mở rộng, đúng theo phương châm của những người tiên phong: Đường càng đi, đội ngũ càng đông.

        Chúa đảo Nguyễn Văn Vệ mở đợt đánh phá bức hàng quyết liệt. Lực lượng chủ yếu được giao cho Ban Chuyên môn của tên giám thị ác ôn số một Lê Văn Khương đảm nhiệm. Khương tập hợp khoảng gần 100 trật tự tay sai mở cuộc đàn áp, dồn tất cá tù án chính trị chống chào cờ về chuồng cọp II. Hắn cho trật tự lôi tù nhân ra bãi cát trước cửa chuồng cọp đánh, mỗi ngày một trận.

        Vệ còn ra lệnh bớt cơm, bớt nước, không cho tắm giặt, cấm ngặt rau. Bữa cơm chỉ có một loại mắm ruốc đen, nặng mùi. Việc không cấp rau trong nhiều tháng liền làm cho cơ thể tù nhân suy sụp nghiêm trọng. Các bệnh táo bón, kiết lỵ, phù thũng phổ biến. Nhiều người kiệt sức, teo cơ, bại liệt, không còn đứng nổi trên đôi chân của mình.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #188 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2017, 03:17:05 pm »


        Tên giám thị Nguyễn Văn Rồng - Phó ban chuyên môn đã thẳng thừng tuyên bố trước đòi hỏi cấp rau của tù nhân chuồng cọp: “Ranh giới giữa các anh với nội quy nhà tù là rau. Muốn ăn rau phải chịu chào cờ”.

        Các yêu sách của tù nhân đều bị đàn áp đẫm máu. Ông Tôn (ở Cần Thơ) bị đánh hộc máu, ngất xỉu tại trận. Anh Phan Đình Tựu (Điện Bàn, Quảng Nam) bị đánh nhiều phát bệnh tâm thần, suốt ngày hát những bài ca cách mạng. Địch còng cả hai tay, hai chân, khớp miệng anh cho đến chết (28-5-1968). Một số tù chính trị không chịu đựng nổi sự khốc liệt, rớt dần.

        Trước tình hình đó, một số người đã tuyên bố tuyệt thực đến chết để chặn bàn tay khủng bố của kẻ thù. Anh Nguyễn Văn Trường và anh Hồ Văn sắc tuyệt thực từ giữa tháng 5-1968 để phản đối đàn áp, đòi tôn trọng tự do tư tưởng, thực hiện qui chế tù chính trị. 10 ngày sau Hồ Văn sắc rớt, một mình Nguyễn Văn Trường tiếp tục cuộc tuyệt thực ròng rã hơn 2 tháng trời. Khi anh lả đi, chúng bơm sữa vào hậu môn. Tỉnh lại, anh tiếp tục tuyệt thực. Cùng lúc đó, Nguyễn Văn Chánh và Sầm Thanh Liêm đã tuyệt thực, phản đối kỷ luật tàn bạo tại chuồng cọp.

        Công văn số 341/CSQG CS/CSĐB/M ngày 31-7- 1968 của Trưởng ty cảnh sát quốc gia Côn Sơn cho biết, ngày 24-7-1968, Ty cảnh sát quốc gia Côn Sơn đã cử nhân viên đến Trung tâm cải huấn để “chứng kiến cuộc tuyệt thực của 3 chính trị phạm VC tên Nguyễn Văn Trường đính bài số C.18526, sầm Thanh Liêm số A.3564 và Nguyễn Văn Chảnh CT.610 đang bị biệt giam tại Khu biệt lập II để phản đối nội quy Trung tâm... Can phạm Nguyễn Văn Trường tuyệt thực đến nay đã 2 thảng 6 ngày, được đưa về bệnh xá Trại IV vào sáng 23-7-1968... Hai can phạm Sầm Thanh Liêm và Nguyễn Văn Chảnh tuyệt thực tính đến nay đã 18 ngày, vẫn còn ngoan cố, chưa chịu tuân theo nội quy Trung tâm, nhưng củng đã được đưa về bệnh xả Trại IV ngày 26-7-1968”.

        Nguyễn Văn Trường tuyệt thực đến ngày thứ 72. Khi ấy anh đã bị liệt cột sống, nằm bất động. Nguyễn Văn Chánh và Sầm Thanh Liêm tuyệt thực đến ngày thứ 26. Ba anh đă đạt kỷ lục dài ngày nhất về tuyệt thực, nêu tấm gương bền bỉ tự lực chiến đấu trong lực lượng tù án chính trị chống chào cờ. Đến khi địch tuyên bố ngừng đợt khủng bố tại chuồng cọp, các anh mới ăn uống trở lại.

        Khi đó, ngoài Phan Đình Tựu đã anh dũng hy sinh và ba anh tuyệt thực thắng lợi là Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Văn Chánh, Sầm Thanh Liêm, còn 21 anh “đậu” được tại chuồng cọp trong đợt đàn áp này là: Phan Văn Huệ, Nguyễn Tử Tòng, Hoàng Thanh, Ngô Đình Thời, Trương Văn Lành, Bùi Văn Me, Đoàn Văn Khét, Nguyễn Tấn Ngọc, Đặng Trung Tâm, Liêu Văn Bé, Tào Tựu, Võ Duy Quang, Cao Văn Chín, Phạm Ngọc Minh, Trần Việt Hùng, Hồ Văn Minh, Đặng Quốc Tuấn, Bảy Bê (Lê Văn Ngọc), Lê Tùng, Thích Hành Tuệ (Nguyễn Thới), Ngô Vản Thiều.

        Nếu như cuộc đàn áp khốc liệt mùa hè 1967 chỉ có sáu anh đậu được thì đợt đàn áp đẫm máu giữa năm 1968, con số ấy đã tăng lên 24. Điều đó chứng tỏ sức sống mãnh liệt của phong trào bảo vệ khí tiết.

        Tiếp nối truyền thông đấu tranh chống li khai cộng sản của tù chính trị câu lưu, những ngọn cờ đầu trong cuộc đấu tranh chống chào cờ đã dẫn dắt lực lượng tù án chính trị vào cuộc đấu tranh chính trị, bảo vệ khí tiết. Ở ngoài mặt trận, trước khi bị bắt, họ đã phủ nhận chế độ Sài Gòn, tay sai của Mỹ bằng "vũ khí vật chất" thì giờ đây, giữa lao tù, xiềng xích, nanh vuốt kẻ thù, một lần nữa họ lại công khai phủ nhận ngụy quyền Sài Gòn bằng "vũ khí tư tưởng", tuyên bố không thừa nhận chế độ Sài Gòn, tuyên bố chỉ có Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là người đại diện hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam.

        Đây không phải chí là lời tuyên bố của một tổ chức chính trị, một phái đoàn ngoại giao mà là lời tuyên bố của những con người tay trong xiềng, chân trong còng, trong đọa đày cùng cực, trong nanh vuốt và cạm bầy của kẻ thù, trong sự đày ải, khủng bố triền miên và căng thẳng tột độ, trong sự đày ải, khủng bố chết đi sống lại hàng trăm lần. Mỗi một lời tuyên bố của họ đều phải trả giá bằng máu và mạng sống. Phan Đình Tựu (quê ở Quảng Nam) đã hy sinh ngay trong cuộc đấu tranh, 24 người đậu được đã tiếp tục bị còng xiềng, cấm cố vô thời hạn đến tàn phế, bại liệt cả 2 chân, phải lết bằng đôi tay của mình.

        Cuối năm 1968, địch đưa số tù bại lết cùng những người mắc các chứng bệnh nan y về Chí Hòa, sau chuyển về Tân Hiệp (Biên Hòa).

        Tại Tân Hiệp, lực lượng tù án chính trị bại lết và tù chính trị câu lưu mắc bệnh nan y từ Côn Đảo về đã liên tục đấu tranh, không chào cờ ngụy, không chấp hành nội quy nhà tù, không mặc áo trắng, không đeo thẻ bài khi tiếp thân nhân thăm nuôi. Các anh Ba Tròn, anh Đại bị địch dùng roi điện đánh lột da lưng. Các anh Bùi Văn Me, Nguyễn Tấn Ngọc, sầm Thanh Liêm, Nguyễn Mãi bị chúng lột hết quần áo, đánh đập 3 ngày ba đêm, biệt giam xà lim, còng tréo chân tay cho đến khi Nguyễn Mãi tắt thở chúng mới ngưng đợt đàn áp, không cưỡng bức thi hành nội quy nhà tù.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #189 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2017, 03:19:35 pm »


        Cuối năm 1969, được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, lực lượng tù chính trị ở Côn Đảo về đã công khai tổ chức lễ tang Bác tại nhà lao Tân Hiệp, sau đợt ấy, chúng đày tất cả trở lại Côn Đảo. Trong chuyến đày đi đảo năm ấy, hai anh Lê Quyết Chiến và Trần Quang Hưng đã tháo còng, nhảy xuống sông Lòng Tàu trốn thoát. Trước đó, anh Nguyễn Văn Trường và Phan Văn Huệ đang điều trị tại bệnh viện Biên Hòa cũng tìm cách thoát được ra ngoài. ít lâu sau, cả bốn anh đều lần lượt bị bắt lại và đày ra đảo.

        Từ cuối năm 1968, phong trào chống chào cờ lại bùng lên mạnh mẽ. Nhiều đợt lưu đày tù chính trị từ nhà lao Chí Hòa ra Côn Đảo đã bổ sung lực lượng chống chào cờ. Đợt tháng 11-1968 có 42 người chống, đợt tháng 4-1969 có 22 người chống. Nhiều tù chính trị ở các sở tù khổ sai tự động chống chào cờ từng đợt vài ba người một. Các báo cáo chu kỳ (10 ngày), nguyệt kì (hàng tháng) của Ban chuyên môn trung tâm cải huấn Còn Sơn còn lưu lại cho thấy tháng nào cũng có nhiều người chống chào cờ ngụy. Nguyệt trình số 463/TTCH/CM/NT/M (từ ngày 14-7-1969 đến ngày 14-8- 1969) đã ghi nhận:

        - Tám can phạm cs thụ huấn tại các phòng 13, 16, 17 Trại IV (cấm cố) chống chào cờ.

        - Bốn can phạm cs phòng 6 Trại II (cấm cố) và 2 can phạm phòng 12 Trại IV hoả thực tái chống chào cờ.

        - Tám can phạm phòng 9 Trại IV chống và tái chống chào cờ.

        - Năm can phạm phòng 9, 12, 16 Trại IV chống chào cờ.

        - Khoảng 6 giờ ngày 7-8-1969, tàu HQ.405 vận chuyển 259 can phạm thành án và 115 can cứu cộng sản từ Trung tâm Cải huấn Sài Gòn đến. Hồi 17 giờ cùng ngày có 53 tên mới ra chống chào cờ.

        - Ngày 8-8-1969, 2 can phạm cs phòng 6 Trại 11 (mới ra) chống chào cờ.

        - Chiều 9-8-1969, thêm 2 can phạm cs (mới ra) và 3 can phạm cs phòng 16 Trại TV (cấm cố) chống chào cờ.

        - Hồi 17 giờ ngày 11-8-1969, một can phạm cs phòng 14 Trại IV (cấm cố) chống chào cờ".


        Báo cáo chu kỳ số 737/TTCH/CM/CK/M (Từ ngày 10-12-1969 đến 20-12-1969) ghi nhận:

        - Hai can phạm cộng sản phòng 15 Trại IV (cấm cố) chống chào quốc kỳ Việt Nam cộng hòa.

        - Ba can phạm cs phòng 16 Trại IV (cấm cố) chống chào cờ.

        - Khoảng 15 giờ 30' ngày 14-12-1969 từ Trung tâm Cải huấn Sài Gòn vận chuyển đến Trung tâm 338 can phạm bàng tàu HQ.406 (trong số này cỏ 44 tên chống chào quốc kỳ).

        - Khoảng 18 giờ ngày 17-12-1969, từ Trung tâm Cải huấn Tân Hiệp đã không vận đến Trung tâm 37 can phạm mới đến chống chào quốc kỳ.

        - Chín can phạm cs thuộc phòng 9 Trại V (hoả thực) và phòng 5 Trại II (hoả thực) chống chào quốc kỳ.

        - Bốn can phạm cs phòng I Trại II chống chào quốc kỳ..

        - Bốn can phạm cs phòng 15 Trại IV (cấm cố) chống chào quốc kỳ”.


        Sô liệu bản Nguyệt trình từ 14-7-1969 đến 14-8- 1969 và Báo cáo chu kỳ từ ngày 10-12-1969 đến 20-12- 1969 do Ban chuyên môn trung tâm cải huấn Côn Sơn thống kê cho thấy, trong 40 ngày đó, đã có 191 tù chính trị chông chào cờ, trong đó có 59 người tại đảo chống và tái chống chào cờ, 98 người từ Chí Hòa và 37 người từ Tân Hiệp ra chống chào cờ.

        Bản báo cáo sơ kết tình hình Nhà lao Côn Đảo do Ban Tổ chức Trung ương Cục và Ban An ninh Trung ương Cục tổ chức thực hiện vào năm 1974 còn cho biết 306 phụ nữ (có 2 cháu bé) bị đày Côn Đảo ngày 26 tháng 11 năm 1969 đều tuyên bố chống chào cờ và đấu tranh rất kiên cường.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM