Tranphu341 - Đoàn bb Sông Lam - Trên chiến trường A - Phần 6

<< < (28/30) > >>

tranphu341:

       

                                                         X


 Khi những vạt rau muống trắng được gieo bằng hạt đã mơn mởn xanh cao 5 -7 cm thì có lệnh toàn trung đoàn cấp tốc đi làm nhiệm vụ mở đường tại phía Tây Quảng Bình. Những cuộc họp liên tiếp phổ biến về nhiệm vụ mới và làm công tác chuẩn bị để hai ngày nữa lên đường. Anh em tôi quyến luyến chia tay địa phương, chia tay những ngôi nhà mới và chia tay vườn rau, vạt sắn mới nhú, lên đường làm nhiệm vụ. Mới đầu anh em kháo nhau là đơn vị sẽ đi làm đường, tôi lại nghĩ làm đường là làm đường mật, đường mía. Tôi nói làm đường thì càng tốt chứ sao, thế nào cũng có đường để ăn. Anh em giải thích là đi mở đường Trường Sơn vất vả lắm. Ấy là mấy ngày trước nghe phong thanh, còn bây giờ sau khi đại đội đã họp phổ biến thì nhiệm vụ đã rõ ràng. Như vậy là mỗi đại đội để lại từ hai đến ba người diện ốm yếu coi cứ và chăm sóc những cây trồng của đơn vị. Đúng sáng ngày 5 tháng 5 chúng tôi hành quân. Được phổ biến là hành quân 1 ngày nhưng quãng đường rất xa khoảng gần 30 ki-lô-mét, nên sau khi ăn cơm lúc 4 giờ sáng, trong hành trang mọi người lại có phần cơm nắm ăn trưa và tối.
Chúng tôi đi băng qua đường tàu, qua Thát Cóc, rồi bắt vào đường 15 đến cầu Long Đại rồi đi dọc tiếp sâu vào đất rừng Tây Quảng Bình. Long Đại có nghĩa là con rồng lớn. Cây cầu Long Đại là lấy tên con sông. Sông rộng, nước trong vắt, uốn lượn luồn lách chảy qua qua các khe núi đá dựng đứng của núi rừng Trường Sơn, khi về đây thì phình rộng ra rồi xuôi xuống biển. Chính vì thế mà cầu Long Đại là cây cầu sắt dài tới gần 200 mét lập nhiều kỳ tích thời bấy giờ. Nơi đây đã ghi nhiều chiến công hiển hách của quân và dân Quảng Bình thời chống Pháp. Thời Mỹ leo thang chiến tranh đánh phá miền Bắc, thì cây cầu là mục tiêu đầu tiên của máy bay Mỹ. Hàng vạn tấn bom đạn các loại đã trút xuống đây, hòng cắt đứt mạch máu giao thông tuyến đường 15 chi viện cho tiền tuyến.
Nếu nói Quảng Bình - Vĩnh Linh là túi bom đạn của không quân Mỹ thì khu vực này là rốn của túi bom ấy. Máy bay đã đánh sập cầu, nhưng những chuyến phà của công binh vượt qua bom đạn vẫn đêm ngày đưa những đoàn xe, những đoàn quân ra trận. Báo chí những năm qua lúc nào cũng ca ngợi tinh thần dũng cảm chiến đấu, không sợ hy sinh của quân và dân nơi đây. Cũng như cầu Hàm Rồng Thanh Hóa, khu vực này là biểu tượng của ý chí dũng cảm kiên cường của dân tộc Việt Nam, quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ. Hôm nay chúng tôi đến đây, bom đạn Mỹ không còn, dòng sông không phải mùa lũ nên nước chảy hiền hòa trong xanh thanh bình, nhưng xung quanh là những hố bom, hố đạn nham nhở, hố nọ chồng lên hố kia đỏ quạch màu đất đồi. Có những dấu tích của trận địa pháo phòng không, những đoàn xe vận tải quân sự tranh thủ những ngày hòa bình hối hả vận chuyển hàng hóa. Núi rừng Trường Sơn bạt ngàn, phong cảnh thật đẹp, đẹp đến nao lòng. Đứng ở bờ sông, ngẩn ngơ ngắm nhìn, thưởng thức cái đẹp, hơi mát từ dòng nước trong xanh phả lên, lòng thấy thật nhẹ.
Chúng tôi tiếp tục hành quân, qua mấy lần nghỉ thì tới địa điểm dừng chân để làm nhiệm vụ. Được biết nơi đây thuộc xã Trường Xuân, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình, là phía Tây Quảng Bình hay phía Đông Trường Sơn. Chúng tôi dừng quân, mắc võng hạ trại ven suối, bên kia suối là vách đá dựng đứng. Đêm đầu tiên ngủ tại Trường Sơn. Suối nước chảy róc rách, muỗi thì nhiều vô kể. Tìm được cây mắc xong võng và thưởng thức cơm nắm, tắm rửa qua rồi lên võng đi ngủ. Hành quân cả ngày mệt nên ai cũng ngủ được ngay, giấc ngủ thật ngon thật sâu. Sáng sớm đã bị khua dậy bởi những tiếng gà rừng gáy, tiếng chim hót và cả tiếng hoẵng toang toác gọi bầy, rồi tiếng khỉ hú lanh lảnh trên vánh đá cao vọng xuống. Anh em lục tục dậy, tiếng cười tiếng nói vang vọng cả rừng. Anh Khoát cũng đã dậy từ sớm phân công thúc giục mọi người nấu ăn sáng. Sau khi ăn sáng, mọi người nghỉ ngơi, anh Khoát lên đại đội hội ý nhận nhiệm vụ. Sau khi về anh phổ biến kế hoạch. Theo kế hoạch, chúng tôi được nghỉ ngơi buổi sáng. Trong lúc mọi người được nghỉ thì cán bộ các trung đội và anh Khoát cùng đại đội đi tìm vị trí để làm lán trại. Mục tiêu là trong 5 ngày các đại đội phải làm xong lán trại cho bộ đội ở. Xác định trung đoàn sẽ làm nhiệm vụ mở đường chiến lược ở đây theo dự kiến là bốn tháng.
Rất nhiều việc phải làm, chúng tôi lại đi tìm cây, đi cắt tranh và chặt những cây đót ken làm vách, làm sạp giường, lán trại tạm thời. Dân cư ở đây thưa thớt, chỉ có một vài hộ dân tộc Vân Kiều sinh sống. Họ không trồng cấy lúa mà chỉ trồng khoai, sắn, sống dựa vào sản vật của rừng núi như săn bắn, hái lượm củ quả. Việc dựa vào dân là không có được như những nơi đơn vị đã ở, đã qua. Trong lúc anh em tôi say sưa làm lán trại thì có những bộ phận đi nhận cuốc, xẻng, búa chim, búa tạ, xà beng, choòng đục đá. Đây là dụng cụ, cũng là những loại trang bị mới mà chúng tôi được trang bị để phục vụ công việc mở đường. Các cán bộ đại đội thì đi nhận bản đồ, bản vẽ mở tuyến. Trong tiểu đoàn đại đội 1, 2 và 4 cùng tiểu đoàn bộ trực tiếp làm đường, nhiệm vụ của đại đội tôi là khai thác đá phục vụ cho việc lát đường. Được phổ biến cả sư đoàn tức là các trung đoàn 270, 266, trung đoàn pháo binh 55 cùng các đơn vị trực thuộc cùng làm nhiệm vụ mở đường. Mỗi đơn vị đơn phân công làm một đoạn, vì vậy sư đoàn đóng quân dọc theo chiều dài con đường.
Mưa, mấy hôm nay mưa nhiều, đây là những trận mưa đầu mùa của mùa mưa. Nước suối đã dâng cao. Hôm mới đến thì suối nước chảy róc rách, anh em mắc võng sát cạnh suối, còn hôm nay, sau mấy ngày mưa, nước đã dềnh lên, cuồn cuộn chảy, mọi người phải mắc võng lên cao, xa suối đề phòng lũ ngập. Việc làm lán trại gấp rút hơn. Mưa như vậy việc tiếp tế vào đây gặp khó khăn. Số gạo mang đi đã hết. Ngày thứ hai bộ đội phải ăn lương khô. Cái đói ập đến mà không thể đi lấy lương thực được. Sang ngày thứ 3, đại đội đi tìm kiếm nhà dân Vân Kiều nhờ giúp đỡ, vay được một số bắp của bà con. Mỗi người được hai bắp ngô luộc. Ngô đỏ già khô ninh mãi mới chín, nhưng như thế cũng đã là may, là quý lắm rồi. Ngồi trên võng gặm ngô luộc ngửa mặt nhìn những bầy khỉ, bầy vượn đùa nghịch. Ngô ngon quá hay do đói quá mà trào nước mắt. Nước dềnh lên rất nhanh mà khi rút cũng rất nhanh. Ngày hôm sau nước đã rút, buổi tối nước còn đầy khe, ngập bờ mà sáng hôm sau như có phép thần, nước đã rút hết trở lại như cũ, suối lại róc rách hiền hòa, rừng Trường Sơn lại đẹp đẽ thơ mộng như ngày mới đến.
Việc làm lán trại bếp núc đã xong. Anh em tôi không còn phải ngủ võng nữa, mà đã được ngủ, nghỉ ở lán trại dã chiến thơm hăng mùi cây rừng. Những cái sạp giường tuy gồ ghề nhưng cũng thấy thật êm ái, mọi sinh hoạt tươm tất hơn. Theo nhiệm vụ, chúng tôi là đơn vị chuyên khai thác đá. Công việc mới mẻ với tất tả mọi người. Đại đội họp giao nhiệm vụ cho từng trung đội. Tiểu đội tôi cũng được phân công như một trung đội. Sau khi được các đồng chí công binh trung đoàn xuống tập huấn sơ sơ cho nghiệp vụ choòng đá và kỹ thuật lắp ghép mìn, kíp mìn vào dây cháy chậm, cách nhồi mìn, đốt mìn sao cho an toàn hiệu quả. Mỗi trung đội chọn lựa một bãi đánh đá riêng. Các trung đội thì các đồng chí trung đội trưởng như anh Cán, anh Đàm, anh Trung nhập ngũ những năm 1967-1968, có đồng chí đã kinh qua chiến đấu, tuổi cao có bản lĩnh già dặn công việc hàng ngày. Trung đội 1 còn có cả trung đội phó Yến nữa. Còn tiểu đội tôi thì anh Khoát tiểu đội trưởng mới là hạ sỹ lớp lính tháng 12 năm 1971 chỉ hơn chúng tôi có mấy tháng tuổi quân nên so với chúng tôi sàn sàn như nhau. Vì vậy ngày đầu tiên đại đội trưởng Nghẹ trực tiếp xuống chỉ đạo chúng tôi. Công việc thật bỡ ngỡ, cụ thể là cứ một nhóm hai người sau khi đã chọn được những tảng đá thuận lợi cho việc đứng choòng. Một người cầm choòng một người quai búa. Với tôi thì việc quai búa đã rất quen thuộc, còn các anh em khác thì rất bỡ ngỡ. Anh em chỉ sợ người quai búa đập búa không trúng choòng mà trượt búa vào tay, mà thực tế cũng đã có mấy trường hợp như vậy. Nhát búa đầu tiên đập xuống choòng vang vọng đánh thức rừng núi. Mới đầu thấy rất ngại không biết đến bao giờ mới choòng được một lỗ sâu vào lòng đá. Vì mỗi nhát búa đập xuống thì mũi choòng chỉ làm vỡ ra được ít đá. Người cầm choòng phải xoay choòng một góc khoảng 30 độ, búa lại đập tiếp và cứ xoay cứ đập như vậy sẽ tạo ra được một lỗ sâu trong lòng đá.
 Mới đầu chưa quen nên búa đập nhát gừng rất chậm, nhưng chỉ sau 1 - 2 giờ thao tác thì tay búa của mọi người đã bạo, đã nhanh, đã mạnh hẳn lên. Thỉnh thoảng tay búa lại nghỉ để rút choòng ra và múc mững mạt đá trong lỗ. Lỗ càng sâu thì việc lấy mạt đá ra càng khó. Nhưng rồi đến 4 giờ chiều thì chúng tôi cũng đã choòng được 6 lỗ, có những lỗ đã sâu tới cả mét. Đến lúc này thì công việc mới quan trọng là dùng thuốc nổ thỏi, loại thuốc nổ thường, bóc vỏ thuốc bóp ra dồi vào các lỗ. Khi thuốc nổ cách mặt đá khoảng 20-30 cm thì dùng 1 cái cây tròn nhỏ bằng ngón tay cắm vào lỗ để tra kíp mìn. Việc tra kíp mìn vào dây cháy chậm cũng là việc nguy hiểm, đây là lần đầu tiên của mọi người nên ai cũng có ý sợ vì nghe phổ biến nếu cắm dây cháy chậm vào kíp mà mạnh quá sẽ làm dây chọc vào “mắt ngỗng” của kíp, gây phát nổ ngay dẫn đến cụt tay, mù mắt hay thậm chí chết người, đã có nhiều trường hợp như thế. Công binh chỉ hướng dẫn qua. Trực tiếp đại đội trưởng Nghẹ ngày đầu làm việc này. Đại đội trưởng vừa làm vừa hướng dẫn tôi và anh Khoát học theo. Sau khi dây cháy chậm được cắt dài, ngắn theo ước tính thời gian, anh nhẹ nhẹ vừa xoay vừa ấn dây vào kíp. Khi đã cảm thấy đầu dây sát nhẹ vào kíp nổ thì lấy kìm bóp xung quanh miệng kíp cố định cho bám chặt vào dây, thế là xong một thao tác ghép dây cháy chậm vào kíp. Tất cả những thao tác phải chính xác nhưng phải thật nhẹ. Cái kíp nổ số 8, số 10 nhỏ như ngón tay út bằng đồng đỏ au rất đẹp nhưng chỉ cần va đập nhẹ hay đánh rơi, hoặc giẵm chân lên là có thể nổ ngay, rất nguy hiểm. Đến công đoạn tra lắp kíp nổ vào lỗ choòng đã dồi thuốc cũng thật hồi hộp vì nếu kíp mìn nổ thì gây tác hại không lớn lắm, nhưng khi nó đã được kích khối thuốc nổ thì sức công phá thật ghê gớm. Khi cắm vào lỗ tròn nhỏ trong đó lại phải lấy tiếp thuốc nổ nhét vào cho chặt nhưng cũng không được làm mạnh. Chỉ dùng tay ấn nhè nhẹ thuốc vào rồi dùng ít đất sét đã chuẩn bị trước đắp lên trên để cố định dây cháy chậm. Đúng là rất nguy hiểm.

tranphu341:

         Chỉ ít ngày sau, những công đoạn này do anh em thao tác bất cẩn được thông báo: Đại đội 1 trong khi chôn thuốc nổ, có đồng chí khi lèn đất xung quanh, lèn mạnh quá gây nổ tức thì làm chết và bị thương mấy người. Đại đội 8 tiểu đoàn 2 trực tiếp chính trị viên trưởng Liễu đốt mìn. Trời nắng to không nhìn rõ là dây cháy chậm đã bắt lửa nên cứ châm đi châm lại, không ngờ mìn nổ làm bị thương hỏng hai mắt.
Hôm nay ngày đầu tiên ra quân, tiểu đội tôi dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đại đội trưởng dự kiến sẽ đánh 9 quả mìn. Có 6 quả đánh mìn tại lỗ choòng, còn 3 quả thì ốp mìn vào dưới gầm đá. Khi đánh mìn thì phải hợp đồng giữa các trung đội trong đại đội cùng đánh một lúc. Phải cử người ra ngăn đường không cho ai vào khu vực, anh em phải đi rất xa hoặc trốn núp vào các hốc đá cách mấy chục mét, đề phòng đá tung cao rơi vào người. Tôi được phân công cùng anh Khoát và đại đội trưởng mỗi người đốt dây cháy chậm 3 quả mìn. Trước khi đốt phải tìm nơi chạy, ẩn nấp trước.
 Lần đầu đốt kíp mìn mới hồi hộp làm sao. Mỗi người cầm một thanh củi bằng cổ tay có than đỏ dí vào đầu dây cháy chậm, dây xì xì khói tức là dây đã bắt lửa phải chạy nhanh và đốt tiếp những quả khác theo phân công. Có những quả mìn ngay dưới mặt đất nhưng có những quả mìn phải leo lên cao, nên việc leo xuống phải rất nhanh, rất cẩn thận đề phòng trượt ngã gây thương tích, thương vong khi mìn nổ. Dây giầy, dây dép, quai mũ cối phải buộc thật kỹ. Ống quần cũng phải cài cúc cẩn thận đề phòng vướng víu vấp ngã. Khi đốt mìn, phải đốt những quả trên cao khó đốt trước rồi đốt tiếp những quả dễ đốt bên dưới. Trước khi đốt mìn thì đại đội bắn 3 phát súng làm hiệu lệnh nguy hiểm cho tất cả khu vực. Sau khi đốt xong mỗi người 3 quả mìn, ba anh em tôi chạy nhanh về một hốc đá đã chọn và đợi mìn nổ. Vì độ dài dây cháy chậm không đều nhau mặc dù đã tính toán để sao cho mìn nổ không cách nhau xa quá nhưng việc tính toán cũng chỉ tương đối, nên có quả nổ trước quả nổ sau, phải tập trung lắng nghe và đếm tiếng mìn nổ cho đủ. Đề phòng mìn nổ chưa hết mà đã ra xem kết quả, có quả vì sao đó mà bị nổ chậm, sẽ gây bị thương, do đá rơi xuống người. Trú ở trong hốc đá, tai thì cứ căng ra để đợi tiếng nổ, 3 phút, 5 phút cũng vẫn chưa thấy quả mìn nào nổ. Những phút giây chờ đợi này thấy dài làm sao, chẳng lẽ mìn không nổ. Đến phút thứ 8 thì ầm, ầm liên tục những tảng đá rơi bịch bịch… cá biệt có những hòn đá nhỏ bằng nửa nắm tay văng thật xa rơi xuống gần chỗ chúng tôi. Có tiếng nổ ục khác hẳn. Sau này khi có kinh nghiệm mới biết những quả mìn nghe nổ đanh to thì hiệu quả không cao mà những quả nghe nổ ục thì chất lượng của mìn phá rất tốt. Sau khi mọi người đếm và đều ghi nhận có 9 tiếng nổ, đợi vài phút nữa chúng tôi mới ra ngoài xem mìn nổ thế nào. Thật là kinh khủng bãi đá toang hoang không như lúc sáng nữa. Những tảng đá to, nhỏ bị mìn phá nằm rải rác. Các quả mìn đánh từ lỗ choòng hiệu quả tốt hơn. Ba quả mìn đánh ốp bên dưới chỉ làm tảng đá mồ côi bị rạn nứt. Chúng tôi trở về với tâm trạng vui vui trong tiếng mìn của các trung đội cũng ầm ầm vọng lại.
Sang ngày hôm sau, mọi người lại ra công trường. Hôm nay được phân công tiểu đội chia làm hai bộ phận, một bộ phận tiếp tục chọn vị trí choòng đá, một bộ phận dùng búa đập những tảng đá to và thu gom đá nhỏ xếp vào đống vuông vức để đo khối lượng. Theo định mức trung bình mỗi người phải làm được 0,3 mét khối đá hộc. Đại đội đã cử đồng chí Tú ở trung đội 1 làm thư ký để đo đếm, ghi chép kết quả khối lượng của các bộ phận. (Đồng chí Tú là sinh viên đại học Lâm nghiệp năm thứ 3. Sau này về học tiếp đại học rồi  đi công tác, rồi làm giám đốc một công ty tại ngành lâm nghiệp. Hiện nay đồng chí Tú đang sống tại thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định).
Qua đo đếm, kết quả ngày hôm qua chúng tôi vượt chỉ tiêu là trung bình 0,35 mét khối một người. Sang hôm nay và những ngày tiếp theo công việc vẫn như vậy. Việc choòng đá bắn mìn, các thao tác khác đã quen. Anh em quai búa đã thuần thục, thậm chí có lúc một người cầm choòng, hai người rồi ba người quai búa. Chúng tôi đã như người thợ quai búa chuyên nghiệp. Ấy là lúc đầu đá còn dễ phá vì rất nhiều đá ở dưới thấp sau này đá khó phá hơn, vì phải choòng ở trên cao, người quai búa phải buộc dây an toàn đề phòng trượt ngã. Thường khi giao ban buổi tối đại đội thông báo khối lượng và thành tích của từng trung đội và tiểu đội 10 trong ngày, số liệu do đồng chí Tú tổng hợp. Tiểu đội tôi thành tích luôn nổi trội hơn các trung đội khác.
Có một việc khó khăn là những xà beng choòng đá sau một, hai ngày làm việc thì mũi xà beng bị mòn, phải mài, nhưng sau mấy lần mài, mũi không còn độ cứng nữa. Chỉ choòng một lúc mũi choòng đã thành hình vòng cung, gây năng xuất rất thấp, không như mấy ngày đầu nữa. Không phải chỉ có tiểu đội tôi bị vậy, mà tất cả các trung đội cũng trong tình trạng ấy. Lúc này tay nghề cơ khí của tôi mới được phát huy. Buổi trưa sau khi ăn cơm tôi nói với anh Khoát cử hai người giúp tôi lấy củi, loại củi khô chắc, đốt bếp rèn lại choòng. Sau khi bếp lửa đã cháy đỏ, tôi cho choòng vào bếp nung đỏ và rèn rồi mang ra mài rất chuẩn đẹp. Búa thì đã có, còn đe thì cũng chỉ là tảng đá cuội lấy ở suối. Rèn, mài được mấy cái choòng thật ưng ý nhưng đến công đoạn tôi cứng thì không thể nào tôi cứng được. Choòng là loại thép CT45 cách tôi, cách ram lấy mầu tôi đã được học ở trường rất kỹ. Tôi cũng áp dụng như vậy, nhưng khi mang ra thử phóng vào đá thì thì mũi choòng chùn quăn, như vậy là bị tôi non.
 Tôi thử đi thử lại tăng nhiệt độ lấy mầu thí nghiệm mấy lần mà vẫn không được, thật bất lực không biết là tại sao. Với độ cứng này, chỉ dùng tạm được chứ mũi choòng không bền. Lúc này mới nghĩ đến giá như có ông thầy dạy cơ khí của mình ở đây thì tốt biết mấy. Nhưng kỳ lạ, tôi là học sinh cơ khí vào loại xuất sắc, các kỹ thuật tôi, ram của tôi rất vững, những mũi đục, mũi chạm bằng thép, nhiều bạn học phải nhờ tôi tôi hộ, các thầy giáo cũng đánh giá cao tay nghề của tôi. Vậy mà sao ở đây mình lại không làm được theo yêu cầu. Thử đi thử lại mấy lần nữa cũng không đạt. Đến giờ đi làm tôi nói anh em cứ lấy đi làm tạm đã rồi tôi cũng theo anh em ra bãi đá làm công việc của mình. Làm, nhưng trong đầu cứ quẩn quanh nghĩ về kỹ thuật tôi choòng, tại sao mình đã học như thế ở trường, ở nhà máy đã làm như vậy mà ở đây thì không sao làm được. Hay tại chất thép của choòng không phải là CT45. Nhưng tôi cũng đã thử mấy lần về tôi chất thép thấp hơn rồi mà sao vẫn không được? Tối về ăn cơm, đi ngủ cũng vẫn nặng nề nghĩ ngợi về kỹ thuật tôi choòng không thành công ấy. Anh em tập trung vào hỏi và bàn cách tôi, nhưng họ đâu có biết nghề cơ khí mà góp ý cho đúng.
Buổi trưa hôm sau tôi lại tiếp tục đốt bếp rồi rèn, mài choòng. Số lượng choòng hỏng nhiều mà chưa khắc phục được. Bất lực, tôi lội xuống suối gội đầu rồi lên kéo điếu thuốc lá mà lúc sáng quản lý mới mua hộ một bao. Tôi chợt nghĩ đến qua học lý thuyết thép, thành phần làm cứng thép là cacbon, chợt nghĩ ngay đến lượng cacbon trong than đá. Tôi lóe lên hy vọng là đã tìm ra thủ phạm gây nên việc tôi ram không được. Rất vui và sôi nổi hẳn lên, tôi nói anh em đốt lại bếp và đi như chạy về nhà quản lý, bốc một nắm muối. Mượn thêm cái xô đựng nước tôi, ra lấy nước suối và cho muối vào ngoáy tan. Hồi hộp đốt cho mũi choòng đỏ theo màu vàng cam, cắm mũi choòng vào xô nước muối, rồi lại rút nhanh lên đợi màu chuyển sang tím thì nhúng nhanh xuống xô nước. Đợi nguội, tôi nói, anh em lấy choòng phóng vào đá thử độ cứng. Mũi choòng va đập vào đá lần này âm thanh khác hẳn, nghe khô đanh chát chúa. Anh em nói, anh Phú ơi tốt lắm rồi anh ạ, nhưng lại bị mẻ một miếng. Như vậy là tôi bị cứng quá. Tôi rất vui vì biết sẽ thành công, mũi choòng đã vượt qua độ cứng yêu cầu, giờ thì chỉ cần làm cho giảm độ cứng, tức là phải ram cho kỹ. Những công việc này thì tôi học rất bài bản. Đến giờ làm việc, tôi cũng đã sửa, làm mới được 6 cái choòng như ý.
 Có bạn sẽ hỏi thế là tại sao ? Xin trả lời là, ở trường, ở nhà mình đốt lò bằng than đá, lượng cacbon trong than đá rất cao, nó bổ sung cho thép khi nung đỏ. Còn ở đây mình đốt lò bằng than củi mà than củi thì lượng cacbon hầu như không có, dẫn tới tôi thông thường như đã học thép bị non. Vì vậy phải bổ sung các thứ thiếu, mà muối là một thứ như vậy, cộng thêm một số kỹ thuật khác nữa.
Việc rèn được choòng sắc cứng làm cho năng suất choòng đục đá cao hẳn lên, năng suất của tiểu đội tôi lúc nào cũng vượt trội các trung đội khác. Các trung đội sang xem tôi làm, có ý học tập cách rèn choòng, nhưng họ không làm được như thế. Trong đại đội có ba trung đội trưởng, anh Trung, anh Đàm, anh Cán. Anh Cán trung đội 3 quê Hải Phòng lúc nào cũng là người hiếu thắng. Anh luôn muốn cái gì trung đội mình cũng phải đạt thành tích cao, phải dẫn đầu đại đội. Nên trong việc này anh rất bức bối khi mà thành tích của tiểu đội tôi trong khai thác đá luôn cao nhất. Lần mò mãi mà vẫn không rèn được choòng như ý, anh có ý muốn tôi chỉ giúp cách làm. Anh em trong tiểu đội biết việc này, nói với tôi là đừng có bảo bí quyết ấy. Mới đầu tôi cũng nghe theo anh em, nhưng sau thấy không nên thế, tôi hướng dẫn cho anh và các trung đội khác sửa choòng. Việc này làm mọi người rất vui và đại đội biểu dương tôi.
 Việc sửa choòng như vậy làm cho tôi vất vả thêm vì phải tranh thủ làm buổi trưa không được nghỉ. Anh em phụ thì có thể thay nhau, còn tôi liên tục ngày nào cũng phải như vậy. Ít bữa sau, ngày chủ nhật, một số anh em quê thị xã trong trung đoàn đến chơi với tôi, biết chuyện, nói tôi dại thế, phải làm giờ hành chính chứ! Minh, đại đội 18 thông tin nói thêm, nếu phải làm ngoài giờ như vậy thì đại đội cứ phải cấp cho em một bao thuốc lá loại đặc biệt thì em mới làm. Minh còn kể chuyện thách đố giữa Minh và chính trị viên đại đội khi gặp một tảng đá mồ côi rất lớn, vị thế rất khó choòng. Minh nói với chính trị viên đại đội là: Tôi và 2 người nữa trong ngày hôm nay sẽ phá tan được tảng đá lớn này, và cược với chính trị viên 5 bao thuốc Đ’rao, loại thuốc lá này lúc ấy là ngon và quý lắm. Sau khi thỏa thuận và sau khi nghiên cứu tảng đá, thấy rằng không thể trèo lên trên tảng đá mà choòng được, vì tảng đá hình chóp không có thế đứng, mà làm giàn giáo thì mất rất nhiều công. Minh bèn nghĩ ra cách choòng ngược xiên từ dưới lên. Nếu choòng được thì khi đánh mìn hiệu suất rất cao. Việc cầm choòng ngược, quai búa ngược là rất khó, nhưng vì động cơ thách đấu, ba người lính thị xã nghịch ngợm có nghề cơ khí đã thành công, chiều hôm ấy với tiếng ổ ục thật lớn, tảng đã đã bị đánh tan.

tranphu341:

          Về công tác đoàn, sau cuộc họp của ban chấp hành Liên chi, tôi được anh em bầu là phó bí thư Liên chi đoàn đại đội. Anh Nguyễn Văn Từ, thiếu úy chính trị viên phó đại đội là bí thư Liên chi. Tôi còn được bầu thêm chức vụ trưởng ban thông tin tuyên tuyền của đại đội. Nói là trưởng ban cho oai chứ thực sự là trưởng một nhóm 4 người, tôi và mỗi trung đội một người, gồm anh Phức, anh Hưởng, anh Tú. Hàng ngày mỗi buổi chiều phải nắm bắt được các hoạt động của đại đội, trung đội, chủ yếu là năng suất lao động để tổng hợp viết bài. Sau cuộc họp tối khoảng 21giờ 15 thì dùng cái loa Lido của chính trị viên đọc tin tức như điểm các loại báo, đọc bản tổng hợp tin của đại đội cho mọi người nghe. Ngày nào cũng vậy kể cả ngày mưa. Việc này cũng làm cho tôi bận rộn lên nhiều. Nhiều hôm thấy trời mưa, nhóm tôi lười không phát tin, anh em đến giờ không thấy tiếng loa quen thuộc đã réo ầm ỹ cả lên.
Ở vùng này là rừng núi nguyên sinh, những chỗ bằng phẳng rất ít. Chủ yếu là những trái núi đá có vách thẳng đứng, đầy cây nhỏ và dây leo chằng chịt, rất nhiều khỉ, vượn đu qua đu lại đùa giỡn hái trái cây. Nhiều chùm phong lan các loại thêm vẻ đẹp của núi rừng Trường Sơn. Âm thanh núi rừng cũng thật sôi động. Tiếng nước suối chảy róc rách làm nền cho tiếng chim kêu, vượn hú, tiếng gáy của gà rừng, tiếng chim “bắt cô trói cột” lúc nào cũng vang động. Ban đêm, tiếng hoẵng “toát, toát” tìm bạn ầm vang như kêu ngay tại đầu giường mình. Những sản phẩm rừng suối ở đây cũng nhiều thứ quý, như ven suối thì cây sâm đất rất nhiều. Anh em đào về, sao vàng sắc đặc làm nước uống rất thơm, rất bổ, chỉ khổ cái là đi đào cây này thì muỗi rất nhiều. Lội suối lần mò vào khe đá nhỏ, mang thêm cái xà beng để cậy các hốc đá ra là bắt được những chú cua đá rất to về nấu canh với lá lốt, thứ rau tự nhiên này ở đây thì bạt ngàn, nấu canh chán thì làm món cua nướng thơm ngon. Bên các đại đội khác còn có những vũng nước suối lưu cữu có bùn. Anh Phô, bạn tôi bên đại đội 1 sang khoe là cứ dùng cây tiêu súng cối hay các cành cây dàn hàng ngang đi xâm xuống những chỗ suối đó thấy động kịch một tiếng, móc lên được ba ba, có những con rất to, nặng cả chục ki-lô-gam. Có buổi sáng tôi dậy sớm ra suối rửa mặt thì quãng suối  mọi ngày đầy nước không hiểu sao nước suối rút đi đâu hết, trơ ra toàn đá nhìn kỹ có rất nhiều tôm, cá bống và những cá nhỏ đang quẫy nhảy. Tôi chạy về gọi anh em ra lấy xô ra, chỉ việc nhặt một lúc sau được gần đầy xô. Thi thoảng anh em bắt gặp những con trăn đất to dài mấy mét.
Sau khi nổ mìn được mấy ngày, tôi và anh Khoát leo lên bãi đá thì phát hiện trên đó có một cái hang không sâu lắm nhưng có nhiều phân dê còn mới. Đây là nơi trú ngụ của dê rừng. Không biết sau đánh mìn dê còn sống tại đây không. Tối lên ban chỉ huy mượn loa để phát thanh, tôi kể với chính trị viên Lẫm và xin phép tối cho tôi đi săn dê cùng với một người dân tộc Vân Kiều hiện là bí thư chi bộ ở đó. Chẳng là, qua mấy ngày ở đây, tôi lân la vào nhà một người Vân Kiều chơi và biết ông hiện là bí thư chi bộ của thôn Rào Trù này. Điều đặc biệt là ông có ông bố đẻ rất thọ, năm đó theo ông nói, ông cụ đã 126 tuổi, thuộc người có tuổi thọ cao nhất miền Bắc, nhưng cụ vẫn vẫn minh mẫn, trò chuyện bình thường. Ông kể, năm nào cụ cũng được các cấp chính quyền tặng quà, cả quà của Chủ tịch nước nữa. Tôi nói với ông về chuyện hang dê trên chỗ đánh đá. Được chính trị viên đồng ý lại còn cho tôi mượn cái đèn pin Trung Quốc, dặn dò đảm bảo an toàn. Tôi về báo với tiểu đội trưởng Khoát việc đi bắn dê. Tối hôm đó khoảng 20 giờ tôi mượn khẩu AK báng gỗ trong tiểu đội và lắp đầy 30 viên đạn, nai nịt gọn gàng, đi giầy, đeo thắt lưng to bản, mang theo cả con dao găm nữa. Đúng hẹn, tôi ra nhà ông bí thư, ông cũng đã chuẩn bị xong, có cả đèn săn buộc đeo trên trán rất chuyên nghiệp. Ông không có súng AK mà có súng K63. Ông hướng dẫn qua cho tôi về cách thức bắn dê rừng. Ông nói, bắn dê rừng rất nguy hiểm, vì khi bắn mà nó không bị trúng đạn hoặc bị thương là nó lao ngay vào húc mình. Ông kể thêm, con dê rừng có 5 cái mật chứ không như các loại thú chỉ có một túi mật, chỗ buồng gan 1 cái lớn còn dưới 4 chân có 4 túi mật nhỏ vì thế khi dê nhảy từ rất cao xuống đất, mà chân không bị đau. Ông nói thêm thực tế mật dê rừng rất quý, tốt hơn cả mật gấu. Nhưng đi săn gấu thì còn dễ chứ đi săn dê khó hơn nhiều. Ông nói tháng trước ông mới bắn được con gấu ngựa nặng 150 ki-lô-gam hiện cái mật đang còn treo ở bếp. Hai anh em tôi lần mò leo lên núi, tôi cảm thấy hồi hộp, song rất tin tưởng vào tay súng của mình cùng cái háo hức việc đi săn bắn. Tôi cũng tự đặt ra mấy tình huống cần xử lý, nhưng tốt nhất là cứ chắc tay súng mà găm được mấy viên đạn vào nó thì con thú nào cũng phải gục ngay.
Ông lần mò đi trước theo hướng dẫn của tôi. Khoảng 30 phút thì leo lên được chỗ cửa hang mà tôi đã phát hiện, ông ra hiệu cho tôi im lặng và căng tai ra lắng nghe tiếng động, lúc này cũng chưa ai được soi đèn. Nghe ngóng một lúc, ông bật đèn sáng rồi nói: dê nó thấy đánh mìn động nên không ở đây nữa rồi, tiếc quá hang dê lớn thế ngay gần mình mà không biết. Hai anh em lần mò đi về trong sự tiếc nuối. Ông rủ tôi ngày mai chủ nhật đi săn gà rừng, tôi thích quá nhưng nói để em về xin phép đã.
Tôi về trả đèn pin cho chính trị viên Lẫm và kể chuyện đi bắn dê mà không gặp, rồi xin phép ngày mai đi săn gà rừng với ông bí thư. Rất vui là anh Lẫm đồng ý cho tôi đi săn gà. Hôm sau, như hẹn tôi lại theo ông bí thư vào rừng. Ông dẫn tôi đi vào sâu trong rừng khoảng 2 ki-lô-mét. Rừng ở đây hoang dã như chưa có ai đặt chân tới, rất nhiều cây to cùng những dây leo lớn nhưng lại không dốc lắm. Rất nhiều sóc, những con sóc rất to nhảy nhót chuyền cành, cái đuôi của chúng cong ngược lên rất đẹp. Đặc biệt là sóc cứ chạy nhảy trên cành cây hoặc dây leo nhưng chỉ hai ba mét là chúng lại dừng lại nhìn ngó. Tôi thấy tận dụng lúc nó dừng lại có thể bắn được. Tôi nói ông để cho tôi bắn, ông nói khó bắn đấy vì thời gian nó dừng lại rất ngắn. Tôi nói ông yên tâm, tôi đứng bắn nên thao tác rất nhanh. Và rồi cứ tư thế đứng bắn đó, trong buổi sáng tôi bắn được 3 con sóc. Ông khen tôi là bắn tốt. Sau lần bắn con thứ 3 thì sóc sợ chạy đi hết. Ông nói để tôi làm rào bắn gà. Ông nhanh nhẹn bẻ một số cành lá, cắm thành rào có khe cửa hở khoảng một gang tay ở giữa. Sau đó ông ra hiệu  lùi lại khoảng mười mét và bẻ lá cây ngụy trang. Xong việc, ông lấy cái còi nhỏ bằng ống nứa ra thổi, âm thanh phát ra như tiếng gà trống gọi nhau thách đấu. Ông nói, đợi tí nữa gà đến bây giờ, rồi gióng súng vào cái khe trống đó. Mấy phút sau đã thấy tiếng mấy con gà trống quanh đó đáp trả. Một chú gà tiên phong đã hướng về phía chúng tôi. Nó chẳng nghi ngờ gì hết, mà hùng dũng dựng lông cổ đi qua cái khe để sẵn. Đoàng! Chú gà nằm quay lơ, chân đạp đạp không kêu được tiếng nào. Ông bảo tôi đi nhẹ ra thu chiến lợi phẩm và ông lại rúc còi. Cứ như thế, sáng đó ông bắn được 4 chú gà trống. Thu xong “chiến lợi phẩm”, chúng tôi nằm ngửa hút thuốc, nhìn ngắm phong lan, cây rừng một lúc rồi ông bảo: Về thôi! Ông nói thêm: Còn nhiều gà lắm, bắn thế là được rồi, để dành hôm khác, nếu tôi đi một mình thì chỉ bắn hai con thôi, có chú nên tôi bắn bốn con. Tôi cảm thấy vui và khâm phục ông, người dân tộc Vân Kiều mà rất khoa học. Rừng vàng biển bạc nhưng đâu phải là vô tận, ông biết để dành các sản vật của rừng để nó còn phát triển và dự trữ lâu dài.
Cầm sản phẩm về rất vui, tôi được ông chia cho hai con gà, hai con sóc. Tôi biếu đại đội một con gà, một con sóc, còn mang về tiểu đội. Hôm đó được bữa thịt rừng thật vui, nhưng cũng chẳng thấm vào đâu vì tiểu đội hơn chục người cơ mà.
Việc mở đường vẫn là nhiệm vụ chính, rất vất vả vì đã là đầu mùa mưa. Ngày mưa ngày nắng rất khó chịu cho sức khỏe. Tiểu đội tôi vẫn luôn là tiểu đội dẫn đầu về khối lượng khai thác. Các trung đội cứ ấm ức vì không sao vượt nổi thành tích của chúng tôi. Nhưng cũng có ngày gặp khó về choòng, năng xuất không đảm bảo, nhưng anh em lại láu lỉnh trong việc đo khối lượng. Biết là năng suất hôm đó thấp. Tuấn với Nhiên nói với tiểu đội trưởng là anh cứ để chúng em đo. Hai đồng đội bí mật tìm chỗ dự định đo chiều cao, lấy cái cây nhỏ cắm xuống một lỗ sâu khoảng 10 cm trước và phủ mấy lá cây lên ngụy trang lỗ. Lúc anh Tú mang thước đến đo, Nhiên nhanh nhẹn nói: Anh đưa thước em đo cho! Cắm thước vào cái lỗ làm sẵn rồi chỉ anh Tú chiều cao so với mép đá trên. Anh Tú đọc số mà không biết là anh em đã ăn gian 10 cm chiều cao. Mà ăn gian chiều cao là khối lượng tăng lên nhiều lắm. Chúng tôi buồn cười vì sự ma mãnh của anh em. Đợi anh Tú đi khuất anh Khoát nói: Chỉ được làm lần này thôi nhé, mình không muốn ăn gian thành tích như vậy.
Việc mở đường đã vào guồng, mọi công việc thành thục thì đơn vị bắt đầu bị dịch sốt rét. Không phải chỉ có đại đội tôi, mà toàn tiểu đoàn, toàn trung đoàn đều bị dịch sốt. Ở đây muỗi nhiều vô kể, rừng thì cây lim rất nhiều, nghe nói lá cây lim rất độc, khi lá rụng xuống ngâm trong nước, uống nước suối ấy bị ngã nước. Chúng tôi được phổ biến là muỗi alophen ở vùng này là loại muỗi truyền ký sinh trùng sốt rét cho mọi người, chỉ cần bị muỗi đốt một lần là bị sốt ngay. Qua các đồng chí đi viện về nói, sốt rét thường có hai loại vi rút loại phansivarom và loại vivăt. Ở đây chủ yếu là thể một. Bị sốt rét thể một là gây sốt rất nhanh, sốt rất cao, có khi lên tới 40,5 độ. Nghe nói loại sốt này tuy sốt cao nhưng không hay dẫn đến chết người. Trong đơn vị anh em bị sốt nhiều quá, cứ hết người này khiêng cáng người kia đi viện, thường ở bệnh viện trung đoàn, sư đoàn, điều trị 15-20 ngày mới khỏi. Có đồng đội khiêng cáng anh em đi viện vừa tới nơi thì lên cơn sốt, và trở thành bệnh nhân. Có lần một tốp khiêng cáng anh em đi viện, đêm trên đường về gặp một chú hoẵng đi ngược đường. Hoẵng quáng đèn pin đứng nhìn ngơ ngác. Mọi người bất ngờ. Một đồng đội hô: “Hươu, anh em ơi!”, vì nhầm hoẵng là hươu. Mấy anh em định lao lên bắt, chú hoẵng tội nghiệp thay vì quay lại chạy thì lại chạy về phía đèn và như vậy là lao vào chỗ anh em đang đứng. Đường núi nhỏ, một bên là vách đá dựng, một bên là vực sâu. Trong tốp lính hôm đó của trung đội 1 có anh Tấn, tiểu đội trưởng người dân tộc Sán Rìu lao vào vồ, ôm được chú hoẵng. Hoẵng giãy đạp, định vùng ra thì tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Ngọc là người cao to nhất đại đội đấm mạnh một phát vào sống mũi. Chú hoẵng tội nghiệp trúng đòn, anh em tháo thắt lưng trói khiêng về. Đêm hôm đó toàn đại đội không ngủ để thưởng thức món đặc sản thịt rừng.

tranphu341:

         Tôi người gầy bé không tới 50 ki-lô-gam, nhưng không hiểu sao lại không bị sốt do may mắn thế nào đó. Sau nghĩ lại là có lần buổi chiều tôi ra suối tắm, vừa ngồi xuống bờ suối đã thấy một chú alophen sà xuống cánh tay tôi, chổng ngược lên cắm vòi vào đốt. Phát hiện được ngay, tôi lấy tay đập chết con muỗi. Không hiểu có phải là do muỗi đốt, nhưng mới truyền cho tôi một ít vi trùng, nên tôi như người được tiêm phòng, tạo ra kháng thể miễn sốt rét chăng?
Tôi không bị sốt rét, nhưng lại bị một bệnh rất kinh khủng đó là mụn cơm, có nơi gọi là mụn cóc. Không phải bị một, hai ba cái mà có đến cả trăm cái mụn chạy dọc từ hai cổ chân lên, cả hai cánh tay nữa, cứ y như là bị hủi. Anh em bày cho đủ cách: Nào là tìm mụn cơm cái đốt hoặc bôi các thứ linh tinh, kể cả tìm xác rắn lột tán ra bôi nữa mà cũng chẳng khỏi. Tôi rất sợ, nghĩ cứ như thế này thì được về phép cũng không dám về vì trông kinh quá. Điều này làm tôi rất khổ sở, dù nó không ảnh hưởng gì đến sức khỏe. Tôi vẫn đi làm cả ngày, cả trưa, và tối viết bài phát thanh nữa. Như vậy thời gian tôi làm việc rất nhiều, không hiểu sao tôi vẫn khỏe, vẫn trụ được, vẫn luôn được biểu dương khen thưởng và được đưa vào diện “cảm tình Đảng” nữa. Thế mà gần cuối đợt lao động ở đây tôi lại chữa được cái bệnh này mới hay chứ. Ấy là một buổi trưa sau khi rèn choòng xong, ra suối tắm, tôi thấy một búi giẻ lưới xúc cá của người Vân Kiều vứt cạnh bờ. Cái búi lưới mục rách vứt ở đây đã lâu, rất bẩn. Tôi nghe nói là lấy các thứ bẩn bôi vào có khi khỏi. Nghĩ vậy tôi bèn lấy cái búi lưới ấy chà đi xát lại 7 lần (theo dân gian đàn ông 7 vía). Xong việc, tôi ngả lưng xuống bờ suối nghỉ ngơi một lúc, xuống tắm rồi về tiếp tục công việc chiều. Rồi tôi cũng quên hẳn việc chữa mụn cơm đó. Khoảng 4 đến 5 ngày sau, tình cờ nhìn những chỗ mụn cơm, tôi sửng sốt vì không còn cái mụn nào. Chúng đã bay đi hết chỉ để lại nốt sẹo nhỏ trên da thịt. Tôi rất mừng, không ngờ cách mà dân gian gọi là chữa mẹo này lại có tác dụng như vậy. Tôi kể cho một vài anh em, họ làm theo và cũng chữa khỏi.
Như đã nói ở trên, vùng Trường Sơn này, rừng núi rậm rạp chỉ có người dân tộc Vân Kiều sinh sống. Nhưng dân số chẳng đáng bao nhiêu, họ ở thưa thớt. Chủ yếu sống bằng nghề trỉa ngô, trồng sắn và săn bắt sản vật của rừng. Dân trí còn rất lạc hậu. Những năm chiến tranh chống Pháp, vùng này là chiến khu cách mạng của tỉnh Quảng Bình. Đã nhiều lần quân Pháp càn lên để phá chiến khu nhưng không những không phá được mà còn bị thất bại thảm hại. Những năm chống Mỹ họ tiếp lương, tải đạn và mở đường theo yêu cầu của các đơn vị. Một vài người đi bộ đội.  Ốm đau thì họ vẫn cúng ma rừng. Có lần chúng tôi ra suối thấy một đám cúng trừ ma. Một đống lửa ven suối được đốt lên, thầy mo tóc dài đóng khố cùng gia đình dân bản cũng chỉ đóng khố nhảy múa xung quanh đống lửa, thỉnh thoảng hú hét rất rùng rợn để đuổi con ma. Sau đó chúng tôi tìm hiểu thì được biết một gia đình trong bản có người sản phụ sinh nhưng cứ ốm đau, chữa thuốc lá không khỏi, cho là ma hành nên phải cúng đuổi ma. Hôm sau đại đội hỏi địa chỉ, cho y tá đến xem bệnh và thuyết phục mãi họ mới đồng ý cho chữa. Chị phụ nữ bị bệnh hậu sản nên phải tiêm, uống thuốc bổ ít ngày sau thì bình phục. Qua tìm hiểu sâu biết thêm Dân tộc Vân Kiều có tục lệ là nếu trong gia đình có mấy anh em mà không may chồng của người em hoặc người anh chết, thì người anh hay người em phải tiếp nối thay. Có gia đình người anh phải lấy hai, ba vợ của các em. Vì theo phong tục của họ, phụ nữ đi lấy chồng là đã làm con ma của nhà chồng rồi, chỉ ở nhà chồng đó không được đi lấy ai khác.
Ở đây cũng có chuyện vui nữa, ấy là có buổi trưa trời nóng quá, xong việc tôi ra suối tắm. Tới gần vũng nước vẫn tắm, thấy có tiếng con gái chuyện trò đùa nghịch rất lạ. Đi tiếp thì bất ngờ, vũng nước mà chúng tôi thường tắm có gần chục cô gái đang tắm. Họ đùa nghịch, té nước nhau rất sôi động. Họ tắm truồng, sự kỳ thú giữa  vùng sơn cước. Tôi mon men đi lại, ý định nấp vào bụi xem cảnh thần tiên trời cho thì phát hiện hai, ba đồng đội đã đang núp trong đó. Thấy động, họ quay lại ra hiệu cho tôi im lặng. Nhìn người nào mặt cũng nghệt ra vì phấn khích quá độ. Đẹp, đẹp như tiên. Tiên nữ ở đâu mà lại xuống đây như trong phim thần thoại. Những “tòa thiên nhiên” mà tôi và mấy anh em lần đầu được thưởng thức, làm tôi rạo rực đê mê khắp người. Mấy tiên nữ vẫn đùa vui, rồi bất ngờ đứng vụt cả dậy, có người nói to: Các em không phải núp nữa, cứ tự nhiên ra đây các chị cho xem! Hóa ra họ đã biết chúng tôi núp xem họ tắm, nhưng giá họ đừng nói, đừng làm vậy thì lại hay hơn, chứ đã bị lộ thế này thì mình lại ngượng. Anh em lục tục đứng dậy ra về. Câu chuyện được xem con gái tắm truồng cứ sôi động cả đơn vị. Qua tìm hiểu mới biết họ là đơn vị Dân công hỏa tuyến quê Hà Nam mới được điều về gần đây để bốc vác trang bị công binh. Họ vào tuyến lửa đã được mấy năm, đều đã cứng tuổi, sống ở rừng, ở tuyến lửa lâu rồi nên rất bạo. Hôm nay con suối nơi họ ở bị cạn nước nên đến tìm đến đây tắm. Vì vậy mà mấy anh em tôi mới được thưởng thức bữa tiệc mắt đó.
Việc mở đường ngày càng cấp bách, khối lượng toàn thể theo kế hoạch còn rất nhiều, tiến độ thi công chậm vì lý do anh em bị ốm bị đi viện nhiều. Dụng cụ mở đường cũng hạn chế, nhất là thuốc nổ. Muốn mở đường nhanh thì phải có nhiều thuốc nổ để phá núi, mà lượng thuốc nổ được cấp thì rất ít. Một buổi sáng đang làm việc, thấy một người đã trung tuổi, bước đi không bình thường cùng hai chiến sĩ trẻ đi dọc con đường mà trung đoàn đang mở. Ông dừng lại chỗ chúng tôi hỏi thăm công việc, chúng tôi không biết ông là ai nhưng đoán là cán bộ gì đó. Anh em kể lể về cái khổ, cái khó, sự cố gắng trong công việc. Ông hỏi chúng tôi: Thế bây giờ muốn nhanh hơn thì các cậu cần cái gì? Anh em tôi nói đủ các thứ cần và cuối cùng là muốn có nhiều thuốc nổ để đánh mìn và dụng cụ phải đủ. Ông nói, tưởng gì chứ những thứ ấy thì thiếu gì! Anh em tôi nói, thiếu nhiều lắm thủ trưởng ạ! Ông bỏ đi và cười nói thêm: Tất cả ngay tầm tay mà các cậu không biết. Thế mà nói lính khu Ba tinh khôn lắm! Ông cùng hai chiến sỹ trẻ đi tiếp. Chuyện chỉ có vậy, hôm sau anh em tôi kể chuyện này với đại đội trưởng Nghẹ. Đại đội trưởng ngạc nhiên nói: Sao các cậu không báo ngay cho đại đội. Tôi ngạc nhiên nói, thì chúng em thấy ông ấy tưởng là cán bộ địa phương đi ngang qua. Đại đội trưởng nói: Chết cha rồi, đấy là trung tá, trung đoàn trưởng Mạch Quang Kiếm, trung đoàn trưởng trung đoàn 273 của mình đấy. Ông đi kiểm tra mà không nói với ai, không vào ban chỉ huy đại đội. Đúng là ông đi tập tễnh vì ông bị thương. Hồi ở bên Lào bọn địch gọi ông là “hổ thọt” vùng Trung Lào và đã trao giải thưởng rất cao để bắt sống hoặc tiêu diệt ông đấy.
Do gợi ý của trung đoàn trưởng, hay là do anh em ngày nghỉ đi giao lưu với chị em dân công hỏa tuyến, mà phát hiện ra khu hang động chứa rất nhiều dụng cụ công binh. Đơn vị nữ dân công đang bốc xếp các loại hàng hóa đó. Thuốc nổ rất nhiều, cứ xếp hàng dãy dài đủ các loại. Toàn những thứ quý hiếm mà đơn vị tôi đang cần, trong khi người coi kho thì ít, họ ở đây lâu lắm rồi. Hình như công cụ, mìn đều xuất nhập theo tinh thần tự giác. Người nọ truyền người kia, đơn vị nọ truyền đơn vị kia, chúng tôi rủ nhau vào khu vực hang động khám phá các kho hàng. Mới đầu là xin dụng cụ như cuốc, xẻng, xà beng, cưa, đục, khoan, toàn hàng mới tinh của Trung Quốc, rồi xin cả thuốc nổ nữa. Nhưng vì xin nhiều quá, anh em coi kho và đơn vị dân công nữ rất thiện cảm với bộ đội cũng không dám cho nữa. Nhu cầu cần các thứ vẫn nhiều, không cho thì anh em đột nhập “đặc công” vậy. Kho ngay trong các hang động lớn. Có những hang ô tô chạy và quay đầu trong đó được, mà chỉ có một hai người coi kho thì coi làm sao xuể. Anh em các đại đội còn nghĩ ra mẹo, cứ hai người khiêng một người trên võng đi qua khu vực kho, nói là anh em bị ốm khiêng đi viện. Khi đến giữa kho thì người bệnh trên võng tụt xuống, thay vào đó là các loại dụng cụ hoặc thuốc nổ. Thế là, với nhưng công cụ và thuốc nổ được dùng mỹ mãn, năng suất phá đá mở đường tăng lên đáng kể. Khu vực kho công binh này sau khi chúng tôi đã hoàn thành con đường trở về Vĩnh Linh, các loại dụng cụ đó đã góp phần giúp chúng tôi rất nhiều trong việc xây dựng mới lại doanh trại.



                                                      XI

Sau gần 4 tháng lao động, con đường mới đã được hoàn thành theo đúng kế hoạch. Đại đội tôi và toàn sư đoàn lên đường trở về nơi đóng quân của mình. Đại đội tôi về lại khu vực doanh trại đội 7, thôn Tân Định, Vĩnh Chấp, Vĩnh Linh.
Lúc này khoảng cuối tháng 8 năm 1973. Sau hai ngày được nghỉ ngơi, đại đội tiếp tục tập trung vào học chính trị, quán triệt tình hình mới của cách mạng và nhiệm vụ cụ thể của đơn vị. Qua đó nhiệm vụ của chúng tôi vẫn là sẵn sàng chiến đấu, học tập huấn luyện nâng cao trình độ kỹ chiến thuật, làm quen tất cả mọi địa hình trong khu vực, nâng cao ý thức chính trị xây dựng đơn vị ngày càng chính quy hiện đại. Tăng gia tự túc một phần lương thực, rau xanh và các loại gia cầm, gia súc. Chúng tôi lại lao vào học tập quân sự từ điều lệnh đội ngũ, đến các loại ¬¬¬¬kỹ thuật xạ kích, những bài bắn ngày, bắn đêm và các chiến thuật từ tổ ba người đến cấp tiểu đoàn. Mùa thu nhưng ở vùng này vẫn nóng như đổ lửa. Mồ hôi của các chiến sĩ ngày nào cũng tuôn trào. Thao trường là nơi rèn luyện của người lính, người lính ở thao trường không thể thiếu được mũ cứng đội đầu, bi đông nước đeo hông và khăn mặt quàng cổ để tránh nóng, lau mồ hôi. Tiêu chuẩn lương thực không còn được như trước, nhu yếu phẩm lính quân khu cũng rất nghèo nàn. Cái đói đến với bộ đội thường xuyên. Bữa cơm nào cũng độn ngô độn sắn, mà cũng đâu có được ăn no. Vì thế việc tăng gia tự túc theo tiêu chuẩn để cải thiện cuộc sống luôn được đưa lên hàng đầu, luôn là câu chuyện trong các cuộc họp, là tiêu chí quan trọng trong bình bầu thi đua.

tranphu341:

        Cũng chính vì đói mà trong bữa ăn có đồng đội sử dụng mẹo vặt để ăn được nhiều hơn: Ví dụ: thường là bát ăn cơm của mọi người là bát sắt tráng men của Trung Quốc cũng đã là to, gọi là bát B52, có đồng đội lại thay bát bát đó bằng cái ca bình tông hai quai của Trung Quốc, loại này đựng được nhiều cơm hơn bát B52. Việc này sớm được phát hiện. Cứ khi xếp hàng vào hội trường ăn cơm thường là xếp hàng 6 cho vừa một mâm. Hễ thấy ai cầm cái ca bi đông ấy là mọi người lảng tránh không đứng cùng hàng nữa, đó là hình thức tẩy chay cho việc ăn không đẹp, gây xấu hổ cho người sử dụng loại “vũ khí” khủng đó. Có đồng đội trong lúc ăn cơm lại dùng chiến thuật “đầy, vơi đầy”. Tức là bát thứ nhất xới cơm đầy, bát thứ hai xới vơi, ăn hết nhanh để được xới bát thứ ba đầy. Chiến thuật này cũng chỉ được áp dụng một, hai lần rồi cũng bị mọi người tẩy chay ngay và còn bị đưa ra cuộc họp để mổ xẻ nữa.
  Trong những lần đi lấy gạo cũng có đồng đội láu lỉnh mang thêm cái bít tất cho gạo vào. Khi về gần đại đội thì vứt vào bụi cây tối ra lấy. Quản lý cân nhận gạo rất khắt khe nhưng cái láu lỉnh của lính vẫn qua được quản lý. Hoặc có đồng đội còn ma giáo, khi cân lại gạo thì cân cả ba lô, nhưng đến lúc đổ gạo vào bồ, hai tay nắm đít ba lô dốc ngược lên, nhưng trong hai nắm tay cầm ba lô đó là hai túm gạo, cũng được khoảng nửa ký. Tiểu đội tôi đã có lần mấy đồng đội làm như vậy. Tối hôm đi lấy gạo về, tôi thấy anh em nói là anh Phú đi ăn cơm không? Tôi hỏi cơm ở đâu, thì mọi người dẫn ra đồi, đã có nồi cơm thơm phức, là “chiến lợi phẩm” của buổi đi lấy gạo. Tôi cùng ăn nhưng trong lòng thấy áy náy vô cùng. Rồi tôi và anh Khoát dứt khoát không cho anh em làm việc này nữa.
Cũng vì đói mà thường lúc nghỉ ngơi ai cũng hay bàn về việc ăn, rủ nhau vào dân mua khoai, sắn về cải thiện. Anh Đằng ở trung đội 1 sau khi ăn cơm xong nói, bây giờ tao vẫn có thể ăn được hai phong lương khô. Hôm đó anh em mới được cấp hai người một phong lương khô, liền thách đố nhau. Mấy anh em góp lại cho Đằng. Đằng ăn ngon lành, nhưng được hơn 1 phong thì bắt đầu ngắc ngứ khó nuốt, cố mãi mới đầu thì đứng ăn sau ngồi ăn, rồi ngồi duỗi chân ăn mà mãi vẫn không hết, răng Đằng lại bị rụng một chiếc nên thở phì phì phun cả lương khô ra. Lúc còn độ 2 thanh nữa thì Đằng nằm thẳng cẳng mắt trợn trừng vì bị bội thực, y tá phải xuống cấp cứu mãi. Thật nguy hiểm, đúng là tí nữa thì chết vì ăn. Đó là bài học nhớ đời cho Đằng và cho mọi người.
Việc tăng gia sản xuất như đã nói, luôn là tiêu chí thi đua thành tích và mọi bình bầu khen thưởng, còn là tiêu chí cho việc phấn đấu trở thành đoàn viên ưu tú, phấn đấu vào Đảng của mọi người. Nhưng muốn tăng gia đạt chỉ tiêu rau xanh thì  phải có nhiều phân cây mới nhanh tốt. Thế là việc lấy phân, ủ phân cũng là chuyện hài của lính. Các trung đội tranh nhau lấy phân, mà phân “ bắc” (tức phân người) là loại tốt nhất. Trung đội nọ sang lấy trộm phân tại nhà xí của trung đội kia. Thậm chí có người đang ngồi đại tiện, phía sau bên dưới đã có đồng đội đứng chờ sẵn lấy phân. Dân ở đây họ bắt đầu phát triển nuôi bò lấy phân và lấy thực phẩm. Hàng ngày họ đi ra đồi bứt lá cây, tiếng địa phương gọi là “bứt bổi”. Thường cả buổi mới lấy được một gánh, mang về vứt vào chuồng lợn hoặc chuồng bò cho bò, lợn giẫm, nát lá cây quyện với nước đái và phân, thành loại phân rất tốt cho việc trồng trọt.
 Có một chuyện vừa buồn cười vừa phiền lòng, ấy là nhiều anh em tối ra chuồng bò lấy trộm phân về bón rau. Nhưng sau vài lần thì dân cũng biết và họ rình. Rồi có hôm họ bắt được lính của tiểu đoàn 2 làm cái việc đó. Hai chiến sĩ vừa xúc được hai bao phân thì bị dân quân ập tới súng ống chỉnh tề, họ hò hét ầm ĩ như là việc gì quan trọng lắm. Vì họ đã quá bức xúc về việc mất phân, họ lấy tờ bìa ghi: Tôi Nguyễn Văn … người ăn cắp phân” đeo ở ngực và dẫn giải giao cho tiểu đoàn.
Bên đại đội 8 tiểu đoàn 2 còn có chuyện đại đội trưởng Hào đêm đi bắn hoẵng. Chả là theo dõi ở khu đồi cạnh đại đội đêm nào cũng có tiếng hoẵng kêu. Là người đã sống nhiều ở rừng nên anh biết nơi hoẵng thường tới và tiếng kêu đêm của hoẵng là tìm bầy tìm bạn. Đêm anh bí mật ra đồi phục bắn hoẵng. Đeo đèn trước trán, một con thú lông vàng đi theo đường mòn thấy ánh đèn bị bắt sáng thì ngơ ngác cứ đứng “ăn đèn” chứ không chạy. Đúng là chú hoẵng mà anh tìm kiếm rồi. Giương khẩu K63 ngắm và bóp cò. Đoàng... con thú tội nghiệp gục ngay xuống không kêu được một tiếng, bốn cái chân đạp đạp vào không khí. Tiến lại xem thì… thôi chết rồi không phải là con hoẵng anh theo đuổi mà là một con bê của dân. Sợ quá anh bèn kéo con bê giấu vào bụi cây, về đơn vị không giám kể với ai. Liên lạc hỏi anh có bắn được gì không mà em thấy tiếng súng. Đại đội trưởng nói có bắn nhưng không trúng, rồi sáng dậy sớm tháo súng lau, thông nòng rất kỹ. Khoảng 8 giờ sáng có ba bọ trong thôn đi ngang qua, vào đại đội xin nước uống và hút thuốc rê. Rồi họ chuyện trò với nhau rất vô tư. Một bọ nói: Đêm qua có ai đi săn, bắn được con hoẵng rất to, nó bị thương chạy chết trong bụi. Mấy người đang hò nhau đi khiêng hoẵng về. Liên lạc đại đội mang nước ra cho mọi người, nghe thấy vậy vui quá liền nói: Ô! đại đội trưởng của cháu đêm qua đi bắn hoẵng đấy, lúc khuya về nói bắn mà không trúng, rồi rối rít chạy vào hớn hở báo với đại đội trưởng mà không biết là đã mắc mưu mấy bọ. Bê của mấy bọ đi lạc, sáng đi tìm thấy bị bắn chết, mấy bọ đã mở cuộc điều tra. Biết được người bắn, mấy bọ liền vào nhà đại đội làm việc, rồi lên tiểu đoàn báo cáo và bắt đền con bê.
Giai đoạn này trong đơn vị nhiều đồng chí được cử đi học các lớp tiểu đội trưởng, trung đội trưởng hay các lớp tập huấn khác. Anh Yến, trung đội phó trung đội 1 thì được ra quân khu học lớp cán bộ chính trị đại đội, hàng chục anh em đi học lớp tiểu đội trưởng cũng ở Quân khu. Một số đồng chí được điều động lên làm chuyên môn ở trung đoàn như anh Ước lên tài vụ. Riêng tôi thì không được trong diện đó mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng đại đội vẫn cứ giữ lại. Một lần lên trung đoàn tập huấn súng cối, vào chơi với anh em đại đội thông tin 18. Rất ngạc nhiên vì thấy anh em đang tập báo vụ tức là tập gõ ma-líp tạch tè, tạch tè. Anh em mới học nên thu phát rất chậm. Tôi liền nói với anh Mùi chính trị viên phó đại đội 18 là tôi có khả năng thu phát rất tốt đạt hàng trăm chữ trên phút. Anh Mùi và mọi người tròn mắt ngạc nhiên vẻ không tin. Tôi nói cứ cho tôi thử, mọi người cho tôi thử và quả đúng như vậy, tôi đã thu phát, đạt hơn 90 chữ trên một phút. Anh Mùi và mọi người hỏi tôi học ở đâu? Tôi nói tôi được học môn này từ hồi lớp 5, học mấy năm hồi đó gọi là học vô tuyến điện hay lớp nghiệp dư vô tuyến điện.
Năm 1964 khi đang học lớp 5 thì Ty thể dục thể thao mở một số lớp năng khiếu như cầu lông, bóng bàn, bóng đá, cờ tướng, cờ vua v.v… Khi nghe có lớp vô tuyến điện tôi thích quá, xin đăng ký học. Sau hai năm học, khi thì học tối hoặc ngày chủ nhật. Tôi yêu thích môn này nên rất say sưa, luôn dẫn đầu lớp. Khi kiểm tra trình độ chuyên môn, tôi được phát bằng công nhận là vận động viên cấp ba môn Vô tuyến điện. Sau khi kiểm tra thử, biết đúng như vậy, anh Mùi nói, để tôi báo cáo cấp trên rồi sẽ điều động tôi về đại đội 18. Nhưng mãi chẳng thấy gì. Mãi sau tôi mới biết là anh Mùi đã xin quân lực, quân lực đã đồng ý nhưng dưới đại đội và tiểu đoàn cương quyết không cho tôi đi vì nói để tôi ở dưới cơ sở còn phấn đấu phát triển.
 Lại một lần nữa cũng giống như vậy, khi mà anh Nguyễn Chính Hương, bạn tôi bên đại đội 4, nguyên là công nhân cơ khí xí nghiệp của tỉnh được điều lên ban quân khí của sư đoàn sửa chữa súng đạn. Trên đó đang cần thêm người biết nghề cơ khí. Anh nói với ban là có Phú ở đại đội 3, tiểu đoàn 1 giỏi nghề thợ. Ban quân khí xin tôi lên đó nhưng tiểu đoàn và đại đội cũng dứt khoát không cho đi, cũng vì lý do tôi là nòng cốt, giữ lại để xây dựng đơn vị và tạo điều kiện để tôi phấn đấu. Quân lực cương quyết điều đi vì thiếu người. Tiểu đoàn liền điều động anh Hà Cao Phan ở đại đội 1 đi thay tôi. Thế là tôi có hai cơ hội được điều động đến nơi nhàn nhã đỡ vất vả hơn ở đơn vị cơ sở mà đều không được. Đúng là tốt quá thường hay thiệt thòi.
Sau khi toàn đơn vị đã cơ bản hoàn thành khóa huấn luyện, mọi vấn đề về kỹ chiến thuật, xạ kích và chuyên môn theo yêu cầu của từng đơn vị đã tinh thông. Khoảng giữa tháng 11 năm 1973 thì Bộ tư lệnh sư đoàn có thay đổi về chỉ huy. Khi mới thành lập thì chỉ huy trưởng là đại tá Bảo Cường. Đại tá Trần Văn Trân được điều động về thay làm sư đoàn trưởng. Đại tá Trần Nguyên Độ về làm Chính ủy Sư đoàn. Hai vị chỉ huy mới là những người có nhiều kinh ngiệm trong chiến đấu, là những người tài giỏi nổi tiếng. Có những giai thoại không chỉ trong sư đoàn biết mà toàn quân và cả nước biết hai ông, kể nhiều chuyện về hai ông. Đại tá Trần Nguyên Độ vừa tham gia phó trưởng phái đoàn quân sự bốn bên của Hiệp định Pari. Sau khi hết thời hạn của phái đoàn quân sự, ông được điều về đây. Tôi chưa gặp ông lần nào thấy mọi người nói, ông rất giỏi nhưng lại rất bình dân. Đi đâu ông cũng cầm cái điếu cầy theo để hút thuốc lào. Chính vì nghiện thuốc lào mà răng ông đen xỉn.
 Còn Tư lệnh sư đoàn thì có nhiều chuyện đặc biệt ly kì hơn. Ông mới được phía bên kia trao trả theo tinh thần của Hiệp định Pari về trao trả tù binh. Mọi người kể, khi ông là sư đoàn trưởng sư đoàn 1, một hôm ông cùng đoàn tùy tùng của sư đoàn đang đi xuồng tại kênh Vĩnh Tế, tỉnh An Giang thì bị lính Việt Nam Cộng hòa phục kích. Một số sỹ quan tùy tùng hy sinh. Trong số hy sinh có cả một y sỹ. Ông bèn lấy luôn cái túi cứu thương của người y sỹ đeo vào người. Khi bị bắt, qua rất nhiều trại giam với sự thẩm vấn của các cơ quan phản gián, sỹ quan nghiệp vụ của quân lực Việt Nam Cộng hòa ông vẫn chỉ nhận là thượng sỹ y tá. Chúng thử thách nhiều lần nhưng ông vẫn thành công trong cái vỏ bọc đó. Năm 1973, ông được trao trả. Song nghe kể lại là phía ta có sơ xuất, khi ông vừa được trao trả thì có xe ô tô con đón đi ngay, nên Quân lực Việt Nam Cộng hòa biết là đã để sổng một nhân vật quan trọng. Sau khi được đi an dưỡng và làm những thủ tục của tổ chức, tháng 11 năm 1973 ông được điều động về làm sư đoàn trưởng sư đoàn 341.
Sau khi về thay sư đoàn trưởng Bảo Cường, sư đoàn trưởng Trần Văn Trân đi thăm hết lượt các trung đoàn, thấy nơi ăn chốn ở của bộ đội chưa đạt yêu cầu. Có nhiều đơn vị vẫn còn ở trong nhà dân. Những điều này không thể là tiêu chí để xây dựng đơn vị chính quy hiện đại được. Sau khi bàn với chính ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn, ông quyết định: Toàn bộ sư đoàn tập trung làm nhà mới to cao khang trang sạch đẹp. Mỗi đại đội ngoài bếp ăn còn phải có hội trường để hội họp và bộ đội phải được nằm giường riêng chứ không ăn nghỉ như hiện tại. Mỗi đại đội còn phải có sân tập, sân bóng đá bóng chuyền v.v…Nghị quyết của sư đoàn đề ra trong vòng 60 ngày toàn sư đoàn phải làm xong doanh trại theo tiêu chí quy định. Ngoài ra vẫn phải đảm bảo các tiêu chí sẵn sàng chiến đấu, cơ động chiến đấu và tăng gia sản xuất tự túc một phần lương thực, thực phẩm. Thực tế là những lán trại mà các đơn vị đang ở do lúc đầu chưa có kinh nghiệm về làm nhà cửa, nên các loại vật liệu làm nhà là những cây gỗ non, nhỏ, sau mấy tháng đã bị mọt hết. Trưa, tối nằm nghỉ cứ phải dùng những tấm tăng ni-lon căng để bụi mọt không rơi xuống người. Âm thanh của mọt gặm gỗ cứ kẹt kẹt, kẹt kẹt như bản hợp tấu cùng giai điệu suốt đêm gây cảm giác khó chịu, nhiều đồng đội đã không thể ngủ được vì cái bản đồng ca đó.
Thế là một chiến dịch làm nhà, xây dựng doanh trại theo hướng chính quy hiện đại bắt đầu. Lần này làm nhà không như lần trước mà xác định làm nhà to cao đẹp theo tiêu chí chung, nên từng đại đội phải chọn cử các đồng chí có kinh nghiệm về nghề mộc phác thảo nhà, kích thước từng loại cây, loại gỗ, kèo cột quá giang đẽo gọt đục mộng đàng hoàng. Nguồn vật liệu nói chung tất cả là trong rừng Tây Trường Sơn. Ngoài lấy gỗ làm nhà, các đại đội còn cử những đội cưa xẻ vào rừng đốn gỗ để xẻ làm ván đóng giường cá nhân cho từng người. Gỗ rừng thì rất nhiều, chỉ mất nhiều công đi rừng chặt gỗ mang về. Cây gỗ to, nên từ cái cột, cái xà phải hai người khiêng. Được cái các loại dụng cụ như cưa cắt, cưa xẻ, khoan đục, kể cả đinh, dao chặt rất nhiều trong kho công binh ở khu vực Rào Trù mà mấy tháng trước đi mở đường các đơn vị đã phát hiện, lấy dùng. Dịp này cũng vậy, đơn vị cử hẳn một bộ phận vào trong đó lấy các dụng cụ theo yêu cầu về phục vụ cho việc làm danh trại.

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page