Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:04:26 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Từ Phạm Quang Lễ đến Trần Đại Nghĩa nhà khoa học anh hùng  (Đọc 23655 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #10 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2017, 03:56:47 am »


        Công việc của Lễ ở Tòa sứ cũng đơn điệu, không có gì phúc tạp, chủ yếu là giúp người thư ký kế toán tính lương cho công chức tỉnh, và mang các loại văn thư của người thư ký để trình xin chữ ký của ông quan sứ, thỉnh thoảng mới đi theo ông sứ với vai trò thông ngôn, phiên dịch.

        Mục đích trước mắt của anh là làm việc để có tiền giúp đỡ mẹ và chị, niềm vui lớn nhất là được đoàn tụ cả nhà vui vẻ, và chờ đợi thời cơ đi du học. Vì vậy, dẫu công việc ở công sở có đơn điệu, có dễ buồn chán, anh cũng không phiền lòng, luôn chú ý, thực hiện tốt yêu cầu của thư ký Tòa sứ. Tuy vậy, ở đây anh cũng có điều kiện trau dồi thêm tiếng Pháp, nhất là những lần đi làm thông ngôn, phiên dịch cho ông quan sứ.

        Cuối những năm sáu mươi, khi giáo sư đảm nhận thêm trách nhiệm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, chỉ đạo công tác nghiên cứu kỹ thuật quân sự (ngoài trọng trách Chủ nhiệm ủy ban Khoa học Kỹ thuật và Chủ nhiệm ủy ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước) tôi may mắn được chọn làm thư ký giúp việc cho ông. Có một buổi chiều Hà Nội cuối thu, ngoài trời đổ mưa, tuy đã hết giờ làm việc nhưng Giáo sư vẫn ngồi đăm chiêu nhìn ra hàng cây. Giáo sư tâm sự cùng tôi: “Nhìn cảnh mưa rơi trên cành dừa, bỗng nhiên tôi lại nhớ những ngày làm việc ờ Tòa sứ Mỹ Tho. Có lần trên đường đi làm về, tôi quên không mang theo ô che mưa, bị ướt hết, má tôi la vì sợ tôi bị cảm lạnh, vội vàng lẩy quần áo cho tôi thay, má tôi thương tôi lắm. Đã hơn ba mươi năm trôi qua, hình ảnh má vẫn đậm nét trong trí nhớ. Đây là thời gian hạnh phúc nhất của tôi được làm việc để nuôi má, nuôi chị hai, được ở cùng má, chăm sóc má... ”. Tôi tự hỏi, sao hôm nay Giáo sư lại nhắc thời tuổi thơ, nhớ người mẹ đã quá cố. Tôi sực nhớ ra, chiều nay cơ quan vừa báo cáo Giáo sư, xin phép cho tôi được nghỉ mấy ngày để đón mẹ ra Hà Nội, vì thời gian này giặc Mỹ đã tạm ngừng ném bom miền Bắc, đi lại an toàn. Ông còn nhắc tôi phải lo sớm nhập hộ khẩu để cho cụ có tiêu chuẩn lương thực. Giáo sư biết thư ký riêng cũng chỉ có một người mẹ già đang sơ tán ở Nam Đàn - Nghệ An, cần tranh thủ đưa mẹ ra Hà Nội ở cùng con trai. Ông là một vị thủ trưởng giàu lòng nhân ái.

        Trái tim nhân hậu của Phạm Quang Lễ nặng tình yêu quê hương, đất nước,và từ những năm còn ở tuổi học sinh, đã nuôi hoài bão đi du học vì nghĩa lớn, chắc chắn sẽ gặp may mắn, chắc chắn sẽ có người hỗ trợ, đúng như người đời vẫn thường nói: “Ở hiền gặp lành”

        Nhà báo Dương Văn Ngưu (1897 -1938), một trí thức Việt kiều ở Pháp về, là một người tốt bụng, giao lưu rộng rãi, sẵn sàng giúp người có chí lớn. Ông đã gặp Phạm Quang Lễ vài lần, bởi có một người bạn của ông giáo Mùi đã giới thiệu Lễ với ông rằng: Đây là một thanh niên thông minh, hiếu nghĩa, vừa đỗ đầu hai bàng tú tài, đang có ý muốn được đi du học để thành người hữu ích, nhưng nhà nghèo không có điều kiện.

        Ông gặp Lễ để hỏi han, thăm dò, tìm hiểu về thực chất cậu thanh niên này có đúng như lời người bạn đã nói không. Chỉ một vài lần gặp, Phạm Quang Lễ đã hoàn toàn chiếm được tình cảm của ông. Ông nhận thấy đây là một thanh niên trầm tính, chín chắn, ăn nói lễ phép, chân thành. Càng gần gũi, ông càng thấy ở con người này có vốn kiến thức hiểu biết rộng nhưng rất khiêm tốn, ẩn chứa một quyết tâm cháy bỏng trong chiều sâu suy nghĩ.

        Rồi một lần đến gặp Lễ ở nhà trọ, ông nói: “Chú mới được quen biết cháu nhưng đã cảm thấy cháu có nhiều đức

        tính tốt, ham học, hiếu biết rộng. Chú đã được nghe kể nhiều về ba cháu, ông giáo Phạm Văn Mùi là một người giàu lòng nhân ái, làm nhiều việc thiện, lúc sinh thời ông dạy thêm cho người nghèo mà không lấy tiền. Cháu hãy noi gương ba cháu. Chú chưa biết ý định của cháu, nhưng chỉ mong cháu cố gắng học thật giỏi, học xong đem tài năng giúp ích cho nhiều người, giúp ích cho quê hương”.

        Nhà báo Dương Văn Ngưu đã vận động Hội Ái hữu trường Sax-lu Lô-ba (Chasseloup Laubat) cấp cho Phạm Quang Lễ một năm học bổng. Đây là học bổng của hội học sinh người Pháp. Thông thường, nếu là người nước ngoài thì phải có quốc tịch Pháp mới được cấp. Nhờ mối quan hệ của nhà báo Dương Văn Ngưu mà trường hợp của Lễ được chấp nhận như một ngoại lệ. Với học bổng này, Lễ sẽ có tiền đi tàu sang Pháp và theo học một lớp dự bị một năm, sau đó sẽ thi vào trường đại học. Nếu thi đỗ, anh sẽ được chính phủ Pháp cấp học bổng để học tiếp.

        Đúng là “ở hiền gặp lành”, một dịp may mắn cho Phạm Quang Lễ thực hiện được mong muốn của mình. Anh vừa vui, vừa buồn. Vui vì đã có cơ hội để thực hiện được hoài bão lớn đã nung nấu bao lâu, buồn vì sắp phải xa má, xa chị hai, xa mái ấm thân thương đã nuôi dưỡng anh khôn lớn; buồn vì không còn được giúp má, giúp chị hai, rồi đây má và chị sẽ phải sống vắng con trai, em trai, phải chịu cảnh cô đơn hiu quạnh, phải làm lụng đồng áng vất vả để kiếm sống.

        Biết con trai giàu tình cảm, thương má, thương chị, bà giáo tìm cách động viên, khuyến khích để Lễ an tâm chuẩn bị lên đường, đừng để lỡ cơ hội. Chị hai Nhẫn cũng nói thêm: “Ước mong của em đã thành sự thật, em phải giữ vững ý chí để thực hiện hoài bão lớn của mình”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #11 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2017, 03:59:16 am »

           

Phạm Quang Le trước khi đi du học Pháp - 1935


§5

RỜI BẾN NHÀ RỒNG
HAI NĂM ĐẦU Ở PA - RI

        Sau hơn hai năm làm việc ở Tòa sứ Mỹ Tho, được sum họp gia đình, được sống những ngày tháng hạnh phúc bên cạnh má và chị hai ở quê nhà, ngày 5 tháng 9 năm 1935, Phạm Quang Lễ tạm biệt những người thân thương, tạm biệt quê hương yêu quý còn chìm bóng dưới ách thực dân, lên đường sang Pháp du học.

        Bà giáo và chị hai Nhẫn đưa tiễn anh đến tận bến cảng Nhà Rồng. Mẹ và chị cố cầm nước mắt, vẫy tay nhìn Lễ từ từ bước lên boong tàu. Và khi tiếng còi tàu vang lên, chào tạm biệt bến cảng, Lễ vừa vẫy tay, vừa trào nước mắt, còn má và chị hai thì òa lên khóc nức nở, nhìn con tàu rẽ sóng rời xa bến cảng.

        Con tàu viễn dương lướt nhanh trên dòng sông Sài Gòn tiến về biển Vũng Tàu để ra khơi. Phạm Quang Lễ vẫn còn đứng trên boong tàu, nhìn về nơi xa xa có má và chị chắc vẫn còn trên bến cảng, rồi ngắm nhìn hai bên bờ sông, những bụi cây sú, cây vẹt phủ xanh đôi bờ. Anh lặng nhìn quang cảnh đất nước, quê hương lần cuối với bao nhiêu cảm xúc vui buồn, những kỷ niệm không mờ phai, những năm tháng tuổi thơ gắn bó với gia đình; với ba, má, với chị hai thân thương, những người thầy, các cô, chú, bác đã nuôi dưỡng, giáo dục anh khôn lớn, và tạo điều kiện để anh đi du học.

        Ngày ấy, Phạm Quang Lễ chưa hề biết hai mươi bốn năm về trước cũng chính từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi với ý chí lớn lao, tìm đường cứu nước, giải phóng quê hương. Sau ngày cách mạng thành công, anh mới được biết người thanh niên chí lớn Nguyễn Tất Thành ấy chính là nhà cách mạng nổi tiếng Nguyễn Ái Quốc, là Lãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu của dân tộc Việt Nam, mà Phạm Quang Lễ đã có hồng phúc được Người trực tiếp dìu dắt sau này.

        Rời bến cảng Nhà Rồng, con tàu viễn dương lênh đênh hơn hai mươi ngày đêm trên biển cả, vượt qua eo biển Ma-lắc-ca vào Ấn Độ Dương, dừng lại cảng Bom Bay Ấn Độ, tiến về vịnh A Đen, vượt qua eo biển Hồng Hải, qua kênh Xuy-ê, vào Địa Trung Hải để cập vào bến cảng Mác-xây phía Nam nước Pháp. Dọc đường, dừng lại các thành phố, bến cảng, Lễ đã chứng kiến biết bao cảnh đời vất vả của những người phu khuân vác, ở đâu cũng có những người nghèo khổ bị bọn chủ áp bức bóc lột, chẳng khác gì những người dân nghèo ở quê hương anh.

        Từ bến cảng Mác - xây, đoàn tàu hỏa đưa Phạm Quang Lễ đến thủ đô Pa - ri. Lần đầu bước chân đến Pa - ri phồn hoa nổi tiếng, Lễ không khỏi ngạc nhiên trước vẻ đẹp lộng lẫy của thủ đô ánh sáng với những tòa nhà cổ kính, sang trọng nối dài trên hai bờ sông Xen hiền hòa, thơ mộng. Anh đứng hồi lâu ngắm tháp Ep-phen (Eiffel) cao ngất, biểu tượng của thành Pa - ri, với lòng khâm phục người thiết kế, sáng tạo ra nó, chính là Tổng công trình sư Gut-sta-vơ Ep-phen (Gustave Eiffel) mà anh đã từng được biết qua sách, báo. Anh còn biết rằng, ông cũng chính là tác giả đã thiết kế và xây dựng cầu Long Biên ở Hà Nội từ những năm đầu thế kỷ hai mươi. Nhưng anh chưa hề thấy cầu Long Biên, bởi vì cho đến ngày rời cảng Nhà Rồng anh chưa từng được đến Hà Nội.

        Dẫu rằng Pa - ri hoa lệ có biết bao điều hấp dẫn, cuốn hút thanh niên, nhưng không thể làm anh lơ là mục đích anh đến đây, tất cả tâm trí của anh dồn hết cho việc học tập. Hơn nữa anh là một học sinh nghèo, lấy tiền đâu để đi du lịch, chiêm ngưỡng những công trình văn hóa nổi tiếng. Bởi vậy, ngay khi mới đến anh đã nhập vào khóa dự bị đại học.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Chín, 2017, 04:20:12 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #12 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2017, 03:59:48 am »


        Để chuẩn bị thi vào đại học, thông thường mỗi học sinh phải học hai năm dự bị, nhưng Phạm Quang Lễ chỉ đủ học bổng cho một năm, vì vậy anh phải đưa hết tâm sức học rút ngắn hai năm trong một, với quyết tâm phải thi đậu một trường đại học, để được cấp học bổng tiếp tục học lên. Anh làm việc cật lực, tranh thủ mọi thời gian. Lúc đầu, hàng ngày anh giành khoảng mười bốn, mười lăm giờ cho việc học. Dần dần anh rút kinh nghiệm, sắp xếp thời gian biểu tỉ mỉ, hợp lý, xen kẽ giờ giải trí, thay đổi công việc để đầu óc đỡ căng thẳng, quan tâm đến việc bồi dưỡng sức khỏe để tránh bị ốm đau, nhất là chống lại việc cảm lạnh mùa đông. Làm việc theo phương pháp khoa học này, anh thấy hiệu quả hơn nhiều, kế hoạch học vượt hai năm trong một, chắc chắn sẽ có kết quả. Đúng vậy, mùa hè năm 1936, sau chín tháng học xong khóa dự bị, Phạm Quang Lễ thi đỗ vào trường Đại học Quốc gia cầu đường Pa - ri, và được cấp học bổng tiếp tục học lên.

        Thời gian học dự bị đại học, anh nhận học bổng tám trăm đồng frăng một tháng, anh giành ba trăm đồng frăng gửi về nước để giúp má và chị hai. sổ tiền này tương đương với số tiền lương tháng ba mươi đồng Đông Dương của anh khi làm ở Tòa sứ Mỹ Tho. Vào đại học, anh được cấp học bổng một ngàn hai trăm đồng frăng, anh gửi bốn trăm đồng về cho gia đình. Hàng tháng bà giáo đều nhận được tiền của con trai gửi về qua bưu điện, gia đình có thêm tiền sinh hoạt, tiền thuốc men chữa bệnh. Bà và chị Nhẫn đỡ vất vả, càng thêm quý tấm lòng của đứa con hiếu thảo.

        Mục đích âm thầm của Phạm Quang Lễ là học hỏi, tìm hiểu có đủ tri thức để nghiên cứu chế tạo vũ khí. Đó là một lĩnh vực đòi hỏi một hệ thống kiến thức cao cấp và chuyên sâu về toán, lý, hóa, khoa học cơ bản, khoa học kỹ thuật, công nghệ cao. Ở Pháp ngày ấy có năm trường đại học có khoa công nghệ chế tạo vũ khí, nhưng không nhận sinh viên các nước thuộc địa, kể cả số đã nhập quốc tịch Pháp, đã trở thành công dân Pháp. Nếu để lộ ý đồ nghiên cứu chế tạo vũ khí, sẽ bị trục xuất, thậm chí bị bỏ tù. Còn tài liệu chế tạo vũ khí là thuộc “bí mật quân sự quốc gia”, được quản lý rất nghiêm ngặt. Hiểu rõ như vậy nên Phạm Quang Lễ phải bí mật tìm cách đi riêng, khó khăn hơn, lâu dài hơn, phải kín đáo khôn khéo và kiên trì để không bị lộ, không bị trục xuất. Hoài bão đó của Phạm Quang Lễ lúc này đã trở thành nghĩa vụ thiêng liêng, thầm kín trong lòng. Trong hàng trăm người Việt Nam sang Pháp du học ngày ấy, có lẽ chỉ có duy nhất anh Lễ nung nấu ý chí quyết tâm nghiên cứu vấn đề này.

        Thời kỳ làm thư ký giúp việc cho Giáo sư Trần Đại Nghĩa, có lần tôi hỏi: “Thưa Anh! (Giáo sư cho phép chúng tôi gọi thân mật như anh em trong nhà), hồi ấy, từ ngày đầu, vì sao Anh quyết định thi vào trường Đại học Quốc gia cầu cống?” Giáo sư nói với tôi ràng: “Trường này, ngày ấy là một trường lớn ở Pa - ri, có nhiều giáo sư giỏi, noi tiếng, thi được vào đấy cũng không phải dễ. Thiết kế cầu cống đòi hỏi phải giỏi về lĩnh vực tính toán, sử dụng vật liệu kim loại, thép hình các loại đúng tính năng. Ngoài ra, điều quan trọng nhất đối với tôi là ở đây dạy về hóa chất thuốc nổ, thành phần và cấu tạo của mìn, bộc phả để phá đá, để xuyên núi làm đường, làm hầm tuy nen, ... Như vậy, học ở đây, tôi có thể công khai dọc các sách về hóa chất nổ mà không bị nghi ngờ, bởi tôi là người thuộc địa, luật lệ nước Pháp cấm chúng tôi nghiên cứu về chất nổ

        Tôi rất cảm phục thủ trưởng, người thầy của mình. Năm ấy, ông chưa tròn hai lăm tuổi, đứng trước những quy định nghiêm ngặt của pháp luật chính quốc, người sinh viên trẻ đã phát hiện được chỗ sơ hở, để tìm cách bí mật học tập, thực hiện hoài bão của mình.

        Mùa thu năm 1936, Phạm Quang Lễ đã trở thành sinh viên Đại học Quốc gia cầu đường Pa - ri tràn ngập niềm tin, niềm vui lắng sâu trong lòng, vì đã bước đầu mở được cửa đi vào con đường nghiên cứu vũ khí. Anh được chuyển về ở trong khu học xá của trường đại học này. Rút kinh nghiệm về phương pháp học tập của bản thân trong năm qua, Lễ đầy tự tin bước vào năm học mới với nhiều dự định nâng cao hiệu quả của việc học, bố trí thời gian hợp lý hơn, tăng thêm thời lượng đọc sách về những nội dung đang khát khao tìm hiểu, đặc biệt không được bỏ sót những bài giảng của những giáo sư nổi tiếng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #13 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2017, 04:59:37 pm »


§6

ĐỘT NGỘT VỀ QUÊ THĂM MÁ

        Hai năm ở Pa - ri với quyết tâm cao trong học tập, Phạm Quang Lễ đã đạt được thành quả bước đầu, trở thành sinh viên Đại học Quốc gia cầu đường Pa - ri, mở lối đi riêng thực hiện hoài bão. Tuy vậy, anh không nguôi nhớ thương má và chị hai nơi quê nhà. Hàng tháng anh vẫn đều đặn trích học bổng gửi về nhà, đồng thời kèm theo một tấm bưu ảnh của Pa - ri để má và chị xem cho vui. Đồng thời anh cũng nhận được thư nhà do chị hai Nhẫn viết, anh yên tâm về gia đình, má và chị hai vẫn bình an.

        Từ ngày con trai đi du học, bà giáo và chị hai Nhẫn trở về quê ở Chánh Hiệp, Tam Bình, Vĩnh Long. Nhờ có tiền con gửi về, hai mẹ con bà giáo đỡ vất vả, thôi không làm ruộng, chỉ ở nhà chăn nuôi đàn heo, đàn gà. Cuộc sống thuận lợi hơn, mẹ và chị vui mừng vì Lễ đã nhập học, học giỏi, bước đầu thực hiện ý nguyện sâu lắng của mình. Chị hai Nhẫn rất tận tình thay em trai chăm sóc, lo lắng cho má, mua thuốc bắc chữa bệnh ho hen, bồi bổ sức khỏe, đêm hôm thầm kín bên người má yêu thương, cầu mong cho má khỏe để em yên tâm chăm lo học hành, thực hiện nguyện ước của mình. Mỗi lần viết thư, chị luôn báo tin về sức khỏe của má cho em trai vui: “Má đỡ ho nhiều, mỗi bữa ăn hai bát cơm, đêm ngủ ngon vì biết em khỏe, học giỏi. Má chỉ ước mong chóng đến ngày gặp lại con trai yêu quý”. Mỗi lần nhận được thư nhà là một niềm vui sướng vô hạn của đứa con xa nhà, xa quê, Lễ càng yên tâm tập trung cho việc học.

        Nhưng mấy tháng nay không có thư của chị hai gửi qua, Lễ rất sốt ruột, không biết có điều gì xẩy ra. Chờ đợi mãi, cuối cùng anh nhận được thư nhà, nhưng không phải nét chữ quen thuộc của chị hai Nhẫn, anh linh cảm thấy điều chẳng lành. Đó là thư của người cậu, em trai của má gửi cho Lễ. Đọc thư, nước mắt anh giàn giụa rơi trên từng dòng chữ. Ông báo tin đau buồn: Đầu tháng sáu, chị Nhẫn chèo thuyền trên sông Măng Thít đi mua thức ăn cho heo, không may gặp cơn lốc xoáy giữa dòng nước lớn, thuyền bị lật, chị bị nhấn chìm xuống dòng sông sâu. Bà giáo đau xót, la hét như người mất trí, cứ chạy ra bờ sông liều mạng lao xuống dòng nước, đã mấy lần như thế. Cũng may có bà con can ngăn. Cậu em sợ chị liều mạng, đã đưa về ở gần nhà cậu để có điều kiện trông nom. Cậu đã nhờ bà con lối xóm giúp đỡ, chuyển ngôi nhà cũ của bà giáo về dựng gần nhà cậu. Nay bà giáo đã tĩnh tâm trở lại, sợ con lo phiền, bỏ dở việc học, không chịu cho ai viết thư báo tin. Nhưng sức khỏe của bà rất nghiêm trọng, bệnh ho tái phát, cậu phải viết thư báo cho cháu biết.

        Biết tin, lòng anh rối bời, vừa thương xót người chị ruột giàu tình thương má, thương em, tận tụy thay em chăm sóc má, không may ra đi giữa tuổi đời hai bảy, lại vừa thương má bị bệnh, đêm hôm một mình đơn độc. Lo nghĩ về người mẹ thân thương, Lễ không còn tâm trí nào để tiếp tục việc học, đầu tháng bảy anh xin phép nhà trường và mua vé xuống tàu về nước.

        Về đến nhà, anh ôm lấy má, nước mắt giàn giụa, nghẹn ngào, xúc động: “Tội nghiệp má quá, má ơi !”. Bà mẹ ngỡ ngàng thấy con trai đột ngột trở về, quá xúc động, ôm lấy con, bà òa lên khóc: “Con ơi, xót thương cho chị hai con, đứa con gái hiền lành của má !”.

        Phạm Quang Lễ đến bên bàn thờ, thắp nhang khấn cha, khấn chị, hai hàng nước mắt chảy ròng ròng. Bà giáo đưa con trai tới viếng mộ chị hai Nhẫn. Vừa thấp nhang, Lễ vừa khóc nức nở: “Chị ơi! Em thương chị bao nhiêu thì càng đau xót bẩy nhiêu. Suốt đời chị đã sống vì em, vì má. Từ nhỏ, chị đã phải nghỉ học để cùng má làm lụng vất vả, nuôi em ăn học. Chị ra đi giữa tuổi đời quá trẻ, chưa được hưởng chút gì gọi là hạnh phúc, đến một gia đình riêng nhỏ bé mà người con gái bình thường nào cũng mong ước, chị vẫn chưa có. Em xót thương chị lắm, chị hai Nhẫn ơi!”. Nghe Lễ khấn, bà giáo cũng òa lên khóc cho vơi bớt nỗi đau đã lắng sâu trong lòng.

        Những ngày có con trai về, được con thuốc thang chăm sóc sớm hôm, bà giáo bình phục dần dần, nguôi bớt nỗi đau, và tĩnh tâm lại. Mỗi lần thắp nhang khấn chồng và con gái, bà lại cầu mong phù hộ cho bà được khỏe mạnh trở lại, để cho con trai được yên lòng lên đường tiếp tục việc học hành.

        Hơn một tháng ờ nhà với má, lo thuốc thang cho má, thay má làm hết những việc vặt trong nhà để má được nghỉ ngơi. Lễ luôn ở cạnh má, kể chuyện thành phố Pa -ri, kể về những ngày lênh đênh trên biển cả, đến những bến cảng xa lạ cho má nghe, muốn làm cho má quên hết nỗi buồn đau. Thấy anh ở nhà, không nhắc đến việc trở lại nhà trường, má sốt ruột nhắc nhở: “Con định ở nhà đến bao giờ, phải chuẩn bị đi cho kịp năm học mới” Lễ thành thật thưa với má rằng: “Chị Nhẫn vừa qua đời, má lại bị ốm đau luôn, con thật không đành lòng để má ở nhà một mình. Việc học của con còn nhiều dịp khác”.

        Bà giáo sửng sốt nghe lời con nói, nước mắt ứa ra, lăn trên đôi gò má sạm nắng, đã có nhiều nếp nhăn. Bà vuốt đầu con trai, nhẹ nhàng nói: “Con đừng nghĩ vậy. Con không học tiếp thì bao nhiêu nỗi vất vả, bao nhiêu công sức của chị hai con, và của má hóa ra hoài công vô ích sao. Chị hai thương con, mong con học hành để thực hiện được ước nguyện của ba con, thực hiện được hoài bão của con, nếu con bỏ học dở dang, làm sao chị và ba con an lòng ở nơi chín suối” Bà nhắc lại lời trăng trối của ông giáo trước khi đi xa, nhấn mạnh rằng: Điều đó đã trở thành ý nguyện, là lời hứa thiêng liêng của bà trước vong linh của người quá cố. Con ở nhà, bỏ dở dang việc học là trái với mong muốn của bà, càng làm cho bả buồn, bệnh tật càng nặng thêm. Người cậu cũng động viên cháu: “Cháu cứ an tâm lên đường tiếp tục học tập. Ở nhà mọi việc đã có cậu, có bà con lối xóm”

        Phạm Quang Lễ biết rằng không thể làm trái ý của má và cậu được. Anh hứa với má sẽ đi cho kịp năm học, chỉ mong má đừng phiền muộn, cố gắng ăn uống, thuốc thang, giữ gìn sức khỏe, không được làm việc vất vả, anh sẽ gửi thêm tiền về cho má đủ mua thuốc chữa bệnh. Anh cũng chân thành cảm ơn tấm lòng tốt của cậu, mong cậu thường xuyên gửi thư cho cháu biết tình hình ở nhà.

        Bà giáo ôm lấy con, thở phào nhẹ nhõm, bởi vì Lễ đã chịu vâng lời. Bà nói: “Có như vậy thì má mới yên lòng, má mới khỏe ra được. Con cứ yên tâm, má sẽ cố gắng ăn uống, thuốc thang để chờ đến ngày con về. Má còn mong con lấy vợ, sinh con cho má được bế cháu. Má sẽ cố gắng cho đến ngày ấy chứ"

        Mấy ngày sau, Lễ tạm biệt má và cậu lên bên cảng Nhà Rồng để trở lại Pa-ri.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #14 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2017, 05:00:16 pm »

        
§7

TRỞ LẠI PA-RI TIẾP TỤC HỌC TẬP

        Lần thứ hai rời bến cảng Nhà Rồng trên con tàu viễn dương đi Pháp, đứng hồi lâu trên boong tàu, hướng về phía quê hương Vĩnh Long, Lễ thấy lòng mình buồn rười rượi. Lần trước ra đi có má, có chị tiễn đưa, nay má già yếu ở lại quê nhà, chị hai vĩnh viễn ở nơi chín suối, một cảm giác tê tái buồn rầu, nhức nhối trong con tim. Bỗng tiếng còi tàu vang lên chào tạm biệt bến cảng, anh đi vào ca-bin, ngồi trầm ngâm nghĩ ngợi. Những ngày ở trên tàu, Lễ vẫn bâng khuâng, hồi tưởng những ngày ở quê với má. Hình ảnh người mẹ hiền thân thương cùng với những lời căn dặn đầy tâm huyết luôn luôn nhắc nhở anh, không được ủy mị, buồn chán, đã tiếp sức cho anh trong bước đường sắp tới.

        Trở lại Pa - ri vào những ngày cuối tháng tám năm 1937, các phòng của khu học xá Đại học cầu đường đã đông đủ sinh viên về lại sau những ngày nghỉ hè. Ai nấy đều bận rộn chuẩn bị cho năm học mới. Sau một chuyến đi dài, Lễ nghỉ ngơi vài ngày cho lại sức rồi bắt tay vào công việc chuẩn bị cho năm học mới. Tính anh vốn trầm ngâm, ít nói, đặc biệt không thích thổ lộ chuyện riêng tư, nên ít người biết chuyện buồn của cá nhân anh. Chỉ có mấy người ở Ban quản lý sinh viên, và vài bạn ở gần biết chuyện, đến hỏi thăm, nhẹ nhàng động viên, an ủi anh.

        Với phương pháp làm việc khoa học mà anh đã thành thói quen trong hai năm vừa qua, Lễ suy tính sắp xếp một thời gian biểu hợp lý hàng ngày, kế hoạch hàng tuần, hàng tháng lên giảng đường nghe giảng, đến thư viện tìm sách cần thiết, đi thực tế xưởng máy, bảo tàng. Anh đã trở lại công việc một cách say sưa, đầy tự tin. Nhờ có trí nhớ khá tốt, và đầu óc minh mẫn, anh vừa say sưa nghe giảng, vừa cần mẫn trên những trang sách nhằm trang bị cho mình một hệ thống kiến thức về khoa học cơ bản, toán học, cơ học, hóa học, kỹ thuật công nghệ. Đó là những kiến thức ban đầu hết sức quan trọng, là nền tảng vững chắc, giúp anh về sau có thể hiểu được một cách đầy đủ khi đọc, tìm hiểu những vấn đề chuyên sâu trong kỹ thuật chế tạo vũ khí. Biết được tầm quan trọng đó, Lễ rất miệt mài trước những trang sách, không bao giờ hời hợt, nếu có điều gì chưa rõ, anh ghi chép lại để có dịp hỏi các giáo sư. Vì vậy, anh ít khi vắng mặt trong những giờ lên lớp của những giáo sư nổi tiếng.

        Mục tiêu lâu dài của Phạm Quang Lễ là thực hành chế tạo ra vũ khí. Vì vậy, anh không chỉ quan tâm đến vấn đề lý thuyết, mà phải tranh thủ tìm hiểu trong thực tế. Đó là bài học, là kinh nghiệm của những người đi trước đã thành công mà anh học được. Thời gian đầu, chưa có điều kiện đến xưởng máy, xí nghiệp để tìm hiểu, anh thường đến các viện bảo tàng kỹ thuật, bảo tàng vũ khí, ở đó có trưng bày tất cả các loại vũ khí từ thô sơ đến hiện đại. Tại đây, anh có dịp liên hệ những điều đã âm thầm tìm hiểu trong sách với thực tế nhìn thấy ở bảo tàng.

        Cách đi riêng, bí mật, âm thầm của Lễ trong việc nghiên cứu về vũ khí đòi hỏi phải tìm được những đầu sách có liên quan. Những cuốn sách cần thiết đó hiếm có trong các thư viện công cộng, mà chỉ có trong các thư viện chuyên ngành của các trường đại học kỹ thuật. Muốn đễ dàng, thường xuyên đến các thư viện này mà không bị mật thám nghi ngờ, theo dõi, tốt nhất là có bằng kỹ sư chuyên ngành đó. Mặt khác, có bằng cấp chuyên ngành mới có điều kiện giao tiếp, trao đổi ý kiến với các nhà kỹ thuật, giáo sư nổi tiếng để tìm tài liệu. Từ đó, anh quyết định phải học để thi lấy bằng của một số trường đại học kỹ thuật. Hon nữa, đây cũng là chìa khóa để bước vào công tác được thuận lợi, dễ tìm việc làm ở những công ty kỹ thuật chuyên ngành, có lợi cho mục tiêu của anh. Đúng là phải có một quyết tâm cao, một trí lực khỏe mới có thể thực hiện được hoài bão lớn này.

        Phạm Quang Lễ dồn hết tâm trí trong suốt thời gian trên ghế trường đại học. vốn là một học sinh trung học có trí thông minh xuất sắc, thi đỗ đầu hai bằng tú tài, nổi tiếng ở quê nhà, các thầy giáo đánh giá còn tiến xa, nay dưới mái trường đại học có đầy đủ mọi điều kiện cần thiết, được học với nhiều giáo sư nổi tiếng, tài liệu giáo khoa tham khảo phong phú, trí lực dồi dào, có trí nhớ đặc biệt, lại có ý chí cao, có phương pháp làm việc khoa học, anh thực sự đã trưởng thành vượt bậc, nắm vững một hệ thống tri thức khoa học của nhiều lĩnh vực. Ngoài việc nghe giảng ở Đại học cầu đường, anh còn tranh thủ nghe giảng ở Đại học Xooc - bon (Sorbonne) danh tiếng, Viện khí đông học, Học viện kỹ thuật hàng không, Đại học mỏ địa chất, Đại học điện lực, cơ khí bách khoa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #15 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2017, 05:01:18 pm »


        Say sưa nghiên cứu, học tập, đạt điểm cao trong những bài kiểm tra, những bài thi kết thúc môn học cuối học kỳ, Phạm Quang Lễ luôn nhận được những lời khen ngợi của các giáo sư và sự cảm phục của sinh viên cùng khóa. Người ta thấy anh say sưa khi nghe giảng, miệt mài trên trang sách trong thư viện, trong ký túc xá. Thỉnh thoảng mới thấy anh ngồi nhấm nháp ly cà phê với các bạn cùng lớp, nói vài câu hóm hỉnh rồi cười sảng khoái. Thấy anh học giỏi, chăm chỉ, những người xung quanh khen ngợi và chỉ nghĩ đơn giản là cậu sinh viên người thuộc địa này có chí học đề tìm đồng lương cao sau này ra làm việc. Họ làm sao biết được hoài bão lớn đang nung nấu cháy bỏng trong lòng anh.

        Thời gian trôi nhanh, mùa thi tốt nghiệp đã đến. Các phòng của khu học xá lặng yên, ít khi nghe tiếng đàn, tiếng hát rộn ràng như trước. Tất cả sinh viên dồn sức cho việc ôn tập để vượt qua bước cuối cùng của trường đại học.

        Phạm Quang Lễ ngồi miệt mài trước chồng sách cùng những cuốn sổ ghi chép, những bản tóm tắt, những trang tốc ký trên giảng đường. Đối với anh, mùa thi không phải bây giờ mới đến, nó đến từ những bài giảng của các giáo sư, từ những trang tóm tắt các chương mục của môn học đã được anh chuẩn bị trong kế hoạch làm việc hàng tuần, hàng tháng trước đây. Lễ đã nắm chắc, hiểu sâu, đã ghi vào bộ nhớ. Bây giờ có thời gian ôn luyện, rất thuận lợi cho anh đi sâu, hệ thống hóa những kiến thức đã học. Nhờ có phương pháp làm việc khoa học trong suốt những năm qua, Phạm Quang Lễ không quá vất vả chuẩn bị cho kỳ thi, không phải làm việc quá cường độ, thức khuya thao thức, mệt mỏi như những sinh viên bình thường khác.

        Mùa thi bắt đầu, Lễ bình tĩnh và tự tin. Đầu tiên anh thi đỗ bằng kỹ sư cầu cống đạt loại giỏi ở Trường Quốc gia Cầu đường Pa - ri, tiếp đó tại Đại học điện anh thi đỗ kỹ sư điện, rồi thi nhận bằng cử nhân toán cao cấp tại Đại học Xooc - bon. Anh đã từng nghe giảng tại Học viện kỹ thuật hàng không, nên quyết định thi để lấy thêm bằng kỹ sư hàng không. Sau này, anh còn thi để lấy thêm chứng chỉ ở Đại học mỏ địa chất và Cơ khí bách khoa. Như vậy, mọi sự nỗ lực, cố gắng không biết mệt mỏi của người con trai của ông bà giáo Phạm Văn Mùi, Lý Thị Diệu ở miền quê Tam Bình, Vĩnh Long trong suốt một quá trình dài trên mười mấy năm, từ trường trung học ở trong nước đến trường đại học ở Pa - ri, đã đạt kết quả xuất sắc, ngoài dự kiến của mọi người. Đây là một kết quả mà Lễ mong muốn, nó giúp anh tiếp tục thực hiện được hoài bão lớn. Kết quả này chắc chắn sẽ làm cho bà giáo tràn ngập niềm vui sướng, và tự hào về đứa con trai hiếu thảo, giàu nghị lực, ngày đêm bà hằng mong nhớ. Ông giáo Mùi và chị hai Nhẫn dưới suối vàng chắc cũng an lòng, toại nguyện.

        Những năm tháng sinh viên cần cù, miệt mài học tập, nghiên cứu dưới mái trường đại học Pa - ri, đã đặt nên móng vững chắc cho Phạm Quang Lễ nổi tiếng là một kỹ sư xuất sắc đầu những năm bốn mươi trong các nhà máy và viện kỹ thuật ở Pháp và Đức, và về sau đã trở thành nhà khoa học anh hùng Trần Đại Nghĩa, được Bác Hồ gọi là “đại trí thức” trong một bài báo Bác viết, đăng trên báo Nhân Dân số 61, ngày 12 tháng 6 năm 1952.Nhưng cũng cần nhắc lại ràng: Mục đích chính của Phạm Quang Lễ không phải là những tấm bằng kỹ sư nối tiếng. Đó chỉ là những phương tiện, là điều kiện cần thiết để anh tiếp tục đi sâu nghiên cứu về vũ khí, thu thập các tài liệu kỹ thuật chuyên ngành. Trong những năm sinh viên, anh vừa học để thi cử có kết quả, vừa thường xuyên đến các thư viện tìm đọc, thu thập tài liệu, và bước đầu đã có được một số lượng không nhỏ. Thu thập đến đâu, anh đã hệ thống và ra công nghiền ngẫm, đưa vào bộ nhớ của mình. Sau này làm việc trong cơ sở kỹ thuật của Pháp và Đức, có nhiều thuận lợi, nhất là trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai, anh đã thu thập được hàng ngàn trang sách, tài liệu kỹ thuật chế tạo vũ khí, công nghệ cao. Số tài liệu này năm 1946, anh đã đưa lên tàu thủy để chuyển về nước, và gửi ở nhà một người bạn ở Hà Đông. Thật không may, trong ngày toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, giặc Pháp chiếm đóng Hà Đông, gần một tấn tài liệu, sách kỹ thuật về vũ khí do anh dày công thu thập trong bao nhiêu năm ở Pháp đã bị mất hết.

        Giáo sư Trần Đại Nghĩa tâm sự rằng, ông rất tiếc, bởi tài liệu đó có thể giúp cho anh em ở trong nước nghiên cứu, tìm hiểu một cách cơ bản và có hệ thống về kỹ thuật, công nghệ chế tạo vũ khí. Ông chỉ giữ lại được mấy cuốn sách quan trọng nhất, và một vài cuốn sổ ghi chép các công thức tính toán. Tuy vậy, ông vẫn tổ chức có hiệu quả những lớp học chuyên sâu về vũ khí cho cán bộ quân giới thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Đó là nhờ những kiến thức uyên bác của ông đã được ghi nhớ khá sâu trong khối óc minh mẫn, từ những năm tháng ra công nghiền ngẫm ở Pa - ri.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #16 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2017, 12:18:50 am »

        
§8

LÀM VIỆC Ở PHÁP VÀ ĐỨC THỜI BÌNH VÀ THỜI CHIẾN

        Có được những tấm bằng kỹ sư, Phạm Quang Lễ quyết định tìm việc làm ngay. Tấm bằng kỹ sư cầu cống đã giúp anh tích lũy những kiến thức, những tài liệu về chất nổ, về kỹ thuật làm mìn, làm bộc phá. Vì vậy anh không tìm việc ở các xí nghiệp cầu đường, mà tìm ở nơi có điều kiện nghiên cứu về vũ khí.

        Đầu tiên, anh ký hợp đồng ngắn hạn, làm việc ở công ty tư nhân điện máy Tôm - sơn (Thomson), trực tiếp theo dõi quá trình lắp ráp, chế tạo biến thế điện. Chúng ta biết rằng biến thế điện các loại là một bộ phận quan trọng và phổ biến của các máy móc. vốn là kỹ sư điện có kiến thức chuyên sâu, qua thực tế làm việc ở đây đã giúp anh nhiều điều bổ ích cả trước mắt và lâu dài. Trước mắt, giúp anh thao tác thành thạo khi làm việc ở các công ty có chể tạo các loại máy móc công nghiệp và quân sự. về lâu dài, việc thực hành lắp ráp thiết bị điện ở đây giúp anh tích lũy kinh nghiệm vận dụng vốn hiểu biết về điện từ trường, về biến thế để thiết kế chế tạo khí tài quân sự, kỹ thuật điều khiển từ xa, ...

        Phạm Quang Lễ chỉ làm việc ở Công ty Tôm - sơn khoảng nửa năm, nhưng đã tạo được uy tín về trình độ kỹ thuật và trách nhiệm cá nhân. Ông chủ công ty thấy anh là kỹ sư giỏi, muốn anh tiếp tục làm việc và tăng lương cho anh. Lễ cảm ơn ông và xin được làm đúng thời hạn hợp đồng đã ký, bởi anh thấy cần sớm chuyển đến làm việc ở công ty có chế tạo khí tài quân sự.

        Tiếp đến, anh được nhận vào làm ở một công ty chế tạo máy bay dân sự, tất nhiên ở đây cũng chế tạo phần lớn các bộ phận của máy bay quân sự. Sau khi đã xem xét rất kỹ hồ sơ, kết quả học tập ở trường đại học, lời nhận xét về khả năng thực tế của anh ở Công ty Tôm - sơn trước đây, Phạm Quang Lễ được bố trí vào làm việc ở Phòng Thiết kế của công ty này. Thật là một dịp may mắn, một niềm vui lớn của anh để đi sâu nghiên cứu tìm hiểu những gì anh đang mong muốn. Có thể vì anh đã từng học tập và thi đỗ bằng kỹ sư hàng không loại giỏi, tại Học viện kỹ thuật hàng không nổi tiếng ở Pa - ri. Qua đây, càng thấy rõ tầm suy nghĩ và quyết tâm của anh phải có mấy bằng kỹ sư để có được vận may quan trọng này. Những năm tháng miệt mài nghiền ngẫm tài liệu, và nghe giảng tại Viện Khí động học, Học viện kỹ thuật hàng không, bây giờ đã phát huy tác dụng.

        Phòng Thiết kế của Công ty chế tạo máy bay là một bộ phận rất quan trọng, có quy chế nghiêm mật. Được nhận vào đây làm việc là thừa nhận năng lực chuyên môn “thực tài” cả lý thuyết và thực hành, và cả “lý lịch”, phẩm chất, tư cách tốt của Phạm Quang Lễ. Tại đây, anh được quyền đọc những tài liệu kỹ thuật có trong phòng, được giới thiệu để dễ dàng nắm bắt các ký hiệu hồ sơ tài liệu, sách báo, tạp chí chuyên ngành cần thiết cho công việc thiết kế. Trong những kệ sách kê thẳng tấp, cao gần trần nhà, những cặp hồ sơ dày cộm, Lễ sẽ tìm được nhiều tài liệu quan trọng theo yêu cầu của anh.

        Trong số những tập hồ sơ ở đây, có hàng chục tập nói về lĩnh vực vũ khí, khí tài trên máy bay, có những cuốn sách hướng dẫn chế tạo và sử dụng các loại súng pháo cao xạ, bom mìn, súng bộ binh. Những tài liệu này anh cần đọc lúc nào tùy yêu cầu. Cơ hội do anh tạo ra, đúng là “mong được, ước thấy”. Lúc này, bộ nhớ khổng lồ của anh phát huy hiệu quả, nhưng anh vẫn thận trọng ghi chép vào những thời điểm thuận lợi, để làm phong phú số tài liệu thu thập được.

        Là thành viên Phòng Thiết kế, anh được tham gia các buổi thuyết trình đề án của đồng nghiệp, tìm hiểu các bản vẽ kỹ thuật, nghe đồng nghiệp tranh luận. Là nhân viên mới, anh luôn giữ thói quen nói ít, chú ý lắng nghe và tiếp thu. Nếu hỏi, thì anh nêu những câu về lý thuyết mà anh đang muốn được giải thích, chứng minh bằng thực tế. Đó là cách anh vừa tham gia, vừa để học hỏi đồng nghiệp.

        Sau khi hoàn thành thiết kế sản phẩm, các kỹ sư công nghệ sẽ vạch ra quy trình chế tạo. Và cuộc trao đổi giữa các nhà kỹ thuật công nghệ, và kỹ sư thiết kế là thời điểm trao đổi ý kiến đầy đủ và sâu sắc nhất mà Phạm Quang Lễ sẽ có nhiều cơ hội lắng nghe và học hỏi. Tiếp đó, anh cùng các đồng nghiệp đến xưởng máy theo dõi quá trình chế tạo sản phẩm cho đến lúc hoàn thành và kiểm tra chất lượng. Có lúc phải thay đổi các chi tiết, các bộ phận của thiết kế, anh luôn bám sát để học hỏi trong thực tế phong phú của sản xuất.

        Ngoài ra, mỗi lần xuống xưởng máy, anh còn có dịp quan sát các bộ phận của máy bay dân dụng và quân sự, kết cấu và đặc tính của từng loại, những điểm khác biệt V.V.. Anh tích lũy, học hỏi được rất nhiều, rút nhiều kinh nghiệm trong thực tế chế tạo. Anh đã lần lượt làm việc trong ba công ty chế tạo máy bay của Pháp. Nhờ vậy mà về sau, khi chiến tranh kết thúc năm 1945, anh được chọn làm thiết kế trưởng của hãng chế tạo máy bay Nord Aviation.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #17 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2017, 12:20:34 am »


        Từ năm 1939, không khí chính trị ở châu Âu căng thẳng, mâu thuẫn giữa Pháp và Đức đã đến cực điểm, có thể nổ ra chiến tranh bất cứ lúc nào. Nước Pháp chuẩn bị ráo riết cho chiến tranh. Trên những con đường chiến lược, từ cuối năm 1939 đã xuất hiện những trận địa chống xe tăng. Trên bờ sông Xen và trên một số cầu lớn qua sông Xen, bố trí những cụm pháo phòng không tầm cao, tầm trung. Với cương vị kỹ sư Phòng Thiết kế máy bay, Phạm Quang Lễ có thể tới quan sát các ụ súng, đặt những câu hỏi với pháo thủ mà không sợ bị cơ quan an ninh theo dõi. Những người lính Pháp đang hừng hực không khí chuẩn bị chiến đấu, bảo vệ đất nước, vẫn sẵn sàng trả lời những câu hỏi của người kỹ sư hàng không cùng chiến tuyến.

        Từ ngày ra trường, làm việc ở công ty, lương tháng của Phạm Quang Lễ tăng gấp năm, sáu lần so với số học bổng sinh viên. Anh giành một phần tiền lương mua sách các loại, cần cho về sau, một phần cho chi tiêu sinh hoạt, và tiếp tục gửi về cho má chữa bệnh và chi tiêu hàng tháng. Sau khi chiến tranh bùng nổ, đường bưu điện bị gián đoạn, anh không gửi được tiền về, và cũng không còn nhận được thư từ Việt Nam.

        Từ đó, anh không hề biết tin tức về người mẹ thân thương ở quê nhà, sức khỏe ra sao. Phải qua mười lăm năm sau, qua thế chiến thứ hai, qua thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp, đến 1955, khi có người quen từ Vĩnh Long tập kết ra miền Bắc, anh mới biết tin về những năm tháng cuối đời của người mẹ hiền muôn vàn yêu quý của mình.

        Thực ra, từ ngày con gái qua đời, bệnh lao của bà giáo ngày càng phát triển. Được con trai trở về chăm sóc, bà đã cố gắng hết sức, cố giấu bệnh cho con được an tâm trở lại trường học tập. Bệnh tình của bà giáo về sau càng trầm trọng. Bác sĩ Lâm Văn Bổn, một người bạn cũ của Lễ ở trường Pê-trus Ký, đã tận tâm cứu chữa, chăm sóc mẹ bạn như chăm sóc mẹ mình. Nhưng bệnh tình của bà giáo quá nặng. Ngày ấy, đây là bệnh nan y, chưa có thuốc chống lao hiệu nghiệm. Năm 1941, bà giáo đã trút hơi thở cuối cùng, mặc dầu người bác sĩ nhân hậu Lâm Văn Bổn đã tìm mọi cách cứu chữa đến giờ phút cuối cùng. Phạm Quang Lễ - Trần Đại Nghĩa nghẹn ngào, nước mắt giàn giụa, đau xót nhớ thương người mẹ đã trọn đời vì sự nghiệp cao cả của con.

        Năm 1982, trả lời câu hỏi của thiếu tá Đào Đức Tú, cộng tác viên Phòng Lịch sử, Ban Khoa học Hậu cần, Giáo sư Trần Đại Nghĩa có kể ràng: “Tôi học về vũ khí và học cả về quân sự, vì nghiên cứu và chỉ đạo về vũ khí mà không hiếu biết về quân sự thì hiệu quả cuối cùng sẽ thấp thôi. Học về quân sự, tôi đã nghiên cứu về chiến thuật, chiến lược của Pháp, cả về hậu cần nữa, nhưng tôi thấy vẫn chưa đủ. Muốn đánh Pháp thì cần phải nghiên cứu thêm. Do đó, tôi đã học thêm tiếng Đức, để nghiên cứu về quân sự của Đức nữa (tài liệu dạy ở Viện Hàn lâm Quân sự Béc-lin). Tại sao tôi phải học như vậy? Tôi có đọc tài liệu của Lê Nin. Người rất thích đọc cuốn sách “Bàn về chiến tranh” của học giả Cờ-lô-dơ-vich (Clausewitz), một vị tướng của nước Đức viết năm 1812, bàn về chiến thuật, chiến lược, hậu cần và nhiều vấn đề lớn khác ”.

        Sở thích của Phạm Quang Lễ là tìm đọc tài liệu từ nguyên bản của tác giả, vì vậy khi nghiên cứu tác phẩm của Cờ-lô-dơ-vich “Bàn về chiến tranh”, anh đã quyết tâm học thêm tiếng Đức, ngoài tiếng Pháp và tiếng Anh đã thành thạo. Nhờ trí nhớ đặc biệt, chỉ trong mấy tháng hè anh đã học thuộc lòng cuốn từ điển Đức Pháp gần bốn ngàn từ.

        Cuối năm 1939 Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ và giữa năm 1940 nước Pháp đã rơi vào tay quân Đức, Lễ cùng chung số phận với những người trí thức Pháp. Những người bạn Pháp quen biết Lễ trước đây, biết anh là người có tư tưởng chống thực dân, giờ đây cũng phải chịu thân phận của người dân nô lệ, họ càng đồng cảm và sẵn lòng hỗ trợ, giúp đỡ anh trong cơn hoạn nạn này.

        Phạm Quang Lễ nhận thấy lúc này là thời buổi phức tạp, phải rất khôn khéo và tế nhị, tranh thủ thời cơ thâm nhập, tìm hiểu về kỹ thuật, công nghệ vũ khí của nước Đức. Anh biết rõ rằng, những năm trước đây, nước Đức đã tổng động viên mọi nguồn nhân tài, vật lực tập trung phát triển các loại vũ khí mới. Nước Đức trở thành trung tâm kỹ thuật công nghệ cao của châu Âu và thế giới. Phe trục phát xít Đức - Ý - Nhật được hình thành. Nhiều nhà khoa học gốc châu Á (được xem là thân Nhật Bản) đã được nhận vào làm việc trong các nhà máy của Đức.

        Lúc này, Lễ đã có vốn tiếng Đức khá tốt, anh đã tranh thủ tự học trong thời gian qua. Lợi dụng tình thế này, năm 1942 anh đã khôn khéo để được nhận vào làm việc tại nhà máy chế tạo máy bay của hãng Messerschmidt ở tỉnh Halle, miền Trung nước Đức. Sau đó, anh được chuyển đến làm việc tại viện nghiên cứu vũ khí, kỹ thuật hàng không của Đức. Thời gian làm việc ở đây tuy chỉ dăm bảy tháng, nhưng đã tạo điều kiện cho Lễ tìm hiểu, nắm được một số kỹ thuật mới và phương pháp tổ chức công nghiệp rất khoa học của nước Đức. Rất may, được những người bạn Pháp yêu nước báo trước, Phạm Quang Lễ đã kịp bí mật rời khỏi Halle mấy ngày, trước khi máy bay quân Đồng Minh ném bom tan tành nhà máy.

        Trong hồi ký của mình, Giáo sư Trần Đại Nghĩa nhấn mạnh rằng: Chiến tranh thế giới thứ 2 vô cùng tàn khốc, làm việc ở Pháp và ở Đức trong thời gian chiến tranh đã tạo điều kiện cho ông quan sát, nghiên cứu, rút ra những nhận xét, những bài học, kinh nghiệm thực tế, vì chiến tranh thế giới có đủ các loại binh quân chủng, có cả chiến tranh du kích rất phổ biến, có cả đặc công cũng rất phát triển. Tất cả những hiểu biết và bài học kinh nghiệm đó đã giúp ông rất nhiều khi trở về nước làm việc, và đã hoàn thành nhiệm vụ một cách thuận lợi trong kháng chiến chống thực dân Pháp, cũng như kháng chiến chống Mỹ cứu nước sau này.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #18 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2017, 12:25:27 am »

        
§9

CHÀO ĐÓN BÁC HỒ THĂM PHÁP
PA - RI MÙA THU NĂM 1946

        Từ khi còn là sinh viên đại học Pa-ri, qua báo chí, Phạm Quang Lễ đã được biết và cảm phục nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng Nguyễn Ái Quốc. Sau này, càng hiểu biết về Người, anh càng mong muốn được tiếp bước theo Người trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.

        Năm 1945, khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, và ở Việt Nam Cách mạng Mùa Thu Tháng Tám thắng lợi, Phạm Quang Lễ đang là kỹ sư trưởng của một nhà máy chế tạo máy bay của Pháp. Vốn là một trí thức giàu lòng yêu nước, từ lâu đã nung nấu hoài bão lớn, anh đang chờ có dịp được trở về quê hương, mang theo vốn kiến thức và số tài liệu về vũ khí, đã dày công nghiên cứu thu thập hơn mười năm qua, để phụng sự Tổ quốc. Trong khi đang làm việc ở công ty chế tạo máy bay của Pháp, anh vẫn thường xuyên quan tâm tình hình trong nước, tích cực tham gia vào các hoạt động của Hội Việt kiều yêu nước ở Pa - ri. Tháng 12/1944 anh được bầu vào Ban trị sự của Trung ương Hội Việt kiều tại Pháp, cùng với những trí thức như: Võ Quý Huân, Hoàng Xuân Mạn, Trần Đức Thảo, Bửu Hội, Lê Viết Hường V.V..

        Cuối tháng 5 năm 1946, phái đoàn Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang Pháp dự hội nghị Phông-ten-nơ-blô (Fontainebleau). Bà con Việt kiều tại Pháp đã tổ chức đón phái đoàn ta rất nồng nhiệt. Nhận lời mời của chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang thăm nước Pháp với tư cách là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thượng khách của nước Pháp. Ngày 22 tháng 6 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến sân bay Le Bourget ở thủ đô Pa-ri, tại đây lễ đón tiếp được chính phủ Pháp tổ chức với nghi lễ trọng thể dành cho nguyên thủ quốc gia. Lần đầu tiên, lá cờ đỏ sao vàng của nước Việt nam độc lập đã phất phới tung bay giữa thủ đô Pa-ri của nước Pháp. Hàng ngàn Việt kiều tại Pháp đã náo nức cờ, hoa chào đón vị Chủ tịch kính yêu của đất nước Việt Nam độc lập, tự hào và xúc động hô vang: “Tổ Quốc Việt Nam muôn năm”. “Hồ Chủ tịch muôn năm!” Và lần đầu tiên, đồng bào Việt kiều được biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã nổi tiếng từ lâu.

        Hòa vào dòng người dạt dào niềm vui sướng, tay cầm cờ đỏ sao vàng, ánh mắt đầy tự hào, tiến đến sân bay Le Bourget chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, có kỹ sư Việt kiều Phạm Quang Lễ. Trong hồi ký viết năm 1993, Giáo sư Trần Đại Nghĩa bồi hồi nhớ lại giây phút thiêng liêng, lần đầu tiên được thấy vị lãnh tụ kính yêu - Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pa-ri: “Cùng dòng người đi đón Hồ Chủ tịch, tôi chăm chú quan sát hình ảnh vị lãnh tụ kính mến từ quê nhà tới: Một cụ già hơi gầy, bộ râu đen và thưa, trang phục giàn dị với bộ quần áo kaki màu vàng nhạt, trên ngực không đeo tấm huân chương nào cả. Đặc điểm hấp dẫn nhất đối với tôi là: Người có đôi mắt sáng, vầng trán cao rộng, cử chỉ nhanh nhẹn, hoạt bát, luôn luôn chủ động.

        Tôi đã từng nghe trước đó, Hồ Chủ tịch vốn là Nguyễn Ái Quốc, nhà cách mạng đã tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, tác giả của tác phẩm nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp... ” đầu những năm hai mươi của thế kỷ hai mươi

        Tin tức về Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã làm cho hàng vạn con tim người Việt Nam ở Pháp ngày ấy hồi hộp, xúc động, sung sướng, tự hào. Hội Việt kiều yêu nước đã hoạt động sôi nổi, thu hút hàng vạn người Việt Nam đủ các tầng lớp hướng về quê nhà, ủng hộ cách mạng, ủng hộ chính phủ của Cụ Hồ Chí Minh. Giáo sư Phạm Huy Thông, một trí thức Việt kiều nổi tiếng thời kì đó ở Pháp đã nhận xét:

        “Trong những năm 1944-1945, nước Pháp dần được giải phóng, ở Pháp một tổ chức chính trị của Việt kiều được thành lập, có xu thế tư tưởng phù hợp với trào lưu cách mạng đang lên khắp thế giới. Vừa lúc đó, tin tức thắng lợi của Việt Minh trong nước bắt đầu dội đến chúng tôi, nhất là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Mọi người háo hức nghe và đặc biệt không biết Hồ Chí Minh là ai.... Song dù chưa được biết rõ, chưa được hiểu nhiều về tình hình và sự việc trong nước, nhưng Việt kiều khắp nơi đã hân hoan chào mừng Cách mạng Tháng Tám, rồi “Tuyên Ngôn Độc lập’’. Liên minh của Việt kiều tuyên bố ủng hộ chính phủ lâm thời, và chống việc gửi quân viễn chinh Pháp sang Đông Dương. Việt kiều viết báo, tranh luận, mít tinh, rải truyền đơn, bị chính quyền bắt bớ, đánh đập, phong trào đã chịu những tổn thất đầu tiên.

        Khi phái đoàn chính phủ, rồi Hồ Chủ tịch sang Pháp (tháng 6/1946) thì phong trào yêu nước của Việt kiều lên đến đinh cao nhất từ trước đến lúc đó ” (Phạm Huy Thông, tuần báo Thống Nhất ngày 21 tháng 4 năm 1973).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #19 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2017, 04:26:26 am »


        Nói về tấm lòng yêu nước, hướng về Tổ quốc thân yêu của Việt kiều ta ở Pháp nói chung, và của giới trí thức Việt kiều nói riêng, giáo sư Trần Đại Nghĩa nói: “Khi Bác Hồ đến thăm nước Pháp mùa thu năm 1946, mong muốn được gặp Bác, được bước theo con đường cách mạng của Bác, là điều nung nấu không chỉ của riêng tôi, mà của nhiều trí thức Việt kiều yêu nước, nhất là sau khi đã biết rõ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là nhà cách mạng Nguyên Ái Quốc nổi tiếng, biểu tượng của lòng yêu nước trong sáng và bền bỉ của dân tộc Việt Nam

        Được Giáo sư Hoàng Xuân Mạn (em Giáo sư Hoàng Xuân Hãn), Chủ tịch Hội Việt kiều ở Pháp ngày ấy giới thiệu, đồng chí Tạ Quang Bửu-Thứ trường Bộ Quốc Phòng đã tiến cử một số tri thức Việt kiều được tiếp kiến Hồ Chủ tịch, tại khách sạn Roay-an Mông-xô chỉ ba ngày sau khi Người đến Pa-ri, trong đó có kỹ sư Phạm Quang Lễ, kỹ sư luyện kim Võ Quí Huân, bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư mỏ Võ Đình Quỳnh, triết gia Trần Đức Thảo V.V..

        Phạm Quang Lễ cùng các kỹ sư Việt kiều đã nhiều lần tháp tùng Hồ Chủ tịch đi thăm, nói chuyện với đồng bào Việt kiều, thăm một vài cơ sở của Đảng Cộng sản Pháp, một số nơi ở nội, ngoại thành Pa-ri trong thời gian Người thăm Pháp. Cũng từ đó, hai tiếng gọi “Bác Hồ” đã vang lên thật gần gũi và thân thương trong lúc tiếp xúc với Người.

        Những ngày được ở gần Bác Hồ, được nghe Bác nói chuyện với bà con Việt kiều về tinh hình đất nước sau Cách mạng Tháng Tám, về mưu đồ của bọn thực dân hòng tiếp tục chia cắt, chiếm đóng nước ta, về ý chí và quyết tâm sắt đá của nhân dân ta bảo vệ nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, kỹ sư Phạm Quang Lễ càng thêm cảm phục và quý mến vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Tư tưởng, nhân cách, tri thức uyên thâm của Người càng làm cho anh đầy niềm tin đi theo Người thực hiện hoài bão lớn.

        Có một lần Bác gọi anh đến ngồi cạnh và hỏi: “Nguyện vọng của chú lúc này là gì? Kỹ sư Lễ trả lời rất nhanh cái điều mà anh đã ấp ủ bao nhiêu năm: “Dạ thưa, nguyện vọng cao nhất của cháu là được trở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần ”

        Những lần sau, hai Bác cháu nói chuyện với nhau về Chiển tranh thế giới thứ hai, Phạm Quang Lễ đã mạnh dạn thưa với Bác về những điều đã học được, những tài liệu đã thu thập được, và nguyện ước đã ấp ủ. Bác căn dặn anh phải giữ kín, để tránh phiền hà về sau.

        Giáo sư Trần Đại Nghĩa kể lại rằng: “Cuộc đàm phán Phông-ten-nơ-blô kéo dài, phía Pháp không chịu nhượng bộ. Các anh Tạ Quang Bửu, Phan Anh, thành viên phái đoàn Chính phủ ta, đã tranh thủ đi tiếp xúc với các nơi về những mặt công tác khác. Trung tuần thảng 7 năm 1946, ở Thụy Sĩ có Hội nghị khoa học thế giới, nhân dịp kỉ niệm hai trăm năm Hội Khoa học Tự nhiên Thụy Sĩ, có hàng trăm nhà khoa học nổi tiếng của nhiều nước tham gia. Được phép của đồng chí Phạm Văn Đồng, anh Tạ Quang Bửu, nhân danh Giáo sư vật lý Đại học Tổng hợp Hà Nội, và Tiến sĩ Bửu Hội đang nghiên cứu ở Trung tâm Khoa học Pa-ri, đại diện cho các nhà khoa học nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lần đầu tiên tham dự Hội nghị khoa học ở Thụy Sĩ. Chúng tôi, những tri thức Việt kiều cảm thấy vinh hạnh và tự hào. Nước Việt Nam vừa mới giành độc lập,đã cử hai nhà khoa học đi dự một hội nghị quốc tế lớn”.

        Những lời tâm sự ấy trong hồi ký của Giáo sư Trần Đại Nghĩa cho chúng ta hiểu thêm giới trí thức Việt kiều ở Pháp ngày ấy, đã phấn chấn, sung sướng, và tự hào như thế nào về Tổ quốc Việt Nam thân yêu, vừa giành được độc lập.

        Hội nghị khoa học tháng 7 năm 1946 ở Thụy Sĩ là hội nghị khoa học lớn nhất thế giới được tổ chức sau chiến tranh thế giới lần thứ 2. Giáo sư Tạ Quang Bửu kể lại rằng: Hội nghị và lễ kỉ niệm hai trăm năm Hội Khoa học tự nhiên Thụy Sĩ được tổ chức tại Đại học Bách khoa Zurich, nơi đã đào tạo ra Albert Einstein , ngọn tháp cao chót vót của vật lý học hiện đại. Ở đây nhiều nhà bác học nổi tiếng thế giới được tặng Giải Nobel như Schrodinger, Paul Karrer... đã từng giảng dạy và nghiên cứu. Tiến sĩ Toán học Lê Văn Thiêm của Việt Nam cũng đã giảng dạy ở đại học này từ 1947.

        Năm 1946 khi dự hội nghị khoa học quốc tế này ở Thụy Sĩ giáo sư Tạ Quang Bửu mới 36 tuổi. Hội nghị thực sự đã để lại trong ông nhiều kỉ niệm và ấn tượng sâu săc. Đặc biệt những lần gặp gỡ và lắng nghe các nhà bác học đoạt Giải Nobel thuyết trình như Erwin Schrodinger, Karl von Frich, Paul Karrer đã có ảnh hưởng và thôi thúc giáo sư Bửu năm 1948 viết liền bổn cuốn sách xuất bản ở Việt Bắc. Đó là các cuốn: Nguyên tử - Hạt nhân - Vũ trụ tuyến, Sống, Vật lí Cương yếu, Thống kê thường thức. Những cuốn sách thực sự bổ ích, giúp cho giới trí thức ngày ấy mở rộng tầm hiểu biết về thành quả mới nhất của khoa học trong những năm 40 của thế kỉ 20.

        Sau này, khi đảm nhiệm trọng trách Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Giáo sư Tạ Quang Bửu luôn chủ trương khuyến khích học sinh, sinh viên học ngoại ngữ và tạo điều kiện cho cán bộ khoa học trẻ được tham dự các hội nghị khoa học quốc tế đề nâng tầm hiểu biết.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM