Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:28:31 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người con đất Quảng kiên trung  (Đọc 13948 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #30 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2020, 06:07:39 am »

Nhiệm vụ thứ hai của chúng tôi là đánh bại lực lượng địch kéo về đối phó tại thị xã Tam Kỳ. Để chuyển từ chiến đấu tiến công sang hình thức đánh địch trong thế trận phòng ngự, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 phải khẩn trương tiến hành đào công sự chốt giữ chờ địch phản kích. Đúng như dự đoán của chúng tôi, sáng ngày 23 tháng 2 năm 1969, địch bắt đầu sử dụng một tiểu đoàn lính bảo an đánh chiếm lại mục tiêu đã mất, Ta chủ động triển khai lực lượng phía trước đội hình, xác định vị trí hỏa lực tập trung diệt địch. So với quan thầy quân đội Mỹ thì khả năng chiến đấu của lính bảo an còn non kém hơn rất nhiều. Vì vậy, cả tiểu đoàn địch nhanh chóng rơi vào bẫy nghi binh của chúng ta. Tốp địch đi đầu bị đánh bất ngờ co cụm lại, lập tức cả đội hình phía sau dồn ứ như mắc cửi. Đúng lúc đó, tất cả các loại pháo, lựu đạn, súng máy, súng bộ binh của ta thi nhau nhả đạn. Bị tập kích hỏa lực bất ngờ, địch không kịp chống đỡ. Những tên sống sót vội vàng chạy lùi về phía sau. Nhiều tên đã trở thành mục tiêu di động của các thiện xạ dày dạn kinh nghiệm trận mạc của chúng tôi. Chẳng mấy chốc, Tiểu đoàn 70 đã đánh lùi nhiều lần phản công của địch, diệt gần hết tiểu đoàn bảo an, đặc biệt tiêu diệt được tên Luật ác ôn khét tiếng của thị xã Tam Kỳ, nhất là bắt được một tên lính Mỹ bị thương gãy chân phải, tôi đã cho băng bó và phóng thích tại chỗ (tại Bình Hòa). Chỉ huy đơn vị xác định địch sẽ tăng cường quân số, hỏa lực, điều động máy bay yểm trợ để tiếp tục đánh chiếm các mục tiêu đã mất, đẩy quân ta ra khỏi thị xã Tam Kỳ. Do đó, tối ngày 23 tháng 2 năm 1969, chỉ huy Tiểu đoàn 70 đã quyết định chuyển đội hình một bộ phận sang bố trí ở Phú Ninh, Bình Hòa, đồi Ông Chí, phía tây thị xã Tam Kỳ.

Sáng ngày 24 tháng 2 năm 1969, một tiểu đoàn lính Mỹ cùng với xe tăng, máy bay trực thăng từ Tuần Dưỡng tổ chức đánh vào đội hình của ta ở Thanh Phong và Phú Ninh. Cùng lúc đó, một tiểu đoàn lính cộng hòa từ Tam Kỳ đánh lên hướng sân bay Ngọc Bích, đồi Ông Chí; một liên đội bảo an từ đường sắt cơ động dọc theo sông Tam Kỳ đánh lên. Chúng tập trung hỏa lực bắn dọn đường, sau đó xe tăng dẫn dắt bộ binh tiến công ồ ạt vào trận địa của ta. Đội hình của Tiểu đoàn 70 đã bí mật triển khai sẵn sàng chiến đấu. Lúc này, đồng chí Sơn, Tiểu đoàn trưởng, bị thương đã lùi về sau, tại vị trí chỉ huy chỉ còn một mình tôi. Chờ địch cách trận địa của ta khoảng 50 mét, tôi phát lệnh nổ súng. Anh em nhanh chóng diệt ngay tốp lính đầu tiên. Địch vội vàng lùi lại, tập trung hỏa lực đánh phá. Khi hỏa lực địch ngừng bắn để bộ binh xông lên, các cán bộ, chiến sĩ tiếp tục chiến đấu. Cứ như vậy, Tiểu đoàn 70 lần lượt bẻ gãy các đợt tiến công của địch. Xác lính chết nằm chồng lên nhau trước tiền duyên phòng ngự hết lớp này đến lớp khác. Biết không thể đánh bại thế trận phòng thủ của chúng tôi, địch bèn đổi hướng tiến công.

Trưa ngày 24 tháng 2 năm 1969, xe tăng dẫn dắt bộ binh Mỹ cơ động vòng lên sườn Tiểu đoàn 70 hình thành thế bao vây. Trước tình hình này, tôi bình tĩnh động viên anh em quyết tâm chiến đấu. Đồng thời, tôi tổ chức một trung đội của Đại đội 2 do tôi trực tiếp chỉ huy đánh thẳng vào đội hình địch. Quân ta tập trung đánh hướng khác để nghi binh thu hút hỏa lực và bộ binh địch. Trung đội chúng tôi thề quyết tử mở đường máu cho đơn vị lui quân an toàn. Khi xạ thủ B40 vừa bắn cháy chiếc xe tăng đi đầu, tôi nhanh chóng chỉ huy trung đội xung phong. Khẩu súng AK trong tay tôi và đồng đội nổ liên thanh. Không biết bao nhiêu tên địch đã gục ngã trước mũi súng của trung đội cảm tử, trong đó mình tôi tiêu diệt khoảng 15 tên. Trong chốc lát, chúng tôi đã xé nát đội hình lính Mỹ dày đặc mở toang một hành lang cho tiểu đoàn lui quân an toàn. Lúc đó, khoảng 16 giờ chiều, trong khi tôi chỉ huy trung đội cảm tử đánh vào đội hình lính Mỹ thì tiểu đoàn lính Mỹ và ngụy không hiểu nhau. Quân Mỹ tưởng rằng lính ngụy Sài Gòn đánh chúng nên hai bên đã đáp trả nhau bằng tiếng súng. Đồng thời, máy bay của Mỹ thả bom vào giữa đội hình lính cộng hòa và lính Mỹ làm bọn chúng chết la liệt. Đây cũng là thời cơ để chúng tôi tổ chức lui quân an toàn. Như vậy, tính tổng số kết quả chiến đấu trong ngày 24 tháng 2 năm 1969, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70 đã diệt gọn một đại đội lính Mỹ, một đại đội lính cộng hòa, đánh thiệt hại một tiểu đoàn lính bảo an, một tiểu đoàn lính Mỹ, bắn cháy 12 xe tăng M18, M13, M41, bắn rơi 8 trực thăng, số lính Mỹ-ngụy bị loại khỏi vòng chiến đấu hơn 200 tên. Ngày hôm sau, địch phải dùng nhiều lần chiếc máy bay để lấy xác.

Khi đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm trận đánh này, Tiểu đoàn 70 đã thực hiện đúng phương châm: “Nắm thắt lưng địch mà đánh”. Do đó, mặc dù lực lượng quân địch đông gấp 3 lần, được hỏa lực của xe tăng, pháo binh, máy bay chi viện tích cực, nhưng chúng cũng không thắng được ta với vũ khí trang bị hạn chế. Tuy nhiên, yếu tố quyết định làm nên chiến thắng là tinh thần chiến đấu quả cảm, tuyệt vời và khả năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo cách đánh gần, đánh táo bạo hạn chế được phi pháo địch của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 70. Bản thân tôi cũng rất phấn khởi vì ta đã tiêu diệt được nhiều địch, thương vong của đơn vị thấp.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #31 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2020, 06:07:59 am »

Sau đợt 1 của chiến dịch, đợt 2 Tiểu đoàn 70 được lệnh hành quân về đánh địch ở các xã Kỳ Thịnh, Kỳ Mỹ và Quán Rường. Đặc biệt, việc đơn vị đánh cho lính Mỹ chạy tán loạn giữa ban ngày ở Quán Rường đã trở thành kỷ niệm đẹp trong lòng mỗi cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn 70 ngày ấy. Mỗi lần gặp nhau, chúng tôi lại nhắc đến như một phần máu thịt của đời binh nghiệp.

Đợt hoạt động thứ 3, chúng tôi chuyển xuống vùng đông Thăng Bình, đánh địch lấn chiếm ở chợ Được, thuộc xã Bình Triều. Tại đây, đơn vị đã tiêu diệt một đại đội lính bảo an, sau đó cơ động đến trú quân tại hai xã Bình Giang, Bình Triều. Trong thời gian này, có một đại đội lính Mỹ từ núi Quế hành quân xuống càn quét vùng đông Thăng Bình. Tiểu đoàn 70 chặn đánh lực lượng địch, kiên quyết không để chúng gây tội ác với nhân dân. Chúng tôi đã chọn vị trí xây dựng trận địa phục kích và thực hiện chiến thuật vận động tiến công để thực hành chiến đấu. Khi hỏa lực bắn dọn đường của chúng vừa dứt, biết bọn lính bộ binh sắp hành quân qua, chúng tôi cũng vận động ra đến khu vực đã bày trận. Các bộ phận chặn đầu, khóa đuôi đã nhốt trọn lực lượng địch trong khu vực sát thương của ta. Kết quả trận đánh, ngoài số lính bộ binh bị tiêu diệt, hỏa lực của ta còn bắn cháy 6 xe tăng, bắn rơi tại chỗ 5 máy hay. Sau đợt hoạt động này, Tiểu đoàn 70 lại chuyển lên xã Bình Phú để củng cố. Đây cũng là nơi diễn ra cuộc chia tay đầy lưu luyến của tôi với các đồng chí, đồng đội đã một thời cùng nhau ăn trong bom, ngủ trong đạn.

Ngày 15 tháng 8 năm 1969, tôi nhận quyết định của Tỉnh đội Quảng Nam điều về làm Thị đội trưởng kiêm Chính trị viên Thị đội Tam Kỳ. Bao nhiêu năm công tác ở Tiểu đoàn 70, chia ngọt sẻ bùi cùng anh em, bây giờ phải ra đi, chia tay đồng đội từng gắn bó máu xương, tâm trạng của tôi lúc bấy giờ chứa chan, lòng bùi ngùi luyến tiếc. Không riêng kẻ ra đi, lòng người ở lại cũng luyến lưu không kém. Nhiều đồng chí xúc động nói không nên lời. Chúng tôi bắt tay nhau mà nước mắt chảy dài. Ai cũng thương, cũng nhớ, đều mong sao sớm có ngày gặp lại. Trong trái tim tôi không thể nào quên những đồng chí, đồng đội đã trở thành một phần máu thịt của đời mình như: Khôi, Tiến, Phường, Xuyến (y sĩ), v.v. Đặc. biệt, hình ảnh người chiến sĩ trinh sát dũng cảm, gan dạ Trần Ngọc Ảnh, Nguyễn Hữu Chỉnh đã trở nên quá đỗi thân thương. Trong cuộc sống hằng ngày, cũng như trong chiến đấu, tôi luôn xem Chỉnh như em ruột của mình.

Hôm tôi lên đường, tiểu đoàn đã tổ chức một đoàn tiễn đưa ra tận vùng giải phóng. Họ là những người từng sát cánh bên tôi trong những đêm trinh sát chuẩn bị chiến trường, cùng tôi xây dựng phương án chiến đấu cho từng trận đánh, hoặc cùng nhau chia lửa vượt vòng vây quân thù. Dù đã hơn bốn thập kỷ trôi qua, nhưng tôi không thể quên những con người hôm ấy. Đó là đồng chí Tiểu đoàn trưởng Huỳnh Kim Sơn, đồng chí Châu - Tiểu đoàn phó, đồng chí Hội - tác chiến, đồng chí Quân - Chính trị viên Đại đội 2 và đại diện của bốn đại đội trực thuộc, v.v. Cả đoàn gần hai chục đồng chí, do đồng chí Sơn dẫn đầu, tiễn chân tôi từ thôn An Lý, xã Bình Phú, huyện Thăng Bình đến thôn Long Sơn 2, xã Kỳ Long, huyện Bắc Tam Kỳ (đây là vùng giải phóng) rồi mới tạm chia tay. Chúng tôi đã đi hết cả đêm 18 tháng 6 năm 1969. Bởi vì trong thời gian đó, tàu rọ, máy bay cán gáo của địch, quần lượn liên tục suốt cả ngày. Đồng thời, chúng còn đổ quân biệt kích xuống chỗ này, nhưng tổ chức đi phục kích chỗ khác, khi phát hiện quân ta lập tức gọi điện đổ quân chi viện ngay. Bọn này chúng tôi thường gọi là Mỹ lết.

Nhiều lần tôi đứng lại bảo anh em quay về, nhưng không ai muốn dừng bước. Một số đồng chí đã thốt lên:

- Xa anh cả rồi.

- Anh Tám ơi! Có dịp về lại 70 anh nhé! (Tôi thứ tám nên anh em gọi vậy).

Những tiếng nói thân thương ấy hàm chứa biết bao nhiêu tình cảm chân thành của nhiều năm gắn bó sống chết có nhau trên khắp các chiến trường Quảng Nam, Quảng Ngãi; nhất là chiến trường Quảng Nam từ Tiên Phước xuống Bắc Tam Kỳ, từ thị xã Tam Kỳ đến huyện Núi Thành, từ vùng tây đến vùng đông các huyện Thăng Bình, Quế Sơn. Ở bất cứ địa danh nào cũng có dấu chân của Tiểu đoàn 70 chúng tôi in dấu, khắc ghi những chiến công. Dẫu sau này trải qua nhiều cương vị công tác, gắn bó với không ít thế hệ cán bộ, chiến sĩ mới, nhưng tình cảm của tôi đối với Tiểu đoàn 70 mãi mãi in sâu không bao giờ phai.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #32 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:38:08 am »

Chương năm

TAM KỲ MỘT THỜI KHÓI LỬA


Ngày 20 tháng 8 năm 1969, tôi về Thị đội Tam Kỳ nhận nhiệm vụ mới. Tình hình cách mạng thị xã Tam Kỳ lúc bây giờ vô vàn khó khăn. Vì sau mùa xuân năm 1968, nhiều cơ sở trên địa bàn thị xã bị lộ. Một số bị bắt, số còn lại không dám hoạt động. Địch điên cuồng tàn sát dã man những cán bộ, đảng viên, gia đình cách mạng không may bị rơi vào tay chúng. Các đường dây liên lạc bị chúng phục kích liên tục nên đội công tác của ta không sao vào được nội ô. Ở vùng ngoại vi thị xã, bọn Mỹ lết hoạt động thường xuyên, nhất là khu vực các xã Kỳ Trà, Kỳ Thạnh, Kỳ Yên và Kỳ Quế. Trên bầu trời, máy bay trực thăng vũ trang, loại cá mập, quần đảo suốt ngày đêm, hễ phát hiện bất cứ một vật gì lạ là chúng phóng tên lửa rốc-két ngay tức thì. Tôi gặp đồng chí Nguyễn Đức Bốn - Bí thư Thị ủy Tam Kỳ và một số đồng chí trong Thị ủy để trực tiếp nắm tình hình và bàn bạc tổ chức lại lực lượng. Để hạn chế tác hại của địch, xây dựng niềm tin chiến thắng cho bộ đội, khôi phục lại cơ sở cách mạng, tôi đề nghị trước hết phải củng cố lại tinh thần, ý chí cho cán bộ, chiến sĩ, tiến hành rà soát nắm lại tình hình các cơ sở trên phạm vi toàn thị xã, nắm chắc số lượng, thủ đoạn hoạt động của địch trên địa bàn và các khu vực lân cận. Đồng thời, ta phải tổ chức một vài trận đánh vào sào huyệt của địch ngay tại nội ô để thị uy, răn đe chúng. Được sự đồng ý của Thị ủy Tam Kỳ, tôi trực tiếp đi chuẩn bị tổ chức lại chiến trường, quyết tâm đánh sâu vào nội ô thuộc khu vực Vườn Lài, Tứ Hiệp, đánh vào quận lỵ Tam Kỳ. Tình hình đã được cải thiện sau hơn một tháng hoạt động, địch bắt đầu co cụm, không dám đi phục kích, hành lang được mở.

Tạm yên tâm với kết quả bước đầu, chúng tôi về củng cố lại lực lượng để tiếp tục thực hiện các trận đánh lớn. Không ngờ niềm vui chiến thắng của cán bộ, chiến sĩ Thị đội Tam Kỳ đang lên thì nỗi đau to lớn đã ập đến. Chúng tôi nhận được tin Bác Hồ ốm nặng và Người đã ra đi khi chưa thực hiện được mong ước về thăm miền Nam ruột thịt. Bầu không khí tang tóc bao trùm lên thị đội. Cả đơn vị nín lặng, qua chiếc rađiô lắng nghe đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đọc điếu văn vĩnh biệt lãnh tụ thiên tài vô cùng kính yêu của dân tộc Việt Nam về cõi vĩnh hằng. Chúng tôi khóc nức nở và hứa với Bác sẽ tiếp tục chiến đấu, đưa lá cờ quyết chiến quyết thắng đến đích cuối cùng. Riêng tôi ngậm ngùi đau xót và tự thề với lòng mình phải làm tròn nhiệm vụ theo lời Bác dặn trước lúc vào miền Nam chiến đấu.

Một thời gian sau, tức ngày 22 tháng 12 năm 1969, tôi được Quân khu quyết định thăng cấp quân hàm từ thượng úy lên đại úy, do anh Trình (tức Đoàn Khuê) ký.

Cuối năm 1969, tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Thị xã Tam Kỳ tôi được giới thiệu và bầu vào cấp ủy, làm Phó Bí thư Thị ủy Tam Kỳ. Nhiệm vụ mới đối với tôi tuy có nhiều vinh quang nhưng cũng rất nặng nề. Vì tôi vừa đảm đương trách nhiệm của Phó Bí thư Thị ủy, vừa làm Thị đội trưởng kiêm Chính trị viên và Bí thư Ban Cán sự Thị đội Tam Kỳ. Cùng một lúc gánh vác nhiều chức trách trong điều kiện chiến tranh là một thử thách to lớn đối với tôi. Vì chỉ cần một sơ suất nhỏ, tôi có thể làm tổn hại đến phong trào cách mạng tỉnh Quảng Nam nói chung, thị xã Tam Kỳ nói riêng, là sự hy sinh xương máu của đồng chí, đồng đội. Do đó, trong thời gian đầu, tôi không khỏi mất ăn, mất ngủ vì lo lắng đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, trong đại hội tôi được mọi người tín nhiệm và quá trình công tác cũng được các đồng chí, đồng đội ủng hộ nên tôi cũng sớm bắt nhịp với yêu cầu nhiệm vụ mới.

Sau nhiều năm rong ruổi trên khắp các chiến trường Quảng Nam, Quảng Ngãi, tôi đã được đón cái Tết đầu tiên ở thị xã Tam Kỳ vui vẻ và ấm cúng. Vật chất chẳng có gì ngoài vài ống mì ông Phật. Tiếng là đón năm mới Canh Tuất nhưng đêm giao thừa của chúng tôi không rượu cũng chẳng bia, thịt cá cũng không, thậm chí gạo cũng thiếu. Song có một thứ luôn đầy ăm ắp, đó là tình cảm đồng chí, đồng đội. Mọi người vui vẻ chúc nhau sức khỏe, bình an, nhiều điều đều tốt đẹp hơn năm cũ. Một số anh em đã nói vui với nhau đây là “cái Tết chay”, chờ giải phóng rồi chúng ta sẽ đón “Tết mặn”. Tuy vậy, nhưng “cái Tết chay” đã đi vào lòng chúng tôi như một kỷ niệm đẹp thời quân ngũ và cũng là lời nhắc nhở về tinh thần chiến đấu của mỗi cán bộ, chiến sĩ Thị đội Tam Kỳ ngày ấy.

Ăn Tết xong, tôi cùng các đồng chí cán bộ Đại đội 18 đi trinh sát khu vực đóng quân của trung đội thám báo ở tại vườn nhãn cận sân vận động đông đường 1. Sở dĩ chúng tôi chọn đây là mục tiêu đầu tiên của năm mới vì cơ sở trong nội ô thông báo bọn này rất ác ôn, chỉ cần nghe tin ở đâu nghi có Việt cộng là chúng lập tức xua quân đi lùng sục, ta cần phải tiêu diệt ngay. Khi đã hoàn tất công tác trinh sát chuẩn bị chiến trường, dự kiến phương án chiến đấu, tôi trực tiếp phổ biến trên sơ đồ cho Đại đội 18. Sau đó, đơn vị tổ chức hành quân tiếp cận mục tiêu, chia lực lượng thành 3 mũi. Bằng phương pháp tiến công bí mật tập kích, chỉ hơn một giờ chiến đấu, Đại đội 18 đã diệt gọn ban chỉ huy đại đội và một trung đội thám báo của địch, thu 12 khẩu súng các loại. Trận này, tôi và đồng chí Kinh - Đại đội trưởng, trực tiếp chỉ huy. Tuy nhiên, điều đáng nói là sau khi hoàn thành nhiệm vụ chủ yếu, trên đường lui quân Đại đội 18 phải đánh địch truy kích cũng gay go ác liệt không kém trận chính thức. Địch đã dùng xe thiết giáp và bộ binh bịt quốc lộ 1, là hướng đơn vị tổ chức lui quân. Chúng tôi đánh trả quyết liệt, bằng mọi giá phải vượt đường 1 để trở về căn cứ. Lực lượng địch ngày một đông, đạn chúng bắn như vãi trấu. Trong khi đó, quân ta vừa chiến đấu xong, vũ khí đạn dược đã vơi đi nhiều. Vì vậy, chúng tôi gặp không ít khó khăn khi bị địch truy kích với quyết tâm cắt đứt đường lui của ta. Có nhiều anh em bị thương và hai đồng chí đã hy sinh. Đơn vị phân công lực lượng thay nhau khiêng thương binh, liệt sĩ, còn lại tập trung đánh địch mở đường lui quân. Tôi vừa chỉ huy chiến đấu, vừa khiêng đồng chí Phường bị thương nặng về căn cứ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #33 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:38:56 am »

Đánh giá chung, trận đánh tuy nhỏ, nhưng đã diệt được một ban chỉ huy đại đội và một trung đội địch. Song nó có ý nghĩa lớn ở chỗ: Đây là bọn ác ôn, nhân dân rất căm thù. Vị trí đóng quân của chúng nằm sâu trong nội ô nên tiếng vang rất lớn, làm náo động cả thị xã Tam Kỳ. Sau đó, địch phải co cụm lại thành các điểm chốt kiên cố, có rào dây thép gai. Tình hình trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đội công tác hoạt động xây dựng cơ sở ở nội ô.

Về cá nhân, trong thời gian công tác ở Thị đội Tam Kỳ, tôi đã hai lần đụng địch phục kích, nhưng đều may mắn thoát hiểm trong gang tấc. Trong đó, có một lần tôi đi chuẩn bị chiến trường cùng với đồng chí Ánh trinh sát. Hai anh em bất ngờ lọt vào ổ phục kích của địch. Trước tình thế nguy nan, tôi vẫn bình tĩnh ném liên tục hai quả lựu đạn vào chỗ bọn địch. Không để chúng kịp phản ứng, tôi hô to: “Xung phong”. Lũ biệt kích tưởng bị Việt cộng tấn công nên vội vàng tháo chạy. Lần đó, chúng tôi vừa thoát hiểm lại vừa đánh được giặc ở cận sân bay Ngọc Bích. Đồng chí Ánh khi ấy mới gần 17 tuổi, da trắng, môi hồng như môi con gái. Song trong chiến đấu, anh rất bình tĩnh, dũng cảm và một lòng theo quân giải phóng. Tiếc rằng, ở một trận đánh sau đó, đồng chí Ánh đã hy sinh. Tâm trí tôi không thể nào quên hình ảnh người chiến sĩ trinh sát đã cùng tôi thoát hiểm năm ấy.

Những năm đầu thập niên bảy mươi của thế kỷ XX, tình hình chiến sự trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói chung, thị xã Tam Kỳ nói riêng đã có sự thay đổi. Ở phía tây và nam thị xã Tam Kỳ, hành lang đã dần dần được khôi phục, cơ sở ta cũng nắm lại được. Để hỗ trợ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, Thị ủy bàn phương án mở rộng phạm vi đánh địch ra phía bắc thị xã. Tôi nhận nhiệm vụ ra Kỳ Thịnh gặp đồng chí Trần Chí Thành, là Thị ủy viên, Đội trưởng đội công tác phía bắc. Ở đây, tôi được cơ sở và đồng chí Trần Chí Thành thông báo, có một đại đội thám báo của địch đang hoạt động ở phía nam Phương Hòa, sát với Tỉnh đường Quảng Tín. Bọn này rất gian ác, thường xuyên tổ chức lùng sục tìm cơ sở, hễ gặp ai nghi ngờ là chúng bắn ngay. Với nhận định nếu để bọn này tồn tại lâu ngày thì chúng có thể phá vỡ một số cơ sở của ta mới khôi phục, tôi báo cáo với thị ủy và tổ chức cho cán bộ V18 cùng tôi đi chuẩn bị chiến trường. Sau đó, chúng tôi về phổ biến trên sơ đồ cho đơn vị tại thôn 5, xã Kỳ Thịnh. Tối 26 tháng 1 năm 1970, đơn vị tiến hành cơ động chiếm lĩnh trận địa chiến đấu. Khoảng 12 giờ đêm, các mũi tiến công đã áp sát mục tiêu. Ngay lập tức, tôi phát lệnh tấn công. Các loại súng, lựu đạn, thủ pháo đồng loạt nổ vang. Quân ta tiến công nhanh như chớp khiến địch trở tay không kịp. Chỉ sau 30 phút chiến đấu, V18 đã diệt gọn đại đội thám báo của địch, thu 35 khẩu súng R15, 4 súng col. Trong trận đánh này, tôi không thể quên tấm gương hy sinh anh dũng của đồng chí Hiền - Trung đội trưởng của Đại đội 18. Anh có vóc người nhỏ con, đặc biệt nhanh nhẹn, đánh giặc rất gan lì. Trận đó, tuy bị thương nặng, nhưng đồng chí Hiền vẫn hô vang: “Anh em tiến lên diệt hết quân thù”. Thi hài của anh đã được đồng đội đưa về thôn 5, xã Kỳ Thịnh an táng. Sự hy sinh của Trung đội trưởng Hiền, tôi luôn ghi mãi trong lòng và làm bài học giáo dục cho anh em sau này.

Đầu năm 1972, đế quốc Mỹ tăng cường đánh phá leo thang ra miền Bắc, nhất là các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng. Trên chiến trường Quảng Nam lúc đó, Tỉnh ủy có chủ trương phải đánh sâu vào hậu phương của địch để chi viện cho miền Bắc. Nhằm mở màn cho đợt hoạt động mới, cũng là để gây tiếng vang trong nội ô, Thị đội Tam Kỳ được giao nhiệm vụ cùng với đội công tác và cơ sở mật tổ chức đưa một khẩu đội cối 60mm và 10 viên đạn, do đồng chí Đi làm khẩu đội trưởng, tổ chức tập kích vào Tỉnh đường Quảng Tín. Đội công tác và cơ sở mật đã dẫn đường cho bộ đội vòng qua nhiều chốt điểm của địch, đưa đội hình vào sát bờ rào của tỉnh đường. Đây là một cơ hội tốt để các đồng chí pháo thủ của quân giải phóng thể hiện khả năng pháo kích của mình. Khẩu đội quyết định lựa chọn mục tiêu tập kích là kho xăng của địch. Bằng kinh nghiệm tham gia chiến đấu và trực tiếp chi viện cho bộ binh tiến công, các anh đã xác định phần tử bắn đặc biệt chuẩn xác. Chỉ sau vài quả “cối lủi”, anh em chúng tôi thường gọi cối 60mm như vậy, kho xăng địch đã bốc cháy sáng rực cả thị xã Tam Kỳ, kèm theo những tiếng ùng oàng. Địch vội vàng báo động hoảng loạn cả tỉnh đường. Nhân lúc chúng chưa xác định được đối phương tấn công từ hướng nào, anh em mình nhanh chóng lui quân an toàn. Sáng hôm sau, đài BBC đưa tin tối hôm qua Việt cộng đã tấn công thị xã Tam Kỳ. Còn Đài tiếng nói Việt Nam tại Hà Nội và một số báo chí hân hoan đưa dòng tít lớn: “Hà Nội gọi Tam Kỳ - Quảng Nam trả lời”.

Tuy nhiên, thời gian này là thời điểm chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn. Bữa ăn hằng ngày của cán bộ, chiến sĩ chỉ có sắn và bột bắp. Cây sắn bị chất độc hóa học của địch thiêu cháy rụi hết lá, bộ đội phải đi nhổ lấy củ để ăn. Còn bột bắp là thức ăn của lợn, anh em vào nhà cơ sở xin về. Trong điều kiện lúc ấy, chúng tôi phải ăn để có sức mà chiến đấu. Những tưởng bột bắp, sắn củ có thể êm đềm nuôi chúng tôi qua cơn đói kém, nhưng không ngờ có một sự kiện xảy ra khiến tôi không sao quên được chuỗi ngày khó khăn ấy. Đó là hôm họp Thị ủy Tam Kỳ, anh Nguyễn Đức Bốn giao cho Thị đội đảm bảo một bữa cơm trưa cho gần 20 đồng chí trong điều kiện gạo, thịt đều không có. Bí quá, tôi đành phải vận động anh em đi nhổ sắn về nấu cho hội nghị ăn. Mọi người vẫn vui vẻ ngồi vào bàn như dự đại tiệc do Thị đội chiêu đãi. Trông các đồng chí đại biểu ăn ngon miệng, tôi cũng yên tâm phần nào. Thực tế lúc đó, ở nhiều cơ quan, anh em vẫn ăn uống như vậy. Không ngờ, khoảng 12 giờ trưa hôm ấy, lúc mọi người mới ăn xong thì đa số đại biểu nôn mửa và kêu đau bụng. Đồng chí y tá gọi tôi, nói:

- Chắc họ bị say sắn rồi thủ trưởng ơi!

- Không sao đâu! Đồng chí theo dõi chặt chẽ rồi kịp thời báo cáo tôi ngay nhé.

Tôi đáp để trấn an, nhưng trong bụng cũng rất lo. Nhỡ xảy ra chuyện gì thì tôi trở thành kẻ có tội với cách mạng. Đang suy nghĩ miên man để tìm cách xử trí, bất chợt tôi nhớ lại hồi còn nhỏ ở nhà đã từng bị say sắn. Mẹ tôi giã rau má và rau muống, lấy nước cho tôi uống một lúc thì hết. Vừa kịp nghĩ đến đấy, tôi liền cử một tổ trinh sát đi cùng với đồng chí Phú Ninh, là chiến sĩ liên lạc của tôi, đi nhổ rau má và rau muống về giã nát lấy nước cho anh em uống mỗi người một bát. Thật là kỳ diệu, chỉ hơn một tiếng đồng hồ sau, các đại biểu đã hết đau bụng và không còn nôn mửa. Chuyện này tuy nhỏ, nhưng khiến tôi nhớ mãi. Bởi vì, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, người chiến sĩ phải chịu bao nhiêu gian lao, ác liệt bởi xe tăng, pháo tầm xa, máy bay B-52, v.v. Song để lo được cái ăn, cái mặc, họ cũng không kém phần gay go, gian khổ. Đại biểu dự hội nghị Thị ủy ăn sắn bị say là một câu chuyện tưởng như hoang đường, không thể nào tin được, nhưng đó là sự thật một trăm phần trăm.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #34 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:39:17 am »

Gần ba năm tôi công tác ở thị xã Tam Kỳ có biết bao kỷ niệm buồn vui. Nhớ làm sao hết được những khó khăn chồng chất buổi ban đầu đổ lên đôi vai người cán bộ trẻ chỉ kinh qua lửa đạn chiến tranh, chưa quen công việc lãnh đạo phong trào cách mạng của một thị xã nằm trong vòng vây quân thù. Khi viết những dòng này, tôi không thể kìm nén nổi xúc động khi nghĩ về các đồng chí, đồng đội của tôi thuở ấy. Nhiệm vụ được giao mới mẻ, khó khăn là thế, song các đồng chí trong Thị ủy, Thị đội và đội công tác luôn dũng cảm, tận tụy trong công tác, chẳng ngại gian khổ hy sinh đã ghé vai cùng tôi gánh vác đưa phong trào đấu tranh vũ trang cách mạng thị xã Tam Kỳ đi lên theo kịp trào lưu của dân tộc. Tôi không thể nào quên hình ảnh anh Đỗ Thế Chấp (còn gọi là Mười Chấp), một con người dũng cảm, mưu trí, có tác phong quần chúng khiến ai cũng mến thương. Sau giải phóng, anh Chấp đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Có thể nói, Mười Chấp là người anh cả của Đảng bộ Tam Kỳ trong thời gian kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, người Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam từ năm 1973 đến năm 1976. Cũng như anh Đỗ Thế Chấp, anh Trần Chí Thành đã khắc ghi vào tâm hồn tôi hình ảnh người cán bộ mẫu mực. Trực tiếp làm việc với anh nhiều lần, tôi luôn ấn tượng bởi tác phong tận tụy trong công tác, dũng cảm trong chiến đấu, thường xuyên đi sâu đi sát cơ sở của người cán bộ phong trào. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, anh Thành đã giác ngộ, tổ chức kết nạp được nhiều đảng viên trong hàng ngũ địch, thậm chí có cả chi bộ trong nghĩa quân. Tết Mậu Thân 1968, Tiểu đoàn 70 đánh được vào Tỉnh đường Quảng Tín chính là nhờ anh em nghĩa quân này. Trần Chí Thành còn là tấm gương tiêu biểu của sự phấn đấu trong công tác. Từ Đội trưởng Đội công tác cánh bắc thị xã đến trước năm 1975, anh được bầu làm Bí thư Thị ủy Tam Kỳ. Ở bất cứ cương vị nào, anh cũng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ do tổ chức giao phó.

Thời gian 3 năm đối với cuộc đời một con người không phải là dài. Nhưng sống trong thời khắc lịch sử mong manh giữa cái sống và cái chết với một bên là phồn hoa phú quý và bên kia là gian khổ ác liệt, ta mới có thể cảm nhận được tình cảm của những người con một lòng cống hiến cho cách mạng, cho dân tộc. Đối với tôi, những năm công tác tại thị xã Tam Kỳ là một trong những phần đời vinh quang nhất. Tôi không thể nào quên những cái tên thân thuộc như: Hoàng Xuân Thọ, Trường Sơn, Nguyễn Quang Hiệp (cả 3 đều là Phó Bí thư Thị ủy), Châu Râu (Ủy viên Ban Thường vụ), Việt Dũng (Bí thư Thị ủy), Thanh Xuân (cán bộ đội công tác, hiện nay là Bí thư Huyện ủy Huyện Phú Ninh), Phan Thanh Đề, Bùi Huy Châu (Chính trị viên phó Thị đội Tam Kỳ), Tâm (cán bộ chính trị thị đội), chiến sĩ Trần Phú Ninh, v.v. Họ là những con người đã sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp cách mạng, trong chiến đấu dũng cảm, gian khổ hy sinh không sờn lòng, điều kiện chiến tranh ác liệt không nản chí... Các anh chính là những dấu son trong lịch sử vũ trang cách mạng thị xã Tam Kỳ, nay là thành phố Tam Kỳ, là những bông hoa trong thời đại Hồ Chí Minh. Tên của các anh mãi mãi lưu danh trong lịch sử đấu tranh cách mạng hào hùng của quê hương Tam Kỳ xứ Quảng. Đồng thời, cũng chính họ đã tiếp sức cho tôi luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ cấp trên giao. Bây giờ, chiến tranh đã lùi xa hàng thập kỷ, nhưng những năm tháng đó vẫn đọng lại trong tôi biết bao nhiêu kỷ niệm khó quên, gợi cho tôi nhớ đến tình cảm mến thương của các đồng chí trong Thị ủy cũng như Thị đội Tam Kỳ ngày ấy.

Một thời gian sau, sức khỏe của tôi bị giảm sút. Mỗi khi trái gió trở trời, các vết thương lại sưng tấy và gây đau đớn. Do đó, cấp trên đã yêu cầu tôi đi điều trị ở Bệnh viện Quân y 17 của quân khu. Nhờ sự chăm sóc tận tình của các y, bác sĩ nên sau gần một tháng điều trị, sức khỏe của tôi đã có phần hồi phục. Những ngày xa môi trường thân thuộc, xa đồng đội “đêm rét chung chăn”, tôi lại nhớ đến lời Bác căn dặn trước khi lên đường trở về miền Nam chiến đấu: “Vào Nam chiến đấu gian khổ lắm. Ăn uống cũng cực khổ lắm. Các chú cố gắng chiến đấu và công tác để sớm đến ngày Bác vào Nam thăm đồng bào và các chú”. Hết nghĩ đến Bác, tôi lại quay sang hồi tưởng về các đồng chí đã hy sinh trong khi cuộc chiến đấu giành độc lập tự do cho dân tộc vẫn chưa đi đến hồi kết. Sau gần một tháng nằm viện, tình trạng sức khỏe của tôi chỉ được cải thiện đôi chút. Vì vậy, Ban chỉ huy Tỉnh đội Quảng Nam có ý định cho tôi đi điều dưỡng ở miền Bắc. Trước sự quan tâm của cấp trên, tôi đã cảm ơn các đồng chí và xin về đơn vị để chiến đấu chứ không đi điều dưỡng. Khi về đến xã Phước Cẩm, huyện Tiên Phước, tôi bất ngờ gặp anh Hoàng Minh Thắng đang làm Chính trị viên Tỉnh đội và anh Đỗ Thế Chấp là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam. Trong hai người, anh Chấp đã gần gũi với tôi, nhất là trên chiến trường Bắc Tam Kỳ và thị xã. Trước đây, chính anh đã xin tôi về công tác tại thị xã Tam Kỳ. Anh Thắng và anh Chấp trực tiếp giao nhiệm vụ cho tôi làm Tỉnh đội phó Tỉnh đội Quảng Nam. Nhận quyết định này, quả thực tôi rất bất ngờ. Vì trước khi rời thị xã Tam Kỳ, tôi chỉ xác định đi chữa bệnh chứ đâu có biết mình chuyển công tác nên không bàn giao công việc cho ai. Bây giờ, tổ chức điều về tỉnh, tôi phải xin phép về trao đổi với anh em. Tôi báo cáo với hai anh suy nghĩ, dự định của mình như vậy. Anh Chấp nói ngay:

- Có chi mà bàn giao. Để đó tôi báo lại cho thị đội, thị ủy, cứ ở đây nghỉ vài hôm rồi bắt tay vào công việc.

Từ đó, tôi chính thức nhận nhiệm vụ làm Tỉnh đội phó Tỉnh đội Quảng Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #35 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:40:19 am »

Chương sáu

MỘT THỜI TRỌNG ĐẠI


Cuối năm 1971, Tỉnh ủy và Ban Chỉ huy Tỉnh đội giao nhiệm vụ cho tôi làm chỉ huy trưởng tiền phương, mở chiến dịch phía tây Tam Kỳ, đánh một số chốt điểm của địch, giữ vùng đã giải phóng, đưa dân từ ấp chiến lược trở về. Lực lượng bộ đội của tỉnh lúc này gồm các đơn vị chủ yếu sau: Tiểu đoàn 70, do đồng chí Nhí - Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Chu - Chính trị viên; Tiểu đoàn 72, đồng chí Thạc - Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Vân - Chính trị viên; Tiểu đoàn 11, đồng chí Oánh - Tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn 74, do đồng chí Dương Mong - Tiểu đoàn trưởng. Quán triệt tinh thần lãnh đạo của tỉnh ủy, các tiểu đoàn vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng, sẵn sàng tham gia chiến dịch lớn. Thời gian này, hội nghị bốn bên ở Pa-ri vẫn là những cuộc đấu trí căng thẳng. Trên mặt trận ngoại giao tuy ta đã giành được một số thắng lợi, được bạn bè quốc tế ủng hộ, nhưng để đế quốc Mỹ ký hiệp định thì lực lượng vũ trang trong nước phải tiếp tục chiến đấu nhằm tạo sức ép lên bàn đàm phán.

 Sau một thời gian chuẩn bị, đến ngày 20 tháng 8 năm 1971, lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam bắt đầu mở màn chiến dịch đánh điểm Chà Vu, Đá Nẻ câu viện. Tiểu đoàn 70 và Tiểu đoàn 72 đã tiêu diệt gọn tiểu đoàn lính bảo an ở Cẩm Khê, Kỳ An. Trên đà thắng lợi ta tiếp tục mở rộng phạm vi chiến đấu, tổ chức đánh chiếm lại Quán Rường, đánh địch phản kích tại khu vực Kỳ Thịnh, buộc chúng phải co cụm lại. Cùng với các hoạt động trên, công tác dân vận cũng được các đơn vị thường xuyên chú trọng. Thực hiện sự chỉ đạo của tỉnh bộ đội đã đưa một số dân trở về lại xã Kỳ Phước. Đồng thời, các đơn vị vẫn tiếp tục đánh địch đi càn để giữ vùng giải phóng.

Rút kinh nghiệm cho cách đánh cứ điểm, tức là sử dụng hỏa lực kết hợp xung lực, hay nói cách khác là sử dụng hỏa lực chế áp, phá hoại công sự kết hợp với dùng sức mạnh đột phá của bộ binh như đánh bộc phá liên tục hoặc sử dụng mìn thổi mở đường; để áp dụng rộng rãi trong chiến đấu trên khắp các chiến trường của tỉnh, Ban Chỉ huy Tỉnh đội phân công nhiệm vụ cho tôi đi chuẩn bị chiến trường ở Hố Rổi, nơi tiếp giáp giữa xã Phú Thọ huyện Quế Sơn và xã Bình Định, huyện Thăng Bình. Bằng kinh nghiệm nhiều năm kinh qua trận mạc, tôi cùng với anh em trinh sát dễ dàng đột nhập vào cứ điểm của địch, kiểm tra cụ thể kết cấu từng lớp rào để chuẩn bị trận địa. Tuy nhiên, sử dụng phương pháp tiến công mới, chúng tôi phải xác định chính xác vị trí bố trí các loại hỏa lực như cối 120mm, cối 81mm, ĐKZ75, hướng bộc phá mở đường, v.v. để đảm bảo khi phát hỏa có thể nhanh chóng thổi tung hàng rào của địch, mở thông cửa mở cho hộ binh nhanh chóng đột kích xung phong tiêu diệt địch bên trong trận địa. Đồng thời, những người đi chuẩn bị cũng phải dự kiến được các vị trí cơ động của hỏa lực khi phát triển chiến đấu đến giai đoạn tiếp theo sau khi cửa mở thông, v.v. Sau khi lập kế hoạch, xây dựng quyết tâm chiến đấu, tôi báo cáo với Ban Chỉ huy Tỉnh đội. Các đồng chí đã nhất trí với phương án và quyết tâm đánh cứ điểm Hố Rổi để làm kinh nghiệm cho những trận đánh tiếp theo. Trên thực tế, trong thời điểm này quân lính của Mỹ trên khắp các chiến trường vẫn còn đông. Hễ ta đánh ở đâu là xe tăng Mỹ đến đó, đặc biệt là máy bay trực thăng vũ trang. Khi khói súng của ta chưa tan đầu nòng đã thấy tên lửa rốc-két của chúng bắn dồn dập xuống trận địa. Do đó, đối với người chỉ huy, khi trinh sát chuẩn bị chiến trường, lập kế hoạch chiến đấu, bên cạnh mục tiêu chủ yếu đánh địch bên trong cứ điểm, cần phải xác định tốt vị trí bố trí trận địa hỏa lực đánh địch trên không khi ta thực hành đột phá cũng như quá trình phát triển chiến đấu.

Được lệnh của Ban Chỉ huy Tỉnh đội, các đơn vị nhanh chóng tổ chức hành quân. Vì đây là trận đánh có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng hình thức chiến đấu tiến công có sử dụng hỏa lực mạnh nên đích thân đồng chí Tỉnh đội trưởng Huỳnh Bá Thừa cùng đi và tham gia chỉ huy trận đánh để kịp thời rút kinh nghiệm cho chiến dịch sau. Lúc đó, tôi là Tỉnh đội phó kiêm Tham mưu trưởng Tỉnh đội. Lực lượng tham gia chiến đấu tại Hố Rổi gồm có Tiểu đoàn 70, Tiểu đoàn 74 và lực lượng của các Huyện đội Quế Sơn, Thăng Bình; mỗi huyện có 2 đại đội bộ binh, 1 đại đội đặc công, 1 đại đội trợ chiến. Sau khi hành quân đến xã Sơn Trung, thuộc huyện Quế Sơn, dưới sự chủ trì của đồng chí Huỳnh Bá Thừa, tôi tiến hành triệu tập chỉ huy các đơn vị để tổ chức hạ đạt mệnh lệnh chiến đấu trên sa bàn.

Dọc đường hành quân, tuy bộ đội luôn giữ nghiêm kỷ luật, thực hiện đúng quy định “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, nhưng chúng tôi vẫn bị phục kích. Cụ thể, tối 20 tháng 2 năm 1972, khi đội hình hành quân trên đường qua thôn 2, xã Phú Thọ thì gặp địch phục kích ở đường 105. Chỉ huy Tiểu đoàn 70 đã kịp thời tổ chức lực lượng đánh trả, song do địch nổ súng trước buộc ta phải tiêu diệt một số tên. Số lính địch sống sót vội bỏ chạy về căn cứ. Cũng trong đôm hôm đó, Tiểu đoàn 70, dưới sự chỉ huy của đồng chí Nhí, đồng chí Chu cùng với Tiểu đoàn 74, do đồng chí Dương Mong chỉ huy và lực lượng tiền phương của tỉnh, đã hành quân về tập kết tại thôn 2, xã Phú Thọ để chuẩn bị đánh cứ điểm Hố Rổi. Trong thời điểm này, đối với tôi có một chuyện bất ngờ xảy ra và để lại trong trí nhớ một kỷ niệm đẹp về tình đồng đội. Đó là, tối 20 tháng 12, khi nhận được báo cáo của các đơn vị về việc tập kết quân số, bố trí đội hình chiến đấu, tôi bèn xem đồng hồ để kiểm tra đối chiếu với thời gian hiệp đồng chiến đấu đã quy định. Nhưng đồng hồ của tôi không có li-mi-nơ (dạ quang) nên không xem được giờ. Đang loay hoay tìm nguồn sáng để soi, bất chợt tôi phát hiện thấy chiếc đồng hồ trên tay đồng chí Đội trưởng Đội công tác Phú Thọ có vệt sáng lân tinh. Tôi vội quay sang hỏi giờ để kịp thời chỉ đạo các nhiệm vụ tiếp theo. Không ngờ đồng chí đội trưởng đã tặng luôn cho tôi chiếc đồng hồ để dễ xem giờ đánh trận Hố Rổi. Chiếc đồng hồ kỷ vật đã đi theo suốt cuộc đời binh nghiệp. Đến bây giờ, dù đã hơn bốn mươi năm trôi qua, nhưng tôi vẫn còn sử dụng và nó còn chạy tốt.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #36 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:41:00 am »

Khi các lực lượng tham gia trận đánh cứ điểm Hố Rổi đã cơ bản về vị trí tập kết, sẵn sàng cơ động chiếm lĩnh trận địa, xây dựng công sự chiến đấu thì có một biến cố bất lợi đã xảy ra. Sáng ngày 21 tháng 2, bất ngờ có hai chiếc máy bay trinh sát, loại máy bay bà già và 5 chiếc trực thăng, cũng loại máy bay trinh sát nhưng kiểu tàu rọ, quần lượn trên bầu trời thôn 1 và thôn 2, xã Phú Thọ, huyện Quế Sơn. Chúng bay thấp đến mức cánh quạt vè vè thổi bạt cả lá cây, thậm chí có nơi có nguy cơ bị lộ vì cây cối ngụy trang bị gió thổi nghiêng ngả. Trong khi đó, đội hình của tỉnh đội đã triển khai trên các địa bàn như sau:

Tiểu đoàn 70 và Tiểu đoàn 74 đứng ở thôn 2 và một phần thôn 1, xã Phú Thọ.

Sở chỉ huy tiền phương của tỉnh đội đứng ở phía đông của núi Ông Lặng, thuộc thôn 1, xã Phú Thọ.

Lực lượng của Huyện đội Quế Sơn đứng ở đông xã Phú Thọ, dưới đường sắt.

Lực lượng của Huyện đội Thăng Bình đứng ở đông cầu Ông Triệu.

Trong khi máy bay địch đang quần lượn trên bầu trời thì đồng chí Tỉnh đội trưởng vì lý do sức khỏe, phải về tuyến sau, giao quyền chỉ huy cho tôi. Vì thế, tại vị trí chỉ huy tiền phương của tỉnh đội lúc đó, tôi là người quyết định cao nhất. Tình huống bất ngờ xảy ra khiến tôi phải thường xuyên căng mắt để quan sát và kịp thời đề ra biện pháp xử trí. Vì qua động thái của địch, tôi xác định quân ta đã bị chúng phát hiện. Cùng lúc đó, pháo binh từ Tuần Dưỡng, núi Quế bắt đầu đánh cấp tập vào núi Ông Lặng và thôn 2. Khi anh Năm ra phía sau, tôi cử 2 đồng chí vệ binh đi cùng.

Tình hình ngày càng trở nên phức tạp, có phần bất lợi cho ta. Trên không, 5 chiếc máy bay trực thăng vũ trang vẫn vè vè quần lượn, có 4 chiếc đã hạ thấp độ cao để quan sát. Chúng bay rà sát ngọn tre và phát hiện được hầm của sở chỉ huy tỉnh đội. Ngay lập tức, bọn giặc lái điều khiển để máy bay treo đứng yên một chỗ cho những tên lính ngồi trong khoang ném lựu đạn và bắn xối xả xuống khu vực sở chỉ huy. Sau đó, địch tiếp tục ném hỏa mù để hạ xuống bắt sống cán bộ ta. Lúc này, nhiệm vụ cơ bản của chúng tôi là đánh cứ điểm Hố Rổi trong công sự vững chắc để rút kinh nghiệm nên các lực lượng vẫn còn giữ bí mật. Nhưng tình hình chiến sự diễn ra quá bất ngờ và chuyển biến mau lẹ. Một đồng chí chiến sĩ vệ binh đã bị thương ngay hầm chỉ huy. Đường dây thông tin hữu tuyến điện bị rốc-két và pháo binh địch bắn đứt nhiều đoạn, vì thế thông tin liên lạc bị tắc nghẽn. Để giữ bí mật, máy thông tin vô tuyến 2 oát chưa được phép phát tín hiệu. Trong khi đó, tốp máy bay thứ hai gồm 2 chiếc tiếp tục lao xuống trước hầm chỉ huy. Tôi nhanh chóng chộp lấy khẩu súng AK của đồng chí vệ binh bị thương, nhằm vào đầu chiếc máy bay đầu tiên siết cò. Tên ác quỷ vừa mới dùng lựu đạn đánh tung cửa hầm chúng tôi bị trúng đạn, bốc cháy và rơi xuống trước hầm chỉ huy của tôi khoảng 20 mét. Không hiểu do chủ quan hay vì bay quá gần nên khi chiếc thứ nhất bị cháy, chiếc máy bay thứ hai vẫn chưa kịp bay lên. Tôi nghiến răng dồn hết căm thù xả trọn băng đạn vào đầu chiếc thứ hai. Nó bay lảo đảo rồi bốc cháy và rơi xuống đồi Ông Lặng, phía sau sở chỉ huy. Không để chậm trễ, vì sớm muộn gì chúng cũng sử dụng hỏa lực mạnh tập kích vào trận địa, tôi ra lệnh cho sở chỉ huy tiền phương cơ động về trực tiếp chỉ huy các Tiểu đoàn 70 và 74, đồng thời lệnh mở máy 2 oát liên lạc nối lại đường dây hữu tuyến, về phía địch, sau khi hai chiếc trực thăng bị bắn cháy, toàn bộ số máy bay còn lại vội bay lên cao. Đúng như nhận định của ta, địch sử dụng 4 chiếc máy bay phản lực bay vào ném bom ở núi Ông Lặng và thôn 2. Tiếp đến, chúng bắt đầu đổ quân bằng trực thăng xuống khu. vực chiến sự vừa xảy ra. Cứ 10 chiếc thành một tốp, địch đổ liền 10 đợt xuống cánh đồng của thôn 2, xã Phú Thọ. Quan sát trên chiến trường, tôi thấy chúng đổ quân xong và bộ binh đã đánh vào làng. Trong chiến tranh, có những tình huống tưởng như hoàn toàn bị động, nhưng chỉ cần bình tĩnh một chút thì ta có thể tận dụng được sơ hở của địch để xoay chuyển được tình hình. Trận đánh ở thôn 2, Phú Thọ có thể được coi là một minh chứng. Thực tế, địch không thể ngờ ta đã tập trung một lực lượng lớn như vậy tại đây. Chờ cho địch thu gọn đội hình, tôi ra lệnh nổ súng và chỉ huy Tiểu đoàn 70 xuất kích bao vây toàn bộ lực lượng địch; đồng thời, truyền lệnh cho Huyện đội Quế Sơn từ đường sắt đánh lên, Huyện đội Thăng Bình từ cầu ông Triệu đánh qua; chỉ đạo Tiểu đoàn 74 dùng hỏa lực 12,7mm bắn máy bay, cối 81mm đánh vào đội hình bộ binh của địch, chi viện cho Tiểu đoàn 70 xung phong tiêu diệt gọn đại đội trinh sát của địch. Sau hai giờ chiến đấu quyết liệt, ba mũi tiến công của ta đã hợp lại trước cánh đồng thôn 2, xã Phú Thọ, diệt gọn đại đội trinh sát của Sư đoàn 2 ngụy. Lực lượng địch chết tại chỗ 85 tên. Ta bắt sống 15 tên và bắn cháy 5 máy bay trực thăng. Đêm hôm ấy, địch tiếp tục bắn pháo sáng và sử dụng pháo binh bắn vào Phú Thọ, nhưng quân ta đã về nơi trú ẩn an toàn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #37 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:41:33 am »

Sau trận đánh, tôi tổ chức đi tìm anh Năm Cảnh. Song tìm mãi không được, buộc lòng tôi phải quyết định chuyển đội hình về căn cứ để bảo toàn lực lượng. Còn tôi và 2 chiến sĩ thông tin 2 oát là Tiến và Triển cùng với du kích địa phương ở lại tiếp tục tìm anh Năm. Sau một ngày, chúng tôi vẫn không thấy tăm hơi của người Tỉnh đội trưởng. Tôi điện về sở chỉ huy cơ bản của Tỉnh đội đề nghị tiếp tục tìm kiếm. Hết ngày thứ 2, đến ngày thứ 3 vẫn chưa có tín hiệu khả quan. Bất ngờ, đến tối ngày thứ 3, khi chúng tôi đang lần mò đến từng bụi cây, ngọn cỏ thì có mùi hôi bốc lên. Tôi đoán là có đồng chí nào hy sinh hoặc bị thương ở gần đây, liền bảo hai chiến sĩ bò thêm một đoạn. Ngay ở giữa cánh đồng, chúng tôi đã gặp một đồng chí y tá tiền phương bị thương ở đầu gối, vết thương đã có dòi. Ba anh em chúng tôi thay nhau vừa khiêng đồng chí, vừa vác súng vừa mang máy về hang đá Quế Sơn. Lúc này, đồng chí Tiến còn hai lon gạo, tôi còn một củ sâm. Chúng tôi gom cả gạo và sâm đưa cho đồng chí bị thương; đồng thời gửi lại cho du kích để chăm sóc. Không ngờ, đồng chí y tá khóc và nói: “Thủ trưởng và các anh đi thì em sẽ chết. Cho em đi theo với”. Ba anh em đành phải thay phiên nhau khiêng đồng chí ấy về căn cứ, chấp nhận bỏ dở cuộc tìm kiếm. Sáng hôm sau, chúng tôi mới về đến căn cứ Hòn Tàu. Cũng trong thời điểm này, Mỹ tiếp tục đổ quân xuống Sơn Thượng, Sơn Trung để truy kích ta, nhưng các đơn vị đã lui về căn cứ an toàn.

Một tuần sau đó, chúng tôi mới nghe tin anh Năm đã hy sinh. Địch bắn anh ngay tại chân cứ điểm Hố Rổi. Chúng biết anh là Tỉnh đội trưởng, vì trong túi còn có quyết định bổ nhiệm Tỉnh đội trưởng của quân khu nên tổ chức an táng rất trọng thể. Chúng còn cho một trung đội lính bồng súng chào theo nghi lễ. Những thông tin này, chúng tôi có được do cơ sở báo lên và theo đài quân sự của địch loan tin. Về cá nhân, sau trận đánh này, tôi cũng được cấp trên khen thưởng. Ngoài ra, lúc lên đến căn cứ, tôi cũng có tin vui nho nhỏ là quân khu đã có quyết định chính thức tôi làm Tỉnh đội phó kiêm Tham mưu trưởng và thăng quân hàm từ đại úy lên thiếu tá. Quyết định này do anh Hai Mạnh (tức đồng chí Chu Huy Mân) ký.

Sau đợt hoạt động đầu năm 1972, Quân khu 5 họp tổng kết, rút kinh nghiệm. Tham dự hội nghị này, tôi được đồng chí Tư lệnh Quân khu Chu Huy Mân khen ngợi. Đặc biệt, anh Chu Huy Mân đã trực tiếp tặng tôi khẩu súng ngắn K59 mà anh đang sử dụng. Tôi vô cùng xúc động, lắp bắp cảm ơn vị Tư lệnh Quân khu. Từ đó, khẩu K59 trở thành báu vật của đời tôi, được tôi nâng niu gìn giữ suốt chặng đường dài binh nghiệp. Ngày 10 tháng 10 năm 2007, tôi đã bàn giao khẩu súng K59 số hiệu 6H-3189 cho Phòng Truyền thống Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Nam với mục đích góp phần giáo dục truyền thống đấu tranh cách mạng của quê hương Quảng Nam.

Sau trận đánh hụt ở Hố Rổi, cơ quan tiền phương tỉnh đội về lại địa điểm cơ bản ở Sơn - Cẩm - Hà, huyện Tiên Phước. Đầu tháng 3 năm 1972, Ban Chỉ huy Tỉnh đội lại tiếp tục giao nhiệm vụ cho tôi làm chỉ huy tiền phương ở hướng Bắc Tam Kỳ. Tình hình địch trên chiến trường Quảng Nam lúc này đang có lợi cho ta. Những thất bại liên tiếp của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đã khiến địch bị động đối phó và suy yếu thêm. Tuy nhiên, vẫn còn một số lượng lớn cố vấn và không quân Mỹ trực tiếp chi viện cho quân ngụy. Do đó, cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất đất nước của quân và dân ta nói chung còn nhiều khó khăn.

Trước tình hình đó, chúng tôi lại tiếp tục chuẩn bị chiến trường theo hướng được phân công. Anh em đã có kinh nghiệm trong chiến đấu và thông thuộc địa hình nên công việc chuẩn bị không mấy khó khăn. Ngày 15 tháng 4 năm 1972, các đơn vị tổ chức chiếm lĩnh, xây dựng xong hệ thống công sự trận địa, sẵn sàng chiến đấu. Tôi ra lệnh nổ súng. Tiểu đoàn 70 lập tức tiến công lên các cao điểm Trà Vu, Dương Con và núi Thị. Do giữ vững yếu tố bí mật, đảm bảo tập kích bất ngờ, hiệp đồng chặt chẽ nên chỉ với hơn 30 phút chiến đấu, đơn vị đã làm chủ hoàn toàn trận địa. Quân địch còn lại vội vàng tháo chạy bị Tiểu đoàn 72 tổ chức đón lõng tiêu diệt gọn một tiểu đoàn lính bảo an. Kết quả, trong 20 ngày chiến đấu liên tục, quân ta đã giải phóng lại các xã Kỳ Phước, Kỳ An, Kỳ Thịnh và Kỳ Quý của huyện Bắc Tam Kỳ, đồng thời tiếp tục chốt giữ và đánh địch phản kích hòng tái chiếm.

Để mở rộng vùng giải phóng, quân ta chuyển hướng tiến công sang các cứ điểm khác trên địa bàn huyện Bắc Tam Kỳ. Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 4 năm 1972, mục tiêu tiến công của ta là chốt điểm đồi Ông Cẩm, Ao Lầy, thuộc xã Kỳ Thịnh. Trận này, tôi trực tiếp chỉ huy. Khi chúng tôi vừa vào đến bờ rào ngoài cùng của địch thì đồng chí trinh sát vấp mìn, hy sinh tại chỗ. Tôi đi sát bên cạnh nên cũng bị thương nặng. Tuy nhiên, đội hình của ta lúc đó đã triển khai xong. Mặc dù bị thương, nhưng tôi vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu. Tôi ra lệnh cho tiểu đoàn nổ súng tấn công theo mệnh lệnh đã được hiệp đồng trên sa bàn. Anh em biết tôi bị thương nên ai nấy đều quyết tâm tiêu diệt bằng được cứ điểm Ao Lầy để trả thù cho tôi. Kết thúc trận đánh, tôi được đồng đội đưa về CK 140 điều trị, tức Bệnh xá 140. Hơn một tháng nằm viện, tình cảm của anh em đồng chí, đồng đội dành cho tôi thật mặn nồng. Các đơn vị cử người thay nhau đến thăm hỏi. Trước sự ân tình đó, lòng tôi như ấm áp hẳn lên. Vết thương vì thế càng chóng lành để tôi sớm trở về đơn vị tham gia chiến đấu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #38 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:42:12 am »

Tháng 10 năm 1972, ta tiến hành bước 3 của chiến dịch. Tôi tiếp tục được Ban Chỉ huy Tỉnh đội giao nhiệm vụ làm chỉ huy trưởng tiền phương của tỉnh đội, đưa quân xuống vùng đông Thăng Bình tiêu diệt một số sinh lực địch, giành lại vùng giải phóng cũ, đưa dân bị dồn ở ấp chiến lược về làng. Sau hơn mười ngày chiến đấu, các tiểu đoàn 70, 72 và 74 đã đánh được 10 cứ điểm, diệt hơn 200 tên địch, mở rộng vùng giải phóng ra các xã Bình Dương, Bình Đào, Bình Hải, Bình Sa, Bình Triều, Bình Giang của huyện Thăng Bình. Cuộc sống của quân và dân ta thời điểm này cực kỳ gian khổ. Bởi vì vùng đông năm nay khác nhiều so với những năm trước. Cây cối, làng mạc bị địch cày ủi trơ gốc rễ. Nhà cửa thì chúng đốt phá, san bằng. Tuy được trở về làng cũ, nhưng đời sống của người dân nơi đây thật khốn đốn. Đồng bào phải gác tạm bợ từng tấm tôn để che mưa, che nắng, ở được ngày nào hay ngày đó. Chỗ ở đã khó khăn, cái ăn cái mặc càng khó khăn hơn. Nhân dân phải đào mót những củ khoai còn sót lại trên những mảnh ruộng bị bom đạn giặc cày đi xới lại để ăn cho qua ngày chờ mùa màng vụ tới. Tôi vô cùng cảm phục lòng dân nơi đây dành cho cách mạng. Mặc dù gian khổ như vậy, nhưng đồng bào vẫn một lòng bám trụ. Du kích ở trong lòng dân, có dân là có Đảng, có du kích là có lực lượng.

Cuối năm 1972, đơn vị hành quân về phía tây huyện Thăng Bình. Cũng trong thời gian này, chúng tôi nhận được tin Hiệp định Pa-ri sắp được ký kết. Song địch vẫn ngoan cố, chúng dây dưa kéo dài tới ngày 27 tháng 1 năm 1973 mới ký. Ngay sau đó, cấp trên có chỉ thị mở chiến dịch đánh địch giữ đất, giành dân, giữ các điểm chốt cắm cờ. Một lần nữa, tôi lại nhận nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy các đơn vị tiền phương: Tiểu đoàn 70, Tiểu đoàn 72, Tiểu đoàn 74 và Tiểu đoàn 11 đánh chiếm một số chốt điểm, giành lại vùng giải phóng của huyện Bắc Tam Kỳ như các xã: Kỳ Thịnh, Kỳ Quý, Kỳ An và các xã Phước Tân, Phước Tiên thuộc huyện Tiên Phước. Riêng Tiểu đoàn 11 tổ chức tiến công địch và chốt giữ lại các xã Bình Phú và Bình Trị của huyện Thăng Bình.

Sau Hiệp định Pa-ri, tôi nghĩ rằng: về cấp chiến lược, Mỹ rút quân khỏi miền Nam là thắng lợi, nhưng bọn ngụy Sài Gòn đâu dễ buông xuôi. Bằng chứng là sau khi lính Mỹ về nước, chúng đã tổ chức tuyển quân, bắt lính ráo riết trên khắp địa bàn miền Nam. Đồng thời, chính quyền của tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu cũng tăng cường quân số cho các tỉnh miền Trung, những nơi xung yếu dễ bị ta tấn công, v.v. Liên hệ với cuộc kháng chiến chống Pháp, tôi cũng suy ngẫm: “Bài học tập kết năm 1954 vẫn còn nguyên giá trị. Trên thực tế, kẻ thù không bao giờ tự mình đầu hàng”. Tuy nhiên, lúc đó cũng có người nói “xanh đồng, đông chợ”, đề nghị rút lực lượng của ta trong vùng địch ra. Vấn đề này đã được đưa ra hội nghị tỉnh ủy, tỉnh đội bàn bạc nhiều lần. Dưới sự chủ trì của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Minh Thắng, tôi đã bảo vệ quan điểm của mình về việc không rút quân ra khỏi vùng địch tạm chiếm.

Lý giải cho quan điểm trên, tôi cho rằng: Trên chiến trường Quảng Nam, quân ngụy còn mạnh; hơn nữa bản chất của chúng rất ngoan cố, khi đã rút ra, quân ta không dễ gì vào lại. Bằng cách liên hệ với bài học tập kết năm 1954 và Xuân Mâu Thân năm 1968, tôi đã thuyết phục được một số đại biểu tham dự hội nghị thống nhất quan điểm với tôi. Cuối cùng, đồng chí Hoàng Minh Thắng đã kết luận tất các các lực lượng của ta vẫn đứng nguyên vị trí. Do đó, lúc ấy, có tỉnh rút du kích cơ sở ra vùng giải phóng, nhưng Quảng Nam thì không làm việc đó. Ta vẫn cắm cờ, chốt giữ và lực lượng du kích vẫn giữ nguyên trong lòng địch. Vì vậy, khi địch phản kích, ta đã sử dụng ngay các lực lượng vũ trang đang ở trong vùng bị tạm chiếm tiếp tục chiến đấu.

Đầu năm 1974, tôi được quân khu triệu tập về để nghe phổ biến nhiệm vụ phản công đánh địch lấn chiếm giữ vùng giải phóng. Trong thời gian này, có một câu chuyện vui được anh em chúng tôi nhắc lại như một kỷ niệm về nghệ thuật quân sự lúc bấy giờ. Đó là, sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đà - Trần Thận cùng đi từ làng Hồi về Hiệp Đức với Phó Tư lệnh Quân khu 5 Nguyễn Bình. Anh Thận hỏi:

- Làm thật hay búa tạ trong kim?

- Đánh thu hồi và tiếp tục đánh. Anh Bình cười trả lời.

Về đến cơ quan tỉnh đội đóng tại Suối Cát, xã Bình Lâm, huyện Thăng Bình, tôi báo cáo lại tình hình, yêu cầu nhiệm vụ mới của tỉnh đội với ban chỉ huy. Các đồng chí lại cử tôi làm chỉ huy trưởng tiền phương cánh thị xã Tam Kỳ, có nhiệm vụ phối hợp với Sư đoàn bộ binh 2 của Quân khu 5 đánh địch phản kích mở ra vùng giải phóng. Cụ thể, Sư đoàn bộ binh 2 đánh đồn Đức Phú, chốt lại câu viện để diệt ngụy, vì lúc này trên chiến trường chủ yếu còn lại quân ngụy. Nhiệm vụ của lực lượng vũ trang tỉnh đội, do tôi phụ trách, là tiêu diệt cụm cứ điểm Dương Huê, Dương Cháy và Dãy Thám xã Kỳ Long, huyện Bắc Tam Kỳ; đồng thời đánh địch giải phóng lại các xã Kỳ Long, Kỳ Quế.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #39 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2020, 08:42:43 am »

Nhận nhiệm vụ xong, tôi cùng các đồng chí cán bộ tiểu đoàn tổ chức đi trinh sát, nghiên cứu chiến trường. Qua trinh sát thực tế hệ thống công sự, tình trạng vũ khí của địch, tôi đề ra cách đánh: Đối với cao điểm Dương Huê, Dương Cháy do một tiểu đoàn lính bảo an chiếm giữ, ta dùng hỏa lực do đồng chí Dương Mong - Tiểu đoàn trưởng chỉ huy, dùng ĐKB, H12 bắn thẳng vào cứ điểm, cối 120mm đồng thời bắn vào cứ điểm Dương Huê. Ở chân núi Dương Huê làm một con lăn bằng lá cây có đường kính khoảng 2 mét, dài từ 8 đến 10 mét, sử dụng một trung đội bộ binh của Tiểu đoàn 11 lăn lên nghi binh làm cho địch ở cứ điểm hoảng loạn”. Khi các đơn vị đã hoàn tất công tác chuẩn bị, đêm mùng 1 tháng 6 năm 1974, tôi trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 11 đánh chiếm các cứ điểm Dương Huê, Dương Cháy và Dãy Thám. Có một điều thuận lợi khi ta tổ chức tiến công địch lúc này là các đơn vị đã được trang bị vũ khí khá đầy đủ. Diễn biến trận đánh đúng như dự kiến của ta. Khi hỏa lực tập trung bắn phá chuẩn bị, địch trong cứ điểm đã hoảng loạn không dám chống cự. Nhìn thấy con lăn khổng lồ của ta, binh lính vội vàng tháo chạy về phía đông, hướng Long Sơn 1 và Long Sơn 2 của xã Kỳ Long. Chúng không ngờ bị rơi đúng vào trận địa phục kích của Tiểu đoàn 72 đã bị ta diệt gọn. Như vậy, sau một ngày chiến đấu quyết liệt bằng chiến thuật dùng hỏa lực áp chế nghi binh, tổ chức đón lõng, quân ta đã xóa sổ hoàn toàn một liên đội bảo an (tương đương một tiểu đoàn), giải phóng lại các xã Kỳ Long, Kỳ Quế. Sau đó, Tiểu đoàn 11 ở lại chốt giữ và đánh địch phản kích, phối hợp với Sư đoàn 2 diệt gọn cứ điểm Đức Phú, mở ra một vùng giải phóng rộng lớn từ Kỳ Yên đến Kỳ Trà, Kỳ Quế, Kỳ Long, Phước Tân, Phước Tiên, Kỳ Quý, Kỳ Thịnh.

Cũng bằng cách đánh trên, tôi tiếp tục chỉ huy Tiểu đoàn 72 và Tiểu đoàn 74 dùng ĐKB, H12 bắn thẳng, sử dụng cối 120mm đánh thẳng vào cứ điểm Chà Vu, Núi Nẻ của xã Kỳ Phước, buộc địch tháo chạy. Đồng thời, Tiểu đoàn 72 cũng đã bố trí lực lượng phục sẵn diệt gọn một liên đội bảo an. Quân ta tiếp tục thu hồi hai xã Kỳ An, Kỳ Phước và một phần Kỳ Mỹ. Tổng kết đợt hoạt động phản công thu hồi lại vùng giải phóng, lực lượng vũ trang của tỉnh đã chiến đấu mưu trí, dũng cảm, không những thu lại được những vùng giải phóng trước kia mà còn mở rộng thêm địa bàn quản lý của ta trên khắp giải đất Tam Kỳ. Sau chiến dịch, các đơn vị trở về tiếp tục củng cố để sẵn sàng chiến đấu các trận tiếp theo.

Cuối năm 1974, tôi được quân khu triệu tập chuẩn bị chiến dịch mùa xuân năm 1975. Lúc này, tình hình trên chiến trường đã khác trước rất nhiều. Thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đế quốc Mỹ đã tăng cường trang bị vũ khí cho ngụy quân. Vì thế, máy bay, xe tăng của địch vẫn còn nhiều, về phần ta cũng có nhiều thay đổi. Chúng ta đã có đường xe ô tô từ miền Bắc vào đến các huyện Hiệp Đức, Trà My. Cuộc sống của bộ đội được cải thiện rõ rệt. Anh em đã bắt đầu đi lên căn cứ để nhận gạo và các loại thực phẩm khô như: rau muống, bột trứng, lương khô, v.v. Tuy nhiên, khi nói đến thời cơ miền Nam sắp giải phóng hoàn toàn thì không phải ai cũng tin. Tỉnh ủy Quảng Nam có chủ trương đánh vùng đông vu hồi, đông Tam Kỳ. Một vài đại biểu tham dự tỏ ý chần chừ chưa muốn đánh vì thời cơ giải phóng miền Nam chưa tới. Bất luận các ý kiến này, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Minh Thắng khẳng định: “Hy sinh một phần ba tỉnh ủy cũng phải đánh”. Trực tiếp tham dự hội nghị, tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến trên của đồng chí Bí thư.

Khoảng tháng 10 năm 1974, Khu ủy Khu 5 và Tư lệnh Quân khu 5 giao nhiệm vụ cho tôi làm Tỉnh đội trưởng tỉnh Quảng Nam. Lúc lên nhận nhiệm vụ, tôi chỉ được các anh giao bằng miệng. Sau này, khi có quyết định bằng giấy tờ chính thức do Tư lệnh Quân khu Chu Huy Mân ký ngày 15 tháng 10 năm 1974 (Quyết định số QĐ/50TL) có thêm chữ Q, tức là Quyền Tỉnh đội trưởng. Còn lúc ấy, tôi cũng không quan tâm có chữ Q hay không, vì mục tiêu chiến đấu của mình là giải phóng quê hương, chứ không phải là để thăng quan tiến chức, làm ông này ông nọ. Do đó, mãi đến sau giải phóng Quảng Nam, tôi để ý xem lại quyết định mới thấy chữ Q.

Trở lại thời điểm cuối năm 1974, tôi được đồng chí Võ Chí Công, còn gọi là Năm Công, là Bí thư kiêm Chính ủy Quân khu 5 và đồng chí Chu Huy Mân - Tư lệnh Quân khu 5 kiêm Phó Bí thư Khu ủy Khu 5 giao nhiệm vụ chỉ huy chiến dịch tổng hợp địa phương giải phóng Quảng Nam. Nghĩa là, sử dụng toàn bộ lực lượng của tỉnh từ phía tây Thăng Bình xuống phía đông vu hồi và phía đông thị xã Tam Kỳ để tiêu diệt địch, giải phóng nhân dân. Đồng thời, kéo giữ Sư đoàn 3 ngụy từ Thăng Bình trở ra để cho bộ đội chủ lực của quân khu tập trung tiêu diệt quân địch từ Phước Lâm, Tiên Phước đến Tam Kỳ, tiêu diệt Sư đoàn 2 ngụy và liên đoàn biệt động ngụy. Nhận nhiệm vụ trên giao thật vinh dự nhưng cũng rất nặng nề, gian khó. Bởi vì tình hình phía đông lúc bấy giờ, cứ mỗi xã có từ 5 đến 6 chốt điểm của địch. Với quân số và trang bị hiện có của tỉnh đội không dễ dàng giải phóng ngay được. Tuy nhiên, bản thân tôi tin tưởng là chiến dịch này khác với chiến dịch khác. Sự khác nhau đó được thể hiện ở chỗ thành phần tham gia gồm có quân chủ lực, quân địa phương, có pháo của quân khu chi viện. Đặc biệt, trên chiến trường đã xuất hiện xe tăng của quân giải phóng, thực sự là mũi đột kích mạnh của ta. Cơ cấu của Ban Chỉ huy Tỉnh đội lúc bấy giờ cơ bản đảm bảo về quân số, đủ mạnh để chỉ huy chiến dịch. Ngoài tôi là Quyền Tỉnh đội trưởng còn có các đồng chí: Tham mưu trưởng Vũ Thành Năm, Trưởng ban tác chiến Hà Đức Y cùng với các đồng chí Tham mưu phó: Lịch, Nghĩa, Trịnh; trong đó, đồng chí Trịnh là Tham mưu phó phụ trách dân quân; đồng chí Đặng Vân - Chủ nhiệm thông tin. Phần lớn các đồng chí là cán bộ tập kết. Sau năm 1959 trở về quê hương chiến đấu và rèn luyện nhiều năm nên có nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu. Được làm việc trong một tập thể như vậy, tôi tin chắc mình sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM