Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:11:16 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đường tới toàn thắng  (Đọc 16859 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #70 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2021, 02:04:41 pm »

TRẬN CHIẾN ĐẤU ÁC LIỆT BẢO VỆ CẦU RẠCH CHIẾC


HỒ SĨ THÀNH


Trên năm hướng tiến công vào Sài Gòn thì hướng đông là xung yếu nhất đối với địch, bởi đây là tuyến quốc lộ 1 chạy thẳng vào sào huyệt cuối cùng của Mỹ - ngụy, tập trung số đông lực lượng của ta.

Sau khi “cánh cửa thép” Xuân Lộc của địch bị đập tan (ngày 21 tháng 4), quân ta đã tiến rất gần Sài Gòn. Trên trục đường số 1 là hướng tiến quân của Quân đoàn 4 và Quân đoàn 2. Từ Biên Hòa tới Sài Gòn có ba cầu quan trọng, cần phải bảo vệ bằng mọi giá cho xe tăng và binh khí kỹ thuật nặng của quân ta hành tiến là cầu Đồng Nai, cầu Rạch Chiếc và cầu Sài Gòn (còn gọi là cầu Tân Cảng). Trong số này, cầu Rạch Chiếc nhỏ và ngắn, dễ bị phá hỏng, nên Bộ Chỉ huy chiến dịch cử lực lượng tinh nhuệ tới đánh chiếm và bảo vệ, quyết không cho địch đánh phá trong giai đoạn quyết định của chiến dịch.


Trước đây, khi khởi đầu Tổng tiến công mùa Xuân 1975, theo chỉ thị của cấp trên, các lực lượng vũ trang địa phương có nhiệm vụ dàn mỏng căng kéo lực lượng địch, đồng thời tăng cường phá hoại giao thông, cầu cống để cản trở, chia cắt, cầm chân chúng, thì giờ đây, việc tối quan trọng là phải bảo vệ được các cầu trên những tuyến đường chính dẫn vào Sài Gòn như cầu Hóa An, Bình Triệu, Đồng Nai, Tân Cảng (phía bắc và phía đông), cầu Bông, cầu Xáng (phía tây bắc), cầu Bến Lức, An Lạc (phía tây nam), cầu An Hạ (phía tâv)... Nếu các cầu này bị địch chiếm giữ hoặc đánh sập sẽ gây nhiều bất lợi cho ta và làm chậm tốc độ tiến công.


Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch, Lữ đoàn đặc công 316 và một đại đội của Trung đoàn đặc công - biệt động 116, cấp tốc điều quân tái đánh bọn địch cố thủ ở hai đầu cầu Rạch Chiếc. Bộ đội địa phương huyện Thủ Đức có nhiệm vụ đánh chiếm và giữ cầu Sài Gòn (còn gọi là cầu Tân Cảng).


Địch cố thủ trên cầu Rạch Chiếc khoảng hai trung đội trước đây, nay được tăng cường lực lượng gấp ba và được lệnh “tử thủ” ngăn chặn quân chủ lực ta. Đây được coi như một “nút chặn” sau cùng, hy vọng bảo vệ “thủ đô” Sài Gòn của chúng. Các căn cứ địch ở xung quanh sẵn sàng chi viện ứng cứu khi Rạch Chiếc bị tấn công, vị trí này cách trung tâm Sài Gòn khoảng trên 10 ki-lô-mét.


Các đơn vị đặc công - biệt động nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu với khí thế và quyết tâm rất cao. Trong thời gian chờ lệnh nổ súng tiến công, cán bộ, chiến sĩ phải trú ém giữa đồng trống, dưới bưng sình, chịu đựng cái nắng như thiêu đốt và nhịn khát vì thiếu nước ngọt. Nếu không được đồng bào trong ấp chiến lược tiếp tế lương thực, nước uống thì việc bám trụ, giữ bí mật đội hình và thực hành tác chiến sẽ gặp khó khăn hơn nhiều.


Đêm 27 rạng 28 tháng 4, khoảng 3 giờ sáng, khi Tiểu đoàn 4 Thủ Đức bắt đầu đánh chiếm cầu Sài Gòn thì Lữ đoàn 316 nổ súng mãnh liệt tấn công chốt địch trên cầu Rạch Chiếc. Địch phản ứng quyết liệt bằng tất cả các loại súng... Pháo, cối ở một số bốt xung quanh cũng cấp tập bắn vào trận địa để ứng cứu đồng bọn. Nhưng với lối đánh sở trường thọc sâu, chia cắt, các chiến sĩ đặc công đã tiêu diệt, bắt tù binh và đánh tan rã bọn lính chốt cầu, làm chủ trận địa sau hơn một giờ chiến đấu liên tục.


Mờ sáng ngày 28 tháng 4, được máy bay, tàu chiến và xe tăng yểm trợ, quân ngụy tổ chức tái chiếm cầu Rạch Chiếc từ ba hướng. Chiến sự diễn ra vô cùng ác liệt. Ở phía đông cầu, Z22 và Z23 đặc công - biệt động đánh bật nhiều đợt phản kích của xe tăng và bộ binh địch. Nhưng nhờ vào sự tăng viện của liên trường Thủ Đức, lại có xe tăng dẫn đầu đột phá, địch phản kích rất mạnh hòng chiếm lại trận địa. Do súng đạn bị hư hỏng, tiêu hao, các chiến sĩ ta phải dùng cả vũ khí thu được của địch để chiến đấu. Nhiều chiến sĩ bị thương vong do súng hết đạn. Trước sự phản kích điên cuồng của địch, một mũi tiến công của ta tạm phải rút lui. Khi vượt qua bãi trống và băng sông dưới tầm hỏa lực của địch, hàng chục cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh.


Dưới chân cầu Rạch Chiếc, một bộ phận của Tiểu đoàn 81 làm nhiệm vụ chốt giữ cầu phải đẩy lùi nhiều đợt phản kích của xe tăng, bộ binh địch, có tàu chiến dưới sông yểm trợ. Nhiều toán địch cố vượt qua điểm chốt chặn của Z22, Z23, lao lên mặt cầu. Dưới sông, ca nô địch dùng hỏa lực khống chế cho bộ binh xông lên chiếm lô cốt đầu cầu phía đông. Trận chiến giằng co trong khói lửa mù mịt tràn ra cả mặt sông. Nhiều chiến sĩ ta leo lên lô cốt dùng lựu đạn, thủ pháo ném tới tấp vào đội hình địch rồi xông lên đánh “giáp lá cà” với chúng. Hàng chục tên địch bị diệt tại chỗ, nhưng số còn lại vẫn cố sống cố chết bám trên cầu. Địch tiếp tục cho xe tăng bắn mạnh, chế áp hỏa lực của ta cho bọn bộ binh tiến lên cầu, nhưng các đợt phản kích của chúng đều bị đánh bật trở lại...


Đến trưa 28 tháng 4, do bị thương vong nặng, đơn vị giữ cầu buộc phải rút khỏi trận địa, dưới tầm oanh kích dày đặc của địch. Mặc dù vậy, anh em vẫn cố gắng đưa thương binh và vũ khí ra khỏi khu vực cầu Rạch Chiếc. Bộ phận chốt chặn ở ngã ba Cát Lái cũng rút về rạch Ruột Ngựa để củng cố. Lúc này đã có hơn 40 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, hàng chục đồng chí bị thương, vũ khí hao hụt, nhưng tinh thần anh em vẫn giữ vững. Tin các đơn vị chủ lực trên các hướng đang thần tốc tiến về Sài Gòn, làm mọi người thêm phấn chấn, quyết tâm hoàn thành trọng trách trong giờ phút lịch sử của dân tộc. Sau khi hội ý rút kinh nghiệm và để thực hiện quyết tâm của trên, đêm 28 tháng 4, hơn 100 cán bộ, chiến sĩ còn lại của Lữ đoàn 316 và Trung đoàn 116, tổ chức tiến công chiếm lại cầu Rạch Chiếc. Trong đêm tối, các chiến sĩ đặc công dùng hỏa lực B40, B41, thủ pháo... bí mật tiếp cận, bất ngờ nổ súng đánh bật xe tăng và bộ binh ngụy khỏi mặt cầu. Địch hoảng loạn tháo chạy về phía đông Rạch Chiếc, bỏ lại nhiều xác đồng bọn và xác xe tăng. Đơn vị nhanh chóng làm chủ toàn bộ trận địa, chốt giữ và bám trụ, tiếp tục đánh lui nhiều đợt phản kích mới của địch.


Lúc này tàn quân địch ở Long Khánh, Biên Hòa, Bà Rịa... rút chạy về Sài Gòn đều bị chặn lại ở phía đông cầu Rạch Chiếc.

Sáng 30 tháng 4, địch cố gắng phản kích lần cuối hòng tìm lối thoát một cách tuyệt vọng trước sức chiến đấu kiên cường của các chiến sĩ đặc công - biệt động cảm tử. Chúng trút bỏ quân trang, vứt súng đạn, chạy tán loạn vào hai bên đường số 1. Trong lúc đó, phía tây cầu, Tiểu đoàn 81 đánh bật nhiều đợt xung phong của địch từ cầu Đen lên và từ giang đoàn 306 kéo tới, giữ vững trận địa đến cùng.


Ở phía Sài Gòn, lực lượng địa phương Thủ Đức cũng đã chiếm được cầu Tân Cảng sau nhiều trận đánh giành đi giật lại với địch.

Vào thời điểm này, bộ đội chủ lực cũng đã đánh dứt điểm các căn cứ địch ở Hố Nai, Biên Hòa, Tam Hiệp... tiến về cầu Đồng Nai, Rạch Chiếc.

Như vậy, sau gần ba ngày đêm chiến đấu cực kỳ dũng cảm, các đơn vị đặc công - biệt động của Miền đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ nguyên vẹn cầu Rạch Chiếc, tạo điều kiện thuận lợi cho cánh quân phía đông tiến thẳng vào Sài Gòn. Trong trận đánh ác liệt này, 52 chiến sĩ, cán bộ đã anh dũng hy sinh trước giờ toàn thắng. Trong trận quyết chiến chiến lược giải phóng thành phố Sài Gòn, đây là tập thể hy sinh lớn nhất trước cửa ngõ thành phố. Chúng ta mãi mãi ghi nhớ công ơn những chiến sĩ đã ngã xuống cầu Rạch Chiếc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #71 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2021, 02:07:22 pm »

“ỐC ĐẢO” ĐA-VÍT - THẾ ĐỨNG CÁCH MẠNG GIỮA SÀI GÒN


MINH AN


Theo một điều khoản của Hiệp định Pa-ri ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973 nhằm lập lại hòa bình ở Việt Nam, có một phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) trong Ủy ban Liên hiệp quân sự bốn bên, đóng ở Sài Gòn để giám sát việc thi hành hiệp định của các bên. Do sợ ta gây ảnh hưởng chính trị giữa thủ đô ngụy quyền Sài Gòn nên chúng bố trí “trụ sở” của phái đoàn ta trong sân bay Tân Sơn Nhất để cô lập với thế giới bên ngoài, nhất là đối với nhân dân Sài Gòn. Nơi ở của phái đoàn ta là một khu nhà xoàng xĩnh, có tên gọi là trại Đa-vít (Davis). Đã thế, địch còn chăng dây thép gai bao bọc để dễ bề kiểm soát.


Phái đoàn quân sự của ta lúc đầu do Thiếu tướng Hồ Xuân Anh phụ trách.

Tính đến đầu năm 1975, phái đoàn ta sống, làm việc giữa vòng vây quân địch đã gần ba năm. Các đồng chí vẫn giữ vững lập trường đấu tranh, không khoan nhượng với kẻ thù; chấp hành nghiêm túc và nhanh chóng các chỉ thị của cấp trên; đồng thời báo cáo về ta những tin tức, dư luận của các giới đồng bào và địch đã nắm được, kể cả quan sát bằng mắt thường. Thấy máy bay địch dồn về Tân Sơn Nhất nhiều quá, đậu gần cả khu nhà ở của phái đoàn các đồng chí trong trại điện ra đề nghị bắn pháo vào sân bay. Bức điện có đoạn viết:

"Chúng tôi sẽ đào hầm và giữ vị trí chiến đấu tại đây. Nếu địch ngoan cố, pháo binh ta cứ bắn thật mãnh liệt, đừng lo cho chúng tôi ở trong này. Chúng tôi rất lấy làm vinh dự sẵn sàng nhận sự hy sinh để chiến dịch toàn thắng, sự nghiệp cách mạng toàn thắng”.


Khu nhà phái đoàn ta ở, nền đất, tường ván, xung quanh rào dây thép gai. Tình huống hiện tại rất khó khăn trong việc đào công sự, giao thông hào. Cán bộ, chiến sĩ phải đào hầm ban đêm, dùng xẻng, cuốc, cọc dây thép gai và cả dao găm để đào. Đất đào lên không chuyển đi đâu được, phải ép xuống nền nhà hoặc cho vào bao tải chất vào kho. Trước ngày ta Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, trong trại Đa-vít, ta vẫn duy trì nền nếp sinh hoạt bình thường: giao ban sáng, tập trung công việc cho hai diễn đàn còn lại là diễn đàn của Ủy ban quốc tế và diễn đàn dư luận. Anh chị em luôn vững vàng; các bãi thể thao, tăng gia vẫn đông người.


Đầu năm 1975, phái đoàn ta nhận được điện khẩn của Bộ Chỉ huy Miền thông báo sẽ có một đơn vị đặc công vào để đưa tất cả cán bộ, chiến sĩ ra vùng giải phóng. Đảng ủy Đoàn đã họp và lãnh đạo đi đến thống nhất ở lại chiến đấu, tham gia trận đánh cuối cùng, đó là một vinh dự cho người cầm súng.


Quyết tâm của Đoàn được cấp trên chấp thuận. Từ ngày 18 tháng 4, toàn trại Đa-vít bắt tay vào công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu. Công sự từng nhà được nối liền với nhau qua hào giao thông; có cả hầm chỉ huy và hầm quân y... tạo thành một khu vực chiến đấu hoàn chỉnh. Việc ta đào hầm hào trong trại Đa-vít, địch không phát hiện được, mặc dù xung quanh có tới 10 chòi canh và lính canh gác ngày đêm.


Nhân dịp có việc trao đổi một số nhân viên Ban Liên hiệp quân sự bị mắc kẹt hôm ta đánh Buôn Ma Thuột, Bộ Chỉ huy chiến dịch chủ trương đưa ra mấy đồng chí thật cần thiết, còn anh em vẫn ở lại, trong đó có đồng chí Trưởng đoàn. Và khi làm kế hoạch cho pháo bắn vào Tân Sơn Nhất, Bộ Chỉ huy nhiều lần dặn các đồng chí phụ trách pháo binh bảo đảm an toàn cho khu vực phái đoàn ta.


Khi pháo của ta bắn chuẩn bị phần tử đầu tiên, một số đạn theo quy luật tản mát đã rơi vào trại Đa-vít, khiến 2 đồng chí cảnh vệ hy sinh, 2 sĩ quan bị thương.


Trong thế trận chung rộng lớn đã hình thành chuẩn bị bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh, phái đoàn quân sự của ta ở Tân Sơn Nhất có thế đứng riêng của mình hiên ngang giữa lòng địch. Thế đứng tiêu biểu cho cách mạng, cho “đại nghĩa thắng hung tàn”, góp phần thắng lợi cho chiến dịch lịch sử giải phóng Sài Gòn.


Chuyện phái đoàn quân sự của ta trú đóng trong trại Đa-vít tưởng chỉ có thế, ai dè trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975 lại trở nên “quan trọng” như vậy.

Trước đây Thiệu ra sức cô lập trại Đa-vít vốn đã “thất thế" về nhân hòa địa lợi. Đã thế chúng còn giở những trò bỉ ổi như bao vây, khiêu khích, gây nhiều khó khăn cho phái đoàn ta trong công tác và sinh hoạt như cắt điện nước, không cho tiếp xúc với bên ngoài...


Thế nhưng những ngày này, khi “sa cơ thất thế", chúng lại mò đến đây cầu cạnh với hy vọng mong manh cứu vớt được chế độ “Việt Nam cộng hòa”. Đại sứ Ma-tin, nhân vật quan trọng nhất lúc này của Mỹ xin được gặp đại diện phái đoàn ta, nhưng bị từ chối. Chúng còn xin phép được bay ra Hà Nội để "thương lượng” ngừng bắn (!), thật trơ tráo hết chỗ nói.


Trong ngày 29 tháng 4, trại Đa-vít phải tiếp ba đoàn của ngụy quyền Sài Gòn đến “làm việc”: khoảng 12 giờ là tổng trưởng Nguyễn Văn Diệp, nhà thầu Nguyễn Văn Hạnh và kỹ sư Tô Văn Cang; khoảng 15 giờ là linh mục Chân Tín và giáo sư Châu Tâm Luân; khoảng 16 giờ, ngoài hai vị này còn có thêm luật sư Trần Ngọc Liễng. Hầu hết là những nhân vật có "máu mặt" của chính trường Sài Gòn lâu nay.


Đối với phái đoàn đầu tiên, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn ủy nhiệm đại úy Tài ra gặp trao bản tuyên bố của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (ra ngày 26-4-1975) và cho biết phái đoàn không có chức năng gặp và thảo luận với các “sứ giả”; đề nghị phía Sài Gòn hành động như tuyên bố của Chính phủ cách mạng... Đối với đoàn thứ hai, thứ ba, phó đoàn tiếp với nội dung tương tự, nêu rõ quan điểm lập trường của ta... Dù sao ta cũng rất lịch sự, đàng hoàng với kẻ đang thua trận.


Các “sứ giả” xin ra về. Ta nói pháo Quân giải phóng đang bắn mạnh vào sân bay, rất nguy hiểm, không nên về.


Cuối cùng cả ba người đồng ý ở lại trong hầm tránh pháo của Đoàn. Các “sứ giả” trước còn được Đoàn mời ăn chuối, sản phẩm lao động của anh em trong những ngày “trụ bám” ở trại Đa-vít...

Trước lập trường kiên quyết và cứng rắn của phái đoàn quân sự ta tại trại Đa-vít, ngụy quyền Sài Gòn không thực hiện được ý định "thương lượng" để "ngừng bắn" nhằm cứu vớt chế độ "Việt Nam cộng hòa" đang trong cơn hấp hối.


Cùng thời gian đó, trước sức tấn công như vũ bão của đại quân ta từ năm hướng tiến vào nội đô Sài Gòn, quan quân Mỹ - ngụy phải hoảng loạn tháo chạy. Đúng 11 giờ 30 phút, lá cờ của Quân giải phóng tung bay trên nóc dinh Độc Lập báo hiệu giờ toàn thắng!


Và cũng từ giờ phút ấy, nhiệm vụ của phái đoàn quân sự ta ở trại Đa-vít đã kết thúc một cách tốt đẹp. Câu chuyện của các “sứ giả” Việt Nam cộng hòa đã khép lại chương cuối của một cuộc chiến tranh. “Ốc đảo” Đa-vít đã trở thành ký ức của những chiến sĩ quân đội cách mạng kiên cương hiên ngang trong lòng địch, như một khoảng trầm trong bản hòa ca Đại thắng mùa Xuân 1975.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #72 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2021, 07:25:58 pm »

ĐÓN XE TĂNG


Nhà văn HÀN THẾ KHƯƠNG
Nguyên cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam (năm 1975)


Ba Đỗ, một sĩ quan ngụy vừa làm binh biến dẫn tôi và Tám Minh, cán bộ binh vận, vào một ngôi nhà gạch cách lộ 22 chừng năm mươi thước. Quanh nhà trồng những cây quý như sao, gõ, giá ti... Có một ít cây ăn trái. Chúng tôi bước qua cổng. Từ ngoài đã thấy một chiếc xe Jeép lùn, sơn trắng đậu ở sân. Chủ nhà có ở nhà. Ông mập, đen, tóc húi cua. Ba Đỗ lên tiếng:

- Chào Tư Sang nghen!

Chủ nhà bước ra cửa đón, bắt tay anh Ba:

- Sao Việt cộng đánh lung tung mà đi đâu đây? Anh đào ngũ rồi à?

Ba Đỗ nói:

- Không đào ngũ mà đem nguyên tiểu đoàn trù bị của sư đoàn hai lăm giao cho Việt cộng.

- Sao không đánh mà giao? - Tư Sang hỏi.

Anh Ba cười:

- Quân khu 1, quân khu 2, quân khu 3 đi đứt rồi. Việt cộng sắp kéo quân vô dinh Độc Lập mà còn đánh chác gì. Ê! Cho tôi mượn chiếc xe Jeép chở hai ông Việt cộng này vô Sài Gòn trước coi.

- Tình hình lộn xộn, tụi nó lấy chiếc xe của tôi đó.

Ba Đỗ thở ra:

- Mất chiếc xe này thì còn xe khác. Thầy Tư đâu hết xe mà sợ. Phải không?

Tư Sang cười:

- Thôi! Vô lấy đi!

- Đủ xăng chớ?

- Bình xăng đầy. - Tư Sang móc tiền đưa cho Ba Đỗ: - Nếu thiếu thì ghé trạm xăng mua thêm. Tiền đây!

Ba Đỗ cầm tiền:

- Anh Tư chơi ngon hén!

Ba Đỗ vào ga-ra lùi xe và chạy ra cổng. Chúng tôi chào và cám ơn chủ nhà, lên xe Jeep chạy ra quốc lộ một.


Tiếng súng ở căn cứ Đồng Dù vẫn nổ. Nhưng chỉ một lúc sau thưa dần rồi êm luôn. Ba Đỗ lái xe phóng nhanh tới Củ Chi. Ồ! Trước chi cảnh sát và quận lỵ đã phấp phới hai lá cờ nửa xanh nửa đỏ sao vàng to tướng. Ai treo cờ vậy? Chẳng lẽ Quân đoàn 3 đã đến đây. Chúng tôi dừng xe. Bà con xung quanh bu lại. Tám Minh hỏi:

- Bộ đội đã đến đây chưa mà bà con dám treo cờ? Không sợ à?

Một người đàn ông đứng cạnh xe gắn máy bên lề đường chỉ một phụ nữ đi phía trước:

- Má Bảy đó! Hồi nãy má kéo bà con ra đây đông lắm. Tụi quốc gia sợ bỏ chạy, má với mấy chị treo cờ lên đó.

Ba Đỗ hỏi tiếp:

- Hồi sáng tối giờ hai bên đánh nhau. Anh có nghe căn cứ Đồng Dù ra sao không?

- Ồ! - Người đàn ông nói, kéo dài giọng: - Đánh chác gì. Chỉ bắn nhau một lúc là bị Việt cộng tràn ngập tóm cổ luôn sư trưởng Lý Tòng Bá.

Ba Đỗ cười nói với Tám Minh:

- Đã quá! Sư trưởng bị bắt làm tù binh rồi. - Anh hỏi anh Tám: - Tiếp tục đi nghen. Qua Hóc Môn đến sân bay Tân Sơn Nhất.

- Đi chớ! - Tám Minh nói gọn.

Chúng tôi chào bà con. Xe rồ máy phóng nhanh lên phía trước.


Đường nhựa êm ru. Ba Đỗ cho xe chạy tốc độ cao phóng gần một giờ mới tới Hóc Môn. Tụi chi khu cảnh sát và trường huấn luyện Quang Trung đã bỏ chạy. Bà con đã treo cờ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên các công sở của địch. Nhiều nhà ở hai bên quốc lộ cũng treo cờ đỏ sao vàng hoặc nửa xanh nửa đỏ sao vàng.


Xe chạy tiếp vào Sài Gòn. Ngã tư An Sương im ắng. Gần tới cầu Tham Lương thấy một số người đàn ông mặc quần cụt ở trần đi lẫn với bà con trên xa lộ Đại Hàn. Ba Đỗ hỏi Tám Minh:

- Anh Tám có biết mấy cha đó là ai không?

- Ai vậy?

- Lính tuột quần áo chạy trốn.

Quả vậy. Xe đi một lúc, chúng tôi thấy nhiều bộ quần áo rằn ri bỏ bên lề đường. Chẳng ai buồn lượm.

Bỗng ở phía sân bay Tân Sơn Nhất súng nổ rộ lên. Chủ yếu là tiếng súng nhỏ. Chốc chốc xen vào những tiếng nổ to. Ba Đỗ thắng xe lại nói:

- Sân bay Tân Sơn Nhất nằm sát quốc lộ 1. Ở đó còn đánh nhau, sợ không qua được. Để tôi lái sang đường khác tới Bà Quẹo.

Tám Minh nói:

- Anh coi được thì cứ đi.

Xe chạy tới đầu một con đường đá đỏ. Ba Đỗ nói:

- Ta quẹo vô đường này.

Anh vừa xoay vô lăng thì một loạt đạn từ phía bên kia đường bắn sang. Tôi cảm thấy thùng xe bị trúng đạn nhưng không ai bị thương. Ba Đỗ nhấn ga. Xe vọt sâu vào con đường đá đỏ.


Ba Đỗ lái xe chạy đường tắt qua Tân Quy rồi đi thẳng về Bà Quẹo. Ở đây cuộc chiến đấu giữa ta và địch còn tiếp diễn. Người đi thưa thớt hơn vùng ngoài. Nhưng một số nơi đã treo cờ nửa đỏ nửa xanh, sao vàng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Những đồ đạc lính ngụy cởi ra bỏ chạy đầy đường: quần áo rằn ri, nón sắt, dây nịt, bi đông...


Trời đã về chiếu. Ánh nắng chiếu trên đường phố đã dịu lại. Bóng những cây cao ven phố trải dài trên mặt đường xe đang chạy, Ba Đỗ đạp thắng dừng lại trước một ngôi nhà to, đóng kín cổng. Anh nói:

- Chưa biết tình hình ở trung tâm Sài Gòn ra sao? Ghé nhà ông bạn tôi hỏi thăm cái đã.

Anh bước xuống đến cổng bấm chuông. Một lúc sau một người phụ nữ bước ra mở cổng. Chị đẫy đà, xinh xắn.

- Chị Năm! Anh Năm Thảo có ở nhà không? - Ba Đỗ hỏi.

- Có chớ! - Chị nói: - Bây giờ còn đi đâu được. Việt cộng đánh khắp nơi. Việt Nam cộng hòa sắp tiêu rồi. Mời anh Ba và các anh vào nhà!

Chị Năm mở to cổng. Ba Đỗ lên xe chạy vào cái sân rộng. Trên sân ngổn ngang gạch, cát, xi măng, sắt cây. Xe đậu bên hông nhà. Năm Thảo ra tận hàng ba đón khách:

- Chào anh Ba! Ở đâu mà có xe ngon vậy. Việt cộng rượt tóe khói rồi phải không?

Anh Ba chỉ tôi và Tám Minh:

- Việt cộng đây!
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #73 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2021, 07:28:04 pm »

Anh Năm chủ nhà dè dặt bắt tay chúng tôi. Chúng tôi vào nhà, ngồi chung quanh bàn. Cả ghê và bàn đều cẩn xà cừ. Chị Năm sai người giúp việc đem trà và thuốc lá ra tiếp khách.

Anh Năm rót nước mời chúng tôi. Ba Đỗ bỏ vào túi hai gói salem. Anh cầm tách lên uống nước rồi nói:

- Tiểu đoàn của tụi này đã làm binh biến, quay về với cách mạng. Hai anh đây là cán bộ binh vận. Chúng tôi vào Sài Gòn trước, nắm tình hình. Đại quân sắp vô tới sân bay Tân Sơn Nhất.

Anh Năm cười:

- Vậy cha theo Việt cộng rồi à? Hồi trước tôi đã nghi cha là Việt cộng nằm vùng rồi. Trung úy đại đội trưởng gì mà không biết nhậu, không đi gái, không ăn hiếp lính, giống như mấy cha thầy chùa.

Ba Đô hỏi:

- Bây giờ biết tôi là Việt cộng thì tính sao đây?

Anh Năm lại cười:

- Đãi một bữa cơm được không?

- Ô kê! - Ba Đỗ nói.

Năm Thảo quay ra sau nhà gọi vợ:

- Mình ơi! Làm một bữa cơm thật ngon đãi mấy cha Việt cộng này nghen!

Ba Đỗ hỏi:

- Anh có nắm được tình hình Sài Gòn đến hôm nay ra sao không?

Anh Năm nói:

- Quân Việt cộng chưa tới, ba thằng cha cộng hòa đã chạy mất hết rồi. Bây giờ Việt cộng nằm vùng như anh đều khắp, anh không thấy bà con treo cờ Việt cộng khắp nơi sao? Anh nghe ra-đi-ô coi. Bắt đài Giải phóng hay đài Hà Nội cũng được. Thường thường tối họ nói tin trong ngày.

Ba Đỗ cười:

- Xúi dại vậy cha? Sĩ quan Việt Nam cộng hòa mà đi nghe đài Cộng sản.

Năm Thảo trề môi:

- Ba thằng sĩ quan như anh ngu lắm. Tối ngày nghe mấy thằng Mỹ với mấy thằng tâm lý chiến nói: “Nào Mỹ thắng! Thiệu thắng! Rút lui chiến lược! Tử thủ”. Rốt cuộc Việt cộng đánh tới bên đít, nhảy không kịp, bị bắt sống như sư trưởng Lý Tòng Bá của anh đó! Rồi cái thằng tướng trẻ gì của anh nữa đi ra tử thủ đâu ở Nam Trung Bộ cũng bị Việt cộng thộp cổ. Họ đuổi tướng Việt Nam cộng hòa chạy như đuổi vịt, còn bắt tướng Việt Nam cộng hòa như bắt ếch xỏ xâu.

Ba Đỗ thở ra:

- Ôi tướng tá gì, thây kệ mẹ tụi nó. Thằng nào chưa bị bắt thì dông theo Mỹ hết rồi. Ô kê! Anh Tám! Lấy cái ra-đi-ô nghe đài ta thử coi tình hình đến đâu rồi.

Sẵn có mang theo ra-đi-ô, tôi đưa cho Minh.

- Anh Tám nghe đài rồi tóm tắt cho anh em biết.

Tám Minh cầm ra-đi-ô mở vô-lum, đưa lên tai nghe. Chị Năm từ trong nhà bước ra:

- Anh Năm ơi! Dọn trà đi! Để đem cơm ra.

Năm Thảo tự tay dọn trà vào góc bàn. Người giúp việc mang khăn trải lên bàn rồi mang cơm và thức ăn ra. Chị Năm bới cơm:

- Giặc giã, đồ ăn khan hiếm, kiếm không ra thứ ngon.

Chị Năm than. Nhưng đối với chúng tôi ở trong rừng mới về nó như bữa tiệc rồi. Cơm gạo thơm, bốn năm món thức ăn. Tám Minh nói to:

- Khoan ăn. Để tôi nghe hết bản tin đài Hà Nội. Một chút nữa thôi. À! Được rồi. - Anh để ra-đi-ô xuống: - Này nghen! Quân đoàn mình đã chiếm Tân Uyên, đang trên đường đi tới Lái Thiêu để đánh chiếm khu các binh chủng ngụy ở Gò Vấp. Đó là hướng bắc nghen! Còn hướng tây bắc của mình thì Quân đoàn 3 đã chiếm Đồng Dù của Ba Đô rồi nghen! Sư hai mươi lăm tan rã. Quân đoàn chuẩn bị đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và bộ tổng tham mưu ngụy.

Năm Thảo và Ba Đỗ vỗ tay rôm rốp.

- Hoan hô hướng tây bắc của ta!

- Hoan hô!

- Mấy cha làm mất trật tự quá. - Tám Minh nói to: - Nè! Nghe nè! Còn nữa. Ở hướng tây nam nghen. Binh đoàn 232 đã chiếm thị xã Hậu Nghĩa, diệt Đức Hòa, bức rút Đức Huệ. Lực lượng thọc sâu đã vượt qua sông Vàm Cỏ Đông tiến chiếm Bà Hom. Ôi! Nhiều lắm không nhớ hết. Tóm lại trong ngày hôm nay, ta đã tiêu diệt và làm tan rã hầu hết các sư đoàn ngụy đóng ở vòng ngoài, chiếm hết các cầu quan trọng, chuẩn bị đồng loạt tiến vô nội đô.

Ba Đỗ nói:

- Như vậy là hết mẹ nó rồi. Anh Năm đem sâm banh ra đi.

Năm Thảo đứng lên:

- Có ngay, có ngay!

Anh Năm quay ra mở tủ kiếng phía sau bàn lấy ra chai sâm banh và ly. Rượu vọt ra phóng vô mặt Tám Minh. Anh Tám vuốt rượu trên mặt, cười nói:

- Mấy cha tếu quá! Chưa kết thúc chiến tranh mà ăn mừng rồi.

Ba Đỗ rót sâm banh ra ly:

- Tôi với anh cá nè! Nội ngày mai là dứt điểm.

Tám Minh cười:

- Chuyện đã biết rồi. Ai thèm cá.

Năm Thảo đưa ly rượu lên:

- Nào! Chúc mừng Việt cộng đè bẹp Việt Nam cộng hòa.

Chúng tôi cụng ly và uống rượu. Anh Năm để ly rượu xuống hỏi:

- Còn tụi Mỹ thế nào? Thấy trực thăng bay quá trời vậy?

- À! Quên chớ! - Tám Minh cười: - Đài Hà Nội cho biết Mỹ đã có lệnh tập trung trực thăng di tản hết tụi Mỹ và bọn tay sai cỡ bự ra khỏi Sài Gòn.

Ba Đỗ hỏi:

- Còn cỡ nhỏ không cho đi à?

- Chỗ đâu mà chở cho hết!

- Chúng bám càng trực thăng thì sao?

- Đạp xuống.

Năm Thảo nói:

- Nghe nói tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh Mỹ phải rút ra hết khỏi Sài Gòn mà!

Ba Đỗ cười ha hả:

- Cái lệnh đó mới buồn cười. Không mở đường cho hươu chạy để chúng nó nằm ấp trong nhà tù của Việt cộng hết à!

Anh Năm rót sâm banh ra các ly rồi cầm ly giơ lên:

- Nào! Một lần nữa mừng Việt cộng đè bẹp Việt Nam cộng hòa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #74 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2021, 07:30:17 pm »

Chúng tôi uống rượu. Sau đó ăn cơm. Đêm đã đến từ lâu. Từ phía trung tâm Sài Gòn, tiếng máy bay trực thăng vọng lại không dứt. Và xung quanh thành phố các loại súng nổ liên hồi, lúc ở hướng này lúc ở hướng kia. Pháo tầm xa của ta không biết đặt ở đâu bắn liên tiếp về sân bay Tân Sơn Nhất.


Tám Minh sốt ruột rủ Ba Đỗ lên xe đi nữa. Nhưng Năm Thảo nói:

- Đi thì coi chừng nghen! Có khi chết ở hai phía đó. Việt cộng bắn lầm, lính Việt Nam cộng hòa làm loạn bắn trả thù.

Tám Minh hỏi Ba Đỗ:

- Anh có biết đường đi tắt đến đại lộ Phan Thanh Giản (nay là đường Điện Biên Phủ) không?

Ba Đỗ cười:

- Thổ địa đây! Anh muốn đến chỗ nào tôi cũng có cách lũi. Nhưng sáng mai mới đi được. Đêm nay tạm ngủ nhà anh Năm.

Tám Minh đành chịu:

- Được!

Tôi hỏi anh:

- Đến đại lộ Phan Thanh Giản làm gì?

- Xe tăng của Quân đoàn 2 có thể theo hướng này đến dinh Độc Lập.

Chúng tôi ở nhà Năm Thảo. Anh chị Năm sắp xếp giường, nhưng chúng tôi bảo trải chiếu dưới đất giăng mùng ngủ. Ngủ dưới đất vừa mát vừa đề phòng bất trắc.

Trời vừa sáng. Ở sân bay Tân Sơn Nhất, súng nổ dữ dội. Chúng tôi ngồi dậy. Một lúc sau súng lại nổ ở căn cứ lính dù Hoàng Hoa Thám. Tám Minh nói:

- Quân đoàn 3 đánh hai nơi: căn cứ Hoàng Hoa Thám và sân bay Tân Sơn Nhất, ở sân bay Tân Sơn Nhất chắc địch có phản kích, súng mới nổ dữ vậy. - Anh vỗ vai Ba Đỗ - Ta đi anh Ba!

Chúng tôi lên xe. Chị Năm đưa một gói đồ bọc trong giấy báo:

- Bánh mì thịt. Giặc giã thế này, không ai bán gì đâu. Đem theo mà ăn kẻo đói.

Ba Đỗ nhận lấy gói bánh:.

- Cám ơn chị Năm nhiều lắm.

Năm Thảo mở cổng. Xe rồ máy chạy thẳng ra đường, ở phía sân bay Tân Sơn Nhất, súng vẫn nổ dữ dội. Từng cột khói đen bốc lên cao, tỏa ra mù mịt. Nhưng bầu trời vẫn im ắng. Chẳng thấy một chiếc máy bay nào trên không, kể cả trực thăng. Tám Minh nói:

- Bị tên lửa tầm nhiệt của ta dằn mặt hết rồi!

Ba Đỗ chỉ tay về phía sân bay:

- Máy bay đậu ở trong sân bay nhiều lắm. Chiếm xong thế nào ta cũng hốt được bộn.

Ba Đỗ cho xe vọt nhanh qua ngã ba Hoàng Hoa Thám định đến ngã tư Bảy Hiền. Nhưng bất ngờ anh đạp thắng làm tôi và Tám Minh chúi mũi.

- Có chuyện gì vậy? - Tám Minh vừa chống tay lên lưng ghế xe phía trước để ngồi lại, vừa hỏi.

Ba Đỗ nói nhanh:

- Có ai ở trong hẻm kêu mình kìa.

- Ở đâu?

Ba Đỗ lùi xe. Một người đàn ông, tóc lâm râm bạc ở trong hẻm đi ra nói:

- Bộ các anh muốn chết sao mà đến ngã tư Bảy Hiền?

- Có việc gì vậy bác? - Ba Đỗ hỏi.

- Không thấy ba thằng lính rằn ri ở đó sao?

- Vậy à! - Ba Đỗ thở ra.

Người đàn ông nổi cáu:

- Còn ở đó mà vậy à. Kiếm đường khác chạy đi. - Ông chỉ tay ra phía trái: - Lùi xe lại một chút thì có đường đi tắt tránh được ngã tư Bảy Hiền.

Ba Đỗ nói:

- Cám ơn anh nhiều lắm.

Ba Đỗ lùi xe lại, quay vào đường nhỏ. Chạy một lúc lọt ra đường Phạm Hồng Thái (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám) cạnh bệnh viện “Vì dân”. Vừa chạy lên được vài trăm thước thì từ phía bên kia đường có một tốp lính ngụy ra cản đầu xe. Tám Minh lẩm bẩm:

- Bỏ mẹ rồi! Tránh ngã tư Bảy Hiền lại gặp cái đám chết dịch này.

Ba Đỗ đạp thắng. Xe dừng lại.

- Đừng lo! Tôi có đủ giấy tò ngụy... - Anh nói nhỏ.

Tên đứng đầu tốp giơ cao súng lên:

- Ê! Việt cộng phải không? Nhận đầu hàng đi! - Anh ta nói to và chỉ vào một đống súng xếp ở góc phố: - Chúng tôi gom súng lại rồi đó.

Ba Đỗ ngồi trên xe nói xuống:

- Chúng tôi là dân đi công việc. Một lát Việt cộng tới, mấy ông giao súng cho mấy ổng!

- Việt cộng làm sao lọt qua được ngã tư Bảy Hiền?

- Cả cái Đồng Dù, Việt cộng còn tràn ngập, huống hồ ngã tư Bảy Hiên.

Tên lính lên cò súng:

- Tâng bốc Việt cộng phải không? Bắn!

Hắn làm bộ chĩa súng vào chúng tôi nhưng lại cất đầu súng bắn một loạt tiểu liên lên trời.

Ba Đỗ móc túi áo liệng cho tên lính hai gói Salem.

- Cho đi nghen mấy cha! - Anh nói: - Mấy cha làm tụi này són đái.

Tên lính tránh ra. Ba Đỗ nổ máy. Trước khi chạy anh nhắc:

- Một lát nữa Việt cộng tới, giao súng cho mấy ổng nghen!

Xe vừa chạy, tôi nói:

- Không biết tụi này là lính nào. Ở ngã tư Bảy Hiền phục kích còn ở đây đầu hàng. Thiệt là lộn xộn. - Tôi vỗ vai Ba Đỗ: - Đi thẳng đường này gặp biệt khu Thủ đô. Làm sao qua được.

Ba Đỗ cười:

- Tụi biệt khu Thủ đô chắc giờ này chạy mất hết rồi. Nhưng tôi sẽ đi đường khác ra đường Công Lý (đoạn trên này là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa) không qua biệt khu Thủ đô.

Ba Đỗ cho xe chạy tới một đoạn nữa rồi rẽ vào đường Thoại Ngọc Hầu (nay là đương Phạm Văn Hai) qua một đường nữa (nay là đường Nguyễn Trọng Tuyển) đâm thẳng ra đường Công Lý (đoạn dưới này là đường Nguyễn Văn Trỗi).

Phố xá im lìm. Lạnh xương sống thật. Có thể ăn tiểu liên của ba thằng lính ngụy như chơi. Ba Đỗ nói:

- Ta liều nghen! Năm ăn năm thua. Ráng trân mình chịu nghen!

Anh tăng ga phóng qua cầu Công Lý, gần đến đường Hiền Vương (nay là Võ Thị Sáu) thì rẽ vào đường Nguyễn Đình Chiểu (nay là Trần Quốc Toản). Đến một bãi đất trống phía tay trái, sẵn cổng mở anh vọt luôn vào. Ba Đỗ dừng xe thở phào:

- Hết chết rồi! - Anh nói: - Tôi có một thằng cháu làm ở chỗ này, để tôi kiếm coi.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #75 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2021, 07:34:02 pm »

Anh xuống xe, đi vào một dãy nhà trệt phía bên trái bãi đất trống. Đến một cánh cửa hé mở, anh gọi:

- Bình ơi! Bình!

Một thanh niên từ sau cửa, ló đầu ra. Vừa thấy Ba Đỗ em khựng lại nói:

- Trời ơi! Cậu Ba! Giờ này mà cậu chưa chạy à?

- Chạy đi đâu?

- Cậu không sợ Việt cộng à!

- Tao là Việt cộng nằm vùng ở sư đoàn hai mười lăm đây. Hai anh ngồi ngoài xe kia cũng là Việt cộng.

- Bây giờ cậu đi đâu đây?

- Dẫn hai ông bạn đi coi quân nhà đánh chiếm dinh Độc Lập chơi.

- Cậu liều quá! - Anh thanh niên nói: - Cậu đưa xe sát vào nhà cho khuất, ở ngoài dòm vô không thấy. Rồi mời hai cậu ngồi ngoài xe vô nhà luôn.


Ba Đỗ trở lại lên xe chạy sát vầo nhà. Chúng tôi xuống xe vào căn phòng anh thanh niên. Căn phòng rộng chừng mười thước vuông, có chiếc giường, cái bàn và hai cái ghế. Vợ còn ngủ trong mùng, thấy chúng tôi, chị ta vội vã ngồi dậy, vuốt lại tóc.

- Dạ! Chào mấy cậu.

Ba Đỗ nói với anh thanh niên:

- Bây giờ cháu cho cậu gởi cái xe Jeép ở đây. Mấy cậu đi tới chiều trở lại lấy. Được không?

- Dạ được. - Anh thanh niên nói lễ phép và hỏi: - Vậy ba cậu đi bộ à?

- Ờ! Đi bộ dễ lủi.

Ba Đỗ nói với tôi và Tám Minh:

- Sẵn có bánh mì thịt của chị Năm, ta ăn rồi hãy đi.

Chúng tôi ăn một phần bánh mì còn lại chia cho hai vợ chồng anh thanh niên. Ba Đỗ vừa nhai bánh mì vừa nói:

- Xe tăng mình vô đường nào, dứt khoát cũng phải qua nhà thờ Đức Bà rồi mới đâm thẳng vô dinh Độc Lập. Nên ta phải ra đường Duy Tân (nay là đường Phạm Ngọc Thạch) đi lên.

Tôi nói:

- Vô tới đây tụi tôi như thằng mù. Anh Ba dẫn đâu đi đó.

- Nè! - Anh thanh niên nói: - Ba cậu coi chừng bọn hôi của nghen. Hôm qua, trực thăng Mỹ đậu trên nóc nhà một trăm chín mươi hai Công Lý. Tụi Mỹ ở bên một trăm chín mươi qua cùng đi với bọn này. Trực thăng vừa cất lên, người ta nhảy vô hôi của quá trời. Đấm đá nhau ỏm tỏi. Dạ! Còn chuyện này nữa chớ. Trực thăng tới chở Mỹ, ba thằng lính Sài Gòn đâu có được đi. Tụi nó dùng tiêu liên bắn nát tường hai nhà một trăm chín mươi và một trăm chín mươi hai. Nói tóm lại, tình hình lộn xộn lắm. Ba cậu ra đường phải dòm trước ngó sau.

Ba Đỗ ăn bánh mì xong nói:

- Cám ơn cháu nhiều! Mấy cậu sẽ chú ý.

Chúng tôi ra đường, phóng nhanh qua Viện Pasteur, đi dọc theo hàng rào. Trên đường Pasteur và đường Hiền Vương chỉ có vài người đi bộ. Theo đường Hiền Vương chúng tôi ra đường Duy Tân. Đến đường Phan Thanh Giản (nay là đường Điện Biên Phủ) không dừng lại mà đi luôn ra nhà thờ Đức Bà. Người đi lại thưa thớt. Tôi cảm thấy hình như người của ta mới dám ra đường. Ba Đỗ nói:

- Anh Tám nghe ra-đi-ô coi có gì mới không?

Tám Minh ngồi xuống, dựa vào hàng rào một ngôi nhà cạnh Viện Đại học, bắt ra-đi-ô nghe. Một lúc, anh đứng dậy:

- Dương Văn Minh tuyên bố ngừng bắn chờ Mặt trận dân tộc thống nhất tới giao chánh quyền rồi.

Tin này chắc cũng tới nhiều gia đình, ở phía bên kia đường, vài người mở cửa bước ra rồi trở vào ngay, từ trong hàng rào quan sát bên ngoài. Vài người nước ngoài mang đồ đạc lỉnh kỉnh chạy qua mặt chúng tôi. Ba Đỗ nói tiếng Anh với họ. Chúng tôi chỉ nghe được hai tiếng Thị Nghè, Thị Nghè. Họ đi, Ba Đỗ quay lại nói:

- Phóng viên của hãng Roi-tơ. Họ nói: hôm qua sứ quán Mỹ mời họ đến nói, trực thăng đã sẵn, tất cả phóng viên nước ngoài phải rời ngay khỏi Sài Gòn. Nhưng không ai đi. Ở lại quay phim chụp hình mới hốt bạc chớ.

Tôi hỏi:

- Còn họ nói gì Thị Nghè, Thị Nghè...

- À quên! - Ba Đỗ vỗ đùi nói - Tụi nó nói xe tăng của ta đã qua cầu Thị Nghè rồi, một lúc sẽ đến đây.

Tôi mở to đôi mắt.

- Thiệt à?

Ba Đỗ nói:

- Chắc họ đúng. Họ có tin lẹ hơn ta.

Tôi hỏi:

- Vậy mình đón xe tăng ở đâu?

Ba Đỗ chỉ tay ra phía trước:

- Thì ở đây thấy nhà thờ Đức Bà đó! Đại lộ Thống nhất ở ngay phía sau, đâm thẳng vô dinh Độc Lập. Xe tăng sẽ đi qua đó!

Tôi sốt ruột:

- Vậy ta ra đó đi!

Ba Đỗ nói:

- Ở đó còn vắng quá! Chờ một chút nữa coi. - Anh bỗng chép miệng: - A! Hay là ta đi theo đường của tụi phóng viên Roi-tơ.

Tám Minh giục:

- Ta đi đi!

Ba Đỗ dắt chúng tôi theo đường của phóng viên hãng Roi-tơ. Qua đường tắt đến hông đại sứ quán Pháp và đi nép vào tường sứ quán ra đại lộ Thống Nhất. Các anh phóng viên còn đứng ở cổng sau sứ quán. Ba Đỗ bỗng nói:

- Hai anh nghe coi! Hình như có tiếng xe tăng của ta chạy tới kìa!

Chúng tôi vừa lắng nghe vừa nhìn về phía có tiếng xe tăng vọng lại. Ở phía tây bắc vẫn còn tiếng súng quân ta thanh toán địch ở sân bay Tân Sơn Nhất và bộ tổng tham mưu.

Chỉ một lúc sau là xe tăng của ta xuất hiện.

Xe tăng vượt qua cầu Thị Nghè, theo đường Nguyễn Bỉnh Khiêm đến cổng Thảo cầm viên. Một chiếc rồi hai chiếc... Cả đoàn xe tăng kéo ra đại lộ. Sau vài chiếc xe tăng đi đầu có xe Jeép của Ban Chỉ huy. Tất cả treo cờ nửa đỏ nửa xanh ngôi sao vàng của Mặt trận Dân tộc giải phóng. Trên mỗi chiếc xe tăng đều có chiến sĩ bộ binh và đặc công. Tiếng động cơ ầm ĩ. Tiếng bánh xe xích lăn trên đường vọng ra những âm thanh dữ dội.


Tôi nhìn đoàn xe mà tưởng mình nằm mơ. Hồi nào chúng còn trên rừng Lộc Ninh, nấp sau những bụi rậm. Chúng tôi phải thồ đến từng can dầu cho chúng. Rồi đến chiến dịch Nguyễn Huệ, xe tăng của ta đã vào thị xã Bình Long nhưng phải lùi ra. Bây giờ chúng đang chạy dũng mãnh và oai vệ trên đại lộ Thống nhất giữa thành phố Sài Gòn. Màu xanh lá cây của những chiếc xe tăng, in rõ nét trên bờ tường vàng bên kia đường. Trải qua bao nhiêu năm gian lao mới có ngày hôm nay. Bao nhiêu thế hệ đã đứng lên đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc. Thế hệ này ngã xuống thế hệ khác đứng lên...


Xe tăng đã xông thẳng vào dinh Độc Lập. Một lúc sau lá cờ nửa xanh nửa đỏ, ngôi sao vàng của Mặt trận Dân tộc giải phóng tung bay trên cao. Từ các đường phố nhân dân ào tới chào mừng Quân giải phóng.

Ôi! Hạnh phúc và sung sướng biết bao nhiêu!...
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #76 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2021, 07:36:31 pm »

“LÁ CHẮN” PHAN RANG VÀ “CỬA THÉP” XUÂN LỘC BỊ ĐẬP TAN,
HY VỌNG CỦA THIỆU TAN LUÔN THEO KHÓl SÚNG


LÝ BÌNH MINH


Sau khi mất toàn bộ Tây Nguyên và hàng loạt tỉnh miền Trung, Nguyễn Văn Thiệu và tập đoàn chóp bu Sài Gòn quyết định lập hai phòng tuyến có tính sống còn ở Phan Rang và Xuân Lộc, với cự ly phòng thủ từ xa khả dĩ bảo vệ được Sài Gòn.


Ở vào thế cùng lực tận, để có sức mạnh vật chất dồn sức vào những “nút chặn” hy vọng có thể cứu vãn tình hình, Thiệu “hạ mình” cầu xin chủ Mỹ.


Hai bức điện cuối cùng của Thiệu

Ngày 24 tháng 3 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu vội vã gửi tổng thống Pho bức điện khẩn cấp với nội dung như sau: “Trong lúc tôi viết bức điện này gởi đến ngài thì tình hình chiến sự Nam Việt Nam rất nghiêm trọng và càng xấu đi. Vào giờ quyết định này, khi Nam Việt Nam đang lâm nguy và hòa bình đang bị đe dọa nghiêm trọng, tôi - với lẽ đó, trân trọng khẩn cầu chính phủ Hoa Kỳ hãy thực hiện lời hứa. Cụ thể là tôi xin khẩn thiết đề nghị quý ngài cho tiến hành ngay biện pháp cần thiết; đó là cho không lực oanh tạc bằng máy bay B52, tập trung vào những điểm tập kết, đội hình chuyển quân và căn cứ hậu cần của Cộng sản để ngăn chặn và đẩy lùi cuộc tấn công của chúng với biện pháp quyết liệt tức thời”.


Lời lẽ khẩn thiết như vậy, nhưng từ sau khi Phước Long bị thất thủ ngày 6 tháng 1 và tiếp đến mất luôn thị xã Buôn Ma Thuột ngày 11 tháng 3, người Mỹ đã buộc phải nói công khai với Sài Gòn rằng “Mỹ sẽ không bao giờ trở lại cuộc chiến tranh ở Việt Nam nữa - dù trên không, trên biển hay đất liền”. Do vậy, lời khẩn cầu của Thiệu chẳng ai ở Nhà Trắng để ý cả, vì nó chỉ nằm im trong hồ sơ mật của Nhà Trắng.


Đến ngày 16 tháng 4 (thời điểm ta tiến công giải phóng Phan Rang), Nguyễn Văn Thiệu lại gửi tiếp một bức điện nữa cho tổng thống Mỹ để cầu xin vay tiền: “Tôi tha thiết đề nghị ngài và Quốc hội Hoa Kỳ cho chúng tôi vay 3 tỷ đô la, kỳ hạn hoàn trả là 10 năm với mức lãi suất do Quốc hội và ngài quyết định. Tiềm năng về dầu khí và nguồn lợi về nông nghiệp của chúng tôi sẽ thế chấp món nợ này. Đây là lần cầu xin cuối cùng của chúng tôi - một người bạn đồng minh của Mỹ gởi đến nhân dân Mỹ vì nền tự do của Việt Nam cộng hòa”.


Nhưng rồi bức điện cực kỳ khẩn thiết này cũng chỉ để xếp lại trong “hồ sơ mật” của Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam ở Bộ ngoại giao Hoa Kỳ.


Giải phóng Phan Rang

Hai bức điện của Thiệu rơi vào không trung. Vì đến hết tháng 3 năm 1975, ta đã tiêu diệt và làm tan rã 35 phần trăm sinh lực địch, hơn 40 phần trăm binh khí kỹ thuật hiện đại của chúng bị mất. 12 tỉnh, thành phố đã được giải phóng, phần kiểm soát của địch còn lại chủ yếu là miền Đông và miền Tây Nam Bộ, nhưng cũng bị ta đánh chiếm và giải phóng nhiều nơi. Trên thực tế, địch đang bị dồn đến chân tường.

Trong cuộc họp ngày 31 tháng 3, Bộ Chính trị kết luận:

“Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt mà thời cơ chiến lược để tiến hành Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa vào sào huyệt địch đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu...


Cần nắm vững thời cơ chiến lược hơn nữa, với tư tưởng chỉ đạo: thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn thực hiện Tổng công kích - tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất; tốt nhất là trong tháng 4, không thể để chậm.


... Sẵn sàng có nắm đấm thật mạnh của quân chủ lực, kể cả binh khí kỹ thuật, để lúc thời cơ xuất hiện thì tức khắc đánh thẳng vào những mục tiêu hiểm yếu và quan trọng nhất ở ngay trung tâm thành phố Sài Gòn”.


Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, từ đầu tháng 4, trên tất cả các nẻo đường đất nước đều vô cùng sôi động, nhộn nhịp hướng về phía nam, mà mục tiêu chính là Sài Gòn. Các quân đoàn, binh đoàn chủ lực của Bộ ngày đêm hành quân thần tốc về phía Sài Gòn.


Quân đoàn 2 dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, với 200 xe vượt chặng đường 900 ki-lô-mét, ngày 13 tháng 4 đã tới sát Phan Rang, nơi địch đang hò hét “tử thủ”.


Phan Rang quả là vị trí sống chết của ngụy lúc này. Nó là tuyến phòng thủ Sài Gòn từ xa, nằm trên quốc lộ 1 cách Sài Gòn 342 ki-lô-mét. Tại đây có ngã ba đi Đà Lạt Mất Phan Rang, coi như Sài Gòn bị uy hiếp trông thấy. Vì thế khi một loạt tỉnh miền Trung bị mất, ngày 2 tháng 4 Cao Văn Viên - tổng tham mưu trưởng quân đội ngụy, gào thét “quyết tâm giữ phần đất còn lại, cố thủ từ Phan Rang trở vào” và lập ra bộ tư lệnh tiền phương quân khu 3, đóng sở chỉ huy tại Phan Rang do trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi chỉ huy.


Trong cuộc họp của bộ tổng tham mưu ngụy, chúng được phổ biến: “Theo lệnh của ông Thiệu, bằng bất cứ giá nào cũng phải cố thủ từ Ninh Thuận trở vào, nếu cần sẽ đem hết lực lượng đánh xả láng tại đó”.


Bọn chỉ huy tăng cường cho mặt trận Phan Rang một lữ đoàn dù, một liên đoàn biệt động quân, một số đơn vị thiết giáp, pháo binh. Ngoài khơi có một chiến hạm sẵn sàng yểm trợ hỏa lực pháo hạm theo yêu cầu, không quân cũng được ưu tiên việc yểm trợ giữ Phan Rang.


Địch ra lệnh cho tất cả các mặt trận cố giữ đến mùa mưa, lúc đó xe tăng ta không cơ động được, chúng có cơ hội khôi phục lại một số sư đoàn đã bị ta tiêu diệt, để gượng dậy chống trả, ngăn chặn bước tiến của quân ta.


Những nỗ lực của địch lập phòng tuyến Phan Rang có gây khó khăn cho ta, nhưng hoàn toàn không thể cản được đà tiến công thần tốc của quân ta hướng về Sài Gòn, mục tiêu cuối cùng của cuộc Tổng công kích lớn nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh.


Ngày 14 tháng 4, Sư đoàn 3 Quân khu 5 được tăng cường Trung đoàn 25 Mặt trận Tây Nguyên đã nổ súng tiến công Phan Rang - cụm phòng thủ đầu tiên của quân đoàn 3 ngụy. Sau hai ngày chiến đấu quyết liệt, quân ta mới chiếm được một số vị trí ngoại vi. Địch cho máy bay oanh tạc dữ dội và bộ binh chống cự quyết liệt. Trước tình hình đó, các đồng chí Lê Trọng Tấn và Lê Quang Hòa chỉ huy cánh quân “Duyên Hải” quyết định tăng cường một bộ phận lực lượng Quân đoàn 2 để tăng thêm sức đột kích.


Ngày 16 tháng 4, dưới sự chi viện mạnh mẽ của hỏa lực pháo binh, một bộ phận của Sư đoàn 325 thuộc Quân đoàn 2 được tăng cường xe tăng, thiết giáp cùng Sư đoàn 3 và Trung đoàn 25 từ ba hướng tiến công vào trung tâm thị xã Phan Rang và sân bay Thành Sơn. Trước sức tấn công mãnh liệt của quân ta, quân địch hoảng loạn bỏ chạy. Ta tiêu diệt bộ tư lệnh tiền phương quân đoàn 3, bộ tư lệnh sư đoàn 6 không quân... bắt trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang và nhiều sĩ quan cao cấp của địch, thu gần 40 máy bay còn nguyên vẹn.


Sau khi đập tan phòng tuyến Phan Rang, Quân đoàn 2 tiến theo đường số 1, vừa hành tiến vừa chiến đấu quét địch trên đường, đánh cả tàu chiến dưới biển và máy bay trên trời; rồi thừa thắng phối hợp với bộ đội Khu 6 tiến đánh Phan Thiết và giải phóng luôn Hàm Tân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #77 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2021, 07:37:28 pm »

Đập tan “Cánh cửa thép” Xuân Lộc

Trong khi lập tuyến phòng thủ Phan Rang, Thiệu đã tính đến “lá chắn” Xuân Lộc - Long Khánh, nút chặn yết hầu trên vòng cung phòng thủ phía đông - đông bắc và tây bắc, gồm: Bà Rịa, Vũng Tàu, Long Khánh, Thủ Dầu Một, Tây Ninh. Trong đó Xuân Lộc - Long Khánh nằm trên quốc lộ 1, cách Sài Gòn 80 ki-lô-mét, là vị trí “cốt tử” được coi như “cánh cửa thép” bảo vệ Sài Gòn trên hướng xung yếu nhất.


Với tầm quan trọng đó, thị xã Xuân Lộc trong những ngày đầu tháng 4 năm 1975 trở thành một khu vực phòng ngự trọng yếu của địch ở quân khu 3. Địch cố giữ Xuân Lộc để ngăn chặn hai đường tiến quân của ta về Sài Gòn: đường số 1 và đường 20. Trên quốc lộ 1, lúc này quân ta đã tiến đến gần Phan Rang; còn trên đường 20, sau khi giải phóng Lâm Đồng, Đà Lạt, Tuyên Đức, quân ta đã tiến xuống gần Kiệm Tân. Địch cố giữ đường 15 đi Vũng Tàu để nhận hàng viện trợ của Mỹ vào Sài Gòn theo đường biển, cũng là đường rút chạy của địch ra biển.


Giữ được Xuân Lộc - Long Khánh thì tuyến Biên Hòa - Nhơn Trạch - Bà Rịa - Vũng Tàu chưa trực tiếp bị uy hiếp, sân bay Biên Hòa và cả sân bay Tân Sơn Nhất còn hoạt động được. Do tính chất cực kỳ quan trọng đó mà tướng Uây-en, tham mưu trưởng lục quân Mỹ xác định với Nguyễn Văn Thiệu: “Mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn”. Lực lượng địch tại đây có sư đoàn 18 (đủ ba chiến đoàn), tám tiểu đoàn bảo an, 20 đại đội địa phương quân. Lực lượng cơ động ứng cứu có lữ đoàn dù số 1, lữ đoàn 3 thiết giáp, liên đoàn 7 biệt động quân và các trung đoàn bộ binh, các đơn vị binh chủng của hai quân khu 3 và 4. Như thế chưa đủ. Địch còn huy động mức cao nhất không quân còn lại ở Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ vào cuộc và huy động cả một bộ máy tuyên truyền chiến tranh tâm lý trong nước và phương Tây đến Sài Gòn, Xuân Lộc để “lên dây cót tinh thần” cho quân ngụy. Chuẩn tướng Lê Minh Đảo, sư đoàn trưởng sư đoàn 18 tuyên bố huênh hoang: “sẽ đánh một trận oai hùng cho thế giới biết để Mỹ cho thêm viện trợ”.


Thời cơ quyết tâm không cho phép ta hành động chậm, Bộ Tư lệnh Miền quyết định sử dụng lực lượng Quân đoàn 4, Trung đoàn độc lập 95B và lực lượng địa phương Long Khánh giải phóng Xuân Lộc.


5 giờ 40 phút ngày 9 tháng 4, Quân đoàn 4 do Tư lệnh Hoàng Cầm chỉ huy, nổ súng tiến công Xuân Lộc bằng những cơn bão lửa của pháo binh. Sau một giờ chiến đấu, ta chiếm được căn cứ biệt động quân, trụ sở tình báo CIA, cắm cờ lên dinh tỉnh trưởng Long Khánh. Tướng Lê Minh Đảo và tỉnh trưởng Phạm Văn Phúc bỏ chạy khỏi thị xã.


Sau ngày chiến đấu đầu tiên, ta chiếm được phân nửa thị xã Xuân Lộc gồm khu hành chính và tiểu khu.

Ngày 10 tháng 4, cuộc chiến đấu diễn ra gay go, ác liệt hơn. Sau một ngày bị đòn phủ đầu, địch tổ chức phản kích liên tục, chiếm lại các mục tiêu đã mất, đẩy các lực lượng ta ra khỏi thị xã. Sư đoàn 341 quyết định tăng thêm lực lượng, đánh chiếm sân bay, nhưng bốn lần xung phong đều bị địch đánh bật trở lại. Các mũi tấn công vào trại Lê Lợi, chiến đoàn 43 diễn ra quyết liệt. Ta và địch giằng co nhau từng góc phố, công sự. Các lực lượng ta trong thị xã bị chia cắt, có đơn vị bị bao vây cô lập. Tình thế rất khó khăn nhưng cán bộ, chiến sĩ vẫn chiến đấu cực kỳ anh dũng.

Ngày 11 tháng 4, chiến sự diễn ra quyết liệt ở bên trong và ngoài thị xã.

Ngày 12 tháng 4 và những ngày tiếp theo, địch tăng cường lực lượng lớn gồm 50 phần trăm bộ binh, 60 phần trăm pháo binh, hầu hết xe tăng - thiết giáp của quân đoàn 3, lực lượng tổng trù bị và lực lượng không quân từ sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất được huy động với mức độ cao, từ 80 - 125 lần chiếc trong một ngày, chi viện cho các mũi phản kích.


Qua ba ngày chiến đấu, ta vẫn giữ được một số mục tiêu quan trọng, nhưng quân số bị tổn thất lớn: Sư đoàn 7 thương vong gần 300, Sư đoàn 341 thương vong nặng nhất gần 1.200; xe tăng, pháo binh bị hư hỏng nhiều, đạn dược không tiếp tế kịp... Trước tình hình đó, đồng chí Trần Văn Trà - Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 quyết định ngưng cuộc tấn công để thay đổi cách đánh, tổ chức lại lực lượng chiếm giữ các bàn đạp, cắt rời Xuân Lộc ra khỏi Biên Hòa bằng cách đánh chiếm ngã ba Dầu Giây, cắt đứt đường số 1, chặn quân địch từ Biên Hòa, Trảng Bom lên phản kích và đánh chiếm Tân Phong, cắt đường số 2 đi Bà Rịa, Vũng Tàu.


Trong khi ta chuyển thế trận và đổi cách đánh, địch lại tưởng là đẩy lui được cuộc tiến công của quân ta ra khỏi Xuân Lộc. Nguyễn Văn Thiệu liền tuyên truyền rùm beng chiến thắng Xuân Lộc để xin Mỹ viện trợ và củng cố tinh thần quân ngụy đang rệu rã. Mỹ thì mong có được một thắng lợi để mặc cả với ta trong một cuộc hội đàm, nếu có. Tướng Lê Minh Đảo - tư lệnh sư đoàn 18 được dịp khoác lác: “Việt cộng có thêm mấy sư đoàn nữa cũng không chiếm được Long Khánh - “cánh cửa thép” bất khả xâm phạm”.


Nhưng bọn địch hí hửng không được lâu, chút hy vọng lóe lên liên bị dập tắt. Trong khi cánh quân Duyên Hải của ta đập nát “lá chắn” Phan Rang, giải phóng hoàn toàn tỉnh Ninh Thuận và nhanh chóng tiến vào giải phóng


Bình Thuận thì ngay trong đêm 14 rạng 15 tháng 4, pháo binh ta cấp tập bắn vào Biên Hòa, đồng thời bộ binh tiến công địch ở ngã ba Dầu Giây, tiêu diệt chiến đoàn 52 ngụy. Địch tập trung xe tăng và phi pháo phản kích nhưng bị thảm bại. Trong khi đó, ở Xuân Lộc, ta liên tục tiến công đánh tan tác hai chiến đoàn 43 và 48; diệt một bộ phận quân dù. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, tối 20 tháng 4, địch bỏ Xuân Lộc rút chạy. Bộ trưởng quốc phòng Trần Văn Đôn phải cay đắng thốt lên: “Quốc gia đang trong tình trạng nguy ngập thật sự, sống còn chỉ tính từng tuần, từng ngày, không thể tính từng tháng...”.


Thấy trước ngày diệt vong, tối 21 tháng 4, tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu lên vô tuyến truyền hình và đài phát thanh đọc một bài diễn văn dài xin từ chức tổng thổng. Từ giọng lâm li, tiếc nuối đến tức tôi chửi đổng với lời lẽ “hàng tôm hàng cá” rằng “Mỹ đánh không lại Cộng sản nên bỏ mặc cho "Việt Nam cộng hòa" đánh một mình thì làm sao ăn... có giỏi thì Mỹ vô đây lần nữa...”.

Tổng thống Hoa Kỳ cũng công khai thừa nhận: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã kết thúc đối với Mỹ”.

Gần 12 ngày đêm chiến đấu vô cùng ác liệt dưới tầm hủy diệt của hàng vạn tấn bom pháo, kể cả bom khí đốt CBU, lực lượng ta đã tiêu diệt 2.056 tên địch, bắt 2.785 tên, đánh thiệt hại nặng sư đoàn 18 và sư đoàn 5 ngụy. Ta hy sinh khoảng 1.400 cán bộ, chiến sĩ.


“Lá chắn” Phan Rang bị đập tan, giờ đây “cánh cửa thép” Xuân Lộc bị phá võ, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự còn lại của địch xung quanh Sài Gòn, suy sụp thêm tinh thần quân ngụy đang hoang mang cực độ.


Chiến thắng Xuân Lộc - Long Khánh đã tạo ra một thế trận mới cho ta, đồng thời là hồi chuông báo tử cho chế đô ngụy quyền Sài Gòn.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #78 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2021, 07:38:17 pm »

Xuân Lộc - nhìn từ hai phía

Trận Xuân Lộc có ý nghĩa rất lớn đối với ta và rất quyết định đối với địch. Ta chiến thắng, nhưng cũng rút ra những bài học xương máu.

Trong tập sách “Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm” Thượng tướng Trần Văn Trà viết: “Tại sở chỉ huy Miền chúng tôi chăm chú theo dõi từng diễn biến của trận đánh... Ngày 9 và 10 có nhiều phấn khởi, các mũi tiến công tốt, ta chiếm được nhiều mục tiêu. Nhưng vào cuối ngày 10 trở đi, tình hình trở nên căng thẳng... Tôi đề nghị cho đến tận nơi nắm rõ tình hình cụ thể tại chỗ và cùng anh em nghiên cứu cách đánh thắng lợi. Các anh đồng ý...


Sau khi nghe tất cả các ý kiến, tôi đã phân tích một số điểm và kết luận dứt khoát: Xuân Lộc là điểm then chốt hết sức quan trọng trong tuyến phòng thủ của địch nên chúng đã tập trung nhiều lực lượng cơ giới. Hiện nay lực lượng của chúng đã chiếm ưu thế so với ta. Ta cũng không còn giữ được yếu tố bất ngờ. Vì vậy tiếp tục đánh vào Xuân Lộc là không có lợi.


Ta có được con đường 20 cho đến Túc Trưng là rất có thế. Địch từ Túc Trưng đến ngã ba Dầu Giây không mạnh. Ta phải tận dụng lợi thế và sơ hở này của địch ở khu vực Dầu Giây. Nếu ta chiếm được Dầu Giây thì địch ở Xuân Lộc mất hết tác dụng của một cứ điểm then chốt, còn Biên Hòa thì lập tức bị uy hiếp...


Trong tập sách “Chặng đường mười nghìn ngày” Thượng tướng Hoàng Cầm viết: “Ngày 2 tháng 4 năm 1975, anh Trần Văn Trà xuống sở chỉ huy giao nhiệm vụ cho Quân đoàn 4, Quân khu 7 phối hợp tiến công thị xã Long Khánh... Vậy mà hôm nay trong giờ phút trận quyết chiến chiến lược đánh vào sào huyệt cuối cùng của địch đã bắt đầu... lại có ý kiến tranh luận không bình thường: Cử Sư đoàn 9 nhưng lại giao nhiệm vụ tiến công Xuân Lộc sớm, Sư đoàn 7 đang từ Bảo Lộc phát triển lên Di Linh, Đà Lạt. Sao không chờ chủ lực của Bộ vào phối hợp cùng đánh bảo đảm chắc thắng?


Anh Trà lắng nghe với sự cảm thông rồi nói như vừa nhắc nhở vừa chỉ thị vừa động viên: “Bộ điện vào nhắc tụi mình cần chủ động, không trông chờ...”.

Trận đánh Xuân Lộc nổ ra muộn, vào lúc địch gượng lại, chúng tăng cường phòng thủ khá mạnh... Trận đánh muộn kéo theo những khuyết điểm không đáng có. Việc chuẩn bị trận đánh quá gấp, xác định hướng chủ yếu đánh vào từ đông bắc là không chính xác...


Thiếu tướng Bùi Cát Vũ với bài viết “Quân đoàn 4 đánh Xuân Lộc trước là cần thiết hay không cần thiết” có đoạn: “Tôi nghĩ rằng Quân đoàn 4 và các lực lượng Quân khu 7 đã hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Xuân Lộc trong điều kiện hết sức khó khăn. Địch bỏ Xuân Lộc vì bản thân nó bị thiệt hại và bị cô lập, lại có nguy cơ mới từ hướng Phan Thiết vào. Không lẽ địch dốc sức lập tuyến phòng thủ Xuân Lộc hòng ngăn chặn đối phương cấp quân đoàn từ Bắc vào để rồi bỏ chạy khi tuyến phòng thủ Phan Rang bị phá vỡ, trong lúc lực lượng quân đoàn 3 và quân đoàn 4 của chúng vẫn còn nguyên? Đánh Xuân Lộc là cần thiết vì nếu không đánh thì Quân đoàn 2 của ta vào phải đột phá mới mở thông được đường số 1, đường số 2 và đường 20. Như vậy sẽ chậm và mất sức...”.


Trong sách "Việt Nam những trận đánh quyết định" J. Prinlott viết: “Quân Bắc Việt Nam triệt để lợi dụng tình thế để triển khai các sư đoàn ở Tây Nguyên, mở ngay một cuộc tiến công về Sài Gòn, gọi là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Một số đơn vị Việt Nam Cộng hòa còn đứng vững. Sư đoàn 18 giữ Xuân Lộc, phía đông Sài Gòn, đến ngày 18 tháng 4, nhưng tình hình đã trở nên tuyệt vọng”.


Hãng UPI, ngày 12, 13, 14 tháng 4 đưa tin: Quân Cộng sản có xe tăng dẫn đầu đã chọc thủng khu vực phòng thủ bắc Xuân Lộc... Toàn bộ lữ đoàn dù 3.000 quân đã bị ghìm chân tại chỗ ở một đồn điền cao su gần Xuân Lộc, mặc dù lữ đoàn này phải tới cho được thị xã nhưng bị tổn thất nghiêm trọng... Một ngày sau quân dù bị ghìm chân tại chỗ, chết dần, chết mòn mà không thể rút ra khỏi cái bẫy nguy hiểm này. Đến tối ngày 14 tháng 4, lữ đoàn này bị thương vong rất nặng...


Đài BBC, ngày 14 tháng 4 đưa tin: Các đoàn máy bay lên thẳng tiếp tế cho Xuân Lộc đã gặp phải hỏa lực phòng không dày đặc của cộng sản. Các đơn vị Việt cộng còn thành công trong việc cắt đứt đường số 1 ở Trảng Bom. Trong lúc quân chính phủ cố thủ nhiều nơi trong thị xã thì bị quân Cộng sản tiếp tục bao vây chặt xung quanh...


Hãng Roi-tơ, ngày 20 tháng 4 đưa tin: Quân Cộng sản tăng cường lực lượng của họ ở hai bên đường về Biên Hòa, mỗi ngày quân chính phủ phải lùi thêm. Họ đã mắc vào gọng kìm của Cộng sản. Lữ đoàn dù cứu viện đã bị cô lập và mắc kẹt. Những cố gắng liên tiếp nhằm tiếp tế cho quân dù đều bị thất bại...


Hãng AFP, ngày 21 tháng 4 đưa tin: Rạng sáng ngày 21 tháng 4, quân Cộng sản tiến mạnh vào Xuân Lộc, họ nhằm vào sở chỉ huy của tướng Đảo. Bộ chỉ huy Sài Gòn đã mất liên lạc với quân bảo vệ Xuân Lộc và trận tuyến phòng thủ hiện nay của họ chỉ còn cách Sài Gòn chưa đầy 42 ki-lô-mét. Tình hình ở mặt trận này quá nghiêm trọng, việc thất thủ Xuân Lộc càng tệ hại...


Báo Pháp Lơ Phi-ga-rô ngày 24 tháng 4 viết: tướng Thiệu đã thua cuộc, cả Hoa Kỳ cũng đã thua cuộc, thế giới tự do cũng đã thua cuộc nốt. Sự sụp đổ là hoàn toàn có thật và dù họ có khua môi múa mép thế nào thì cũng không thay đổi được nữa.


... Quốc hội Mỹ đã từ chối mọi viện trợ cho Việt Nam (chính quyền Thiệu). Hoa Kỳ đang cò kè vài trăm triệu đô-la nữa, nhưng một ngàn xe tăng hay đại bác thêm, cũng chẳng cứu nổi Nam Việt Nam mà chỉ kéo dài cơn hấp hối của một kẻ sắp chết mà thôi.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #79 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2021, 07:39:07 pm »

Phan Rang - Xuân Lộc, cơn ác mộng của Thiệu

Phan Rang bị mất, mặt trận Xuân Lộc bị vỡ, hy vọng mong manh cuối cùng của Thiệu tan theo khói súng. Tổng thống chế độ Sài Gòn vô cùng hoảng loạn. Một ký giả phương Tây đã mô tả như sau: “Suốt ngày 20 tháng 4 năm 1975, Thiệu vẫn ngồi lỳ một mình trong hầm dưới dinh Độc Lập. Đến xế trưa, một chiếc trực thăng đáp xuống sân cỏ khuôn viên Thiệu đang ở. Người ta thấy từ trong trực thăng bước ra là tướng bốn sao Cao Văn Viên - tổng tham mưu trưởng và tướng ba sao Nguyễn Văn Toàn - tư lệnh quân đoàn 3. Khi vừa đến gặp Thiệu, tướng Toàn nói ngay:

- Thưa tổng thống, cuộc chiến kể như an bài, thất bại hoàn toàn là không thể tránh khỏi. Phan Rang - Ninh Thuận tiêu rồi, Ninh Chữ cũng đã lọt vào tay Cộng sản. Tướng Vĩnh Nghi và Phạm Ngọc Sang đã bị quân Bắc Việt bắt làm tù binh.

Tay chân Thiệu vốn đang run rẩy, thoáng nghe Toàn nói điều đó như một cơn ác mộng thực sự, mặt mày Thiệu càng trở nên trắng bệch. Thiệu ngồi phịch xuống ghế, lạnh lùng như tượng gỗ, không nói điều gì suốt cả ngày hôm đó, ngoài một câu dặn người hầu cận: “Không tiếp ai cả”. Vì lúc này Thiệu đang bị đe dọa bởi sự ám ảnh về cái chết của anh em Diệm - Nhu do chính CIA bật đèn xanh cho đám tay chân sát hại ngay trong xe bọc thép để Mỹ thay ngựa giữa dòng năm 1963 - vì đã cản trở ý đồ của họ. Quả thật lúc này Thiệu đang lo sợ CIA thuê tay chân ám sát.


Rồi ngày thứ bảy, cả ngày chủ nhật và sáng thứ hai, Thiệu rút vào cuộc sống đơn độc trong hoảng loạn, không ăn uống gì và cũng chẳng buồn hỏi han ai, bởi lẽ Thiệu biết rằng ở đây đầy rẫy “rệp điện tử” mà CIA cài đặt để bí mật nghe trộm. Sau một đêm thức trắng, Thiệu quyết định triệu tập khẩn cấp tả hữu tướng lĩnh thân cận còn lại không đầy nửa tá; và ra lệnh triệu đại sứ Ma-tin một giờ nữa có mặt ở dinh tổng thống để đại sứ chứng kiến lời từ biệt trong nước mắt của Thiệu trước giờ cáo chung của chế độ Sài Gòn - bào thai của Mỹ. Bài diễn văn từ nhiệm của Thiệu lời lẽ quyết liệt, nó được đưa lên đài truyền hình lúc 8 giờ tối hôm đó - 21 tháng 4. Sau khi lên án Mỹ, tổng thống Thiệu ngừng lại như để cắn môi với tất cả sự bực tức và để cầm nước mắt... Rồi Thiệu nói tiếp: “Người Mỹ không chịu cho tôi viện trợ như đã hứa, tức là không ủng hộ tôi nữa. Thế thì được rồi, tôi sẽ ra đi. Người Mỹ không giúp tôi nữa, họ hãy cút đi, để họ nuốt lời hứa của họ đi”. Sau đó, Thiệu đổi giọng và trịnh trọng tuyên bố từ chức tổng thống để trao lại cho Trần Văn Hương”.


Trong tình thế nước sôi lửa bỏng, để mất Xuân Lộc, Thiệu phải ra đi, kết thúc cuộc đời chính trị xấu xa của một tên Việt gian làm tay sai cho Mỹ.

Thiệu đổ là sự tan vỡ một ảo tưởng của Mỹ toan dùng tập đoàn Thiệu làm công cụ tiếp tục thực hiện chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”. Thiệu đổ không phải vì năm 1975 là năm con mèo (Ất Mão), y cầm tinh con chuột, cũng không phải do sét đánh đổ tảng đá nhọn như dao ở núi Đá Chồng Phan Rang, gần ngôi chùa lộng lẫy trên lưng chừng núi mà y đã dùng một tiểu đoàn công binh để xây dựng và một đại đội bảo an thường xuyên canh gác cho mẹ y ở đó “tu nhân tích đức”(!) Thiệu đổ vì chính sách xâm lược của đế quốc Mỹ hoàn toàn đi ngược lại ý chí giành độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM