Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:40:50 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự  (Đọc 21537 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #20 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2021, 10:30:41 am »

II- THỜI KỲ VẬN ĐỘNG DÂN CHỦ, CHỐNG PHẢN ĐỘNG THUỘC ĐỊA, CHỐNG PHÁT XÍT VÀ CHIẾN TRANH (1936-1939)

Đại hội lần thứ 7 của Quốc tế Cộng sản họp từ 25-7 đến 20-8 năm 1935 trong bối cảnh họa phát xít, nguy cơ chiến tranh thế giới đang đe dọa loài người cũng như phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh đang dâng cao ở nhiều nước. Đoàn đại biểu Đảng ta, do đồng chí Lê Hồng Phong dẫn đầu, đã tham dự Đại hội. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội với tư cách là khách mời. Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản đã giúp cho lãnh đạo Đảng ta xác định phương hướng và mục tiêu đấu tranh cụ thể của cách mạng trong tình hình mới.


Trong thời gian này, những biến chuyển trên chính trường nước Pháp cũng tác động trực tiếp đến Việt Nam và Đông Dương. Mặt trận nhân dân Pháp chống phát xít được thành lập (1-1936) bao gồm Đảng Cộng sản và các đảng phái, tổ chức cánh tả.


Đến tháng 6-1936, chính phủ cánh tả ở Pháp lên nắm chính quyền. Những chính sách, chủ trương của Mặt trận nhân dân và chính phủ Pháp đối với thuộc địa như lập phái đoàn điều tra tình hình thuộc địa, ban hành các quyền tự do dân chủ, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động... đã tạo điều kiện cho phong trào cách mạng, vận động dân chủ ở Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng, phát triển. Tuy nhiên, tình hình kinh tế rất khó khăn lúc đó khiến đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động điêu đứng, cùng với hậu quả của nạn khủng bố trắng chưa khắc phục hết, đã ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc vận động cách mạng do Đảng lãnh đạo.


Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 7-1936 tại Thượng Hải (Trung Quốc) vẫn khẳng định tiếp tục nhiệm vụ chiến lược của cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam là chống đế quốc, phong kiến. Tuy vậy, trước tình hình mới và căn cứ vào trình độ tổ chức, khả năng đấu tranh của quần chúng, hội nghị đã quyết định tạm thời chưa đưa ra khẩu hiệu đánh đổ đế quốc Pháp và giai cấp địa chủ đề giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho nông dân, mà chỉ nêu ra mục tiêu trực tiếp trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hoà bình. Hội nghị chủ trương chuyển hình thức tổ chức bí mật, không hợp pháp sang hình thức tổ chức công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp nhằm tập hợp và hướng dẫn quần chúng đấu tranh từ thấp lên cao, thông qua đó phát triển lực lượng cách mạng.


Việc chuyển hướng sự chỉ đạo chiến lược và sách lược cách mạng của Đảng thời kỳ này là một hành động đúng đắn, căn cứ vào so sánh lực lượng lúc đó nhằm tập hợp và mở rộng các hình thức đấu tranh cách mạng, phục vụ cho việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chiến lược sau này.


Về vấn đề này, Đảng ta chỉ rõ: "Xét tình hình quần chúng vận động hiện thời cả về chính trị và về tổ chức chưa tới trình độ trực tiếp đánh đổ đế quốc Pháp, lập chính quyền công nông, giải quyết vấn đề điền địa..." Đảng cần "hiệu triệu được toàn dân không kỳ giai cấp nào, đảng phái nào ra cùng nhau đấu tranh chống chế độ thuộc địa phản động"1 (Văn kiện Đảng, 1930-1945, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương xuất bản 1977, tập 2, tr.122, 123, 126).


Chủ trương của Đảng là triệt để sử dụng các hình thức hoạt động công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp để huy động được "quảng đại nhân dân từ thành thị tới thôn quê, từ các dân tộc tiên tiến cho tới các bộ lạc lạc hậu, từ các phần tử có giác ngộ cho tới những lớp dân chúng mấy lâu nay còn yên tĩnh, rụt rè, nay trở ra tham gia mặt trận thống nhất...". Đồng thời, Đảng vẫn củng cố tổ chức và công tác bí mật, kết nạp thêm nhiều đảng viên mới.


Sự chuyển hướng chỉ đạo về chiến lược, sách lược của Đảng, thông qua Hội nghị Trung ương tháng 7-1936, đã đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ đấu tranh khôi phục phong trào, đưa cách mạng chuyển sang thời kỳ mới. Đảng ta đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược với mục tiêu cụ thể trước mắt của cách mạng, mối quan hệ giữa mục tiêu đấu tranh với hình thức đấu tranh, giữa việc liên minh công nông với Mặt trận dân chủ thống nhất, tập hợp rộng rãi các lực lượng quần chúng, giữa phong trào cách mạng Việt Nam, Đông Dương với phong trào cách mạng ở Pháp và thế giới.


Sau Hội nghị Trung ương tháng 7-1936, Đảng ta chủ trương phát động và tổ chức quần chúng ở các cơ quan công sở, nhà máy, xí nghiệp, đồn điền, hầm mỏ, trường học, ở cả thành thị và nông thôn, thảo luận các yêu cầu về tự do dân chủ, dân sinh để chuẩn bị cho việc tổ chức Đại hội đại biểu nhân dân toàn Đông Dương, đưa ra các kiến nghị đối với phái đoàn điều tra của Quốc hội Pháp sang Đông Dương. Đảng nêu ra 12 yêu cầu về tự do dân chủ, hội họp, thả tù chính trị, ngày làm 8 giờ, giảm thuế, nam nữ bình đẳng, học tiếng Việt trong các trường...; kêu gọi thành lập các Uỷ ban hành động ở khắp các địa phương để tập hợp quần chúng. Hơn 600 Ủy ban hành động được thành lập ở miền Nam chỉ trong vòng 2 tháng. Sau đó, Ủy ban lâm thời chi nhánh Bắc Kỳ, Trung Kỳ Đại hội Đông Dương đã được thành lập. Phong trào vận động dân chủ tổ chức Đại hội Đông Dương phát triển mạnh, thu hút đông đảo quần chúng cả nước tham gia. Chính quyền thực dân từng bước phải có một số nhượng bộ về quyền lợi của người lao động, thả tù chính trị... nhưng đã quay lại đàn áp, cấm đoán các hoạt động tự do dân chủ, cấm tổ chức Đại hội Đông Dương. Tuy nhiên, sự đàn áp của Pháp không ngăn nổi phong trào cách mạng đang dâng lên trong các tầng lớp nông dân, công nhân, tiểu thương, học sinh, phụ nữ... Chỉ riêng 6 tháng cuối năm 1936 đã nổ ra 361 cuộc đấu tranh, trong đó có 236 cuộc của công nhân, điển hình là các cuộc đấu tranh của hàng nghìn công nhân mỏ thiếc Tĩnh Túc, hàng chục nghìn công nhân mỏ than Cẩm Phả, Hòn Gai, Mông Dương, Hà Tu, Hà Lầm, Cọc 5, Uông Bí... Năm 1937, có gần 400 cuộc đấu tranh của công nhân, hơn 150 cuộc của nông dân và phong trào biểu dương lực lượng quần chúng rầm rộ, đưa kiến nghị đòi tự do, dân chủ cho Gô-đa, phái viên chính phủ Pháp, sang điều tra tình hình Đông Dương.


Trong những năm tiếp sau, một mặt Đảng tập trung vào công tác xây dựng, chấn chỉnh các tổ chức, đoàn thể để nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh, mặt khác Đảng triệt để sử dụng báo chí công khai làm vũ khí đấu tranh, xuất bản nhiều cuốn sách lý luận để tuyên truyền, hướng dẫn quần chúng, vạch trần âm mưu, thủ đoạn và tội ác của chính quyền thực dân. Việc thành lập được nhiều tổ chức đoàn thể, xuất bản sách báo công khai để vận động, tuyên truyền đấu tranh cách mạng là một thành công lớn về nghệ thuật vận động và tinh thần tiến công cách mạng sáng tạo của Đảng ta thời kỳ này. Không những thế, Đảng còn vận động, ủng hộ những nhân vật tiến bộ, tán thành cương lĩnh đấu tranh của Mặt trận dân chủ, ứng cử vào các cơ quan dân biểu, để có tiếng nói quan trọng trong cuộc đấu tranh nghị trường đòi quyền tự do, dân chủ cho nhân dân lao động.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #21 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2021, 10:31:09 am »

Trước tình hình chính sách của chính phủ Pháp ngày càng ngả sang chính quyền thực dân ở Việt Nam, Đông Dương, tăng cường đàn áp các hoạt động dân chủ, trong khi những kết quả đạt được về cải cách dân chủ chưa nhiều, Đảng ta xác định nhiệm vụ trung tâm lúc này là phải thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương nhằm tập hợp rộng rãi hơn nữa các tầng lớp quần chúng, tiếp tục thúc đẩy phong trào cách mạng tiến lên. Trong năm 1938 đã diễn ra 135 cuộc bãi công của công nhân và 125 cuộc đấu tranh của nông dân với trình độ lãnh đạo và tổ chức vững vàng, chặt chẽ hơn. Lần đầu tiên; các hoạt động kỷ niệm ngày Quốc tế lao động được tổ chức công khai tại nhiều nơi trong cả nước với các khẩu hiệu đòi dân sinh, dân chủ, ủng hộ hoà bình, chống chiến tranh đế quốc, chống phát xít. Cuộc mít tinh ngày 1-5 năm 1938 ở Hà Nội thu hút tới 25.000 người tham dự.


Tuy nhiên, thời gian cuối năm 1938 và suốt cả năm 1939, chính quyền thực dân ngày càng thi hành chính sách đàn áp, khủng bố, bóp nghẹt tự do báo chí. Mặt khác, tình hình kinh tế xã hội khó khăn gay gắt cũng ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Mặt trận dân chủ Đông Dương một cách vững chắc, hiệu quả. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng bí thư của Đảng, đã viết cuốn sách nhan đề "Tự chỉ trích", nêu lên những ưu, nhược điểm trong công tác tổ chức, vận động quần chúng, rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chính sách mặt trận. Đây là một tác phẩm quan trọng, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là văn kiện tổng kết hoạt động của Đảng ta trong thời kỳ Mặt trận dân chủ, giúp cho việc hoạch định chủ trương, chính sách của Đảng khi tình hình mới xuất hiện.


Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ ngày 1-9-1939. Thực dân Pháp tăng cường đàn áp các tổ chức hoạt động đòi tự do, dân chủ. Trước tình hình đó, Đảng quyết định rút vào hoạt động bí mật, chấm dứt thời kỳ gần 4 năm hoạt động hợp pháp, để chuẩn bị cho sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược trong thời kỳ chiến tranh và cách mạng.


Có thể nói, trong thời kỳ 1936-1939, Đảng ta đã phát động và lãnh đạo cao trào quần chúng nhân dân đấu tranh bằng nhiều hình thức hợp pháp, công khai và bí mật, giành được những thắng lợi to lớn, tạo ra lực lượng tổ chức và trận địa mới cho cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc tiếp theo từ 1939-1945.


Đây là thời kỳ Đảng ta rút được một số bài học kinh nghiệm:

- Xác định đúng phương hướng và mục tiêu cụ thể trước mắt là yêu cầu của quy luật giành thắng lợi từng bước, tạo điều kiện để tiến tới giành thắng lợi cho mục tiêu chiến lược lâu dài của cách mạng. Đây là một vấn đề quan trọng của nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng. Trong thời kỳ 1936-1939, Đảng đã xác định mục tiêu cụ thể là chống phản động thuộc địa và tay sai, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, hoà bình là đúng đắn và sát hợp, nên đã tập hợp được đông đảo nhân dân. Đây là một sáng tạo lớn, một bước đi đúng và phù hợp nên đã tạo ra phong trào cách mạng rộng lớn của quần chúng với nhiều nội dung đấu tranh phong phú, trên nhiều lĩnh vực, làm cho thê và lực của cách mạng được phát huy mạnh mẽ, khắc phục được các khó khăn, trở ngại, đưa phong trào tiến lên.

- Xây dựng Mặt trận dân chủ rộng rãi là điều không thể thiếu để tập hợp các lực lượng quần chúng, tạo điều kiện phát triển phọng trào đấu tranh giành lấy những quyền lợi dân sinh, dân chủ hàng ngày. Mặt trận dân chủ phải là sự liên minh rộng rãi nhưng có nguyên tắc, chỉ liên minh với những tổ chức, đoàn thể, cá nhân tán thành đấu tranh cho tự do, dân chủ, hoà bình.

- Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hình thức hoạt động, hình thức tổ chức công khai, hợp pháp với bán công khai, bí mật. Hình thức tổ chức và đấu tranh phải phù hợp với mục tiêu đấu tranh, phải đảm bảo huy động được tối đa lực lượng tham gia, đồng thời để mở rộng việc giáo dục và tập dượt đấu tranh cho quần chúng, trong những hoàn cảnh cụ thể. Không thể cứng nhắc áp dụng chỉ hình thức đấu tranh bí mật hoặc toàn công khai, hợp pháp mà cần có sự kết hợp uyển chuyển để đạt được kết quả cao nhất. Đây cũng là yêu cầu cần thiết để khi tình hình thay đổi, ta có thể chủ động chuyển và áp dụng hình thức đấu tranh phù hợp, tránh tổn thất.


Tiếp sau thời kỳ 1930-1935 tập dượt đấu tranh và khôi phục phong trào cách mạng, thời kỳ vận động dân chủ 1936-1939 thực sự là cuộc diễn tập lớn thứ hai cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #22 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2021, 10:32:24 am »

III- THỜI KỲ VẬN ĐỘNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ KHỞI NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1939-1945)

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ đã làm biến chuyển cơ bản tình hình quốc tế. Thực dân Pháp ở Việt Nam thi hành chính sách đàn áp, bắt bớ, thủ tiêu các quyền tự do dân chủ, ra lệnh tổng động viên bắt lính, tăng thuế, trưng thu, trưng dụng các xí nghiệp phục vụ cho quốc phòng và chiến tranh, thi hành chính sách kinh tế thời chiến nhằm vơ vét sức người, sức của phục vụ chiến tranh.


1. Sự chuyển hướng đường lối và phương pháp cách mạng

Hai tháng sau khi Chiến tranh thế giới bùng nổ, Đảng Cộng sản Đông Dương đã triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 6, họp từ ngày 6 đên 8-11-1939 tại Bà Điểm, Gia Định. Hội nghị đã vạch rõ tính chất đế quốc và phát xít của cuộc chiến tranh phân chia lại thế giới của chủ nghĩa đế quốc và cho rằng tình hình Đông Dương sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp: Phát xít Nhật sẽ vào Đông Dương, thực dân Pháp sẽ đầu hàng Nhật, Đông Dương sẽ chịu sự cai trị của thực dân phát xít vô cùng tàn bạo, đời sống của nhân dân sẽ ngày càng cực khổ, điêu đứng. Vì thế, đặc điểm cơ bản của tình hình Đông Dương lúc này là chiến tranh đã khiến cho các mâu thuẫn nội tại của xã hội thuộc địa nửa phong kiến càng thêm trầm trọng, tới mức đối kháng quyết liệt đòi hỏi phải được giải quyết. Mâu thuẫn chủ yếu nhất lúc này là mâu thuẫn giữa đế quốc thực dân với các dân tộc Đông Dương.


Trên cơ sở nhận định, phân tích tình hình, Hội nghị xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc thời kỳ này vẫn bao gồm hai nội dung cơ bản chống đế quốc và chống phong kiến của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, do giai cấp công nhân lãnh đạo: "Cách mệnh phản đế và điền địa là hai cái mấu chốt của cách mệnh tư sản dân quyền... Cái nguyên tắc chính ấy không bao giờ thay đổi được nhưng nó phải ứng dụng một cách khéo léo thế nào để thực hiện được nhiệm vụ chính cốt của cách mệnh là đánh đổ đế quốc”1 (Văn kiện Đảng 1930-1945, tập 3, tr.58). Đây là sự chuyển hướng quan trọng nhất về chỉ đạo chiến lược của Đảng so với thời kỳ trước. Để tập trung vào nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ đế quốc, Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (MTTNDTPĐĐD) với lực lượng chính là công nhân, nông dân và các tầng lớp quần chúng khác do giai cấp công nhân lãnh đạo.


Về phương pháp cách mạng, Hội nghị nêu lên một số chuyển hướng về tổ chức như xây dựng cùng lúc những tổ chức hợp pháp, đơn giản, rộng rãi và các đoàn thể cách mạng bí mật với hướng chính là bí mật hoạt động. Các cuộc đấu tranh thời kỳ này đều phải tập trung vào mục tiêu là đế quốc, tay sai, nhằm "dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mệnh giải phóng dân tộc”.


Đây là hội nghị đánh dấu sự chuyển hướng quan trọng về đường lối và phương pháp cách mạng từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ sang chuẩn bị các điều kiện trực tiếp đánh đổ chính quyền đế quốc, tay sai, bằng việc sớm nêu ra phương hướng tập trung mũi nhọn đấu tranh vào kẻ thù, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền.


Sau hội nghị, phong trào cách mạng dần dần có sự chuyển biến. Nhiều cuộc bãi công, đấu tranh của công nhân, nông dân đã nổ ra với khẩu hiệu chống chiến tranh đế quốc, chống khủng bố. Mặt trận TNDTPĐĐD từng bước được xây dựng ở các địa phương với số lượng lên tới hàng vạn hội viên.


Tuy nhiên, trong năm 1940, tình hình Đông Dương tiếp tục có những biến động. Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng bị chính quyền thực dân bắt giữ như Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn. Quân Pháp từng bước đầu hàng, mở cửa cho phát xít Nhật vào Đông Dương chiếm đóng các sân bay, kho tàng bến cảng khiến nhân dân ta cùng lúc chịu hai tầng xiềng xích, thống trị của cả Pháp và Nhật.


Mặc dù điều kiện chủ quan về tổ chức, lực lượng, vũ khí trang bị còn thiếu, song trước tình thế khách quan thuận lợi, quân Pháp tháo chạy khi Nhật vào Lạng Sơn, ngày 27-9-1940, nhân dân huyện Bắc Sơn đã tự vũ trang, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, nổi dậy đánh chiếm đồn Mỏ Nhài, làm chủ địa bàn. Đội du kích Bắc Sơn ra đời trong cuộc khởi nghĩa vũ trang này, đã đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và bảo vệ thành quả mới giành được. Chính quyền thực dân đã thẳng tay đàn áp cuộc khởi nghĩa. Tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn song khởi nghĩa Bắc Sơn đã mở đầu cao trào giải phóng dân tộc, mở đầu thời kỳ cách mạng nước ta sử dụng các hình thức của bạo lực cách mạng là kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, nổi dậy của quần chúng với tiến công của các lực lượng vũ trang nhằm đánh đổ chính quyền địch, giành chính quyền về tay nhân dân.


Khởi nghĩa Bắc Sơn đã giúp cho lãnh đạo Đảng ta rút rạ những bài học quý về khởi nghĩa vũ trang như chọn đúng thời cơ, quyết tâm giành thắng lợi và liên tục tiến công kẻ thù. Đánh giá về ưu khuyết của khởi nghĩa Bắc Sơn, đồng chí Trường Chinh viết: "Ưu điểm lớn nhất của nhân dân Bắc Sơn là đã kịp thời nổi dậy giành chính quyền khi quân đội phát xít Nhật xâm lược Lạng Sơn và hàng ngũ quân Pháp cùng bè lũ tay sai đã hoang mang, dao động đến cực điểm. Khuyết điểm của khởi nghĩa Bắc Sơn là đã không sớm dùng chiến tranh du kích để châm ngọn lửa cách mạng ra các địa phương khác trong tỉnh Lạng Sơn và các tỉnh lân cận, làm cho cuộc khởi nghĩa lan rộng ra mãi; trái lại, từ ngày 29 tháng 9 đến ngày 13 tháng 10 đã chuyển sang phòng ngự, mà như Mác đã nói, phòng ngự là con đường chết của khởi nghĩa"1 (Trường Chinh: Diễn văn đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ 40 ngày khởi nghĩa Bắc Sơn, báo Nhân dân ngày 30-9-1980).


Chưa đầy hai tháng sau ngày nổ ra khởi nghĩa Bắc Sơn, từ ngày 6 đến 9 tháng 11, Hội nghị Trung ương lần thứ 7 đã họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh), nhằm đề ra các chủ trương, biện pháp ứng phó với tình hình quốc tế đang chuyển biến mau lẹ, phong trào cách mạng trong nước đang sục sôi, kiện toàn sự lãnh đạo của Ban chấp hành Trung ương. Hội nghị nhận định mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với Nhật - Pháp càng thêm sâu sắc. "Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do, độc lập". Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, được nêu ra từ Hội nghị Trung ương lần thứ 6, được tiếp tục khẳng định. Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương đổi tên thành Mặt trận Dân tộc thống nhất chống phát xít Pháp - Nhật ở Đông Dương. Hội nghị quyết định phát triển ảnh hưởng của khởi nghĩa Bắc Sơn bằng cách duy trì đội du kích Bắc Sơn, tiến tới thành lập căn cứ địa du kích, lấy vùng Bắc Sơn - Võ Nhai làm trung tâm, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương.


Riêng đối với cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Hội nghị chỉ thị cho Xứ uỷ Nam Kỳ hoãn ngay cuộc khởi nghĩa do lúc này ở Nam Bộ chưa hội đủ điều kiện đảm bảo cho khởi nghĩa thắng lợi.


Có thể thấy, Hội nghị Trung ương lần thứ 7 là sự kế tục và phát triển những quyết nghị của Hội nghị Trung ương lần thứ 6 về chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, lấy giải phóng dân tộc là nhiệm vụ trung tâm, sử dụng bạo lực cách mạng để giành lấy chính quyền.


Hội nghị Trung ương kết thúc được 2 tuần lễ, chỉ thị hoãn khởi nghĩa chưa đến được với Ban lãnh đạo Xứ uỷ Nam Kỳ, thì ngày giờ phát động cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã được quyết định và nổ ra ngày 23-11-1940. Tại hầu khắp các tỉnh miền Nam, quần chúng nhân dân đã đứng lên đấu tranh. Ở một số địa phương, chính quyền địch tan rã, chính quyền cách mạng được thành lập, bước đầu thực hiện những cải cách dân chủ, dân sinh, trấn áp bọn phản động. Tuy nhiên, do nổ ra trong những điều kiện chưa chín muồi, nhiều cán bộ lãnh đạo bị địch bắt ngay trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, kẻ thù đã đề phòng, nên khởi nghĩa sớm bị đàn áp, khủng bố tàn bạo. Hàng nghìn người bị bắt, bị giết. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại đã đặt ra một loạt những vấn đề về lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang, về lực lượng thực hành khởi nghĩa, vấn đề về thời cơ, điều kiện nổ ra cũng như công tác giữ bí mật khởi nghĩa.


Những dư âm của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chưa tắt thì ngày 13-1-1941, tại Đô Lương, Vinh (Nghệ An) đã nổ ra cuộc binh biến của binh lính yêu nước do Đội Cung lãnh đạo. Tuy có giành được kết quả ban đầu song cuộc bạo động tự phát này cũng nhanh chóng bị địch đàn áp.


Như vậy, chỉ trong vòng hơn 3 tháng, ở ba miền Bắc, Trung, Nam đã liên tiếp nổ ra ba cuộc khởi nghĩa vũ trang và binh biến với những quy mô lớn nhỏ khác nhau. Tuy đều bị chính quyền thực dân đàn áp, dìm trong bể máu, nhưng ba cuộc khởi nghĩa vũ trang và binh biến trên đây đã góp phần thức tỉnh tinh thần dân tộc, tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân trong cả nước. Ba cuộc khởi nghĩa và binh biến này đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm về lãnh đạo, thực hành khởi nghĩa vũ trang và tổ chức lực lượng tham gia, đánh dấu một thời kỳ mới của cách mạng: thời kỳ khởi nghĩa giành chính quyền đã bắt đầu. "Những cuộc khởi nghĩa... gây một ảnh hưởng rộng lớn toàn quốc. Đó là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc Đông Dương"1 (Văn kiện Đảng 1930-1945, tập 3, tr.191).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #23 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2021, 10:33:52 am »

2. Hội nghị Trung ương lần thứ 8 và quá trình chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền

Sau 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, ngày 28-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã, trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, mở lớp huấn luyện cán bộ, xây dựng căn cứ địa, tổ chức các đoàn thể cứu quốc. Tiếp đó, từ ngày 10 đến 19-5-1941, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đã được tổ chức tại Pắc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế và trong nước, Hội nghị tiếp tục khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc: "Trong lúc này, khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp"1 (Văn kiện Đảng, tập 3, tr.196, 197, 206, 216, 217) Bởi vì "Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được2 (Văn kiện Đảng, tập 3, tr.196, 197, 206, 216, 217).


Nhằm tập trung lực lượng cách mạng vào nhiệm vụ giải phóng dân tộc, Hội nghị khẳng định sự đúng đắn của quyết định tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất của Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-1939). Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) thay cho Mặt trận DTTN chống phát xít Pháp - Nhật ở Đông Dương "cho có tính chất dân tộc hơn, cho có một mãnh lực dễ hiệu triệu hơn và nhất là có thể thực hiện được trong tình thế hiện tại"3 (Văn kiện Đảng, tập 3, tr.196, 197, 206, 216, 217).


Lần đầu tiên, Hội nghị đã đề cập đến các vấn đề cụ thể như điều kiện và hình thái cuộc khởi nghĩa, về điều kiện cho khởi nghĩa nổ ra và thắng lợi, cần có: giai cấp thống trị lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện đến cực điểm; nhân dân không thể sống được nữa dưới ách thống trị của Nhật-Pháp, sẵn sàng vùng dậy khởi nghĩa; phe dân chủ đại thắng ở Thái Bình Dương, Liên Xô đại thắng, cách mạng Pháp hay cách mạng Nhật nổi dậy, quân Anh - Mỹ tràn vào Đông Dương...; mặt trận cứu quốc đã thống nhất toàn quốc.


Từ những phân tích, nhận định trên, Hội nghị khẳng định: "Chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và dân ta trong giai đoạn hiện tại. Với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn"1 (Văn kiện Đảng, tập 3, tr.196, 197, 206, 216, 217).


Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đã hoàn chỉnh việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trong thời kỳ cách mạng mới là tập trung toàn lực nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược giải phóng dân tộc...

Căn cứ vào Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8, Tổng bộ Việt Minh đã công bố Chương trình cứu nước gồm 44 điểm, đề cập đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, nêu lên các chính sách cụ thể đối với tầng lớp, giai cấp trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được sung sướng, tự do. Chương trình này sau được rút gọn lại thành 10 chính sách lớn, được thực hiện ở Khu giải phóng Việt Bắc trong những ngày trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 và sau này.


Các hoạt động chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang từng bước được tiến hành. Ban đầu là những bài viết trên báo "Việt Nam độc lập '' khơi gợi tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, tiếp sau là các cuốn sách như Cách đánh du kích, Cách huấn luyện cán bộ quân sự... của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nêu lên một số vấn đề về đường lối đấu tranh vũ trang. Sự ra đời của Đội tự vệ vũ trang Cao Bằng cuối năm 1941 đặt cơ sở cho việc xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang ở Cao Bằng cũng như các địa phương khác trong căn cứ địa Việt Bắc. Đây là sự thể hiện quan điểm toàn dân tham gia cách mạng, toàn dân nổi dậy, huy động mọi vũ khí, phương tiện có trong tay để đánh địch của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.


Để xây dựng lực lượng chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa, ngày 1-12-1941, Đảng có chỉ thị về công tác tổ chức, nêu rõ mục tiêu là đoàn kết hết thảy các lực lượng cách mạng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chỉ thị yêu cầu xây dựng tổ chức của Đảng phải chặt chẽ, nghiêm ngặt, còn tổ chức của quần chúng thì phải rộng rãi, nhẹ nhàng. Tổ chức cơ sở Đảng phải ăn sâu bám rễ trong quần chúng ở cả nông thôn và thành thị, tập trung vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền. Tổ chức của quần chúng phải có nhiều hình thức phù hợp với từng giai cấp, tầng lớp và lứa tuổi. Bên cạnh các tổ chức cứu quốc, cần phải có những hình thức tổ chức công khai, bán công khai để tập hợp quần chúng. Chỉ thị dẫn luận điểm của Lênin: "Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, giai cấp vô sản không có vũ khí nào khác hơn là tổ chức" và nhấn mạnh: "Biết tổ chức tức là có thêm cán bộ, có võ khí, có tài chính, có chiến đấu lực, tất cả các điều kiện cần thiết cho công cuộc cách mạng dân tộc giải phóng"1 (Văn kiện Đảng 1930-1945, tập 3, tr.284).


Vừa tập trung xây dựng các đoàn thể, tổ chức cách mạng, Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến chỗ đứng chân của cách mạng, xây dựng các căn cứ địa (ban đầu là các khu an toàn) để đảm bảo cho hoạt động của các tổ chức chính trị, vũ trang. Tiếp theo các khu an toàn, địa bàn một số tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang đã được chọn làm nơi tổ chức, xây dựng các căn cứ du kích với hai trung tâm đầu tiên là Cao Bằng và Bắc Sơn-Võ Nhai, nơi đứng chân hoạt động của Đội vũ trang Cao Bằng và Đội Cứu quốc quân.


Hoạt động mạnh mẽ, có hiệu quả của Mặt trận Việt Minh đã đưa đến sự ra đời hàng loạt tổ chức cứu quốc cuốc 1941, đầu 1942 như Hội Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Tự vệ cứu quốc, v.v... trên cơ sở các hội phản đế trước đây. Tại Cao Bằng, phong trào đấu tranh cách mạng sôi nổi, mạnh mẽ đã dẫn đến sự xuất hiện các xã và tổng có toàn dân tham gia Việt Minh (gọi là "xã hoàn toàn"; "tổng hoàn toàn").


Mặc dù thực dân Pháp và tay sai tiến hành khủng bố trắng một cách dã man, tàn bạo, hàng loạt đồng chí lãnh đạo Đảng bị giết hại, cầm tù, song phong trào cách mạng vẫn được duy trì, từng bước phát triển. Nhiều cuộc đình công, bãi công, đấu tranh chống khủng bố trắng, đòi quyền lợi của công nhân liên tiếp nổ ra ở cả trong Nam ngoài Bắc.


Tình hình quốc tế lúc này tác động khá thuận lợi đến công cuộc cách mạng nước ta, đòi hỏi Đảng phải có chính sách, biện pháp cụ thể cho việc chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp từ 25 đến 28 tháng 2 năm 1943 tại Võng La (Đông Anh) đã tập trung bàn thảo vấn đề mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất và xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.


Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sau khi ra khỏi nhà tù Liễu Châu (Trung Quốc, tháng 9-1943), đã bắt liên lạc và trực tiếp chỉ đạo hoạt động của tổ chức Hội giải phóng Việt Nam ở Trung Quốc, tập hợp, đào tạo cán bộ Việt Nam đưa về nước hoạt động.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #24 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2021, 10:34:59 am »

Để đẩy mạnh hơn nữa việc chuẩn bị khởi nghĩa khi mà tình hình quốc tế đang ngày càng thuận lợi, tháng 5-1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị Sửa soạn khởi nghĩa. Chỉ thị nhấn mạnh "... thời cơ không phải tự nó đến, một phần lớn do ta sửa soạn nó, thúc đẩy nó... Vì thế, các công việc cần làm là phải đẩy mạnh cao trào cứu nước từ những cuộc đấu tranh giành quyền sống hàng ngày tiến lên đấu tranh giành chính quyền; thống nhất các tổ chức cứu quốc, đẩy mạnh tổ chức các đội tự vệ, du kích; lập quỹ mua súng và tự chế vũ khí. Chỉ thị cho rằng "chọn giờ phát động khởi nghĩa là một cái thuật", cần theo dõi sát thời cuộc để chọn đúng thời cơ khởi nghĩa.


Mặc dù không khí cách mạng đã sôi sục ở nhiều nơi song thời cơ khởi nghĩa chưa tới bởi ta chưa chuẩn bị được đầy đủ điều kiện cho hai lực lượng chính trị và vũ trang giành thắng lợi. Chủ trương phát động khởi nghĩa ở Võ Nhai để đối phó với cuộc càn quét lớn của thực dân Pháp tháng 10-1944 không thành công, lực lượng bị tổn thất, là một ví dụ sinh động về việc thiếu chuẩn bị các điều kiện đảm bảo cho khởi nghĩa thắng lợi. Chính vì thế, khi được tin Liên tỉnh uỷ Cao-Bắc-Lạng chủ trương phát động chiến tranh du kích trong phạm vi liên tỉnh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, mới từ Trung Quốc trở về nước, đã quyết định hoãn lại. Người chỉ ra rằng: "Chủ trương phát động chiến tranh du kích ở Cao-Bắc-Lạng là chỉ mới căn cứ vào tình hình địa phương mà chưa căn cứ vào tình hình cụ thể trong cả nước, mới chỉ thấy bộ phận mà chưa thấy toàn cục. Trong điều kiện bây giờ, nếu phát động ngay nhân dân nhất tề nổi lên đánh du kích theo quy mô và phương thức đã định trong nghị quyết thì sẽ gặp khó khăn, có thể còn khó khăn hơn thời kỳ bị khủng bố vừa rồi. Bởi vì các địa phương khác trong toàn quốc, tuy phong trào cách mạng đang lên cao, nhưng hiện chưa nơi nào có điều kiện chiến đấu để sẵn sàng hưởng ứng”1 (Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, H.1997, tr.129) .


Tình thế cách mạng trực tiếp chưa xuất hiện vào cuối năm 1944, vì thế, quyết định hoãn phát động chiến tranh du kích ở Cao-Bắc-Lạng của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tránh cho Cao-Bắc-Lạng bị tổn thất trước sự khủng bố của kẻ thù. Người chỉ đạo: "Bây giờ thời kỳ cách mạng hoà bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Nếu bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì không đủ để đẩy mạnh phong trào đi tới. Nhưng phát động vũ trang khởi nghĩa ngay thì quân địch sẽ tập trung đối phó. Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự..."2 (Võ Nguyên Giáp, Sđd, tr.130). Người đã chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân với phương châm và nhiệm vụ hoạt động là chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến, thực hành vũ trang tuyên truyền, kêu gọi và tổ chức toàn dân đứng lên, chuẩn bị cơ sở chính trị và quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này.


Ngày 22-12-1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, Cao Bằng, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, đội quân tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, đã được thành lập, dưới sự tổ chức, chỉ huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp. Ngay sau khi thành lập, trong các ngày 25 và 26-12, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã liên tiếp đánh thắng hai trận Phai Khắt, Nà Ngần, mở đầu cho truyền thống trăm trận trăm thắng của lực lượng vũ trang nhân dân ta. Chỉ hơn một tuần sau khi thành lập, quân số của đội quân chủ lực đầu tiên này đã tăng lên tới một đại đội. Sự ra đời và lớn mạnh nhanh chóng của Độí Việt Nam tuyên truyền Giải, phóng quân đã đánh dấu một thời kỳ mới của cuộc đấu tranh cách mạng, khởi nghĩa giành chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Từ nay, cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã có hai lực lượng chính trị và quân sự, với hai hình thức đấu tranh chính trị, quân sự phối hợp, trong đó lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang là cơ sở để xây dựng, phát triển cơ sở, củng cố, mở rộng căn cứ địa cách mạng.


Trong lúc này, tình hình thế giới đang biến chuyển mau lẹ, lực lượng phát xít ngày càng bị thất bại nặng nề trên các mặt trận, ở Việt Nam và Đông Dương, phát xít Nhật đã tiến hành đảo chính vào ngày 9-3-1945, lật đổ thực dân Pháp, giành quyền cai trị Đông Dương, ngăn ngừa hậu họa khi quân Đồng minh tiến vào khu vực này. Ngay trong đêm 9-3, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp hội nghị mở rộng tại Đình Bảng, Bắc Ninh, nhận định điều kiện tình hình lúc đó chưa chín muồi cho cuộc khởi nghĩa bởi vì cuộc đảo chính diễn ra quá nhanh trong khi các tầng lớp trung gian chưa ngả hẳn về phía cách mạng, đội tiên phong còn lúng túng trong việc chuẩn bị khởi nghĩa.


Hội nghị nêu khẩu hiệu "Đánh đuổi phát xít Nhật”, "Thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương" và chủ trương "phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ, làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa". Hội nghị cũng quyết định thay đổi hình thức vận 1 động tuyên truyền, tổ chức đấu tranh cho phù hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa như: Tuyên truyền xung phong có vũ trang, biểu tình, bãi công chính trị, phá kho lương thực để cứu đói, qua đó cổ động, tập dượt cho quần chúng đấu tranh, tổ chức nhiều đội du kích vũ trang, lập thêm căn cứ địa, thống nhất các chiến khu và thành lập Việt Nam Giải phóng quân, tổ chức các Ủy ban quân sự cách mạng, phát động đánh du kích ở những nơi có điều kiện, sẵn sàng chuyển sang hình thức khởi nghĩa khi thời cơ đến.


Các nội dung chủ yếu trên đây được nêu trong chỉ thị ngày 12-3-1945 "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", một văn kiện thể hiện tinh thần quyết tâm, sáng tạo, kịp thời của Đảng, trở thành kim chỉ nam hành động của quân và dân ta trong thời kỳ chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền.


Từ sau ngày 9-3-1945, phong trào cách mạng phát triển mạnh. Các cuộc đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị, khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra tại nhiều địa phương. Đã xuất hiện hàng loạt các xã, châu, huyện "hoàn toàn". Nạn đói nghiêm trọng ở miền Bắc khiến hàng triệu người chết đói, đã càng làm tăng lòng căm thù của toàn dân đối với kẻ thống trị, càng nung nấu ý chí quyết tâm đứng lên cầm vũ khí đánh đuổi quân thù, giành lại độc lập, tự do. Khẩu hiệu "Phá kho thóc, giải quyết nạn đói" trở thành khẩu hiệu chủ yếu để phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước lúc này, bởi nó vừa có nội dung kinh tế, vừa mang ý nghĩa chính trị sâu sắc. Khẩu hiệu này có tác dụng, ảnh hưởng rất lớn, đã thổi bùng ngọn lửa căm thù trong đông đảo nhân dân, phát động quần chúng vùng dậy với khí thế cách mạng hừng hực tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Năm, 2021, 10:42:41 am gửi bởi quansuvn » Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #25 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2021, 10:36:17 am »

Nhằm chuẩn bị trực tiếp cho cuộc khởi nghĩa vũ trang sắp tới, ngày 15-4-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ tại Hiệp Hoà (Bắc Giang). Hội nghị nhận định rằng tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp; cần tích cực phát triển chiến tranh du kích, xây dựng căn cứ địa để chuẩn bị tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ. Hội nghị đã quyết định thống nhất tổ chức Cứu quốc quân với Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân thành Việt Nam Giải phóng quân, quyết định xây dựng và đánh thông 7 chiến khu trong cả nước gồm: Lê Lợi, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Trần Hưng Đạo ở miền Bắc; Trưng Trắc, Phan Đình Phùng ở miền Trung và Nguyễn Tri Phương ở miền Nam.


Các hoạt động chuẩn bị khởi nghĩa liên tiếp diễn ra:

- Ngày 16-4, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị tổ chức Ủy ban dân tộc giải phóng các cấp và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam.

- Đầu tháng 5-1945, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng đồng thời chỉ thị gấp rút thành lập khu căn cứ cách mạng rộng lớn lấy tên là Khu giải phóng.

- Ngày 4-6, Khu giải phóng Việt Bắc, bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang được thành lập. Tại các địa phương diễn ra nhiều cuộc phá kho thóc, nhiều cuộc mít tinh, biểu tình vạch mặt phát xít Nhật và tay sai của nhân dân, do Việt Minh tổ chức, lãnh đạo, được lực lượng vũ trang hỗ trợ khiến chính quyền địch bị tê liệt.


Trong khi đó, tình hình quốc tế biến chuyển theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng nước ta. Ở châu Âu, phát xít Đức đầu hàng Liên Xô và Đồng minh không điều kiện (9-5-1945). Tại châu Á - Thái Bình Dương, phát xít Nhật liên tiếp bị thất bại và cuối cùng phải chấp nhận đầu hàng (15-8) sau khi Liên Xô đánh tan đạo quân chủ lực Quan Đông. Quân Nhật ở Đông Dương hoang mang, rệu rã. Chính phủ thân Nhật, do Trần Trọng Kim làm thủ tướng, hoàn toàn tê liệt. Tình thế cách mạng trực tiếp đã chín muồi. Thời cơ của cuộc tổng khởi nghĩa đã đến.


Ngày 13-8-1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc phát lệnh tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước.

Ngày 14 và 15-8, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, nhận định: "Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi. Hội nghị quyết định kịp thời lãnh đạo toàn dân khơi nghĩa giành chính quyền: đề ra đường lối đối nội, đối ngoại của Việt Minh trong tình hình mới.


Ngày 16-8, cũng tại Tân Trào, Đại hội quốc dân họp, tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng là: lãnh đạo quần chúng nhân dân nổi dậy tước vũ khí của Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương, giành lấy chính quyền từ tay Nhật, lật đổ bọn bù nhìn tay sai của Nhật, đứng ở địa vị làm chủ nước minh mà tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật trên đất Đông Dương. Đại hội đã thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, nhằm giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập. Đại hội quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời, do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.


Ngay sau khi Đại hội quốc dân bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào, các đoàn thể cứu quốc, cán bộ, chiến sĩ cả nước đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, tr.554).


Kể từ ngày 14-8, cuộc tổng khởi nghĩa đã nổ ra ở một số địa phương thuộc các tỉnh trên cả ba miền đất nước như Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Mỹ Tho, Sa Đéc, Nghệ An, Thanh Hoá... Ngày 19-8-1945, cuộc tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23-8, nhân dân Thừa Thiên Huế nổi dậy giành chính quyền, buộc vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều đình nhà Nguyễn, phải thoái vị. Ngày 25-8, cuộc khởi nghĩa giành được thắng lợi ở thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Đến ngày 28, các địa phương cuối cùng là Hà Tiên, Đồng Nai Thượng đã khởi nghĩa thành công.


Như vậy, chỉ trong vòng 2 tuần, cuộc tổng khởi nghĩa đã nổ ra và nhanh chóng giành thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi cả nước. Chế độ quân chủ phong kiến hàng nghìn năm và chế độ thống trị thực dân hơn 80 năm, đã bị lật nhào.

Ngày 25-8-1945, từ Tân Trào, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội.

Ngày 28-8, danh sách Chính phủ lâm thời được công bố.

Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Cuộc Tổng khởi nghĩa - Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã hoàn toàn thắng lợi.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi của nghệ thuật chỉ đạo và thực hành khởi nghĩa của Đảng, thể hiện ở mấy nội dung sau:

1. Trong Cách mạng tháng Tám, Đảng đã tập hợp được hết thảy mọi tầng lớp nhân dân, nòng cốt là lực lượng công nhân, hông dân vì mục tiêu cao nhất và cấp bách của cách mạng là giải phóng dân tộc. Trong tổng khởi nghĩa, toàn dân đă đồng loạt nổi dậy ở khắp ba miền, cả nông thôn đồng bằng, thành thị và rừng núi, tạo nên sức mạnh to lớn, áp đảo kẻ thù. Đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh đã chỉ rõ: "Cuộc khởi nghĩa tháng Tám 1945 đã đạt được mục đích giành chính quyền, mục đích trực tiếp của mọi cuộc cách mạng, vì nó là sự nghiệp của toàn dân đoàn kết, kiên quyết chiến đấu để tự giải phóng, do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo"1 (Trường Chinh: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb Sự thật, H.1975, tập 1, tr.374).

2. Trong Cách mạng tháng Tám, Đảng đã vận dụng thành công sách lược lợi dụng mâu thuẫn, phân hoá kẻ thù, tập trung lực lượng vào kẻ thù chủ yếu. Đảng đã xác định đúng và tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chủ yếu, trước mắt là phát xít Nhật và tay sai đồng thời tranh thủ hoặc trung lập những phần tử trung gian, lừng chừng, làm tăng thêm lực lượng cho cách mạng.

3. Trong Cách mạng tháng Tám, Đảng đã chủ trương và vận dụng thành công sự kết hợp chặt chẽ hai lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, giữa nổi dậy của quần chúng với đấu tranh quân sự. Đảng đã kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng một cách thích hợp để đập tan bộ máy chính quyền địch, thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân. "Cách mạng tháng Tám thành công căn bản là do lực lượng chính trị của nhân dân đã kịp thời nắm lấy cơ hội thuận tiện nhất, khởi nghĩa giành chính quyền Nhà nước. Nhưng nếu Đảng ta trước đó không xây dựng lực lượng vũ trang và thành lập những khu căn cứ rộng lớn để làm chỗ dựa cho lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh, và khi điều kiện đã chín muồi không mau lẹ phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang thì cách mạng cũng không thể mau chóng giành được thắng lợi"2 (Văn kiện Đại hội 3, Nxb Sự thật, H.1960, tập 1, tr.145, 146).

4. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi của nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa và nghệ thuật chọn đúng thời cơ. Diễn biến cuộc tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước cho thấy, dưới sự chỉ đạo của Đảng và thông qua các tổ chức Việt Minh, từ nông thôn, đồng bằng, thành thị đến miền núi, khi có thời cơ, nhân dân đều đồng loạt nổi dậy, thậm chí ở cả những nơi chưa nhận được chỉ thị của cấp trên. Hình thái khởi nghĩa rất đa dạng, phong phú: có địa phương khởi nghĩa từ nông thôn lan về thành thị, có nơi từ thành thị lan về nông thôn, có nơi cả thành thị và nông thôn cùng khởi nghĩa. Có nơi quần chúng đấu tranh chính trị giành chính quyền, có nơi kết hợp giữa khởi nghĩa của quần chúng với tiến công của lực lượng vũ trang. Từ khởi nghĩa từng phần các địa phương tiến lên tổng khởi nghĩa.


Một trong những thành công trong nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa của Đảng ta là thường xuyên giữ vững, phát huy ưu thế chính trị, tinh thần của quần chúng cách mạng, tạo sức mạnh áp đảo đối với kẻ thù, nhanh chóng giành thắng lợi.


Thành công lớn nhất, đặc sắc nhất của nghệ thuật khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Tám là nghệ thuật chọn thời cơ. Tình thế trực tiếp cách mạng xuất hiện khi mà quân Nhật bại trận, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng; chính quyền tay sai tan rã, tỏ thái độ đầu hàng, khi mà cao trào kháng Nhật cứu nước đã lên tới đỉnh cao, những người lừng khừng, do dự đã ngả hẳn về phía cách mạng: khi mà Đảng Cộng sản Đông Dương, tổ chức lãnh đạo tiên phong, đã được chuẩn bị đầy đủ và có quyết tâm cao. Thời cơ khởi nghĩa đã được xác định chính xác bởi nó chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn, đó là lúc quân Đồng minh chưa kéo vào Đông Dương để giải giáp phát xít Nhật. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập tự do, bởi lúc này đang diễn ra cuộc chạy đua giành quyền làm chủ đất nước Việt Nam, ta phải chớp thời cơ để giành chính quyền, lấy danh nghĩa người chủ của nước Việt Nam độc lập đề đón tiếp quân Đồng minh.


Có thể thấy, Đảng ta đã thành công trong việc xem xét và vận dụng tình thế, điều kiện thời cơ để khởi nghĩa. Điều này được thể hiện trên mấy nội dung sau: thường xuyên bắt mạch thời cuộc, nhạy bén trước sự chuyến biến của tình thế: tích cực chuẩn bị những điều kiện vật chất, tinh thần, vừa tuân thủ những quy luật khách quan, vừa biết phát huy tính năng động chủ quan, coi đây là yếu tố quyết định cho việc tạo thời cơ và đón thời cơ khởi nghĩa; khi thời cơ lịch sử xuất hiện, Đảng đã sớm phát hiện kịp thời và có các chủ trương hành động mau lẹ, kiên quyết, sáng tạo để phát động toàn dân đứng lên tổng khởi nghĩa.


Ba nguyên tắc chỉ đạo thực hành tổng khởi nghĩa được Hội nghị toàn quốc của Đảng để ra là: tập trung, thống nhất, kịp thời (tập trung lực lượng vào những mục tiêu chính; thống nhất các mặt chính trị, quân sự, hành động và chỉ huy; kịp thời tổ chức hành động đồng loạt, không bỏ lỡ cơ hội) cộng với việc chọn đúng thời cơ khởi nghĩa đã làm nên thắng lợi lịch sử vang dội của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đã chứng tỏ tài lãnh đạo, chỉ đạo thực hành khởi nghĩa của Đảng ta.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #26 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2021, 09:25:16 am »

LỊCH SỬ CHIẾN TRANH, TƯ TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945-1954)


I- TIẾN TRÌNH CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 -1954)

1. Bối cảnh trước cuộc kháng chiến

a) Trên trường quốc tế, Chiến tranh thế giới lần thứ II, một trong những sự kiện lớn của nhân loại trong thế kỷ XX, đã tạo nên những biến đổi quan trọng đối với bộ mặt thế giới. Về chính trị, quan hệ quốc tế đã có những thay đổi rất cơ bản. Đó là sự hình thành hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập nhau: hệ thống tư bản chủ nghĩa và hệ thống xã hội chủ nghĩa. Nếu trước Chiến tranh thế giới thứ II chỉ có Nhà nước Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) thì chỉ ngay sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, một loạt nước ở Trung Đông và Nam châu Âu đã tuyên bố xây dựng mô hình Nhà nước theo kiểu Liên Xô, đi từ chế độ dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội. Vậy là, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội đã vượt ra khỏi khuôn khổ của một nước để trở thành hệ thống thế giới.


Chiến thắng của Liên Xô, các nước Đồng minh và nhân loại tiến bộ đối với chủ nghĩa phát xít đã tạo điều kiện thuận lợi cho hàng loạt nước dân chủ nhân dân ra đời. Ở châu Âu có Ba Lan, Tiệp Khắc, Bun-ga-ri, Ru-ma-ni, Hung-ga-ri, An-ba-ni, Nam Tư, Cộng hoà dân chủ Đức; ở châu Á có Việt Nam dân chủ cộng hoà, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triểu Tiên, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Tại những nước này, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và công nhân, nhân dân lao động đang bắt tay vào việc xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Sự hình thành và ngày càng lớn mạnh của các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, mà Liên Xô là trung tâm, đã từng bước có ảnh hưởng đến chiều hướng phát triển của tình hình thế giới sau chiến tranh.


Liên Xô ra khỏi chiến tranh với tư thế của người chiến thắng, góp phần quyết định đánh bại chủ nghĩa phát xít nên có uy thế cao trên trường quốc tế. Nếu trước Chiến tranh thế giới lần thứ II, Liên Xô có quan hệ ngoại giao với 25 nước, thì ngay trong thời gian chiến tranh, Liên Xô đã kiến lập quan hệ ngoại giao với 26 nước nữa. Với nỗ lực vượt bậc của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô, kế hoạch khôi phục đất nước và phát triển kinh tế sau chiến tranh thu những thành tựu tốt đẹp, làm cho Liên Xô thêm vững mạnh, trở thành trụ cột cho các nước trong phe xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc.


Phong trào công nhân và nhân dân lao động tiến bộ vốn đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ và hoà bình, bảo vệ đất nước trong chiến tranh, tiếp tục duy trì và phát triển. Đây là đồng minh gắn bó với phong trào dân tộc và các quốc gia đang từng bước thiết lập thể chế nhà nước dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội.


Phong trào giải phóng dân tộc, nhờ những điều kiện thuận lợi do Chiến tranh thế giới thứ II tạo ra, đã có bước phát triển mạnh mẽ. Nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ la tinh đứng lên đấu tranh giành độc lập hoặc thoát khỏi ách phụ thuộc. Các nước như Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên..., dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân, đã thực hiện xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, theo con đường xã hội chủ nghĩa. Các nước khác như Ấn Độ, Mi-an-ma, In-đô-nê-xi-a, Ai Cập, Xi-ry..., do các đảng phái tư sản lãnh đạo, sau khi giành độc lập về chính trị, đã đưa đất nước phát triển theo con đường tư bản mang tính dân tộc (được gọi là nước dân tộc chủ nghĩa), theo đuổi chính sách đối ngoại hoà bình và trung lập.


Các phong trào và lực lượng nói trên hợp thành sức mạnh to lớn, được gọi là ba dòng thác cách mạng, dồn dập tiến công các thế lực thực dân, đế quốc và phản động quốc tế, tạo ra một cục diện mới, tích cực sau chiến tranh và trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại.


Với các nước trong phe trục phát xít Đức - Ý - Nhật, hậu quả chiến tranh để lại cho họ rất nặng nề. Bại trận, phải đầu hàng không điều kiện trước phe Đồng minh, các nước nói trên bị kiệt quệ về kinh tế và tiềm lực quốc phòng: chính trị, xã hội khủng hoảng nghiêm trọng; đời sống nhân dân vô cùng khó khăn.


Các nước tư bản còn lại, tuy mang danh thắng trận, trừ Mỹ giàu lên. song bị suy yếu và chia rẽ. Nước Anh bị thiệt hại nhiều về quân số và bị tàn phá nặng nề bởi sự đánh phá của phát xít. Các nước thuộc địa và phụ thuộc của thực dân Anh như Ma-lai-xi-a, Mi-an-ma, Ân Độ, Xây Lan (Xri-lan-ca), I-ran, Ai Cập, Y-ê-men... đã đứng lên đấu tranh làm tan rã hệ thống thuộc địa của đế quốc già cỗi này. Ở trong nước, chính trị, xã hội không ổn định, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đòi dân sinh, dân chủ, cải thiện đời sống dâng cao. Đối phó với tình trạng trên, Anh chủ trương dựa vào Mỹ để nhận được viện trợ tái thiết đất nước và cũng qua đó bảo vệ duy trì lợi ích giai cấp và thực dân của họ.


Nước Mỹ ở bên kia bờ Thái Bình Dương, cách xa chiến trường chính, nên chỉ bị tổn thất về người và phương tiện chiến tranh1 (Trong tổng số 12.300.000 quân tham chiến lúc cao nhất, có 1.218.828 binh lính bị chết, mất tích, bị thương và bị bắt, trong đó có 292.131 chết vì tai nạn, bệnh tật; 671.801 bị thương; 139.709 bị bắt, mất tích. Mỹ đã chi phí 336,7 tỷ USD vào cuộc chiến kể từ 1-7-1940 đến 31-8-1945, một số tiền khổng lồ so với thời bấy giờ (Bách khoa toàn thư quân sự Mỹ)). Hơn nữa, sau khi chiến tranh kết thúc, Mỹ là nước tham chiến duy nhất nhờ chiến tranh mà giàu lên do sản xuất và bán được nhiều vũ khí, kỹ thuật quân sự, thu lợi nhuận khổng lồ. Kinh tế phát triển, Mỹ trở thành nước duy nhất cho vay trên thế giới, có nhiều ngành sản xuất đứng đầu thế giới. Về quân sự, Mỹ có bom nguyên tử, có không quân và hải quân mạnh nhất thế giới thời đó. Với các thế mạnh trên, Mỹ đã trở thành nước đế quốc đầu sỏ, chi phối chính sách của các nước trong hệ thống tư bản chủ nghĩa và ráo riết theo đuổi chiến lược toàn cầu, toan thực hiện mưu đồ "sen đầm" quốc tế, thống trị thế giới.


Tóm lại, đặc điểm nổi bật của tình hình quốc tế sau Chiến tranh thế giới lần thứ II là ba trào lưu cách mạnh có bước phát triển mới cùng tiến công chủ nghĩa đế quốc; Liên Xô đóng vai trò trụ cột cho lực lượng cách mạng nhưng sức mạnh còn hạn chế; Mỹ vươn lên cầm đầu phe tư bản, chống phá các phong trào cách mạng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #27 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2021, 09:26:49 am »

b) Ở trong nước, sau Cách mạng tháng Tám, khí thế cách mạng tiếp tục dâng cao biến thành sức mạnh tinh thần và vật chất trong cuộc chiến đấu mới bảo vệ thành quả cách mạng vừa giành được. Sức mạnh đó bắt nguồn từ ý thức tự hào, tự tôn dân tộc, từ trách nhiệm công dân của một nước vừa giành được độc lập, tự do. Đây thực sự là nhân tố có ý nghĩa rất quan trọng trong công cuộc gìn giữ, bảo vệ và xây đắp thành quả cách mạng mới giành được.


Thực tế các phong trào yêu nước, ủng hộ kháng chiến đã tỏ rõ điều đó. Toàn dân ta từ già trẻ, trai, gái phấn khởi, tự giác, nô nức tham gia các hoạt động chính trị, xã hội. Công nhân, nông dân đi đầu trong việc tham gia lực lượng vũ trang, tập luyện quân sự và các công việc khó khăn, nguy hiểm. Thanh niên, học sinh, sinh viên hăng hái tòng quân, hoạt động tuyên truyền kháng chiến. Đông đảo trí thức sát cánh cùng những người lao động chân tay, đem trí tuệ, tài năng phụng sự Tổ quốc. Nhiều công chức chế độ cũ tự nguyện phục vụ chính quyền mới. Nhiều tư sản dân tộc, địa chủ yếu nước đã hiến một phần gia tài, điền sản cho đất nước. Đồng bào các dân tộc một lòng một dạ theo Cụ Hồ. Đồng bào theo đạo và kiều bào ta ở nước ngoài nêu cao lòng yêu nước, tham gia và ủng hộ kháng chiến theo khả năng của mình.


Thuận lợi cơ bản thứ hai là sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của nhân dân ta có Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Đây là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong quá trình vận động cách mạng, tiến hành Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 thắng lợi và là nhân tố quyết định sẽ đưa kháng chiến đến thành công. Bởi, Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, luôn xác định được đường lối đúng qua các giai đoạn cách mạng, luôn đoàn kết và gắn bó mật thiết với nhân dân, xây dựng và phát huy được khối đoàn kết toàn dân, tổ chức toàn dân hoàn thành mọi nhiệm vụ cách mạng.


Thuận lợi thứ hai là, hệ thống chính quyền cách mạng được thiết lập từ Trung ương tới địa phương và thực sự là người đại diện cho quyền lợi, ý chí và nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Chính quyền các cấp sẽ chỉ đạo, tổ chức toàn dân vừa xây dựng đất nước, vừa kháng chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm. Trong công cuộc đó, nhân dân ta có Quân đội được thành lập từ trước Cách mạng tháng Tám, với lực lượng vũ trang đông đảo, làm nòng cốt cho sự nghiệp kháng chiến.


Một thuân lợi cơ bản khác là, do sự nghiệp kháng chiến chính nghĩa, nhân dân ta được sự ủng hộ chính trị - tinh thần mạnh mẽ của loài người tiến bộ. Và, ngay từ sớm, chúng ta xác lập được sự phối hợp chiến đấu với nhân dân hai nước láng giềng Lào và Cam-pu-chia.


Cùng những thuận lợi cơ bản trên đây, bước vào cuộc kháng chiến, quân và dân ta cũng đứng trước những khó khăn, thử thách khắc nghiệt.

Chính quyền dân chủ nhân dân ở các cấp đã ra đời, song trình độ về mọi mặt, hiệu lực quản lý, điều hành còn hạn chế. Ở một số nơi, do nhận thức chưa đúng đắn hoặc sự phân công, phân nhiệm không rõ ràng đã dẫn đến tình trạng bao biện, thậm chí nảy sinh mâu thuẫn giữa các ngành, các cấp. Mặt khác, cơ cấu, tổ chức và quản lý chính quyền nhiều nơi giản đơn, lỏng lẻo khiến một số phần tử hám danh, vụ lợi thậm chí có phần tử phản động lọt vào được bộ máy chính quyền.


Lực lượng vũ trang đầy lòng yêu nước và khí thế cách mạng nhưng còn nhiều hạn chế. Cán bộ chỉ huy thiếu và phần lớn chưa được đào tạo, chỉ có số ít được học trong các trường võ bị của Pháp, Trung Hoa dân quốc. Vũ khí, trang bị vừa thiếu, vừa lạc hậu. Kinh nghiệm chiến đấu và chỉ huy vừa thiếu vừa yếu, trình độ kỹ thuật, chiến thuật còn nhiều ấu trĩ.


Nền kinh tế do chế độ cũ để lại kiệt quệ, các ngành sản xuất đình đốn. Kho bạc trống rỗng, không có nguồn thu tài chính đáng kể để triển khai việc xây dựng xã hội, bảo vệ chính quyền. Nạn đói 1945 chưa khắc phục được lại thêm thiên tai, mất mùa khiến đời sống hàng ngày của hàng triệu đồng bào cực kỳ khó khăn. Mặt khác, các tàn dư, tệ nạn xã hội do chế độ cũ để lại còn rất nặng nề, phổ biến.

Trình độ dân trí thấp, đa số đồng bào thất học, mù chữ.

Tình hình trên đây gây nhiều khó khăn đối với công cuộc củng cố và phát triển kinh tế, xã hội, ổn định, cải thiện đời sống nhân dân, ảnh hưởng tới sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân và dân cả nước. Trong khi đó, các thế lực đế quốc thực dân và phản động trong nước điên cuồng chống phá cách mạng, tìm mọi cách tiêu diệt Nhà nước công nông non trẻ. Đây là nguy cơ lớn nhất, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết, tập trung toàn lực để đối phó.


Trong khi thực dân Pháp, kẻ thù cũ và là đối tượng của cuộc kháng chiến lăm le tái xâm lược nước ta thì Mỹ, Anh, Trung Hoa dân quốc cũng có mưu đồ riêng.

Đối với cách mạng ba nước Đông Dương, trước sau Anh vẫn giữ thái độ thù địch. Với Anh, cách mạng ba nước Đông Dương thành công sẽ uy hiếp trực tiếp sự thống trị của Anh ở các thuộc địa rộng lớn khắp thế giới, nhất là khu vực Đông Nam Á như Ma-lai-xi-a, Mi-an-ma, Ân Độ, Xri- lan-ca... vả lại, Anh câu kết với Pháp đối phó với cách mạng Đông Dương đồng thời là đối phó với sự chen lấn của Mỹ, nhằm mục tiêu chung là khôi phục, duy trì hệ thống thuộc địa của họ ở khu vực này.


Ý đồ và nỗ lực trở lại Đông Dương của Pháp với sự hỗ trợ, giúp sức của Anh, đã vấp phải sự cản trở của tập đoàn Tưởng Giới Thạch - kẻ xưa nay vẫn luôn coi Đông Dương nằm trọng khu vực chiến trường do Trung Quốc, Mỹ phụ trách và đang ráo riết thực hiện âm mưu riêng với xứ sở này.


Ngay từ cuối năm 1940, khi Đông Dương bị Nhật xâm chiếm, do có mưu đồ riêng, Mỹ chẳng những không giúp Pháp chống Nhật mà còn nuôi tham vọng biến Đông Dương thành khu vực thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mỹ khi chiến tranh kết thúc. Vì vậy, Mỷ chủ trương sử dụng Tưởng Giới Thạch để thực hiện tham vọng trên.


Tuy nhiên, sau khi Ru-dơ-ven chết, Tru-man lên làm Tổng thống Mỹ thì quan điểm của chính phủ Mỹ đối với vấn đề Đông Dương bắt đầu có những thay đổi. Tru-man từng bước điều chỉnh chính sách của Ru-dơ-ven đối với các Đồng minh chống phát xít theo hướng chống cộng, cô lập Liên Xô, do vậy Mỹ nhượng bộ đối với lập trường cứng rắn của Anh trong vấn đề Đông Dương. Điều đó cũng có nghĩa là Mỹ bất chấp nguyện vọng chính đáng về quyền tự quyết của các dân tộc Đông Dương nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng. Về thực chất, Mỹ đã thay đổi lập trường, mở đường cho Pháp núp bóng quân Anh trở lại Đông Dương cũng như bật đèn xanh cho quân đội Tưởng Giới Thạch tràn xuống khu vực Bắc Đông Dương. Pháp cố bám lấy lợi ích thực dân1 (Sau này, nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích về lợi ích thực dân của Pháp, xem như nguyên nhân chính của công cuộc tái xâm lược. Ví như năm 1936 lợi nhuận được chuyển về Pháp (chủ yếu từ Việt Nam) là 1 tỷ phrăng, năm 1937 là 1,9 tỷ phrăng; về người, lính và thợ Việt Nam bị đưa sang Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ nhất là 97.903 người, hai tháng đầu Chiến tranh thế giới thứ hai đã có 70.000 thợ phải sang lao động ở Pháp), lại bị thôi thúc bởi nhu cầu tái thiết nước Pháp sau chiến tranh. Chính J.Xanh-tơ-ni, đương thời là Ủy viên cộng hoà Pháp ở Bắc Đông Dương cho rằng xứ sở này, chiếm lấy "sẽ thành một mối lợi vô cùng lớn lao có thể đóng góp khá nhiều trong việc khôi phục kinh tế của nước Pháp"2 (J.Xanh-tơ-ni: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ, Pa-ri, 1967, tr.47).


Trong khi đó, Đờ Gôn và những người thuộc phái kháng chiến Pháp, sớm đã có ý định khôi phục lại thuộc địa Đông Dương. Theo chỉ thị của Đờ Gôn, việc chuẩn bị kế hoạch và lực lượng để chiếm lại Đông Dương khi quân Đồng minh tiến công Nhật ở vùng này được gấp rút xúc tiến. Ngày 8-12-1941, trong khi toàn quyền Đông Dương, Đờ-cu, phải ký với Nhật một thoả hiệp phòng thủ chung thì Đờ Gôn, nhân danh Nước Pháp tự do, chính thức tuyên chiến với Nhật, về thực chất, quyết định trên của Đờ Gôn là nhằm dựa vào Anh và Mỹ để trở lại Đông Dương khi có thời cơ thuận lơi. Còn trước mắt, khi Ủy ban giải phóng dân tộc Pháp (CFLN) thành lập (tháng 6-1943), công cuộc chuẩn bị trở lại Đông Dương được xúc tiến khẩn trương và Đờ Gôn xem đó là "Ưu tiên hàng đầu"1 (Trong công văn ngày 21-7-1943, Đờ Gôn chỉ thị: "Một cuộc vận động quân sự bên ngoài chính quốc nhưng được xếp ưu tiên trước mọi cuộc khác, đó là việc giải phóng Đông Dương". Dẫn theo Ph.Devillers - Sài Gòn - Hà Nội, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr.42). Tháng 8-1943, Đờ Gôn chỉ thị xây dựng đạo quân viễn chinh cho vùng Viễn Đông. Đạo quân này bao gồm trung đoàn bộ binh thuộc địa thứ 5 (5e RIC) và lữ đoàn cơ động Viễn đông (BMEO), do tướng Ble-dô (Balaizot) chỉ huy. Bên cạnh đó, Đờ Gôn quyết định thành lập Phái đoàn quân sự Pháp có trụ sở tại Căng-đi (Xri-lan-ca), Can-quýt-ta (Ân Độ), Côn Minh (Trung Quốc), hình thành mạng lưới những người Pháp theo phái "kháng chiến" ở Đông Dương, đặc biệt là trong quân đội...


Như vậy, mặc dù chủ trương và biện pháp có sự khác nhau nhưng phái thân phát xít của Pê-tanh lẫn phái kháng chiến của Đờ Gôn đều cùng một mục đích thực dân nham hiểm là duy trì vị trí thống trị của Pháp ở Đông Dương, lập lại chế độ thuộc địa cũ ở xứ sở này.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #28 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2021, 09:27:35 am »

Ngày 8 tháng 12 năm 1943, nhân kỷ niệm lần thứ hai ngày cuộc chiến Thái Bình Dương nổ ra và cũng là ngày tròn hai năm "Nước Pháp tự do" chính thức tuyên chiến với phát xít Nhật, Ủy ban giải phóng dân tộc Pháp công bố "Tuyên ngôn của Chính phủ" về Đông Dương. Trong khi nhất mực khẳng định Đông Dương sẽ vẫn là xứ thuộc địa Pháp, nước Pháp sẽ tiếp tục chiến đấu bên cạnh các nước Đồng minh cho đến ngày "kẻ xâm lược thất bại và toàn bộ lãnh thổ Đông Dương được giải phóng", bản "Tuyên ngôn" đồng thời hứa hẹn "sẽ ban hành, trong nội bộ khối cộng đồng Pháp, một quy chế chính trị mới. Theo đó, trong khuôn khổ của tổ chức Liên bang (Đông Dương), những quyền tự do của các nước trong Liên bang sẽ được nới rộng và khẳng định; tính chất tự do rộng rãi của các tổ chức sẽ được nổi bật mà không hề mất đi dấu hiệu của nền văn minh và truyền thống Đông Dương"1 (Y-vơ Gra, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Pơ-lông, Pa-ri, 1979, tr.53. Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Thanh Quang, lưu Tư liệu Viện lịch sử quân sự Việt Nam). Phù hợp với sự cải cách quy chế chính trị ấy, nước Pháp cũng sẽ tiến hành những cải cách về quy chế kinh tế cũng như có sự điều chỉnh trong mối quan hệ với nước Trung Hoa. Tựu trung, toát lên từ những lời hứa hẹn "cải cách" trên đây giành cho Đông Dương là sự nỗ lực quay lại vùng đất này của giới lãnh đạo "Nước Pháp tự do". Vì thế, vào cuối năm 1944, sau khi thành lập Chính phủ lâm thời nước Cộng hòa Pháp (GPRF), Đờ Gôn tổ chức ra Ủy ban hành động giải phóng Đông Dương do viên Bộ trưởng Bộ Thuộc địa phụ trách. Ủy ban này ráo riết bắt tay chuẩn bị mọi mặt cho việc "giải phóng Đông Dương" khỏi tay phát xít Nhật, tái lập ách thống trị thực dân của Pháp. Tuy thế, trong khoảng thời gian này, trên thực tế, Pháp vẫn chưa thể hành động được gì nhiều cho mục tiêu trở lại Đông Dương. Ngày 29-11-1944, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, Gia-cô-bi tuyên bố: "Việc giải phóng Đông Dương đòi hỏi phải có những sự chuẩn bị và phải có thời hạn. Giữ nguyên trạng cho đến lúc có lệnh mới là lập trường phù hợp hơn cả với khả năng của nước Pháp”.


Bấy giờ, dưới tác động của một loạt các sự kiện liên quan tói cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II, tình hình Đông Dương chuyển biến nhanh chóng. Đêm 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, nắm quyền kiểm soát và trực tiếp điều hành mọi công việc trên toàn cõi Đông Dương. Quân đội Pháp tại đây hầu như không có phản ứng gì và phần lớn bị Nhật tước vũ khí, bắt làm tù binh. Sau hành động này của phát xít Nhật, ngày 24 tháng 3 năm 1945, Đờ Gôn ra bản tuyên bố về vấn đề Đông Dương, chính thức xác nhận quan điểm của Chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp đối với vùng đất mà người Pháp đã có mặt và áp đặt ách thống trị kéo dài ngót 80 năm. Xem việc trở lại nắm quyền thống trị Đông Dương như một lẽ đương nhiên, không bàn cãi, bản tuyên bố đồng thời vạch ra những nội dung chính của chế độ mà Pháp dự định áp dụng ở đây. Theo đó, "Liên bang Đông Dương sẽ cùng với nước Pháp và những nước khác của cộng đồng thành lập một "Liên hiệp Pháp" mà lợi ích bên ngoài sẽ do nước Pháp đại diện. [...] Đông Dương sẽ có riêng một chính phủ Liên bang do toàn quyền đứng đầu và gồm nhiều bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Chính phủ, chọn hoặc trong số những người Đông Dương hoặc trong số những người Pháp cư trú ở Đông Dương. [...] Một quốc hội bầu theo kiểu đầu phiếu nào thích hợp nhất với mỗi nước cũ Liên bang và trong đó lợi ích của nước Pháp sẽ đại diện, sẽ biểu quyết những khoản thuế mọi loại cùng ngân sách Liên bang và thảo luận những dự án luật. [...] Ông toàn quyền là người trọng tài của tất cả trong lợi ích riêng của mỗi nước [...]. Liên bang Đông Dương sẽ được hưởng, trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp, một chế độ tự trị kinh tế cho phép nó đạt mức phát triển cao nhất về nông nghiệp, công nghiệp và thương mại"...1 (Dẫn theo Ph.Devillers: Paris - Sài Gòn - Hà Nội, Sđd, tr.84, 85).


Qua những nội dung chủ yếu trên đây trong bản tuyên bố sau ngày Nhật đảo chính Pháp, có thể thấy rằng, chế độ chính trị mà Chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp dự định lập lại ở Đông Dương, ngoại trừ một vài điều chỉnh nhằm mị dân, về thực chất vẫn chỉ là một chế độ thực dân kiểu cũ: Đông Dương sẽ được thành lập theo kiểu liên bang, có một chính phủ chung. Chính phủ chung này do một viên Toàn quyền người Pháp đứng đầu. Bên cạnh viên Toàn quyền, một hội đồng nhà nước với số thành viên người Đông Dương không quá 50% sẽ được thành lập; một quốc hội cũng được bầu ra mà thành phần và hoạt động của nó phải phản ánh đầy đủ quyền lợi của nước Pháp...


Nhất quán với ý đồ quay lại Đông Dương, ngày 2 tháng 5 năm 1945, Bi-đôn (G.Bidault) - Bộ trưởng ngoại giao Pháp lúc bấy giờ đang tham dự Hội nghị San Phran-xi-xcô đã tuyên bố: Quyết định tương lai của Đông Dương phụ thuộc vào nước Pháp và chỉ có nước Pháp mà thôi (!).


Đồng thời với những tuyên bố trên đây, Chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp tiếp tục đẩy mạnh việc chuẩn bị mọi mặt để trở lại Đông Dương. Số quân Pháp ở Bắc Bộ Việt Nam dạt sang biên giới Việt - Trung sau khi Nhật đảo chính được lệnh bám chắc và cầm cự ở vùng biên giới chờ thời cơ. Các đại diện Chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp được cử đi thăm dò thái độ cũng như tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình của các nước Đồng minh chống phát xít về việc Pháp trở lại Đông Dương. Pháp chính thức yêu cầu Trung Hoa dân quốc và Mỹ giúp đỡ và trang bị lại cho những đơn vị quân Pháp dạt sang đất Trung Quốc, để những đơn vị này có đủ điều kiện trở lại Việt Nam khi tình hình cho phép. Tại Vân Nam (Trung Quốc), một nhóm vũ trang người Pháp do viên tướng Sa-bá-chi-ê (Sabatier) cầm đầu được tổ chức. Tại Can-quýt-ta (Ấn Độ), quân Anh giúp Pháp tổ chức, huấn luyện và trang bị một trung đội quân Pháp. Trung đội này, trên danh nghĩa là một bộ phận của quân Anh nhưng thực tế là lực lượng quân sự mà Pháp chuẩn bị tung vào Đông Dương. Cùng thời gian này, Phái đoàn quân sự Pháp (M.5) tại Côn Minh ráo riết móc nối, liên kết và thiết lập hệ thống tình báo trên vùng biên giới Trung - Việt. "Cơ quan tổng chỉ đạo nghiên cứu và tìm tòi" (DGER) do đại tá Pát-xi Đờ Oa-vơ-xanh (Passy De Wavsin) phụ trách, có căn cứ đặt tại Can-quýt-ta, dưới tên gọi Ban liên lạc Pháp tại Viễn Đông (SLFE0) được thành lập nhằm điều phối các hoạt động chống Nhật, chuẩn bị cho việc Pháp trở lại Đông Dương. Hướng mạnh theo nỗ lực này, Pháp tung các toán biệt kích xuống hoạt động ở vùng rừng núi Việt Nam và Lào; cải tổ uỷ ban hành động giải phóng Đông Dương thành Ủy ban Đông Dương do chính Đờ Gôn làm chủ tịch; thành lập Lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (FEFEO) - sau đổi thành Đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (CEFEO). Đạo quân này bao gồm sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9 (9e DIC) do Va-luy (Valluy) chỉ huy, bấy giờ đang đóng trên đất Đức; binh đoàn thiết giáp do Mát-suy (Massu) chỉ huy và sư đoàn bộ binh thuộc địa số 3 (3e DIC)... Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Đờ Gôn quyết định cử Đô đốc Đác-giăng-li-ơ (Thierry d'Argenlieu) làm Cao uỷ kiêm Tổng tư lệnh lực lượng hải-lục-không quân Pháp tại Viễn Đông và tướng Lơ-cléc (Leclerc d' Haute Cloque) làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp tại Viễn Đông. "Sứ mệnh đầu tiên của Cao uỷ là khôi phục lại chủ quyền của Pháp trên lãnh thổ của Liên bang Đông Dương. Tướng chỉ huy tối cao của các lực lượng quân sự-tại Viễn Đông chịu trách nhiệm dưới quyền Cao uỷ, thi hành mọi biện pháp quân sự cần thiết nhằm khôi phục chủ quyền đó"1 (Chỉ thị của Đờ Gôn gửi Đác-giăng-li-ơ ngày 16-8-1945. Dẫn theo Ph.Devillers: Paris - Sài Gòn - Hà Nội, Sđd, tr.131).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #29 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2021, 09:29:29 am »

2. Những chặng đường phát triển của cuộc kháng chiến

a) Từ kháng chiến ở miền Nam đến kháng chiến toàn quốc. Đánh bại chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của thực dân pháp (9-1945-12-1947)

Trải qua gần một trăm năm đấu tranh đầy hy sinh, gian khổ, nhân dân ta đã giành được độc lập, tự do. Nhưng thành quả vĩ đại đó đang bị kẻ thù uy hiếp, đe dọa nghiêm trọng.

Ở miền Bắc, theo quyết định của Hội nghị Pốt-xđam, gần 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc vào giải giáp phát xít Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra. Quân Tưởng ráo riết thực hiện âm mưu tiêu diệt cách mạng Việt Nam, lập chính quyền tay sai. Đứng sau Tưởng là đế quốc Mỹ.


Ở miền Nam, quân Anh vào giải giáp phát xít Nhật và vì lợi ích thực dân, họ giúp Pháp quay lại Đông Dương. Đến trung tuần tháng 9 năm 1945, hai đại đội quân viễn chinh Pháp, núp dưới bóng quân Anh, đã có mặt ở Sài Gòn và những tù binh Pháp mới được thả. Cộng với số Pháp kiều được vũ trang cùng quân Anh, quân Nhật thì lực lượng nước ngoài có mặt tại đây đã lên tới hơn 10.000 tên.


Đêm 22 rạng sáng 23 tháng 9 năm 1945, được quân Anh tiếp tay, thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn - Chợ Lớn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược trở lại Việt Nam1 (Cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta chống thực dân Pháp xâm lược đã bùng nổ trên chiến trường Nam Bộ, ngày 23 tháng 9 năm 1945; 19 tháng 12 năm 1946 là mốc mở đầu kháng chiến toàn quốc). Chúng tập kích trụ sở Uỷ ban nhân dân Nam Bộ, Sở Cảnh sát, trại Cộng hoà vệ binh, cơ quan Quốc gia tự vệ cuộc (công an), nhà Ngân hàng, Khám Lớn, sở Bưu điện... nhằm tiêu diệt, vô hiệu hoá cơ quan đầu não của toàn Nam Bộ, nhanh chóng chiếm thành phố rồi đánh toả ra các nơi.


Ngay buổi sáng ngày 23, Xứ uỷ và Ủy ban nhân dân Nam Bộ đã họp tại phố Cây Mai (Chợ Lớn), có các đồng chí Ung Văn Khiêm, Trần Văn Giàu, Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Văn Tiểng,... và Hoàng Quốc Việt, thay mặt Trung ương dự, xác định chủ trương kiên quyết đánh và phát động nhân dân Nam Bộ đứng dậy kháng chiến. Ta đánh trả địch ở khắp nơi. Sài Gòn triệt để tổng đình công, không hợp tác với giặc. Công sở, hàng buôn, xí nghiệp đóng cửa. Chợ không họp, xe ngừng chạy. Nhà máy điện, nhà máy nước bị phá. Bàn, ghế, giường, phản, hòm tủ... được liệng ra đường. Vật chướng ngại mọc lên khắp nơi. Tự vệ, xung phong công đoàn triển khai tại các vị trí chiến đấu. Đồng bào ngoại thành phá đường, đào chiến hào, lập chiến luỹ ở Thị Nghè, Khánh Hội, cầu Bông, cầu Kiệu... Hừng hực khí thế Nam Bộ vào trận:

"Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến. Rền khắp trời lời hoan hô, dân quân Nam nhịp chân tiến ra trận tiền. Thuốc súng kém, chân đi không mà lòng người giàu lòng vì nước. Nóp với giáo mang ngang vai nhưng thân trai nào kém oai hùng..."1 (Lời bài hát "Nam Bộ kháng chiến" của Tạ Thanh Sơn, in trong tập Mùa thu rồi ngày hăm ba (nhiều tác giả), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.514)


Ngày 26, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi, có đoạn: "Tôi tin và đồng bào cả nước đều tin vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ... Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ!"2 (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tập I, tr.363).

Máu chảy ruột mềm, cả nước dấy lên phong trào sôi nổi ủng hộ kháng chiến miền Nam. Khắp nơi liên tiếp diễn ra mít tinh, biểu tình biểu thị quyết tâm kháng chiến, kiên quyết bảo vệ độc lập tự do. Hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ lập "Phòng Nam Bộ" ghi tên những người tình nguyện vào Nam giết giặc. Đông đảo công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, thầy thuốc, thầy giáo, viên chức... và cả một số nhà sư cũng cởi áo cà sa tình nguyện lên đường chiến đấu. Chỉ trong một thời gian ngắn, các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đều tổ chức mỗi tỉnh từ một đến hai chi đội (tương đương trung đoàn hoặc tiểu đoàn) Nam tiến và lên đường vào Nam chiến đấu.


Ngay trong tuần lễ đầu, quân Pháp đã chịu nhiều tổn thất gặp nhiều khó khăn, đứng trước "một cuộc chiến tranh kỳ lạ", như nhận định đương thời của hãng Roi-tơ.

Nội thành Sài Gòn - Chợ Lớn được chia thành 16 khu tác chiến ngoại thành dần dần hình thành 3 mặt trận: phía Đông, phía Tây và phía Nam bao vây vòng ngoài. Tuy nhiên, sự phối hợp của các khu tác chiến kém ăn ý, vòng vây phía ngoài không xiết chặt lại được, do khu vực quá rộng, cửa ngõ quá nhiều. Tháng 10, có thêm viện binh, địch sử dụng tầu Anh, trương cờ Anh và dùng cơ giới theo các đường thuỷ bộ phá được vòng vây đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ.


Trong khi đó, tại Nam Trung Bộ, ta phải đối phó với quân Nhật, do quân Anh điều khiển, tiếp tay cho thực dân Pháp xâm lược. Theo chủ trương, ta hết sức tránh xung đột với Nhật, trừ ở những nơi họ cố tình đánh chiếm mục tiêu để giao cho Pháp, như các trận trên đường 14 Nam Bộ - Buôn Ma Thuột, đường 21 Tây Nguyên - Ninh Hoà. Tại nhiều nơi như Nha Trang, Ba Ngòi... quân Nhật nghe theo sự giải thích của ta, rút về vị trí tập kết và đôi khi còn để lại cho ta một số vũ khí1 (5.000 quân Nhật ở Ba Ngòi khi rút về Cam Ranh đã để lại trên 1.000 súng, một số máy vô tuyến điện và quân trang, xăng dầu).


Đêm 19 tháng 10 năm 1945, Pháp đổ thêm quân lên đảo Hòn Cau, tiến chiếm Nha Trang. Bộ đội Nam tiến cùng quân và dân địa phương dựa vào dãy điểm cao phía Tây và ven sông Xóm Bóng bao vây địch ở Nha Trang, ngăn cản chúng phát triển chiếm Tây Nguyên và vùng lân cận.


Cuối tháng 1 năm 1946, 15.000 quân Pháp, do Lơ-cle trực tiếp chỉ huy mở cuộc hành quân Gô (Gaur) đánh ra các tỉnh Cực Nam Trung Bộ. Đến đầu tháng 2, chúng chiếm được một số thị xã, thị trấn và đường giao thông. Lực lượng ta vẫn làm chủ vùng nông thôn Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận.


Quân và dân Nam Bộ, Nam Trung Bộ cùng bộ đội Nam tiến chiến đấu cực kỳ dũng cảm. Nhưng địch có lực lượng lớn, ta lại chưa được chuẩn bị nên không thể làm chủ tình thế, không tránh khỏi bị tổn thất.

Sau khi chiếm được các địa bàn then chốt và kiểm soát các đường giao thông chính ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, mục tiêu tiếp theo của Pháp là đưa quân ra miền Bắc. Nguy cơ cuộc chiến tranh xâm lược lan rộng đang đến gần. Ta chủ trương tạm hoà hoãn với thực dân Pháp, chuẩn bị kháng chiến toàn quốc. Trên tinh thần đó, đại diện Chính phủ ta đã ký với đại diện Chính phủ Pháp Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946. Tiếp đó, hai bên họp trù bị ở Đà Lạt (cuối tháng 4 đầu tháng 5) chuẩn bị cho cuộc đàm phán chính thức. Cuộc đàm phán Việt-Pháp khai mạc ngày 6-7-1946 tại Phông-ten-nơ-blô. Tuy nhiên, do lập trường của giới thực dân hiếu chiến Pháp, thiện chí và mọi cố gắng đối ngoại của ta đều không được đáp ứng. Bản Tạm ước, bước "nhân nhượng cuối cùng" của ta, được ký ngày 14-9, cũng không được phía Pháp tôn trọng. Những vấn đề chủ yếu liên quan đến vận mệnh Tổ quốc ta chưa được giải quyết.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM