Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:11:55 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tính trước nguy cơ - Suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng  (Đọc 42113 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #80 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2022, 07:55:08 am »

Tóm lại, không coi trọng nguyên tắc chính trị, không kiên trì sự lãnh đạo của Đảng, không đế ý tới "dân chủ hóa" và "công khai" trong thực tế khách quan trong và ngoài nước phức tạp, dẫn tới dư luận xã hội Liên Xô mất kiểm soát nghiêm trọng và tâm trạng bất mãn xã hội tha hồ lan tỏa. Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô và thể chế Liên Xô bị hoài nghi, Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô với Gorbachev làm đại diện đứng trước khủng hoảng niềm tin chưa từng có. Đa số người bắt đầu cho rằng, Đảng Cộng sản Liên Xô đã đưa Liên Xô đi vào ngõ cụt, mô hình chủ nghĩa xã hội với Đảng Cộng sản Liên Xô làm tiêu biểu đã thất bại. Trong bầu không khí đó, là nước cộng hòa trụ cột lớn nhất của Liên Xô, nước Nga công khai tuyên bố, chỉ có độc lập, vứt bỏ những gánh nặng lạc hậu là các nước cộng hòa khác, thực hiện chủ quyền, thì mới có thể làm tốt công việc của mình, cần phải lựa chọn đi một con đường cải tổ xã hội mạnh mẽ.


Thứ sáu, từ lựa chọn mô hình cải tổ phát triển tới từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa. Các nhà sử học Nga chỉ ra, vào thời kỳ cuối cầm quyền của Gorbachev, các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đã bỏ phí hết tâm cơ, dao động bất định giữa "con đường", "mô hình" và "lý luận". Về mặt lựa chọn tư tưởng lý luận, Đảng Cộng sản Liên Xô trước tiên là kiên trì "hoàn thiện chủ nghĩa xã hội", saư đó lại đưa ra "chủ nghĩa xã hội nhân đạo, dân chủ", đề xướng tư tưởng "chủ nghĩa cộng sản Tây Âu", chủ trương tiếp thu các thành quả văn minh của toàn nhân loại, đề xướng "tư duy mới", về mặt lựa chọn mô hình cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô trước tiên là học tập kinh nghiệm của các nước Đông Âu, trong đó có Hunggari; về sau chuyển sang tìm kiếm mô hình Bắc Âu, nhất là rất sùng bái "mô hình xã hội phúc lợi" của Thụy Điển, để cho cán bộ cấp cao Đảng Cộng sản Liên Xô nườm nượp sang thăm và tìm hiểu kinh nghiệm.


Trong thời gian từ năm 1989 đến năm 1990, "chủ nghĩa xã hội" bắt đầu mất đi sức hâp dẫn trong giới trí thức Liên Xô, cho dù Gorbachev có cho thêm tiền tố "dân chủ", "nhân đạo" vào chủ nghĩa xã hội thì cũng đã vô hiệu. Một chuyên gia nghiên cứu Liên Xô của phương Tây từng miêu tả tâm trạng và sự kỳ vọng của giới trí thức Liên Xô lúc bây giờ thế này: chủ nghĩa xã hội "không phải là lấy chế độ công hữu làm nền tảng... sẽ không thay thế chủ nghĩa tư bản, càng không cung cấp một bối cảnh khác"1 (Tham khảo [Mỹ] David Kotz, Fred Weir: Cuộc cách mạng đến từ thượng tầng - Sự cáo chung của thể chế Liên Xô", Sđd, tr.91). Lúc đó, phe cấp tiến ở trong nước Liên Xô được sự gợi mở của sự kiện Đông Âu, hết sức tán thưởng khẩu hiệu "nhìn ngang sang phương Tây", tâm trạng từ bỏ chủ nghĩa xã hội đã lên tới cao trào. Một kết quả điều tra dân ý có tính toàn quốc cho thấy, khi trả lời câu hỏi "Liên Xô lựa chọn con đường đi lên như thế nào?", 32% số người cho rằng cần bắt chước Mỹ, 17% số người lựa chọn Đức, 11% số người trông vào Thụy Điển, chỉ có 4% số người lựa chọn phương thức Trung Quốc2 ([Nga] "Biến động xã hội và kinh tế : Điều tra dư luận xã hội", "Thông báo điều tra dư luận xã hội toàn Nga" số 6 năm 1993, tr.14). Nhiều người quyết định đi theo con đường "cách mạng triệt để", rời xa "bờ bên này" của chủ nghĩa xã hội, một bước đi sang "bờ bên kia" của chủ nghĩa tư bản. Nhà lãnh đạo ý thức hệ của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô lúc đó là Yakovlev viết: "Nếu như nói con đường phát triển xã hội chủ nghĩa là ngõ cụt, vậy thì muốn thoát ra từ ngõ cụt cần phải có một cách - lùi trở lại, lùi lại đến con đường lớn đã rời xa do bạo lực cách mạng kia"3 ([Nga] A.N. Yakovlev: Một ly rượu đắng - chủ nghĩa Bônsêvích và phong trào cải tổ của Nga, Sđd, tr.274). Trong con mắt của phe cấp tiến, "chia tay chủ nghĩa xã hội", lựa chọn một con đường phát triển mới, kiểu phương Tây, thì nước Nga sẽ bước lên con đường văn minh, phục hưng trong vòng một, hai năm1 ("Bài phát biểu của Tổng thống Yeltsin", Báo Tin tức [Liên Xô], ngày 28 tháng 11 năm 1991).


Đầu mùa hè năm 1992, Yeltsin lần thứ hai thăm Mỹ. Khác với chuyến thăm Mỹ lần trước, ông ta đã không còn là phe đối lập của Đảng Cộng sản Liên Xô gặp nạn nữa, mà là nhà lãnh đạo tối cao của nước Nga mới. Yeltsin phát biểu diễn giảng tại Mỹ, nói rằng ông ta đại diện cho "quốc gia dân chủ" trẻ nhất trên thế giới, đến "thánh địa" có truyền thống dân chủ lâu đời; thí nghiệm chủ nghĩa cộng sản trên mảnh đất Nga đã "ra đi không trở lại", tất cả những gì mà thế giới văn minh có sẽ "đơm hoa kết trái" tại nước Nga.


Dưới sự thôi thúc của "tâm trạng thắng lợi", phe cấp tiến của Nga đã cổ xuý "thị trường hoàn toàn tự do" trong đời sống kinh tế dừng sự can thiệp của nhà nước đối với công tác kinh tế, đập tan chế độ sở hữu nhà nước, thực hiện tư hữu hóa toàn diện. Họ lấy xã hội phương Tây làm tấm gương, tạo ra một loạt câu chuyện "thần thọai" thị trường và tự do, và lấy đó để lừa gạt người dân Nga muốn nhanh chóng thoát khỏi cảnh khó khăn. Trong phát biểu của tiến sĩ kinh tế học A.Pyasheva thuộc phái tự do, cố vấn kinh tế  chính quyền thành phố Mátxcơva khi đó đã diễn đạt một cách chân thực trào lưu tư tưởng dư luận và trạng thái tâm lý xã hội của Nga. Bà ta viết: "Chủ nghĩa xã hội và thị trường, dân chủ giống như 'nước lửa không dung hòa'. Nga cần trong một thời gian ngắn nhất, dùng tốc độ cách mạng để thực hiện tự do hóa kinh tế. Xóa bỏ và cấm đoán ý thức hệ của chủ nghĩa cộng sản. Đưa những kẻ tội đồ của lịch sử lên 'bục xét xử'. Xã hội Nga cần 'sám hối', đưa thi thể của Lênin đi mai táng. Đem tất cả những vật tượng trưng của chủ nghĩa cộng sản chuyển vào bảo tàng. Khi ý thức kinh doanh tiềm ẩn trong người Nga được giải phóng toàn bộ, chính là ngày phục hưng của xã hội Nga"1 (A.Pyasheva: "Chữa khỏi dựa vào tự do", Tổ quốc [Nga], số 5 năm 1990, tr.Cool.


Tóm lại, sai lầm về định hướng dư luận của Đảng Cộng sản Liên Xô đã dẫn đến hỗn loạn tư tưởng trong xã hội Liên Xô, mọi người hoài nghi đối với niềm tin trước kia, mất đi sự tín nhiệm đối với Đảng Cộng sản Liên Xô và lòng tin đối với tương lai của xã hội Liên Xô. Một chính quyền tương đối có sức sống đã bị nhấn chìm như thế trong biển cả dư luận do "công khai", dẫn tới sự diệt vong của nó là tất yếu.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #81 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2022, 07:56:54 am »

3. Vấn đề đánh giá lịch sử

Về mặt định hướng dư luận của công tác ý thức hệ, vấn đề đánh giá lịch sử chiếm vị trí cực kỳ nổi bật. Làm thế nào để nhìn nhận đúng đắn lịch sử của Đảng, làm thế nào để đánh giá các nhân vật lịch sử một cách công bằng, đặc biệt là vai trò và công tội của các nhân vật lãnh tụ là tiêu chí quan trọng để đánh giá một Đảng có trưởng thành về chính trị hay không. Là Đảng xây dựng quốc gia xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, trong quá trình hơn 70 năm cầm quyền của mình, Đảng Cộng sản Liên Xô vừa giành được thành tích to lớn, nhưng cũng xuất hiện những trắc trở và sai lầm, trong đó vấn đề lịch sử ở một số giai đọan cần phải làm rõ. Thế nhưng, nhìn nhận những vấn đề lịch sử để lại, trước tiên cần xây dựng một tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, cần phải tôn trọng sự thực lịch sử và suy xét tới môi trường và điều kiện lịch sử lúc bấy giờ. Nhìn nhận lịch sử của Đảng, cần kiên trì nguyên tắc tính Đảng, với thái độ khoa học, thực sự cầu thị, trên cơ sở tích cực tổng kết bài học kinh nghiệm, từng bước giải quyết trong tiến trình "cải tổ". Vừa cần đánh giá công - tội, đúng - sai của nhân vật lãnh tụ, vừa cần tổng kết những kinh nghiệm và bài học trong đó. Nhìn lại lịch sử, tuyệt đối không thể lúc hăng hái hô một tiếng là lên, hoặc chỉ nhấn mạnh mặt tối, không nhìn vấn đề một cách toàn diện, lịch sử. Phủ định sạch trơn quá khứ, không chỉ trái với sự thật, mà còn có hại, lại càng đáng xấu hổ.


Về lịch sử Liên Xô, kể từ sau khi giới sử học Liên Xô triển khai phong trào giáo dục chính trị vào đầu những năm 30 của thế kỷ XX đặc biệt là sau khi cuốn Giáo trình tóm tắt lịch sử Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang xuất bản năm 1938, đã có một sự giải thích về cơ bản là ổn định. Sau khi Khrushchev mượn "Báo cáo bí mật" phê phán sự mê tín cá nhân Xtalin tại Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1956, mới dẫn tới sự hỗn loạn tư tưởng cực kỳ lớn trong mọi người. Thời kỳ giữa những năm 60 của thế kỷ XX, sau khi Brezhnev lên nắm quyền đã đưa ra phê bình đối với Khrushchev và cách làm của ông ta.


Thế nhưng, sau khi Gorbachev - người được gọi là "con đẻ của Đại hội XX", lên nắm quyền, để đạt được mục đích chính trị của mình, đã cùng với một số người trong đó có Yakovlev dẫn dắt Đảng Cộng sản Liên Xô bước lên con đường phỉ báng toàn diện lịch sử Liên Xô, từ "xét lại lịch sử" phát triển tới phủ định sạch trơn lịch sử cách mạng. Họ bắt đầu từ phủ định toàn diện Xtalin, không những vươn tới tất cả các nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản, trong đó bao gồm cả Lênin, mà còn phủ định toàn diện thể chế xã hội chủ nghĩa được hình thành trong thời kỳ Xtalin, tiến tới nghi ngờ lịch sử của toàn bộ 70 năm, phê phán con đường xã hội chủ nghĩa1 (Tham khảo [Nga] Sokurov: Giáo trình lịch sử Liên Xô (1941-1991), bản tiếng Nga, Nxb. Đại học cao đẳng Mátxcơva, năm 1999, tr.349).


Ngày 13 tháng 2 năm 1987, khi tiếp lãnh đạo giới dư luận và tuyên truyền, Gorbachev đưa ra một khẩu hiệu nổi tiếng: "Trong lịch sử và văn học đều không nên có cái tên và điểm trống nào bị bỏ quên". Đây rõ ràng là muốn định hướng mọi người thanh toán món nợ cũ của lịch sử. Thế là xã hội Liên Xô dấy lên một làn sóng "xét lại lịch sử". Trong làn sóng đó, Đảng Cộng sản Liên Xô bị gọi là "kẻ tội đồ lịch sử", chế độ Liên Xô đã trở thành "nguồn gốc của muôn vàn tội ác"1 (Tham khảo báo Văn hóa [Nga], ngày 19 tháng 1 năm 1994). Phe cấp tiến lợi dụng các loại "vấn đề lịch sử" để phóng đại lên tới mức "đỉnh cao". Họ điên cuồng vạch trần Xtalin, cho rằng "Cách mạng Tháng Mười là một cuộc cách mạng siêu khủng bố do một số ít người tạo ra"2 ([Nga] A.N.Yakovlev: Một ly rượu đắng - chủ nghĩa Bônsêvích và phong trào cải tổ của Nga, Sđd, tr.48). Lênin cũng trở thành đối tượng bị phê phán. Phe cấp tiến cho rằng, Lênin và cách mạng Bônsêvích do ông lãnh đạo ngay từ đầu đã đưa nước Nga tới số phận bi thảm, nước Nga vốn dĩ đã phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa kiểu phương Tây, nhưng lại bị người nắm quyền Bônsêvích ngăn cản một cách cố ý, những thí nghiệm xã hội chủ nghĩa sau đó lại càng đưa nó tới con đường sai lầm. Ngụ ý ở đây là nói: Nếu như có thể lật đổ sự thống trị của Đảng Cộng sản Liên Xô, thì nước Nga sẽ quay trở lại với "văn minh bình thường", tức xã hội tư bản chủ nghĩa kiểu phương Tây.


Sau sự kiện "19 tháng 8", nhiều bức tượng Lênin vốn đứng sừng sững ở nhiều nơi như Mátxcơva chỉ trong một đêm đã bị giật đổ. Các biểu tượng lịch sử liên quan tới Đảng Cộng sản Liên Xô và chủ nghĩa xã hội khác cũng gặp số phận giống như vậy, nhiều đồ trưng bày trong bảo tàng bị dời đi một cách khó hiểu. Trong xã hội dấy lên một làn sóng "đổi tên", địa danh thành phố, tên phố, tạp chí ào ào thay đổi bộ mặt, cố gắng vứt bỏ đi những tên gọi hoặc biểu tượng liên quan tới Liên Xô, Đảng Cộng sản Liên Xô hoặc chủ nghĩa xã hội. Một số nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô vội vàng vứt đi thẻ Đảng, nhằm tỏ ra "tẩy tâm đổi mặt". Các tàn dư thế lực cũ của Nga nườm nượp về nước, vấn đề di hài của Sa hoàng cuối cùng được các phương tiện thông tin đại chúng theo sát, về sau do Yeltsin đích thân chủ trì tiến hành quốc tang. Đồng thời, phe cấp tiến lại ra sức hô hào "di dời thi hài của Lênin ra khỏi Quảng trường Đỏ". Lịch sử tang thương, vật đổi sao dời. Lý tưởng của nhân dân Liên Xô bị tan vỡ, "thần tượng" trong lòng mọi người sụp đổ, trào lưu tư tưởng xã hội cực kỳ dễ bị dao động. Phủ định lịch sử dẫn tới sự hỗn loạn của tư tưởng xã hội, xã hội giống như mất đi "biển chỉ đường", đã đẩy nhanh tiến trình tan vỡ của ý thức hệ Đảng Cộng sản Liên Xô.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #82 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2022, 07:57:54 am »

Khi đó, phong trào phủ định lịch sử dấy lên trong xã hội Liên Xô về nội dung và hình thức thể hiện mấy đặc điểm sau.

Thứ nhất, hoạt động "xét lại lịch sử" do người lãnh đạo tối cao của Đảng Cộng sản Liên Xô đích thân tổ chức, tiến hành một cách có kế hoạch. Một số nhà sử học nói, thời kỳ đầu cải tổ, Gorbachev, Yakovlev kêu gọi bù lấp những "điểm trông", viết lại lịch sử, có tính chính trị và tính khuynh hướng tư tưởng rất mạnh, không phải là do có hứng thú đối với vấn đề lịch sử, mà chủ yếu là tạo dư luận nhằm thúc đẩy cải tổ của ông ta, thực hiện mục đích chính trị của mình1 (Tham khảo [Pháp] Maria - Phillipe: "Sự bấn loạn của ký ức: Nước Nga và chủ nghĩa Xtalin", website: www.polit.ru, ngày 20 tháng 11 năm 2002).


Tháng 11 năm 1986, tại Hội nghị chủ nhiệm phòng nghiên cứu giáo dục khoa học xã hội toàn Liên Xô, Gorbachev chỉ trích sách giáo khoa lịch sử của Liên Xô tồn tại các vấn đề "chủ nghĩa công thức, giáo điều và hình thức". Ông ta yêu cầu biên soạn lại sách giáo khoa. Sau Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 1 năm 1987, Gorbachev nhiều lần ra lệnh cho giới báo chí, nói rằng "trong vấn đề lịch sử không nên giấu giấu giếm giếm". Để bảo đảm "kênh tuyên truyền", Gorbachev và Yakovlev thường xuyên "so đồng hồ" với giới tinh hoa báo chí. Tháng 7 năm 1987, tại một cuộc tọa đàm với giới tinh hoa báo chí và sáng tác nghệ thuật, Gorbachev nhấn mạnh, những sự kiện trong giai đọan từ năm 1937 đến 1938 không thể, cũng không nên thông cảm và khoan thứ1 (Tham khảo [Liên Xô] Tuyển tập phát biểu của Gorbachev, Sđd, q.5, tr.217, chuyển dẫn từ A.S. Barsenkov: Dẫn luận lịch sử nước Nga đương đại (1985- 1991), Sđd, tr.84). Tháng 11 năm 1987, Đảng Cộng sản Liên Xô triệu tập Đại hội kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Mười Nga. Trước Đại hội, một số người, trong đó có Yakovlev, đã sắp xếp và khởi thảo kỹ càng báo cáo của Gorbachev tại Đại hội kỷ niệm2 ([Nga] A.N.Yakovlev: Một ly rượu đắng - chủ nghĩa Bônsêvích và phong trào cải tổ của Nga, Sđd, tr.185-186). Với việc mượn danh nghĩa bảo vệ Lênin, báo cáo đã đưa ra phê bình gay gắt đối với Xtalin. Gorbachev về sau đắc ý nhớ lại, điểm sáng tạo của báo cáo này chính là "từ phê bình Xtalin chuyển sang phê phán thể chế Xtalin"3 (Tham khảo [Nga] Gorbachev, Slaven: Lịch sử chưa kết thúc: Ghi chép trao đổi của Gorbachev, Nxb. Biên dịch Trung ương, 2002, tr.25). Yakovlev cũng nói thẳng, mục đích của ông ta là muốn mượn Đại hội kỷ niệm 70 năm để đẩy "tư tưởng mới" tiến lên. Trong báo cáo có tựa để "Cách mạng Tháng Mười và cải tổ: Cách mạng đang tiếp tục", Gorbachev tuyên bố cần tiếp tục sự nghiệp chưa hoàn thành vào những năm 1960, khôi phục lại công bằng lịch sử4 (Tham khảo [Liên Xô] Tuyển tập phát biểu của Gorbachev, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 1988, q.5, tr.386-436). Yakovlev nói với phóng viên tại cuộc họp báo Đại hội kỷ niệm rằng, không nên coi những phân tích đối với lịch sử tại Đại hội kỷ niệm lần này là kết luận cuối cùng, không nên giáo điều hóa, cố định hóa một số kết luận trong báo cáo. Tiếp đến, ông ta tiếp tục kích động, cốgắng cổ vũ, tiếp sức cho thế lực phủ định toàn diện lịch sử1 (Tham khảo [Nga] A.N.Yakovlev: Nhìn thấu nỗi khổ của hồng trân, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 1991, tr.93).


Khi đó, trong Đảng và Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô có thái độ không thống nhất đối với "cơn sốt lịch sử" này. Ủy viên Bộ Chính trị Ligachev và Chủ tịch Hội đồng An ninh quốc gia Liên Xô Chebrikov đều phản đối "đa nguyên hóa ý thức hệ" và bôi nhọ một cách phiến diện lịch sử của Liên Xô. Chebrikov cảnh cáo rằng, mật thám của chủ nghĩa đế quốc đang tài trợ cho một số nhà văn bôi nhọ lịch sử của Liên Xô2 (Tham khảo [Liên Xô] Báo Sự thật, ngày 11 tháng 9 năm 1987). Đối với việc lật lại món nợ cũ của lịch sử, không những giới sử học Liên Xô tỏ ra hết sức lo lắng mà tiếng nói phản đối bôi nhọ lịch sử của các đảng viên bình thường của Đảng Cộng sản Liên Xô và quần chúng cũng hết sức mạnh mẽ. Ngày 13 tháng 3 năm 1988, báo Nước Nga Xôviết đăng một bức thư của Nina Andreeva, nữ giáo viên Học viện kỹ thuật Lêningrát, với tựa đề "Tôi không thể từ bỏ nguyên tắc". Bức thư phê bình từng đợt "trào lưu xét lại lịch sử" đang trào dâng trong xã hội, cho rằng những bài viết chấn động nhất thời trên báo chí lúc đó chỉ có thể khiến người ta lạc mất phương hướng, bôi nhọ Liên Xô xã hội chủ nghĩa. Bài viết chỉ ra nhiều hiện tượng không bình thường của dư luận lúc đó, như hoạt động của tổ chức phi chính thức, rêu rao cần thực hiện chế độ phân quyền nghị viện của phương Tây, phủ nhận địa vị lãnh đạo của Đảng và giai cấp công nhân, công kích ác độc lịch sử Liên Xô... Bài viết chỉ ra, "cải tổ" tiến hành được mấy năm không những không thấy hiệu quả, ngược lại dẫn tới mức sống đi xuống, cải tổ thiếu cương lĩnh và mục tiêu rõ ràng, ẩn chứa khuynh hướng của chủ nghĩa thế giới. Sau khi bài viết được đăng, báo chí của một số nước cộng hòa liên bang ào ào đăng lại, một số tổ chức Đảng bắt đầu thảo luận.


Bức thư của Nina Andreeva day lên một cơn sóng lớn ào ạt, "phe cải tổ tự do" coi đó là đòn phản công của "thế lực bảo thủ và thế lực cũ của Đảng Cộng sản Liên Xô". Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô họp hội nghị khẩn cấp liên tiếp hai ngày để thảo luận đổi sách. Cuối cùng, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Yakovlev, báo Sự thật ngày 5 tháng 4 đăng bài viết phản kích "Nguyên tắc của cải tổ: Tính cách mạng của tư duy và hành động", tiến hành phản kích và trấn áp toàn diện đối với Andreeva. Báo Sự thật gọi bức thư của Andreeva là "Tuyên ngôn của phần tử phản cách mạng", gọi Andreeva là "kẻ thù của cải tổ, phần tử Xtalinnít, phe bảo thủ, quan liêu cơ quan, đại biểu quyền quý của Đảng" để tiến hành trấn áp. Bài viết của báo Sự thật cho rằng, Andreeva biện hộ cho Xtalin, âm mưu ngăn cản tiến trình cải tổ. Sau cuộc tranh luận đó, các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô không những tiếp tục phê bình Xtalin, mà còn phê phán chủ nghĩa Mác - Lênin là không tưởng và giáo điều, đi xa hơn trên con đường phủ nhận toàn diện lịch sử1 (Tham khảo [Nga] Sokurov: Giáo trình lịch sử Liên Xô (1941-1991), Sđd, tr.349-350).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #83 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2022, 07:59:19 am »

Thứ hai, thông qua "xét lại lịch sử", sửa lại những án oan lịch sử, dấy lên trào lưu xã hội thanh thảo lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô. Thời kỳ Xtalin cầm quyền, do điều kiện lịch sử đặc thù và sai lầm mở rộng đấu tranh giai cấp, đã từng xuất hiện một số vụ án oan sai. Bắt đầu từ thời đại Khrushchev, một phần các vụ án oan sai lần lượt được sửa lại. Tôn trọng sự thực lịch sử, sửa lại các vụ án oan sai theo pháp luật là điều hoàn toàn nên làm. Vấn đề là ở chỗ, Gorbachev và thân tín của ông ta muốn nhân cái đó để dấy lên áp lực dư luận lớn mạnh, "chính trị hóa" các vụ án cũ trong lịch sử, nhắc lại quá khứ, mục đích là phủ định triệt để lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, làm dao động cái gốc lịch sử và cơ sở hợp pháp của Đảng Cộng sản Liên Xô và chế độ Liên Xô. Đầu năm 1988, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô thành lập "Ủy ban minh oan gột rửa cho những người bị hại những năm 1930", sau do Yakovlev đích thân chỉ huy, tiến hành thẩm tra lại đối với một số sự kiện lịch sử. Đặc biệt là, ngày 4 tháng 7 năm 1988, theo kiến nghị của Gorbachev, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đưa ra quyết định, dựng "Bia kỷ niệm" cho những người bị bức hại đến chết trong thài kỳ Xtalin tại Mátxcơva.


Đồng thời, cái gọi là hoạt động "minh oan lịch sử" dân gian cũng bắt đầu được triển khai. Ngày 26 tháng 11 năm 1988, họa báo Ngọn lửa nhỏ đã tổ chức hoạt động "Tuần lương tâm" có tính quần chúng với quy mô lớn, long trọng kỷ niệm những người bị hại trong thời đại Xtalin. Hội Liên hiệp các nhà kiến trúc, Hội Liên hiệp các nhà điện ảnh Liên Xô, họa báo Ngọn lửa nhỏ và báo Văn học cùng nhau tổ chức ra hiệp hội giáo dục lịch sử có tên gọi là "Kỷ niệm", mục đích là thúc đẩy minh oan các vụ án lịch sử trên phạm vi toàn Liên Xô, trả lại bộ mặt thật lịch sử, dựng bia kỷ niệm cho những người bị hại trong lịch sử. Sau năm 1988, một số báo chí cấp tiến "xét lại lịch sử" như họa báo Ngọn lửa nhỏ và tờ Tin tức Mátxcơva dần dần bộc lộ bộ mặt thật của mình: mượn việc phủ định quá khứ, phủ định lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, phủ định chủ nghĩa xã hội, tiến tới thay đổi phương hướng của cải tổ, khiến cho cải tổ được tiến hành theo con đường mà họ thiết kế1 (Tham khảo [Nga] A.S. Barsenkov: Dẫn luận lịch sử nước Nga đương đại (1985-1991), Sđd, tr.93-94).


Thứ ba, hoạt động "xét lại lịch sử" do các nhà văn và nhà bình luận chính trị làm "tiên phong cấp tiến", các nhà sử học thực thụ rất ít người tham gia. Đúng như Viện sĩ Viện Thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô I. V. Vorobyev chỉ ra vào đầu năm 1989: "Khơi dậy sự hứng thú của mọi người đối với lịch sử, không phải là các nhà sử học chuyên nghiệp chúng tôi, mà là các nhà bình luận chính trị, nhà văn, nhà kinh tế học. Chính là họ đã biến lịch sử thành thứ lực lượng xã hội hiện nay của nó. Còn các nhà sử học chuyên nghiệp, trừ rất ít người tích cực cuốn vào công việc này, quả thực chỉ đếm trên đầu ngón tay"1 (Tài liệu "'Hội nghị bàn tròn' các nhà sử học Xô - Mỹ", [Liên Xô] Vấn đề lịch sử, số 4 năm 1989, tr. 100; chuyển dẫn từ Trần Khởi Năng ""Cơn sốt lịch sử" trước Liên Xô giải thể", Nghiên cứu lý luận sử học, số 4 năm 1998).


Thế nhưng, vẫn có một số ít các nhà sử học cấp tiến tham gia vào phong trào "viết lại lịch sử", như Y. Aphanasyev và Volkogonov. Chính vì vậy, Y. Aphanasyev một thời được đánh bóng là "đấu sĩ dân chủ", sau thời kỳ giữa những năm 90 của thế kỷ XX lại im hơi lặng tiếng; Volkogonov thì từ vị tướng phụ trách công tác tuyên truyền của Tổng cục Chính trị quân đội Liên Xô biến thành văn nhân chuyến phục vụ của Yeltsin, cực lực công kích Lênin và Xtalin, hiện đã không còn trên đời nữa. Trào lưu "xét lại lịch sử" này dấy lên đã khiến cho toàn bộ lịch sử Liên Xô đều cần phải viết lại. Tháng 6 năm 1988, các cơ quan hữu quan của Liên Xô đưa ra quyết định xóa bỏ thi môn lịch sử của học kỳ này ở bậc tiểu học và trung học, báo Tin tức chỉ trích chương trình giảng dạy lịch sử của Liên Xô "là một sự dối trá được lưu truyền từ đời này qua đời khác"2 (Vương Chính Tuyền (chủ biên): Đại sự ký Liên Xô - Đông Âu, Sđd, tr.71). Dưới sự khuyến khích của giới chức Liên Xô, "cơn sốt lịch sử" lấy vạch trần bộ mặt thật của lịch sử làm nội dung chủ yếu đã giống như một vòi rồng khổng lồ cuốn lấy toàn bộ xã hội, hơn nữa càng thổi càng hung dữ.


Ngày nay, các nhà sử học Nga nhớ lại và nói rằng, nửa cuối những năm 80 của thế kỷ XX (tức thời kỳ "cơn sốt lịch sử"), chủ yếu là các phóng viên báo chí và các nhà sử học không chuyên nghiệp xem xét lại những đánh giá lịch sử của Liên Xô trước đây, đều "có tính chất cực đoan lẻ tẻ, tầm nhìn hẹp hòi, tập trung hứng thú vào các sự việc và hiện tượng mặt trái, viết mạnh viết nhiều về số phận bi kịch của các nhà hoạt động khác nhau trong khi không suy xét tới toàn bộ quá trình phát triển và tính phức tạp cũng như tính mâu thuẫn của nó. Nhiều giải thích và đánh giá đưa ra đều được hình thành trên cơ sở trình độ cảm nhận có kèm theo sắc thái tình cảm của phóng viên báo chí lúc bấy giờ đối với sự kiện, thiếu kiến thức sâu sắc đối với tính phức tạp của tình hình, truyền thống lịch sử, quá trình phát triển kinh tế xã hội"1 (Alexâyva: "Lịch sử - Ý thức hệ - Chính trị (thập kỷ 20, 30)", trích từ "Khoa học lịch sử nước Nga thế kỷ XX", tr.84, chuyển dẫn từ Trần Khởi Năng "'Cơn sốt lịch sử' trước Liên Xô giải thể", Tlđd).


Đứng trước tình trạng hỗn lọan trong lĩnh vực sử học, ngày 3 tháng 10 năm 1989, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức cuộc tọa đàm giữa các nhà sử học, do Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô V. Medvedev chủ trì. Ông ta biện giải khi phát biểu chào mừng: "Bầu không khí chính trị xã hội lúc đó được quyết định bởi cách nhìn đối với lịch sử. Không nên bảo vệ những cái đáng bị vạch trần đó. Lương tâm không thể giao dịch. Việc thanh tóan đối với những sai lầm trước kia cần phải tiến hành đến cùng, không thể có bất kỳ sự hạn chế nào"2 ([Nga] A.S. Barsenkov: Dan luận lịch sử nước Nga đương đại (1985-1991), Sđđ, tr.140). Những cây đại thụ của giới sử học Liên Xô tham dự hội nghị như Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô G. Smirnov, Y. Kukushkin, Kovalchenko sôi nổi phát biểu, bày tỏ lo lắng đối với trào lưu lịch sử của xã hội. Viện sĩ G. Smirnov nói rằng, ông không tán thành bôi nhọ toàn bộ lịch sử Liên Xô trong đó bao gồm Chiến tranh vệ quốc, khôi phục sau chiến tranh. Viện sĩ Y. Kukushkin cho rằng thiếu sự tôn trọng đối với chủ nghĩa Mác, cải tổ thiếu sự chuẩn bị lý luận thì rất khó có thể trông mong thu được hiệu quả; cải tổ không thể giương ngọn cờ chủ nghĩa hư vô lịch sử và phi ý thức hệ, truyền thông đại chúng và một số thế lực cực đoan không thể ép buộc phi ý thức hệ hóa khoa học lịch sử. Viện sĩ Y. Kukushkin và thư ký học thuật Ban Sử học Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Viện sĩ Kovalchenko thì đưa ra yêu cầu, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô cần có lập trường nguyên tắc của mình1 ([Nga] A.S. Barsenkov: Dẫn luận lịch sử nước Nga đương đại (1985-1991), Sđdr tr.141). Sau đó, cuộc tọa đàm của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô lần đó đã không có kết quả gì.
   Thứ tư, "xét lại lịch sử" cuối cùng dẫn tới chủ nghĩa hư vô lịch sử, dẫn tới phủ định Đảng Cộng sản Liên Xô, phủ định hết thảy. Sau Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô, xã hội Liên Xô luôn tiềm ẩn một trào lưu tư tưởng phủ định sạch trơn Xtalin. Dưới sự thúc đẩy của "dân chủ hóa", "công khai" của Gorbachev, trào lưu tư tưởng nàv như đám tro tàn bùng cháy trở lại, rất nhanh đã hình thành xu thế lan rộng. Một số báo chí đã công khai một cách có chủ đích và có tính lựa chọn một số đoạn hồ sơ văn kiện lịch sử của thời kỳ Xtalin, mượn một số cái gọi là "vụ án oan sai trong lịch sử" để chuẩn bị cho phủ định sạch trơn Xtalin. Tháng 6 năm 1987, họa báo Ngọn lửa nhỏ2 (Họa báo Ngọn lửa nhỏ là ấn phẩm chính trị nổi tiếng của Liên Xô, trong thời kỳ giữa và sau những năm 1980 do V. Korotich đảm nhiệm chức chủ biên. Vào những năm 1970, ông này từng đăng bài "Bộ mặt của sự thù hận" vạch trần chủ nghĩa đế quốc Mỹ với lời lẽ gay gắt và được khen ngợi. Sau khi đảm nhiệm chức chủ biên họa báo, ông ta biến Ngọn lửa nhỏ thành đại bản doanh phê phán Đảng Cộng sản Liên Xô, thù hận chế độ Liên Xô. Sau khi Liên Xô giải thể không lâu, Korotich liền sang Mỹ định cư) số 26 do các phần tử chống đối trong Đảng Cộng sản Liên Xô cầm trịch đã tiết lộ bức thư công khai do F.F. Raskolnhikov, chiến hữu của Lênin, gửi cho Xtalin ngày 17 tháng 8 năm 1939, trong bức thư đã chỉ trích gay gắt việc Xtalin bắt bớ và giết hại các nhân vật nổi tiếng vô tội trong giới quân đội và giới văn hóa. Không lâu sau, tờ Tin tức Mátxcơva đã đăng một bức thư chưa từng được đăng của Sholokov gửi cho đảng viên lão thành Levisia, phê bình tập thể hóa nông nghiệp quá mạnh, "áp chế nông phu, đè bẹp trung nông, bần nông cũng đang bị đói", dẫn đến "mọi người cuồng nộ, tâm trạng hết sức tồi tệ". Tạp chí Khoa học và Đời sống thì đăng bài có tựa để "Bài học lịch sử và chức trách của nhà văn" do nhà văn Simonov viết vào 20 năm trước, khiển trách Xtalin đã xử tử ba loạt cán bộ quân sự cao cấp vào thời điểm trước khi bắt đầu chiến tranh và thời kỳ đầu chiến tranh, gây tổn thất không thể đánh giá hết cho quân đội và gây ra mối nguy hại nghiêm trọng cho đất nước, v.v.. Mục đích của việc một số báo chí công khai những tài liệu lịch sử này là phủ định hoàn toàn Xtalin, từ đó chuẩn bị cho việc bôi nhọ lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô.
   Trào lưu tư tưởng thanh toán này bắt đầu từ cuối năm 1987, đến năm 1988 thì lên tới cao trào. Từ chỗ bù đắp những "điểm trống lịch sử" lúc ban đầu cho đến vạch rõ "mặt tối", rất nhanh phát triển thành chĩa mũi nhọn phê phán sang chế độ xã hội chủ nghĩa trong những năm 20 đến những năm 50 của thế kỷ XX, phủ định thể chế Liên Xô, cho rằng thể chế Liên Xô mà Xtalin làm tiêu biểu là thể chế "mệnh lệnh hành chính" điển hình, là "chủ nghĩa cực quyền", là cội nguồn của tội ác. Sau năm 1989, tài liệu phê phán Xtalin bắt đầu giảm đi, dần dần chuyển sang phê phán chủ nghĩa Bônsêvích, phủ định Cách mạng Tháng Mười Nga. Một số bài viết hoặc nêu rõ hoặc mập mờ nêu ra, Cách mạng Tháng Mười Nga và chủ nghĩa Bônsêvích, Lênin và Xtalin trên thực tế là có mối liên hệ với nhau1 (Tham khảo tuần san Thủ đô do phe dân chủ Mátxcơva vừa mới thắng cử mùa xuân năm 1990 tổ chức, hoặc [Liên Xô] A. Chipokov: "Nguyên tắc của chúng ta có tốt không?", trích từ [Liên Xô] Thế giới mới, số 4 năm 1990).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #84 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2022, 08:00:16 am »

Một trong những sự kiện có ảnh hưởng nhất trong lĩnh vực ý thức hệ của Liên Xô những năm 1988-1989 chính là việc tiến sĩ triết học A. Chipokov đăng trên tạp chí Khoa học và Đời sống bài viết dài "Cội nguồn của chủ nghĩa Xtalin". Bài viết này bề ngoài lấy ngọn cờ của chủ nghĩa Mác, về thực chẩt phủ định Cách mạng Tháng Mười Nga, phủ định lịch sử của xã hội chủ nghĩa Liên Xô. Bài viết cho rằng, Cách mạng Tháng Mười Nga là sản phẩm của chủ nghĩa cấp tiến Nga, đã làm gián đoạn tiến trình bình thường của lịch sử nước Nga. Bài viết đã đem tư tưởng Lênin "tốt" đối lập với hiện thực xã hội chủ nghĩa "xấu" của Xtalin. Tác giả còn cho rằng, tư tưởng và thực tiễn của chủ nghĩa cấp tiến Liên Xô giai đoạn 1917-1988 là trở ngại quan trọng của xã hội hiện nay1 ([Liên Xô] A. Chipokov: "Cội nguồn của chủ nghĩa Xtalin", [Liên Xô] Khoa học và đời sống, số 11,12 năm 1988). Kỳ thực, bài viết này lôgích lộn xộn, trình bày nhàm chán. Nhưng do A. Chipokov công tác trong cơ quan Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, thân phận đặc biệt khiến cho bài viết này có ảnh hưởng to lớn trong giới tư tưởng lúc đó2 (Năm 2006, A. Chipokov là nghiên cứu viên cao cấp của Viện nghiên cứu kinh tế chính trị quốc tế (nguyên là Viện nghiên cứu hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa), Viện Hàn lâm khoa học Nga. Ông tốt nghiệp Khoa Triết học, Đại học Mátxcơva. Những năm 1986-1990, ông lần lượt công tác tại Báo Sự thật Đoàn thanh niên cộng sản, Ban Tuyên truyền Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Liên Xô và Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Về sau lần lượt thăm trường Đại học Hokkaido Nhật Bản và cơ quan học thuật Mỹ. Năm 1995-1996 từng giữ chức Chủ nhiệm Ban điều tra nghiên cứu Quỹ Gorbachev. Người này giỏi đưa ra những bài viết quái dị, tiên phong, thường bị một số học giả phản bác. Những năm gần đây, quan điểm của Chipokov dường như có sự thay đổi rất lớn. Tạp chí Thông báo phần tích [Nga] số 3 năm 2004 đã đăng bài luận văn dài của ông ta: "Suy nghĩ về nguyên nhân và bản chất của việc chủ nghĩa tự do hậu Liên Xô thất bại", phê phán tư tưởng và hành động cấp tiến của chủ nghĩa tự do Nga).


Cùng với việc "cơn sốt lịch sử" ngày càng sâu sắc hơn và các "vùng cấm" không ngừng bị phá vỡ, hình tượng của Lênin cũng bị bêu riếu và bôi nhọ, chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô và bản thân chủ nghĩa Mác đều bị nghi ngờ. Mọi người bắt đầu mất phương hướng, mất đi niềm tin, các loại trào lưu tư tưởng tràn lan khiến cho người ta không biết nên theo cái nào. Tư tưởng trong Đảng Cộng sản Liên Xô và trong xã hội Liên Xô bị rối loạn hoàn toàn. Việc mất đi nền tảng lịch sử và sự hỗn loạn tư tưởng trở thành nhân tố hàng đầu khiến tổ chức Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã. Bắt đầu từ phê phán Xtalin, tiến tới phủ định Cách mạng Tháng Mười Nga, nghi ngờ chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô, cuối cùng dẫn tới tô hồng lịch sử nước Nga Sa hoàng, mù quáng tin vào con đường phương Tây. Khi đó, giới dư luận Nga rêu rao rằng, cải tổ chính là cần "thay đổi toàn diện mô hình văn minh và tập tục văn hóa xã hội dân tộc của Nga"1 ([Nga] "Vấn đề ý thức hệ nhà nước của nước Nga đương đại", trích từ Hiện đại hóa và xã hội dân sự ở Nga, Nxb. Tân Hoa, 2003, tr.268-269). Cứ giở bất kỳ một cuốn truyện cười nào lúc bấy giờ, thì có thể đọc được nội dung thế này: Một chiếc ôtô Mỹ đậu ở Mátxcơva, có mấy người Nga đang nằm trong bùn đất dưới gầm chọc thủng bánh xe. Hỏi: Các bạn đang làm gì vậy? Trả lời: Chúng tôi muốn hít thở một chút bầu không khí tự do đến từ nước Mỹ.


Tại một số cuộc thảo luận của giới học thuật lúc đó, thường có thể nghe thấy câu nói thế này: "Ở nước Nga có thể thảo luận kiểu kinh tế nào? Chỉ có thể là kinh tế của người hoang dã sống trong hang động nguyên thủy." Đôi lúc, thậm chí có thể nghe thấy những lời than vãn tiếc nuối: "Chà! Tại sao chúng ta không bị người Đức chiếm lấy nhỉ?" Vào thời kỳ đó, diễn giảng của một số nhân vật đình đám cải tổ, "kẻ lộng triều" "tự do dân chủ hóa", gần như đều bắt đầu từ nhiếc móc quá khứ của Xôviết, và kết thúc bằng tán dương phương Tây. "Nếu như hy vọng của mọi người tan vỡ, vậy thì đối với một dân tộc mang đặc trưng chủ nghĩa cực quyền bẩm sinh, chưa đạt tiêu chuẩn và chưa khai hóa ngay từ thời Sa hoàng Nga, có một lối thoát giản đơn và tự nhiên - đó chính là đưa đất nước hoàn toàn tới trạng thái thực dân trong các lĩnh vực kinh tế  xã hội và ý thức hệ". Một số bài viết trên báo chí còn chứng minh rằng, cần thiết phải đưa trọng tài Liên hợp quốc vào trong lãnh thổ Liên Xô, đưa "quân đội gìn giữ hòa bình" vào, thực thi "viện trợ nhân đạo", thiết lập thanh sát viên và quan sát viên Liên hợp quốc1 (Vào thời kỳ cuối Gorbachev, do hàng hóa xã hội và các mặt hàng tiêu dùng hằng ngày khác của Nga thiếu thốn cực độ, một số nước phương Tây đặc biệt là châu Âu đã gửi tới Liên Xô các vật tư "nhân đạo" như thực phẩm. Một số bao bì thực phẩm trực tiếp ghi chú bằng tiếng Nga "Viện trợ nhân đạo"). Một tờ báo có tên là Chuông tự kêu từng đăng một câu nói thế này: "Chúng tôi chân thành trông chờ vào một kết quả như vậy, hơn nữa, trạng thái thực dân có gì là không tốt?". Thế là, tiếp sau đó, bài viết đã thảo luận việc làm thế nào mới có thể trở thành thuộc địa, và kiến nghị cầu cứu các thương gia phương Tây cho điều này2 ([Nga] V.A. Lusikin, L.A. Shelepin (Từ Hàn Xương dịch): Chiến tranh thế giới thứ ba: Chiến tranh thông tin tâm lý, Sđd, tr.264).


Tóm lại, dưới sự thúc đẩy của chính các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô như Gorbachev và Yakovlev, lấy danh nghĩa là đánh giá lại lịch sử, phủ định Đảng Cộng sản Liên Xô, phủ định lịch sử cách mạng và xây dựng xã hội chủ nghĩa, phủ định chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô, đã dẫn tới tư tưởng xã hội hỗn loạn, làm tan rã Liên Xô về tư tưởng, mở ra cánh cửa lịch sử, đẩy Đảng Cộng sản Liên Xô lên bục xét xử của lịch sử. Theo điều tra chọn mẫu dân gian của các bên, tỷ lệ tín nhiệm đối với Đảng Cộng sản Liên Xô vào mấy năm trước năm 1988 đạt khoảng 70%, năm 1990 thì giảm xuồng còn 20%, đầu năm 1991 lại giảm tiếp xuống còn mười mấy phần trăm. Cái gọi là "xét lại lịch sử" của Gorbachev, bắt đầu từ bôi đen lịch sử, lừa gạt nhân dân, kết thúc bằng cầu cạnh quỳ gối, phản bội, vô liêm sỉ. Ngoài miệng ông ta nói công bằng, trên thực tế cái ông ta thiếu chính là sự công bằng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #85 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2022, 09:24:51 am »

II. VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ VÀ TRẬN ĐỊA TƯ TƯỞNG

Ở một nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, xây dựng đội ngũ và trận địa tư tưởng của công tác ý thức hệ hết sức quan trọng. Lênin chỉ ra rằng: "Tuyên truyền và cổ động hằng ngày cần phải có tính chất cộng sản thực sự. Các loại báo chí cơ quan mà Đảng nắm đều cần phải do những người cộng sản đáng tin cậy đã được chứng minh là trung thành với sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản chủ trì công tác biên tập"1 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.4, tr.251). Nhưng trong thời kỳ Gorbachev, cùng với việc tầng lớp lãnh đạo cấp cao lãnh đạo công tác ý thức hệ của Đảng Cộng sản Liên Xô nảy sinh "biến chất", đã phản bội lại chủ nghĩa Mác - Lênin, đội ngũ lý luận cơ bản của Đảng Cộng sản Liên Xô đã bị đánh sập, trận địa tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô cũng từng bước thu hẹp, thậm chí mất sạch, bị phe cấp tiến chống cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội chiếm lĩnh. Điều này đã đẩy Đảng Cộng sản Liên Xô nhanh chóng bước vào con đường bại vong.


1. Vấn đề xây dựng đội ngũ

Sau thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga, ngoài một số ít lãnh tụ ra, đội ngũ cơ bản của Đảng Bônsêvích có trình độ giáo dục không cao, thiếu cán bộ có thể gánh vác nhiệm vụ tuyên truyền và cổ động. Đứng trước thế tiến công của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, làm thế nào để bồi dưỡng đội ngũ tuyên truyền và giáo dục chủ nghĩa Mác, làm thế nào để chuyển hóa tư tưởng của trí thức cũ, đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng mà chính quyền Xô viết gặp phải. Năm xưa Lênin hết sức coi trọng bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ trí thức vô sản. Nhưng trí thức của Nga là một tầng lớp xã hội với số người tương đối ít. Khi đó, đại bộ phận trí thức cũ có thái độ tiêu cực đối với chính quyền Xôviết mới ra đời, không hiểu, không chào đón thậm chí có ý thù nghịch với Cách mạng Tháng Mười Nga, vì vậy họ kéo nhau ra nước ngoài cư trú.


Thái độ của Lênin và Đảng Bônsêvích đối với trí thức cũ là tích cực. Cùng với việc chuyên dịch trọng tâm công tác chính quyền Xôviết, Lênin ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của khoa học kỹ thuật và bồi dưỡng đội ngũ trí thức vô sản. Đoi với trí thức cũ, Đảng Bônsêvích một mặt phê phán thế giới quan duy tâm của họ, mặt khác lại tích cực thu hút họ tham gia vào xây dựng đời sống mới. Lênin từng chỉ ra, ủy viên chính trị công nhân và chi bộ Đảng Cộng sản cần phải dùng bầu không khí hợp tác đồng chí để bao vây lấy họ, khiến cho họ không thể nào thoát ra được, nhưng cần khiến cho họ có được điều kiện làm việc tốt hơn so với dưới chế độ tư bản chủ nghĩa. Nếu không như vậy, thì những trí thức do giai cấp tư sản đào tạo ra này sẽ không làm việc; muốn "dùng gậy" để ép buộc cả một tầng lớp làm việc là không thể được. Khi đó, trong giới triết học và giới lý luận, thông qua vài vòng tranh luận về tư tưởng và quan điểm, dần dần đã xác định rõ được hàm nghĩa triết học của chủ nghĩa Mác, xây dựng được địa vị chỉ đạo của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Về mặt văn hóa nghệ thuật, Đảng Bônsêvích do Lênin lãnh đạo thông qua phê phán các loại chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hư vô, đã tăng cường sự thống nhất của đội ngũ, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của văn học nghệ thuật.


Sau khi Lênin qua đời, song song với việc kiên trì xây dựng chính quyền và đấu tranh chính trị, Xtalin hết sức coi trọng phát triển sự nghiệp văn hóa giáo dục. Đền thời kỳ cuối những năm 30 của thế kỷ XX, Liên Xô về cơ bản đã xóa mù chữ, đã đào tạo được một loạt lớn trí thức mới. Lúc đó, lực lượng trí thức mới mẻ do chính quyền Xôviết đào tạo ra đã chiếm tới 80 - 90% trong tổng số tầng lớp trí thức1 ([Nga] Zezina: Lịch sử văn hóa Nga, Nxb. Văn dịch Thượng Hải, 1990, tr.335). Đặc biệt, Xtalin hết sức coi trọng đấu tranh trong lĩnh vực ý thức hệ, coi trọng việc đào tạo đội ngũ lý luận tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô. Thời kỳ Chiến tranh vệ quốc, để tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác ý thức hệ, mở rộng đội ngũ những người làm công tác tuyên truyền và chính trị tư tưởng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang đã thành lập riêng một Ban Khoa học. Ngoài ra, phụ trách công tác tuyên truyền và tư tưởng văn hóa còn có Ban Tuyên truyền cổ động Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang, Tổng cục Chính trị Hồng quân, Ban Ủy viên nhân dân giáo dục các nước cộng hòa gia nhập liên bang, Ủy ban sự nghiệp nghệ thuật trực thuộc Chính phủ Liên Xô, Ủy ban công tác các trường đại học và cao đẳng toàn Liên Xô và Ban Văn hóa Hội đồng Trung ương Công đoàn toàn Liên Xô... Lúc đó, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Zhdanov, Ban Tuyên truyền cổ động Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang, Tổng cục Chính trị Hồng quân từng tổ chức hơn 1.000 nhà văn và nhà thơ ra tiền tuyến tác chiến như phóng viên chiến trường, ngoài ra có hơn 150 nhà nhiếp ảnh, nhà làm phim cũng lăn lộn chiến đấu nơi tuyến đầu trận địa. Arkadi Gaidar (ông nội của đại diện phe tự do Nga hiện nay Igor Gaidar) từng là phóng viên chiến trường của báo Sự thật Đoàn thanh niên, tình nguyện tham gia vào đội du kích, đã hy sinh trên chiến trưởng. Có thể nói, chiến tranh không những là thử thách gay gắt đối với thực lực kinh tế và quân sự Liên Xô, mà còn là thử thách gay gắt đối với sức mạnh tinh thần của nhân dân Liên Xô. Thắng lợi của cuộc Chiến tranh vệ quốc đã nâng cao uy tín của văn hóa Liên Xô, bồi dưỡng và rèn luyện một loạt cán bộ giáo dục tư tưởng. Một thời kỳ sau chiến tranh, họ đã trở thành cốt cán trong công tác ý thức hệ.


Sau thắng lợi của Chiến tranh vệ quốc, căn cứ vào chỉ thị của Xtalin, Chính phủ Liên Xô đã tăng mạnh đầu tư cho sự nghiệp khoa học, chỉ tính riêng tỷ trọng đầu tư cho sự nghiệp khoa học chiếm trong tổng giá trị sản phẩm quốc dân, thì Liên Xô lúc bấy giờ đã vươn lên đứng đầu thế giới. Thành phần của trí thức đã có sự thay đổi cơ bản. Một thời kỳ sau chiến tranh, Liên Xô đã đào tạo một loạt những người làm công tác tư tưởng lý luận, trong đó nhiều người có tư duy năng động, giàu tính sáng tạo, rất có tài năng bẩm sinh, đầy tinh thần học hỏi, hơn nữa tràn đầy sức sống. Nhưng đồng thời, trong giới lý luận Liên Xô tồn tại nghiêm trọng tình trạng giáo điều, bằng lòng với hiện trạng, coi nhẹ sáng tạo lý luận. Giới khoa học xã hội tuy người nhiều, nhưng hiệu quả sút kém, lãng phí nghiêm trọng nguồn nhân lực và chất xám. Không ít người thiếu tính sáng tạo từ đầu, cảm nhận đối với hiện thực, tính biện chứng tư duy trong nghiên cứu lý luận cụ thể, nghiên cứu lý luận chỉ nổi ở bề mặt. Nhiều nhà triết học, nhà kinh tế học, nhà xã hội học, nhà sử học quen với việc tiến hành giải thích và cắt nghĩa đối với các nghị quyết của Đảng và Nhà nước, phát biểu của lãnh đạo, kiểu văn bia viết rập khuôn thịnh hành. Nhiều thành quả nghiên cứu phần lớn đều mở đầu bằng phát biểu của các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô, kết thúc bắng nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng. Triết học Liên Xô từng phát huy vai trò quan trọng trong lĩnh vực ý thức hệ, trở thành hình ảnh thu nhỏ và hàn thử biểu của những thay đổi xã hội và chính trị của Liên Xô. Khoa học xã hội của Liên Xô trong một thời gian dài bị khốn đốn bởi chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa hình thức, thiếu sức sống và tính sáng tạo, vừa không thể giải thích tốt được xã hội Liên Xô, vừa không thể đề xướng được cải cách, làm thay đổi xã hội.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #86 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2022, 09:27:16 am »

Vẫn trong thời kỳ Xtalin, nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô đã xuất hiện một số người mạo nhận là "nhà tư tưởng và nhà lý luận" đội lốt "chủ nghĩa Mác - Lênin". Chính là những nhà mácxít, lêninnít giả mạo đó về sau dần dần chiếm cứ được Ban lãnh đạo trong lĩnh vực ý thức hệ của Đảng Cộng sản Liên Xô, làm mục ruỗng đội ngũ lý luận tư tưởng. Những "chuyên gia" ý thức hệ đó đã chiếm được một địa vị rất đặc biệt trong đời sống chính trị Liên Xô, trong đó một số người đã tiến sát đỉnh cao của kim tự tháp quyền lực, không ít người trong số họ không hề có nguyên tắc gì, không có học thuật gì, thiếu trách nhiệm, chỉ muốn nhanh chóng thăng quan phát tài. Điều này trên thực tế đã trở thành nhược điểm chí mạng trong xây dựng chính quyền nhà nước Liên Xô. Những người này thường lời nói không đi đối với việc làm, thường lợi dụng địa vị của minh, ra sức giành lấy những đãi ngộ phúc lợi, vật chất. Họ giỏi luồn lách, nhiều người lần lượt thông qua các con đường trở thành viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học. Ví dụ, Ilichiev - Bí thư Trung ương phụ trách công tác ý thức hệ những năm 1960 - cả đời ngay cả một cuốn sách nhỏ cũng không viết, thậm chí ngay cả bài viết đăng trên báo cũng đều do cấp dưới viết thay, nhưng lại được phong tiến sĩ, giáo sư cũng như những học hàm, học vị hiển hách suốt đời khác1 (Tham khảo [Nga] V.A. Lusikin, L.A. Shelepin (Từ Hàn Xương dịch): Chiến tranh thế giới thứ ba: Chiến tranh thông tin tâm lý, Sđd, tr.77). Những "chuyên gia" công tác ý thức hệ đó trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô không chuyên tâm làm công tác lý luận tư tưởng cụ thể, mà là tạo ra và khơi dậy mâu thuẫn xã hội. Họ đem chủ nghĩa Mác - Lênin tách khỏi và đối lập với khoa học hiện đại, phá hoại uy tín của ý thức hệ xã hội chủ nghĩa. Họ tuyệt đối hóa một số phát biểu của Mác và Lênin, cản trở việc phát triển hơn nữa của khoa học mácxít. Họ thậm chí chĩa mũi nhọn của đấu tranh ý thức hệ vào những người bạn của Liên Xô, gồm cả các học giả phương Tây nổi tiếng như Einstein, Dirac, Bernard..., khiển trách họ là "chủ nghĩa duy tâm", tạo hố ngăn cách giữa các học giả tiến bộ phương Tây với Liên Xô.


Đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX, cùng với sự phản bội của các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô như Gorbachev, một số phần tử bất đồng chính kiến trong lĩnh vực ý thức hệ Đảng Cộng sản Liên Xô cũng thừa thế phản lại một đòn, cùng với các thế lực chống cộng trong xã hội và thế lực chống Liên Xô của phương Tây hô hào hưởng ứng, phát động cuộc tiến công điên cuồng vào Đảng Cộng sản và sự nghiệp xã hội chủ nghĩa. "Các nhà lêninnít" này lập tức lắc mình hô biến một cái, trở thành các "đấu sĩ" chống lại cái gọi là "chủ nghĩa cực quyền".


Năm 1988, Liên Xô xuất bản một cuốn tuyển tập các bài viết thịnh hành một thời, cuốn sách có tên là Không có lựa chọn khác, khi đó được gọi là "Tuyên ngôn sức mạnh cải tổ". Các tác giả - đều là những người nổi tiếng trong giới trí thức Liên Xô lúc bấy giờ, các nhà triết học, nhà xã hội học, nhà kinh tế học coi phê phán thể chế xã hội chủ nghĩa thời kỳ Xtalin là trách nhiệm của mình. Ví dụ như nhà xã hội học, Viện sĩ Zalavkaya, nhà kinh tế  học Popov, nhà chính trị học Burlatsky, nhà triết học Vorrovev, nhà sử học Aphanasyev, nhà văn Granin...1 (Tham khảo [Nga] A.S. Barsenkov: Dẫn luận lịch sử nước Nga đương đại (1985-1991), Sđd, tr.95-96).


Sau này, một số người mà Gorbachev trọng dụng cũng đều là cái gọi là "chuyên gia trong các lĩnh vực kinh tế học, lĩnh vực xã hội học, lĩnh vực luật học". Nay xem ra, những vị viện sĩ đầy bụng kinh luân này tuy đã nhìn ra vấn đề, nhưng lại kê sai đơn thuốc. Những đơn thuốc này có thể đúc rút sơ lược thành hai điểm: một là, thực hiện kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa; hai là, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với đất nước, thực hiện "dân chủ hóa" chính trị. Ví dụ như giáo sư kinh tế học trường Đại học Mátcơva Popov, người từng được bầu làm Đại biểu nhân dân Liên Xô khóa đầu tiên, cùng với một số người như Yeltsin, Sakharov trở thành đầu đàn của "phe dân chủ". Popov còn từng được bầu làm Chủ tịch Xôviết thành phố Mátxcơva nhiệm kỳ đầu tiên, nhưng làm được chưa đầy hai năm thì tự cảm thấy không có tài năng gì, đành nhường lại chức vụ cho thị trưởng đương nhiệm Luzhkov. Mặc dù tư tưởng của Popov sau khi Liên Xô giải thể có mấy lần chuyển biến lớn1 (Popov, Yakovlev và Yeltsin cùng được gọi là "cha đẻ của dân chủ" của Nga. So với hai người sau, Popov về tư tưởng càng giỏi thay đổi hơn. Thời kỳ Liên Xô, ông ta giảng dạy chương trình "làm thế nào hoàn thiện cơ cấu quản lý kinh tế" tại Khoa Kinh tế trường Đại học Mátxcơva, sau khi cải tổ bắt đầu thì lại tiên phong pháo kích vào "bộ máy quan liêu Đảng Cộng sản Liên Xô". Sau khi Liên Xô giải thể, ông ta lại cho rằng Liên Xô đã bỏ lỡ một cơ hội giữ lại cơ quan quản lý nhằm thực thi cải tổ. Tương tự, "Toàn bộ chính quyền thuộc về tay các Xôviết" từng là khẩu hiệu được Lênin đưa ra vào thời kỳ Cách mạng Tháng Mười Nga, thời kỳ đầu và thời kỳ giữa cải tổ những năm 1980 từng được báo chí "phe dân chủ" lợi dụng rộng rãi, Gorbachev cũng hết sức tôn sùng, hơn nữa cùng với Popov lần lượt sử dụng trong bầu cử chính quyền hai cấp Liên Xô và thành phố Mátxcơva, giành được quyền lực một cách thành công. Chưa được bao lâu, Popov lên làm Chủ tịch Xô viết thành phố Mátxcơva bắt đầu kết luận: Chính quyền Xôviết ở bất cứ hình thức nào (quyền lực từ dưới lên trên) đều không cần thiết, cái cần thiết là quyền thực thi đủ mạnh, đặc biệt là một loạt quan chức có thể chấp hành mệnh lệnh của cấp trên. Đây là kết quả của vật đổi sao dời, hay là nói không thực lòng, hay là có dụng tâm gì khác? Theo quan điểm của Popov, xóa bỏ chính quyền Xôviết chẳng qua là sự quay trở lại với cuộc sống bình thường. Nếu như theo cách nói của Gorbachev, thì là sự quay trở lại với giá trị toàn nhân loại), nhưng trước khi Liên Xô giải thể, ông ta cùng với một số tinh hoa trong giới trí thức, đã phát huy vai trò rất lớn đối với việc lật đổ chế độ Liên Xô. Khi ấy Popov cho rằng, vấn đề căn bản của kinh tế Liên Xô chính là ở chỗ thể chế kế hoạch, vì vậy cần phải phá vỡ bộ máy quan liêu, Liên Xô cần chia thành 50 "tỉnh Nga cũ" hoặc "quận", sau đó lại tổ chức thành "liên bang". Ông ta từng đưa ra một cái gọi là lý luận "ba không", tức không quốc hữu hóa, không Xôviết hóa, không liên bang hóa1 ([Liên Xô] G. Popov: "Viễn cảnh và hiện thực", Ngọn lửa nhỏ, số 50, 51 năm 1990). Lại như Viện sĩ Sakharov, "nhà bất đồng chính kiến" nổi tiếng tuyên bố: "Lối đi duy nhất, khả năng duy nhất của con đường tiệm tiến - đó chính là làm cho cải tổ cấp tiến hóa"2 (V. Sogrin: Lịch sử chính trị Nga hiện đại, Sđd, tr.55), cần phải loại bỏ một số nguyên tắc của Liên Xô, chứ không phải chỉ là bổ sung, sửa đổi. Viện trưởng Học viện hồ sơ lịch sử Liên Xô Iu. Aphanasayev thì công khai hô hào: "Thể chế này không nên bổ sung sửa đổi! Nó có ba trụ cột lớn: Bản chất đế quốc của Liên Xô, nhà nước trung ương tập quyền, tự trị hóa không được thế hiện đầy đủ; chủ nghĩa xã hội quốc gia không phải là kinh tế  thị trường; sự lũng đoạn của Đảng. Cần phải loại bỏ ba trụ cột đó một cách từng bước, không đổ máu"3 (V. Sogrin: Lịch sử chính trị Nga hiện đại, Sđd, tr.55). Đồng thời, Gorbachev ra sức đề xướng "công khai", "dân chủ hóa", cổ xuý "tư duy mới" trong quan hệ đối ngoại, tuyên dương "giá trị quan toàn nhân loại". Một số người trong đó có Yakovlev cũng làm ngược lại, phong tư tưởng của giai cấp tư sản thành chuẩn mực, ngang nhiên từ bỏ địa vị chỉ đạo của chủ nghĩa Mác trong lĩnh vực ý thức hệ4 (Tham khảo: Ghi chép nói chuyện của A.N. Yakovlev: "Tại sao tôi từ bỏ chủ nghĩa Mác", [Liên Xô] báo Nước Nga Xôviết, ngày 3 tháng 8 năm 1991).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #87 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2022, 09:28:06 am »

Dưới sự dẫn dắt của Gorbachev và các nhà lãnh đạo phe dân chủ nói trên, lĩnh vực dư luận báo chí Liên Xô dấy lên từng đợt sóng lớn, phủ định chính mình, tô hồng nước Nga Sa hoàng, trào lưu tư tưởng sùng bái phương Tây dần dần trở thành dòng chính. Trí thức phe cấp tiến, đặc biệt là một số phóng viên, nhà biên tập và nhà văn, họ ào ào viết bài, vạch trần và chỉ trích một cách vô tình quá khứ của Đảng Cộng sản Liên Xô, bôi nhọ lịch sử Liên Xô và những nhân vật anh hùng của nó. Trào lưu cấp tiến trong đội ngũ trí thức Liên Xô lan nhanh. Tiếng nói "từ bỏ chủ nghĩa Mác" trong giới lý luận nổi lên mạnh mẽ, việc nghiên cứu và giảng dạy các bộ môn liên quan như triết học mácxít, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa cộng sản khoa học... bị dừng lại hoặc thay đổi bộ mặt, biến thành các cơ quan giảng dạy hoặc nghiên cứu triết học phương Tây, lý thuyết kinh tế của chủ nghĩa tự do và chính trị học phương Tây. Một kiểu phương thức tư duy đơn giản hóa, lưỡng cực hóa hết sức thịnh hành: không phải là xã hội chủ nghĩa thì là tư bản chủ nghĩa, không phải cái này thì là cái kia, không phải là đỏ thì là trắng.


Đồng thời, địa vị của sự nghiệp văn hóa và khoa học xã hội của Liên Xô rớt xuống thê thảm, từ cung điện thiêng liêng bị ném xuống mặt đất, bị coi là "tàn dư của chế độ cực quyền cũ", nhanh chóng rơi vào cảnh tuyệt vọng. Chính trị chao đảo cộng với kinh tế khó khăn, ngay cả nhiều cơ quan văn hóa nổi tiếng, trong đó có Nhà hát lớn Mátxcơva cũng đều khó có thể tiếp tục, chảy máu nhân tài nghiêm trọng. Đội ngũ nghiên cứu văn hóa và khoa học ào ào chạy ra nước ngoài, chạy tới các nước Mỹ, Đức hoặc Ixraen, tiềm lực nghiên cứu khoa học của Liên Xô bị tổn thất gần một nửa. Các nhà quan sát phương Tây chỉ ra, trong thời gian những năm 1989 - 1990, niềm tin chủ nghĩa xã hội dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều nhanh chóng biến mất trong giới trí thức; tư tưởng của trí thức Liên Xô sôi động hơn, đa số các nhà xã hội học, nhà kinh tế học chuyển sang tin theo chủ nghĩa tư bản kiểu phương Tây1 (Tham khảo [Nga] A.s. Barsenkov: Dẫn luận lịch sử nước Nga đương đại (1985-1991), Sđd, tr.95-96). Còn có một số trí thức thuộc bộ môn khoa học nhân văn, họ hết mực sùng bái mô hình phương Tây, trong lòng bất mãn đối với lịch sử và hiện trạng của nước mình. Một bộ sách giáo khoa có tên là Nước Nga thế kỷ XX, trong mục lục của nó đầy rẫy những tiêu đề như "Sự hình thành của chế độ chính trị cực quyền", "Trấn áp quy mô lớn", "Khó khăn trong nông nghiệp", "Mâu thuẫn dân tộc", "Làn sóng trấn áp mới"... Một thời gian, "thị trường, dân chủ, tự do, chế độ tư hữu, nhà nước văn minh phương Tây" đã trở thành những câu cửa miệng của giới trí thức phe cấp tiến. Họ cho rằng, năng suất lao động của chủ nghĩa xã hội cực kỳ thấp, sự thể hiện của bình đẳng ở Liên Xô chính là "nghèo như nhau". Họ mong muốn chỉ trong thời gian một cái búng tay là có thể vượt qua hố ngăn cách lớn thời đại và xã hội, từ thành luỹ của tính tất yếu chủ nghĩa xã hội trong nháy mắt rơi vào vòng tay của chủ nghĩa tự do phương Tây.


Đối với hiện tượng biến chất của giởi lãnh đạo lý luận tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô, ngay cả các học giả phương Tây cũng cảm thấy khó hiểu. Tại sao khi Đảng Cộng sản Liên Xô bị hạ bệ, Liên Xô giải thể, thì đa số người trong giới trí thức Liên Xô lại trở thành "kẻ bàng quan", còn số ít lãnh đạo trí thức thì lại trở thành "người cổ xuý" và "đội tiên phong" trong việc làm tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô? Tại sao hàng vạn lãnh đạo trí thức Đảng Cộng sản Liên Xô và đội ngũ lý luận mácxít lêninnít với con số còn nhiều hơn thế lại quay lưng lại với Đảng Cộng sản Liên Xô? Tại sao đội ngũ lý luận và lãnh đạo tư tưởng mà Đảng Cộng sản Liên Xô dày công đào tạo qua nhiều năm chỉ trong một đêm đã quay ngoắt họng súng, nhằm thẳng vào Đảng Cộng sản Liên Xô? Tại sao giới tinh anh trí thức cùng với một số quan chức Đảng, chính quyền, cán bộ quản lý kinh tế  giới tinh anh dân tộc, thế lực kinh tế ngầm cũng như thế lực đen phạm tội trở thành người đào mồ chôn Đảng Cộng sản Liên Xô? Về điểm này, David M.Kotz, giáo sư kinh tế học của phân hiệu Amherst trường đại học bang Massachusetts từng đưa ra phân tích sâu sắc. Trong cuốn sách Cuộc cách mạng đến từ thượng tầng - Sự cáo chung của thể chế Liên Xô viết chung với phóng viên truyền thông của phương tiện thông tin đại chúng phương Tây thường trú tại Mátxcơva đã chỉ rõ, chính là thái độ của số ít giới tinh anh trong Đảng của Đảng Cộng sản Liên Xô đã dẫn tới sự tan rã của thể chế Liên Xô. "Đến những năm 1980, đối với đại đa số giới tinh anh Liên Xô mà nói, ý thức hệ đã không còn bất kỳ ý nghĩa thực tế nào trong một thời gian dài. Đối với các thành viên cao cấp, thực dụng trong tập đoàn này mà nói, đổi tuyên truyền ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa thành cổ xuý cho chế độ tư hữu và thị trường tự do đã không còn là việc gì khó cả. Khỏi cần từ bỏ niềm tin chính trị kiên định, bởi vì ngay từ đầu họ đã không có"1 ([Mỹ] David Kotz, Fred Weir: Cuộc cách mạng từ thượng tầng - Sự cáo chung của thể chế Liên Xô, Sđd, tr.7).


Các học giả phương Tây, trong đó có David M.Kotz, cho rằng, ngoài nguyên nhân lãnh đạo ra, sự theo đuổi lợi ích vật chất và danh lợi là nguyên nhân quan trọng khiến giới tinh anh trí thức Liên Xô biến chất nhanh chóng. Vốn dĩ, trí thức Liên Xô có thể sống cuộc sống dễ chịu, hưởng thụ địa vị xã hội tương đối cao. Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học cũng như một số nhà văn và nhà nghệ thuật được ca ngợi, lĩnh lương cao, dùng ôtô và trợ lý, có thể ở trong biệt thự sang trọng. Nghiên cứu khoa học thuộc về sự nghiệp của quốc gia, được ngân sách nhà nước cấp tiền, không cần phải bỏ thời gian ra tìm kiếm sự "bố thí" của các quỹ. Các nhà khoa học xã hội nghiên cứu triết học chủ nghĩa Mác, kinh tế chính trị học cũng như chủ nghĩa cộng sản khoa học, không những dễ tìm được việc làm, mà còn dễ được đề bạt. Nhà văn của Liên Xô không cần phải chịu đủ đắng cay vất vả để đăng tác phẩm đầu tay của mình, các học giả cũng không cần phải tìm kiếm việc làm thêm trong bể khổ ngoài học thuật. Thế nhưng, mâu thuẫn chính là ở chỗ, nhiều trí thức hoàn toàn không cho rằng đây là điều kiện ưu việt mà chủ nghĩa xã hội tạo cho họ.


Họ cho rằng, những điều kiện đó là lẽ đương nhiên, hơn nữa so với những trí thức sống ở phương Tây tư bản chủ nghĩa thì còn tồi tệ gấp nhiều lần. Một số trí thức có cơ hội ra nước ngoài tới tham quan xã hội phương Tây, sau khi về nước đến đâu cũng rêu rao rằng, thị trường hóa và thương mại hóa tư bản chủ nghĩa không những có thể bảo đảm cho sự phồn vinh của sự nghiệp văn hóa, mà còn có thể đem lại cho trí thức cơ hội làm giàu. Họ cho rằng tài năng của mình không hề thua kém so với đồng nghiệp phương Tây, vì vậy cần đột phá thể chế hiện hành để thực hiện giấc mơ giàu có của mình1 (Thế nhưng, điều đầy ý nghĩa châm biếm là, về sau cùng với sự chuyển biến nhanh chóng của Nga sang thị trường tự do, người chịu tổn thất lớn nhất phải kể đến trí thức. Họ dường như qua một đêm rơi vào hố băng của thị trường tự do, bởi vì hệ thống nâng đỡ nhà nước trước kia của họ trong nháy mắt đã tan vỡ. Tham khảo David M.Kotz, Fred Weir: Cuộc cách mạng từ thượng tầng - Sự cáo chung của thể chế Liên Xô, Sđd, tr.92).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #88 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2022, 09:30:03 am »

2. Vấn đề trận địa tư tưởng

Lênin và Đảng Bônsêvích năm xưa hết sức coi trọng vai trò tích cực của các công cụ dư luận như báo chí, coi báo chí cách mạng là trận địa lý luận tư tưởng của Đảng. Trong cuộc đời lãnh đạo cách mạng vô sản lâu dài, nhiều hoạt động của Lênin gắn bó mật thiết với báo chí. Bản thân Lênin thừa nhận, ông đối với báo chí "giống như đối với đứa con cưng vậy", coi đây là "sự nghiệp đã đổ tâm huyết nhiều năm, một sự nghiệp liên quan mật thiết tới toàn bộ công tác hết sức quan trọng của chúng ta"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.4, tr.303). Tháng 11 năm 1905, trong bài viết "Tổ chức của Đảng và ấn phẩm của Đảng", Lênin chỉ rõ: "Báo chí cần trở thành cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng"; "Nhà xuất bản và phòng phát hành, hiệu sách và phòng đọc, thư viện và các loại văn phòng kinh doanh sách báo đều cần trở thành cơ quan của Đảng"; "Sự nghiệp sáng tác cần trở thành một bộ phận của toàn bộ sự nghiệp của giai cấp vô sản, trở thành một bộ 'bánh răng và ốc vít' của chủ nghĩa xã hội dân chủ khổng lồ do toàn thể đội tiên phong giác ngộ của toàn bộ giai cấp công nhân khởi động"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.1, tr.663-664). Tháng 7 năm 1920, trong bài viết "Điều kiện gia nhập Quốc tế cộng sản", Lênin lại nhấn mạnh: "Mọi báo chí định kỳ và không định kỳ, mọi cơ quan xuất bản đều cần hoàn toàn phục vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.4, tr.253).


Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, chính quyền Xôviết đã tổ chức báo chí của mình, tích cực tuyên truyền đường lối cơ bản và phương châm chính sách của Đảng Bônsêvích, đã phát huy vai trò định hướng dư luận xã hội, khai thông mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng. Đồng thời lại tận dụng báo chí cách mạng để triển khai phê phán và tiến công đối với hệ tư tưởng giai cấp tư sản, còn điều tra và đóng cửa các tờ báo của giai cấp tư sản công kích chính quyền Xôviết. Sau khi chiến tranh trong nước kết thúc, đã thành lập một số cơ quan nghiên cứu khoa học và giảng dạy phổ biến và tuyên truyền tư tưởng cộng sản và đào tạo cán bộ ý thức hệ, như trường Đại học Cộng sản (năm 1919), Viện nghiên cứu Mác - Ăngghen (năm 1921), Hội nghiên cứu lịch sử Đảng (năm 1920), Học viện Giáo sư Đỏ (năm 1921), Viện nghiên cứu Lênin (năm 1923), Đại học Cộng sản của những người lao động phương Đông (năm 1921)... Kể từ năm 1919, Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga bắt đầu biên soạn cuốn Lênin Toàn tập đầu tiên.


Trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nhiệm vụ chủ yếu mà Đảng Cộng sản Liên Xô gặp phải trong lĩnh vực ý thức hệ là tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, củng cố trận địa tư tưởng xã hội chủ nghĩa, phản kích lại cuộc "chiến tranh tâm lý" do phátxít Hítle tuyên truyền và các quốc gia phương Tây khác triển khai. Đứng trước thế tấn công của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, song song với tích tụ thực lực kinh tế, Liên Xô ra sức phát triển các sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế và văn học nghệ thuật, thực hiện các chế độ giáo dục miễn phí, khám chữa bệnh miễn phí, nhà ở miễn phí, mức phúc lợi nhân dân được nâng lên mạnh mẽ. Trong lĩnh vực giáo dục tư tưởng, tư tưởng xã hội chủ nghĩa tích cực vươn lên chiếm địa vị chủ đạo. Nhân dân Liên Xô tin tưởng vào công bằng xã hội, tràn đầy niềm tin đối với cuộc sống tương lai. Đứng trước cuộc chiến tranh tâm lý do phương Tây phát động, Liên Xô đã tổ chức phản kích hữu hiệu. Trong hệ thống quân đội, Mikhain coi công tác chính trị là "'vũ khí bổ sung", bên dưới Tổng cục Chính trị quân đội lập cơ quan ứng phó với chiến tranh tâm lý và Ủy ban tuyên truyền chính trị. Bộ An ninh tình báo do Lavrentiy Beria lãnh đạo cũng rất có thành tích trong mặt trinh sát đối ngoại và chống tuyên truyền. Zhdanov tổ chức mạnh mẽ công tác tuyên truyền, chỉnh đốn cơ quan tuyên truyền trong nước, thống nhất tư tưởng, cũng đặt cơ sở vững chắc cho công tác ý thức hệ sau này1 (Tham khảo [Nga] V.A. Lusìkin, L.A. Shelepin (Từ Hàn Xương dịch): Chiến tranh thế giới thứ ba: Chiến tranh thông tin tâm lý, Sđd, tr.76-86).


Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khói súng chưa tan thì Chiến tranh lạnh đã bắt đầu. Các nước phương Tây, đứng đầu là Mỹ, song song với việc gấp rút tiến hành chạy đua vũ trang, cũng tích cực chuẩn bị chiến tranh tâm lý. Cục Tình báo trung ương Mỹ đi đầu, tuyên bố sẽ "huy động mọi thủ đoạn, bao gồm cả thủ đoạn tinh thần, làm hủy diệt ý chí kẻ địch". Họ chiêu mộ rộng rãi các chuyên gia, học giả ở các bộ môn khoa học, lợi dụng các thủ đoạn tuyên truyền, thăm viếng lẫn nhau, trinh sát, gián điệp..., tiến hành cuộc chiến tranh tâm lý quy mô lớn đối với Liên Xô; thông qua viện trợ, ủng hộ những "người bất đồng chính kiến"; lợi dụng mâu thuẫn dân tộc, kích động tâm lý bất mãn trong xã hội; tung tin đồn chính trị, bôi nhọ hình tượng của lãnh đạo, tạo ra sự thù hận đối với chế độ Liên Xô, sự mong muốn đối với phương Tây. Ngày 18 tháng 8 năm 1948, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ phê chuẩn lệnh số 20/1 - "Mục đích mà Mỹ cần đạt được đối với quan hệ với Nga". Lệnh này đã vén lên bức màn thực chất là một cuộc chiến tranh kiểu mới, thông tin đã trở thành vũ khí, mục đích là muốn thao túng và thay đổi ý thức xã hội của Liên Xô, khiến cho xã hội Liên Xô hình thành nhận thức giả tạo đối với thế giới bên ngoài, nhằm gây ảnh hưởng hơn nữa tới giới tinh hoa quản lý của Liên Xô.


Sau những năm 50 của thế kỷ XX, cuộc chiến tranh tâm lý của phương Tây đối với Liên Xô được tăng cường hơn nữa. Nhà đương cục Mỹ cho rằng, lĩnh vực ý thức hệ là chiến trường quan trọng để tiến hành chiến tranh với Liên Xô. Mỹ lần lượt thành lập một số viện nghiên cứu lấy Liên Xô và các nước Đông Âu làm đối tượng, một số trường đại học đã lập chương trình giảng dạy chuyên ngành lịch sử và chính trị Liên Xô, Đông Âu, các cố vấn chính sách ngoại giao của Mỹ cũng chuyển trọng điểm quan tâm sang Liên Xô và Hiệp ước Vácsava. Hoạt động nghiên cứu của các cơ quan nghiên cứu khoa học này đã hình thành nên một lĩnh vực đặc thù của khoa học xã hội Mỹ - "Liên Xô học". Điểm khác biệt rõ rệt so với các bộ môn khoa học khác là, "Liên Xô học" của Mỹ có "sắc thái ý thức hệ" rõ ràng, bất luận là nền tảng lý luận tư tưởng, hay là đối tượng và chức năng nghiên cứu, đều thể hiện khuynh hướng chính trị mạnh mẽ. Xét về tổng thể, "Liên Xô học" của Mỹ liên hệ chặt chẽ với chính trị, phát huy ba chức năng trong đấu tranh giữa hai loại chế độ và hai loại ý thức hệ: một là, cung cấp sự hỗ trợ lý luận tư tưởng cho đối kháng Mỹ - Xô và đấu tranh giữa hai loại chế độ xã hội; hai là, trực tiếp phục vụ cho chính sách ngoại giao của Mỹ đối với Liên Xô; ba là, phối hợp với cơ quan tình báo tiến hành chống Liên Xô.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #89 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2022, 09:31:17 am »

Các cố vấn của Mỹ và phương Tây cho rằng, chiến tranh tâm lý là vũ khí mạnh mẽ trong đấu tranh với Liên Xô, để giành thắng lợi cần phải "trong ứng ngoài hợp". Vì vậy, họ hết sức quan tâm đến các loại trào lưu tư tưởng và phe phái chính trị xuất hiện bên trong nước, cố gắng thiết lập kênh đối thoại với chúng. Họ hy vọng Liên Xô xuất hiện một thứ "lực lượng bên trong", nhằm thúc đẩy Liên Xô tiến hành "cải tổ" có lợi cho phương Tây. Brzezinski từng nhắc nhở cần quan tâm nhiều hơn tới vấn đề dân tộc của Liên Xô, cho rằng chủ nghĩa dân tộc là lực lượng chính trị lớn mạnh, nếu như Điện Kremli đưa ra nhượng bộ dưới áp lực của ý thức tự giác dân tộc ngày một tăng lên trong các dân tộc ngoài dân tộc Nga, vậy thì cánh cửa lớn đi tới diễn biến hòa bình đã được mở ra. Vì vậy, các chuyên gia phương Tây đề xuất, cần phải phá hoại hệ thống kiểm soát toàn diện của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với các phương tiện truyền thông đại chúng, đề xướng cạnh tranh chính trị công khai, bảo đảm tự do bầu cử. Họ cho rằng, một khi ánh hào quang của chủ nghĩa cộng sản phai màu, thì sự diệt vong của nó cũng chỉ tính từng ngày.


Những hành động sau khi Gorbachev lên nắm quyền vừa vặn phù hợp với nguyện vọng của các nước phương Tây, thậm chí vượt ra ngoài sự tưởng tượng của phương Tây. Ngày 1 tháng 10 năm 1986, Liên Xô họp Hội nghị chủ nhiệm phòng nghiên cứu giảng dạy khoa học xã hội toàn Liên Xô, tại hội nghị, Gorbachev công khai phê phán trong giảng dạy khoa học xã hội của Liên Xô tồn tại "chủ nghĩa giáo điều và triết học kinh viện", nhấn mạnh cần "cải cách đại cương giảng dạy, viết lại lời giảng mới, đổi mới sách giáo khoa"1 (Gorbachev: Những bài phát biểu về cải tổ (6-1986 - 6-1987), Sđd, tr.99-100). Tại Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 1 năm 1987, Gorbachev lại chỉ tên phê bình các loại khuyết điểm của khoa học xã hội Liên Xô, nói nghiên cứu khoa học xã hội không thích ứng được với yêu cầu của cải tổ và dân chủ hóa. Sau đó, Đảng Cộng sản Liên Xô chủ động mở "van", tự nguyện từ bỏ niềm tin tư tưởng, chắp tay nhường lại trận địa dư luận, phó mặc cho phe đối lập tranh giành. Nguyên lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô Ligachev nói, Đảng Cộng sản Liên Xô đã mất đi kinh nghiệm đấu tranh chính trị, đã hơn 40 năm không tiến hành đấu tranh, đã mất đi tính cảnh giác cần có. Như vậy, với sự phó mặc cố ý của Gorbachev và sự phản bội của Yakovlev, Đảng Cộng sản Liên Xô dần dần mất đi trận địa trong lĩnh vực ý thức hệ, để nhiều nhân vật phe tự do nắm giữ các công cụ dư luận chủ yếu như báo chí. Họ tập hợp và lôi kéo một loạt các cây bút, tuỳ tiện bóp méo lịch sử, công kích ác ý Đảng Cộng sản Liên Xô. Nhiều người trong đó có Gorbachev và Yakovlev còn khuyến khích một số nhà văn hoặc báo chí mở ra "đột phá khẩu" của ý thức hệ Đảng Cộng sản Liên Xô. A.Rybakov, tác giả cưôn tiểu thuyết Những đứa con của phố Arbat, sau khi vịết thư cho Gorbachev lại gửi tới cả bản thảo sách. Gorbachev xem xong cho rằng, cuốn tiểu thuyết có lợi cho việc loại bỏ những hậu quả của chủ nghĩa cực quyền, vì vậy bất chấp sự phản đối trong Đảng, đích thân chỉ thị cho bên dưới, cho phép xuất bản công khai. Việc quay cảnh phim Sám hối ám chỉ đời sống chính trị thời kỳ Xtalin được tiến hành với sự o bế của Shevardnadze, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô, Bí thư thứ nhất Grudia. Sau khi chiếu trong phạm vi hẹp, các nhà nghệ thuật và giới tư tưởng có các cách nhìn khác nhau, kiến nghị trình Bộ Chính trị thảo luận. Gorbachev bày tỏ phản đối rõ ràng, nói cần phải do những người làm công tác điện ảnh, hiệp hội sáng tác tự mình quyết định. Ông ta thậm chí còn hối hận là tại sao mình lại không đọc được tất cả những cái đó khi còn trong trường đại học!1 ([Nga] Gorbachev: Chân tướng và tự bạch - Hồi ký Gorbachev, Sđd, tr.150-151) Bắt đầu từ đầu tháng 12 năm 1986, 15 rạp chiếu phim tại Mátxcơva chiếu bộ phim Sám hối này trong liên tục ba tháng liền. Yakovlev nói, việc công chiếu Sám hối là "khởi đầu của sự tan rã ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa" của Liên Xô2 ([Nga] A.N.Yakovlev: Vòng xoáy ký ức, Sđd, chú thích ảnh). Vị nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, năm 1990 trở thành Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô này từng đích thân tới lên lớp một bài cho Đoàn Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Ông ta nói năng gay gắt, phê phán khoa học xã hội của Liên Xô đầy rẫy những chủ nghĩa giáo điều, đến nay vẫn còn ôm khư khư không rời cách thức cũ rích từ những năm 1930 - 1940. Ông ta kêu gọi những người làm công tác nhân văn và khoa học xã hội của Liên Xô cần dám phê bình, mở rộng đổi tượng phê phán, cho đến khi có thể loại bỏ được tất cả rác rưởi và giải phóng tư duy học giả mới thôi3 (Tham khảo [Nga] A.N.Yakovlev: Vòng xoáy ký ức, Sđd, tr.488).


Năm 1988, Liên Xô xóa bỏ chế độ kiểm duyệt báo chí, Đảng Cộng sản Liên Xô từ bỏ quyền lãnh đạo đối với văn hóa nghệ thuật. Sau đó, danh sách các loại sách được bỏ lệnh cấm ngày càng dài hơn. Sau năm 1990, Đảng Cộng sản Liên Xô hoàn toàn xóa bỏ lệnh cấm đối với báo chí. Kết quả của việc xóa bỏ lệnh cấm đối với báo chí, một mặt là mất kiểm soát dư luận, mất đi trận địa của Đảng Cộng sản Liên Xô; mặt khác cũng thúc đẩy sản sinh "bong bóng" của một số báo chí cấp tiến. Một số báo chí có lượng phát hành tăng vọt do dựa vào việc vạch rõ lịch sử, tiết lộ những tài liệu "giấu kín". Ví dụ như Tạp chí Tình hữu nghị nhân dân các dân tộc, lượng phát hành năm 1985 chưa tới 120.000 bản, năm 1989 do đăng tiếu thuyết Những đứa con của phố Arbat của Rybakov, lượng phát hành tăng mạnh, lên tới 800.000 bản, năm 1990 còn vượt trên 1 triệu bản. Tạp chí Thế giới mới, lượng phát hành năm 1985 chỉ có 420.000 bản, do đăng Quần đảo Gulag của Solzhenitsyn, lượng phát hành mùa hè năm 1985 tăng lên tới 2,5 triệu bản. Đây vẫn chỉ là những con số thống kê đăng ký, chưa bao gồm số lượng bán lẻ1 (Tham khảo [Pháp] Maria Phililippe: "Sự bấn loạn của ký ức: Nước Nga và chủ nghĩa Xtalin", trích từ website www.polit.ru, ngày 20 tháng 11 năm 2002). Các báo chí khác do "phe dân chủ" nắm giữ, lượng phát hành cũng hết sức đáng kinh ngạc: Tuần báo Con số và sự thực năm 1991 phát hành 24 triệu bản; họa báo Ngọn lửa nhỏ năm 1988 phát hành 1,8 triệu cuốn, năm 1989 phát hành 3,5 triệu cuốn2 (Tham khảo "Kết quả đặt báo chí Trung ương năm 1989", trích từ [Liên Xô] Thông báo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô số 1 năm 1989, tr.139), năm 1990 phát hành 7,6 triệu cuốn.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM