Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:49:13 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2  (Đọc 8740 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #20 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2022, 07:07:47 am »

THÀNH CỔ LOA
MỘT KIỂU TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI


Sau khi thành lập nước Âu Lạc, Thục Phán đã chọn Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) làm kinh đô và xây dựng ở đó một tòa thành lớn. Thời điểm ấy, thành Cổ Loa là trung tâm của đất nước.

Ở vùng đồng bằng, giáp trung du của lưu vực sông Hồng, Cổ Loa nằm trên bờ bắc sông Hoàng Giang. Ngày nay Hoàng Giang chỉ còn là một đoạn sông đã bị bồi lấp và đã được cải tạo thành một kênh thủy nông. Nhưng theo các tài liệu địa - lịch sử thì xưa kia, Hoàng Giang là một con sông lớn, nối liền sông Hồng với sông Cầu ở Quả Cảm - Thổ Hà. Trên bản đồ và thực địa, dấu vết của dòng sông cũ còn rõ nét với những đoạn gọi là sông Thiếp hay Ngũ Huyện Khê (chảy qua năm huyện: Yên Lãng, Võ Giàng, Đông Ngàn, Yên Phong, Tiên Du).


Từ Cổ Loa, theo Hoàng Giang, người dân thời ấy có thể ngược lên sông Hồng, rồi đến sông Đà, sông Lô để lên tận miền núi rừng phía bắc và tây bắc hay theo sông Hồng, sông Đáy để xuống đồng bằng và ra biển. Từ Cổ Loa, theo Hoàng Giang cũng có thể xuôi xuống sông Cầu để qua sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam lên miền núi rừng đông bắc hay theo Lục Đầu Giang xuống sông Thái Bình, sông Kinh Thày tỏa rộng khắp vùng đồng bằng ven biển.


Nhưng không chỉ là một kinh thành mà Cổ Loa còn là một quân thành. Bởi vậy, Thục Phán đã nhiều phen đánh bại âm mưu xâm lược của Triệu Đà. Bí quyết đó là gì?

Về tên gọi, Cổ Loa hay Loa Thành - thành Ốc - là một từ Việt gốc Hán, mới xuất hiện từ thế kỷ XV. Trước đó trong An Nam chí lược, tác giả Lê Trắc (thế kỷ XIV) chép tên thành của An Dương Vương là Khả Lũ. Theo ngữ âm học lịch sử tiếng Việt, K'lủ hay Kh'lủ là cách đọc trước kia của Chủ, tên Nôm vùng đất xây thành. Khả Lũ và Cổ Loa có thể là cách phiên âm khi Chủ còn đọc như vừa nêu.


Về cấu trúc, theo một vài tư liệu xưa thì thành Cổ Loa gồm "9 lớp, chu vi 9 dặm". Thật ra, con số 9 chỉ có ý nghĩa biểu trưng. Theo di tích còn lại hiện nay, không kể những đoạn lũy và ụ đất đắp bên ngoài, giữ vai trò như những công trình phòng vệ ngoại vi, thành Cổ Loa gồm ba vòng khép kín. Nhân dân quen gọi ba vòng thành đó theo thứ tự từ trong ra ngoài là thành Nội, thành Trung và thành Ngoại.


Thành Nội, hình chữ nhật, chu vi 1.650m. Thành không cao lắm, so với mặt đất hiện hay, khoảng 5m, mặt thành rộng 6 đến 12m, chân rộng 20 đến 30m. Thành Nội chỉ có một cửa thành mở về phía nam. Ở bốn góc và rải rác trên bốn mặt thành, có mười tám ụ đất được đắp cao lên và nhô ra phía ngoài khoảng 10 đến 50m. Nhân dân quen gọi là "hỏa hồi".


Thành Trung là một vòng thành khép kín, không có hình dáng cân xứng, bao bọc phía ngoài thành Nội, dài 6.500m. Khoảng cách giữa thành Trung và thành Nội cũng không đồng đều, phía đông và phía nam gần nhau, phía tây và phía bắc cách xa nhau hơn. Mặt thành rộng trung bình 10m, chân thành choãi rộng đến 20m, đoạn cao nhất là góc đông bắc, đến 10m. Thành Trung mở năm cửa: cửa Nam, cửa Đông, cửa Bắc, cửa Tây Bắc và cửa Tây Nam. Điều đáng lưu ý là cửa Nam được bố trí thành cửa chung cho cả thành Trung và thành Ngoại do hai vòng thành nối liền nhau tạo thành, còn cửa Đông là một cửa đường thủy (nhân dân gọi là cửa Cống Song) mở lối cho một nhánh sông Hoàng chảy vào sát thành Nội.


Thành Ngoại cũng là một đường cong khép kín, không có hình dáng rõ rệt, dài khoảng 8.000m. Thành Ngoại bị phá hoại rất nặng nề. Những đoạn thành còn lại cao trung bình 3 đến 4m, chỗ cao nhất, ở phía nam, khoảng 8m. Chân thành rộng khoảng 12 đến 20m. Ngoài cửa Nam chung với thành Trung, thành Ngoại còn có ba cửa: cửa Bắc (nhân dân gọi là cửa Khâu), cửa Đông và cửa Tây Nam, trong đó, cửa Đông nối liền với sông Hoàng Giang.


Cả ba vòng thành, phía ngoài đều có hào. Ba lớp hào của thành được nối liền nhau và thông với sông Hoàng. Nước Hoàng Giang bảo đảm cho hệ thống hào quanh năm có nước. Hào - sông kết hợp, tạo thành một mạng lưới giao thông đường thủy rất tiện lợi.


Ngoài ba vòng thành và hào khép kín, khoảng giữa các vòng thành và phía ngoài thành Ngoại, còn có nhiều đoạn lũy và ụ đất được bố trí và sử dụng như những "công sự" phòng vệ nằm trong cấu trúc chung của thành Cổ Loa. Trên thành Trung và thành Ngoại còn có bảy mươi hai ụ đất đắp cao và nhô vào phía trong. Nhân dân cũng gọi là "hỏa hồi". Tất cả những chiến lũy, những ụ đất đó cùng với ba vòng thành khép kín đã kết hợp chặt chẽ với nhau tạo thành một công trinh phòng vệ quân sự thống nhất và hoàn chỉnh.


Ở đây có một điều đáng chú ý là thành Cổ Loa xây dựng trên một địa hình tự nhiên đã được nghiên cứu tường tận và được lợi dụng một cách thông minh và sáng tạo.

Thành xây sát bờ bắc sông Hoàng Giang là để sử dụng nó như một đầu mối giao thông đường thủy và như một đoạn hào tự nhiên lợi hại. Đầm Cả, một vùng đầm rộng mênh mông, nối với Hoàng Giang qua một nhánh sông cũng được lợi dụng như một bến cảng, một "quân cảng" có sức chứa tới vài trăm chiến thuyền.


Nhiều dải đất, gò đất cao tự nhiên được đắp thêm và nối liền nhau khi xây dựng các vòng thành để giảm bớt công sức lao động của con người. Chính thế mà thành Trung và thành Ngoại được uốn lượn tự do, thiếu một hình dáng rõ rệt và cân xứng. Yêu cầu hàng đầu của việc thiết kế thành Cổ Loa không phải là vẻ đẹp của sự cân xứng mà là sự kiên cố, lợi hại của tòa thành và sự tiết kiệm sức lao động của con người, là sự kết hợp giữa việc tận dụng điều kiện tự nhiên với những công trình nhân tạo.


Điều chú ý nữa là toàn bộ cấu trúc của thành Cổ Loa đã tạo thành một kiến trúc quân sự vững châc, có sự kết hợp chặt chẽ giữa quân bộ và quân thủy.

Dòng sông Hoàng cùng với Đầm Cả, các lạch sông và ba vòng hào kết hợp với nhau thành một hệ thống đường thủy. Thời bình, đó là một mạng lưới giao thông, chuyên chở rất thuận rợi, có thể vào tận thành Nội. Thời chiến, khi phòng vệ, quân thủy xuất phát từ Đầm Cả có thể nhanh chóng triển khai khắp ba vòng thành, cùng phối hợp chiến đấu với quân bộ. Khi tiến công, từ thành Cổ Loa, quân thủy có thể theo sông Hoàng xuống sông Cầu hay ngược lên sông Hồng mà tiến lên miền núi hay tiến xuống vùng đồng bằng và ra biển cả.


Thành Cổ Loa là một căn cứ quân sự phối hợp bộ binh với thủy binh. Người Âu Việt ở miền núi vốn quen trèo núi, giỏi cung nỏ. Người Lạc Việt ở đồng bằng lại quen sông nước, thạo dùng thuyền. Kinh thành nước Âu Lạc của hai bộ phận người Việt đã thâu nhập và phát huy được hai truyền thống cực kì quí báu đó.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #21 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2022, 07:08:36 am »

Qua những phần đã trình bày, đến đây, chúng ta có thể kết luận được rằng: Cấu trúc của thành Cổ Loa đã đạt đến một trình độ kiến trúc quân sự khá cao và cũng khá phức tạp. Điều đó thể hiện rõ ở ba vòng thành.


Thành Nội là trung tâm phòng vệ, được cấu trúc đặc biệt. Mười tám ụ đất đắp cao và nhô ra khỏi thành chính là những chòi canh rất tốt, mở rộng tầm quan sát cho người lính gác. Khi bị tiến công, những ụ đất đó sẽ chia cắt quân địch và từ trên mặt thành, từ các ụ đất, quân sĩ dùng cung nỏ, mũi lao tiêu diệt quân địch đã bị dồn vào các góc thành và bị tiến công từ ba phía (trên mặt thành đánh xuống và từ hai ụ đất nhô ra đánh tạt ngang hai bên). Mỗi góc thành Cổ Loa đã trở thành một "tử giác" đối với quân thù.


Thành Trung, thành Ngoại và hệ thống phòng vệ ngoại vi tạo thành những lớp phòng vệ có chiều sâu gồm nhiều tầng, nhiều lớp. Tường thành phía ngoài dựng đứng để quân thù khó vượt qua, phía trong lại thoai thoải để binh lính có thể lên xuống được dễ dàng. Thành Nội chỉ mở một cửa Nam nhẳm bảo vệ chặt chẽ sự ra vào. Trong khi đó, các cửa thành Trung và thành Ngoại, trừ cửa Nam chung cho cả hai vòng thành và cửa Đông là cửa sông, đều bố trí chéo nhau để từ cửa ngoài vào cửa trong phải đi theo những con đường quanh co, hai bên có những ụ đất cảnh giới. Tất cả sự bố trí đều thể hiện rõ một ý đồ nhất quán là nhằm gây nhiều khó khăn, trở ngại cho kẻ thù khi đột nhập vào thành và tăng cường đến mức tối đa sức mạnh phòng vệ và đề kháng của các chiến binh.


Trong lịch sử quân sự cổ đại phương Đông, trận đồ bát quái vốn được xem là một kiểu phòng ngự rất vững chắc. Bây giờ bằng cách so sánh với nó, chúng ta thử tìm hiểu về giá trị quân sự của thành Cổ Loa.


Xây dựng theo hình bầu dục - lại bố trí theo tám hướng tự nhiên với chín cửa: hai cửa Đông (một cửa của thành Ngoại và một là cửa Cống Song - cửa đường thủy - của thành Trung), hai cửa Bắc (một cửa của thành Trung và một là cửa Khâu của thành Ngoại), hai cửa Nam (một là cửa của thành Nội và một là cửa chung cho cả thành Trung, thành Ngoại), hai cửa Tây Nam (một của thành Trung và một của thành Ngoại) và cửa Tây Bắc - thành Cổ Loa của Thục Phán ở Việt Nam và trận đồ bát quái của người Hán ở Trung Quốc đều có cùng một kiểu trận địa phòng ngự vòng tròn, có chiều sâu. Thật vậy, vì xây dựng nhiều lớp - thuật ngữ quân sự gọi là thành quách - nên mới có tên là thành Ốc - thành Cổ Loa ưu việt hơn thành trì của nhiều nước ở thời trung đại sau này, kể cả các thành trì của nhà Nguyễn vào thời cận - hiện đại ở Việt Nam, xây theo hình vuông - hoặc hình chữ nhật - và chỉ có một lớp bao quanh. Loại thành hình vuông chỉ sử dụng được một phần tư lực lượng, trái lại thành hình tròn có thể phát huy gần một nửa lực lượng để đánh địch trên một hướng. Thành xây một lớp, sau khi chọc thủng, địch có thể nhanh chóng phát triển binh lực vào phía trong. Trái lại, thành nhiều lớp đủ sức tạo được điều kiện liên tục ngăn chặn địch khi chúng đột nhập, đồng thời là chỗ dựa vững chắc để đưa lực lượng ra phản kích. Còn trận đồ bát quái, căn cứ vào các di tích trận đánh còn lại tới ngày nay và qua các tài liệu nghiên cứu khác thì đây thực chất là cách bố trí lực lượng chiến đấu theo một thế trận nhất định, khi chiến đấu phòng ngự và khi đóng quân để chống đối phương tập kích. Trận nhỏ nhất, cơ sở của Trận đồ bát quái, được bố trí thành tám phân đội trên tám hướng (thực chất đã thành hình vòng tròn). Ngoài tám phân đội ra còn có một phân đội cơ động, đặt ở giữa, bảo vệ cơ quan chỉ huy, đồng thời làm đội dự bị, tăng cường cho các hướng bị uy hiếp. Các trận nhỏ xoay quanh cùng với lực lượng cơ động, hình thành một trận lớn. Cứ thế, số quân càng nhiều, trận địa càng lớn. Cách bố trí như vậy, trận địa đã có chiều sâu lại có lực lượng dự bị bên trong khiến bên tiến công rất khó khăn trong hành động. Kiểu cấu trúc trận địa phòng ngự và vòng tròn như vậy hiện được nhiều nước áp dụng và đánh giá là tiên tiến. Tuy thế nhưng giữa Trận đồ bát quái và Cổ Loa cũng có những đặc điểm khác biệt.


Thứ nhất, Trận đồ bát quái là một đội hình dã chiến tạm thời, chỉ liên quan đến phạm vi từng trận đánh, ở qui mô chiến thuật. Cổ Loa là một tòa thành kiên cố, chiến đấu lâu dài, liên quan đến toàn bộ cuộc chiến tranh, ở qui mô chiến lược. Thứ hai, Trận đồ bát quái vốn là kiểu đội hình chiến đấu của bộ binh người Hán trên đất hoàng thổ, khô ráo và bằng phẳng, chống lại người - ngựa của dân du mục phương Bắc nên thuần túy là kiểu phòng ngự của bộ binh, Cổ Loa được xây dựng trên bờ tả ngạn, bờ phía Bắc sông Hoàng Giang, thời điểm đó là con sông lớn, nối liền sông Hồng với sông Cầu. Theo con sông này, thuyền bè có thể đi khắp vùng đồng bằng và ra biển. Là một đầu mối giao thông đường thủy, con sông còn được xem như một đoạn hào thiên nhiên lợi hại. Việc lựa chọn xây dựng địa điểm phòng ngự bên một con sông như thế buộc bên tiến công, khi ra quân phải chia sẻ lực lượng trước một chướng ngại nước. Đầm Cả, một khu đầm mênh mông nối với sông Hoàng cũng được lợi dụng như một quân cảng. Dòng sông Hoàng Giang cùng với Đầm Cả, các rạch sông và ba vòng hào kết hợp với nhau thành một hệ thống đường thủy. Điểm khác biệt của Cổ Loa với các thành trì trên thế giới chính là ở chỗ này, chỗ tính chất của nước trong hào, một bên là nước chảy và một bên là nước lặng. Thành trì nói chung mà người ta vẫn gọi, chỉ có nghĩa là "tường và ao". Chính địa hình quân sự sông nước vùng xây thành đã tạo cho Cổ Loa thành một căn cứ thủy - bộ liên hoàn. Thứ ba, Trận đồ bát quái thực chất là cách bày quân theo một thế trận nhất định nên rất xơ cứng vì mục đích của nó không có gì hơn là chống đối phương tập kích khi đóng quân và đánh lui đối phương khi phòng ngự. Trái lại, quá trình tác chiến lâu dài ở Cổ Loa linh hoạt hơn nhiều, ở đó có sự kết hợp giữa tiến công và phòng ngự. Khi phòng ngự, từ trên các ụ đất nhô ra, bộ binh, nhất là bộ binh tên nỏ ngăn chặn quân địch đồng thời từ Đầm Cả, thủy binh triển khai ra các vòng thành để chiến đấu phối hợp. Khi tiến công, từ căn cứ Cổ Loa, theo sông Hoàng Giang, thủy binh cơ động tỏa đi khắp nơi, lên tận chiến trường chính ở vùng đồi núi Tiên Du và núi Vũ Ninh. Hai truyền thống ưu việt: giỏi cung nỏ, thạo thủy chiến của người Âu Lạc được phát huy mạnh mẽ tại tòa thành này. Chỉ tiếc rằng các truyền thống quân sự đó không được kết hợp chặt chẽ với các phương thức đấu tranh khác nên đã dẫn tới một thảm họa lớn mà qua mấy ngàn năm đến nay vẫn còn nhức nhối.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #22 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2022, 07:25:02 am »

UY HIẾP LÀM NÊN CHIẾN THẮNG
LÃNH CÂU - ĐAN XÁ


Cuộc chiến tranh giải phóng của dân tộc ta ở thế kỷ XV vào cuối năm 1427 đã thu được thắng lợi cực kỳ to lớn. Để đối phó, triều đình nhà Minh đã vội vàng cử ngay hai đạo viện binh, gồm mười lăm vạn người, chia thành hai ngả, tiến vào đất Giao Chỉ. Trước tình hình đó, quân ta chủ trương dồn sức vào, tiêu diệt đạo quân mười vạn người, dưới sự chỉ huy của Liễu Thăng, còn đạo quân năm vạn người, dưới sự chỉ huy của Mộc Thạnh, thì chỉ sử dụng một lực lượng vừa đủ để kiềm chế.


Sau khi giết chết Liễu Thăng ở Chi Lăng, dồn được bảy vạn tên tàn binh chạy vào thành Xương Giang, quân ta bắt đầu tính đến việc tiêu diệt đạo quân thứ hai. Lúc đó, Mộc Thạnh từ Vân Nam đã kéo quân đến vùng biên giới Tây - Bác nước ta. Tuy thế, y vẫn tỏ ra dè dặt, không giám tiến sâu vào nữa mà cho dừng quân lại để nghe ngóng tình hình. Hiểu rõ tâm lí Mộc Thạnh là tiến quân từng bước để thăm dò, nếu ở hướng chủ yếu, công việc trót lọt thì mới từ biên giới tiến xuống phối hợp, quân ta phục binh để chờ mà chưa vội hành động. Mặt khác, Nguyễn Trãi viết thư nói rõ: "Kể ra đồ binh khí là thứ hung bạo, đánh nhau là việc nguy hiểm. Thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng đến. Còn việc dùng binh đến cùng, cậy vào vũ lực là điều mà xưa nay vẫn răn dạy"1 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.152, 152-153, 149, 150). Sau khi phân tích những thất bại, tổn hại lớn của quân Minh trong hai chục năm qua, Nguyễn Trãi mong muốn Mộc Thạnh tâu về triều đình xin bãi binh. "Các đại nhân đều là nhân nhân quân tử, há lại không biết rõ nghĩa giao thiệp với nước láng giềng cùng đạo vui trời, sợ trời. May ra được đại nhân đem ý trong thư trước của tôi chuyển tâu về triều đình rồi truyền bảo cho tôi biết ý định của triều đình để cho dân vô tội ở cõi Giao Chỉ tôi được thoát mình khỏi nước sôi lửa bỏng mà quân đi đánh dẹp của Trung Quốc được về quê hương; thế là làm một việc mà được hai điều tiện lợi”2 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.152, 152-153, 149, 150). Cuối cùng, Nguyễn Trãi cũng không quên lời cảnh cáo: "Nếu không thế, chỉ chăm đòi bắt quân lính lại sang lần nữa, các ông đã biết rõ lời răn từ xưa tới nay về việc cùng binh độc vũ, há chẳng thấy thế mà sờn lòng ư?"3 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.152, 152-153, 149, 150).


Tiếp đến lúc đạo viện binh của Liễu Thăng thất trận rồi bị giam chân ở Xương Giang, Lê Lợi - Nguyễn Trãi liền sai một số tù binh mang bằng sắc, ấn tín của tên tướng kiêu ngạo đã tử vong này và một bức thư đến tận doanh trại quân Mộc Thạnh, báo cho chúng biết tin bại trận. Bên cạnh việc đề cao viên tướng họ Mộc, "đại nhân là họ thân của nhà vua, được ủy nhiệm cho công việc nặng nề"4 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.152, 152-153, 149, 150), "không phải người thường tài có thể sánh kịp"5 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.152, 152-153, 149, 150), là việc kể lại cái chết của Liễu Thăng chỉ vì "không biết đạo trời ưa sống, lòng người ghét loạn. Thành hay bại, phúc hay họa, chỉ trong khoảng trở bàn tay..."6 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.152, 152-153, 149, 150) nên đã "bị chết tại trận, không biết lẫn lộn vào đâu"7 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.152, 152-153, 149, 150). Với lời lẽ nhún nhường, bức thư đề nghị: "Nay chúng tôi nhờ ơn của đại nhân như trời đất, cha mẹ, nên mới thổ lộ tình thực, mong đại nhân thương cho. Đại nhân đem lòng người quân tử nhân đức, tất sẽ làm việc nhân nghĩa, để cho người đời nay đều tiến lên cõi thái hòa, há lại chịu lấy đất chỗ An Nam bé như nốt ruồi mà làm cho thiên hạ mệt nhọc ư?"1 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.150-151, 151). "Nay vua nước tôi một lòng, quân lính cùng một chí hướng. Về cái nghĩa kính trời, thờ nước lớn, không dám bỏ thiếu"2 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.150-151, 151) và yêu câu Mộc Thạnh: "Xin chuyển tâu về triều đình cái việc nói rõ trong lá thư này"3 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.150-151, 151). Tuy thế, bức thư cũng tỏ rõ một thái độ cứng rắn: "Nếu triều nghị không nghe thì chúng tôi dẫu chết cũng không ân hận gì?"4 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1969, tr.150-151, 151). Nhận được thư, lại trông thấy ấn tín, bàng sắc của Liễu Thăng và nghe tin Lương Minh, Lí Khánh tử trận, Mộc Thạnh vô cùng hoảng sợ. Chiến quả của các trận Chi Lăng, Cần Trạm, phố Cát được phát huy cao độ và đã tác động không nhỏ đến tinh thần chiến đấu của đạo viện binh này. Cả đạo quân, từ chủ tướng đến binh sĩ "kinh sợ mà trước đã vỡ mật"5 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1972, t.3, tr.45). Đang đêm, Mộc Thạnh vội vàng đem quân rút chạy về nước. Do chuẩn bị từ trước, các tướng chỉ huy lập tức tung quân đuổi theo. Tại Lãnh Câu và Đan Xá, quân ta đã thắng lớn, diệt hơn một vạn địch, bắt sống một ngàn tên và một ngàn ngựa, thu được rất nhiều chiến lợi phẩm. "Chỉ một mình, một ngựa"6 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1972, t.3, tr.45), viên bại tướng chạy thoát về Vân Nam. Trái lại, quân ta không hề mất một mũi tên.


Cả một đạo viện binh lớn, năm vạn người và một vạn ngựa, vừa mới đến vùng biên giới đã bị đánh tan nát chỉ do một nguyên nhân hết sức đơn giản là quá sợ vì bị đối phương uy hiếp.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #23 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2022, 07:26:13 am »

"LỄ NGHI DÀN TRƯỚC,
BÁC ĐỒNG PHỤC SAU"


Người Việt Nam chúng ta, khi đọc truyện Kiều của Nguyễn Du đều hiểu rằng Hồ Tôn Hiến là một vị quan võ của triều đình, được cử đi tiễu trừ viên "tướng giặc" Từ Hải. Thế nhưng trên chiến địa khi thấy rõ tương quan lực lượng đang nghiêng về phía đối phương thì ông ta liền thay đổi phương pháp hành động, không dùng gươm giáo để thực hiện mục đích của mình nữa. Vậy đó là phương pháp gì?


Là quan "Tổng đốc trọng thần" dưới triều vua Thế Tông nhà Minh (với niên hiệu là Gia Tĩnh, từ năm 1522 đến năm 1571, đúng như câu thứ chín của Truyện Kiều), chắc Hồ Tôn Hiến hiểu rõ cách tiến hành chiến tranh mà không cần dùng vũ lực như Quản Trọng (685 - 645 trước công nguyên), Tể tướng dưới triều vua Hoàn Công nước Tề - thời Xuân Thu ở Trung Quốc - đã từng nói: "Nghệ thuật dùng binh trăm đánh, trăm thắng đã giỏi nhưng không đánh mà thắng mới thật là giỏi tuyệt vời". Ở cương vị người chỉ huy quân sự, nhất định ông ta phải nghiên cứu "Binh pháp thập tam thiên" của Tôn Tử và không thể bỏ qua thiên Mưu công (tiến công bằng mưu kế) với đoạn văn: "Thượng sách của việc dùng binh là dùng mưu lược, sau mới đến việc dùng ngoại giao, sau nữa mới đến việc dùng lực lượng quân sự để giành thắng lợi...". Trên cơ sở nhận thức lí luận người xưa, ông ta thực hiện ngay "chước chiêu an”, sai người mang lễ vật đi thuyết hàng. Sau đó, đánh giá tình hình và thấy rõ lực lượng đối phương có hai thành phần chủ yếu là Từ Hải và Thúy Kiều, với phương châm "tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu" của con nhà võ, ông ta khẳng định phải né tránh Từ, một người anh hùng - một chỗ rắn - nhưng chỗ mềm lại là Kiều, cần phải khoét sâu. Thứ nhất, nàng là vợ Từ, thứ hai nàng lại còn "dự quân trung luận bàn".


Từ ý định đó, quá trình hành động của Hồ hình thành hai giai đoạn: giai đoạn Từ còn sống và giai đoạn Từ đã chết. Trong giai đoạn đầu, Hồ tìm mọi cách để tiếp cận, đề cao Kiều, xem nàng như một khách quí, một phu nhân. Cùng với "ngọc vàng, gấm vóc" biếu chung với Từ, Kiều còn được biếu "riêng một lễ", "hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân". Trước hành động chiêu an của Hồ, Kiều và Từ có hai phản ứng khác nhau. Từ hoàn toàn nghi ngờ và chống đối kịch liệt sự đầu hàng: "Bó thân về với triều đình, hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu” với một thái độ rất tự tin: "Sao bằng riêng một biên thùy, sức này đã dễ làm gì được nhau". Kiều thì trái lại. Vốn "thật dạ, tin người", lại là một người con gái bị đầy vào cảnh "mặt nước, cánh bèo", "đã nhiều lưu lạc, lại nhiều gian truân", may mắn gặp được Từ Hải, giờ đây nàng muốn nhân dịp tìm "về cố hương” - với "ngôi mệnh phụ" trong tay - vừa "nở nang mày mặt" lại vừa "rỡ ràng mẹ cha". Làm được như thế thì "vẹn cả hai bề" "một là đắc hiếu, hai là đắc trung", "chẳng hơn chiếc bách giữa dòng" mà lại "nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào". Qua những lời lẽ mặn mà của vợ, bùi tai, Từ đã dần dần chuyển từ "thế công" sang "thế hàng". Từ đó "việc binh bỏ chẳng giữ giàng", khiến trong doanh trại "ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng". Hồ chỉ chờ có thế. Kế hoạch tiêu hao lực lượng đối phương bằng cách "mài mòn ý chí chiến đấu” qua lễ nghi, mua chuộc, biếu xén, từ người trong cơ quan chỉ đạo đến người lính, như vậy là hoàn thành. Đã đến lúc ra tay, Hồ quyết định số phận Từ bằng một đòn tiêu diệt. Vì thế, lợi dụng lúc Từ ra cửa doanh trại đón chào quân đội triều đình, Hồ tổ chức tập kích. Thấy rõ tại chỗ bộ mặt thật của quan "Tổng đốc trọng thần", ghê tởm vì những "động tác giả" lâu nay vẫn diễn ra, Từ đứng chết lặng người vì uất ức. Và cũng cho đến lúc ấy, Kiều mới thấy rõ tâm địa lá mặt, lá trái của Hồ đồng thời nhận thức ra sự sai lầm của mình khi tỉ tê khuyên nhủ chồng đầu hàng: "Khóc rằng trí dũng có thừa, bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này".


Sau khi giết được Từ, Hồ chuyển quá trình hành động sang giai đoạn hai. Biết rằng sở dĩ "công thành, danh toại" chính nhờ "có lời nàng mới nên”, Hồ hỏi Kiều hai ý kiến. Thứ nhất, thưởng công cho nàng theo hình thức nào: "Mặc lòng nghĩ lấy, muốn xin bề nào?”. Thứ hai, nàng muốn kết duyên cùng ai: "Dây loan xin nối cầm lành cho ai?". Ngoài hình thức tuy có hỏi ý kiến Kiều thật nhưng trong nội dung, Hồ vẫn làm theo cách riêng của mình. Nếu như trước đó, ông ta trọng vọng, kính nể Kiều bao nhiêu thì giờ đây rẻ rúng, khinh miệt nàng bấy nhiêu. Suy cho cùng thì kiểu thái độ nào, Hồ cũng chỉ nhằm vụ lợi cho mình. Trước câu hỏi thứ nhất, Kiều chỉ xin được một ban thưởng khiêm tốn là "mồ yên, mả đẹp" cho Từ; "Xin cho tiện thổ một doi, gọi là đắp điếm lấy người tử sinh". Tất cả công lao to lớn của Kiều được đền đáp chỉ bằng mỗi một việc là mai táng Từ một cách qua quít, ngoài ra không có gì hơn: "Truyền cho cảo táng di hình bên sông", về câu hỏi thứ hai, thật ra Hồ chỉ nêu lên một cách chiếu lệ chứ trước mặt ông ta, Kiều đâu còn là một vị phu nhân nữa mà chỉ là một cô gái làng chơi. Sự thật diễn ra đúng như vậy. Vì sau khi chôn cất Từ, trong buổi tiệc khao quân, Hồ đã ép nàng "thị yến dưới màn" rồi "lại ép cung đàn nhặt tâu". Hành động đó thể hiện rõ cách ứng xử của một kẻ "được chim bẻ ná, được cá bẻ câu". Không những thế, Hồ còn đi quá mức sau khi "chén đã quá say". Đến bước này, ông ta đã hiện nguyên hình một tên ác quỉ "sát phu, hiếp phụ". Để cứu vãn tình thế "quan trên nhìn xuống, người ta trông vào", Hồ đã ép duyên, gán nàng cho viên thổ quan, mặc dù chỉ trong khoảng vài ngày trước đó, khi được hỏi, nàng đã bày tỏ nguyện vọng của mình: "Còn chi nữa, cánh hoa tàn, tơ lòng đã dứt dây đàn Tiểu Lân". Bị làm nhục, bị ép duyên, ê chề, đau đớn, cùng đường, Kiều đã gieo mình xuống sông Tiền Đường mang theo đi cả những ảo tưởng về "vương thần", "mệnh phụ", về "lộc trọng, quyền cao" từng được xây dựng trên miệng lưỡi nham hiểm của kẻ thù. Nàng tự tử hay nàng bị bức tử? Trách nhiệm đó nhất thiết Hồ phải chịu.


Chuyện Hồ Tôn Hiến giết chết Từ Hải qua tay nàng Kiều thì gần hai trăm năm nay, mọi thế hệ người Việt đều biết rất rõ. Có điều, ở đây đã ghi nhận lại một bài học khá đau xót. Đó là vì quá thật lòng, nhẹ dạ, Kiều đã phó thác cả niềm tin vào kẻ thù mà vô hiệu hóa sức mạnh "trí dũng có thừa" của chồng. Nàng có biết đâu rằng Hồ không đủ khả năng binh đao để đánh gục Từ Hải mà phải dựa vào lời khuyên nhủ nhẹ nhàng của nàng để tiêu hao dần ý chí và lực lượng của ông, rồi cuối cùng khi thời cơ xuất hiện thì dùng vũ lực tiêu diệt. Ngày nay, trong hàng ngũ kẻ thù của dân tộc ta chắc không thiếu những tên xảo quyệt, hiện đại, có khi còn hơn cả Tổng đốc họ Hồ tuy vẫn "ngọt ngào" với bài bản cũ là "lễ nghi dàn trước, bác đồng phục sau” và trong các tầng lớp nhân dân ta cũng không thiếu những ai đó "thật dạ, tin người" như Vương Thúy Kiều1 (Những câu Kiều trong bài đều được trích dẫn từ Truyện Kiều của Nguyễn Du, do Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú thích, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H.1976, tr.302-312).
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #24 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2022, 07:27:40 am »

NƯỚC LỤT THÌ LÚT CẢ LÀNG


Thường thường, các câu tục ngũ, ngạn ngữ trong tiếng Việt có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Từ nghĩa đen, người ta tìm về nghĩa bóng. Nhưng cũng có trường hợp, chúng được dùng cả hai nghĩa. Có thể "nước lụt thì lút cả làng" là một trong những ví dụ đó.


Ai cũng biết Việt Nam là một vùng lãnh thổ chỉ rộng 329.600m2 nhưng có tới 2.360 con sông chảy qua, có tới 3.260km bờ biển và một năm trung bình có tới 100 ngày mưa. Vì vậy "nước” được xem là "một hằng số địa lí quan trọng"1 (Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản chất văn hóa Việt Nam, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1996, tr.68) của người Việt. Môi trường tự nhiên đó đã chi phối mọi mặt trong cuộc sống cư dân như ăn, mặc, ở và đi lại. Chẳng hạn như việc đi lại. Từ ngàn xưa, việc đi lại của người Việt phần lớn là trên sông nước và thuyền bè. Dòng sông và con thuyền là hai hình ảnh đã tạo nên những ấn tượng sâu sắc trong tâm trí mọi người. Nào là "vững tay chèo lái", "chớ thấy sóng cả mà rã tay chèo”; nào là "cây đa bến cũ, con đò khác đưa", "thuyền về có nhớ bến chăng”; nào là "cá chuối đẫm đuối vì con", "có phúc đẻ con hay lội...”.


Tuy nhiên bên cạnh những điều mang đến từ "thủy lợi", "nước" cũng mang đến cho người Việt Nam những mối "thủy hại” ghê gớm mà lụt là một loại tai vạ đứng ở vị trí hàng đầu (thủy, hỏa, đạo, tặc). Chính vì vậy, câu tục ngữ trên còn có vế thứ hai là "đắp đê phòng lụt, thiếp chàng lo chung". Nghĩa là thủy họa không trừ một ai. Nước lụt tràn đến, tất cả đều bị nhấn chìm. Do đó, mọi người dân, dù trai hay gái, đều có chung một nghĩa vụ là ngăn nước, phòng lụt để bảo vệ cuộc sống yên lành. Nhận thức rõ điều đó mà dân tộc ta ngay từ thời Lí, thế kỉ XI, nhiều đoạn đê quan trọng, dọc theo những sông ngòi lớn ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đã được xây đắp, trong đó quan trọng nhất là đê Cơ Xá (đê sông Hồng ở vùng Thăng Long). Sang thời Trần, thế kỷ XIII, việc đáp đê phòng lụt được tiến hành hàng năm với một qui mô lớn. Năm 1248, triều đình ra lệnh cho các lộ đắp đê từ đầu nguồn đến bờ biển, gọi là đê Quai vặc. Có thể nói là đến thời điểm đó, hệ thống đê điều dọc theo sông Hồng và các sông lớn ở đồng bằng Bâc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay, về cơ bản đã được xây dựng và năm nào cũng được bồi đắp, tu bổ cho vững chắc thêm. Bên cạnh đó, triều đình còn đặt ra chức Hà đê chánh, phó sứ chuyên lo việc chăm sóc, bảo vệ đê điều. Ngay cả đến nhà vua, cũng có khi tự mình trông nom việc đắp đê, phòng lụt. Chả thế mà Hành khiển (tương đương chức Bộ trưởng thời nay) Trần Khắc Chung đã từng nói: "Lúc dân gặp nạn lụt, người làm vua phải cứu giúp ngay, sửa sang đức chính không còn gì trọng đại hơn công việc ấy”1 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1972, t.2, tr.116). Sang thời Lê, triều đình không những vẫn duy trì chức Hà đê sứ mà năm 1492 còn qui định ở mỗi xã, xã trưởng phải có trách nhiệm trông nom đê điều và nông nghiệp.


Từ một chất lỏng, chi phối mọi mặt đời sống người Việt, "nước" đã dẫn tới nghĩa là Tổ quốc, lãnh thổ. Do đó, theo nghĩa bóng, ta có thể hiểu "nước lụt” không còn là hiện tượng nước dâng cao, mưa lũ gây ra làm ngập nhà cửa, ruộng đồng mà là Tổ quốc bị nạn ngoại xâm nhấn chìm trong máu lửa. Tổ quốc đã lâm nguy thì làm sao tất cả mọi xóm làng trong đó thoát được cảnh lầm than. Ở Việt Nam, từ ngàn đời nay, làng là đơn vị quần cư. Cho nên nhân dân ta vẫn thường nói "sống ở làng, sang ở nước". Và cũng từ đó, người Việt biết nhiều đến hai đơn vị hành chính là "làng" và "nước". Còn các đơn vị trung gian như xã, huyện, phủ, đạo, lộ, tỉnh... mới ra đời sau này theo sự phát triển của xã hội thì hầu như chúng ít gây được những ấn tượng sâu sắc. Bởi vậy, đã hình thành một thói quen, mỗi khi bị đánh đập, đàn áp... người Việt thường kêu to: "Ới làng nước ơi! Cứu! Cứu!".


Về hình thức, làng là một cộng đồng người bao gồm nhiều gia đình sống chung, có cả quan hệ láng giềng lẫn quan hệ huyết tộc. Đặc biệt có những làng chỉ có một dòng họ như Dương Xá - làng họ Dương (Thanh Hóa), Nguyên Xá - làng họ Nguyễn (Thái Bình), Đặng Xá - làng họ Đặng (Nam Định). Theo ý kiến các nhà khoa học, làng ở Việt Nam được hình thành ngay từ dưới thời các vua Hùng. Điều này đã diễn ra rất sớm trong lịch sử so với các nước châu Âu như ở Đức và ở Pháp, ở đấy, làng hình thành trong quá trình tan rã chế độ chiếm hữu nô lệ và quá trình xuất hiện chế độ phong kiến, từ thời cổ đại bước sang thời trung đại.


Như lịch sử thế giới đã ghi chép, do sự phát triển kinh tế, sự gia tăng dân số, một bộ phận người Giéc-manh, tổ tiên người Đức hiện nay, có yêu cầu mở rộng đất đai sinh sống. Cho nên vào khoảng cuối thế kỷ II sang thế kỷ III, những người này đã di cư vào lãnh thổ đế quốc La Mã, như người Vi-xi-gốt, Ô-xtơ-rô-gốt..., nhận làm "đồng minh" của đế quốc La Mã. Giữa thế kỷ IV, các bộ lạc du mục Hung Nô ào ạt xông vào cướp phá, tàn sát nhân dân khu vực Đông và Nam Âu, gây ra sự rối loạn lớn ở khắp trong và ngoài đế quốc La Mã. Các bộ lạc thuộc bộ tộc Giéc-manh cũng như các bộ tộc khác còn ở bên ngoài lãnh thổ đế quốc La Mã, vội vã di cư vào bên trong lãnh thổ đế quốc để thực hiện nghĩa vụ đồng minh của mình. Cuộc di cư lớn này kéo dài trong thế kỷ IV và thế kỷ V.


Trong quá trình di cư và tiến hành chiến tranh, các thành viên của các thị tộc người Giéc-manh thường bị xáo trộn và sống lẫn lộn với nhau theo quan hệ láng giềng mà không theo quan hệ huyết tộc nữa. Một bộ phận những người La Mã tự do, những người nô lệ và lệ nông đã được giải phóng cũng tham gia vào các cộng đồng người này. Từ mối quan hệ đó, họ xây dựng nên các làng mạc mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác gọi là công xã nông thôn mác-cơ.


Như vậy là, không giống với sự hình thành làng của người Việt, sự hình thành làng của tổ tiên người Đức "không phải là do sở thích hoặc do ngẫu nhiên" mà là "do quan hệ thân thuộc, gần gũi của các thầnh viên trong bộ lạc”1 (C. Mác - Ph. Ăng-ghen, Quốc hữu hóa ruộng đất - Mác-cơ, Nxb Sự thật, H.1976, tr.114) dựa trên quan hệ huyết tộc đã bị tan rã.


Sự hình thành làng ở Pháp lại có phần hơi khác. Vào khoảng đầu thế kỷ III, bộ tộc Phrăng, tổ tiên người Pháp hiện nay - một bộ tộc đông đúc và hùng mạnh nhất trong các bộ tộc Giéc-manh - đã đến sinh sống ở vùng biên giới đông bắc đế quốc La Má, tức vùng hạ lưu hữu ngạn sông Ranh, xâm nhập vào vùng đông bắc xứ Gôn và cũng nhận làm "đồng minh" của đế quốc La Mã. Ở đây, họ đã từng liên kết với các bộ tộc khác, đánh bại quân đội Hung Nô. Tiếp đó, đến cuối thế kỷ V, khi hoàng đế La Mã bị phế truất, chính quyền La Mã ở xứ Gôn tuy vẫn còn tồn tại nhưng đã bị suy yếu nhiều. Lợi dụng tình hình đó, giới quí tộc thuộc bộ tộc Phrăng đã liên kết với nhau, bầu lên một thủ lĩnh quân sự, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược xứ Gôn và năm 486 đã đánh bại chính quyền sở tại, chiếm lĩnh vùng đất đai của đế quốc La Mã ở miền bắc xứ Gôn. Đi theo sau quân đội, những người bình dân Phrăng đã di cư vào xứ Gôn giành lấy đất đai của người La Mã và thành lập ra các làng mạc của mình.


Làm sự so sánh trên để qua đó, chúng ta thấy rõ được sự hình thành công xã nông thôn nguyên thủy của người Đức và người Pháp không giống của người Việt. Có thể là do sự hình thành đó đã ra đời sau người Việt hàng mấy ngàn năm lại hoàn toàn dựa trên quan hệ láng giềng, không dựa trên quan hệ huyết tộc nên mối liên kết giữa gia đình, dòng họ với làng mạc không được chặt chẽ, khăng khít. Không những thế, trong nền kinh tế nông nghiệp lúa nước của người Việt, gia đình là một bộ phận hữu cơ của làng mà làng lại gắn liền với nước. Bởi lẽ đã trồng lúa nước thì suốt đời người nông dân phải vật lộn với nước, đắp đê phòng lụt, đào kênh dẫn nước, chống úng chống hạn... Những công việc đó chỉ một gia đình không thể nào đảm nhiệm được, phải là chuyện của cả làng đến cả nước. Như vậy, bên cạnh các quan hệ trên, về nội dung, làng cũng là một tổ chức xã hội thu nhỏ, có vai trò to lớn trong việc chống thiên tai và địch họa. Từ những thực tế khách quan trong cuộc sống hàng ngày, người Việt đã tạo cho mình một quan niệm làng xóm tựa như một gia đình mở rộng và nước như một làng lớn. Nhà - họ - làng - nước có phân biệt mà cũng có hòa hợp, y như quang phổ, khi phân tích ra thì có bảy màu song chúng lại nơi ánh sáng trắng1 (Trần Quốc Vượng (chủ biên), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, H.1997, tr.34). Do sống hợp thành làng xóm có tính cộng đồng cao lại có tục lệ thờ cúng tổ tiên nên tâm lí gia đình, họ hàng, làng xóm ăn sâu trong ý thức, khiến người Việt rất gắn bó với chúng. Quan hệ nhà - họ - làng - nước luôn luôn tồn tại bền vững, gắn bó mật thiết với nhau, tạo thành sức mạnh của dân tộc Việt Nam, giúp cho dân tộc này không bị mất đi trước họa xâm lăng và không bị đồng hóa trước các thế lực ngoại bang. Từ đó, "nước mất, nhà tan" đã trở thành một suy nghĩ của bao thế hệ người Việt khi đất nước bị vong nô kể từ một, hai thế kỉ trước công nguyên cho đến những năm 80 của thế kỉ trước tới những năm 70 của thế kỉ này.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #25 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2022, 07:28:45 am »

BA ĐIỀU ĐÁNG TRÁCH Ở LÍ PHẬT TỬ


Có lẽ trong lịch sử dân tộc ta, không có nhân vật nào mà bị các nhà sử học chê là "người ngu"1 (Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, Đại Nam dật sử - Sử ta so với sử Tàu, Hội khoa học lịch sử Việt Nam, 1997, tr.502), thậm chí còn là "phẩm hạnh không bằng chó lợn"2 (Ngô Sĩ Liên Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1972, t.1, tr.124) như Lí Phật Tử.


Vậy Lí Phật Tử là ai? Đó là một viên tướng cùng họ với Lí Bí. Theo thư tịch Trung Quốc, ông ta còn có tên là Lí Thiên Long (Trần Thư), là Lí Xuân (Tùy Thư), gần đây sử sách còn ghi tên là Lí Thiệu Long3 (Lịch sử Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H.1971, t.1, tr.115).


Số là vào tháng 2 năm 546, thành Gia Ninh (Vĩnh Phúc) bị vỡ, cuộc kháng chiến gặp khó khăn, Lí Bí phải rút về vùng Khuất Lão (Phú Thọ), sau khi đã trao lại binh quyền cho Triệu Quang Phục và qua đời vào năm 548. Trong tình hình không thuận lợi ấy, Lí Phật Tử đã vội vã theo người anh ruột của Lí Bí, là Lí Thiên Bảo, đưa ba vạn quân chạy vào Đức Châu (Hà Tĩnh) nhưng rồi bị quân xâm lược đánh bại, phải lui lên vùng biên giới Việt - Lào. Năm 555, Lí Thiên Bảo chết, Lí Phật Tử lên thay. Nhưng từ năm năm trước đó, năm 550, Triệu Quang Phục đã đánh tan quân Lương, giành lại đất nước từ đầm lầy Dạ Trạch (Hưng Yên).


Năm 557, Lí Phật Tử tìm về quê cũ, lôi kéo họ hàng, phe cánh và gây chiến với Triệu Quang Phục. Tuy vậy nhưng thấy không thắng nổi, Lí Phật Tử xin nghị hòa. Nể tình người họ Lí, Triệu Quang Phục chấp thuận và chia đôi đất nước, lấy bãi Quần Thần (vùng Thượng Cát, Hạ Cát, Từ Liêm, Hà Nội) làm ranh giới. Năm 571, Lí Phật Tử bất ngờ đem quân tiến đánh Triệu Quang Phục, chiếm lấy cả nước.


Năm 602, biết rõ nhà Tùy có ý định xâm lược nước ta, Lí Phật Tử cử các tướng, chia quân tổ chức phòng ngự tại ba thành lớn. Lí Đại Quyền (con người anh Lí Phật Tử) trấn giữ thành Long Biên (Bắc Ninh), Lí Phổ Đỉnh trấn giữ thành Ô Diên (Sơn Tây) còn Lí Phật Tử thống lĩnh đại quân đóng tại thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Tháng 1 năm 603, nhà Tùy cử Lưu Phương đem 27 quân doanh (khoảng mười vạn người) tiến vào bờ cõi nước ta. Để chặn đánh, Lí Phật Tử cử 2.000 quân lên tổ chức một trận địa mai phục tại biên giới nhưng tương quan lực lượng quá chênh lệch nên đã bị đè bẹp. Thừa thắng, quân xâm lược tiến nhanh xuống, vây chặt thành Cổ Loa, buộc Lí Phật Tử phải đầu hàng. Thế là cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta bị thất bại.


Qua những việc làm sai trái của Lí Phật Tử, chúng ta thấy rõ con người này có ba điều đáng chê trách:

Thứ nhất, đang khi quân xâm lược kéo vào, Lí Bí gặp rất nhiều khó khăn, phải bôn tẩu về vùng Khuất Lão, là người trong họ lại là võ tướng, đáng lẽ Lí Phật Tử phải cùng Triệu Quang Phục điều binh về vùng Dạ Trạch. Trái lại, ông ta theo Lí Thiên Bảo đưa quân về phía nam, cốt bảo mạng, không nghĩ đến sự mất còn của họ hàng, đất nước.


Thứ hai, đến khi lên thay Lí Thiên Bảo cầm quân, chính là lúc Triệu Quang Phục đang bộn bề công việc của một nhà nước mới hình thành thì Lí Phật Tử lại ngang ngạnh đòi lấy bãi Quần Thần làm địa giới để rạch đôi sơn hà. "Môi hở răng lạnh" chính là từ đây. Giá như ông ta biết cùng lòng, chung sức với Triệu Quang Phục giữ vững bờ cõi, đã chắc gì quân xâm lược giám bén mảng tới. Đã vậy, việc cắt đất vừa xong, Lí Phật Tử đã bội ước, trở mặt, bất ngờ đem quân đánh lại người vừa cam kết với mình, mong giành trọn quyền làm chủ.


Thứ ba là sai lầm trong chỉ đạo chiến tranh giữ nước. Trước hết, ông ta không biết phát động chiến tranh nhân dân như Triệu Quang Phục - người cùng thời - đã từng thắng lợi mà chỉ thuần túy dùng quân chủ lực tiến hành phòng ngự ở một số thành lũy lớn còn thì "để trống trận địa" trên phạm vi cả nước. Tiếp đó, khi quân xâm lược tiến vào, ông ta lại đưa một lực lượng nhỏ nhoi với 2.000 quân để chống lại một đạo quân gần mười vạn người, chưa bị đối phương làm tiêu hao, sứt mẻ, khi ý chí xâm lăng của chúng còn nguyên vẹn lúc ban đầu. Không những thế, khi quân giặc thừa thắng, hùng hổ kéo đến vây chặt cổng thành, Lí Phật Tử không đủ can đảm, quyết một phen sống mái mà mới nghe lời đe dọa đã vội vàng buông gươm, cởi giáp, cam chịu làm một tên hàng binh hèn hạ ngay trước cửa doanh trại của kẻ thù. Thật muôn phần nhục nhã.


Bởi vậy cho nên lời phán xét đối với Lí Phật Tử quả thật là xứng đáng. Lịch sử bao giờ cũng khách quan và công bằng.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #26 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2022, 07:30:55 am »

CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN, GIÀNH LẠI VÀ GIỮ LẤY


Thời đại mới trên đất nước ta được mở ra từ Cách mạng tháng Tám. Để đi tới cuộc cách mạng kì vĩ này của lịch sử hiện đại, dân tộc ta phải vượt qua một chặng đường dài tới 90 năm, 60 năm trước, đấu tranh "giành lấy nó" - tính từ Hiệp ước bán nước Pa-tơ-nốt, năm 1884, đến ngày 19 tháng 8 năm 1945 và 30 năm sau, đấu tranh "giữ lấy nó" - tính từ ngày kháng chiến Nam Bộ (23-9-1945), đến ngày "toàn thắng" (30-4-1975). Những nội dung đấu tranh đó - đặc biệt là từ khi Đảng quang vinh ra đời - thuộc phạm trù văn hóa giữ nước xã hội chủ nghĩa.


Ai cũng thấy rõ trong lịch sử, lần đầu tiên dân tộc ta bị một kẻ xâm lược đế quốc chủ nghĩa từ phương Tây đến nô dịch. Từ trong cảnh "cá chậu, chim lồng", những người Việt Nam tâm huyết đều nhận thức rõ rằng để đưa dân tộc ta khỏi cảnh bị áp bức, tư tưởng Nho giáo đã không còn thích hợp nữa. Bởi vậy, văn hóa giữ nước thời điểm này ngày đêm trăn trở, lựa chọn mọi phương pháp, cố tìm ra cho được một con đường đấu tranh ưu việt nhất.


Rõ ràng là mọi hoạt động văn hóa giữ nước trước khi Nguyễn Ái Quốc vào Đảng Cộng sản Pháp - tại Đại hội Tua, năm 1920 - để đưa Tổ quốc ra khỏi cảnh "máu chảy, đầu rơi" đều thất bại. Từ giải pháp "đổi mới đất nước" của Nguyễn Trường Tộ; giải pháp "bạo lực vũ trang” của phong trào Cần Vương như Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân, Nguyễn Thiện Thuật, Đinh Công Tráng,...; giải pháp "chiến tranh du kích", kéo dài tới hai mươi tám năm trời, của thủ lĩnh nông dân Hoàng Hoa Thám... đến giải pháp dựa vào Nhật Bản, tiến hành khởi nghĩa, có đổi mới chính trị, theo chế độ quân chủ lập hiến như Phan Bội Châu; giải pháp dựa vào chính mình, nâng cao dân trí, có tiếp thu tư tưởng dân chủ và những quan điểm tiến bộ của văn hóa Pháp như Phan Chu Trinh... đã không đi tới kết quả. Trong khi đó thì chính quyền thực dân đã mở những trường học, đào tạo được một số người làm việc, đổi mới cơ sở chính trị, xã hội và kinh tế có lợi cho chúng.


Căn cứ vào tình hình cụ thể lúc ấy, văn hóa giữ nước Việt Nam cũng đã tìm ra cách chuyển mình, lấy văn hóa công nghiệp thay dần cho văn hóa nông nghiệp, lấy phong trào Âu hóa về văn hóa để đưa phong trào cách mạng chuyển từng bước, đưa dần cái cũ sang cái mới. Vả lại, những chiến sĩ văn hóa giữ nước thuộc thế hệ này, phần lớn xuất thân từ nhà trường "bảo hộ", am hiểu tiếng Pháp, ít nhiều chịu ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ Pháp. Và đến khi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện, Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời thì văn hóa dân tộc nói chung, văn hóa giữ nước nói riêng, đã hình thành một hướng đi. Nội dung của nó tập trung vào ba vấn đề lớn: thứ nhất, lấy nhân dân lao động - mà nòng cốt là công nhân và nông dân - làm cơ sở để đấu tranh; thứ hai, gắn chặt phong trào đấu tranh của nhân dân trong nước với phong trào của giai cấp vô sản và nhân dân các nước thuộc địa trên phạm vi toàn thế giới; thứ ba, phê phán chủ nghĩa đế quốc bằng chính học thuyết Mác -Lênin một thành tựu tư tưởng - lí luận cao nhất của nền văn hóa công nghiệp châu Âu. Thực ra, các thành tố này chưa hề có trong nền văn hóa nông nghiệp cũ bởi tính cách mạng triệt để của nó. Song ở đây, người ta vẫn tìm thấy những nét tương đồng, hòa quyện vào nhau giữa tính truyền thống và tính hiện đại cũng như sự giao thoa giữa chúng với nhau. Ví như nội dung cơ bản của nền văn hóa mới là lấy sự hi sinh cho dân tộc, cho đất nước làm hạnh phúc của con người, đào tạo ra những bậc hiền nhân, quân tử của thời đại mới thì điều đó lại không hề trái ngược với nội dung của nền văn hóa dân tộc tự ngàn xưa. Nền văn hóa ấy đã từng có những con người lo trước, sướng sau thiên hạ, chí công vô tư, uy vũ không thể khuất phục, nghèo hèn không chịu chuyển lay, giàu sang không làm thay đổi. Bởi thế cho nên, ngay lập tức, nó đã làm đổi mới nội dung văn hóa dân tộc và trở thành xu hướng chủ yếu của văn hóa Việt Nam, đồng thời đặt nền móng vững chắc cho văn hóa giữ nước có một con đường đấu tranh đúng đắn, đặng gặt hái những mùa bội thu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc mà Cách mạng tháng Tám là một thành tựu ngời sáng, chói lòa.


Như trên đã nói, Cách mạng tháng Tám đã mở ra thời đại mới ngày nay. Tuy nó thắng lợi trong một khoảng thời gian chưa đến ba mươi ngày nhưng để bảo vệ thành quả của nó, dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã phải chiến đấu trên một chặng đường ba mươi năm chẵn. Chưa đến một tháng, sau ngày đất nước giải phóng, chính quyền nhân dân còn đang "trứng nước", ngày 23-9-1945, đồng bào Nam Bộ đã buộc phải đứng lên, cầm vũ khí chiến đấu. Và không có con đường nào khác, vì "cây muốn lặng, gió chẳng đừng", hơn một năm sau, ngày 19-12-1946, toàn dân ta, triệu người như một, lại kề vai, sát cánh, liên tiếp bước vào những cuộc chiến tranh giải phóng trường kì và gian khổ.


Vốn yêu chuộng hòa bình, để bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám, không phải lúc đầu, dân tộc Việt Nam đã dùng ngay giải pháp bạo lực. Bởi thế cho nên, sau ngày Nam Bộ kháng chiến, phía chúng ta đã tìm đủ mọi cách để né tránh đổ máu nhưng vẫn không kết quả. Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3, rồi Tạm ước ngày 14 tháng 9 bị xóa bỏ... cũng như gần hai mươi năm sau, "sự kiện vịnh Bắc Bộ" được dựng lên vu cáo để rồi chính quyền Giôn-xơn đẩy nhân dân ta vào đối tượng trả đũa. Tất cả, tất cả mọi nguyên cớ đều sinh ra từ phía kẻ xâm lược, đã buộc chúng ta phải cầm vũ khí tiến hành chiến tranh. Bạo lực âu cũng là một phương pháp không thể không dùng tới.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #27 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2022, 07:31:37 am »

Nhưng tiến hành chiến tranh theo phương pháp nào? Truyền thống hay hiện đại trong khi cán cân lực lượng luôn luôn nghiêng về phía quân xâm lược? Đắn đo, cân nhắc, suy tính thiệt hơn trên cơ sở "biết người, biết mình", dân tộc ta xác định phải tiến hành chiến tranh theo truyền thống của tổ tiên - truyền thống chiến tranh nhân dân - và xem đó là hành động duy nhất đúng. Đây vốn là một kho kinh nghiệm vô giá của người xưa để lại qua hàng ngàn năm giữ nước. Biết bao kẻ xâm lược trong lịch sử đã gục ngã khi đụng chạm đến bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Những bài học bất hủ đó được đưa vào thực tiễn chiến đấu của văn hóa giữ nước xã hội chủ nghĩa để bảo vệ Cách mạng tháng Tám, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trở thành một sức mạnh vô địch và đã liên tiếp chiến thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ. Thế nhưng ở Việt Nam chỉ gọi là chiến tranh nhân dân thì vẫn đúng, song chưa đủ. Thực sự nó là chiến tranh toàn dân. Nếu như chiến tranh nhân dân chỉ mới bàn đến phương pháp tiến hành chiến tranh của loại hình chiến tranh chính nghĩa - loại chiến tranh đã từng diễn ra ở Tây Ban Nha, ở các nước châu Âu chống phát-xít Đức, ở Cu-ba... - thì nội dung chiến tranh toàn dân ở Việt Nam còn bao gồm cả phương pháp và phương tiện - con người và vũ khí. Đây là một loại hình chiến tranh đã xuất hiện từ rất sớm trên lãnh thổ này. Ngay sử sách Trung Quốc, khi ghi chép về cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống quân Tần, vào thế kỉ III trước công nguyên, đã mô tả: "... Người Việt vào rừng ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau cử người tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được chủ tướng Đồ Thư". Đến thế kỉ XIII, trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên, cũng chính nhờ chiến tranh toàn dân mà liên tiếp ba lần, dân tộc ta đã chiến thắng. Mô tả về những sự kiện vĩ đại này, nhà bác học Phan Huy Chú ghi rõ: "Thời Trần nhân dân ta ai cũng là binh, nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh". Tiếp thu truyền thống quân sự cực kì quí báu đó, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước". Sang thăm đất nước ta trong những năm chống Mĩ, một đạo diễn điện ảnh nổi tiếng người Hà Lan đã nhận xét: "Tôi đã thấy khá nhiều cuộc chiến tranh và chiến tranh du kích. Nhưng tôi chưa từng thấy cả một dân tộc đánh giặc như ở Việt Nam".


Nói đến chiến tranh toàn dân ở Việt Nam là muốn nói đến hai lực lượng tham chiến lớn: một là quân đội, lực lượng vũ trang chủ chốt, và hai là lực lượng dân chúng vũ trang rộng rãi, có mặt ở kháp mọi nơi. Nếu như quân đội, lực lượng vũ trang chủ chốt, có nhiệm vụ cơ động trên phạm vi cả nước và chỉ xuất hiện ở những bước ngoặt của chiến tranh, tiến hành những trận đánh lớn, những chiến địch, để tiêu diệt quân xâm lược thì trái lại, chiến tranh của dân chúng vũ trang lại diễn ra không lúc nào ngừng, kể từ giây phút đầu tiên, khi quân cướp nước đặt bàn chân bẩn thỉu lên Đất Mẹ thân yêu cho đến giây phút cuối cùng, khi quân thù vắng bóng trên vùng đất, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc. Chiến tranh của dân chúng vũ trang tiến công quân xâm lược từ trước mặt đến sau lưng. Nó được diễn ra ở tất cả mọi xóm, mọi làng khi quân thù tới. Những người thợ cày đã cầm vũ khí đánh giặc ngay tại quê hương mình, đánh giặc ngay tại chỗ, đánh giặc trên khắp bề mặt của đất nước. Đây cũng là một nét đậm đà bản sắc dân tộc của văn hóa quân sự Việt Nam. Chiến tranh của dân chúng vũ trang, vì vậy là nội dung thực chất của chiến tranh chống ngoại xâm ở Việt Nam. Mặc dù chiến tranh của dân chúng vũ trang không đủ khả năng thực hành những đòn tiến công lớn để tiêu diệt địch nhưng lại có khả năng thực hành những đòn tiến công nhỏ để tiêu hao chúng. Số địch bị loại khỏi vòng chiến ở mỗi trận như vậy không nhiều, có chăng chỉ là một vài tên nhưng cái nguy hại là trên đất nước này, ngày nào cũng có, nơi nào cũng diễn ra. Cứ thế, cứ thế, "Kiến tha lâu cũng đầy tổ", những đòn tiêu hao đó đã "mài mòn" lực lượng địch, buộc chúng phải dàn mỏng lực lượng ra để đối phó. Mà đã dàn mỏng thì làm sao có thể mạnh được, tựa như quả đấm nắm lại so với bàn tay xòe ra. Trong cuộc chiến tranh toàn dân chống xâm lược ở Việt Nam, đây là phương pháp chủ yếu nhằm chuyển hóa lực lượng địch từ mạnh đến yếu một cách tiệm tiến để vào thời cơ thuận lợi, quân chủ lực giáng những đòn quyết định, đẩy nhanh quá trình suy yếu của chúng, giành thắng lợi hoàn toàn. Một nước nhỏ - như trường hợp nước ta - chống lại đội quân xâm lược của những nước lớn, theo phương châm lấy ít thắng nhiều, lấy yếu chống mạnh, nếu không dùng phương pháp trên thử hỏi làm sao có thể chuyển hóa được một lực lượng tới 50 - 60 vạn người như quân Mông - Nguyên ở thế kỉ XIII, quân Mĩ ở thế kỉ XX này.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #28 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2022, 07:32:21 am »

Cũng vì phải lấy ít thắng nhiều mà các lực lượng vũ trang của dân tộc ta trong mọi cuộc chiến tranh yêu nước đều không đủ khả năng tiêu diệt hết tất cả mọi tên xâm lược ngay trong biên giới lãnh thổ. Cho nên, việc tiêu diệt một phần quan trọng lực lượng của chúng như ở chiến dịch Biên Giới năm 1950, ở chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, ở Đông - Xuân 1966 - 1967, nhất là ở Tết Mậu Thân năm 1968 và đặc biệt là ở trận "Điện Biên Phủ trên không" cuối năm 1972,.. là những chiến thắng đủ sức "làm nản lòng" đối phương, đặng tiến lên đè bẹp ý chí xâm lược của chúng. Lịch sử đã ghi lại khi đội quân bại trận của Pháp rút ra khỏi nước ta, lực lượng của chúng đang còn tới 444.900 người. Và khi buộc phải "cuốn cờ", quân số Mĩ còn tới 549.500 tên. Đè bẹp ý chí xâm lược là mục tiêu đề ra cho cuộc chiến tranh, song chỉ riêng hành động quân sự thì không đủ sức. Phương thức đấu tranh vũ trang phải được sự phối hợp hành động của các phương thức đấu tranh khác. Trong số đó phải kể đến phương thức "đánh vào lòng người" dưới các hình thức binh, địch vận. Riêng trong chín năm kháng chiến chống Pháp, ngành binh - địch vận của quân đội ta đã kêu gọi được 25 vạn ngụy binh đào ngủ, vận động 10 vạn ngụy binh ở lại miền Bắc sau năm 1954. Thấy rõ tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược, hơn 1000 lính Âu - Phi đã chạy sang hàng ngũ kháng chiến. Cũng là phương thức "đánh vào lòng người" chúng ta còn có những cuộc vận động các tầng lớp nhân dân chính quốc cũng như các tâng lớp nhân dân thế giới tiến hành phản đối chiến tranh. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp đã nổi lên hai tấm gương tiêu biểu như anh Hăng-ri Mác-tanh và chị Ray-mông Điêng từ phong trào phản chiến ở nước Pháp. Trong cuộc chiến tranh chống Mĩ, cứu nước đã có tới 16 trường hợp tự thiêu từ phong trào phản chiến ở nước Mĩ như cụ bà Hen-ga Héc-dơ, anh Nô-man Mô-ri-xơn... chưa kể đến 32 người tự thiêu ở ba nước khác nữa. Để ủng hộ nhân dân ta, phản đối đế quốc Mĩ xâm lược, trên thế giới đã có trên 10 Ủy ban quốc tế đoàn kết với Việt Nam của các tổ chức dân chủ, đoàn thể tôn giáo và tổ chức xã hội; có trên 200 tổ chức, ủy ban, phong trào đoàn kết, ủng hộ Việt Nam ở hầu hết các nước; trên 50 nước có phong trào quyên góp, ủng hộ Việt Nam như ở Pháp có các phong trào quyên góp "100 triệu Phrăng ủng hộ Việt Nam”, "một chiếc tàu cho Việt Nam"; ở Nhật Bản có chiến dịch quyên góp "100 triệu yên cho Việt Nam"; ở Thụy Điển có phong trào quyên góp "một triệu cua-ron ủng hộ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam"; 16 nước có phong trào hiến máu ủng hộ Việt Nam. Đặc biệt là ở nước Anh, theo sáng kiến của Huân tước Béc-tơ-răng Rút-xen, nhà toán học và triết học, "Tòa án quốc tế xét xử những tội ác chiến tranh của Mĩ ở Việt Nam", được thành lập và đã nhóm họp nhiều phiên để lên án, kết luận về tội ác xâm lược và tội ác diệt chủng, diệt sinh, diệt môi trường sống của đế quốc Mĩ ở ba nước Đông Dương. "Đánh vào lòng người" còn có phương thức đấu tranh ngoại giao. Phương thức này thường xuyên xuất hiện vào cuối cuộc chiến tranh, khi mà kẻ xâm lược đã thấy nao núng tinh thần sau những thất bại lớn về quân sự, buộc phải ngồi vào bàn thương lượng. Trong lịch sử quân sự Việt Nam, phương thức này xuất hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỷ XI, khi mà đạo quân xâm lược Tống đã bị tiêu diệt tới 40%. Không có con đường nào khác, chủ tướng Quách Quì đã phải tuyên bố một câu giữ sĩ diện để "rút quân trong danh dự' như cách nói của chúng ta ngày nay: "Ta không thể đạp đổ được sào huyệt giặc (chỉ Đại Việt), bắt được Càn Đức (vua Lý Nhân Tông) để bảo mệnh triều đình. Tại trời vậy! Thôi đành liều một thân ta để cứu hơn mười vạn nhân mạng (số quân xâm lược). Nhưng thực ra tâm trạng hắn lúc đó đã được bộc lộ qua lời bình luận của các học giả nhà Tống: "May được lời giặc (lời đề nghị giảng hòa của Đại Việt) nói nhũn, liền nhân đó giảng hòa". Hiệp nghị Giơ-ne-vơ được kí kết năm 1954, buộc thực dân Pháp phải rút quân ra khỏi miền Bắc cũng là kết quả của phương thức đấu tranh ngoại giao từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Tương tự như vậy nên sau đòn tiến công chiến lược vào Tết Mậu Thân, năm 1968, phía Mĩ buộc phải ngồi vào bàn thương lượng và kí Hiệp định Paris để "lủi thủi ra đi" cũng là chịu một đòn tiến công ngoại giao quyết liệt và bền bỉ của nhân dân ta kéo dài tới 4 năm 8 tháng 14 ngày với 202 phiên họp. Nhưng cùng với phương thức đấu tranh vũ trang thì phương thức đấu tranh chính trị trong chiến tranh chống Mĩ là đã thu hút nhiều tầng lớp quần chúng tham gia nhất và cũng là một kiểu đấu tranh của những gan vàng, dạ sắt mà lực lượng tham gia lại là những bậc quân thoa. Thật vậy, lợi dụng thế đấu tranh hợp pháp trong vùng tạm chiếm, những "đội quân tóc dài" từ mọi ngả đường, ùn ùn kéo đến thường để chặn những cuộc hành quân càn quét. Trong những "đội quân tóc dài" đó có những bà cụ già chống gậy, có những người mẹ trẻ bế con thơ. Ngoài chiếc nón lá đội đầu và tấm khăn rằn vắt vai, những người đàn bà chân yếu, tay mềm đó không có gì mang theo trừ lòng yêu nước và chí căm thù. Phương thức đấu tranh chính trị còn thu hút cả giới học sinh, sinh viên, giới phật tử. Ví như cuộc đấu tranh của học sinh, sinh viên Sài Gòn ngày 9 tháng 1 năm 1950 dẫn đến cái chết vẻ vang của anh học sinh yêu nước Trần Văn Ơn hay cuộc biểu tình phản kháng nhà cầm quyền của giới phật tử bằng hành động tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức.


Thế nhưng muốn nói gì thì nói, trong chiến tranh bao giờ cũng vậy, hai bên tham chiến nhất thiết phải tìm đủ mọi phương pháp để tiêu diệt lẫn nhau. Làm được hay không, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào phương pháp tác chiến, vào nghệ thuật quân sự. Tuy trên chiến trường phải lấy ít thắng nhiều, lấy yếu chống mạnh nhưng chúng ta có chiến tranh chính nghĩa của một dân tộc bảo vệ độc lập, tự do; có sức mạnh đoàn kết của toàn dân đứng lên chống giặc, cứu nước. Các yếu tố đó đã giúp chúng ta biến ít thành nhiều, biến yếu thành mạnh. Và lại "ít" và "yếu" đó chỉ là hình thức bên ngoài, theo cách nhìn của kẻ đi xâm lược, còn thực chất về nội dung là sự chiến thắng của chất lượng cao đối với số lượng đông. Không những thế, xét về góc độ quân sự, điều quyết định chiến thắng của trận đánh, cũng như toàn cuộc chiến tranh, không phải là lực lượng, là phương tiện mà chính là phương pháp tác chiến, phương pháp sử dụng lực lượng và phương tiện, là nghệ thuật quân sự. Nếu để chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trong quá trình bảo vệ Cách mạng tháng Tám bằng phương tiện, bàng lực lượng vũ trang chuyên nghiệp thuần túy thì chúng ta làm sao có ưu thế được trước đối phương. Đấu tranh vũ trang, một cuộc đọ sức quyết liệt bằng sắt thép, máu lửa nếu chỉ có quân nhiều, súng lắm và thậm chí có thêm cả lòng dũng cảm vẫn chưa đủ mà phải có trí thông minh, óc sáng tạo. Đối với chúng ta, đó là phương pháp tác chiến được thể hiện qua các hình thức đánh phục kích, đánh bất ngờ, đánh vận động, đánh ban đêm, đánh vào tuyến hậu cần chiến lược.“.. Thắng lợi của ít thắng nhiều, yếu chống mạnh còn được thể hiện ở chỗ buộc địch phải tác chiến theo kiểu của ta, không cho chúng phát huy được sở trường vốn có. Địch muốn đánh nhanh thắng nhanh, ta thực hiện "kháng chiến trường kỳ". Ngay trong chiến dịch Điện Biên Phủ, địch cũng muốn "đánh nhanh, giải quyết nhanh" như phương châm lúc đầu của chiến dịch nhưng thấy không thể bảo đảm được thắng lợi, ta đã nhanh chóng chuyển sang phương châm "đánh chắc, tiến chắc". Địch muốn tập trung đánh lớn nhằm thu hút chủ lực để tiêu diệt với ý đồ đập nát sức đề kháng ngay từ đầu cuộc chiến, ta căng mỏng chúng ra và dùng dân chúng vũ trang đánh nhỏ, đánh lẻ để tiêu hao dần. Địch muốn đánh ở đồng bằng, ở đô thị, đánh trong công sự kiên cố, đánh bằng vũ khí tối tân... ta kéo chúng lên rừng núi, về các làng xã chiến đấu, đánh địch bằng tác chiến vận động, đánh địch trên các địa hình hiểm trở nên đã hạn chế được tính năng, tác dụng của mọi loại binh khí - kĩ thuật...


Tất cả những nội dung vừa nêu ở trên, người viết muốn trình bày về phương pháp đấu tranh để bảo vệ thắng lợi thành quả của Cách mạng tháng Tám. Ở thời điểm đó, dùng bạo lực là phương pháp duy nhất đúng vì ngoài ra, không có một phương pháp nào ưu việt hơn. Hành động bạo lực được biểu hiện ra bằng hai cuộc chiến tranh mà phương pháp tiến hành là chiến tranh toàn dân và phương pháp tác chiến trên chiến trường là lấy ít thắng nhiều, lấy yếu chống mạnh. Mà đã nói đến phương pháp - nhất là phương pháp bạo lực phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ độc lập, tự do - là muốn nói đến trí tuệ con người, một sản phẩm được sinh ra từ nền văn hóa dân tộc nói chung, nền văn hóa giữ nước nói riêng cũng như nền văn hóa giữ nước xã hội chủ nghĩa ở giai đoạn lịch sử hiện đại. Giai đoạn văn hóa giữ nước xã hội chủ nghĩa dưới hình thức bạo lực vũ trang để bảo vệ Cách mạng tháng Tám đã kết thúc thắng lợi sau 30 năm đấu tranh nhưng sự nghiệp văn hóa đó còn đang tiếp tục vì nguy cơ xoá bỏ thành quả của cuộc cách mạng dưới những hình thức đấu tranh "không có khói súng" vẫn cứ tồn tại. Vì kẻ thù đã nhận thức rõ rằng cầm vũ khí chống lại chúng trong những cuộc chiến tranh vừa qua là những người có văn hóa, mà cốt lõi là có lòng yêu nước thiết tha, căm thù giặc sâu sắc, trọng nhân nghĩa, quí tình người, biết để quyền lợi cộng đồng trên quyền lợi cá nhân. Người Việt Nam chúng ta cũng hiểu, dù bất cứ lúc nào, nhất là trong giai đoạn này, để mất văn hóa là "để mất chính mình" trước khi để mất Tổ quốc - một thành quả do Cách mạng tháng Tám giành lại - dù cho binh khí - kĩ thuật có được trang bị "đến tận răng" cũng bất lực. Bởi vậy, cho nên khó khăn đến chừng nào cũng phải phấn đấu giữ vững nền văn hóa dân tộc.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #29 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2022, 07:34:08 am »

DI CHÚC CỦA TRẦN QUỐC TUẤN,
BẢN TỔNG KẾT CHIẾN TRANH CHUẨN MỰC


Ở thế kỷ XIII, trong bốn trước tác lớn của Trần Quốc Tuấn, trừ Hịch tướng sĩ - cũng có tên gọi Dụ chư tì tướng hịch vãn - là lời kêu gọi các cấp chỉ huy quân sự thuộc quyền trước khi bước vào cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1285, còn tất cả ba trước tác khác đều bàn về lí luận quân sự. Tuy thế nhưng cơ sở để hình thành giữa chúng cũng không giống nhau. Vạn Kiếp tông bí truyền thư và Binh thư yếu lược được xem là hai cuốn binh thư đầu tiên ở Việt Nam. Dĩ nhiên có sự lựa chọn, kế thừa và phân tích cho phù hợp với thực tế đất nước, song khi soạn thảo, tác giả đã phải dựa vào lí luận quân sự của các binh gia Trung Quốc. Chính Trần Quốc Tuấn cũng nói rõ: "Nay ta soạn chép binh pháp các nhà, làm thành một quyển, tên là Binh thư yếu lược"1 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1971, t.2, tr.93). Hay như lời giới thiệu của Ngô Sĩ Liên: "Hưng Đạo Vương chép nhặt binh pháp các nhà làm "đồ bát quái cửu cung" gọi là Vạn Kiếp tông bí truyền thư"2 (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1971, t.2, tr.94). Chỉ có Di chúc là hoàn toàn mang theo bản sắc văn hóa quân sự dân tộc. Đó là một văn kiện lí luận được đúc kết từ thực tế chiến tranh ở Việt Nam.


Thật vậy, Di chúc ra đời ngày 24 tháng 6, trước khi Trần Quốc Tuấn qua đời - ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300) - 56 ngày. Nội dung thực chất của nó là lời dặn dò vua Trần Anh Tông về kế sách giữ nước. Tuy chỉ vẻn vẹn có 212 từ Hán nhưng văn kiện đã nêu rõ được hai vấn đề lớn: một là, xác định nguồn gốc tạo nên sức mạnh; hai là, lựa chọn phương pháp sử dụng sức mạnh.


Trong chiến tranh, qui luật muôn đời là mạnh được, yếu thua. Song khái niệm sức mạnh trong chiến tranh lại có nhiều cách hiểu khác nhau. Phương Tây quan niệm đó là nhà nước, quân đội và vũ khí. Phương Đông quan niệm sức mạnh không chỉ là như vậy mà còn có cả nhân dân. Trong Binh pháp Ngô Khởi, tác giả cũng đã viết: "Ngày xưa, các bậc vua chúa mưu đồ việc nước, trước hết là do dạy dỗ trăm họ và yêu thương muôn dân". Duy có điều, nhân dân ở đây chỉ là phương tiện để các bậc vua chúa đi đến quyền lợi ích kỉ của mình chứ không phải vì mục đích đem lại độc lập, tự do cho mọi tầng lớp như trong chiến tranh yêu nước của dân tộc ta.


Xuất phát từ nền văn hóa quân sự phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, tác giả Di chúc đã xác định rõ hai yếu tố tạo nên sức mạnh của chiến tranh là khối đại đoàn kết và năng lực bất tận của nhân dân. Khối đại đoàn kết bao gồm: đoàn kết trong nhân dân (dân tâm bất li), đoàn kết trên dưới (thượng hạ đồng dục, quân thần đồng tâm), đoàn kết trong nhà, trong họ (huynh đệ hòa mục), đoàn kết trong quân đội (phụ tử chi binh). Còn năng lực bất tận của nhân dân bao gồm sự góp sức của từng gia đình đến sức mạnh của cả nước (quốc gia tính lực). Chính Trần Quốc Tuấn cũng từng nói "ý chí dân chúng là một bức tường thành" (chúng chí thành thành). Bởi vậy, "khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc. Đó là thượng sách để giữ nước". Với cương vị là người tổng kết chiến tranh yêu nước, lần đầu tiên, Trần Quốc Tuấn phát hiện ra một trong hai qui luật của lịch sử Việt Nam: độc lập của dân tộc gắn liền với dân chủ của nhân dân. Điều đó, hơn một trăm năm sau, Nguyễn Trãi đã kế thừa một cách sáng tạo dưới lá cờ nhân nghĩa trong cuộc chiến tranh giải phóng ở thế kỉ XV.


Trong vấn đề sử dụng sức mạnh, Di chúc đã giúp cho các thế hệ sau tiếp cận được sự lựa chọn những phương pháp đấu tranh vũ trang thích hợp và hiệu quả.


Về chiến tranh và lực lượng vũ trang, Di chúc khái quát: muốn chiến thắng quân xâm lược trong chiến tranh yêu nước - đặc biệt là ở thế kỉ XIII - nhất thiết phải tiến hành chiến tranh toàn dân với điều kiện toàn dân tham gia chiến tranh, toàn dân là chiến sĩ, "đại quân tiến đánh... nhân dân làm kế thanh dã". Hơn năm thế kỉ sau nhìn lại, Phan Huy Chú đã nhận xét: "Thế là đời Trần, nhân dân ai cũng là lính nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh"1 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Khoa học xã hội, H.1992, t.3, tr.9).


Như trên đã nói, cùng với quân đội chiến đấu, nhân dân còn tham gia chiến tranh qua hình thức "vườn không nhà trống (nhân dân thanh dã)". Hành động này đã khiến cho bao nhiêu chủ tướng của những đạo quân xâm lược phương Bắc phải khốn đốn vì thiếu lương thực trên chiến trường Việt Nam dù có thuộc lòng lời dạy của binh gia Tôn Tử: "Lương thực cướp từ nước địch, nhờ vậy mà binh lính đủ ăn".


Vào thời trung đại, trên phạm vi toàn thế giới, kị binh đã giữ vai trò quyết định trong trận đánh nhưng Trần Quốc Tuấn lại cho rằng trên chiến trường Việt Nam, bộ binh (chỉ đoản binh - binh chủng sử dụng vũ khí ngắn: giáo gươm, gậy gộc) vẫn là lực lượng nòng cốt của toàn dân đánh giặc và cho đó là "việc thường trong binh pháp". Cách lập luận này không phải là không có lí do. Bởi vì, ở một nước nông nghiệp như Việt Nam, tất cả mọi người dân tham gia chiến tranh, dĩ nhiên họ đều là những bộ binh - nông dân mà vũ khí được sử dụng không có gì hơn là gậy gộc và gươm giáo.


Để xây dựng một quân đội hùng mạnh, người ta thường nghĩ đến các khâu: tuyển mộ, tổ chức phiên chế, trang bị huấn luyện, đào tạo người chỉ huy... nhưng tác giả Di chúc lại chủ trương "có thu được quân lính một lòng như cha con thì mới dùng được". Đây cũng là một phát hiện mới mẻ và độc đáo từ nền văn hóa quân sự Việt Nam về xây dựng một quân đội trăm trận trăm thắng trong chiến tranh yêu nước.


Bàn về nghệ thuật quân sự, Di chúc nêu lên hai nội dung: một là, điều kiện, hoàn cảnh mà dân tộc ta phải luôn luôn đứng trước nạn ngoại xâm, hai là, sự đối phó với hai kiểu chiến lược quân sự của các đạo quân xâm lược.


Về điều kiện, hoàn cảnh, sau khi đưa ra bốn giai đoạn lịch sử mà dân tộc ta đã chiến thắng quân xâm lược phương Bắc, Di chúc kết luận: "Tóm lại, giặc cậy trường trận, ta cậy đoản binh, lấy đoản chế trường là việc thường trong binh pháp". Đoản ở đây không chỉ là đoản binh, là bộ binh để chống lại trường trận như đã nêu mà ngoài nghĩa là ngắn, còn là ít, là yếu, đặt trong mối tương quan lực lượng đối với những đạo quân xâm lược là dài, là nhiều, là mạnh... hơn hẳn ta về tiềm lực trên các mặt địa lí, dân số, kinh tế, quân lực... Đây là khái niệm đầu tiên được trình bày về tương quan lực lượng địch - ta để sau này các nhà quân sự phát triển thành "lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh"...
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM