Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:10:05 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Pháo đài Đồng Đăng  (Đọc 390002 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #310 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2023, 03:08:04 pm »

Đoàn công tác của UBND tỉnh Lạng Sơn khảo sát tại pháo đài Đồng Đăng


Sáng 1/2, Đoàn công tác của UBND tỉnh do đồng chí Dương Xuân Huyên, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh làm trưởng đoàn tiến hành khảo sát, phục vụ công tác xây dựng công trình tri ân, bia ghi danh liệt sĩ và Nhân dân tử nạn tại Pháo đài Đồng Đăng, huyện Cao Lộc. Tham gia cùng đoàn còn có đồng chí Đinh Hữu Học, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Bộ Chỉ huy Quân sự (CHQS) tỉnh, lãnh đạo một số sở, ngành, đơn vị liên quan; lãnh đạo UBND huyện Cao Lộc và thị trấn Đồng Đăng.


Đồng chí Dương Xuân Huyên, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh phát biểu kết luận cuộc khảo sát


Pháo đài Đồng Đăng được thực dân Pháp xây dựng từ những năm 1936-1940 nhằm phòng thủ biên giới phía Bắc, án ngữ các tuyến đường 1A, 1B, 4A chạy qua khu vực Đồng Đăng, huyện Cao Lộc. Trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp (chiến dịch Thu Đông 1950) và chiến tranh biên giới năm 1979, pháo đài Đồng Đăng bị phá sập gần như hoàn toàn.

Sau chiến tranh năm 1979, khu đất pháo đài Đồng Đăng được UBND tỉnh giao quyền và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Bộ CHQS tỉnh quản lý với diện tích 50.030m2 thuộc đất an ninh quốc phòng. Năm 2012, thực hiện chủ trương cắm mốc giới đất quốc phòng, Bộ CHQS tỉnh đã tổ chức cắm mốc giới được 48 mốc và đo đạc lại diện tích khu đất là 52.677,1m2.

Tại cuộc khảo sát, đại diện một số đơn vị, sở, ngành đã nêu ý kiến về giá trị di tích lịch sử của pháo đài Đồng Đăng; tầm vóc, vị thế quân sự; tiềm năng du lịch gắn với giáo dục truyền thống lịch sử; quy hoạch tổng thể và lộ trình đầu tư đối với pháo đài Đồng Đăng vừa đảm bảo giá trị lịch sử vừa gắn với phát triển du lịch…

Phát biểu kết luận cuộc khảo sát, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đề nghị: Các cấp, ngành, địa phương, các cơ quan thông tấn báo chí tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về ý nghĩa, giá trị lịch sử, di tích lịch sử cấp tỉnh của pháo đài Đồng Đăng đến các cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Cùng với đó, Bộ CHQS tỉnh, UBND huyện Cao Lộc phối hợp với Sở Tài nguyên Môi trường tăng cường công tác quản lý đất đai; thực hiện công tác quy hoạch xây dựng khu di tích gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.



Đoàn công tác của UBND tỉnh làm lễ dâng hương tại bàn thờ tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh và Nhân dân tử nạn tại cửa Bắc pháo đài Đồng Đăng


Về định hướng xây dựng công trình tưởng niệm tại pháo đài Đồng Đăng, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh giao Sở Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với các sở, ngành liên quan nghiên cứu, tham mưu về quy mô công trình, các nguồn kinh phí tổ chức thực hiện; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẩn trương hoàn thiện hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia đối với pháo đài Đồng Đăng.



Đoàn công tác của UBND tỉnh khảo sát thực tế tại cửa hầm phía Đông của pháo đài Đồng Đăng


Trong chương trình, Đoàn công tác đã làm lễ dâng hương tại đài tưởng niệm pháo đài Đồng Đăng và khảo sát thực tế tại 4 cửa: Đông, Tây, Nam, Bắc và các tuyến đường lên các cửa của pháo đài.

THANH HUYỀN
(Báo Lạng Sơn)
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #311 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2025, 08:53:03 am »

Pháo đài Đồng Đăng - kỳ 1: Cánh cửa thép Lạng Sơn


TP - Đồng Đăng - một thị trấn nhỏ nằm giáp biên giới Việt - Trung, luôn là địa đầu bảo vệ cương vực, lãnh thổ. Lịch sử đã ghi nhận, quân và dân nơi đây là lá chắn thép, sẵn sàng chiến đấu, giữ nước, giữ làng.

Trận đầu đánh thắng

Đầu tháng 7/1978, Trung đoàn 12 (Tây Sơn), Sư đoàn 3 có mặt tập kết quanh thị trấn Đồng Đăng (huyện Cao Lộc, Lạng Sơn), đảm nhiệm phòng ngự, bảo vệ thị xã Lạng Sơn.



Bốn tân binh đứng hàng trên cùng bức ảnh thì hai anh Trần Đăng Thảo, Nguyễn Quốc Công (bìa phải) đã hy sinh tại Lạng Sơn ngày 17/2/1979. Ảnh tư liệu.


Đại tá Đặng Tố Kim, nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu 1 chia sẻ: Ngày đó, tôi là cán bộ tác chiến Trung đoàn 12 có mặt tại tuyến đầu biên giới từ rất sớm. Ngày 17/2/1979 như thường lệ, hàng ngày cứ vào buổi sáng sớm, khi con chim rừng chưa thức, tiếng kẻng báo thức của đơn vị chưa dứt thì bỗng nhiên từng loạt pháo của quân Trung Quốc từ bên kia biên giới trút xuống Đồng Đăng ầm ầm, làm rung chuyển đất trời. Trong lúc đạn nổ sáng chớp cả vùng biên giới thì từ Sở chỉ huy Trung đoàn vang dồn tiếng kẻng báo động. Lập tức, chiếc xe ô tô của Trung đoàn chạy lên mạn biên giới, ngược chiều với đoàn người dân đang gồng gánh sơ tán với nhiều cụ già, trẻ nhỏ xuôi về mạn Khánh Khê, thị xã Lạng Sơn. Đạn pháo nổ hai bên đường, mảnh văng tứ tung. Trung đoàn trưởng Nguyễn Xuân Khánh nhắc nhở lái xe bình tĩnh, chắc tay lái và đi cẩn thận để đảm bảo an toàn cho nhân dân…

Sau khoảng một giờ nã pháo tập trung vào các điểm tựa tiền duyên và trung tâm thị trấn Đồng Đăng, khu vực Bản Thẩu, Tân Thanh… quân xâm lược chuyển làn hỏa lực chi viện cho bộ binh, xe tăng ồ ạt tấn công sang đất ta. Mọi tình huống đúng như dự báo của Trung đoàn trưởng Nguyễn Xuân Khánh, địch ào ào xông lên hòng đánh chiếm pháo đài Đồng Đăng và các điểm cao xung quanh thị trấn với ý đồ tham vọng chỉ trong vòng 48 tiếng đồng hồ, chúng sẽ chiếm gọn thị xã Lạng Sơn…Khi quân địch vừa vượt qua biên giới ngay lập tức bị hỏa lực của ta dội bão lửa vào đội hình bộ binh, xe tăng của chúng. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các lực lượng Công an vũ trang đồn Hữu Nghị, đồi Pò Cốc Pung, điểm cao 371, Nà Pàn cùng với dân quân xã Bảo Lâm và lực lượng Trung đoàn 12 kiên cường đẩy lui hơn 10 đợt tấn công của quân xâm lược.


Tướng lĩnh, sỹ quan- cựu chiến binh Sư đoàn 3 về xứ Lạng tưởng nhớ các anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống bảo vệ Tổ quốc năm 1979. ảnh: Duy Chiến


Theo Đại tá Kim, sau khi địch tấn công vào Lạng Sơn, các lực lượng vũ trang của ta đã nhanh chóng bố trí quân số để củng cố và sẵn sàng nghênh địch tại pháo đài Đồng Đăng. Thấy rõ vị trí tầm quan trọng của pháo đài, không chỉ khống chế toàn bộ khu vực rộng lớn mà còn là nơi bảo tồn lực lượng chiến đấu tốt nhất nên quân Trung Quốc tập trung tổng lực gồm nhiều xe tăng, xe kéo pháo, xe chở bộ binh ùn ùn tiến đến điểm cao trọng yếu này như muốn nuốt chửng pháo đài…

Bốn người mất hai

Trong không khí thiêng liêng của đất trời vừa sang xuân Ất Tỵ 2025, chúng tôi hành hương về pháo đài Đồng Đăng. Trong dòng người về đây thắp tâm nhang, tưởng nhớ những chiến sỹ hy sinh, đồng bào tử nạn để bảo vệ pháo đài, tôi gặp đoàn cựu chiến binh Trung đoàn 12, Sư đoàn 3 đến tưởng nhớ, tri ân đồng đội. Ông Nguyễn Ngọc Sơn (SN 1960), trú tại phố Ngô Thì Nhậm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội nắm chặt tay ông Nguyễn Thế Linh (SN 1960, cùng quê) tiến đến pháo đài, rưng rưng lệ.



Các cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Thế Linh (Hà Nội) trở lại pháo đài Đồng Đăng thăm thắp nhang cho đồng đội. Ảnh: Duy Chiến.


Ông Nguyễn Ngọc Sơn đưa cho tôi xem bức ảnh đen trắng chụp những người lính mặc quân phục nom còn mới. Những gương mặt trẻ trung, nhiệt huyết. Ông Sơn chỉ cho thấy 4 người ở trên cùng của bức ảnh rồi nói nhỏ: “Đây là bức hình chụp đồng đội của tôi trước sự kiện cuộc chiến tháng 2 năm 1979. Trong này, có 4 người chụp đứng hàng trên cùng gồm: Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Thế Linh đứng bên trái ảnh còn sống, còn hai anh Nguyễn Quốc Công và Trần Đăng Thảo (đều sinh năm 1960), đứng bên phải đã hy sinh trong ngày 17/2/1979”.

Ông Sơn kể lại câu chuyện bi hùng của nhóm bạn cùng quê ở Hà Nội và chung học một lớp 9J, Trường cấp 3 Thăng Long, Hà Nội và cùng nhập nhập ngũ ngày 15/5/1978. Sau khi huấn luyện quân sự tại Lục Ngạn, Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang), tháng 7/1978 cả 4 người bạn cùng tân binh hành quân lên xứ Lạng. Đến nơi, mỗi người được biên chế vào các đơn vị khác nhau thuộc Sư đoàn 3 Anh hùng. Anh Sơn làm lính thông tin Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 12; anh Linh và anh Thảo là lính trinh sát Trung đoàn 68 và Trung đoàn 12, còn anh Công vào đơn vị bộ binh Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 12.

“Từ 5 giờ sáng 17/2/1979, nghe tiếng pháo nổ vang rền ở biên giới, Tiểu đội 4 thông tin chúng tôi lập tức chia làm 2 tổ đi tới các Đại đội tiền phương phục vụ chiến đấu. Ngoài công tác chuyên môn, chúng tôi còn đảm trách việc sơ cứu, di chuyển thương binh, tử sĩ về tuyến sau. Khi pháo đài Đồng Đăng đang diễn ra các trận đánh ác liệt, chúng tôi được lệnh, hằng trưa, tối bí mật mang cơm nắm, lương khô từ ngã tư Hồng Phong lên tiếp tế và cõng thương binh xuống đồi cấp cứu. Bộ đội của ta thương vong khá nhiều. Riêng Tiểu đoàn của tôi đã có khoảng 200 người hy sinh, 150 chiến sỹ bị thương…”, ông Sơn nghèn nghẹn kể lại.

Theo lời của ông Sơn, ngay sáng 17/2/1979, anh Trần Đăng Thảo cùng đồng đội dũng cảm chiến đấu và đã hy sinh tại mặt trận bảo vệ thị trấn Đồng Đăng dưới chân núi Con Voi đầu phố. Anh Nguyễn Quốc Công ngã xuống ở trận địa phía nam cống ba cửa Tân Thanh.

…Những người lính tuổi 18, đôi mươi ngày xưa nay tóc đã bạc, lưng đã còng nhưng khi trở lại với chiến trường xưa thì nhanh nhẹn lạ thường. Tôi nhác thấy những đôi mắt các cựu chiến binh nặng trĩu những nỗi niềm, thương nhớ anh em đồng chí, đồng đội đã nằm xuống nơi cửa thép xứ Lạng. Tôi loáng thoáng nghe tiếng mõ tụng kinh và những bài ca hào sảng của những người giữ đất biên cương: “Theo những cánh hoa lê ngát trắng rừng/ Theo đường hương thơm rừng hồi biên giới/ Em đã gặp những chốt cao vời vợi/ Gặp sư đoàn cánh cửa thép Lạng Sơn” (trích thơ Tuấn Long).

Nguyễn Duy Chiến
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #312 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2025, 08:59:30 am »

Nhân sự kiện pháo đài đồng đăng được công nhận di tích lịch sử quốc gia - Kỳ 2: Khúc tráng ca


TP - Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc diễn ra khốc liệt tại 6 tỉnh biên giới phía Bắc vào rạng sáng ngày 17/2/1979. Cam go, ác liệt nhất là trận chiến ở pháo đài Đồng Đăng (huyện Cao Lộc, Lạng Sơn)

Những chiến tích, nhân chứng còn lại của cuộc chiến đã chứng minh quân dân ta bước vào cuộc chiến đấu mới với tinh thần anh dũng, kiên cường, quyết bào vệ từng tấc đất của Tổ quốc ở biên giới phía Bắc.

5 ngày tử thủ

Trong cơn mưa xuân giăng mắc, nhiều đoàn người trong đó có những thân nhân người đã hy sinh, tử nạn ở pháo đài và nhiều cựu chiến binh- những người đã chiến đấu nơi đây đã đến thắp tâm nhang cho đồng đội đã yên nghỉ.

Chúng tôi ngước nhìn lên tầng cao pháo đài. Điểm cao này nằm cạnh ga quốc tế Đồng Đăng và quốc lộ 4A dẫn vào thị trấn miền biên viễn. Đây là điểm cao trọng yếu, có thể bao quát thị trấn và cả một vùng xung quanh. Muốn tiến vào chiếm thị xã Lạng Sơn, quân bành trướng Trung Quốc buộc phải tiêu diệt được pháo đài này.



Chiến sỹ Lạng Sơn kiên cường bám trụ, đánh địch (ảnh tư liệu chụp tháng 2 năm 1979)


Trò chuyện với chúng tôi, Đại tá Nông Văn Phjeo (SN 1957), dân tộc Nùng, nguyên Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Lạng Sơn cho biết, mỗi độ xuân về, trong ký ức nhớ rõ tất cả các trận đánh, lúc nào cũng nghĩ về những người đồng đội của mình. Những gương mặt trẻ trung, thân thuộc hiện lên rõ nét…

Rạng sáng 17/2/1979, quân xâm lược bắn pháo từ bên kia biên giới vào Việt Nam. Pháo đài Đồng Đăng là một trong những điểm đầu tiên định đánh đòn phủ đầu với đạn pháo, xe tăng, lính tráng ào ạt xông vào trận địa của ta. Ông Nông Văn Phjeo nhớ và kể lại: “Ngày đó, tôi công tác tại Đại đội 1, Tiểu đoàn Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Cao Lạng đóng quân tại thị trấn Đồng Đăng. Khoảng hơn 4 giờ sáng 17/2/1979, khi hàng loạt đạn pháo từ bên kia biên giới bắn sang dồn dập, chỉ huy đơn vị lập tức hô hào báo động, lệnh cho anh em vào vị trí chiến đấu. Không kịp rửa mặt đánh răng, anh em cầm súng chạy lên pháo đài, vào các vị trí sẵn sàng chiến đấu. Cuộc chiến hôm ấy vô cùng khốc liệt khi tương quan lực lượng chênh lệch. Anh em chiến sĩ của ta còn rất trẻ, hầu hết là hạ sĩ, binh nhất, binh nhì, vũ khí thì chỉ có những khẩu súng thô sơ còn phía quân xâm lược có pháo hạng nặng, xe tăng yểm trợ hùng hổ dàn quân tiến lên pháo đài”.




Đại tá Nông Văn Phjeo thăm lại pháo đài Đồng Đăng


Theo ông Phjeo, đội hình chiến đấu của ta bao gồm Đại đội 5 Công an nhân dân vũ trang Lạng Sơn và Đại đội bộ binh của Sư đoàn 3 (Quân khu 5) phối hợp triển khai ra ngoài chiến hào để chiến đấu. Đại đội bộ binh phụ trách phía Bắc và phía Đông pháo đài, còn Đại đội 5 phụ trách phía Nam và phía Tây pháo đài. Ngày đó, một số chỉ huy và anh em đi họp, công tác để triển khai nhiệm vụ, diễn biến mới ở biên giới, cả đơn vị trực chiến chỉ còn lại khoảng hơn 50 người.

Khoảng 6 giờ 30, quân xâm lược vây kín dưới chân pháo đài dùng hỏa lực từ pháo, xe tăng bắn từ dưới chân pháo đài lên. Phía biên giới, pháo binh tiếp tục nhắm vào trận địa. Quân địch đông như kiến cỏ, chúng từ bờ ruộng tràn lên, quân ta ở trên đỉnh cao bắn xuống tiêu diệt hết lớp này lại đến lớp khác. Trong đợt tấn công thứ hai, Đại đội trưởng Đại đội 5, Trần Hà Bắc - người chỉ huy pháo đài đã anh dũng hy sinh, sau đó Trung úy Hoàng Quốc Hội lên thay chỉ huy chiến đấu ngoan cường nhưng cũng hy sinh sau trận chiến. Nhiều chiến sĩ ở phía Tây và phía Nam pháo đài cũng đã ngã xuống bởi đạn pháo của địch...

“Đến 9 giờ sáng, quân Xâm lược lại xông lên lần thứ ba. Đến trưa, bộ đội ta ở bốn hướng của pháo đài vẫn kiên cường đánh chặn, địch không lên được, phải dạt xuống bờ suối. Tôi là xạ thủ khẩu đội đại liên 12 li 7 nhiều lúc bắn đạn đỏ cả nòng mà quân địch vẫn đông trước mặt. Ở phía tây, quân Xâm lược dùng 7 xe tăng tiến về chân pháo đài. Binh nhất Lê Minh Trường, xạ thủ B40, vượt ra khỏi chiến hào, nằm dưới lùm cây bắn cháy chiếc xe tăng đi đầu. Anh bắn tiếp quả đạn thứ hai thì trúng xích một xe tăng địch khiến nó lật ngửa. Năm chiếc xe tăng đi sau lùi lại. Quân địch cho bộ binh tràn lên. Khi anh Trường quay lại chiến hào để lấy quả đạn thứ ba bắn tiếp thì bị trúng đạn, hy sinh ngay tại chiến hào… Tối 18/2, lực lượng trinh sát của Sư đoàn 3 Sao Vàng mở đường máu đưa thương binh, những người ốm yếu và một số người dân Đồng Đăng về tuyến sau. Những người còn khỏe vẫn ở lại tiếp tục chiến đấu…Cuộc chiến tiếp tục diễn ra khốc liệt những ngày sau đó, địch không thể chiếm được pháo đài trong ngày đầu như dự kiến và tổn thất lực lượng, vũ khí rất nhiều. Sau hai ngày, sáng 19/2, quân Xâm lược lại tràn lên tấn công trong khi đó phía ta vũ khí ít ỏi, quân số còn lại không nhiều. Chiều ngày 21/2, pháo đài bị trúng pháo tan nát, tôi bị sức ép của đạn pháo, ngất đi. Khi tỉnh dậy đã thấy nhiều đồng đội quanh mình hy sinh nằm xung quanh”, ông Phjeo xúc động kể.




Nghe nhân chứng lịch sử cuộc chiến 1979 kể chuyện giữ pháo đài Ảnh: Duy Chiến


Thoát nạn thần kỳ

Bước sang ngày thứ 5, bên trong pháo đài im lặng đến ghê người. Bị đánh tơi bời nên quân Xâm lược không dám tiến sâu vào bên trong pháo đài mà dàn quân chặn hết đường ra, bắc loa gọi đầu hàng bằng tiếng Việt và tiếng Trung Quốc. Không ai chịu ra, chúng ném lựu đạn cay xuống hầm. Gió thổi hơi cay vào khiến mọi người ho sặc sụa nhưng anh em quyết tâm không đầu hàng, sẵn sàng hy sinh.

Không thể khuất phục được những người lính Việt Nam, đêm 21/2, quân địch dùng bộc phá đánh sập pháo đài. Nhiều thương binh và hàng trăm người dân trú ẩn dưới hầm đã thiệt mạng.

“Trong khi đói, khát và cái lạnh từ hang phả ra, khoảng chục người còn sống sót trong pháo đài nắm chặt tay nhau, bàn cách vượt ra ngoài. Những người có sức khỏe thì bới đất tìm ánh sáng. Tất cả đều bằng sức lực cuối cùng để cào, bới đất đến bật móng tay. Tôi dán lưng nằm nghiêng sườn giữ cho tim khỏi lạnh cứng, ngừng đập, tay chân rời rã như muốn lìa khỏi thân. Khi đó, một số anh em thương binh không trụ được đã trút hơi thở cuối cùng. Trước khi mất, họ ngước nhìn về phía xa xa như chỉ đường sống cho người ở lại. Lúc này, 8 anh em lính tráng còn sức lực thay phiên nhau đào, cào bới đất… Rạng sáng ngày thứ 6 (ngày 23/2/1979), mọi người đào trúng một cục đá lớn cùng một rễ cây. Thế là mọi người reo lên khe khẽ, ôm nhau khóc...”, ông Nông Văn Phjeo thuật lại.

Theo trí nhớ của ông Nông Văn Phjeo, từ lối thoát hiếm hoi này, người trước kéo người sau, tổng số 6 người thoát khỏi pháo đài và chạy tản ra các hướng đề phòng địch phục kích. May mắn sau đó, mọi người đều gặp được quân đội ta đang tăng cường lên chiến đấu ở biên giới.


Xứ Lạng, tháng 2 năm 2025

Nguyễn Duy Chiến
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #313 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2025, 09:05:18 am »

Nhân sự kiện pháo đài Đồng Đăng được công nhận di tích lịch sử quốc gia - Kỳ 3: Chứng tích bi hùng


TP - Đối với cư dân sống ở thị trấn miền biên viễn Đồng Đăng, những ngày tháng đối đầu với quân xâm lược tháng 2/1979 giống như những thước phim quay chậm bi thương mà hào hùng. Họ đã sống, chiến đấu cùng bộ đội hiên ngang như thành đồng lũy thép ngay tuyến đầu Tổ quốc.

Sống, chết bên nhau


Ông Đào Đức Cường (SN 1954) sinh sống ở dốc Tịnh Tạm thuộc khu Dây Thép, thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, Lạng Sơn. Ở gần khu pháo đài Đồng Đăng nên cứ dịp lễ Tết hoặc ra dịp tháng 2 hàng năm, ông Cường đều leo đồi lên tận chân pháo đài thắp tâm nhang cho người thân của ông đã tử nạn trong hầm sâu lũy thép.




Người dân Lạng Sơn biểu thị sự quyết tâm giữ đất biên cương. (Ảnh tư liệu chụp tháng 2 năm 1979)


Theo ông Cường, vào đầu tháng 2/1979, ông tham gia quân ngũ, đeo lon Thượng sỹ đóng quân ở Huế. Nghe thông tin chiến sự biên giới phía Bắc nổ ra, quê hương bị tàn phá, Cường xin phép và được đơn vị cho tranh thủ về nhà. Chuyến trở về của ông như dài bất tận, lòng như lửa đốt bởi linh tính mách bảo gia đình đang gặp nạn.

Rạng sáng 17/2/1979, phía Trung Quốc khai chiến, nã pháo vào thị trấn Đồng Đăng, đồng bào các dân tộc địa phương tán loạn bìu díu nhau chạy về phía ga Đồng Đăng sơ tán về xuôi. Không ngờ, bọn địch đã cài cắm lực lượng vào thị trấn từ trước, khi chiến sự nổ ra, ga tàu nhanh chóng bị địch chiếm... Hàng trăm người dân, trong đó có 7 người trong gia đình ông Cường (gồm 2 nam, 5 nữ) cùng một cháu ngoại lúc đó có mấy tháng tuổi ngược lên pháo đài lánh nạn.

Lũy thép trên đồi cao trở thành chiến trường ác liệt. Nằm cách biên giới Việt- Trung gần hai cây số, pháo đài Đồng Đăng có ba tầng, được xây dựng từ thời Pháp rất kiên cố. Quân Trung Quốc sử dụng rất nhiều xe tăng và các loại phương tiện khác tấn công, theo sau là hàng vạn bộ binh…Khi này, ở bốn hướng chiến hào quân ta có khoảng 300 người chỉ có súng AK, CKC, đại liên, B40...




Ông Đào Đức Cương nghẹn lời kể chuyện tìm anh em ở pháo đài Đồng Đăng. Ảnh: Duy Chiến


Theo “nhật ký chiến trường” của ông Nguyễn Duy Thực, cựu chiến binh Đại đội 42, Trung đoàn 4, Sư đoàn 3 đóng quân ở pháo đài Đồng Đăng thì phía Trung Quốc dùng chiến thuật “biển người” đánh chiếm bằng được lũy thép này. Lực lượng của ta tuy mỏng nhưng dũng mãnh, kiên cường, dùng các loại súng để đẩy lui các đợt tấn công của địch.

Nòng súng đỏ ran từ bốn phía chiến hào pháo đài nhả đạn về phía quân thù. Lớp này ngã xuống, toán địch khác lại nhào lên hung hãn. Pháo địch, súng cối trút xuống trận địa ta ngày càng đan dày. Nhiều anh em đã ngã xuống. Những người lính bị thương vẫn không rời trận địa. Một số thanh niên, người dân sơ tán có sức khỏe cùng chung chiến hào, tiếp đạn dược, sơ cứu thương binh.

Giữa lúc chiến sự ác liệt, tối 18/2, lực lượng trinh sát của Sư đoàn 3 Sao Vàng mở đường máu để đưa thương binh, người dân già yếu, em nhỏ đi về tuyến sau, song nhiều người vẫn tình nguyện ở lại, sống chết cùng nhau, trụ lại tiền phương.

Cuộc chiến trong hầm tối




Lũy thép pháo đài Đồng Đăng. Ảnh: D.T


Đại tá Nông Văn Phjeo, nguyên Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Lạng Sơn vẫn còn khắc ghi những giây phút sinh tử bên trong pháo đài Đồng Đăng: Trong pháo đài lúc này ngoài đơn vị chúng tôi còn có rất nhiều đồng bào. Hầu hết là đàn bà, trẻ em từ dưới thị trấn Đồng Đăng chạy lên tránh đạn pháo từ sớm ngày 17/2. Vì đông người nên thức ăn, nước uống dự trữ sắp hết, chỉ còn dăm cân mì sống và mấy lít nước cạn dưới đáy phuy. Trong pháo đài tối om và ngột ngạt vì hơi người, trẻ con khóc lặng đi vì khát nước, khát sữa. Mệt mỏi, đói khát, nhiều người dựa lưng vào góc tường mà đầu choáng, người ớn lạnh…

Lương thực và đạn dược trong pháo đài bắt đầu cạn dần. Nguy cấp nhất là không có quân chi viện vì quân địch đã bao vây tứ phía. Quân xâm lược chiếm được phần nóc pháo đài và cho người đến cửa hầm bắc loa gọi hàng, đáp lại chúng chỉ là những loạt AK từ bên trong bắn ra.

“Những ngày tiếp theo, số lượng người thương vong ngày càng tăng. Pháo đài tối om và ngột ngạt bởi mùi tử khí, máu me, tiếng trẻ con khóc không thành tiếng vì khát nước, khát sữa...Mất 5 ngày đêm vẫn chưa chiếm được pháo đài khiến quân thù cay cú, điên cuồng.

Ngày 22/2/1979, chúng đặt bộc phá giật sập cửa hầm, dùng lựu đạn cay thả xuống các lỗ thông hơi, sau đó đổ xăng xuống hầm rồi phóng hỏa. Pháo đài rung chuyển cùng hàng chục, hàng trăm tiếng nổ chói tai rung óc. Hơi khói cay xè, đen đặc cuồn cuộn ùa vào từng căn phòng trong pháo đài. Tiếng trẻ con sặc sụa rồi lặng đi. Mấy đồng chí thương binh kêu nấc lên hai, ba tiếng rồi lịm. Tôi bò sờ soạng lần về lỗ thông hơi để thở nhưng từ ngoài địch nhét lựu đạn cay vào.

Qua ánh lửa, tôi thấy đồng bào mình ôm nhau nằm la liệt, mắt nhìn về phía xa như mong ước điều gì… Tôi cảm thấy một thứ khói khủng khiếp xộc vào họng cháy bỏng và lửa cháy bừng bừng. Địch phun hơi độc hóa học và phun xăng vào pháo đài, tôi hoa mắt rồi lịm đi.

Tỉnh dậy, tiếng nổ vẫn ầm ầm, máu ứa ra từ miệng, tai đặc quánh. Tôi bật dậy, kêu lên “Còn đồng chí nào sống không?”. May mắn có tiếng trả lời, tất thảy có 6 người lính bò tới nắm tay nhau, thề bám trụ, tìm cách thoát thân. Ai cũng gắng gượng dồn hết sức lực cào bới đất đá, tìm đường ra khỏi pháo đài, mất nhiều tiếng đồng hồ chúng tôi mới nhìn thấy ánh sáng. Lợi dụng đêm tối, chúng tôi chui ra khỏi hang và rút đi”, cựu chiến binh Nông Văn Phjeo xúc động kể lại.

Hoa đưa hương nơi chiến lũy

Trò chuyện với phóng viên Tiền Phong, ông Đào Đức Cường không kìm được nước mắt tâm sự: Hành trình tìm cha mẹ và các em của ông bị gián đoạn tới tận ngày 5/3/1979 khi Trung Quốc rút quân. Vào được thị trấn Đồng Đăng, ông theo chỉ dẫn của những nhân chứng sống sót mà chạy một mạch lên pháo đài. Xác người được chôn dọc theo con dốc.

Trên đỉnh pháo đài, những lô cốt đổ nghiêng, vỡ toác vì bộc phá. Lối xuống các tầng hầm bị đất đá lấp kín, không có cách nào tiếp cận được bên trong. Cả 7 anh chị em cùng cháu ruột của ông Cường đã mãi mãi nằm lại trong pháo đài, cùng hàng trăm dân thường và bộ đội Việt Nam.

Tôi cũng thường gặp bà Lê Thị Nga (SN 1963) nhà ở trung tâm thị trấn Đồng Đăng cùng nhóm thiện tâm địa phương có mặt tại pháo đài mang hoa quả, đèn nhang cúng tiến chiến sỹ và đồng bào tử nạn. Bà Nga cho biết, sâu trong pháo đài cũng có linh hồn của cha và anh trai của mình. Áp Tết này, nhóm thiện tâm trồng những nhóm hoa tươi xung quanh chân pháo đài. Xuân sang, hoa đưa hương thơm ngát…

Ông Đào Đức Cường cho hay, sau biến cố tháng 2/1979, ông chuyển ngành sang làm nhân viên đường sắt. Ông chăm sóc bố mẹ già và xây dựng cuộc sống mới. Ông nhiệt tình tham gia các công tác ở địa phương, là thành viên văn nghệ của Hội cựu chiến binh, Hội người cao tuổi...

Nguyễn Duy Chiến
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #314 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2025, 09:12:23 am »

Pháo đài Đồng Đăng được công nhận Di tích Lịch sử Quốc gia - Kỳ 4: Ba ngày đêm máu lửa


TP - Cùng với mục tiêu đánh chiếm pháo đài Đồng Đăng, quân địch dồn lực lượng để bao vây, đánh chiếm cứ điểm hang Đền Mẫu án ngữ con đường dẫn đến thị trấn Đồng Đăng. Tại đây, quân và dân địa phương đã kiên cường bám trụ 3 ngày đêm chống lại quân xâm lược.

Mệnh lệnh thiêng liêng


Nhà ông Nguyễn Văn Bình (SN 1954) ở cạnh Đền Mẫu, khu Lò Rèn, thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, Lạng Sơn, cách biên giới Việt- Trung chưa đầy 1 km. Rạng sáng 17/2/1979, khi người dân đang ngon giấc thì bất chợt đạn pháo từ bên kia biên giới dội ầm ầm xuống thị trấn, khói mù mịt khiến các gia đình náo loạn. Vốn là lính trinh sát đóng quân tại tỉnh Cao Bằng đang lúc về nhà nghỉ phép, ông Bình nhanh chóng hô hoán gia đình và làng xóm chạy lên hang Đồng Đăng để tránh đạn. Khi đó vì hoảng hốt nên mọi người đều không kịp mang theo thứ gì. Lên đến hang thì gặp Đại đội Cảnh sát cơ động thuộc Ty Công an tỉnh Lạng Sơn cũng đang đưa từng tốp người dân địa phương di chuyển lên để tránh đạn pháo của địch. Sau khi xem giấy tờ quân nhân và biết là ông Bình là người địa phương nên được Đại đội chấp nhận bổ sung vào lực lượng chiến đấu và bảo vệ dân.




Đại đội Cảnh sát cơ động Công an Lạng Sơn thời kỳ chiến sự biên giới 1979. Ảnh: tư liệu


Hang đá Đền Mẫu Đồng Đăng nằm lưng chừng núi khá rộng lại có nhiều lùm cây che khuất. Trong hang có khoảng 400 đồng bào đang co cụm ở phía góc trong. Anh em bộ đội, công an, dân quân tự vệ địa phương có khoảng 120 người họp bàn tác chiến, chia từng tổ, đội để canh gác và ngăn chặn địch tràn lên chiếm hang. Sáng 17/2 pháo cối của quân Trung Quốc bắn vào hang dữ dội khiến nhiều chiến sỹ hy sinh và bị thương. Khi ấy, có đồng đội hy sinh ở cửa hang lập tức có người khác cầm súng thay thế. Chiến sỹ Phùng Văn Hiền, Tiểu đoàn Cảnh sát cơ động bị những mảnh pháo găm đầy cơ thể suốt từ chân lên đến đỉnh đầu nhưng vẫn không rời vị trí kháng địch…

“Liên tục trong ngày 17 và 18/2/1979, anh em phối hợp chia sẻ đạn dược cho nhau và luồn lách ở những vị trí để bắn tỉa. Mọi người bảo nhau cần phải tiết kiệm đạn, bắn đâu trúng đấy đề phòng cuộc chiến kéo dài. Khi đấy, anh em chủ yếu có súng AK, CKC, súng ngắn… Ban ngày, tôi cùng các chiến sĩ thay nhau canh gác cửa hang để đảm bảo quân Trung Quốc không xâm phạm tới tính mạng người dân. Nói là canh gác nhưng người phải nằm, phải bò từng gang để cảnh giới quân địch. Do số lượng người trong hang đông trên 600 người nên lương thực, nước uống cạn kiệt, cái đói, cái khát bủa vây làm nhiều người lả đi… Thế là anh em bàn nhau cử từng toán xuống khu vực thị trấn tìm thức ăn. Cũng may, điểm yếu của quân Trung Quốc là ban ngày hùng hổ nhưng đêm xuống thì co cụm vào nhau ở mỏm đồi cao thi thoảng bắn vài viên chỉ thiên dọa nạt. Chúng tôi theo sườn hang xuống nhà dân lấy được cái gì cũng tốt như củ lạc sống, su hào, cơm nguội…gom tất cả mang về hang cho anh em và người dân cầm cự…”, ông Bình chia sẻ.

Đường máu cứu dân




Đền Mẫu Đồng Đăng trở thành điểm di tích lịch sử tâm linh nổi tiếng ở xứ Lạng. Ảnh: DC


Thời gian cố thủ tại hang Đền Mẫu thật gian nan, không ánh sáng, thiếu thức ăn, nước uống, nhất là người già, trẻ em lay lắt và sức lực anh em chiến sỹ suy kiệt nên lực lượng công an, bộ đội bàn tính phương án đưa đồng bào thoát ra ngoài càng sớm, càng tốt. Vào khoảng 22 giờ đêm 18/2 đã đưa được khoảng 20 người, phần lớn là người cao tuổi rời hang. Đến 20 giờ đêm 19/2 thì mọi người được lệnh rút lui toàn bộ.

Binh nhì Triệu Quang Điện (SN 1959, dân tộc Nùng), khi đó là chiến sỹ Đại đội Cảnh sát cơ động là người địa phương thông thạo địa hình lại dũng cảm hoạt bát nên được giao tiên phong cùng ông Nguyễn Văn Bình dẫn đường. Lúc này, quân địch đã chiếm được thị trấn Đồng Đăng và một số địa bàn xung quanh, rất dễ va chạm với địch nên mọi người lặng lẽ theo hàng lối trật tự rời khỏi hang, men theo dòng suối để ra quốc lộ 4B tới huyện Văn Quan theo tinh thần xử lý tình huống “Nếu trên đường đi bị địch đánh thì phải chia nhỏ từng tốp để mở đường máu đưa bằng được dân ra khỏi vòng vây”.




Đại tá Triệu Quang Điện (bìa trái) cùng đồng đội ôn lại sự kiện bảo vệ dân ở hang Đền Mẫu Đồng Đăng. Ảnh: Duy Chiến


Trò chuyện với phóng viên, ông Triệu Quang Điện, Đại tá, nguyên Trưởng Phòng Cảnh sát truy nã tội phạm Công an tỉnh Lạng Sơn nhớ lại và kể: Ngày đó, quân địch rất đông, hỏa lực mạnh, án ngữ nhiều nơi và đoàn người không tránh khỏi bị phục kích. Những chiến sỹ khỏe lấy hết sức để cõng những người bị thương ra khỏi vòng vây, một số đồng đội hy sinh ngay trước mặt. Nén lại nỗi đau, ông Bình, ông Điện cùng các chiến sĩ tiếp tục chiến đấu để đưa người dân về vùng an toàn. Đến sáng ngày 21/2, đoàn người mới đến được huyện Văn Quan…

Trong hành trình đưa dân từ hang Đền Mẫu về hậu cứ đã có 13 chiến sĩ Cảnh sát cơ động hy sinh cùng hàng chục người bị thương…

Viết tiếp chiến công

Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc kết thúc, Triệu Quang Điện được đề nghị thăng quân hàm vượt cấp từ Binh nhì lên Trung sỹ, giữ chức vụ Tiểu đội trưởng. Đến năm 1980, anh được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân khi vừa tròn 21 tuổi và đồng đội, nhân dân xứ Lạng trìu mến gọi bằng danh xưng “Anh hùng tuổi 20”.

Cuối năm 1988, Triệu Quang Điện công tác tại Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn. Đây cũng là thời điểm mà tất cả hàng hoá tập trung về tuyến biên giới, nạn cướp bóc hoành hành, Điện tiên phong đi đầu trong cuộc chiến xóa những băng cướp vùng biên có trang bị súng, lựu đạn. Suốt từ năm 1988 đến năm 1995, khi làm Đội trưởng Đội Trọng án rồi Phó trưởng Phòng Cảnh sát hình sự thì tên tuổi Triệu Quang Điện là khắc tinh của nhiều đối tượng hình sự khét tiếng. Đến 2002, Đại tá Điện được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Lạng Sơn rồi Trưởng phòng Cảnh sát truy nã tội phạm và nghỉ hưu năm 2017.

Còn ông Nguyễn Văn Bình, sau chiến sự 1979 trở lại quê hương xây dựng cuộc sống mới. Gia đình có tiệm ăn nhỏ cạnh Đền Mẫu Đồng Đăng. Mỗi dịp xuân về, ngoài du khách muôn phương thưởng thức những món ăn đặc sản địa phương thì có những cựu chiến binh, người ham tìm hiểu lịch sử tìm đến nghe ông kể chuyện chiến đấu, nhất là những tháng ngày bảo vệ 400 thường dân ở hang đá linh thiêng nơi biên cương xứ Lạng.

Đồng Đăng, rằm tháng Giêng Ất Tỵ 2025

Nguyễn Duy Chiến
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #315 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2025, 09:18:58 am »

Pháo đài Đồng Đăng - kỳ 5: Sức sống thị trấn miền biên viễn


TP - Tự hào là mảnh đất “phên dậu” của đất nước, nơi có các di tích lịch sử oai hùng như: Pháo đài Đồng Đăng, cửa khẩu Hữu Nghị cùng các danh lam thắng cảnh nổi tiếng, thị trấn Đồng Đăng (huyện Cao Lộc, Lạng Sơn) trỗi mình sau cuộc chiến biên giới 1979, trở thành điểm đến của du khách muôn phương.

Di tích cấp quốc gia


Dịp xuân mới Ất Tỵ 2025, UBND huyện Cao Lộc tổ chức khai mạc Lễ hội xuân và đón nhận Bằng xếp hạng di tích Quốc gia “Di tích lịch sử pháo đài Đồng Đăng”. Ông Sái Vĩnh Chung, Chủ tịch UBND thị trấn Đồng Đăng chia sẻ: Pháo đài Đồng Đăng do Thực dân Pháp xây dựng từ năm 1940, với kiến trúc 3 tầng, chiều rộng 60m, chiều dài 100m, bên trong được thiết kế phức tạp. Tầng cao nhất được làm nơi quan sát, tầng thứ hai có đủ các phòng và lỗ châu mai để chiến đấu, tầng thứ 3 là nơi chứa quân trang, đạn dược, lương thực, phòng họp...

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, pháo đài là cứ địa quan trọng, trở thành lô cốt “bất khả xâm phạm”, một căn cứ quân sự vững chắc trong tuyến phòng thủ quân sự hành lang biên giới phía Bắc. Chính vì vậy, sau thất bại chiến dịch Đông Khê (Cao Bằng), Thất Khê (Lạng Sơn), quân Pháp đã kịp dùng thuốc nổ để phá hoại pháo đài nhằm không cho quân ta chiếm giữ một điểm quân sự quan trọng. Tuy nhiên, do được thiết kế kiên cố bằng bê-tông cốt thép nên pháo đài chỉ bị hư hỏng nhẹ.

Đặc biệt, trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979, pháo đài Đồng Đăng đã thành khúc tráng ca, tượng trưng cho tinh thần bất khuất, anh hùng của quân dân xứ Lạng trong cuộc chiến chống quân xâm lược vào sáng 17/2/1979. Tại đây, quân dân các dân tộc Lạng Sơn đã anh dũng chiến đấu và hy sinh để giữ trận địa trọng yếu này. Không thể chiếm được Pháo đài, kẻ địch đã dùng khoảng 10 tấn thuốc nổ đánh sập cửa pháo đài, làm pháo đài bị hư hại nghiêm trọng.

Sau này, khu đất pháo đài Đồng Đăng được UBND tỉnh Lạng Sơn giao quyền và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn quản lý với diện tích 50.030 m2 thuộc đất an ninh quốc phòng. Pháo đài Đồng Đăng được công nhận di tích cấp tỉnh và ngày 31/12/2024, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã có quyết định công nhận di tích quốc gia.

“Đây là một địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống đấu tranh giữ nước kiên cường, bất khuất của dân tộc ta, chính vì vậy, địa phương có kế hoạch lưu giữ, bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử của lũy thép này”, ông Sái Vĩnh Chung nói.




Nghi lễ trao Bằng di tích cấp quốc gia pháo đài Đồng Đăng cho lãnh đạo địa phương.


Thường xuyên có mặt tại pháo đài Đồng Đăng thực hiện công quả, gần 30 chị em nhóm thiện tâm thị trấn Đồng Đăng rất đỗi vui mừng. Bà Vi Thị Bích Kỳ, Trưởng nhóm thiện tâm cho biết, trước sự kiện đón nhận di tích quốc gia, người dân địa phương xúc động. Anh linh của những chiến sỹ hy sinh, đồng bào tử nạn trong các hầm sâu pháo đài được an ủi, siêu thoát…

“Từ đầu tháng 2 đến nay có rất nhiều đoàn đại diện cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể của địa phương, các cựu chiến binh và thân nhân các liệt sĩ đã trở về pháo đài Đồng Đăng thắp tâm nhang. Nhiều người coi lũy thép này tựa như pháo đài Brest - biểu tượng của sức kháng cự kiên cường của quân dân Xô-viết trước sự tấn công của Đức quốc xã. Có thể, lòng yêu nước, sự dũng cảm, ý chí kiên cường của các dân tộc trên thế giới đều cháy bỏng, có sức mạnh vô biên mỗi khi Tổ quốc, quê hương bị quân xâm lược…”, bà Vi Thị Bích Kỳ xúc động nói.

Linh thiêng miền biên viễn



Pháo đài Đồng Đăng là di tích cấp quốc gia.


Thị trấn Đồng Đăng cách thành phố Lạng Sơn khoảng 14 km và là giao điểm của các tuyến: Quốc lộ 1A, 1B, 4A với diện tích tự nhiên 702 ha. Thị trấn nằm trong Khu Kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn, là một trong những khu kinh tế cửa khẩu có vai trò quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Địa bàn là nơi cư trú của 4 dân tộc chính: Kinh, Tày, Nùng, Hoa. Qua đó, tạo cho thị trấn một hệ thống di sản văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng.

Tại thị trấn Đồng Đăng hiện có 4 điểm di tích lịch sử (Cột mốc số 0, Nhà bia tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ - Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị, Nhà bia Thủy Môn Đình, Pháo đài Đồng Đăng) và 3 điểm di tích kiến trúc nghệ thuật (Đền Cô Đôi, Đền Mẫu Đồng Đăng, Đền Quan). Về di sản văn hóa phi vật thể, mảnh đất này lưu giữ và diễn ra tập quán văn hóa của người Tày, Nùng với lễ hội Đền Mẫu Đồng Đăng còn bảo tồn được những nét văn hóa dân gian đặc sắc như: hát Then, Sli, Lượn…




Toàn cảnh thị trấn Đồng Đăng. Ảnh: Duy Chiến.


Bà Nguyễn Thị Lợi, sinh sống tại khu Lò Rèn, thị trấn Đồng Đăng chia sẻ: Tôi vẫn thường đến Đền Mẫu Đồng Đăng thực hiện công quả. Đền Mẫu Đồng Đăng là nơi thờ tự tín ngưỡng Thánh Mẫu Liễu Hạnh và các đức Phật. Tương truyền, Đền Mẫu Đồng Đăng chính là nơi diễn ra cuộc gặp gỡ giữa Trạng Bùng và Mẫu Liễu Hạnh. Câu chuyện này có nhiều tình tiết kỳ bí và đến nay vẫn là một giai thoại hấp dẫn xoay quanh Đền Mẫu Đồng Đăng.

Trong dịp pháo đài Đồng Đăng được công nhận là di tích lịch sử quốc gia, địa phương cũng tổ chức khai trương phố đi bộ Đồng Đăng trên tuyến đường Hoàng Văn Thụ, đường Nam Quan, ngõ 5 đường Hoàng Văn Thụ và ngõ 6 Nam Quan thị trấn Đồng Đăng với tổng chiều dài 1.442m. Có 230 hộ đăng ký tham gia buôn bán về đêm khi tuyến phố bắt đầu đi vào hoạt động. Đồng thời mở 26 kiot trưng bày các sản phẩm OCOP trên địa bàn.

Ông Sái Vĩnh Chung, Chủ tịch UBND thị trấn Đồng Đăng cho biết: Thị trấn Đồng Đăng là trung tâm kinh tế, thương mại sầm uất của huyện Cao Lộc nói riêng và tỉnh Lạng Sơn nói chung. Trong những năm qua, cấp ủy chính quyền, nhân dân chung sức, đồng lòng xây dựng địa phương ngày càng vững mạnh, phát triển. Nhất là trong năm 2024, nhiều chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội đạt và vượt. Là địa phương giàu bản sắc nên du khách đến tham quan, du lịch trên địa bàn tăng lên rõ rệt, mỗi năm có khoảng 70.000 lượt khách đến du xuân và trẩy hội. Nhờ vậy, tổng thu ngân sách trên địa bàn tăng theo từng năm, đời sống nhân dân ngày càng nâng cao…

Chúng tôi hòa mình vào dòng người hướng về Đền Mẫu Đồng Đăng cùng tâm hướng chiêm bái mọi sự tốt lành, quốc thái dân an. Buổi chiều, ánh nắng xuân chan hòa phủ một màu vàng tươi sáng trên thị trấn nhỏ hiền hòa mà kiên trung trên rẻo đất miền biên viễn.

Đồng Đăng, cận ngày 17/2/2025

Nguyễn Duy Chiến
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM