vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #150 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2025, 08:31:52 pm » |
|
Tại Hưng Yên, ngày 16 tháng 12 năm 1951, ta triển khai đợt hoạt động ở Ân Thi. Đại đội 22 chủ lực tỉnh cùng lực lượng vũ trang huyện và dân quân, du kích diệt đồn Đới Khê, Đặng Xuyên, Cổ Lễ. Tiếp đó, diệt đồn Lưu Xá;(ngày 19 tháng 12). Ở Kim Động và thị xã Hưng Yên, ngày 17 tháng 12 năm 1951, Đại đội 21 huyện Kim Động diệt 2 đồn bảo chính đoàn tại Tượng Cước Phái Thủy. Ngày hôm sau, ta diệt tiếp vị trí Tiên Cầu, cắt Đường số 39. Cùng ngày, Đại đội 27 diệt đồn Thanh Sâm, Tiểu đoàn 664 Trung đoàn 42 diệt các đồn hương dũng Đỗ Xá, Ngô Xá, An Xá và đồn bảo chính đoàn Lôi Cầu. Hướng các huyện: Phù Cừ,Tiên Lữ và Khoái Châu, bộ đội địa phương, dân quân, du kích được Trung đoàn 42 hỗ trợ đồng loạt nổi dậy phá nhiều hương đồn, tháp canh, giải phóng nhiều khu vực2 (Dẫn theo: Hội đồng chỉ đạo biên soạn công trình lịch sử kháng chiến chống Pháp Khu Tả ngạn sông HồngT Lịch sử kháng chiến chống Pháp Khu Tả ngạn sông Hồng 1945 -1954, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 310).
Tại Kiến An, phong trào chiến tranh du kích bùng lên mạnh mẽ. Ở Tiên Lãng, Đại đội 61 phục kích địch ở xã Vinh Quang, bắt 12 tên; sau đó, phục kích ở Xuân Úc diệt 1 tiểu đội địch, tạo khí thế phấn khởi trong nhân dân.
Tại tỉnh Bắc Ninh, sáng 10 tháng 12, do chưa biết đồn Thứa đã bị tiêu diệt, địch cho 1 tiểu đội từ Phương Xá (cách Thứa 50km) đến thăm dò. Chúng lọt vào trận địa phục kích của ta và bị bắt gọn. Bộ Chỉ huy quân Pháp hết sức lúng túng, vội điều một lực lượng từ Hoà Bình về để đối phó. Ngày 13 tháng 12 năm 1951, Binh đoàn cơ động số 7 (GM7), có xe tăng và pháo binh yểm trợ cơ động theo Đường số 20 càn quét khu Cổ Lãm, Lĩnh Mai thuộc huyện Gia Lương làm bàn đạp tiến công chiếm lại Thứa, bị du kích địa phương kết hợp với Tiểu đoàn 215 chủ lực chặn đánh, tiêu hao nhiều sinh lực địch. Sau khi phản kích địch và chuyển hết số thương binh, tử sĩ ra ngoài, đơn vị rút khỏi làng an toàn. Những ngày sau, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với chủ lực tiếp tục chặn đánh các cánh quân của địch càn quét các vùng Đoàn, Gia Phó, Lĩnh Mai, Ngụ, Triện, diệt trên 300 tên, trong đó có 1 quan tư và 2 quan ba. Nhận thấy trận càn không đạt mục đích, lại bị uy hiếp ở tuyến sau, địch vội vã rút lui. Tranh thủ sự hỗ trợ của các đơn vị chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương ra sức xây dựng cơ sở, phát động chiến tranh du kích, gây dựng được cơ sở mới. Nhân dân kêu gọi con em đang ở trong hàng ngũ địch trở về với kháng chiến.
Ở tỉnh Ninh Bình, ta tiêu diệt 2/3 quân địch chiếm đóng, phá 128 trong tổng số 138 ban tề, giải phóng hầu hết huyện Yên Mô, mở Khu du kích I và II gồm 13 xã thuộc huyện Kim Sơn, nối liền khu du kích Khánh Trung, Khánh Hội, Khánh Vân (huyện Yên Khánh), Yên Lạc (huyện Yên Mô) mở đường cho chủ lực vượt sông Đáy đánh vào vùng địch hậu. Ta đã giải tán 115 ban tề, cả tỉnh chỉ còn lại 6 ban tề1 (Dẫn theo: Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp, Hà Nội, 1991, tr. 542).
Cuối tháng 12 năm 1951, sau khi mở rộng vùng giải phóng, tạo bàn đạp đứng chân ở Ninh Bình, Thường vụ Liên Khu ủy 3 và Ban Chỉ huy Mặt trận Đồng bằng quyết định cho Trung đoàn 52 và Trung đoàn 48 tiến sâu vào vùng địch hậu phía Nam Nam Định, cùng lực lượng vũ trang tại chỗ tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng các khu du kích và mở đường chuẩn bị vượt sông Hồng đánh sang Tả Ngạn1 (Dẫn theo: Quân khu 3 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 315).
Thắng lợi to lớn của quân và dân ta ở đồng bằng Bắc Bộ buộc thực dân Pháp phải phân tán lực lượng đối phó cả ở mặt trận phía trước và phía sau. Cuối năm 1951, tin thất bại ở Hoà Bình làm cho nhân dân Pháp càng mất niềm tin vào thắng lợi ở Đông Dương. Phiên họp Quốc hội Pháp ngày 23 tháng 12 công bố: 26.000 người Pháp chết, trong đó có 1.000 sĩ quan, 36.000 người bị thương kể từ 23 tháng 9 năm 1945 đến cuối tháng 12 năm 1951. Số đông nghị sĩ Pháp muốn hoãn chuẩn chi ngân sách cho đội quân viễn chinh. Tuy vậy, cuối cùng ngân sách vẫn được thông qua và Chính phủ Pháp còn khen ngợi binh sĩ chiến đấu ở Hoà Bình hòng che đậy cho sự lúng túng và thất bại về chiến lược.
Đầu tháng 1 năm 1952, Tổng Quân ủy nhận định: "Bộ đội địa phương và dân quân du kích hoạt động mạnh, có hiệu quả. Căn cứ du kích được phục hồi và mở rộng. Địch bị thiệt hại nặng phải điều quân từ Pháp sang và từ Trung Bộ, Nam Bộ ra, rút bớt một số vị trí co hẹp phạm vi chiếm đóng ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ bổ sung cho số quân bị tổn thất nên địch hậu cầng sơ hở"2 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chong Pháp, Ha Nội, 1991, tr. 542). Tổng Quân ủy chỉ thị cho các chiến trường phối hợp "tích cực hoạt động phối hợp với chiến trường chính, chuẩn bị chống địch càn quét".
Ngày 20 tháng 1 năm 1952, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Đẩy mạnh du kích chiến tranh trên chiến trường Bắc Bộ". Chỉ thị xác định nhiệm vụ tích cực phát triển và củng cố cơ sở đẩy mạnh phong trào du kích, đặc biệt chú trọng xây dựng căn cứ. Thực hiện Chỉ thị, Thường vụ Liên khu ủy 3 và Ban Chỉ huy Mặt trận Đồng bằng đẩy mạnh hoạt động của chủ lực trong vùng địch tạm chiếm, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích.
Ở tả ngạn, cuối năm 1951, đầu năm 1952, lực lượng vũ trang địa phương chủ động tác chiến, diệt nhiều vị trí địch. Ngày 24 tháng 1, địch cho quân càn quét Nam Sách. Tiểu đoàn Bạch Đằng (chủ lực tỉnh Quảng Yên) chiến đấu chống càn, diệt 300 tên, phối hợp với dân quân Nam Sách bức rút các đồn và tháp canh còn lại trên Đường số 17, giải phóng phần lớn huyện1 (Dẫn theo: Ban Chỉ huy quân sự tỉnh Hải Hưng, Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Hưng, Hà Nội, 1988, tr. 310), mở một vùng du kích mới nối liền với địa bàn nam tỉnh Bắc Ninh. Cùng thời gian, một bộ phận Trung đoàn 98 phối hợp với dân quân, du kích bao vây bức hàng vị trí Mão Điền, thu 30 súng, giải tán 80 nhân viên nguỵ quyền. Tiểu đoàn Thiên Đức (chủ lực tỉnh Bắc Ninh) đánh đồn Tiêu Xá thắng lợi. Sau một thời gian hoạt động, với sự hỗ trợ của chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương cắt Đường số 38, diệt các đồn Thiên Thai, Lạc Thổ và uy hiếp Đường số 5, mở rộng vùng du kích.
Sáng ngày 26 tháng 1 năm 1952, trên 100 chiếc xe của địch chở 3 tiểu đoàn từ cầu Đuống theo Đường số 38 tiến vào Đông Côi (tỉnh Thái Bình). Để chặn đánh địch, lực lượng dân quân du kích phối hợp với chủ lực bố trí sẵn ở ven Đường số 38 và xung quanh Đông Côi. Phát hiện trận địa của ta, địch dừng lại và tổ chức tiến công vào làng. Ta kiên cường đánh trả địch, giữ vững trận địa và bắn cháy 1 xe bọc thép. Khi địch tăng cường lực lượng tiến công, ta sử dụng 1 trung đội đánh tạt sườn, một bộ phận khác phản kích chính diện. Bị ta đánh dữ dội từ hai phía, địch bỏ chạy về Lạc Thổ. Trận này, địch bị tiêu diệt 2 đại đội địch; riêng Tiểu đoàn Bécsu (thuộc Binh đoàn cơ động số 2 - GM2) bị tiêu hao trên 100 tên.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #151 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2025, 08:34:07 pm » |
|
Thực hiện chủ trương mở rộng mặt trận sau lưng địch, Thường vụ Liên Khu ủy 3 và Ban Chỉ huy Mặt trận Đồng bằng quyết định đưa Đại đoàn 320 và các trung đoàn 42 và 46 vào hoạt động trong vùng địch hậu. Phương châm tác chiến là kết hợp chặt chẽ hoạt động của chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương, kết hợp tiến công quân sự với vận động chính trị, liên tiếp đánh địch và bồi dưỡng lực lượng kháng chiến.
Để đối phó với các hoạt động mạnh của quân và dân ta, địch vội vã điều Binh đoàn cơ động số 4 từ Hoà Bình về vùng đồng bằng, mở nhiều cuộc càn quét nhỏ thăm dò, cản bước tiến của quân ta.
Cuối tháng 12 năm 1951, một tiểu đoàn của Trung đoàn 42 tăng cường cho Thái Bình, cùng Tiểu đoàn 38 của tỉnh tiến vào Phụ Dực, Thụy Anh. Ngày 1 tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn 648 Trung đoàn 42 diệt đồn Đồng Bằng và phối hợp với bộ đội địa phương tiêu diệt, bức hàng một loạt vị trí như Đào Động, Đại Điền, Vọng Lỗ, Thanh Mai, Lý Xá, An Hải, Tô Đê ở huyện Phụ Dực, gọi hàng vị trí Công giáo Phục Lỗ ở Quỳnh Côi. Khu du kích của Phụ Dực được mở rộng thêm ở Tô Công, Tô Xuyên, Tô Hải, Tân Tiến1 (Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Quân khu 3, Trung đoàn 42 trung dũng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 180).
Ngày 4 tháng 1 năm 1952, trên đường hành quân chuẩn bị vượt sông Đáy, Tiểu đoàn 884 (Trung đoàn 48) và một bộ phận của Tiểu đoàn pháo 834 về trú quân tại làng Tiên Yên (huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình). Qua điện đài của cấp trên, Tiểu đoàn 884 nắm được địch điều Binh đoàn cơ động số 4 từ Hoà Bình về, phối hợp với lực lượng ứng chiến địa phương, tập trung thành 8 tiểu đoàn, có máy bay, pháo binh, tàu chiến yểm trợ, từ nhiều hướng bao vây khu tập kết của Tiểu đoàn1 (Dẫn theo: Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc, Lịch sử Bộ đội Thông tin liên lạc, tập 1, Hà Nội, 1985, tr. 238). Do có sự chuẩn bị trước, Tiểu đoàn 884 cùng lực lượng vũ trang địa phương chủ động chiến đấu, bẻ gãy hàng chục đợt tiến công của địch, tiêu diệt và bắt gần 200 tên, phá huỷ 2 xe bọc thép và 2 khẩu pháo 37mm, thu hàng trăm trung liên, đại liên, súng trường và nhiều quân trang quân dụng2 (Dẫn theo: Sư đoàn 320, Đại đoàn Đồng Bằng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr. 254), buộc chúng phải rút lui.
Trong lúc Binh đoàn cơ động số 4 - GM4 bị ta đánh thiệt hại nặng thì từ ngày 5 đến ngày 8 tháng 1, Trung đoàn 42 tổ chức phục kích địch ở Đỗ Xá (Đường số 21), Liễu Đề và bến Tam Toà giành thắng lợi. Riêng trận Đỗ Xá, ta bắt 39 tên hạ sĩ quan Pháp vừa tốt nghiệp ở Trường Nam Định ra.
Ngày 14 tháng 1, Binh đoàn cơ động số 4 sử dụng 1 đại đội Âu - Phi giải vây cho địch ở Đông Biên (Hải Hậu) đang bị Tiểu đoàn 337 uy hiếp. Nhận được tin, Tiểu đoàn 337 phục kích tại làng Kiên Trung (gần Đông Biên), tiêu diệt Đại đội 15 thuộc Tiểu đoàn Âu - Phi số 2, bắt 46 tên, phá huỷ 5 xe quân sự, thu hơn 200 khẩu súng và toàn bộ quân trang quân dụng cùng 1 hòm tiền đựng 50.000 đồng Đông Dương3 (Dẫn theo: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 180, 171). Trong nửa tháng hoạt động ở Nam Định, được sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị thuộc Đại đoàn 320, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đã phá 80 ban tề, giải phóng hàng trăm kilômét vuông và hàng chục nghìn dân, tạo điều kiện cho Đại đoàn 320 vượt sông Hồng sang Tả Ngạn4 (Dẫn theo: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 180, 171).
Đêm 13 tháng 1 năm 1952, các bộ phận còn lại của Đại đoàn 320 cơ động vào địch hậu. Nhân dân các xã ven sông dùng 500 thuyền đưa bộ đội vượt sông Đáy. Ngày 17 tháng 1 năm 1952, cánh quân thứ nhất của Đại đoàn 320 đặt chân lên đất Thái Bình. Bộ Tư lệnh Đại đoàn 320 đặt Sở Chỉ huy ở làng Kiến Xá, huyện Thư Trì. Ngày 26 tháng 1, Tiểu đoàn Đống Đa của Đại đoàn cùng đội du kích Nguyễn Thị Chiên và nhân dân xã Tản Thuật (Kiến Xương) phục kích địch ở Thanh Nê, bắt một trung đội Âu - Phi. Trận mở màn thắng lợi đã gây tiếng vang lớn. Tinh thần binh lính trong các đồn bốt ngụy và vệ sĩ công giáo hoang mang, lo sợ. Thừa thắng, Tiểu đoàn Đống Đa, được sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương tiến công diệt đồn An Bồi và quận lỵ Tiền Hải, mở rộng vùng giải phóng Nam Kiến Xương1 (Dẫn theo: Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thái Bình, Thái Bình kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945 - 1954), Hà Nội, 1989, tr. 275), làm rung chuyển hệ thống phòng ngự của địch ở phía Nam thị xã Thái Bình.
Tháng 2 năm 1952, Bộ Tổng Tham mưu ra chỉ thị nhấn mạnh vai trò của chiến trường vùng địch hậu đối với Mặt trận Hoà Bình: "Địch đánh ra Hoà Bình là để tạo ra sự thay đổi về chiến lược ở Bắc Bộ. Đánh ra được, chúng có khả năng rút lui được. Nhưng rút lui hay không, không phải do chính diện Hoà Bình quyết định mà chính là do vùng sau lưng của chúng bị uy hiếp nhiều hay ít"2 (Sư đoàn 316, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr. 82).
Sau khi đánh một số trận giành thắng lợi, Đại đoàn 320 chủ trương đánh đòn quyết định vào hệ thống phòng ngự của địch ở Kiến Xương - Tiền Hải. Ngày 31 tháng 1 năm 1952, ta nổ súng tiến công La Cao, diệt và bắt 2 trung đội và chỉ huy đồn, trong đó có tên đồn trưởng. Tin La Cao thất thủ khiến địch ở các đồn Vũ Lăng, Giáo Nghĩa (Kiến Xương) ra hàng; địch ở đồn Trà Lý (Tiền Hải) rút chạy. Nhân đà thắng lợi, Tiểu đoàn 66 cùng bộ đội huyện và du kích Kiến Xương, Vũ Tiên vây ép, bức hàng, bức rút 10 đồn. Chưa đầy một tháng, quân và dân Thái Bình đã giải phóng một vùng rộng lớn bao gồm: Tiền Hải, Kiến Xương và phía Nam Vũ Tiên1 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thái Bình, Thái Bình kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945 -1954), Hà Nội, 1989, tr. 276), phục hồi khu du kích liên huyện Vũ Tiên, Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân, Quỳnh Côi, Phụ Dực. Hệ thống chính quyền cơ sở của địch tan rã từng màng. Phía Bắc Đường số 10, bộ đội địa phương và du kích tiến công bức hàng, bức rút một loạt vị trí: An Lạc, Đồng Phú, Hải An, đồn Bào chính đoàn Tạ Xá (Tiên Hưng). Địch ở các đồn cầu Phán (Quỳnh Côi), Nguyệt Lãng (Thư Trì) hoảng sợ rút chạy.
Trước thất bại liên tiếp của Binh đoàn cơ động số 4, Bộ Chỉ huy Pháp điều thêm Binh đoàn cơ động số 7 về Thái Bình, bổ sung lực lượng cho cuộc hành binh Cơraxanh, nhằm tiến công Thái Ninh, Thụy Anh, kéo giãn chủ lực Việt Minh, bảo vệ cho quân cảng Hải Phòng. Sáng 15 tháng 2, cuộc hành binh bắt đầu. Trong suốt 5 ngày địch càn quét, 2 tiểu đoàn Kiên Trung, Thanh Lũng (Trung đoàn 42) cùng bộ đội địa phương và du kích đã chặn đánh địch tại Ô Trinh, Hoành Sơn, Hạ Đồng (Thụy Anh), Vị Dương (Thái Ninh), gây cho địch tổn thất nặng nề. Ngày 20 tháng 2, địch phải rút quân. Thừa thắng, các đơn vị bao vây và diệt đồn Trà Linh (Thụy Anh).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #152 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2025, 08:35:28 pm » |
|
Ở Hải Dương, cuối tháng 1 năm 1952, Trung đoàn 42 (thiếu Tiểu đoàn 664) cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích Hải Dương đồng loạt tiến công, diệt 21 vị trí hương dõng ven Đường số 5, thuộc huyện Bình Giang. Cuối tháng 2 năm 1952, Trung đoàn 42 tiến công tiêu diệt cứ điểm Hoành Bồ (Thanh Miện). Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Hải Dương và các huyện ủy, lực lượng vũ trang địa phương quét sạch hệ thống tề dõng ở Bắc Thanh Hà, Nam Cẩm Giàng, đánh mìn lật đổ 1 đoàn tàu ở Kim Thành và cùng nhân dân trong vùng phá Đường số 5, làm tê liệt hoạt động vận chuyển đường bộ của địch.
Tại Hưng Yên, từ ngày 13 đến ngày 26 tháng 2, Tiểu đoàn 664 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích tiến công tiêu diệt các vị trí Chợ Thi (Ân Thi), Cao Má (Phù Cừ), Lạc Thuỷ (Khoái Châu) và bao vây bức hàng một loạt vị trí hương dõng, tạo điều kiện cho nhân dân hai huyện Ân Thi, Khoái Châu giành quyên làm chủ. Tỉnh uỷ Hưng Yên còn huy động nhân dân phá hai đường số 5 và 39, đấp ụ trên đê sông Hồng và tổ chức lực lượng tiến sâu vào các vùng địch tạm chiếm tại Mỹ Hào, Vân Giang, vận động chính trị, xây dựng cơ sở.
Sáng 23 tháng 2, địch rút khỏi thị xã Hòa Bình. Được tin, Liên khu ủy III và Bộ Chỉ huy Mặt trận Đồng bằng chỉ đạo lực lượng vũ trang và nhân dân tranh thủ tiến công tiêu diệt sinh lực địch, tích cực thực hiện kế hoạch phát triển và củng cố vùng du kích và căn cứ du kích.
Ngày 27 tháng 2 năm 1952, địch điều 1 tiểu đoàn từ Hải Dương xuống cứu Vân Độ. Hai đại đội của tỉnh và bộ đội huyện Gia Lộc tổ chức chặn đánh, diệt nhiều địch, bắt 50 tên. Hai ngày sau, Bộ Chỉ huy quân Pháp huy động một binh đoàn cơ động tiến công Cổ Bì. Trong ngày 29 tháng 2 năm 1952, Tiểu đoàn 249 và lực lượng địa phương liên tiếp bẻ gẫy 8 đợt xung phong của địch. Tiểu đoàn 255, nhận được tin địch đánh Bình Giang, lập tức quay lại phối hợp với Tiểu đoàn 249 đánh địch. Sau một ngày, địch bị loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên. Ta phá 1 xe tăng và thu nhiều vũ khí. Riêng tại Bì Đổ, Bình Dương có 256 tên chết, hơn 100 tên bị thương.
Từ tháng 11 năm 1951 đến tháng 3 năm 1952, quân và dân Hải Dương đánh 457 trận, bức hàng, bức rút 105 vị trí, phá một phần ba số ban tề, mở rộng khu du kích gồm 36 xã với 388km2. Quân và dân Hưng Yên tiêu diệt, bức rút, bức hàng 147 vị trí của địch. Mỗi tỉnh giải phóng hàng trăm thôn xã. Phong trào toàn dân đánh giặc ở Hải Dương, Hưng Yên được phục hồi, chiến tranh du kích phát triển, uy hiếp mạnh mẽ tuyến giao thông huyết mạch của địch trên Đường số 5.
Tại Vĩnh Phúc, ngày 25 tháng 2 năm 1952, Tiểu đoàn 888 vào đóng quân ở khu du kích Bình Xuyên, thuộc huyện Yên Lãng. Tại đây, Tiểu đoàn phối hợp với các lực lượng địa phương phá tề, trừ gian, mở rộng khu du kích sang hướng Bình Lâm, Nho Lâm, huyện Yên Lạc. Đến cuối tháng 2, phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích Vĩnh Phúc "tiêu diệt hoàn toàn hệ thống công sự mới của địch ở Đa Phúc, 18 tháp canh hương dõng, giải tán nhiều ban tề, đưa chính quyền ta ra hoạt động công khai, mở ba khu du kích đầu tiên trong địch hậu: Tây Đông Anh - Nam Yên Lãng, Tây Yên Lãng - Nam Yên Lạc, Nam Bình Xuyên - Đông Nam Yên Lạc, bao gồm 18 xã, 45 thôn. Cơ sở chính trị và vũ trang trong vùng địch hậu phát triển mạnh"1 (Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946-1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 159, 160-161).
Trong 3 tháng diễn ra Chiến dịch Hòa Bình, được sự hỗ trợ mạnh mẽ của các đại đoàn 320, 316, lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ đã kết hợp tác chiến với nổi dậy phá tề, phát triển chiến tranh du kích, giải phóng hàng loạt làng xã; diệt và bắt hơn 10.000 tên địch, tiêu diệt 160 cứ điểm do chủ lực địch đóng giữ, khoảng 1.000 vị trí của bọn tề vũ trang, tổng dõng, vệ sĩ, thu và phá hủy nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh của địch2 (Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946-1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 159, 160-161). Thắng lợi của quân và dân đồng bằng Bắc Bộ gây chấn động dư luận nước Pháp: "Việc giữ gìn đồng bằng Bắc Bộ rất đắt đỏ cho Pháp, cán bộ quân sự Pháp bị hy sinh ở đó nhiều hơn số cán bộ trường quân sự Pháp đào tạo trong cả một năm"3 (Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946-1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 159, 160-161). Đánh giá thắng lợi, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp khẳng định: "Trong chiến dịch giải phóng biên giới địch thua ở Biên giới, nhưng củng cố được địch hậu, lần này địch thất bại cả ở mặt trận chính diện và trong địch hậu, đó là một hiện tượng chưa từng thấy từ trước đến nay"1 (Võ Nguyên Giáp, Chúng ta đã thắng lợi trong Chiến dịch giải phóng Hòa Bình (trích Báo cáo của đồng chí Văn tại Hội nghị cán bộ), rài liệu lưu tại Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr. 9). Khu du kích, căn cứ du kích được mở ở hầu hết các huyện đồng bằng, với số dân trên 3 triệu người2 (Căn cứ du kích bao gồm 109 xã 842 thôn, khu du kích bao gồm 163 xã và 1.460 thôn. Dẫn theo: Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946 -1954), Sđd, tr. 161), tổng diện tích 4.800km2, chiếm hai phần ba diện tích đồng bằng châu thổ. Những thắng lợi lớn có ý nghĩa chiến lược ở Hòa Bình và đồng bằng Bắc Bộ "làm cho đế quốc Pháp tuy được đế quốc Mỹ giúp sức, càng lún sâu trong thế bị động chiến lược"3 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 39 - 40). Đây là cơ sở để quân và dân đồng bằng Bắc Bộ giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích những năm tiếp theo, góp phần vào thắng lợi ngày càng to lớn của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #153 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2025, 08:38:28 pm » |
|
DÂN CÔNG - LỰC LƯỢNG GÓP PHẦN BẢO ĐẢM HẬU CẦN CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại úy, ThS NGUYỄN THỊ THẢO Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dân công luôn là lực lượng quan trọng, có nhiều đóng góp cho công tác bảo đảm hậu cần của các chiến dịch. Trong Chiến dịch Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), dân công đã hoạt động liên tục cả trước, trong và sau thời gian diễn ra chiến dịch, góp phần vào thắng lợi, để lại nhiều kinh nghiệm quý cho công tác tổ chức và huy động dân công chiến dịch. Tháng 10 năm 1951, dưới sự lãnh đạo Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, đểchuẩn bị cho đợt hoạt động quân sự trong Thu - Đông 1951 - 1952, Tổng cục Cung cấp đã liên hệ với các khu, các tỉnh để sơ bộ nắm khả năng huy động nhân lực, vật lực và phương tiện vận chuyển của nhân dân các địa phương. Trong khi ta đang chuẩn bị kế hoạch Thu - Đông 1951 - 1952 thì ngày 9 và ngày 14 tháng 11 năm 1952, thực dân Pháp mở 2 cuộc hành quân Tuylíp (Tulipe) và Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm Hòa Bình, tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Phân khu Sông Đà - Ba Vì (khu Bắc) và Phân khu Hoà Bình - Đường số 6 (khu Nam); ngoài ra, có Phân khu Chợ Bến là tiền đồn phía Đông bảo vệ Hoà Bình. Đánh chiếm Hòa Bình, địch nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược; mở rộng khu Chiếm đóng, bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc và các liên khu 3,4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá sự chuẩn bị tiến công Thu - Đông của ta. Trước tình hình đó, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng, quyết định đình chỉ chiến dịch ở Liên khu 3, đồng thời báo cáo Trung ương mở Chiến dịch Hòa Bình. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ về "Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch" 1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12 (1951), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 596). Chấp hành Chỉ thị của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy tranh thủ thời gian để "vừa chuẩn bị vừa ra trận" 2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 72), đánh địch ở mặt trận chính diện, đồng thời đưa lực lượng vào địch hậu, phát triển du kích chiến tranh. Ở mặt trận chính Hòa Bình, ta sử dụng 3 đại đoàn (308, 312, 304) và Đại đoàn công pháo 351. Ở mặt trận đồng bằng địch hậu, ta sử dụng 2 đại đoàn (316, 320). Tổng số lực lượng tham gia chiến dịch khoảng 6.000 người 3 (Tổng cục Hậu cần, Hậu cần chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 60), hậu cần phải đảm bảo một số nhân vật lực rất lớn. Do đó, ngoài lực lượng hậu cần Quân đội, ta đã huy động lực lượng lớn dân công. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, lực lượng dân công đã phải bám sát chiến trường, bảo đảm số lượng vật chất lớn trên một địa bàn chiến trường rộng và thời gian chiến dịch dài ngày. Qua những đóng góp của dân công trong Chiến dịch Hòa Bình, nổi lên một số nội dung như sau: Một là, công tác huy động dân công đã có sự chuẩn bị chu đáo, góp phần bảo đảm tốt cho chiến dịch Chiến trường Hòa Bình, sông Đà và Đường số 6 là khu vực chiến lược quan trọng, một vùng rừng núi ở sát đồng bằng Bắc Bộ. Chiếm đóng Hòa Bình, thực dân Pháp đã cắt đứt đường giao thông chính trên chiến trường, uy hiếp căn cứ hậu phương Liên khu 3. Khu vực địch chiếm đóng ở Hòa Bình là ven sông Đà và Đường số 6, Ba Vì, gồm vùng núi đồi trọc, ít rừng rậm, có những cánh đồng nhỏ. Bộ đội tập trung tác chiến ở tả ngạn sông Đà, Nam Hòa Bình và Nam Đường số 6 nên việc vận chuyển từ hậu phương ra mặt trận phải tổ chức tuyến theo các đường mòn trong rừng, đó là một khó khăn trở ngại đầu tiên của dân công. Mặc dù đường sá xa xôi, quãng đường di chuyển khó khăn nhưng việc huy động dân công lại có nhiều thuận lợi do ta đã có kinh nghiệm từ các chiến dịch trước, các cấp ủy và chính quyền địa phương đã có nhiều kinh nghiệm về tổ chức lãnh đạo dân công phục vụ chiến dịch, ở chiến dịch này, tuy chưa có quy định về tuyến chọn dân công 1 (Tháng 7 năm 1952, Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về huy động dân công, quy định về chế độ làm việc và tiêu chuẩn tính công cho dân công gánh trên đường rừng núi, Điều lệ tạm thời về huy động dân công cũng là một trong những công tác chuẩn bị Chiến dịch Tây Bắc năm 1952) nhưng nhân dân cũng đã hiểu rõ quyên và nghĩa vụ của dân công khi tham gia phục vụ tiền tuyến. Nhờ đó, việc huy động nhân vật lực có nhiều thuận lợi. Dân công được huy động để bảo đảm cho việc vận chuyển, Ban Cung cấp tiền phương đã dùng dân công ngay từ khi chuẩn bị chiến dịch. Ở Mặt trận phía Bắc Hòa Bình, khả năng nhân lực các địa phương lân cận tương đối nhiều nhưng việc huy động gặp khó khăn vì yêu cầu quá gấp, nhân dân thì đang bận gặt mùa đề phòng địch phá. Trước tình hình đó, Ban Cung cấp tiền phương phải tập trung giải quyết vấn đề dân công. Được sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, các địa phương tăng cường việc huy động dân công phục vụ chiến dịch. Để có thể huy động dân công phục vụ ngay cho kế hoạch tác chiến đợt 1, Ban Cung cấp tiền phương đã huy động dân công ngay tại Phú Thọ và Vĩnh Phúc. Đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trực tiếp đi kiểm tra, đôn đốc việc huy động dân công. Trong lúc chưa huy động được dân công cho công tác vận chuyển, Ban Cung cấp tiền phương sử dụng ngay số dân công đang vận chuyển vũ khí đi Liên khu 3 để phục vụ cho chiến dịch, chọn lọc một số, phân phối ngay cho các đơn vị, đồng thời tung cán bộ phối hợp với cán bộ địa phương xuống các huyện phổ biến kế hoạch huy động dân công. Nhờ các địa phương có kế hoạch chuẩn bị dân công cho Chiến dịch Thu - Đông cụ thể từng xã đã thống kê, phân loại dân công, đến khi huy động các xã có kế hoạch tổ chức, hướng dẫn nhân dân thu hoạch vụ mùa nhanh chóng, tổ chức giúp đờ gia đình những người đi dân công, công tác tuyên truyền động viên được làm tốt. Do đó việc huy động dân công nhanh chóng hoàn thành. Lực lượng Dân công được tổ chức chặt chẽ, có đảng viên và tổ chức đảng trong các đội dân công, các xã cử y tế đi theo để chăm sóc. Ở Mặt trận Nam Hòa Bình và Đường số 6, dân công được huy động từ Liên khu 3 và Liên khu 4 (Thanh Hóa). Tại đây, việc huy động dân công thuận lợi vì đã có kinh nghiệm trong các chiến dịch trước như Hà Nam Ninh nên tổ chức dân công chặt chẽ. Ở hướng này, dân công đã theo các kho trạm bố trí mà vận chuyển khối lượng lớn vũ khí và lương thực phục vụ chiến dịch với quãng đường hàng trăm cây số. Từ Nho Quan đến Suối Chuộn là 100km, dân công phải vận chuyển là chủ yếu, bố trí thành nhiều trạm, vận chuyển theo dây chuyền. Bên cạnh nhiệm vụ vận chuyển lực lượng dân công còn tham gia bốc dỡ xếp hàng tại các kho trạm. Ở hướng này, do có sự chuẩn bị chu đáo từ đầu nên đáp ứng đủ nhu cầu lương thực cho bộ đội tác chiến, cùng với đó còn có gạo dự trữ vận chuyển từ Thanh Hóa ra. Ở mặt trận trung du, huy động vùng địch hậu Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang và hữu ngạn sông Hồng cùng với huy động nhân dân tại địa bàn đóng quân của các đơn vị tác chiến. Tổng kết trong Chiến dịch Hòa Bình, ta đã tổ chức 5 đợt huy động dân công với tổng số 333.400 lượt người đi dân công quy ra thành 11.914.000 ngày phục vụ chiến dịch 1 (Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam 80 năm xây dựng và phát triển, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2010, tr. 173). Như vậy, mặc dù trong quá trình Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chuẩn bị cho kế hoạch tác chiến Thu - Đông 1951 - 1952, chưa có ý định đánh địch ở đâu nhưng khi địch đánh ra Hòa Bình thì chúng ta đã có số lượng nhân vật lực cơ bản để tiến hành kế hoạch tác chiến dài ngày và trên một địa bàn rộng lớn từ núi rừng Hòa Bình và cả ở đồng bằng Bắc Bộ. Đó là điều kiện đảm bảo đầu tiên cho một chiến dịch lớn. Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo nên bộ đội yên tâm tác chiến, giành được những thắng lợi quan trọng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #154 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2025, 08:39:41 pm » |
|
Hai là, phục vụ chiến dịch ở mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
Trong cả 3 đợt tác chiến của Chiến dịch Hòa Bình, dân công tham gia ở tất cả các nhiệm vụ: Sửa và mở đường, sửa cầu, làm kho lán, bốc xếp, dỡ hàng lên xuống xe, xuống thuyền, gánh vác, vận tải, tổ chức vận chuyển lương thực và vũ khí theo sự chỉ đạo và bố trí kho trạm, tải thương, chăm sóc thương, bệnh binh... Ở nhiệm vụ nào dân công cũng thể hiện tròn vai trò trách nhiệm của mình, dù gặp nhiều gian khổ và hy sinh. Chẳng hạn, trong quá trình vận chuyển vũ khí từ Sở Quân giới ra tiền phương đã bị đạn nổ làm chết và bị thương hơn 10 người2 (Quân đội nhân dân Việt Nam, Công tác hậu cần Chiến dịch Hòa Bình Đông Xuân 1951 -1952, Tổng cục Hậu cần, Ban Tổng kết kinh nghiệm chiến tranh xuất bản năm 1978, tr. 33). Trong lúc chiến sự đang diễn ra căng thẳng, việc cứu chữa cho dân công cũng chưa được chu đáo nhưng họ cũng không nao núng tinh thần.
Trong khi bộ đội tác chiến, không thể thiếu dân công ở bên để hỗ trợ. Trong đợt 1 chiến dịch, sau khi bộ đội làm chủ Tu Vũ, lực lượng dân công tải thương đã sẵn sàng làm nhiệm vụ: "Chung quanh các đồn, các chị dân công tải thương đứng hẳn người lên hò reo hoan hô bộ đội đánh đồn. Đại bác vẫn nổ ầm ầm, các chị xắn quần lội nước, qua lầy, xông qua cỏ gianh, băng băng vào tận sân bay đón anh em thương binh khiêng ra. Có anh hỏi: Các chị không sợ à. Các chị trả lời: Các anh vào đồn còn không sợ, chúng tôi ở đây sợ gì, và các chị vẫn băng qua đại bác địch, cáng thương binh ra bên ngoài"1 (Những thắng lợi trên Mặt trận Hòa Bình, Đường số 6, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1952, tr. 6-7). Đó là những hình ảnh đẹp và những cảm xúc chân thành của những người chiến sĩ đối với lực lượng dân công, minh chứng cho lòng dũng cảm và ý chí dấn thân của lực lượng dân công.
Trong đợt 2 chiến dịch, Tổng Quân ủy chủ trương đánh xuống Hòa Bình và Đường số 6. Khi bộ đội tác chiến ở mặt trận thì địch rút khỏi phòng tuyến Sông Đà nhưng lập nhiều điểm để ngăn chặn bộ đội nên công tác vận chuyển gặp nhiều khó khăn, việc vận chuyển bằng cơ giới cũng không thực hiện được do pháo địch bắn phá liên tục. Khi ta vận chuyển bằng thuyền thì bị các trạm tuần tra trên sông Đà đoạn Trung Hà và Hòa Bình của địch chặn đánh và cướp phá. Lúc này mọi công việc vận chuyển đều phải sử dụng dân công. Không chỉ vận chuyển hàng hóa vũ khí từ hậu phương ra các kho trạm mà dân công còn vận chuyển vũ khí, lương thực tới các vị trí tác chiến của bộ đội. Sau mỗi trận tác chiến, bộ đội bị thương, dân công phục vụ vận chuyển và chăm sóc thương binh ngay cả những ngày Tết.
Cũng trong đợt 2 chiến dịch diễn ra vào dịp Tết Nguyên đán, nhiều dân công đi đủ ngày công đã được về, lực lượng dân công thiếu hụt cần bổ sung để đảm bảo cho tác chiến. Lúc đó, các địa phương như Phú Thọ, Vĩnh Phúc, đến 28 Tết vẫn huy động đủ số dân công đi phục vụ tiền tuyến, có địa phương vượt mức quy định như ở Vĩnh Phúc. Điều đó cho thấy tinh thần dân công phục vụ chiến dịch rất hăng hái và quyết tâm.
Ở mặt trận sau lưng địch Liên khu 3, địch khủng bố, phong tỏa mọi ngả đường giao thông chính, việc tải lương và vận chuyển thương binh đi chữa trị và chuyển ra vùng tự do gặp nhiều khó khăn. Thương, bệnh binh đã được dân công vận chuyển qua sông Hồng và sông Đáy bằng thuyền nan chuyển ra vùng tự do Bắc Giang an toàn bất chấp sự đánh phá, kiểm soát của địch. Việc vận chuyển thương binh cũng được chia thành nhiều chặng ngắn được bố trí qua các tuyến: Ở địch hậu, trung du, tổ chức tuyến từ Nam phần Bắc Ninh ra vùng tự do Bắc Giang ở Kép; ở địch hậu Liên khu 3, tổ chức 3 tuyến từ Thái Bình ra vùng tự do Liên khu 3. Thương binh được dân công chuyển từ chặng này qua chặng kia, tại mỗi chặng, dân công địa phương thông thạo địa hình được giao nhiệm vụ đón tiếp và chuyển tiếp thương binh ra vùng tự do an toàn, giấu và bảo vệ thương binh khi địch truy lùng và khủng bố. Tại Thái Bình, khi chuyển thương binh ra vùng tự do Liên khu 3 phải đi đến 9, 10 ngày, có khi bị địch càn quét phải giấu thương binh ở các trạm, khi ở lại các trạm, thương binh vãn được chăm sóc chu đáo. Có khi địch càn quét vào các cơ sở, cán bộ địa phương đã vận động được nhân dân chuyển thương binh ngụy trang đi sát vị trí địch, thoát ra ngoài vòng vây. Phối hợp với dân công, lực lượng quân y đã tổ chức được nhiều đường chuyển thương binh ra vùng tự do, khi địch phong tỏa đường này ta vẫn có thể dùng đường khác, điều đó giúp đẩy nhanh quá trình cứu chữa thương binh.
Như vậy là, khi tham gia dân công phục vụ chiến dịch, nhân dân đã thể hiện lòng yêu nước, chí căm thù giặc và cả tình cảm quý mến bộ đội. Dân công luôn bền bỉ, dẻo dai phối hợp với bộ đội cả ở mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch. Ghi nhận đóng góp của lực lượng dân công và nhân dân trong Chiến dịch Hòa Bình, trong Báo cáo tại Hội nghị cán bộ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: "Chiến dịch kéo dài 3 tháng, đã huy động nhiều nhân lực, vật lực của nhân dân. Không những vậy, nhiều nơi, đồng bào đã hy sinh cả ngày Tết để đi dân công ngoài mặt trận. Nhân dân đã đóng góp một phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch đặc biệt là đồng bào Phú Thọ và đồng bào Mường"1 (Chúng ta đã thắng lợi trong Chiến dịch Hòa Bình, trích Báo cáo của đồng chí Văn tại Hội nghị cán bộ, tài liệu lưu tại Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam,VL08351-VV00384, tr. 13).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #155 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2025, 08:40:35 pm » |
|
Ba là, huy động dân công trong Chiến dịch Hòa Bình để lại nhiều kinh nghiệm quý về công tác dân công cho các chiến dịch sau
Thứ nhất, công tác chuẩn bị được tiến hành sớm, tuyên truyền, giải thích cho nhân dân thông suốt nhiệm vụ, thấy rõ nghĩa vụ của mỗi người dân tham gia phục vụ tiền tuyến giết giặc. Trong chiến dịch, công tác dân công đã làm tốt bởi vì có kinh nghiệm từ những chiến dịch trước, đồng thời trong quá trình chuẩn bị kế hoạch Thu - Đông 1951 - 1952, Tổng Quân ủy đã giao cho Tổng cục Cung cấp chuẩn bị nhân vật lực từ các địa phương, từ mùa Hè, nhân dân đã được các cán bộ địa phương giải thích, giáo dục từng xã đã có số liệu và phân loại dân công chuẩn bị cho Chiến dịch Thu - Đông.
Thứ hai, khi huy động dân công, địa phương đã có kế hoạch bảo đảm sản xuất, tổ chức cho nhân dân thu hoạch mùa màng và có kế hoạch giúp đỡ những gia đình có người đi dân công. Các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình có kế hoạch giúp đỡ, tổ chức nhân dân thu hoạch mùa màng tránh bị địch phá. Các cấp ủy và chính quyền địa phương tổ chức vận động giúp đỡ các gia đình có người đi dân công, có nơi đã tổ chức làm tập thể giúp đỡ nhau, cho dân công an tâm đi phục vụ.
Thứ ba, dân công đi phục vụ được tổ chức chặt chẽ từ xã, có tổ chức đảng trong lực lượng dân công nên giáo dục chính trị nâng cao tinh thần phục vụ chiến dịch lúc gặp khó khăn được thực hiện tốt. Dân công được tổ chức theo từng xã, huyện, tỉnh và lấy xã làm cơ sở. Mỗi xã tổ chức thành một đơn vị, cấp ủy và chính quyền xã chỉ định cán bộ phụ trách, có đảng viên làm nòng cốt, có tổ chức đảng để lãnh đạo. Trước khi đi, cấp ủy, chính quyền tổ chức giao nhiệm vụ, làm cho cán bộ cũng như dân công thấy trách nhiệm của mình đối với địa phương. Mặt khác, tổ chức theo từng xã như vậy, cán bộ hiểu rõ được tình hình dân công trong xã quen biết nhau, đoàn kết giúp đỡ nhau trong khi phục vụ. Nhờ có tổ chức chặt chẽ nên việc tiến hành giáo dục, lãnh đạo tư tưởng dân công tốt, đồng thời dễ dàng phát hiện những phần tử phá hoại để kịp thời có biện pháp ngăn chặn.
Thứ tư, về công tác chính trị với dân công cũng được rút kinh nghiệm. Công tác chính trị có những hình thức phong phú như kiểm điểm công tác hằng ngày, biểu dương khen thưởng kịp thời, phổ biến tin chiến thắng. Tăng tình đoàn kết giữa các dân công với nhau, giữa bộ đội và dân công, giữa dân công và nhân dân địa phương, liên hệ mật thiết giữa tiền phương và hậu phương để động viên dân công phục vụ. Các buổi liên hoan giữa bộ đội và dân công giữa các dịp Tết, nhân dân địa phương Hòa Bình giúp đỡ dân công, các đại biểu từ hậu phương ra tiền tuyến úy lạo dân công...
Thứ năm, về sử dụng dân công, Chiến dịch Hòa Bình cho thấy khi đã sử dụng một số lượng lớn dân công thì phải có kế hoạch chu đáo. Nếu không có kế hoạch chu đáo thì chẳng những gây lãng phí lớn về nhân lực mà còn làm ảnh hưởng đến kế hoạch tác chiến. Trong Chiến dịch Hòa Bình, Ban Dân công tiền phương có nhiệm vụ liên hệ với Ban Vận tải tiền phương nhưng chưa quy định rõ, Ban Dân công cử cán bộ đến trạm nhưng cán bộ lại bỡ ngỡ với nhiệm vụ, không rõ phải tiến hành công việc như thế nào, có khi can thiệp vào kế hoạch của trạm làm trở ngại cho việc điều động dân công thực hiện kế hoạch vận chuyển giao cho vận tải trong từng đợt kế hoạch không dứt khoát.
Thứ sáu, việc sử dụng dân công đôi khi còn lãng phí, thiếu kế hoạch chưa thực sự chú trọng trong việc bảo vệ chăm nom đời sống cho dân công. Có nhiều đợt dân công đau ốm nhiều, có đơn vị dân công ốm đến 50% quân số1 (Quân đội nhân dân Việt Nam, Công tác hậu cần Chiến dịch Hòa Bình Đông Xuân 1951 -1952, Sđd, tr. 28). Đôi khi để dân công gồng gánh quá mức nên dân công phàn nàn...
Thành công trong công tác huy động và tổ chức lực lượng dân cộng là yếu tố quan trọng góp phần bảo đảm cho thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình. Vượt qua khó khăn về địa hình, đường sá xa xôi, vượt qua thời tiết khắc nghiệt, qua bom đạn của kẻ thù, các đơn vị dân công đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, kịp thời phục vụ chiến đấu. Bên cạnh đó, việc huy động và tổ chức dân công còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm làm tiền đề quan trọng để chúng ta tổ chức tốt lực lượng dân công phục vụ các chiến dịch lớn sau này như Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, Chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #156 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2025, 09:15:21 pm » |
|
"PHÒNG TUYẾN SÔNG ĐÀ" TRONG KẼ HOẠCH CHIẾM ĐÓNG HÒA BÌNH CỦA THỰC DÂN PHÁP Trung tá, ThS NGUYỄN NGỌC ĐÔNG Khoa Binh chủng, Trường Sĩ quan Lục quân 1 Sau thất bại ở biên giới trong Thu - Đông 1950, thực dân Pháp buộc phải rút khỏi hàng loạt các vị trí trọng yếu dọc Đường số 4 từ thị xã Cao Bằng (tỉnh Cao Bằng) đến Đình Lập (tỉnh Lạng Sơn), thậm chí còn phải từ bỏ 2 thị xã là Lào Cai và Hòa Bình. Đến tháng 12 năm 1950, Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Lattre de Tassigny) được cử giữ chức Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương thay cho Cao ủy Pinhông (Pignon) và Tổng Chỉ huy Cácpăngchiê (Carpentier). Đây là lần đầu tiên có một nhân vật cùng lúc nắm cả hai chức vụ cao nhất về chính trị, quân sự của Pháp ở Đông Dương. Sau khi nắm tình hình Đông Dương, Đờ Lát đưa ra một bản kế hoạch tống quát về chính trị và quân sự nhằm giành lại quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ và đảo ngược chiều hướng thất bại của quân Pháp. Theo đó, thực dân Pháp nhanh chóng củng cố đội quân viễn chinh và xây dựng, phát triển lực lượng tay sai quân đội "Quốc gia Việt Nam"; tập trung các tiểu đoàn Âu - Phi tổ chức thành các binh đoàn cơ động (Groupement Mobile, viết tắt là GM); lập phòng tuyến đế bảo vệ trung du và đồng bằng Bắc Bộ; đẩy mạnh càn quét bình định vùng chiếm đóng, càn quét lấn chiếm vùng tự do, phá hoại căn cứ du kích, khu du kích; sử dụng viện trợ quân sự của Mỹ, gấp rúí chuẩn bị, tạo điều kiện phản công giành lại quyền chủ động chiến lược. Để có đủ lực lượng và phương tiện chiến tranh, Đờ Lát kiến nghị phải được tăng cường tối đa về không quân, 11 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đơn vị xe cơ giới. Ngoài ra, Đờ Lát còn dự kiến thêm 1 sư đoàn bộ binh, 11 đại đội phòng không, 1 hàng không mẫu hạm và 1 hạm đội vận tải... Những đề nghị của Đờ Lát đã được các thành viên Chính phủ Pháp chấp thuận một phần. Pháp quyết định điều từ chiến trường Bắc Phi 11 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn cơ giới, 4 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh và 1 tiểu đoàn thông tin bổ sung cho chiến trường Đông Dương, với điều kiện, những đơn vị này sẽ phải được điều trả cho Bắc Phi vào đầu năm 1952. Nhờ đó, đến cuối năm 1950, tổng lực lượng quân Pháp ở Đông Dương là 239.000 quân, trong đó có 117.000 lính Âu - Phi (riêng số binh lính Pháp có 63.000 quân), về đơn vị, thực dân Pháp có 118 tiểu đoàn bộ binh, 13 tiểu đoàn pháo binh, 3 trung đoàn thiết giáp, 143 máy bay các loại (40 máy bay khu trục), 263 tàu các loại, trong đó có 3 tàu lớn; 1 tuần dương hạm (Duguay Troin), 1 thông báo hạm hạng nặng (La Grondière) và 1 thông báo hạm hạng nhẹ (La Moqueuse) 1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 19,21). Riêng về tài chính, đến năm 1951, ngân sách của Pháp dành cho cuộc chiến tranh ở Đông Dương lên tới 308 tỷ phơrăng, tăng 107 tỷ phơrăng so với năm 19502 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 19,21). Được bổ sung thêm lực lượng, phương tiện và ngân sách, Đờ Lát nhanh chóng lập phòng tuyến bao quanh khu vực Bắc Bộ gồm 113 vị trí, do 20 tiểu đoàn Âu - Phi chiếm đóng, kéo dài từ Hồng Gai, Đông Triều, Lục Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Sơn Tây, Hà Đông đến Ninh Bình; đồng thời, mở các cuộc hành quân càn quét quanh vòng ngoài. Đờ Lát tin rằng, với một"vành đai trắng" gồm hệ thống lô cốt, lực lượng và vũ khí, kết hợp với các binh đoàn cơ động sẽ đánh bật được tất cả các cuộc tiến công của bộ đội ta vào đồng bằng, chặt đứt mọi sự liên lạc giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với các vùng khác của Việt Bắc, Tây Bắc và Liên khu 4, tạo thế ổn định lâu dài cho vùng chiếm đóng của chúng. Nhận định về phòng tuyến Đờ Lát, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ rõ: "Những khối bê tông thấp lùn với lỗ châu mai sâu hoắm nằm sát mặt đất, như những con quái vật phục trên mọi nẻo đường từ vùng tự do dẫn vào vùng tạm chiếm, sẵn sàng dùng lưới lửa thiêu cháy bất cứ người lính, anh cán bộ, chị dân công nào định vượt qua" 1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 789). Một năm sau khi tập trung lực lượng tiến hành "chiến tranh tổng lực" cao độ và đạt được những kết quả ban đầu, Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương cho rằng: "Cán cân đã nghiêng về Pháp, đã đến lúc có thể dứt khoát từ bỏ thái độ phòng ngự mà Pháp đã chịu đựng từ năm 1948, nhất là từ cuối năm 1950, để chuyển sang thế tiến công" 2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Sđd, tr. 417). Tháng 10 năm 1951, sau cuộc hành quân thọc sâu vào vùng tự do Thanh Hóa, nhằm phá hậu phương cuộc kháng chiến, buộc chủ lực ta phải giao chiến ở địa bàn mới lạ, xa căn cứ Trung ương ở tỉnh Thanh Hóa bị lỡ dờ, Đờ Lát gấp rút thực hiện ý đồ "đánh đòn quyết định" bằng cuộc hành quân "chớp nhoáng" đánh chiếm Hòa Bình. Theo toan tính của giới quân sự Pháp, tỉnh Hòa Bình có vị trí trọng yếu, là đầu mối giao thông quan trọng giữa Việt Bắc với các tỉnh đồng bằng sông Hồng và vùng tự do Liên khu 4, là cửa ngõ tiến lên Tây Bắc, thông sang Thượng Lào; nếu Pháp chiếm được Hòa Bình, không những thực hiện được việc chia cắt chiến trường mà còn mở rộng phòng tuyến phía Tây Nam của đồng bằng Bắc Bộ, "cứu" Tây Bắc khỏi bị cô lập, uy hiếp trực tiếp vùng tự do của ta ở các tỉnh Phú Thọ, Ninh Bình và Thanh Hóa. Quan trọng hơn, Đờ Lát tin rằng với việc chiếm đóng Hòa Bình sẽ thu hút được chủ lực ta đến chiến trường đã chọn và sẵn sàng "nghiền nát" lực lượng của ta. Với thắng lợi về mặt quân sự ở Hòa Bình sẽ tạo thế cho việc lập lại "Xứ Mường tự trị", tiếp tục thực hiện chính sách chia rẽ dân tộc, biến nơi đây thành bàn đạp tiến công vào vùng núi rừng phía Bắc, cô lập, tiến tới tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Ngày 9 tháng 11 năm 1951, dưới sự chỉ huy của Đờ Linarét (De Linarès), quân Pháp mở cuộc hành quân Tuylíp (Tulipe) gồm các binh đoàn cơ động GM1, GM2 và GM3, 1 tiểu đoàn dù lê dương; 2 đại đội Commăngđô 21 và 22 chia thành ba mũi tấn công Chợ Bến, mở đầu cho kế hoạch tái chiếm Hòa Bình. Trong 2 ngày hành quân đánh chiếm, quân Pháp đã bắn và đốt phá 36 xóm ven Đường số 21, giết hại hàng chục người dân. Từ Tế Tiêu đến Chợ Bến, từ Chợ Bến lên Xuân Mai, từ Miếu Môn đến Ba Thá, địch đóng 20 cứ điểm, hình thành một tuyến phòng thủ liên hoàn nối Đường số 6A với tuyến sông Đáy. Sau khi chiếm Chợ Bến, ngày 14 tháng 11, dưới quyền chỉ huy của Xalãng (Salan) - Phó Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, Pháp tăng cường thêm 2 binh đoàn cơ động (GM4, GM7), 3 tiểu đoàn dù, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp và 2 đại đội xe tăng mở tiếp cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm thị xã Hoà Bình, Đường số 6, Ba Vì. Ngoài ra, một lực lượng dự bị gồm tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo binh 105mm và 1 đại đội xe tăng được tập kết ở Hà Nội, sẵn sàng ứng chiến khi cần thiết. 17 giờ ngày 14 tháng 11 năm 1951, quân Pháp chiếm được thị xã Hòa Bình, sang ngày 15 tháng 11, chúng hoàn thành việc chiếm đóng các vị trí then chốt trong khu vực Hòa Bình - Đường số 6, sông Đà - Ba Vì. Chiếm được Hòa Bình, với lực lượng đông, được trang bị vũ khí hiện đại, thực dân Pháp nhanh chóng cấu trúc hệ thống phòng ngự dã chiếngồm 28 cứ điểm lớn, nhỏ với những công sự bằng gỗ đất và hàng rào dây thép gai vây quanh; tổ chức tuyến phòng ngự thành 2 phân khu: Phân khu Sông Đà-Ba Vì (Phân khu Bắc), gồm 5 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn dù, 1 trung đội xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo binh do Đại tá Đôđờliơ (Dodelier) chỉ huy, Sở Chỉ huy đặt tại Đan Thê. Phân khu Hòa Bình - Đường 6 (Phân khu Nam) có 6 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội xe tăng do Đại tá Clêmăng (Clement) chỉ huy. Ngoài ra, Phân khu Chợ Bến (Phân khu tiền đồn phía Đông) có nhiệm vụ bảo vệ thị xã Hòa Bình. Tại mỗi phân khu là một cụm cứ điểm lớn bao gồm hàng chục vị trí cứ điểm nhỏ khác. Lực lượng địch ở mỗi phân khu sẵn sàng cơ động, ứng cứu được cho nhau khi bị ta tiến công. Lúc này, có thể khẳng định, lần đầu tiên trên chiến trường Đông Dương, hình thức phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm của địch đã xuất hiện - "một hình thái phòng ngự mới của quân Pháp ở miền rừng núi. Nó hoàn toàn khác với các cứ điểm của địch trước đây. Khi tiến đánh một cứ điểm nằm trong một hệ thống, bộ đội ta lúc nào cũng bị đạn bắn thẳng của địch đe dọa từ nhiều phía, có khi từ cả bốn phía" 1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.805).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #157 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2025, 09:17:34 pm » |
|
Để bảo đảm vững chắc hơn cho 2 phân khu trên, trên tuyến vận tải thủy chạy từ Trung Hà ngược lên thị xã Hòa Bình (dài 60km), thực dân Pháp nhanh chóng thiết lập "phòng tuyến Sông Đà" với nhiều cứ điểm chạy dọc hai bên bờ sông Đà, như: Trung Hà, La Phù, Đan Thê, Đồng Tâm, Đá Chông, Chẹ, Tu Vũ, Pheo... Tại mỗi cứ điểm, thực dân Pháp bố trí từ 1 - 2 đại đội bộ binh đóng giữ. Riêng tại các vị trí quan trọng như: Pheo, Chẹ, Đá Chông, Tu Vũ... có tới 3 đại đội bộ binh, được tăng cường 1 trung đội xe tăng và 1 trung đội pháo binh đóng giữ. Chúng chia "phòng tuyến Sông Đà" thành 2 khu then chốt phòng ngự: Khu then chốt thứ nhất là La Phù - Đan Thê, khu then chốt thứ hai là Tu Vũ - Núi Chẹ. Mỗi nơi địch bố trí 2 tiểu đoàn bộ binh, ngoài ra địch có 1 tiểu đoàn nhảy dù ở Đá Chông1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Báo cáo kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, Tập 2, tr. 22).
Các cứ điểm trên "phòng tuyến Sông Đà" cũng được bố trí chặt chẽ, trong thế liên hoàn, yểm trợ lẫn nhau và hỗ trợ chi viện được cho nhiều vị trí ngoài phạm vi của "phòng tuyến" trong trường hợp bị ta tiến công. Tại khu then chốt La Phù - Đan Thê được đánh giá là khu phòng ngự mạnh nhất do gần căn cứ của địch ở Sơn Tây và Trung Hà, chưa kể, từ căn cứ địch đến khu phòng ngự này có nhiều tuyến giao thông thủy, bộ dễ dàng cơ động ứng cứu khi bị ta tiến công. Tại khu then chốt Tu Vũ - Núi Chẹ, được đánh giá là tương đối yếu vì ở xa căn cứ địch, từ căn cứ của chúng đến đây chỉ có một tuyến giao thông đường thủy là sông Đà và một đường bộ từ Đá Chông lên Núi Chẹ. Khu này do Tiểu đoàn Marốc số 1, một đại đội thuộc Tiểu đoàn ngụy Mường số 6 với xe tăng, xe thiết giáp chốt giữ. Nhưng đây lại là cứ điểm được cấu trúc kiên cố, chia thành 3 khu: Khu A, xung quanh được phát quang rộng 100m và những lớp rào, bãi mìn rộng 24m. Khu C được tách khỏi Khu A, B bằng ngòi Lát do 1 đại đội địch chiếm giữ, có 1 lô cốt và 7 ụ chiến đấu bao quanh. Khu A có 1 đại đội bộ binh, 6 ụ chiến đấu bao quanh lô cốt lớn, được trang bị hỏa lực 12,7mm, ĐKZ 57mm, cối 81mm. Khu B có Sở Chỉ huy Tiểu đoàn và 2 đại đội bộ binh được trang bị ĐKZ 57mm, pháo 37mm và nhiều ụ chiến đấu. Khi Tu Vũ bị ta tiến công, địch sẽ nhận được sự yểm trợ của pháo binh (19 khẩu) từ Đá Chông, Chẹ, Thủ Pháp bắn sang. Tương tự như ở Pheo, có tiểu đoàn 2 thuộc Bán Lữ đoàn lê dương 13 trấn giữ. Cứ điểm chia làm 3 khu: Đồi Pheo, làng Pheo và đồi Miều. Ngoài hỏa lực của bộ binh, ở đây địch còn có 4 khẩu đại bác 105mm và 1 trung đội xe tăng phối thuộc, cộng với sự chi viện bằng hỏa lực pháo từ những trận địa chung quanh như Chẹ, cầu Mè, Ao Trạch.
Đánh giá về "phòng tuyến Sông Đà", Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhận định: "Các cứ điểm ở Hòa Bình tuy đã được củng cố nhưng vẫn còn là công sự dã chiến, chúng liên kết với nhau thành một hệ thống nhưng vẫn nằm rải trên những tuyến dài, trong khả năng tiêu diệt của bộ đội ta. Trở ngại lớn trong các trận đánh không chỉ là lực lượng chiếm đóng vị trí, mà còn là hỏa lực chi viện từ xa của những trận địa pháo được tính toán rất kỹ lưỡng"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr. 788). Ngày 2 tháng 12 năm 1951, tại Hội nghị cán bộ, sau khi phân tích những ưu, nhược điểm của tuyến phòng ngự Hòa Bình nói chung, "phòng tuyến Sông Đà" nói riêng, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đề ra chủ trương tác chiến trên Mặt trận Sông Đà, trong đó nhấn mạnh: Để phá vỡ phòng tuyến Sông Đà đó, Bộ quyết định: "Tập trung lực lượng tiêu diệt Tu Vũ và Núi Chẹ, đồng thời tranh thủ đánh viện trên sông, trên bộ và bên hữu ngạn. Đánh Núi Chẹ và hữu ngạn thì địch có thể bị bất ngờ, ít nhất cũng giúp cho việc tiêu diệt Tu Vũ được thuận tiện hơn. Nếu địch chiếm lại, thì tranh thủ tiêu diệt lần nữa. Có thể đưa thêm lực lượng sang hữu ngạn đổ tùy theo tình hình cụ thể mà phát triển lên trên hay xuống dưới"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Báo cáo kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Sđd, tr. 25).
Thực hiện chỉ thị của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Bộ Tổng Tham mưu tổ chức nắm vững tình hình địch trên Mặt trận Sông Đà. Ngày 6 tháng 12, Bộ Tổng Tham mưu ra chỉ thị về vận dụng chiến thuật, phân tích rõ đặc điểm chiến trường,thuận lợi cho ta giấu quân và tác chiến, địch mới chiếm đóng, công sự chưa kiên cố, bộ đội ta qua chỉnh huấn có nhiều tiến bộ, nhưng có khó khăn là địa hình hẹp, đường giao thông ít, có sông lớn, địch bố trí tương đối tập trung thành cụm lớn, có nhiều binh chủng yểm hộ cho nhau. Do vậy, yêu cầu về chiến thuật trong hành quân phải tuyệt đối giữ bí mật, di chuyển vào ban đêm, bố trí cảnh giới nghiêm ngặt; trú quân phải xa đường cái lớn, cấm khói lửa ban ngày...; vượt sông phải có kế hoạch cảnh giới nghiêm mật đề phòng máy bay địch phát hiện, cho một bộ phận sang trước lập đầu cầu, tổ chức vượt sông phải có kế hoạch và trật tự, sang sông xong phải xóa dấu vết và sẵn sàng chiến đấu ngay; đánh công kiên phải có kế hoạch bám sát địch, đề phòng xe cơ giới của địch, kiềm chế pháo binh, cố gắng giải quyết trận đánh trong một đêm, nếu phải kéo dài sang ban ngày phải có kế hoạch đánh quân nhảy dù tại chỗ;... đánh viện binh trên sông phải phân tán hỏa khí, bố trí nhiều chặng trên một tuyến dài và có kế hoạch phòng không tích cực, làm trận địa giả nghi binh, lừa địch1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr 387-388).
23 giờ đêm 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 bắt đầu tiến công cứ điểm Tu Vũ - một vị trí quan trọng trên tuyến phòng ngự Sông Đà, mở đầu Chiến dịch Hòa Bình. Đến 5 giờ sáng 11 tháng 12 năm 1951, ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Trận đánh làm rung chuyển phòng tuyến Sông Đà của địch, khai thông đường vận chuyển từ hậu phương Việt Bắc tới Mặt trận Hòa Bình, tạo điều kiện làm tan rã phòng tuyến Sông Đà, khép chặt vòng vây, đánh thẳng vào căn cứ của địch ở thị xã Hòa Bình, góp phần đưa Chiến dịch Hòa Bình đến thắng lợi. Sau hơn 2 tháng chiến đấu (10.12.1951 - 25.2.1952), ở Mặt trận Hoà Bình ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm17 tàu, xuồng, phá hủy 12 khẩu pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 khẩu pháo và gần 800 súng các loại; đập tan "phòng tuyến Sông Đà", giải phóng khu vực Hòa Bình - Sông Đà giữ vững đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc với Liên khu 3 Liên khu 4; phá tan âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược mở rộng vùng chiếm đóng và lập "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #158 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2025, 09:20:21 pm » |
|
CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG PHỐI HỢP VỚI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH PGS, TS VŨ QUANG HIỂN Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội Từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh giặc ở cả mặt trận chính diện và sau lưng chúng, kết hợp đánh tập trung và đánh phân tán, đánh tiêu diệt và đánh tiêu hao là một điển hình thành công của Đảng trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong Chiến dịch Hòa Bình, quân dân đồng bằng sông Hồng phát triển mạnh chiến tranh du kích, xây dựng và củng cố một hệ thống khu du kích và căn cứ du kích, góp phần đưa chiến tranh nhân dân lên đỉnh cao, làm ruỗng nát hệ thống chiếm đóng của quân Pháp, không chỉ biến hậu phương của địch thành tiền phương, mà còn thành hậu phương của cuộc kháng chiến. 1. Quân Pháp tiến công ra Hòa Bình - cơ hội tốt để phát triển chiến tranh du kích ở địch hậu Bắc BộMùa Đông năm 1951, Tổng Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương - Đờ Lát đờ Tátxinhi (Jean de Lattre de Tassigny) huy động hơn 20 tiểu đoàn bộ binh cơ động chiến lược, với sự chi viện của cơ giới, pháo binh và không quân, mở cuộc hành quân đánh chiếm Hòa Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ, kéo chủ lực Việt Minh ra nơi chúng chuẩn bị sẵn để tiêu diệt, nối lại "Hành lang Đông - Tây". Nhận định đây là cơ hội tốt để tiêu diệt địch, Bộ Chính trị phê chuẩn đề nghị mở chiến dịch Hòa Bình của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tham mưu. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch. Bản chỉ thị phân tích tình hình và khẳng định: "Địch dùng phần lớn lực lượng Âu - Phi tinh nhuệ của chúng ở Hòa Bình, buộc phải sơ hở ở các mặt trận khác và ở sau lưng địch". "Đó là cơ hội tốt để ta tiêu diệt địch... Vậy ta phải nắm cơ hội tốt này tranh thủ thời gian để đánh địch, tiêu diệt sinh lực của địch trên mặt trận Chợ Bến, Hòa Bình, trên các mặt trận khác và khắp vùng du kích sau lưng địch, phá âm mưu quân sự mới của địch". Bản chỉ thị xác định: "Ở tả ngạn sông Hồng Hà, chúng ta phải ra sức tăng cường sức chiến đấu cho bộ đội và dân quân du kích. Lúc này là cơ hội rất tốt cho chiến tranh du kích ở tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng Hà phát triển, hoạt động mạnh mẽ và liên tiếp để tiêu diệt địch, khôi phục, củng cố và mở rộng căn cứ du kích. Đó cũng là cơ hội tốt để tiến hành công tác vận động ngụy binh" 1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.tr. 596-598). Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở chiến dịch Hòa Bình với binh lực 3 đại đoàn (308, 312 và 304), đồng thời dùng 2 đại đoàn (320 và 316) phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương đánh phá thủ đoạn bình định của địch ở đồng bằng Bắc Bộ. Quân dân đồng bằng Bắc Bộ có cơ hội thuận lợi đề đẩy mạnh chiến tranh du kích gồm hai điều kiện: "1 - Địch đem quân ra ngoại tuyến, sơ hở trong nội tuyến (chiến trường chính đã thu hút các binh đoàn cơ động 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 5 tiểu đoàn dù của địch). 2- Chủ lực ta tiến sâu vào địch hậu, đánh liên lục, dài ngày, khoét sâu chỗ sơ hở, chỗ yếu của địch, cùng với lực lượng địa phương uy hiếp hệ thống chiếm đóng của địch, uy hiếp đường giao thông quan trọng, các đô thị, làm tê liệt tinh thần ngụy quân, ngụy quyền, dìu dắt nhân dân, dân quân du kích và bộ đội địa phương cả về quân sự và chính trị" 1 (Báo cáo tình hình dân quân du kích các liên khu, tổng kết phong trào du kích chiến tranh ở Bắc Bộ 1952, tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, tr. 5). Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy chỉ đạo các đảng bộ, chính quyền địa phương uổn nắn những sai lệch khi phối hợp với chiến trường chinh như: "Khuynh hướng rụt rè, do dự, không dám mạnh bạo hoạt động đón thời cơ; chậm chạp, không tận dụng được sờ hở của địch, bỏ lỡ cơ hội..., nặng chỉ đạo quân sự, nhẹ tranh thủ nhân dân, không chú ý củng cố cơ sở, nắm chắc nhân dân; chủ quan tếu, ẩu, công khai hóa khi phong trào lên" 2 (Báo cáo tình hình dân quân du kích các liên khu, tổng kết phong trào du kích chiến tranh ở Bắc Bộ 1952, tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, tr. 5). Hội nghị Liên Khu ủy 3 (11.1951 ) đề ra những nhiệm vụ cho bộ đội địa phương tả ngạn: Củng cố cơ sở du kích xã; khôi phục các căn cứ du kích bị mất, củng cố và mở rộng các căn cứ du kích mới; củng cố cơ sở chính trị. Theo mệnh lệnh ngày 20 tháng 11 năm 1951 của Bộ Tư lệnh Liên khu 3, nhiệm vụ của từng tỉnh là: - Thái Bình: Củng cố miền Nam, phục hồi cơ sở Tiên - Duyên - Hưng, tạo điều kiện khôi phục khu du kích. - Hải Dương: Củng cố cơ sở, khôi phục căn cứ du kích tây Ninh Giang, nam Thanh Miện. - Hưng Yên: Củng cố căn cứ du kích mới mở và phát triển cơ sở lên phía Bắc. - Kiến An: Củng cố và phát triển cơ sở Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Kiến Thụy, tạo điều kiện mở khu du kích nhỏ làm chỗ đứng. Ngày 27 tháng 11 năm 1951, Ban Chỉ đạo Mặt trận đồng bằng quán triệt nhiệm vụ và xác định kế hoạch Đông - Xuân nhằm đẩy mạnh tác chiến, phối hợp với mặt trận chính diện, tập trung đánh mạnh ở sau lưng địch, phá vỡ hệ thống chiếm đóng của địch, tranh thủ nhân dân, mở rộng và củng cố các khu du kích, căn cứ du kích. Toàn bộ đợt hoạt động trên chiến trường đồng bằng sông Hồng chia thành hai bước: Bước 1: Tập trung lực lượng bộ đội chủ lực cùng lực lượng vũ trang tại chỗ đánh mạnh ở Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Bắc Ninh, Vĩnh Yên và Phúc Yên, tiêu diệt lực lượng quân sự và phá bộ máy chính quyền cơ sở của địch, tạo địa bàn đứng chân đế tiếp tục đưa chủ lực tiến sâu hơn vào vùng đồng bằng. Bước 2: Cho Đại đoàn 320 (thiếu một trung đoàn) vượt sông Hồng, sang Thái Bình cùng Trung đoàn 42 chủ lực Liên khu và bộ đội địa phương, dân quân du kích đẩy mạnh tác chiến, khôi phục và mở rộng các căn cứ du kích và khu du kích ở tả ngạn, uy hiếp Đường số 5, đồng thời bên hữu ngạn tập trung 2 trung đoàn chủ lực (1 trung đoàn của Đại đoàn 320 và Trung đoàn 46 chủ lực Liên khu) cùng lực lượng vũ trang tại chỗ đẩy mạnh tác chiến ở Hà Nam, Nam Định để tiêu diệt địch, tạo thế căng kéo địch và tiếp tục mở rộng các vùng giải phóng hữu ngạn. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong Chiến dịch Hòa Bình đã mở ra bước phát triển mới của chiến tranh nhân dân ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #159 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2025, 09:23:03 pm » |
|
2. Đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, giữ vững thế chủ động trên chiến trường (từ trung tuần tháng 12 năm 1951 đến đầu tháng 1 năm 1952)
Trước Đông - Xuân 1951 - 1952, hầu như toàn bộ vùng đồng bằng sông Hồng bị quân Pháp kiểm soát, một vài khu du kích lẻ tẻ còn được duy trì đều nằm trong thế bị địch bao vây và uy hiếp thường xuyên.
Từ khi mở màn Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951), các đơn vị bộ đội chủ lực tiến về đồng bằng, dựa vào dân để hoạt động. Phối hợp với mặt trận chính diện, phong trào chiến tranh du kích ngày càng lên cao khắp các tỉnh đồng bằng. Bộ đội địa phương và dân quân du kích đẩy mạnh hoạt động tác chiến, cùng với bộ đội chủ lực các đại đoàn 320 và 316 tiến công đồn bốt địch, tiêu diệt và tiêu hao nhiều sinh lực quân Pháp, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá tề, sôi nổi nhất là ở các tỉnh hữu ngạn.
Tại Ninh Bình, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp cùng bộ đội chủ lực Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52 Đại đoàn 320 diệt nhiều vị trí địch ở Phát Diệm, Yên Mô, Yên Khánh, đánh phá giao thông trên Đường số 10, tạo điều kiện cho chiến tranh du kích phát triển, tiêu diệt 2/3 quân chiếm đóng của địch, hỗ trợ quần chúng nôi dậy phá 128 trong tổng số 138 ban tề, giải phóng gần hết huyện Yên Mô, mở các khu du kích I và II gồm 13 xã thuộc huyện Kim Sơn, nối liền với khu du kích Khánh Trung - Khánh Thiện, Khánh Hội, Khánh Vân (Yên Khánh), Yên Lạc (Yên Mô), làm rung chuyển hệ thống chiếm đóng của địch ở phía Nam tỉnh và trực tiếp tạo bàn đạp cho bộ đội chủ lực vượt sông Đáy đánh sâu hơn nữa vào vùng địch hậu phía Nam tỉnh Nam Định.
Ở Hà Nam, có Trung đoàn 64 Đại đoàn 320 về hoạt động, tiến công nhiều vị trí quân Pháp, hỗ trợ chiến tranh du kích phát triển, chuyển hàng loạt thôn, xã tạm chiếm thành làng, xã chiến đấu, san phẳng 14 cứ điểm, bức hàng 24 cứ điểm khác, diệt 45 trong tổng số 50 vị trí tề vũ trang, hương, tổng dũng; phá 320 trong tổng số 380 ban tề, mở rộng cơ sở chính trị ở khắp nơi. Phong trào xây dựng thôn "trang chiến" lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia, hình thành nhiều khu du kích và căn cứ du kích ở các huyện.
Tại Hà Đông, dân quân du kích cùng nhân dân nổi dậy tổng phá tề, phối hợp với lực lượng vũ trang tiêu diệt và bao vây, bức rút nhiều vị trí của quân Pháp, phục hồi cơ sở ở 171 thôn, mở cáckhu du kích Nam Ứng Hòa, Đông Phú Xuyên, Tây Phú Xuyên Đông Thường Tín và Nam Liên Nam...
Ở Nam Định, lực lượng vũ trang đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ quần chúng tổng phá tề, mở rộng khu du kích trong toàn huyện Giao Thủy và Hải Hậu; 10 xã của huyện Trực Ninh; miền hạ Nghĩa Hung; 5 xã ở Ý Yên; 2 xã ở Mỹ Lộc. Địch điều Binh đoàn cơ động số 4 từ Hòa Bình về đối phó, song không làm thay đổi được tình thế, mà còn bị phục kích ở khắp nơi, chịu nhiều tổn thất.
Ngày 11 tháng 12 năm 1951, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị gửi Ban Cán sự và các tỉnh ủy tả ngạn Liên khu 3 về việc phối hợp chặt chẽ với chủ lực ở Mặt trận Hòa Bình - Chợ Bến. Bản chỉ thị nhấn mạnh: "Hiện nay, phần lớn lực lượng cơ động của địch ở Bắc Bộ đã tập trung vào Mặt trận Chợ Bến - Hòa Bình. Vì vậy, mà ở tả ngạn cũng như ở nhiều nơi khác địch rất sơ hở". "Trước cơ hội rất tốt cho công cuộc vận động đấu tranh chống địch ở vùng tạm bị chiếm và vùng du kích, Trung ương đã chỉ thị cho các khu phải kịp hành động phối hợp chặt chẽ với chủ lực ta đang tiêu diệt địch ở mặt trận Hòa Bình - Chợ Bến". Các tỉnh tả ngạn phải hết sức lợi dụng cơ hội này để củng cố cơ sở nhân dân xúc tiến công tác ngụy vận, đẩy mạnh chiến tranh du kích, "khôi phục lại các khu du kích và căn cứ du kích, đồng thời có thể mở rộng thêm nhiều khu du kích và căn cứ du kích mới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 617-618).
Chấp hành chỉ thị trên, các lực lượng vũ trang địa phương ở tả ngạn sông Hồng đẩy mạnh tác chiến, diệt nhiều vị trí quân Pháp. Bộ đội địa phương và dân quân du kích Thái Bình hỗ trợ quần chúng nôi dậy phá tề, diệt dõng ở Đông Quan, Thụy Anh, Phụ Dực, Tiền Hải, mở lại các khu du kích trong vùng.
Tại Kiến An, Tỉnh ủy và Tỉnh đội chủ trương đẩy mạnh hoạt động phối hợp chiến trường, nhanh chóng khôi phục và phát triển cơ sở trong vùng tạm bị chiếm, trọng điểm là phục hồi khu du kích Tiên Lãng - Vĩnh Bào. Sau hơn một tháng kiên trì bám đất, bám dân của cán bộ và lực lượng vũ trang địa phương, cơ sở chính trị ở 2 huyện đã được xây dựng lại, phong trào chiến tranh du kích bùng lên mạnh mẽ, đập tan một số cuộc càn quét của quân Pháp.
Tại Bắc Ninh, Trung đoàn 98 Đại đoàn 316 vào hoạt động ở Nam phần, diệt nhiều cứ điểm của địch ở Lang Tài, cầu Đuống, Gia Lâm, tạo điều kiện cho lực lượng dân quân du kích phát triển, nhiều cán bộ bị "bật đất"trở về địa bàn, bám đất, bám dân, gây dựng cơ sở chính trị, chuẩn bị điều kiện mở khu du kích.
Với sự hỗ trợ của bộ đội chủ lực, chiến tranh du kích phát triển mạnh trong lòng địch đã tạo ra thế trận mới ở đồng bằng, làm cho hậu phương của quân Pháp mất ổn định và buộc chúng phải đối phó lúng túng ở cả phía trước mặt và sau lưng. Trung ương Đảng nhận định: "Việc đánh ra Chợ Bến, Hòa Bình của địch về căn bản là một thất bại quân sự khá nặng. Không những địch bị thiệt hại nhiều về sinh lực mà công trình củng cố địch hậu chúng tiến hành suốt một năm ròng, chỉ trong hơn một tháng trời đã bị ta làm cho hoàn toàn sụp đổ". "Địch lại bị thêm một uy hiếp mới do chỗ chủ lực ta vào địch hậu. Chúng định giành lại thế chủ động nhưng lại càng bị động thêm nhiều". Cơ sở kháng chiến trong địch hậu "đã phát triển, chiến tranh du kích đang lên mạnh. Ta đã khôi phục và mở rộng được nhiều căn cứ, thu được nhiều kinh nghiệm. Thế chủ động của ta càng vững chắc". Trung ương Đảng dự kiến: "Hiện thời địch đang còn phải giữ nhiều lực lượng đối phó với những hoạt động của ta ở tuyến ngoài, hậu phương của chúng còn sơ hở nhiều. Nhưng sau này thì chúng có thể tập trung lực lượng về càn quét, củng cố lại". Những cuộc càn quét đó có thể sẽ khốc liệt nhưng lực lượng kháng chiến đã phát triển mạnh, "cơ sở và căn cứ được mở rộng, nếu chúng ta cố gắng, âm mưu của địch nhất định không thành và hình thái chiến trường thay đổi đối với ta cũng rất nhiều thuận lợi"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 4-5, 9).
Biến hậu phương của địch thành tiền phương của kháng chiến quân dân đồng bằng sông Hồng làm thất bại một bước quan trọng âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của thực dân Pháp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|