Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:39:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức công binh Trường Sơn  (Đọc 22017 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #40 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2025, 08:53:19 pm »

Kỹ Sư
NGUYỄN QUỐC KHÁNH


Sinh năm:   4/1938
Quê quán và thường trú: Chi Phong, Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình
Điện thoại: 030.3621229
Cán bộ Kỹ thuật Viện Thiết kế, Bộ GTVT vào Quân đội
Nguyên Chuẩn uý, Tổ trưởng, Đội Khảo sát Công binh, Trợ lý Phóng Công trình Cục Tham mưu Công binh 559, Bộ Tư lệnh 559
Chuyển ngành về lại Viện Thiết kế, Bộ GTVT


NHỮNG NGÀY ĐÁNG NHỚ


Đại đội phó Khảo sát Nguyễn Vĩnh giao nhiệm vụ cho tôi, Nguyễn Ngọc Sửu và Chu Tân Đạt hành quân về Quảng Nam xuống sát đường 14.

Anh bảo lần này các đồng chí đi khảo sát tìm đường phục vụ chiến dịch sẽ gặp nguy hiểm, khó khăn gian khổ. Theo diễn biến của chiến trường, Ban chỉ huy Mặt trận sẽ giao nhiệm vụ cụ thể. Đại đội cũng chỉ biết thông tin tối thiểu. Chúc các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ, nhanh chóng trở về đại đội.


Tôi thay mặt anh em hứa vượt mọi khó khăn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Ngay ngày hôm sau, ba anh em đã lên đường. Đường về Quảng Nam tương đối xa, nên đê có mặt đúng ngày hẹn, chúng tôi phải hành quân vượt trạm giao liên.

Xuống gần đường 14, không khí chiến trường càng sôi sục, nóng bỏng. Nhiều đơn vị trang bị mạnh, hồ hởi, phấn khởi trùng trùng ra trận. Hoà vào đoàn quân, ba anh em, ba chiếc ba lô, ba dao quắm, ba khẩu súng, hai chiếc nồi và ít gạo cũng... đi chiến dịch.

Trên đường đi, chúng tôi gặp đội quân tóc dài chuyên gùi thồ - Tiểu đoàn Nam Hải anh hùng, các chị đều là nữ thanh niên đất Quảng. Vì quá gian khổ nên chị nào cũng xanh xao gầy yếu. Tiêu chuẩn một ngày chỉ hơn một lon gạo, thức ăn chủ yếu là rau rừng và mắm muối. Các cô bị ruồi vàng, muỗi, sâu, vắt cắn, nhiều cô chân tay nổi sần và lở loét. Sức mạnh nào đã thôi thúc để các cô có thể gùi những kiện hàng nặng vượt qua vực sâu, núi cao, bất chấp mưa gió, bom đạn? Thật đáng khâm phục các cô gái đất Quảng kiên cường dũng cảm, có sức chịu đựng phi thường. Những gùi hàng trên lưng các cô là thuốc men, đạn được, sẽ vượt qua đường 14 chuyển xuống đồng bằng. Lúc bình thường các cô gùi hàng, lúc chiến đấu các cô lại là chiến sĩ tải thương, nuôi quân, bên cạnh các đơn vị.


Không một trang sách, một bức ảnh, một thước phim nào có thể ghi lại sức chịu đựng phi thường, tinh thần dũng cảm của Tiểu đoàn Nam Hải anh hùng. Tuổi thanh xuân của các cô đã bỏ lại chiến trường, bỏ lại trên rừng núi, tiêu tan trong gian khổ. Hoà bình trở lại yên vui cho mọi người. Đến hôm nay ai mất ai còn, chồng con, gia đình họ ra sao?


Ngày 06 tháng 4 năm 1968, đến địa điểm tập kết, liên lạc dân chúng tôi vào sở chỉ huy Trung đoàn 10. Ở đó chúng tôi được gặp Tư lệnh Quân khu 5, Sư đoàn phó Sư đoàn Bộ binh và một số cán bộ cao cấp khác.

Tư lệnh trưởng Quân khu trực tiếp giao nhiệm vụ cho chúng tôi cùng Trung đoàn 10 kéo đài đường B46 thọc vào đường 14, và theo toạ độ đánh dấu trên bản đồ, tìm các đường kéo pháo vào chiếm lĩnh trận địa chuẩn bị nhả đạn vào Khâm Đức.

Đồn Khâm Đức là một cứ điểm mạnh án ngữ trên đường 14, phía tây tỉnh Quảng Nam, chặn đường vận tải của chúng ta. Cấp trên đã ra lệnh đánh nhổ đồn Khâm Đức. Trước lúc lên đường Tư lệnh còn chỉ thị thêm, đường phải kín, ít khối lượng, loại đường quân sự làm gấp. Vạch tuyến đến đâu trinh sát Trung đoàn 10 nhận đến đó để triển khai ngay. Trong quá trình tìm tuyến, gặp địch đông phải tránh, gặp địch ít, nếu có điều kiện bắt sống về khai thác. Tuyệt đối phải bí mật, cùng đi với các đồng chí có trinh sát Trung đoàn 10.


Tìm tuyến là nghiệp vụ thông thường của lính khảo sát. Dẫn tuyến ra sát đường 14, gặp bãi cỏ gianh, định vạch cỏ làm dấu. Bất ngờ ba chiếc trực thăng ào ào bay sát mặt đường, chúng tôi trông thấy lính Mỹ đứng ở cửa máy bay, tay lăm lăm khẩu súng. Chúng bay ra đồn Khâm Đức, bay vòng trở lại bắn mấy loạt đạn rồi hạ cánh.


Chúng tôi vào rừng tìm đường kéo pháo. Một cụm pháo là một đường riêng biệt vì vậy cũng khó và tốn nhiều thời gian. Trinh sát Trung đoàn 10 gan lì và rất mạo hiểm, dẫn chúng tôi vào gần đồn, nghe rõ tiếng chó sủa, tiếng vợ lính chửi nhau, tiếng bửa củi và tiếng léo nhéo của bọn con gái. Tôi rất sợ song vẫn bình tĩnh, mọi cử chỉ đều nhẹ nhàng không phát ra tiếng động. Tôi nghĩ nếu gặp bọn thám báo lúc này sẽ nguy hiểm. Tôi nhớ có ngày luồn rừng không thổi cơm được, ăn lương khô, uống nước suối rất xót ruột, nôn nao. Nhớ mãi một đêm không ngủ trong vòng kiểm soát của địch phải chuyển chỗ ở hai lần, trinh sát Trung đoàn 10 canh gác suốt đêm, tôi không tài nào ngủ được, thao thức trăn trở chờ trời sáng, đêm đó sao mà dài. Không ngủ nên nghĩ miên man, nhớ mẹ, nhớ người yêu, nghe rõ tiếng giun dế, tiếng gió, tiếng suối róc rách, đếm được từng loạt đạn.


Hoàn thành nhiệm vụ trở về Trung đoàn 10, chúng tôi được lệnh lùi ra xa, chuẩn bị hầm hào đề phòng tình huống xấu nhất. Khi ta đánh đồn Khâm Đức địch có thể đổ bộ, dùng máy bay oanh tạc, dùng B52 rải thảm, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu khi cần.

Quãng 21 giờ đêm ngày 12 tháng 4 năm 1968 có lệnh phát hoả đánh Khâm Đức. Súng nổ liên hồi rung chuyên núi rừng, máy bay gầm rú xé không khí, bom rung chuyển mặt đất, lửa đạn sáng bầu trời, nhiều tiếng nổ lớn.

Chúng tôi thao thức, không tài nào chợp mắt, chờ tin chiến thắng. Vào 18 giờ ngày 13 tháng 4 năm 1968, liên lạc Trung đoàn 10 đưa thư của Trung đoàn trưởng giao nhiệm vụ cho chúng tôi trinh sát đường 14 từ phía nam vượt qua đồn Khâm Đức về phía bắc đến ngã ba đường 14 và 16, liên lạc với trinh sát trung đoàn quân Giải phóng, địa điểm liên lạc cách cầu Đắc My từ 50 đến 100 mét về phía đông.


Suốt cả ngày 13 tháng 4, máy bay quần đảo ném bom B52 rải thảm, sáng ngày 14 tháng 4 năm 1968 đã phải lên đường vào nơi nguy hiểm. Tôi hơi sợ, đúng hơn là bồn chồn, song vẫn to ra cứng rắn bình tĩnh. Tôi viết vài dòng kẹp vào pin đài, rồi gửi lại chiêc đài bán dẫn Standard cho đơn vị. Nếu có mệnh hệ gì thì đồng đội sẽ chuyên chiếc đài về cho mẹ. Sáng 14 tháng 4 trời mưa như trút nước, đoàn chúng tôi gồm ba khảo sát và 6 trinh sát Trung đoàn 10 đội mưa lên đường.


Lần mò ra đến bờ sông, nước sông đã lên to, chảy xiết, nhưng dù thế nào cũng phải vượt qua sông. May quá, nhìn về hạ lưu thấy có chiếc bè, bỏ cả súng đạn, ba lô, quần áo lên mặt bè bám vào bè đẩy ra sông. Nước sông chảy xiết quá, người và bè trôi về hạ lưu, gặp chỗ nước cạn, vật lộn với dòng nước chảy xiết, cuối cùng cũng sang được sông. Men theo bờ sông lên đường 14 - hướng về Khâm Đức.


Máy bay địch lồng lộn ném bom bắn vu vơ chặn đường, chúng tôi phân tán, vừa đi vừa ẩn nấp. Ngày 14 tháng 4 chỉ ăn lương khô, uống nước suối, mắc võng bìa rừng nằm chờ...

Sáng 15 tháng 4 tiếp tục lên đường, quãng 10 giờ, gặp đơn vị công binh, chúng tôi vào bếp nhờ nấu cơm. Đến đây mới biết khi ta đánh Khâm Đức, địch chống cự yếu ớt và dùng trực thăng rút chạy. Mỹ chạy trước, nguỵ chạy sau, cuối cùng là... vợ con lính. Hiện còn một số không chạy kịp đang lẩn trốn trong rừng. Chúng tôi tiếp tuc tiến vào Khâm Đức, cách đồn hơn 1 ki lô mét thì máy bay đến oanh tạc, từng quả bom đen trũi bay qua đầu. Đồn Khâm Đức bốc cháy khói bụi ngút trời, đạn nổ liên tục. Sau đợt ném bom, chúng tôi vào đồn, lúc đó mưa to, sấm sét ầm ầm. Mưa tạnh dần, chúng tôi vào khu gia binh, nhà cửa tan hoang, đồ đạc vứt bừa bãi, ngổn ngang.


Quá 13 giờ ngày 15 tháng 4, chúng tôi vào trung tâm đồn Khâm Đức. Đồn rất rộng, có sân bay, nhà thờ, miếu thờ, câu lạc bộ, nhà chứa gái điếm, nhà công chính quản lý đường 14. Trong đồn hầm hào rất kiên cố, chúng tôi như lạc vào một phố nhỏ giữa rừng núi đã tan hoang vì bom đạn. Gặp bộ đội ta đang khẩn trương, vội vã thu dọn chiến trường, thu chiến lợi phẩm. Tàn quân địch lần lượt ra hàng. Bộ đội băng bó, phát thuốc cho lính Ngụy bị thương, phát lương thực, giấy tờ, khuyên họ về nhà làm ăn, bỏ hàng ngũ địch, một số giác ngộ, tự nguyện gia nhập quân Giải phóng.


Nhiều nơi trong đồn vẫn bốc cháy, khét lẹt khói bom như còn lẫn mùi tanh của máu. Rút chạy bằng máy bay nên xe pháo địch bổ lại hầu như nguyên vẹn. Mỹ lại dùng máy bay ném bom hòng tiêu huỷ. Trong đồn, hầm hào rất kiên cố. Máy bay ném bom, bộ đội xuống hầm trú ẩn, ngớt tiếng bom lại ra khỏi hầm làm nhiệm vụ. Chúng tôi thấy bộ đội ta nghi binh, rút binh khí kỹ thuật của địch vào rừng, làm binh khí giả lừa địch để khi có điều kiện thì mang ra sử dụng, trong đó có mấy chiếc máy húc, mấy chiếc xe ben, xe lu sơn màu vàng.


Hàng chiến lợi phẩm rất nhiều, chúng tôi lấy một ít thuốc lá, cà phê, đường sữa, thịt hộp, bánh kẹo, lương khô, và phải khẩn trương vượt khỏi đồn, tránh máy bay địch đến ném bom.

Ra bìa rừng phía bắc, gặp được hầm kiên cố, mọi người xuống hầm nghỉ đêm và nấu cơm chiều, nắm cả cơm sáng. Tôi nhắc anh em, không nên ăn nhiều bánh kẹo, đường sữa, sợ đau bụng ngày mai không đi được.

Đang chuẩn bị ăn cơm, 10 máy bay trực thăng ầm ầm bay qua hạ cánh xuống phía bắc, có khả năng địch đã đổ bộ chặn đường 14. Trước tình hình đó tôi họp anh em củng cố tinh thân, quyết tâm tìm phương án vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ. Căn dặn các đồng chí khảo sát, ngày mai dao quắm cầm tay, gặp địch đánh giáp lá cà thì dùng giao để chém. Tôi quan sát thấy đồng chí Sửu sờ vào lưỡi giao xem còn đủ sắc không.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #41 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2025, 08:54:46 pm »

Đêm 15 tháng 4, bộ đội ta đã dùng mìn phá công sự và sân bay, đề phòng địch đổ bộ chiếm lại Khâm Đức, tiếng nổ ầm ầm suốt cả đêm, một đêm chờ đợi... Sáng 16 tháng 4 năm 1968, 9 người chúng tôi chia làm ba tổ đi cách nhau khoảng 20 mét. Tổ đồng chí Sửu đi đầu, tổ tôi đi giữa, tổ đồng chí Đạt đi cuối.


Đường 14 đã được rải nhựa nhưng lau lách mọc sát lề đường. Một số quân địch và gia đình chúng chạy bộ rút về phía Bắc, do chạy vội nên giày dép trẻ em, quần áo, mũ nón, cả đạn dược rơi bừa bãi.

Đi được một quãng thì máy bay đến ném bom vào Khâm Đức - B52 rải thảm vào rừng. Máy bay OV10 lượn vòng trinh sát, vừa đi vừa ẩn nấp, vừa cảnh giác đề phòng địch tập kích. Chúng tôi cũng không biết 10 máy bay đã đổ quân ở đâu, dự đoán khả năng trước mặt có địch đang chặn đường.


Quãng 15 giờ, đến ngã ba thứ nhất, tôi phán đoán đây không phải ngã ba đường 10 vì sông Đắc My còn ở xa đường 14. Tôi ra lệnh đi tiếp. Đến ngã ba thứ hai, tổ đi đầu dừng lại ẩn vào lề đường cảnh giới. Tôi ra hiệu cho đồng chí Sửu tiến về phía cầu Đắc My. Tổ tôi cũng sẵn sàng chiến đấu yểm hộ khi có tình huống xấu, tổ sau cùng cũng vậy. Nhân lúc máy bay OV10 vòng ra xa, tôi tiến sát ngã ba cùng tổ đồng chí Sửu vượt qua cầu Đắc My. Hai đầu cầu rất trống trải, nguy hiểm. Hai nhóm chúng tôi nhanh chóng vượt qua cầu, tiến về phía đông 30 mét, đã gặp ngay các đồng chí trinh sát Trung đoàn Bình Minh ra đón. Vui mừng phấn khởi đến trào nước mắt. Số còn lại vẫn cảnh giác, lần lượt từng người vượt qua cầu. Cùng lúc đó 10 máy bay trưc thăng hạ cánh hôm qua cất cánh, có lẽ chúng chở tàn quân và vợ con lính lẩn trốn trong rừng. Tôi nhìn lại cầu Đắc My là cầu bê tông còn rất nguyên vẹn.


Trinh sát Trung đoàn Bình Minh dẫn chúng tôi về vị trí đóng quân của Trung đoàn. Tôi báo cáo tình hình cầu đường, các vị trí có thể giấu xe máy. Đây là cuộc gặp đầu tiên giữa các chiến sĩ khảo sát và trung đoàn quân Giải phóng Quân khu 5. Trung đoàn sắp xếp chỗ ăn ở cho chúng tôi.


Sáng 17 tháng 4... vẫn đội hình như cũ, chúng tôi hành quân trở lại Khâm Đức, đến ngã ba suýt nữa thì đồng đội bắn nhầm nhau. Đồng chí Thảng, Tham mưu phó Trung đoàn 10 dẫn bộ đội truy quét vùng ngã ba. Thoáng thấy chúng tôi, đồng chí tưởng là biệt kích, đã bố trí phục sẵn để tiêu diệt gọn, gần đến ngã ba, chờ đến gần hơn, lọt hắn vào vòng vây mới cho nổ súng...


Một phút nghi ngờ. Trong giây lát đồng chí Quý nhận ra chúng tôi. Anh hô to cho trinh sát Trung đoàn và các đồng chí khảo sát cùng nghe tiếng. Thủ trưởng Thảng cũng thét lên tất cả dừng tay rời vị trí. Anh nhảy ra ôm lấy tôi. May quá, may quá, suýt nữa bắn nhầm nhau, các đồng chí được nhận mỗi người một giấy báo tử. Bộ đội từ các bụi lau lách cũng nhảy ra đường.


Gặp đồng chí Thảng chúng tôi rất yên tâm, vì đã có lực lượng đủ mạnh, có người chỉ huy giỏi. Đi trên đường 14 một quãng, đồng chí Thảng dẫn chúng tôi vào rừng theo đường tắt về lại Trung đoàn. Tôi báo cáo kết quả công việc với thủ trưởng Trung đoàn 10 Đinh Hào. Trung đoàn trưởng nhẹ nhàng hỏi thêm một số chi tiết. Hình như sau khi gặp chúng tôi Trung đoàn Bình Minh đã báo cáo về Ban chỉ huy mặt trận - hai Trung đoàn cũng đã điện đàm trao đổi những vấn đề cơ bản.


Ba anh em chúng tôi được nhận phần thưởng bằng chiến lợi phẩm do Trung đoàn 10 cấp. Sáng 20 tháng 4 năm 1968, chúng tôi trơ về đại đội. Qua đường B46, con đường đã in nhiều vết xe tăng, xe xích, xe vận tải hạng nặng. Trước khi đánh đồn Khâm Đức, công binh đã cấp tốc làm đường. Đánh xong đồn Khâm Đức, ta tổ chức một đợt vận chuyển lớn binh khí, kỹ thuật xuống đường 14 và 16, chuẩn bị cho các trận đánh tiếp theo. Trong chiếc công chung đó, Đại đội khảo sát I Công binh và ba chúng tôi đã có vinh dự đóng góp.


Trên đường về chúng tôi gặp tổ khảo sát anh Đinh Kiện đang thị sát đường phía nam sông Bạc. Đồng đội gặp nhau giữa rừng trong gian khổ và bom đạn mừng vui không tả hết.

Tôi lấy thuốc lá thơm, chiến lợi phẩm mời các đồng chí, bỏ cà phê hoà tan và đường vào bi đông lắc lắc mời các anh uống. Tôi tặng anh Kiện một chiếc bút bi ba màu. Anh Kiện hỏi: Các cậu lấy đâu ra của này? Tôi trả lời: Đây là chiến lợi phấm chúng em thu được khi trinh sát đường phục vụ chiến dịch đánh đồn Khâm Đức. Tôi kể rành rọt từng chi tiết cho các đồng chí nghe.


Anh Đinh Kiện bảo: Các cậu nên ghi những ngày đáng nhớ đó vào nhật ký. Nếu hy sinh, quyển nhật ký đó sẽ được gửi về cho bố mẹ và người thân. Họ sẽ biết những ngày gian khổ chúng ta đã sống ở Trường Sơn, biết được những con đường ta đã khảo sát. Chiến tranh kết thúc, nếu còn sống, con cháu đọc những dòng nhật ký đó, biết ông cha chúng đã cống hiến như thế nào trong chiến tranh chống Mỹ. Về già đọc nhớ lại những ngày sáng chói và vinh quang. Đinh Kiện cười thật thà nhưng hóm hỉnh.

Một ngày đầu năm 2005, tôi trông cháu để các con và nhà tôi ra đồng chăm bón lúa.

Ông bưu tá xã đến nhà mời tôi nhận quà, ông trao cho tôi một gói nhỏ giống gói bánh quy, tên người gửi là Hoàng Ngọc Châu. Cháu nhỏ đòi bóc ngay, tôi cũng muốn mở ra xem anh Châu gửi cái gì. Gói quà chỉ có lá thư và một quyển sách. Vì không phải bánh kẹo nên cháu bắt vạ đòi ông mua kẹo. Tôi dỗ cháu không nín, đành phải ra quán mua kẹo.


Cháu vui vì có kẹo, ông vui đã có quyển "Bước chân vạn dặm" do các đồng chí cựu binh Khảo sát thiết kế Trường Sơn viết. Quyển sách đã khơi dậy trong tôi những ngày gian khổ ở Trường Sơn, nhớ lại những con đường mà tôi cùng đồng đội đã khảo sát, nhớ những trận mưa rừng, nhớ cơn sốt rét rừng, nhớ lại chiến trường xưa.


Tôi vô cùng thương tiếc các đồng chí đã hy sinh, nhớ rõ nét mặt và dáng dấp đồng chí Vĩnh, đồng chí Cư, đồng chí Tuân và nhiều đồng đội khác. Tôi bồi hồi nhớ lại bóng dáng tôi cùng đồng chí Sửu, đồng chí Đạt qua cầu Đắc My năm xưa.

Lục tìm cuốn nhật ký đã úa vàng còn lưu giữ 40 năm trước đây, thời gian đã qua lâu song còn rõ nét chữ. Những dòng trên đây, tôi rút từ tập nhật ký tôi đã viết theo lời động viên của anh Đinh Kiện. Tôi muốn giữ lời anh Đinh Kiện động viên năm nào, làm đầu đề bài viết: "Những ngày đáng nhớ!".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #42 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2025, 08:59:32 pm »

Trung tá
DƯƠNG CHẤN VƯỢNG


Sinh năm:   1940
Quê quán:   Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An
Thường trú: Nhà số 106/N12, K9, Ngõ 49, đường
Nguyễn Khoái, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại: 04.38214533 - 0948 517308
Nguyên cán bộ Viện Thiết kế Bộ GTVT biệt phái
Nguyên Tổ trưởng Đội Khảo sát 1, Trợ lý Phòng Thiết kế Cục Tham mưu Công binh
Nguyên Trưởng phòng Viện Khảo sát Thiết kế Binh đoàn 12


MỞ TRỤC DỌC ĐƯỜNG KÍN 24 MÙA MƯA NĂM 1971


Chủ trương làm đường kín ô tô chạy ngày của Bộ Tư lệnh Trường Sơn được đánh giá là quyết định thông minh, táo bạo, tổ chức thực hiện kiên quyết, đồng bộ, địch hoàn toàn bị bất ngờ, đã góp phần to lớn vào thắng lợi quyết định ở chiến trường (BBT).

Đến hết mùa khô năm 1970 - 1971, mạng đường Trường Sơn đã có 3 trục dọc từ Mụ Dạ vào đến chiến trường, 4 trục vượt khẩu và nhiều trục ngang sang phía đông với khoảng 7000 ki lô mét đường ôtô. Thế trận cầu đường đủ sức cho vận tải chiến lược thời kỳ đó.


Địch đã dùng mọi thủ đoạn đánh phá ngăn chặn, tăng cường hỏa lực, cho các loại máy bay cường kích, dùng B52 rải thảm cả vùng đất đai rộng lớn tìm kiếm huỷ diệt kho tàng, sinh lực, dùng trinh sát điện tử phát hiện mục tiêu, thậm chí huy động lục quân, không quân, pháo binh, xe tăng, xe bọc thép mở chiến dịch Lam Sơn - 719 đánh chiếm vùng đường 9 hòng chặt đứt ngang đường tiếp tế của ta.

Nhưng tất cả âm mưu của chúng đều bị thất bại thảm hại.

Không quân Mỹ cải tiến máy bay C130, trang bị hệ thống khí tài điện tử khuếch đại ánh sáng mờ, máy cảm ứng nhiệt và các máy tính chuẩn xác, có thể phát hiện được phương tiện của ta từ tia lửa điện ở động cơ xe, máy. Chúng dùng AC130 đã cải tiến săn lùng và khi bắt được mục tiêu dùng pháo 20 m/m, sau đó cải tiến thành 40 m/m bắn phá vào các đoàn xe, thậm chí từng chiếc xe chạy ban đêm. Thời gian này chúng gây cho ta nhiều tổn thất nặng nề về phương tiện, người và hàng hoá, thiệt hại đã tăng gấp 2,5 lần cùng kỳ năm trước.


Sau nhiều lần thử nghiệm thực tế, các cấp chỉ huy từ Bộ Tư lệnh đến các cấp, các cơ quan giúp việc cùng đi với lái xe trên đường dài vận tải, đều nhận xét thấy rằng AC130 có trang bị tia hồng ngoại chỉ phát hiện được lúc xe nổ máy chạy ban đêm. Thống nhất được nhận xét quan trọng chính xác đó, dựa vào địa hình, địa vật, địa thế của núi rừng Trường Sơn, tại hội nghị quân chính tháng 4 năm 1971, Bộ Tư lệnh quyết định xây dựng đường kín - đổi mới phương thức vận tải cho xe chạy ban ngày.


Công tác chuẩn bị được triển khai khẩn trương: Các binh trạm tìm tuyến đường kín phù hợp trong địa giới mình phụ trách, Cục Tham mưu Công binh nghiên cứu hướng tuyến chung trên bản đồ từ đường 18 tây Quảng Bình đến phía nam Sê San, chỉ đạo các binh trạm những điểm nối tiếp nhau giữa các binh trạm.


Nhất thiết phải bảo đảm nguyên tắc toàn tuyến đường phải kín, xe chạy được ban ngày, có vị trí tránh xe, nơi đặt kho tàng, vị trí tập kết xe. Để đảm bảo thời gian hoàn thành, phải huy động lực lượng vừa thiết kế, vừa thi công, trong mùa mưa, đầu mùa khô, vào tháng 10 năm 1971 phải đưa vào sử dụng.


Do yêu cầu yếu tố đường phải kín nên chấp nhận tuyến đường có thể vòng vèo dài hơn. Lực lượng gồm tất cả các đơn vị công binh trực thuộc, các tiểu đoàn công binh binh trạm, 10.000 dân công hoả tuyến thời hạn 3 tháng đến 1 năm của các tỉnh miền Bắc, 86 máy ủi, 108 xe ben, máy phát điện... được điều động phục vụ chiến dịch.


Bộ Tư lệnh thành lập "Phòng Dân công" thuộc Cục Tham mưu Công binh để quản lý dân công. Công tác khảo sát tìm tuyến đường giao cho đơn vị thi công tự lo trong phạm vi được giao, đội Khảo sát 1 thuộc Cục Tham mưu Công binh bảo đảm cho các đơn vị không có lực lượng khảo sát và những đoạn khó trên toàn tuyến.


Dân công hoả tuyến được thành lập cấp tiểu đoàn phối thuộc cho các trung đoàn công binh phía bắc đường 9, có tăng cường sĩ quan công binh chỉ huy, các huyện uỷ viên, chi uỷ viên của địa phương, có dân công được bố trí giữ chức chính trị viên tiểu đoàn, đại đội.


Với khí thế được phát động, các đơn vị được phân công vào chiến dịch mở "đường kín 24" như sau:

Trung đoàn 6 có đoàn "nữ Thanh niên Xung phong 104 Hai Giỏi tỉnh Quảng Bình" phối thuộc mở đường 69 điểm đầu từ Km 6 đường 18 đến ngã ba Quan Ta Long dài 64 ki lô mét. Đường đảm bảo kín rộng 4 mét, độ đốc dưới 12%, rải đá 47 ki lô mét trên đoạn biên giới Việt - Lào xe chạy được cả hai mùa mưa nắng.


Trung đoàn 217 thi công từ Quan Ta Long đến đường 32 dài 90 ki lô mét, thi công từ tháng 7 năm 1971 có máy húc xe ben tăng cường, sau hơn 1 tháng hoàn thành kể cả việc rải đá một số đoạn nền yếu.

Đội khảo sát 1 Cục Tham mưu Công binh bố trí lực lượng khảo sát và giao tài liệu cho cả hai Trung đoàn 6 và 217.

Trung đoàn 10 mở đường dài 90 ki lô mét từ nam Sê Băng Hiêng đến Lê Tiêng. Đoạn phía nam từ sông Sê La Nông vào Lê Tiêng có khối lượng lớn phải làm 50 ki lô mét đường công vụ qua sông Sê La Nông rộng 180 mét, lòng chủ sâu 2 mét đài 15 mét để đưa hai máy húc sang sông trước mưa lũ lớn nhằm chia ra hai mũi thi công. Sau 5 tháng Trung đoàn đã hoàn thành khối lượng đảm bảo đường kín đủ tiêu chuẩn. Ngày 25 tháng 11 năm 1971, Tư lệnh quân Giải phóng Trần Văn Trà đi ôtô từ bắc vào nam ban ngày thông suốt. Về đến Bộ Tư lệnh Miền, đồng chí đã điện ra Bọ Quốc phòng đề nghị thưởng Huân chương Quân công hạng Ba cho Trung đoàn 10.


Sau khi quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với Bạn giải phóng Sa La Van, Trung đoàn 10 được giao mở đường kín tiếp từ nam Sa La Van qua Phu Xa Nan, luồn qua khu rừng già tiếp nối với Bản Phồn trên đường 23 dài 41 ki lô mét, có 14 ki lô mét đèo dốc, tuy nhiên vẫn đảm bảo kín đáo.


Các binh trạm phía Bắc, những năm trước, khi làm các đường vòng đường tránh các đơn vị công binh đã có ý thức tìm đường kín. Nay được Bộ Tư lệnh giao làm đường kín trong mùa mưa 1971, các binh trạm chấp hành nghiêm túc đã hoàn thành được các tuyến đường sau đây:

Binh trạm 14: đường 20K dài 34 ki lô mét nối với đường QZ25 đến Lùm Pùm được rải đá 12 ki lô mét.

Binh trạm 31: đường từ kho C2 đến đường 9 dài 126 ki lô mét.

Binh trạm 9: đường Pha Băng Nưa dài 9 ki lô mét hoàn thành ngày 20 tháng 10 năm 1971.

Các binh trạm khác phía nam đường 9 cũng tự mình làm các đoạn đường kín ngắn nối tuyến kín 24 với các trục dọc 128, 22, và trục 23.

Sau khi đường kín hoàn thành, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết định thành lập thêm 5 binh trạm mới mang phiên hiệu 29, 30,45, 46, 47 để quản lý khai thác và ngay sau đó đã tổ chức lực lượng công binh quản lý đường trong phạm vi phụ trách.

Binh trạm 29: Bảo đảm từ Km 0 - Km 140. Tiểu đoàn 69 và một tiểu đoàn dân công tăng cường.

Binh trạm 30: Tiểu đoàn 53 bảo đảm từ ngã ba đường 36 đến Km 207 bắc Sê La Nông.

Binh trạm 45: Biên chế Tiểu đoàn 162, tăng cường có thời hạn Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 10, bảo đảm bắc Sê La Nông đến Km 299 Lê Tiêng, xây dựng khu trú đậu xe dài 2 ki lô met từ Km 289 đến 291.

Binh trạm 46: Tiểu đoàn 161, từ Bản Phồn đến S.9, ngầm 1 đường 22 đến Km 4 Tăng Cát C.

Binh trạm 47: Tiểu đoàn 1, từ dường 78 nối đường 22A vào kho K4 và đường 24 từ Keng Xay đến ngã ba đường 24.

Các Binh trạm 37, 50, 51, 53 đã thành lập từ trước, quản lý đường kín qua địa bàn của mình.

Các đơn vị công binh xây dựng được 5 cầu quân sự trên đường kín để xe chạy lấn mùa: đó là các cầu Nậm Ngo (58E)-tây Seng Phan, Rào Reng, Trà Ôn, Ta Hung, cầu nổi Keng Ly, nhiều cầu gỗ nhỏ cùng hệ thống ngầm đá trên các suối lớn nhỏ. Việc nguỵ trang giữ bí mật cầu, ngầm được xem là công tác thường xuyên.


Để đảm bảo vận chuyển đúng cung độ, Bộ Tư lệnh chỉ đạo việc xây dựng khu trú đậu xe. Kích thước khu trú đậu xe dài 1 đến 2 ki lô mét, chiều rộng 1 ki lô mét, tuyệt đối kín đáo, có hầm hào đảm bảo cho 1 tiểu đoàn có biên chế 100 xe trú đậu tập trung.

Lấy trục chính làm chuẩn, thiết kế 2 đường vòng hình số 8 để bảo đảm xe không phải quay đầu. Dọc đường vòng số 8 bố trí các đường xương cá cho xe đậu, mỗi xe cách nhau 20 mét. Trong khu trú đậu có trạm quan sát, có nhiệm vụ phát tín hiệu khi có máy bay. Binh trạm 32 xây dựng khu trú đậu xe bắc sông Sê Băng Hiêng, Binh trạm 30 xây dựng khu phía nam ngầm.


Mỗi tiểu đoàn công binh có từ 4 đến 6 trạm chỉ huy giao thông tại các ngã ba, bến vượt, nơi ngã tư đường đều phải có bảng chỉ đường, đường không sử dụng phải rào lại.

Đường kín có tên gọi là đường 24 điểm đầu từ đường 18, điểm cuối nam Sê San dài 740 ki lô mét. Xe chạy hoàn toàn ban ngày, địch không thể phát hiện được bằng bất cứ một thiết bị điện tử nào, kể cả các thiết bị có tia hồng ngoại hiện đại nhất được trang bị cho AC130. Đường 24 đã vô hiệu hoá hoàn toàn thủ đoạn đánh phá ngăn chặn đội hình xe chạy ban đêm của máy bay AC 130.


Các đơn vị vào chiến dịch đúng mệnh lệnh đã giao ngày 15 tháng 5 năm 1971, kết thúc tháng 01 năm 1972. Trên tuyến đường có nhiều bãi trú đậu xe, kho tàng bố trí hợp lý, có đường ngang cơ động, nhiều đoạn có đường kín đôi, đội hình chạy xe liên tục không ách tắc, có trạm nghỉ, tại đây lái xe được phục vụ hậu cần chu đáo, giữ gìn sức khoẻ, tạo tâm lý tốt cho lái xe. Tốc độ xe chạy đảm bảo 15-20 km/giờ, chạy lấn sáng lấn chiều đạt 150-180 km/ngày. Mùa vận chuyển 1971- 1972 đạt thắng lợi đòn dã, vận chuyển được 160.000 tấn, đạt 131% kế hoạch, giao cho chiến trường đạt 120 - 200%, riêng cho Trị Thiên đạt 440%.


Phát huy thắng lợi, các đơn vị công binh lại tiếp tục mở đường kín song song, chiều dài toàn hệ thống đường kín đạt được 3.400 ki lô mét vào cuối năm 1972.

Đã nhiều năm tham gia mở đường chiến lược vào chiến trường, đến nay công binh Trường Sơn mới được chứng kiến một quang cảnh lý thú:

Vào đầu mùa khô cuối tháng 10 năm 1971 tại Tà xẻng, ngã ba ba nước Đông Dương, các đồng chí Lương Tường, Phan Bá Liêm, Lê Đức Thảo khảo sát những đoạn khó giúp Trung đoàn 217 và Trung đoàn 10 phía bắc đã gặp tổ đồng chí Dương Chân Vượng khảo sát đoạn phía nam do Trung đoàn 4 thi công tại toạ độ dự kiến. Từ quân số ban đầu là 32 nay còn lại 14, trong suốt 6 tháng trời mùa mưa, gian khổ lăn lộn trong rừng sâu, phần đông anh em đã bị sốt rét rừng, ốm đau phải quay về đại đội hoặc đang gửi lại các đơn vị thi công phía sau điều trị chăm sóc.


Đã nắm chắc tình hình qua các đơn vị thi công, Cục trưởng Cục Tham mưu Công binh điện cho hai tổ khảo sát rút quân. Vào bản dân đổi được một ít thực phẩm cùng liên hoan, ngày hôm sau hai tổ chia tay.

Chỉ cách Tà xẻng vài ki lô mét, các đơn vị thi công đã triển khai, ôtô vận chuyển lương thực thực phẩm tận đơn vị thi công. Lần đầu tiên đi trên chiếc xe Zin 157 trên con đường mình vừa mới khảo sát xong, giờ đây bắt gặp hình ảnh trái ngược thường lệ. Các đơn vị thi công đang hối hả mở đoạn cuối đường, củng cố hoàn thiện đoạn đường đã mở, xe vận tải đi giữa ban ngày, hàng hoá chất đầy kho tạm dọc đường. Bề rộng nền đường chỉ 3,50 mét, các vòm cây được giữ lại cao từ 4 đến 5 mét phủ kín làn đường. Những đoạn trống ngắn đơn vị trồng cây bổ sung, làm dàn mướp treo phong lan, nguỵ trang triệt để. Phong lan khu vực này thích hợp với mọi thời tiết. Những dò phong lan đủ màu sắc nở hoa trên dàn mướp kết bằng tre trồng cả gốc, lá tre còn tươi xanh, trông thật thơ mộng.


Chuyến trở về đơn vị, như một truyện cổ tích thần kỳ, mới khảo sát xong tuyến đường ngày hôm trước thì chỉ vài hôm sau lại đã ngồi trên những chuyến xe vận tải trở về chính trên con đường mà mình đã luồn rừng lội suối vừa tìm, dài ngót ngàn cây số.

Đường 24 là trục dọc duy nhất trên hệ thống đường Trường Sơn không bị địch phát hiện đánh phá, đã sử dụng trong cả thời gian dài suốt 4 năm phục vụ vận chuyển nhiều binh đoàn, hàng ngàn cán bộ dân chính đảng, vũ khí khí tài có cả xe tăng, trọng pháo... vào các chiến trường đến mùa Xuân năm 1975, góp phần quan trọng cho chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.


Lợi dụng được yếu tố địa hình địa vật vùng rừng núi, tổ chức mở được trục đường kín dài hàng ngàn ki lô mét từ hậu phương lớn miền Bắc ra tiền tuyến lớn là một chủ trương táo bạo dám nghĩ dám làm của người chỉ huy cao nhất, được sự đồng lòng của cán bộ chỉ huy, chiến sĩ cấp dưới, là sáng tạo chống ngăn chặn thành công nhất của cán bộ chiến sĩ công tác chiến đấu trên chiến trường Trường Sơn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #43 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2025, 09:04:10 pm »

ĐƯỜNG 14 XÂY DỰNG CƠ BẢN
ĐÔNG TRƯỜNG SƠN (1973 -1975)

Hoàng Ngọc Châu - Phạm Thọ


Xây dựng cơ bản đường Đông Trường Sơn là chiến dịch cuối cùng trong chuỗi chiến dịch mở đường ở Trường Sơn thời chống Mỹ cứu nước.

Sau khi hiệp định Paris được ký kết, Bộ Tư lệnh Trường Sơn chủ trương xây dựng, hoàn thiện thế trận cầu đường mới, đón thời cơ lớn giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam.

Khác với các chiến địch trước, từ năm 1973 đế quốc Mỹ không đánh phá ngăn chặn bằng không quân trên cả hai chiến trường Việt Lào là thuận lợi lớn cho hoạt động vận chuyển trên địa bàn Trường Sơn và cho cả việc củng cố xây dựng mạng đường đông và tây Trường Sơn.


"Xây dựng cơ bản đông Trường Sơn" là chiến dịch xây đựng một tuyến đường có cấp, phải tuân thủ đầy đủ trình tự, quy trình quy phạm kỹ thuật của Nhà nước nhằm bảo đảm chất lượng công trình. Tuyến đường xây dựng xong bảo đảm vận chuyển nhanh hơn do gần chiến trường hơn, nhiều hơn do vận chuyển được cả hai mùa.


Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã triển khai chỉ đạo, chỉ huy, điều hành theo mô hình một chiến dịch đặc biệt mang tính chất bài bản về quân sự, bài bản về xây dựng từ công tác chuẩn bị đến công tác thi công.

Từ đầu năm 1973, Cục Tham mưu Công binh đã tính toán kế hoạch 5 năm cải tạo, xây dựng mạng đường Trường Sơn, trong đó có kế hoạch xây dựng cơ bản đường Đông Trường Sơn. Sau nhiều lần nghe báo cáo và thẩm xét và bằng văn bản số 247/TTg, ngày 17 tháng 11 năm 1973 Chính phủ đã phê duyệt nhiệm vụ thiết kế với những nội dung chính như sau:

- Đường Đông Trường Sơn: điểm đầu Tân Kỳ (Nghệ An), điểm cuối Chơn Thành (Bình Phước), có chiều dài 1.200 ki lô mét.

- Tiêu chuẩn cấp xây dựng: Cấp 4 miền núi, nền đường 9,00 mét, mặt đường 5,50 mét, cầu cống vĩnh cửu và bán vĩnh cửu.

- Bảo đảm cho hành quân cơ giới vận chuyển cả hai mùa tốc độ 60 km/giờ.

- Thời gian thi công 3 năm tính từ 01 tháng 01 năm 1974.

Bộ Tư lệnh Trường Sơn được Bộ Quốc phòng giao phụ trách xây dựng từ Khe Gát (Quảng Bình) vào đến Chơn Thành, trước mắt tới Bù Gia Mập. Chính phủ giao trách nhiệm cho Bộ Quốc phòng phụ trách toàn bộ từ khảo sát thiết kế, thi công đến nghiệm thu công trình. Các Bộ chức năng của Nhà nước theo trách nhiệm của mình giúp đỡ Bộ Quốc phòng hoàn thành công trình trong thời gian quy định.


Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã khẩn trương triển khai ngay nhiệm vụ, trước hết là công tác khảo sát thiết kế.

Để đảm bảo tiến độ, Bộ Tư lệnh sử dụng 3 lực lượng khảo sát gồm: 4 đại đội của Tiểu đoàn Khảo sát 976 trực thuộc Cục Tham mưu Công binh mới được thành lập; các đơn vị khảo sát trực thuộc các trung đoàn, các sư đoàn thi công và ba đơn vị được Nhà nước tăng cường phối thuộc có thời hạn gồm Đội Khảo sát 31, Đội Khảo sát 8 Viện Thiết kế Giao thông, đội TS - 73 trường Đại học Giao thông vận tải. Các lực lượng khảo sát nói trên được trang bị đồng bộ 130 máy kinh vỹ thuỷ chuẩn, bố trí thực hiện tại các địa đoạn sau:

Đại đội 2 - Tiểu đoàn 976 được giao khảo sát đoạn Khe Gát đến U Bò dài 60 ki lô mét. Đây là đoạn khó nhất do địa hình rất phức tạp, phải vượt qua phà Xuân Sơn, mở trọng điểm lớn. Bước thị sát đã phải dùng máy bay trực thăng, dùng thuyền độc mộc len lỏi vào các khe suối để xác định tuyến đường. Đại đội 2 đã khảo sát đoạn này trong 4 tháng.

Đội 31 - Viện Thiết kế Giao thông phụ trách từ U Bò đến Rào Reng dài 70 ki lô mét cũng là một trong những đoạn khó nhất. Đội 31 là đội khảo sát có năng lực của Viện Thiết kế Giao thông.

Đội Khảo sát 8 khảo sát định tuyến từ nam Đắkrông đến đường B74 đi A Roàng.

Đại đội 3 - Tiểu đoàn 976 nhận đoạn Đắkrông đến A Lưới dài 80 ki lô mét. Qua Đăkrông có hai phương án để thị sát so sánh, cuối cùng chọn phương án tuyến vượt qua Đắkrông bằng cầu dây văng, một kiểu cầu hiện đại thời đó. Đoạn này phải qua đèo Pê Ke là một điểm có địa hình, địa chất đều phức tạp, cũng là một đoạn khó khăn trong dự án. Đại đội 3 định tuyến 8 ki lô mét đoạn này, sau đó giao cho Đội Khảo sát 8 để chuyển vào khảo sát từ A Sờ đến cầu Thạnh Mỹ.

Đội TS - 73 trường Đại học Giao thông được giao đoạn A Lưới đến A Vương dài khoảng 60 ki lô mét. Đội gồm 16 giáo viên, 4 cán bộ và 99 sinh viên khoá 9 và 10 công tác trong 6 tháng. Nếu đi sang đất Quảng Nam, phải vượt qua vùng núi tây đèo Hải Vân địa hình địa thế rất phức tạp, dài hơn, thi công không bảo đảm thời gian, nên tạm thời mượn 22 ki lô mét đất bạn Lào về phía tây.

Đại đội 5 - Tiểu đoàn 976 đoạn A Vương đi A Sờ phải qua các cầu tương đối lớn. Đoạn này rừng núi trùng điệp cũng thuộc loại có địa hình phức tạp.

Đại đội 4 - Tiểu đoàn 976 chuyên khảo sát khoan thăm dò địa chất, khảo sát thuỷ văn địa hình các cầu trên đường đông Trường Sơn và khôi phục hệ thống cầu trên đường số 9.

Các đơn vị khảo sát của các trung đoàn, sư đoàn thi công chủ yếu khảo sát khôi phục từ Thạnh Mỹ trên đường 14 cũ trở vào phía nam theo địa đoạn đơn vị được giao thi công.

Công tác thiết kế do phòng thiết kế Cục Tham mưu Công binh thực hiện. Các đơn vị khảo sát tuyến đường được giao thiết kế bản mộc ngoài hiện trường, tài liệu khảo sát địa chất thuỷ văn cầu được chuyển về phòng thực hiện thiết kế bước kỹ thuật thi công các cầu, dự toán khối lượng và tổ chức can in. Các cầu Bến Tất, Đắkrông công tác thiết kế đã được sự giúp đỡ của Viện Kỹ thuật Giao thông và trường Đại học Xây dựng. Do khối lượng khảo sát thiết kế quá lớn nên đã có lúc cho phép một số đoạn vừa khảo sát thiết kế vừa thi công.


Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định:

Tuyến đường trải dài từ Bắc vào Nam qua nhiều tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Đà, Kon Tụm, Gia Lai, Đắc Lắc, Phước Long, có địa hình khác nhau, địa chất phức tạp. Phía bắc qua rừng núi, âm u, nhiều núi đá,nhiều đèo, nhiều sông suối, thi công khó khăn. Từ Đắc Công Tây Nguyên trở vào có địa hình cao nguyên dễ thi công hơn. Khối lượng khá lớn so với đường mở phía tây, thời tiết cũng khá phức tạp, mưa nhiều, nhiều cơn bão trong năm.


Mỹ đã rút quân, chỉ còn lại không quân của Nguỵ. Tuy nhiên ta vẫn phải cảnh giác đề phòng. Từ Quảng Nam trở vào, còn nhiều căn cứ gần tuyến đường.

Công binh Trường Sơn rất phấn khởi chờ đón lệnh mở đường phía đông, nguyện vọng sâu xa trong nhiều năm nay thành hiện thực. Đã nhiều năm mở đường trong chiến tranh, công binh Trường Sơn hiểu hơn ai hết núi rừng Trường Sơn, biết cách khắc phục khó khăn, nay lại được thi công công khai ban ngày, được đảm bảo đầy đủ hậu cần, xe máy, vật tư, nhất định sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ.


Xây dựng cầu đường có cấp hạng là nhiệm vụ rất mới mẻ, công binh Trường Sơn chưa bao giờ thực hiện là trở ngại khó khăn lớn nhất đòi hỏi từ người chỉ huy đến chiến sĩ phải đổi mới cách suy nghĩ mới có thể phát huy được sức mạnh của trí tuệ, của trang thiết bị, của sức lao động nhằm đảm bảo được tiến độ yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật của tuyến đường.


Nhận rõ đặc điểm tình hình, hiểu rõ đối tượng tác chiến để đánh thắng, biết rõ mạnh yếu của ta, Bộ Tư lệnh đã đặt vấn đề phải xây dựng con người trước hết ngay trong bước chuẩn bị bước vào chiến dịch. Đã mở các đợt tập huấn cho cán bộ, đào tạo huấn luyện nghiệp vụ chuyên môn cho chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật tại trường lớp, học tập làm mẫu tại hiện trường, và đồng thời xin bổ sung các loại thợ nghề, thợ lái.


Nhận rõ cán bộ là khâu quyết định, Bộ Tư lệnh đã tổ chức lớp huấn luyện tại Bang (đường 16) trong một tháng gồm gần 200 cán bộ từ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, các cơ quan của Bộ Tư lệnh. Nội dung cơ bản là thực hiện 3 đổi mới - đổi mới về nhận thức thi công theo hướng sản xuất công nghiệp chuyên sâu đồng bộ - đổi mới về phương thức tác nghiệp 4 sức mạnh: mã lực, thuốc nổ, công cụ cải tiến, thô sơ - đổi mới về tổ chức lấy trung đoàn chuyên sâu từng mặt, trung đoàn nền, trung đoàn móng, trung đoàn mặt đường, trung đoàn cầu, các đại đội có chuyên môn riêng của mình trực thuộc trung đoàn, bỏ cấp tiểu đoàn.

Các cán bộ được tập huấn về đơn vị tổ chức truyền đạt và thực hiện trong đơn vị của mình.

Về lái thợ yêu cầu cho nhiệm vụ rất lớn. Trường 975 có 5 đại đội được chuyên môn hoá đào tạo, trong 3 tháng đã đào tạo được 308 lái sử dụng các máy san, ủi, lu, máy đào, 34 đội trưởng thi công cơ giới nâng tổng số thợ máy trước khi vào chiến dịch lên 2.478 lái, 704 thợ, 474 nhân viên kỹ thuật.


Về đào tạo khảo sát Tiểu đoàn 976 được biên chế Đại đội 6 đào tạo nhân viên khảo sát, đã tổ chức được 4 khoá giảng dạy đào tạo được 200 người có trình độ bậc 3 bổ sung cho các đơn vị. Viện Thiết kế Giao thông đã giúp 8 kỹ sư vào công tác giảng dạy trực tiếp trong 2 năm 1973-1974.


Đào tạo bổ túc thợ kích kéo, thợ sắt, thợ bê tông về lý thuyết và thực hành tại Trung đoàn 99 cầu.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #44 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2025, 09:06:28 pm »

Năm 1973, Bộ Tư lệnh đã cử 4 kỹ sư bổ túc sau đại học về kỹ thuật xây dựng cầu đường do trường Đại học Giao thông đào tạo tại Nam Định, nhiều kỹ sư cầu được học tập bồi dưỡng tại các cơ quan của Nhà nước, và tại đơn vị do các thầy, các kỹ sư ở các viện, các trường đại học vào giảng.


Bộ Tư lệnh cũng đã đề nghị bổ sung và đã tiếp nhận hàng trăm kỹ sư, cán bộ kỹ thuật trung cấp các loại địa chất, thuỷ văn, cơ khí, xe máy, cầu đường,...

Như vậy trong gần một năm chuẩn bị, Công binh Trường Sơn đã có một lực lượng khá mạnh, nhân tố quan trọng hàng đầu để vững vàng bước vào chiến dịch. Quân số được Bộ duyệt cho chiến dịch đường Đông Trường Sơn là 37.388 người, chiếm 37% lực lượng toàn tuyến.


Hiểu rõ trang thiết bị xe máy và vật tư thi công là điều kiện để con đường thi công đạt tiến độ và chất lượng, Bộ Tư lệnh tìm đủ mọi cách để được đảm bảo: do Quân đội, do Nhà nước cung cấp và xin viện trợ của các nước Bạn. Trong số hơn 300 đầu trang thiết bị có 1.167 xe vận tải, xe ben các loại, có 30 xe 7 đến 14 tấn; 317 xe ủi, có 48 xe ủi 180 CV; 22 cặp chuyển, 25 máy san, 57 xúc E652 và 41 xúc lốp, gần 300 máy các loại máy nghiền sàng, trang thiết bị khoan thăm dò địa chất, xe xét nghiệm công trình lưu động, v.v...

Bộ Tư lệnh chia toàn tuyến làm 3 khu vực phân công cho 3 sư đoàn Công binh phụ trách:

Khu vực phía bắc giao cho Sư đoàn 473 đảm nhiệm 204 ki lô mét đường mới từ đường 9 đến Trao. Đây là đoạn được xem là trọng điểm của chiến dịch, được ưu tiên về nhân lực, trang bị chất lượng cao.

Đoạn giữa do Sư đoàn 472 phụ trách từ Trao, Bung, Giàng, Khâm Đức, Đắc Công chiều dài 230 ki lô mét. Từ Giàng vào là đường cũ phải cải tạo.

Khu vực phía nam từ Đắc Công qua các tỉnh Tây Nguyên vào Chơn Thành, địa hình vùng cao nguyên, tương đối bằng phẳng khối lượng không lớn.

Bộ chỉ huy chiến dịch tập trung chỉ đạo khu vực phía bắc có khối lượng lớn, địa hình phức tạp, thời gian yêu cầu hoàn thành sớm nhất, lực lượng bố trí theo đơn vị được chuyên môn hoá như sau:

Trung đoàn 6 đảm nhiệm đoạn nam cầu Đắkrông đến A Cho, đường đi ven sông Đắkrông là đoạn đường có địa hình phức tạp, ta luy cao vực sâu, được ưu tiên trang bị xe máy công suất lớn 180 mã lực. Khối lượng lớn nhiều đá thi công bằng biện pháp nổ mìn, có đội đục choòng chuyên nghiệp tác nghiệp ban ngày, đến giờ quy định mới được phát hoa đồng loạt, phá nổ theo tầng lớp từ trên cao xuống. Các đơn vị thi công khác đều tuân thủ biện pháp này.

Trung đoàn 509 là trung đoàn mặt đường cấp thấp cấp phối sỏi, cống và cầu nhỏ vĩnh cửu.

Trung đoàn 529 là trung đoàn chuyên thi công nền móng, thực hiện đoạn từ A Cho đến Tà Rụt, có đoạn đá 10 ki lô mét liền khối tại A Cho, là đoạn có khối lượng lớn theo thiết kế 1.680.000 mét khối, được trang bị một dàn xe máy mạnh, áp dụng biện pháp đánh bộc phá "bung" sau đó dùng xe máy xử lý.

Trung đoàn 217 chuyên nền móng đảm nhiệm từ Tà Rụt Pê Ke đến Ha Tia. Điểm khó nhất là đèo Pế Ke, đá granit phong hoá, ta luy cao, được ưu tiên máy ủi, ép hơi khoan đá và bộc phá.

Trung đoàn 542 đảm nhiệm từ A Lưới, A Sầu, Bù Lạch. Đoạn này tương đối bằng, chủ yếu đắp nền, làm mặt cấp phối sỏi.

Trung đoàn 98 được giao đoạn khó khăn nhiều khối lượng Trao đi Bến Giàng.

Ngày 01 tháng 01 năm 1974 chiến địch được mở theo lệnh của Bộ.

Đã được chuẩn bị kỹ về mọi mặt, các đơn vị đồng loạt rầm rộ ra quân. Tiếng bộc phá, tiếng xe máy, tiếng còi chỉ huy vang dậy khắp tuyến đường. Với khí thế ngày ra quân, năng suất công tác ở các đơn vị cứ tăng dần từng ngày, từng công việc.

Tại Trung đoàn 6 đã có phong trào thi đua của lái máy ủi C180 đuổi kịp năng suất của thợ máy bạn Cu Ba, đạt tới 700 - 800 mét khối/ngày. Trung đoàn 529 đã có biện pháp sử dụng nổ phá lớn kết hợp máy ủi để đục phá trên đoạn đường dài 10 ki lô mét liên tục đá liền khối tại A Cho đạt năng suất cao, đánh bộc phá có kỹ thuật, chủ yếu đá tung khỏi mặt đường. Trung đoàn 217 thi công đèo Pê Ke dài 15 ki lô mét, nhiều đá, đường lượn quanh co khúc khuỷu nhiều tầng. Các kỹ sư đã thiết kế phương pháp nổ vi sai, hiệu suất thuốc nổ đạt cao. Đội hình máy ủi kết hợp máy gạt thực hiện theo tầng, xả ta luy thủ công trên cao hàng chục mét, vẫn an toàn. Trung đoàn 98 những năm trước đã từng bền bỉ chung sống với đèo A Đớt quanh năm mây mù ẩm ướt, nay được tăng cường trang bị máy có công suất lớn, có đủ thuốc nổ đã vận dụng tốt 4 sức mạnh nên cũng nhanh chóng "quét sạch La Hia, đè đầu A Đớt" như khẩu hiệu đã đề ra.


Trung đoàn 542 thực hiện đoạn Ha Tia, A Lưới, A Xô khối lượng đắp nhiều hơn, đã biết kết hợp máy ủi đất hai bên đường kết hợp máy san, một phần nhân lực, máy lu lèn theo sơ đồ thiết kế. Đơn vị đã có sáng kiến làm ke xả sỏi, đảm bảo xe ra vào liên tục không phải chờ lâu.


Trung đoàn 515 chuyên thi công mặt đường, năm 1974 rải nhựa mặt đường còn lại trên đường số 9 sau đó rải thảm mặt đường bê tông nhựa đường đông Trường Sơn. Rải thảm mặt đường là một công việc mới lạ đối với công binh Trường Sơn, nhưng do có quyết tâm cao, có tinh thần tìm hiểu học hổi nên rất nhanh chóng, Trung đoàn 515 đã làm chủ được công nghệ hoàn toàn mới này. Trung đoàn 509 chuyên thi công mặt đường cấp thấp rải cấp phối sỏi, thi công công vĩnh cửu và cầu nhỏ, việc làm cũng hoàn toàn mới nhưng do được đào tạo, tích cực học tập nên trung đoàn triển khai một cách bài bản, đồng hành kịp thời với các trung đoàn làm nền đường.


Trung đoàn cầu 99 triển khai nhanh chóng khôi phục hệ thống cầu trên đường 9, làm cầu treo Bến Tất trên đường 42 và cầu treo Đắkrông. Với sự giúp đỡ về kỹ thuật thi công của Viện Kỹ thuật Giao thông, trường Đại học Xây dựng, Trung đoàn biết tận dụng những dầm thép chiến lợi phẩm. Khi Trung đoàn 99 được điều động phuc vụ chiến dịch Xuân 1975, Trung đoàn 509 tiếp tục nhiệm vụ, cầu treo Đăkrông đã hoàn thành đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, mỹ thuật.


Trung đoàn 30, Trung đoàn 10 thuộc Sư đoàn 472 là những đơn vị cơ động có nhiều kinh nghiệm mở đường trong chiến tranh, nay do được trang bị, được huấn luyện, được chuẩn bị tốt đã nhanh chóng hoà nhập, đã thành công trong việc vừa tự cải tạo xây dựng cơ bản đường 14 vừa đảm bảo vận chuyển đánh địch ở Thượng Đức và giải phóng Đắc Pét. Các đơn vị thuộc Sư đoàn 470, năm 1974 tuy chưa đảm nhận công tác xây dựng cơ bản nhưng đã làm nền đường đúng tiêu chuẩn, rải cấp phối tại chỗ là cơ sở để những năm tiếp theo nhận công tác xây dựng cơ bản vững chắc hơn.


Với khí thế lao động phục vụ chiến đấu năm 1974, giai đoạn đầu của chiến dịch đã thu được kết quả to lớn, từ Đắkrông trở vào, tuyến Đông Trường Sơn đã được chọc thủng và nối liền, các điểm "rắn nhất" A Cho, Pê Ke, A Đớt đã được cơ bản giải quyết.

Tuy nhiên thời gian đầu tốc độ thực hiện còn chậm, chưa đồng bộ, chưa thực hiện nhanh chóng yêu cầu thi công dây chuyền. Năng suất máy ủi mới đạt 80% công suất, tai nạn lao động còn khá nhiều gây thiệt hại về người và phương tiện, còn chủ quan, sẵn sàng chiến đấu chưa cao nên để máy bay địch đánh vào đội hình ở Khâm Đức, tỷ lệ sốt rét còn cao 12,7%. Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1974, ba cơn bão lớn đổ bộ gây sụt lở nghiêm trọng, ảnh hưởng tốc độ xây dựng cơ bản.


Nhận rõ trách nhiệm trước lịch sử, tháng 7 năm 1974, Bộ Tư lệnh Trường Sơn tổ chức hội nghị toàn tuyến, trong đó xác định mục tiêu cơ bản của công binh 6 tháng cuối năm 1974 và đầu năm 1975. Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh mở đợt "tổng công kích" từ đường 9 vào Xưởng Giấy. Đợt tổng công kích nhằm mục tiêu đến tháng 3 năm 1975 hoàn thành 75 ki lô mét nền, 102 ki lô mét móng, 6.000 mét cầu cống các loại với gần 2 triệu mét khối đá, 4 triệu mét khối đất, và 645.750 mét khối móng đường.


Các đơn vị đã tổ chức làm 3 ca trên hiện trường, xe máy làm 1,5 ca/ngày, hậu cần đảm bảo tăng mức ăn hàng ngày, bảo đảm đủ ấm, chống muỗi, diệt sốt rét. Phong trào thi đua được dấy lên với khí thế mới. Kết quả đầu tháng 12 Trung đoàn 515 đã hoàn thảnh rải đá mặt đường đến tây Rào Quán, giữa tháng 12 Trung đoàn 99 hoàn thành cầu treo Bến Tất, các trung đoàn khác đều nỗ lực vượt qua các điểm rắn, hoàn thiện từng bước móng mặt đường. Cuối tháng 12 năm 1974 các đơn vị đã thực hiện 1.502.700 mét khối đất đá, 22 ki lô mét nền móng đường được hoàn thành, rải đá được 27 ki lô mét.


Đầu tháng 3 năm 1975, các khu vực trọng điểm đã được đánh thông đúng với yêu cầu của chiến dịch, cơ bản đã nối liền tuyến Đông Trường Sơn từ phía Bắc trở vào.

Đầu năm 1975, thắng lợi chiến dịch Phước Long mở ra một tình thế chiến lược mới có lợi cho ta. Từ 18 tháng 12 năm 1974 đến 08 tháng 01 năm 1975, Bộ Chính trị họp hội nghị mở rộng hoạch định phương án tác chiến, tạo ra thời cơ lớn giải phóng miền Nam. Bộ Tư lệnh Trường Sơn động viên các lực lượng công binh đẩy nhanh tốc độ mở đường cơ bản và cải tạo một số trục đường chiến lược nối vào các trục đường Tây Nguyên và Nam Bộ. Chiến dịch xây dựng cơ bản Đông Trường Sơn đi vào giai đoạn quyết liệt, mạnh mẽ hơn, vừa đẩy nhanh việc mở đường theo tiêu chuẩn cơ bản vừa sẵn sàng đảm bảo giao thông phục vụ việc đón các binh đoàn cơ động và binh khí kỹ thuật lớn vào chiến trường. Đến tháng 3 năm 1975, bộ đội ta tiến công Buôn Mê Thuật mở đầu chiến dịch Tây Nguyên, tiếp đó mở chiến dịch giải phóng Huế, Đà Nẵng. Hàng ngày từng đoàn xe dồn dập nối đuôi nhau cơ động các binh đoàn chủ lực, các đoàn binh khí kỹ thuật lớn trên các tuyến đường công binh Trường Sơn bảo đảm. Cán bộ chiến sĩ trên tuyến Đông Trường Sơn vô cùng phấn khởi, trực tiếp vẫy chàohàng ngàn chuyến xe đang băng băng lướt qua ngay trên tuyến đường vừa được xây dựng với tiêu chuẩn quốc gia, tự hào chiến dịch xây dụng cầu đường Đông Trường Sơn đang hoà nhịp với các chiến dịch khác trên chiến trường.


Cuối tháng 3 năm 1975, một phần lớn lực lượng xây dựng cơ bản đường Đông Trường Sơn đã chuyển sang nhiệm vụ bảo đảm giao thông trên trục đường 1A, đường 19, 21... đảm bảo cho đại quân tiến vào giải phóng Sài Gòn. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Tuyến đường xây dựng cơ bản phía đông cùng với tuyến đường nâng cấp phía tây Trường Sơn đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình.


Xây dựng cơ bản tuyến Đông Trường Sơn chuyển sang một giai đoạn mới để những năm tiếp theo hoàn thành chuyển giao cho lực lượng quản lý của ngành Giao thông vận tải.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #45 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2025, 09:22:05 pm »

Đại tá
NGUYỄN ĐÌNH ÁT

Sinh năm:   11/1942
Qué quán:   Khương Thương, Đống Đa, Hà Nội
Thường trú: Nhà 123, ngõ 354, Đường Trường Chinh, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 04.35741735
Từ trường Đại học Bách khoa chuyển sang Đoàn 559
Nguyên Thiếu uý Trợ lý Kỹ thuật phòng Vật tư xe máy Cục TMCB
Trung uý, Trạm trường Y2 Binh trạm 32
Nguyên Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 524, Binh đoàn 11


Y2 - NHỮNG NGÀY ĐẦU TIÊN


Cuối năm 1967, Đoàn 30, một đoàn sỹ quan trẻ mới ra trường của Phân hiệu 2 Đại học Bách khoa Hà Nộị - tiền thân của Học viện Kỹ thuật quân sự được điều động vào chiến trường. Đây là lớp kỹ sư xe máy đầu tiên vào Bộ Tư lệnh 559, tuy chỉ có 24 kỹ sư sĩ quan nhưng được phân công nhận nhiệm vụ tại 10 đơn vị khắp từ Bắc vào Nam trên tuyến đường Trường Sơn, xa nhất là Binh trạm 8 và chiến trường B5.


Bốn chúng tôi, Nguyễn Phạm Tú, Nguyễn Đình Át, Trần Khắc Thiêm, Đặng Đình Viện được nhận nhiệm vụ tại Cục Tham mưu Công binh. Cục trưởng Cục Tham mưu Công binh trực tiếp giao nhiệm vụ.

Anh Thiêm và anh Viện về xưởng sửa chửa xe máy X34, trực thuộc Cục Tham mưu Công binh, Xưởng trưởng là đồng chí Bảy, một công nhân bậc cao có nhiều kinh nghiệm. Tôi và anh Tú được phân công về Phòng Vật tư xe máy, nhận nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện phương án xây dựng các trạm sửa chữa xe máy công binh và xây dựng tổ cơ động kịp thời ứng cứu xe máy trên các địa bàn.


Đầu mùa khô năm 1968, tôi được phân công dẫn một tổ cơ động vào chốt tại Ka Tốc trên đường 20 cách Lùm Pùm khoảng 14 ki lô mét về phía đông làm nhiệm vụ trung chuyển, lắp ráp máy húc loại C100, T100M nhập tuyến bằng cơ giới, từ đó cho máy tự hành vào giao cho các binh trạm phía trong đồng thời sửa chữa cấp cứu chi viện cho một số cao điểm quanh khu vực đóng chốt Ta Lê, Phu La Nhích, Văng Mu, Tha Mé.


Tại đây, tôi được tin đồng chí Ngọ, cùng đồng chí Nguyễn Phạm Tú được cử xuống đồng bằng Quảng Nam công tác, trên đường về bị B52 rải thảm, cả hai hy sinh để lại nhớ thương cho đồng đội.

Mùa mưa năm 1969, khi ra an dưỡng tại Sầm Sơn, Cục trưởng Phạm Văn Diêu giao cho Phòng Vật tư xe máy lập phương án xây dựng 4 trạm sửa chữa xe máy chốt tại 4 binh trạm trên cơ sở lực lượng có sẵn tại X34, xưởng sửa chữa của Cục Tham mưu Công binh và Trung đoàn 251 Công binh. Bốn trạm mang tên gọi chiến trường Y1, Y2, Y3, Y4. Đồng chí Lê Kim Thơ, Trần Nguyên và tôi dưới sự chỉ đạo của Phó phòng Đào Mậu, dựa vào thực lực của X34 và trang thiết bị còn lại ở các kho sau 3 ngày đã trình được phương án lên Cục trưởng.


Trang thiết bị ban đầu của mỗi Y rất khiêm tốn, chỉ có 1 công trình xa sửa chữa cơ động APM - Liên Xô, 1 cần cẩu 4 - 5 tấn, 3 xe ôtô 2 - 3 cầu, 1 máy phát điện, 1 máy hàn điện, 2 hòm dụng cụ đồ nghề xách tay được bổ sung các loại vam của máy húc, các loại máy cưa v.v...

Mỗi Y tương đương đại đội, quân số 32 - 35 người biên chế gồm 4 tổ: 1 tổ sửa chữa máy húc, ôtô và xe phóng từ, 1 tổ gia công cơ khí, 1 tổ lái xe và 1 tổ hậu cần; trạm trưởng, Trạm phó, chính trị viên chỉ huy trực tiếp.

Tôi và trung uý Phạm Quất được Cục trưởng giao nhiệm vụ Trạm trưởng và Chính trị viên Trạm Y2. Được sự giúp đỡ của Cục Tham mưu Công binh, của Phòng Vật tư xe máy, chỉ trong vòng một tháng chúng tôi đã có đủ quân số, trang thiết bị và biên chế đội hình hành quân vào tuyến, trước các Y khác. Mới vào đầu mùa khô, chúng tôi phối hợp cùng các đơn vị công binh phát quang đường, chống lầy... vào tuyến an toàn cả đội hình và trang thiết bị.


Bác Hồ vừa qua đời, một mất mát lớn lao của toàn dân tộc. Hành quân vào chiến trường nóng bỏng, chúng tôi càng thấy ý nghĩa của lời dạy của Bộ Chính trị "Hãy biến đau thương thành hành động" để nhắc nhở nhau phải công tác chiến đấu sao cho xứng đáng với công lao to lớn của Bác Hồ.


Y2 đã hành quân an toàn vào Binh trạm 32 chỉ sau 3 ngày đêm hành quân nhập tuyến.

Thống nhất với Binh trạm trưởng Đặng Văn Ngữ về nơi đóng quân, lập trạm. Đó là vùng quanh khu vực Km 45 đường 128B, một mảnh đất tương đối bằng phẳng, rừng cây còn chưa bị bom đạn cày xới như dự kiến của Cục trưởng Phạm Văn Diêu đã khoanh vùng chỉ định khi giao nhiệm vụ cho chúng tôi tại Sầm Sơn ngay sau ngày Bác Hồ đi xa.


Nhận điện khẩn của Cục trưởng: "Trạm Y2 tổ chức lực lượng hộ tống đoàn xe đặc biệt hành quân vào tuyến trong...", chúng tôi phải vừa làm lán trại vừa chấp hành nhiệm vụ chiến đấu.

Y2 vừa khảo sát xong địa điểm đóng quân tập kết xây dựng trạm, đang mở đường vào các bãi sửa chữa xe máy, vừa xây dựng nơi ăn chốn ở, thì công việc chuyên môn đầu tiên là hộ tống và sửa chữa khắc phục những hư hỏng của xe phá bom từ trường. Quả là một công việc không dễ dàng cho một trạm chỉ có chuyên môn như nhiệm vụ được giao "đảm bảo công tác kỹ thuật xe máy khí tài công binh..."


Tại trường Đại học Bách khoa, anh em chúng tôi chưa có hiểu biết về loại xe phá bom từ trường, lại xa hậu phương, không có tài liệu kỹ thuật, chúng tôi đành triệu tập anh em thợ và lái xe phóng từ đến đế tìm hiểu mong tìm được lời giải đáp.

-"Là thợ đóng cầu giao, khi máy điện đã hoạt động tốt rồi thì chúng em cứ mấy giây đóng, mấy giây ngắt cầu giao, là lái xe thì quay xe sao cho đúng hướng cần phá, đảm bảo phá được xa nhất, an toàn cho người và trang bị, không có các thông số kỹ thuật...", đó là câu trả lời của các lái thợ.


Đành phải xem sổ ghi chép của anh em thợ lái ở lớp đào tạo ngắn ngày, chúng tôi chọn một xe còn hoạt động tốt, trực tiếp đo các thông số kỹ thuật, dùng la bàn kiểm tra độ nhạy của từ trường phát ra từ xe qua các hướng phá bom. Thực hiện bài toán ngược kiểm nghiệm qua thực tế như vậy, chúng tôi quyết định phương án sửa chữa khắc phục động cơ điện của xe, cuốn lại cuộn từ, hoặc tẩm sấy nhằm tăng độ cách điện, gia cố thêm một số bảo hiểm cho cuộn từ, cho người và xe phóng từ để anh em lái xe yên tâm.


Anh em đội xe phóng từ lại tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ, thế rồi công việc cứ nối tiếp công việc, Y2 đã vào cuộc góp phần phục vụ chiến dịch vận chuyển mùa khô 1969 - 1970 như thế.

Từ đó, như là một nhiệm vụ bổ sung không thành văn, Y2 thực hiện việc đảm bảo sửa chữa trang thiết bị phá bom từ trường như vậy.

Từ việc phá bom từ trường rất thô sơ bằng việc rải dây đồng kéo nam châm vĩnh cửu, đến thiết bị cơ giới đầu tiên vào Trường Sơn là xe bọc thép PTR40, có cuộn từ "cuốn bụng" vuông góc với khung xe, nhược điểm dễ bị xây xước; ngấm nước, thường bị chập mạch, do đặt dưới gầm xe bị mảnh bom, gốc cây làm đứt dây khi bị va chạm mạnh.


Và đổi mới vẫn là nhiệm vụ khẩn thiết để kịp thời đối phó với các thủ đoạn ngày càng nham hiểm của địch. Từ "cuộn từ cuốn bụng" đến "cuộn từ vành khăn" rồi "cuộn từ đặt gọn trên thùng xe" ATC, ATL, K60, tăng T54... đều là những tìm tòi thích ứng, là kết hợp của trí thông minh, lòng dũng cảm, thực tế, ngày đêm bám đường, bám trang bị, dám nghĩ dám làm, luôn phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật. Đó còn là sự nhanh nhạy trong các quyết định của cấp trên, sự đáp ứng của các phòng nghiệp vụ vật tư, xe máy, của sự phối hợp rất chặt chẽ, đồng lòng của các binh trạm khu vực, của các đơn vị công binh trên tuyến đường.


Đến nay, người lính thợ Y2 trên chiến trường Trường Sơn, người còn người mất, đã từ lâu xa quân ngũ về sống nơi thường trú, tham gia công tác phường xã ở địa phương, nuôi dạy con cháu, được dân tin dân mến vẫn phát huy được bản chất anh bộ đội Cụ Hồ.

Gặp lại nhau trong ngày truyền thống hàng năm, không ai có thể tổng kết được bao nhiêu ngàn lần sửa chữa bảo đảm cho bao nhiêu loại xe máy hoạt động trở lại, nhưng chắc chắn cán bộ, chiến sĩ Y2 không ai quên được ngày nhập tuyến lúc đầu mới thanh lập, ngày đó Y2 đã nhận một nhiệm vụ chưa được ghi trong chức trách, nhưng đã thành công tốt đẹp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #46 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2025, 09:26:09 pm »

TRẠM SỬA CHỮA KHU VỰC Y1 CÔNG BINH
TRÊN TUYẾN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN

Kỹ sư Hoàng Đinh Tú
Trạm trưởng Trạm sửa chữa Y1
Cục Tham mưu Công binh 559


Sửa chữa Y1 là một trong bốn trạm sửa chữa khu vực trực thuộc Cục Tham mưu Công binh 559, được thành lập giữa năm 1969 tại Sầm Sơn Thanh Hóa địa điểm tập kết mùa mưa của Đoàn 559 để chuẩn bị cho mùa khô 1969 -1970.

Bốn trạm khu vực đó mang tên Y1, Y2, Y3 Y4.

Mỗi trạm đều có trạm trưởng là kỹ sư xe máy và một chính trị viên chỉ huy. Biên chế ban đầu khoảng 20 người gồm thợ sửa chữa, thợ cơ khí, thợ rèn, thợ nguội, thợ mộc, thợ điện, có biên chế y tá và nuôi quân. Trang bị ban đầu có 2 xe vận tải, công trình xa và các bộ đồ rèn, nguội, mộc, hòm đồ nghề xách tay, trạm nguồn điện.


Trạm Y1 ban đầu được biên chế 20 người. Tôi - Hoàng Đình Tú là Trạm trưởng, anh Lê Văn Điềm là Chính trị viên. Tôi tốt nghiệp Khoa Cơ khí Đại học Giao thông vận tải từ năm 1968, sau đó được tập huấn 3 tháng tại Trường Sĩ quan Công binh tại Đáp Cầu, Bắc Ninh. Trước đó tôi công tác tại Trung đoàn Công binh 251 một thời gian tại sân bay Yên Bái rồi vào tăng cường cho Công binh 559 tại Binh trạm 33 và Binh trạm 34.


Giữa năm 1969, Trạm Y1 thành lập theo quyết định của Cục Tham mưu Công binh 559. Cán bộ, thợ, lái của trạm Y1 trên cơ sơ lực lượng kỹ thuật của E251 và một số do Cục bổ sung.

Trang bị ban đầu của Trạm Y1 có một công trình xa Bucedi Rumani kèm theo đủ trang bị như các trạm khác, một xe Gatz - 63 và một xe Zil- 15 7 đại tu do khối SEV viện trợ.

Sau khi hoàn tất cơ bản các công việc chuẩn bị, tháng 12 năm 1969, chúng tôi nhận lệnh hành quân nhập tuyến, vào phục vụ các đơn vị Binh trạm 12 trên tuyến đường 12.

Nhiệm vụ Trạm Y1 được giao là sửa chữa xe máy cho các đơn vị Công binh và các lực lượng của Binh trạm 12, thu hồi và tháo gỡ phụ tùng những xe máy bị địch đánh hỏng để sửa chữa phục hồi xe máy cho các đơn vị, đồng thời tận dụng vật liệu tại địa bàn gia công sản xuất dụng cụ công binh để kịp thời cấp cho các đơn vị.


Tuyến đường 12 và 20 vào thời điểm này luôn bị kẻ địch đánh phá ác liệt nhất vì đó là hai trục đường chính đưa hàng từ hậu phương vào Trường Sơn rồi chuyển đến các hướng chiến trường miền Nam.

Những ngày tháng đầu làm nhiệm vụ, bảo đảm kỹ thuật khu vực trên tuyến Trường Sơn, kinh nghiệm chưa nhiều, nhưng chúng tôi đã cố gắng hoàn thành mọi công việc được giao.

Tháng 4 năm 1970, Trạm Y1 kết thúc nhiệm vụ trên tuyến đường 12. Những địa danh luôn ghi đậm trong mỗi cán bộ chiến sĩ Trạm Y1 chúng tôi như Khe Vè, cua Tay áo, Bãi Dinh, Cổng Trời, 050, đèo Mụ Giạ, Na Tông, Seng Phan... Chúng tôi nhận nhiệm vụ vào phục vụ tại Bộ Tư lệnh 470 - Bộ Tư lệnh Khu vực đầu tiên của Đoàn 559, ở cực nam tuyến Trường Sơn.


Trạm Y1 đóng quân tại bắc Sê Ca Mán, trong một cánh rừng già để thuận lợi cho việc cơ động bảo đảm kỹ thuật xe máy Công binh phía nam Binh trạm 35, Binh trạm 36 và Binh trạm 37 là ba Binh trạm bảo đảm vận tải đường bộ và cũng đồng thời bảo đảm kỹ thuật cho các Binh trạm vận tải thủy nằm trên đất Cam Pu Chia của Bộ Tư lệnh 470 là các Binh trạm 50, 51,52, 53 và thuận lợi cho việc liên lạc với các cơ quan chức năng của Bộ Tư lệnh 470. Mỗi lần đi sửa chữa xe máy cho các đơn vị, có thể đi bằng xe ô tô. Tổ thợ cơ động thì hành quân bộ là chính vì ở cuối tuyến nên xăng dầu rất hạn chế. Bên cạnh Trạm Y1 là kho của Phòng Công binh Sư đoàn 470 bảo đảm cấp phát vật tư khí tài cho các đơn vị, trong đó có Y1.


Nhiệm vụ của Trạm Y1 là không những sẵn sàng ứng cứu sửa chữa xe máy công binh, mà còn cho các phương tiện của các lực lượng vận tải trên đường bộ và cả đường thuỷ thuộc Bộ Tư lệnh 470.

Dưới sự chỉ đạo của Phòng Công binh 470, trực tiếp là Ban Khí tài Vật tư Kỹ thuật của Phòng, lúc này trung tá Nguyễn Kỷ Phó Tư lệnh 470 phụ trách Công binh và các ban của Phòng Công binh. Với nhiều kinh nghiệm thực tế, chúng tôi thường xuyên tổ chức các tổ sửa chữa bảo dưỡng cơ động đến các đơn vị làm nhiệm vụ kịp thời và hiệu quả. Ngay năm đầu tiên đã khôi phục được 2 máy ủi 100 mã lực cho Binh trạm 36 và Binh trạm 37 trong hoàn cảnh thiếu phụ tùng và vật tư kỹ thuật. Hai máy này đã hỏng từ lâu, chưa có điều kiện sửa chữa.


Đầu năm 1971, Trạm Y1 được Bộ Tư lệnh 470 giao nhiệm vụ khẩn trương khôi phục xe phá bom từ trường BTR-40 có số đăng ký BA-3793 của Công binh Binh trạm 36, bị bom Mỹ đánh hỏng nặng từ lâu. Phải thực hiện bằng được vì lúc này dốc Bô Phiên, ngầm Sê Ca Mán của Binh hạm 36 thường bị đánh phá ác liệt, gây tắc đường, trong đó có cả bom từ trường.


Bộ Tư lệnh và Phòng Công binh đã cử kỹ sư Dương Đức Thịnh chịu trách nhiệm tính toán, thiết kế kỹ thuật và lập quy trình sửa chữa, trực tiếp hướng dẫn và cùng với lực lượng kỹ thuật Trạm Y1 tiến hành thực hiện nhiệm vụ này.

Trạm Y1 tổ chức thực hiện khẩn trương, với trách nhiệm cao. Mọi nhu cầu vật tư đã được tính toán trên cơ sở thiết kế mẫu và khả năng thực tế của Sư đoàn 470.

Chúng tôi đã bố trí kế hoạch chu đáo, chọn thợ có tay nghề khá để thực hiện nhiệm vụ. Sau 1 tuần lễ ở cực nam Trường Sơn, tận dụng vật tư sẵn có, chúng tôi đã khôi phục xong chiếc xe phá bom từ trường BTR-40 của Binh trạm 36, đã tính toán chu đáo, quấn lại hoàn toàn khung dây phá bom từ trường, thử nghiệm hoàn chỉnh các thông số kỹ thuật bằng phương tiện kiểm tra kỹ thuật đạt yêu cầu và bàn giao xe cho đơn vị lên đường làm nhiệm vụ.


Rất vui mừng, khi thử nghiệm báo cáo kết quả có lãnh đạo Bộ Tư lệnh và các cơ quan chức năng của Sư đoàn 470 chứng kiến. Anh em chúng tôi ai nấy đều vui mừng hồ hởi vì đã thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Mùa khô Trường Sơn - mùa vận chuyển hậu cần, vũ khí đạn dược cho các hướng chiến trường, đó là những ngày tháng chúng tôi rất bận rộn phục vụ trên các trọng điểm ứng cứu, phục vụ các đơn vị. Những trọng điểm, những địa danh nổi tiếng khu vực 470 chúng tôi vẫn còn ghi nhớ mãi, đó là đèo Bô Phiên, ngầm Sê Ca Man, cua Ba Đổ, dốc Trực, dốc Công Binh, Tà Ngâu v.v...


Ngoài nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật, ứng cứu xe máy các đơn vị công binh, các đơn vị vận tải thường xuyên và cấp cứu, Trạm Y1 còn chủ động thu hồi vật liệu từ thùng phuy hỏng, nhíp xe... để sản xuất rất nhiều dụng cụ công binh như dao, cuốc, xẻng, thuổng và dụng cụ khác phục vụ các đơn vị trên tuyến. Số lượng, trọng lượng dụng cụ sản xuất được quả thật không còn nhớ được. Chỉ nhớ là lúc nào cũng có dụng cụ đơn giản cung cấp cho các đơn vị. Đây là niềm vui của anh em Y1.


Mùa mưa Trường Sơn, Trạm Y1 được giao nhiệm vụ sửa chữa bảo dưỡng xe máy công binh, xe vận tải, ca nô và nhiều phương tiện khác của các đơn vị trong khu vực để sẵn sàng có trang bị phương tiện làm nhiệm vụ ngay đầu mùa khô. Mọi nhiệm vụ cụ thể chúng tôi đã thực hiện tốt ngay trong mùa mưa.


Mỗi lần từ trạm Y1 đến Phòng Công binh Sư đoàn 470 làm việc và báo cáo tình hình, phương án tốt nhất được chọn là đi bộ, leo đèo, vượt suối, vượt qua núi "ông Già", với chiếc "gậy Trường Sơn" chỉ sau nửa ngày là đến nơi. Phương án này có hiệu quả, tình cảm lại gắn bó, đậm đà.


Năm 1972, Trạm Y1 được lệnh chuyển về đóng quân gần cơ quan Bộ Tư lệnh 470.

Ngoài nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật cho các đơn vị công binh, các đơn vị vận tải, phải đặc biệt bảo đảm kỹ thuật cho các đơn vị vận tải đường sông, kể cả việc sửa chữa ngay tại kho bãi, bảo đảm sửa chữa xe máy cho các đơn vị cao xa để phục vụ nhiệm vụ giai đoạn mới.


Năm 1973, lực lượng Công binh 470 được tăng cường lực lượng theo nhiệm vụ, có hai Trung đoàn Công binh là E4, E51 và nhiều tiểu đoàn công binh độc lập. Thời gian này, sau hiệp định Paris, đế quốc Mỹ tăng cường đánh phá phía nam tuyến Trường Sơn, khu vực 470 và 471. Các trọng điểm đèo Bô Phiên, ngầm Sê Ca Mán, dốc Trực, dốc Công binh, Tà Ngâu v.v... bây giờ bị máy bay Mỹ đánh phá ác liệt gấp bội so với những năm 1971 - 1972.


Anh em Trạm Y1 vẫn làm tốt nhiệm vụ được giao. Năm 1974, nhiệm vụ của 470 tăng lên. Lúc này có đến bốn trung đoàn công binh, đó là các Trung đoàn 4, 5, 10 và 30 cùng nhiều tiểu đoàn công binh độc lập. Chúng tôi, những cán bộ chiến sĩ Trạm Y1 đù trang bị, quân số chưa được tăng cường nhiều, năm 1970 chỉ được bổ sung 8 thợ sửa chữa, nhưng qua thực tế và trách nhiệm đã luôn bám sát các đơn vị, phục vụ kịp thời ở mọi nơi mọi lúc.


Tháng 3 năm 1975, trong chiến dịch Xuân 1975 giải phóng miền Nam, Trạm Y1 đã cử nhiều tổ cơ động bám sát các Trung đoàn 4, 574, 551 đi phục vụ chiến dịch trên các trục đường 14,19, 7, 20, 21.

Sau ngày giải phóng miền Nam 30 tháng 4 năm 1975, Trạm Y1 được đổi tên thành Xưởng 35 trực thuộc Bộ Tư lệnh Sư đoàn 470, đóng quân tại Buôn Mê Thuột. Quân số lúc này là 40 người. Kỹ sư Nguyễn Viết Giảng là Xưởng trưởng. Tôi được Sư đoàn 470 điều về Bộ Tư lệnh đảm nhiệm Phó Ban Vật tư và sau đó là Phó Trưởng phòng Kỹ thuật.


Tôi còn nhớ Y1 và sau này là Xưởng 35, được giao nhiệm vụ phải thu hồi phụ tùng linh kiện, trang thiết bị, khí tài xe máy công binh của Mỹ - Ngụy để khôi phục sửa chữa xe, tăng cường khả năng cơ giới của Sư đoàn. Có nhiều khó khăn vì vừa kết thúc chiến tranh, bom mìn vẫn còn đó, tình hình chưa ổn định. Nhưng mọi việc vẫn được khắc phục.


Từ một trạm sửa chữa khu vực phát triển thành Xưởng sửa chữa xe máy Công binh 559 trên mọi nẻo đường Trường Sơn, trải qua những năm tháng Trường Sơn, Trạm Y1 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao tại địa bàn cực nam Trường Sơn.

Sau khi Đoàn 559 - Bộ Tư lệnh Trường Sơn kết thúc nhiệm vụ trong hơn 16 năm bảo đảm cho các chiến trường, chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế - quốc phòng, tháng 4 năm 1976, chúng tôi chia tay nhau nhận nhiệm vụ mới, cương vị mới tại các đơn vị khác nhau.


Bây giờ cứ vào tháng 12 hàng năm, anh em Trạm Y1 - Xưởng 35 công binh thuộc Sư đoàn 470 tổ chức gặp mặt tại Hà Nội đê ôn lại những kỷ niệm Trường Sơn năm xưa. Rau rừng, cơm muối, bom đạn địch, ứng cứu, sửa chữa khôi phục xe máy, sản xuất khí tài công binh, nước lũ và sốt rét Trường Sơn...


Mỗi lần gặp mặt là cả một niềm vui lớn, xúc động, tự hào của những cán bộ chiến sĩ thuộc ngành bảo đảm kỹ thuật xe máy Công binh Trường Sơn năm xưa và cùng nhau chia sẻ những năm tháng đời thường.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #47 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2025, 08:25:33 pm »

Đại tá
DƯƠNG ĐỨC THỊNH


Sinh năm:   10/1939
Quê quán:   Nhã Nam, Tiên Yên, Bắc Giang
Thường trú: Nhà 12, Phố Hoa Bằng, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 04.38348428
Từ Bộ Tư lệnh Công binh chuyển sang BTL 559
Nguyên Thượng uý, Trợ lý Kỹ thuật Xe máy, Phòng Tiếp nhận Cục TMCB - Bộ Tư lệnh 559
Nguyên Phó Trưởng phòng Cục Vật tư, Bộ Quốc phòng


TRƯỜNG SƠN VIỆT NAM - LA HA BA NA CUBA SÂU ĐẬM TÌNH ĐỒNG CHÍ

Với danh nghĩa là đoàn Kỹ thuật Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, một đoàn cán bộ chiến sĩ đượccử đi học tập, nghiên cứu, tiếp thu kỹ thuật xây dựng cầu đường cấp cao, tổ chức quản lý, sử dụng khai thác trang thiết bị thi công hiện đại do Chính phủ và Nhân dân Cuba anh em tặng Việt Nam.


Đoàn có 48 người gồm 4 sĩ quan, kỹ sư và 40 hạ sĩ quan, lái xe, thợ của Công binh 559, 2 sĩ quan, kỹ sư của Bộ Tư lệnh Công binh và 2 sĩ quan phiên dịch tiếng Tây Ban Nha của Bộ Quốc phòng. Thiếu tá Liễu Văn Thăng là Trưởng đoàn.

Cả đoàn vừa mừng vừa lo về nhiệm vụ được giao, mặc dù các sĩ quan và chiến sĩ đều có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm. Các sĩ quan đều tốt nghiệp Đại học Bách Khoa HàNội, Đại học Kỹ thuật Quân sự, Học viện Cubưsép Liên Xô từ những năm 1963, 1965. Còn số anh em lái, thợ đều được đào tạo chu đáo từ các trường dậy nghề của Quân đội, đã trải qua những năm tháng công tác làm việc thực tế trên đường Trường Sơn.


Trong hơn một tháng học tập và chuẩn bị ở Hà Nội, anh Đặng Hương, Trưởng phòng Tiếp nhận Cục Công binh Bộ Tư lệnh Trường Sơn thường đến thăm hỏi động viên và phổ biến những kinh nghiệm khi học tập ở các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Phần học cấp tốc tiếng Tây Ban Nha và phong tục tập quán Cuba do hai sĩ quan phiên dịch đảm nhiệm.


Ngày xuất phát hoãn đến 04 tháng 01 năm 1974 thay cho ngày dự kiến trước đó ngày 01 tháng 01, ngày Quốc khánh Cuba. Chiếc IL - 18 Liên Xô đưa chúng tôi bay theo tuyến Hà Nội - Viêng Chăn (Lào) - Bom Bay (Ấn Độ) - Karasi (Pakistan) - Tasken (Uzơbêkistan) đến Matxcơva (Liên Xô) sau 23 tiếng bay. Khi quá cảnh Karasi Pakistan, không một ai được ra khỏi máy bay vì lý do an ninh đặc biệt. Đến Matxcơva, chúng tôi được Phòng Tùy viên quân sự, Đại sứ quán nước ta tại Liên Xô đón tiếp thân mật, thăm hỏi ân cần vui vẻ. Trời lạnh giá, nhưng ấm áp làm sao!


Chúng tôi1 (Liễu Văn Thắng, Phạm Hồng Tương, Dương Đức Thịnh, Phạm Kim Hải (Công binh 559) Hồ Quốc Tín, Nguyễn Văn Thanh (Bộ Tư lệnh Công binh). Hai phiên dịch Nguyễn Quang Xá và Nguyễn Văn Nhậm (Bộ Quốc phòng)) tranh thủ đi tham quan Quảng trường Đỏ, Lăng Lênin, tham quan Trường Đại học Lômônôxốp trên đồi Lênin, và cũng không quên đến Gum, Xum ở trung tâm Matxcơva.


Rời Matxcơva đi La Habana Cuba trên chiếc IL-76 bay qua Địa Trung Hải - An Giê (Angiêri) - Ra Bát (Marôc), vượt Đại Tây Dương mênh mông. Sau hơn 17 tiếng bay, chậm hơn lịch trình 4 tiếng vì lý do kỹ thuật phải chờ tại sân bay Ra Bát Ma Rốc, chúng tôi đến sân bay Quốc tế Jose Marti, thủ đô La Habana của Cuba.


Đất nước Cuba tràn ngập ánh nắng và gió lộng, nhộn nhịp, sôi động và vui tươi. Khi rời Matxcơva nhiệt độ dưới 10°c, giờ đây đang là 27°c lúc 11 giờ trưa (ở Việt Nam chắc còn đang là 23 giờ đêm hôm trước), chúng tôi đã đi cách Hà Nội nửa vòng trái đất.


Đoàn chia làm hai nhóm vì giai đoạn đầu nội dung học tập khác nhau, số 40 anh em học lái thợ về Trung tâm Đào tạo kỹ thuật Quốc gia cách La Habana 60 ki lô mét, còn 6 sĩ quan chúng tôi ở National Hotel ngay cạnh bờ biển La Habana.


Chúng tôi đến chào và thăm Đại sứ quán, Phòng Tùy viên Quân sự nước ta tại Cuba. Lúc này đại tá Hà Văn Lâu là Đại sự Đặc mệnh toàn quyền, đồng chí Lập thượng tá, đồng chí Đồn trung tá phụ trách Phòng Tùy viên quân sự. Chúng tôi vừa từ chiến trường sang đây, gặp các đồng chí ở bên này có nhiều chuyện để tâm sự. Chuyện Trường Sơn, chuyện chiến trường, chuyện miền Bắc, chuyện các vùng giải phóng và cả chuyện những vùng chúng tôi vừa đi qua, thân mật, đầm ấm và chân tình!


Đại sứ tặng mỗi sĩ quan chúng tôi một món quà rất có ý nghĩa, đó là cuốn từ điển Tây Ban Nha - Việt Nam để có thêm điều kiện tiếp xúc học hỏi kỹ thuật tiên tiến trên đất Bạn.

Biết chúng tôi là đoàn kỹ thuật của Quân đội Nhân dân Việt Nam sang học hỏi nên Bạn tổ chức cho học tập, sinh hoạt rất chu đáo. Nội dung chương trình rất khoa học và đầy đủ, phong phú, cụ thể và thiết thực. Bộ Phát triển Nông nghiệp (D.A.P) cùng với Bộ Quốc Phòng Cuba, trực tiếp là Cục Công binh bố trí đội ngũ cán bộ kỹ thuật và chuyên gia cầu đường, kỹ sư xe máy Cuba có nhiều kinh nghiệm để giảng dạy, giúp đỡ. Đó là những kỹ sư đã tốt nghiệp ở Liên Xô, Italia và nhiều nước khác, đã có nhiều năm kinh nghiệm thực tế xây dựng cầu đường trên mọi miền đất nước và nhiều kinh nghiệm khai thác, sử dụng quản lý các loại trang thiết bị thi công tiên tiến nhất của những nước có nền kỹ thuật tiên tiến. Không thấy có những loại trang thiết bị lạc hậu chắp vá nào trong các đơn vị thi công cầu đường và ỏ các nhà máy sản xuất cấu kiện bê tông của Bạn.


Bộ Quốc Phòng Cuba bố trí cán bộ thường xuyên đi cùng chúng tôi để giúp đỡ về học tập và sinh hoạt. Đó là hai đại úy Công binh J.J.L.Chacon và Colon, một sĩ quan bảo vệ và hai lái xe cùng hai xe chỉ huy Gatz-69A Liên Xô. Đồng chí Phó Cục trưởng Cục Công binh Bộ Quốc Phòng Cuba, trung tá P.R.G.Lon thường đến thăm hỏi tình hình ăn ở, học tập của chúng tôi.


Sau mỗi bài giảng, Bạn tổ chức cho chúng tôi đi quan sát nghiên cứu thực tế ở những đội xây dựng cầu đường trên suốt tuyến đường cao tốc 8 làn xe xuyên Tây - Đông từ Thủ đô La Habana đến căn cứ địa cách mạng Siera Mestra nơi nghĩa quân của Fidel Castro hoạt động trước khi về giải phóng La Habana, các tuyến đường khác, cấp thấp hơn tại các bến cảng, các tuyến đường các khu công nghiệp, nông nghiệp trồng lúa, trồng mía và cây ăn quả, đường các khu kỹ thuật nghiên cứu, đường các khu y tế, trường học và du lịch, danh lam thắng cảnh v.v...


Chúng tôi được tham quan, học hỏi thực địa mọi trạng thái của nhiều loại đường và các công trình trên đường: đoạn thì đang thi công móng, đoạn đang làm nền, đoạn đang làm mặt, đoạn đang hoặc đã hoàn thiện, taluy, rãnh, cầu, cống. Những con đường, những công trình cầu cống đều hoàn hảo, kỹ thuật tiên tiến, lâu bền không thể chê vào đâu được. Lúc đó, chúng tôi mong ước chúng ta có những con đường chỉ cần như đường Nông nghiệp ở cách xa các trung tâm lớn như ở đây.


Bạn còn bố trí cho chúng tôi đi thực tế các xí nghiệp sản xuất cấu kiện bê tông, các đội làm đường. Mọi công việc được cơ giới hóa cao độ, kỹ thuật tiên tiến, phương tiện thi công, sản xuất hiện đại, sản phẩm đạt chất lượng cao, kỷ luật lao động nghiêm, năng suất cao. Bạn còn giới thiệu tỉ mỉ những kinh nghiệm tổ chức quản lý lao động, chỉ huy thi công và quản lý công trình, đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật, kinh nghiệm khai thác quản lý sử dụng các trang thiết bị thi công, sản xuất. Tất cả rất bổ ích và quý báu.


Xen kẽ với việc học tập, Bạn tổ chức cho chúng tôi tham quan các khu di tích lịch sử cách mạng và danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Viện Bảo tàng Cách mạng, Viện Hàn lâm, Trại Môncađa, bãi biển Hirông, nơi nghĩa quân Cuba đổ bộ bằng con tàu Granma giải phóng đất nước, khu căn cứ địa cách mạng Siêra Mestra, bãi biển nổi tiếng Cuba Varađêrồ,khu nghỉ mát Trung ương Guama và đặc khu Guantanamo cách đất Mỹ chỉ hơn 90 dặm. Tại đặc khu, chỉ huy Lữ đoàn đặc trách khu vực cho chúng tôi đến tận các trạm tiền tiêu quan sát khu Mỹ chiếm đóng. Bằng phương tiện quan sát hiện đại, trong giao thông hào, chúng tôi có thể nhìn rõ từng cử chỉ của lính Mỹ trong căn cứ này.


Cả nhân dân Cuba rất ưa chuộng và tự hào về bài hát Guantanamera của mình. Nhiều người thuộc bài hát này và chúng tôi cũng rất xúc động tự hào cùng các bạn Cuba hát vang bài ca bất hủ đó.

Còn có hôm Bạn cử 3-4 sinh viên giỏi đi làm phiên dịch cho chúng tôi tại những buổi tiếp xúc với Trường Đại học Quốc gia La Habana, Trường Cuhai, Trường Đại học Tổng hợp Orienté, thăm Trường Tiểu học vùng Nông nghiệp Miền Đông Orienté.

Khi được thăm một hang động đẹp nổi tiếng trên đất Cuba, tôi liên tưởng đến:
   "Quảng Bình có động Phong Nha
   Có đèo Đá Đẽo, có phà Xuân Sơn."

Đó là những địa danh nổi tiếng và ác liệt trong chiến tranh chống Mỹ, nơi chúng tôi đã từng làm nhiệm vụ những năm qua. Động Phong Nha còn là nơi Cục Công binh Đoàn 559 tổ chức cất giấu khí tài vượt sông khi làm nhiệm vụ trên tuyên Trường Sơn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #48 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2025, 08:28:19 pm »

Trước khi Đoàn "Xây dựng Hồ Chí Minh" của Cuba sang Việt Nam xây dựng đường Xuân Mai, Sơn Tây và Bệnh viện Đồng Hới, Quảng Bình chúng tôi được mời dự buổi gặp mặt thân mật tổ chức tại Versalles Motel ở Orienté. Nhiều nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Cuba, nhiều đồng chí lãnh đạo và cán bộ cấp cao Bộ Xây dựng Cuba cũng có mặt.


Khi trở về nước, tôi gặp nhiều đồng chí Cuba đang làm việc miệt mài hăng say trên hai công trình này, trong đó được gặp lại anh Raun, thật mừng vui và xúc động.

Ở mọi nơi chúng tôi đến, các bạn Cuba đều dành cho Việt Nam nói chung và đoàn chúng tôi nói riêng tình cảm tốt đẹp không thể quên. Trên đường từ thủ đô La Habana đi miền đông Orienté, Bạn đặt một tấm biển rất trang trọng "Venida Delegación Vietnamita ai Plan Arroz de Orienté", tạm dịch là: "Chào mừng Đoàn đại biểu Việt Nam đến thăm vùng lúa Orienté". Thật sự là xúc động, thực tế chúng tôi chỉ là một bộ phận nhỏ của Quân đội nhân dân Việt Nam đến Cuba học tập về để xây dựng đất nước! Trong bất kỳ buổi gặp gỡ nào, các bạn Cuba đều nói: "Việt Nam - Cuba, đoàn kết nhất định thắng! Vì Việt Nam chúng tôi sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình!".


Thời gian này, vào cuối tháng 4 năm 1974, Đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước ta do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm Cuba. Sau buổi mít tinh chào mừng tại quảng trường cách mạng José Marti La Habana trong hơn 5 tiếng đồng hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gặp mặt các cán bộ và lưu học sinh Việt Nam đang công tác học tập tại Cuba. Thủ tướng ân cần hỏi thăm và căn dặn mọi người phải công tác tốt, học tập tốt, đoàn kết tốt.


Một buổi gặp mặt khó quên nữa là ngày 08 tháng 3 năm 1974, đại diện Cục Công binh, Bộ Phát triển Nông nghiệp và Hội Liên hiệp Phụ nữ thủ đô La Habana tổ chức đến thăm sĩ quan chúng tôi tại khách sạn National. Buổi gặp thân mật, đâm âm, chân tình và rất Việt Nam. Các chị trẻ trung năm đó giờ đây chắc hẳn cũng đã là bà nội, bà ngoại cả rồi.


Đêm giao thừa Tết cổ truyền Việt Nam, Bạn đến thăm và chúc tết chúng tôi. Có đại diện của D.A.P (Bộ Phát triển Nông nghiệp), Cục Công binh. Đặc biệt hơn là có cả "phu nhân" các đồng chí thường làm việc với chúng tôi cũng đến dự. Đơn giản, nhưng đậm đà tình nghĩa, mãi đến gần 2 giờ sáng mới tạm gọi là kết thúc, chia tay tại National Hotel.


Hạ tuần tháng 4 năm 1974 số sĩ quan chúng tôi kết thúc đợt I học tập, rời La Habana về Trung tâm Quốc gia đào tạo kỹ thuật ở cùng với 40 anh em lái thợ đang học tập tại đây. Nhà trường rất chính quy, nghiêm túc và chu đáo. Khi nhập trường, có lẽ bất kỳ ai cũng phải nghĩ ngay đến kỷ luật, nội quy và phải thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.


Số anh em lái thợ đã được bạn Cuba huấn luyện đạt kết quả tốt thực tế trên những loại hàng thiết bị Cuba mua của Nhật Bản tặng Việt Nam sẽ cập bến Hải Phòng đầu tháng 9 10 năm 1974. Bạn còn tổ chức cho anh em đi tham quan thực tế ở các đội làm đường cơ giới và nhiều cơ sở bảo dưỡng sửa chữa thiết bị thi công. Bạn rất khen ngợi tinh thần học tập và khả năng tiếp thu, thực hành của số anh em lái thợ của ta. Số sĩ quan chúng tôi được lãnh đạo Nhà trường bố trí nghiên cứu thêm công tác đào tạo, giảng dạy của Trường, công tác tổ chức, quản lý, khai thác các phương tiện thi công cơ giới, công tác đảm bảo kỹ thuật xe máy và chỉ huy thi công cơ giới. Đây là những nội dung và biện pháp Bạn đã thực hiện thành công và có hiệu quả cao trong cả nước.


Ngoài 2 sĩ quan phiên dịch của đoàn, nhiều lúc còn huy động thêm 3-4 sinh viên Việt Nam đang học tại La Habana để hỗ trợ phiên dịch. Đội ngũ cán bộ nhà trường từ lãnh đạo, cán bộ chuyên môn, các trợ giáo, đội ngũ cán bộ nhân viên thư viện, hậu cần, y tế đều thành thạo, trách nhiệm cao, toàn tâm toàn ý vì nhiệm vụ và rất có cảm tình với học viên quân sự Việt Nam. Điều này cũng giúp chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập của mình.


Thầy dạy tốt, trò học tốt, đạt kết quả cao. Đó là những điều bạn Cuba và chúng tôi mong muốn đã đạt được. Ai cũng vui mừng.

Khi kết thúc khóa học, Nhà trường cùng Đoàn chúng tôi ra tờ báo tường "Đoàn kết". Trong phạm vi có hạn, với 21 bài báo chúng tôi đã bày tỏ lòng biết ơn Nhân dân Cuba anh em, Nhà trường đã dành và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi thực hiện tốt nhiệm vụ học tập.


Trong buổi lễ bế mạc, tất cả chúng tôi đều mặc bộ quân phục mới nhất đem theo từ Việt Nam. Toàn thể cán bộ lãnh đạo Nhà trường, Hiệu trưởng kỹ sư Amando Lopez Nùnez, toàn bộ cán bộ công nhân viên của Trường gần 100 người đều có mặt. Đại diện của Bộ Phát triển Nông nghiệp D.A.P, Tổng công ty Xuất nhập khẩu xây dựng, đại diện Bộ Quốc phòng Cuba, tất cả các chuyên gia của D.A.P đã giảng dạy, các sĩ quan của Bộ Quốc phòng đã thường xuyên công tác với chúng tôi đều có mặt đầy đủ.


Đặc biệt dự lễ bế giảng còn có bà Melba Hemalđer, sau là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cuba tại Việt Nam. Cả hội trường vang lên bài "Guantanamera" bài hát mà mọi người đều ưa thích.

Các bạn Cuba đã làm tất cả để giúp chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ. Cho đến nay, đã nghỉ hưu nhưng những tình cảm cao đẹp đó còn in sâu đậm mãi trong mỗi chúng tôi.

Đã đến lúc chia tay các bạn Cuba sau 5 tháng học tập, chúng tôi trở về nước. Nhiệm vụ còn nặng nề ở phía trước trên tuyến chiến lược Trường Sơn đang chờ. Chúng tôi biết rằng, khoảng tháng 10, 11 năm 1974 sẽ có một Đoàn chuyên gia Cuba sang tuyến Trường Sơn công tác cùng với bộ đội Công binh Trường Sơn.


Sáng 11 tháng 5 năm 1974, tạm biệt các bạn Cuba, tạm biệt La Habana, chúng tôi trở lại Matxcơva trên chiếc IL-76 của Hãng Hàng không Aeroflot. Riêng tôi mang theo trên vai tài liệu kỹ thuật của tất cả các loại thiết bị thi công Cuba tặng Việt Nam.

Chuyến về, nguyện vọng của chúng tôi là được đi xe lửa từ Matxcơva qua Mông cổ và Trung Quốc. Đại sứ quán ta tại Liên Xô đã đáp ứng.

Đúng 20 giờ ngày 13 tháng 5 năm 1974, chúng tôi rời ga trung tâm Matxcơva. Một cơ hội may mắn, chúng tôi được ngắm nhìn đất nước Xô Viết mênh mông từ Tây sang Đông. Tuyết đã bắt đầu tan. Những cánh đồng xanh tươi, những công trình đồ sộ, những thành phố, những kim công nghiệp rồi những cánh rừng taiga vùng Siberi trải dài hầu như vô tận. Đường xe lửa hai chiều đi sát ngay hồ Baikan huyền thoại. Chỉ có ngắm nhìn và yên lặng chiêm ngưỡng. Chỉ mất mười phút làm thủ tục khi qua ga biên giới Liên Xô - Mông Cổ vì hai đất nước này cùng sử dụng một loại đường sắt khổ 1,600 mét.


Khi đến Ulanbato, thủ đô Mông Cổ, có dịp ngắm cảnh đất nước"đại thảo nguyên". Bên cạnh những tòa nhà và khuphố hiện đại, xa xa lại là những cụm lều bạt truyền thống Mông Cổ, thanh nhã, không chút ồn ào. Ngắm nhìn thảo nguyên mênh mông với những đàn gia súc khổng lồ mới hiểu vì sao người Mông Cổ lại có những bài hát vang xa như thế binh mã của Thành Cát Tư Hãn ngày xưa lại có thể trở thành những siêu kỵ sĩ đến vậy!


Ga biên giới Mông Cổ - Trung Quốc trên tuyến đường sắt phía tây là ga Nhị Liên. Bây giờ trời đã tối, mất khoảng 40 phút thay bánh xe từ 1,600 mét sang 1,435 mét và làm các thủ tục quá cảnh. Đất nước Trung Hoa bao la đây rồi! Vùng phía bắc thuộc tỉnh Hà Bắc còn khá lạnh. Những ngôi nhà đất truyền thống được người dân xây cất rất cẩn thận. Những khu ruộng bậc thang mới đẹp mắt làm sao! Người nông dân chắc hẳn phải mất rất nhiều công sức để tạo dựng nên. Những viên đá ba lát được xếp gắn thẳng thắn, công phu, kỳ công và đẹp mắt nói lên sự nghiêm túc của ngành đường sắt tạo dựng cho hành khách lòng tin tưởng trong chuyến đi an toàn. Đến chân dãy Vạn lý Trường thành, xe lửa dừng lại 30 phút để khách chiêm ngưỡng công trình có một không hai của Trung Quốc và của cả nhân loại này.


Đến Bắc Kinh, Đoàn chúng tôi được Đại sứ quán ta bố trí nghỉ ở khách sạn Bắc Vĩ hai ngày. Thế là có dịp tham quan Thiên An Môn, Di Hòa Viên và một vài nơi khác trong thành phố, vẫn tiếc là không đủ thời gian để đi thăm được nhiều nơi.

Đến Bằng Tường đoàn tàu dừng lại đổi bánh xe từ 1,435 mét sang 1,000 mét và làm các thủ tục quá cảnh. Sau gần 2 tiếng chúng tôi lên đường về Hà Nội. 20 giờ 30 ngày 27 tháng 5 năm 1974, Đoàn về đến ga Hàng Cỏ, sau gần một ngày từ ga biên giới Bằng Tường. Thế là sau 12 ngày rời ga Trung tâm Matxcơva, chúng tôi đã về đến Hà Nội, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới sau hơn 5 tháng học tập tại Cuba.


Khi trở về Cục Công binh Bộ Tư lệnh 559, chúng tôi nhận nhiệm vụ bắt tay ngay vào việc tổ chức tiếp nhận và chuyển vào Trường Sơn số trang bị làm đường Nhật Bản do Đảng Nhà nước và nhân dân Cuba tặng Việt Nam.

Đã qua hơn 35 năm, nhưng tất cả những hình ảnh, những tình cảm mà Đảng, Chính phủ Nhân dân Cuba anh em nói chung và Đoàn chuyên gia cầu đường Cuba nói riêng đã dành cho Việt Nam - cho Trường Sơn luôn luôn in đậm trong mỗi chúng tôi - những cán bộ chiến sĩ Công binh 559 Bộ đội Trường Sơn anh hùng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #49 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2025, 08:32:24 pm »

TẤM LÒNG NHỮNG NGƯỜI BẠN THỤY ĐIỂN VỚI TRƯỜNG SƠN

Kỹ sư Dương Đức Thịnh


Thụy Điển ở Bắc Âu, là nước có nền kinh tế phát triển rất cao, ở cách xa Việt Nam hàng vạn dặm. Trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng đất nước của dân tộc ta, Chính phủ và Nhân dân Thụy Điển đã dành cho nhân dân Việt Nam tình cảm đặc biệt và sự giúp đỡ quý báu, có hiệu quả.


Sau khi hoàn thành chu đáo việc tổ chức tiếp nhận, vận chuyển vào tuyến Trường Sơn bộ trang thiết bị và vật tư kỹ thuật cho bốn đội làm đường do Đảng, Chính phủ và Nhân dân Cuba anh em tặng, tháng 11 năm 1974, trung tá Đặng Hương, Trưởng phòng Tiếp nhận Cục Tham mưu Công binh 559 được giao nhiệm vụ tổ chức tiếp nhận và chuyển vào Trường Sơn số trang thiết bị hiện đại thi công đường cấp cao của Chính phủ và Nhân dân Thụy Điển viện trợ không hoàn lại.


Số trang bị vật tư quý giá này nước bạn Thụy Điển viện trợ cho Chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam để xây dựng mạng cầu đường, phục vụ nhiệm vụ giải phóng miền Nam và góp phần xây dựng đất nước sau ngày giải phóng.

Phía Thụy Điển, cơ quan Viện trợ "SIDA" trực tiếp tổ chức thực hiện. Phía Việt Nam, cơ quan chủ quản là ủy ban Thống nhất Trung ương, trụ sở tại 19, 21 Hai Bà Trưng, Hà Nội (sau này là trụ sở Cơ quan Thường trực của ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam, tiếp đó là trụ sở Đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam), Cục Quản lý Viện trợ thuộc ủy ban Thống nhất Trung ương trực tiếp thực hiện. Bộ Quốc Phòng ủy nhiệm Bộ Tư lệnh Trường Sơn, trực tiếp là Cục Tham mưu Công binh tổ chức tiếp nhận với chức năng là một bộ phận của quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam.


Sau khi được giao nhiệm vụ, Trưởng phòng Đặng Hương tổ chức triển khai một loạt công việc cần thiết: chuẩn bị lực lượng tiếp nhận gồm có cán bộ kế hoạch, kỹ sư, lái, thợ, hậu cần, lực lượng bảo vệ tại tổ chốt ở sân bay Cát Bi, Hải Phòng quan hệ với Phòng Nhập 6, Tổng công ty Xuất Nhập khẩu Thiết bị Kỹ thuật toàn bộ, Bộ Ngoại thương, về kế hoạch tàu vào các cảng biển Hải Phòng, Đà Nẵng, Cam Ranh, quan hệ với Cục Vật tư và các đoàn tiếp nhận của Tổng cục Hậu cần được Bộ Quốc phòng giao làm nhiệm vụ tại các cảng biển này. Chúng tôi còn quan hệ với Công an để có được sự hỗ trợ bảo vệ khi nhận và đưa hàng từ các cảng về nơi tập kết. Các cơ quan đều tận tình giúp đỡ, là điều kiện đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ tiếp nhận số hàng viện trợ quý giá này.


Vào thời điểm này, Phòng Tiếp nhận Công binh Trường Sơn cũng đang tiếp nhận trang thiết bị của Liên Xô cho bốn đội làm đường do Nhà nước cấp tại cảng Hải Phòng, theo quyết định số 628-VP9 ngày 16 tháng 3 năm 1974, trang thiết bị Nhà nước cấp qua Bộ Vật tư theo quyết định 17/CP ngày 17 tháng 01 năm 1975 và trang thiết bị vật tư kỹ thuật Bộ Quốc Phòng cấp cho Công binh Trường Sơn nhận tại Hà Nội, Lạng Sơn, Hà Tây, Kiến An - Hải Phòng. Khối lượng tổng cộng đến 1.700 xe máy và hơn 550 tấn vật tư khí tài Công binh và vật tư kỹ thuật thi công đường.


Từ tháng 3 năm 1975, Phòng Tiếp nhận thực hiện triển khai nhiệm vụ nhận 69 đầu xe máy và 4,2 tấn dầu mỡ chuyên dụng tại 3 cảng Hải Phòng, Đà Nẵng và Cam Ranh. Cụ thể gồm có:

- 5 máy xúc bánh lốp LM16413,2m3/gầu, Thụy Điển sản xuất.

- 30 máy ủi 180 mã lực KOMMATSU D85AI2 Nhật Bản.

- 4 xe vận tải 14 tấn NISSAN Nhật Bản.

- 30 máy hàn diêden di động ESAB Thụy Điển.

- 4,2 tấn dầu mỡ chuyên dụng Nhật Bản.

- Kèm theo 71 hòm dụng cụ đồ nghề và 301 kiện phụ tùng thay thế.

Số trang thiết bị, vật tư kỹ thuật này vào thời điểm 1975 trị giá khoảng gần 3 triệu đô la Mỹ.

Từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1975, đã tiếp nhận tại cảng Hải Phòng và chuyển về sân bay Cát Bi 3 máy xúc, 30 máy ủi, 30 máy hàn, cùng với số dụng cụ đồ nghề phụ tùng kèm theo và 4,2 tấn dầu mỡ chuyên dụng, loại dầu mỡ "tư bản".

Cục Tham mưu Công binh 559 phối hợp với Cục Quản lý xe máy Tổng cục Kỹ thuật tổ chức lớp tập huấn, bổ túc về kỹ thuật xe máy mới Việt Nam chưa có, Thuỵ Điển cử chuyên gia trực tiếp giảng dạy. Lớp học ngắn ngày được tổ chức chỉ một tuần lễ từ 19 tháng 5 đến 26 tháng 5 năm 1975 trong mấy chiêc nhà bạt Liên Xô đủ chỗ cho 22 người ăn ngủ, học tập tại đường băng sân bay Cát Bi, Hải Phòng, 13 học viên là của Công binh 559 và 9 học viên của Cục Quản lý xe máy.


Ông Akselson, chuyên gia của cơ quan viện trợ Thụy Điển SIDA trực tiếp giảng dạy. Rất khẩn trương, ông đến Hà Nội ngày 14 tháng 5 năm 1975, ngày 17 tháng 5 năm 1975 đến Hài Phòng và ngày 19 tháng 5 đã bắt đầu lên lớp.

Học viên Việt Nam là kỹ sư xe máy đã nhiều năm công tác thực tế, lái xe và thợ sửa chữa cũng đều có tay nghề khá, số cán bộ, lái xe ở Công binh 559 đã có thời gian được tiếp xúc với xe máy các nước tư bản Nhật Mỹ.

Bảy ngày đêm dưới cái nắng hè nóng như lửa đốt tại sân bay Cát Bi nhưng chuyên gia Akselson đầy đủ nhiệt huyết với Việt Nam đã chỉ bảo tận tình, chu đáo, toàn diện từ việc lên lớp lý thuyết để thực hành trên xe máy. Ông là một chuyên gia mẫu mực cả về kỹ thuật và phong cách làm việc, mặc dù ông là người ở xứ lạnh Bắc Âu, một đất nước nhiệt đới cách xa Việt Nam hàng vạn dặm. Nghỉ giải lao giữa hai giờ học, ông tâm tình: được giúp đỡ Việt Nam anh em trong công cuộc đấu tranh giành độc lập thống nhất là vinh dự lớn cho ông, không phải ai cũng có được.


Khó khăn lúc này không nhỏ. Học viên ăn ở ngay tại những chiếc nhà bạt dã chiến trên đường băng sân bay Cát Bi. Việc ăn nghỉ của chuyên gia và phiên dịch do Cục Quản lý Viện trợ Trung ương bảo đảm. Công việc quản lý hậu cần của lớp học do Công binh Trường Sơn lo liệu.


Được chuyên gia Thụy Điển Akselson truyền đạt những kiến thức về tổ chức quản lý, khai thác sử dụng và bảo đảm kỹ thuật số trang thiết bị Thụy Điển viện trợ, chúng tôi thấy dễ tiếp thu, rất bổ ích và hỗ trợ tốt cho nhiệm vụ của mình.

Lớp học chỉ kéo dài 1 tuần nhưng đạt kết quả tốt. "Thầy" nhiệt tình truyền đạt kiến thức, "trò" hết sức chăm chú lắng nghe.

Lớp học kết thúc, thầy, trò lưu luyến chia tay. Việc còn lại của chúng tôi là tiếp nhận đủ, đồng bộ theo danh sách trang thiết bị vật tư Thụy Điển viện trợ. Hàng vào trên nhiều chuyến tàu biển, nhận tại 3 nơi: cảng Hải Phòng, Đà Nẵng, Cam Ranh, vào những thời điểm khác nhau, không liên tục, do đó đòi hỏi cán bộ phải năng động, nhiệt tình, và có kiến thức thực tế.


Đến tháng 10 năm 1975 chúng tôi nhận số thiết bị vật tư còn lại của Thụy Điển gồm 4 xe tải 14 tấn Nissan Nhật Bản, 2 máy xúc Volvo M1461. Phụ tùng máy ủi Nhật có 240 kiện, tháng 5 đến tháng 10 năm 1975 đã nhận tại Hải Phòng 160 kiện, tháng 10 đến tháng 11 năm 1975 nhận 80 kiện tại cảng Cam Ranh. Riêng 1 kiện hàng đặc biệt nặng 42 kilôgam Bạn gửi qua đường hàng không, được tiếp nhận tại sân bay quân sự Gia Lâm vào tháng 4 năm 1975.


Ngoài ra Cục Công binh 559, với danh nghĩa là Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam nhận 2 máy xúc lật TM - 157 Liên Xô có đủ phụ tùng dự trữ và dụng cụ đồ nghề kèm theo tại khu vực Núi Bò. Vì trời mưa, lầy lội nên sau 2 ngày mới nhận xong.

Số trang thiết bị, vật tư kỹ thuật Thụy Điển viện trợ nhận ở cảng Hải Phòng được đưa về tập kết tại kho trung chuyển sân bay Cát Bi, được sắp xếp chu đáo, bảo vệ nghiêm ngặt. Ông Akselson khi đến "lớp học" cũng cảm thấy hài lòng về công tác tiếp nhận, bảo quản và bảo vệ trang thiết bị.


Toàn bộ số trang thiết bị và vật tư kỹ thuật làm đường do Chính phủ và nhân dân Thụy Điển viện trợ được tổ chức chuyên vào đường Trường Sơn an toàn, kịp thời cấp phát cho các đơn vị làm nhiệm vụ, lúc này đang còn rất cần.

Tình cảm của nhân dân Thụy Điển và ông Akselson đối với Việt Nam, với Trường Sơn là dấu ấn rất tốt đẹp còn in sâu đậm mãi đến nay trong mỗi cán bộ, chiến sĩ Công binh 559. Ông Akselson làm việc ở Việt Nam trong thời gian rất ngắn, nhưng đã để lại một ấn tượng đậm nét với học viên, với cán bộ tiếp nhận thiết bị của nhân dân Thuỵ Điển chi viện cho nhân dân Việt Nam.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM