Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:07:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lược sử nước Mỹ thời kỳ tái thiết 1863-1877  (Đọc 20824 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #30 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2023, 10:28:07 am »


Chế độ thuế khóa cũng không công bằng. Trước nội chiến các bang phía Nam không thu thuế điền sản mà chỉ thu những loại thuế khác như thuế thân, thuế sở hữu nô lệ, thuế buôn bán và thuế nghề nghiệp. Như thế, người ít chịu thuế là người lao động và người đóng thuế nhiều nhất là người làm nghề nông nhưng họ vẫn sống sung túc. Theo chương trình tái thiết thì người da đen tự do phải đóng thuế thân; những ai không đóng thuế bị xem là “người lang thang”. Sự bất công của chế độ thuế thể hiện ở chỗ nhiều chủ điền sở hữu đất đai đem lại lợi tức to lớn nhưng chỉ phải đóng một khoản thuế nhỏ và sử dụng hàng trăm lao động nghèo khó không có chút tài sản nào. Hơn nữa, tuy người da đen phải nộp thuế như người da trắng nhưng họ không được hưởng những quyền lợi về giáo dục y tế, các tiện nghi dịch vụ công cộng, v.v... Nhiều người da trắng miền Nam luôn tìm cách ngăn cản không để người da đen được hưởng những quyền công dân tối thiểu, ví dụ như về giáo dục. Ở bang Bắc Carolina, Thống đốc Jonathan Worth thuyết phục cơ quan lập pháp tiểu bang bãi bỏ hệ thống trường công lập tuy trước đó, khi còn là nghị viên chưa được bầu làm thống đốc (năm 1865), ông đã tranh đấu thành lập hệ thống này. Lý do: “nếu chúng ta mở trường công lập với kinh phí của tiểu bang cho trẻ em da trắng thì chúng ta cũng phải nhận các trẻ da đen”. Worth và các nhà lập pháp cho phép mở các trường tư với những khoản trợ cấp về thuế.

Sự kỳ thị người da đen như trên cũng xảy ra tương tự trong ngành tư pháp; vì thế đã gặp chống đối mãnh liệt từ nhiều phía, cuối cùng, khoảng cuối năm 1866, nhiều bang phía Nam đã phải hủy bỏ các sắc luật kỳ thị người da đen. Tuy nhiên, tòa án vẫn tiếp tục xử phạt tội “đi lang thang”, tội vi phạm hợp đồng lao động, cưỡng ép tập việc, thuế (mặc dù biết là không công bằng) trong khi các luật đặt ra vẫn không được thực thi đúng đắn. Mọi nỗ lực đổi mới nền kinh tế phương Nam không đem lại kết quả như mong muốn tuy nô lệ đã bãi bỏ, cây bông vải không còn là sản phẩm chủ lực, triển vọng hình thành một nền kinh tế mới với đầu tư từ phương Bắc, xây dựng đường sắt và các nhà máy, lực lượng lao động phát triển nhờ chính sách di dân. Các nông trường trồng bông vải thu hẹp diện tích, sử dụng lao động chủ yếu là các góa phụ và trẻ mồ côi từ sau chiến tranh. Một tờ báo ở bang Nam Carolina năm 1866 bình luận: “Các đại nông trường cần phải thu nhỏ để trở thành các nông trại đáng kính; năng lượng nước phải được sử dụng cho các nhà máy,... và con em chúng ta cần học làm việc”.

Các nhà lãnh đạo địa phương cổ vũ cho công cuộc phục hồi kinh tế miền Nam với sự hình thành của hệ thống đường sắt xuyên qua miền. Các thành phố lớn như Charleston và Vicksburg trông đợi đường sắt sẽ giúp cho toàn miền thoát khỏi sự trì trệ về kinh tế; còn những vùng nằm sâu trong lục địa, trên vùng núi cao thì hy vọng đường sắt sẽ giúp thoát khỏi sự lệ thuộc vào các cảng sông và có thể buôn bán trực tiếp với miền Bắc. Một tờ báo ở Mississippi viết: “Ngành đường sắt sẽ phục hồi năng lượng của toàn dân (miền Nam), giúp khai thác các tài nguyên của đất nước, và mở ra cho chúng ta con đường phát triển và thịnh vượng”. Chính quyền Johnson đưa ra chính sách khuyến khích các bang đầu tư xây dựng đường sắt, khai thác khoáng sản, xây dựng các nhà máy luyện kim và chế biến, thiết lập hệ thống ngân hàng và bảo hiểm. Để phát triển nông nghiệp, các tiểu bang lập hệ thống tín dụng nông nghiệp có sự bảo đảm của luật pháp: nhà đầu tư cung cấp vốn và vật dụng cho nông dân và được bảo đảm về hoa màu. Thế nhưng, chương trình tái thiết kinh tế của Tổng thống đã không được thực thi như mong muốn. Cụ thể là việc xây dựng đường sắt. Trong cả hai năm 1866 và 1867, chỉ mới xây dựng được 422 dặm (675 km) trên toàn 11 tiểu bang thuộc Liên minh miền Nam cũ. Chính phủ cũng bổ nhiệm những ủy viên đặc trách di dân tại miền Nam nhưng chẳng thu hút được nhiều di dân. Ngược lại, con số di dân ở nước ngoài lại có chiều hướng giảm trong thời gian 1860-1870. Nhìn chung, phát triển công nghiệp không tiến triển; chỉ một số ít nhà máy được phục hồi từ sau chiến tranh như Công ty gang thép Tredegar ở Richmond, được nhà đầu tư từ phương Bắc bỏ vốn phục hồi sản xuất. Đa số những nhà kinh doanh miền Nam ra miền Bắc kêu gọi vốn đầu tư đều phải ra về tay không. Lúc này các nhà kinh doanh phương Bắc đang bị thu hút bởi những dự án đầy triển vọng ở miền Tây; miền Nam không hấp dẫn họ vì bất ổn chính trị.

Chương trình tái thiết miền Nam sớm thất bại vì nhiều lý do ngoài khả năng các nhà chính trị miền Nam. Hậu quả của chiến tranh và di sản của nền kinh tế nông trang sau nhiều thập kỷ không thể xóa bỏ chỉ trong hai năm. Hơn nữa, tâm lý chia rẽ và các mục tiêu trái ngược nhau về sự cải tổ kinh tế cũng là nguyên nhân dẫn đến thất bại trên. Để canh tân kinh tế thời hậu chiến cần thiết phải thay đổi cơ cấu tổ chức kinh tế nông trang. Kinh tế nông nghiệp luôn chậm tiến vì sản xuất chỉ nhắm cho xuất khẩu, ít quan tâm đến thị trường trong nước; giới lãnh đạo thì bảo thủ, luôn tìm cách ngăn trở các nỗ lực về cải cách nông nghiệp và hình thành một thị trường lao động tự do. Báo chí phương Bắc luôn kêu gọi việc “xóa sổ” các đại đồn điền và giải phóng lực lượng lao động nhưng không hề đưa ra biện pháp đối với người da đen.

Giới chủ điền thì luôn tỏ ra nhất quán. Họ không muốn xóa bỏ kinh tế nông trang nhưng lại muốn có đường sắt, nhà máy và các nhà đầu tư phương Bắc bỏ vốn để phục hồi sản xuất tại các đồn điền mà không làm ảnh hưởng đến trật tự lao động của người da đen.

Toàn bộ chương trình tái thiết miền Nam không nói đến “ai sẽ thay thế lao động da đen tại các đồn điền” mà chỉ kể ra: “Với những tiến bộ khoa học kỹ Ihuật nông nghiệp, sử dụng cơ giới,... sẽ giúp các nông trường hoạt động không cần đến sức lao động của người da đen được tự do”. Hơn nữa, các nông trại cỡ nhỏ chủ yếu sử dụng lao động trong gia đình. Các nhà cải cách thì chỉ nói đến các nhà máy sử dụng lao động da trắng, những nông trang do người nhập cư da trắng đến lập nghiệp, mà không đề cập đến vấn đề người da đen trước đây là nô lệ tại các đồn điền. Dĩ nhiên họ cũng lộ rõ ý đồ “người da đen sẽ chẳng bao giờ có được những mảnh đất màu mỡ” để canh tác.

Kinh nghiệm từ công cuộc tái thiết của Tổng thống cho thấy việc bố trí người nô lệ da đen được giải phóng trong trật tự xã hội mới đã ảnh hưởng tới nỗ lực cải tổ nền kinh tế chính trị của miền Nam. Các chính quyền địa phương do ông tạo dựng thì chỉ quan niệm người da đen phải là lao động trong các đồn điền. Kết quả là viễn ảnh một miền Nam tự tái thiết đã thất bại từ đầu đến cuối và chỉ khi chương trình tái thiết của Tổng thống sắp kết thúc thì người da trắng phương Nam mới ý thức cơ hội tốt đã qua. Các nhà làm luật thì chỉ biết trau chuốt theo ngôn từ báo giới sau này sẽ được các chính quyền cấp tiến sử dụng. Họ như bất lực, lười biếng và không có khả năng giải quyết những vấn đề trong vùng. “Có lẽ việc tốt nhất là các nhà lập pháp nên về vườn”, phái viên của Thống đốc Orr, bang Nam Carolina, đã nhận định.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #31 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2023, 10:28:56 am »


❖ PHẢN ỨNG TỪ MIỀN BẮC

Lúc mới công bố, chính sách tái thiết miền Nam của Tổng thống Andrew Johnson được sự hậu thuẫn triệt để của các chính khách phương Bắc. Chẳng những rất nhiều người miền Bắc tán thành nhanh chóng đưa miền Nam trở về với Liên bang, chính sách này còn được đảng Dân chủ ủng hộ vì họ tin tưởng sẽ lấy lại tài sản bị mất trong thời chiến. Nhưng người Cộng hòa nguyên là đảng viên Dân chủ có chung quan điểm về quyền hạn của tiểu bang và thành kiến sắc tộc với Tổng thống Johnson, và những đảng viên Cộng hòa muốn củng cố vị thế trong đảng nhờ liên kết với vị Tổng thống mới.

Nhiều chính khách miền Bắc có uy tín cũng tin tưởng ngành sản xuất bông vải mau chóng phục hồi rất cần thiết cho phát triển kinh tế. Mặc dù mất vị thế thượng tôn, bông vải vẫn là mặt hàng chủ lực cho xuất khẩu. Các cảng biển Boston, New York và Philadelphia ngày đêm tấp nập tàu bè ra vào để bốc dỡ hàng của các nhà buôn giàu sụ. Cùng với các hãng buôn lớn trù phú này là một loạt các cửa hàng, văn phòng luật sư, bảo hiểm, ngân hàng, các hãng tàu biển, v.v... Hầu như mọi người đều tin chắc rằng nếu không nhanh chóng phục hồi ngành trồng bông vải, miền Nam sẽ không bao giờ trả nổi nợ chiến tranh, các nhà máy dệt ở vùng New England sẽ phải đóng cửa, và nước Mỹ sẽ không có đủ ngoại tệ dùng trong ngoại thương và thanh toán các khoản nợ quốc tế. Thượng Nghị Sĩ William Sprague thuộc đảng Cộng hòa tuyên bố nếu không có bông vải thì Hoa Kỳ sẽ “phá sản trên mọi mặt”. Như thế, mọi quyền lợi to tát về kinh tế của miền Bắc phụ thuộc sự thống nhất nhanh chóng với miền Nam và sự phục hồi sản xuất các loại nông sản chủ yếu. Các nhà phân tích đều tin tưởng các chính sách của Tổng thống Johnson có thể đạt những mục tiêu trên. Tờ báo thương mại Journal of Commerce ở New York, bình luận: “Nếu người da màu có được những quyền lợi chính đáng của họ thì các tiểu bang sẽ có nhiều lao động với năng suất cao”.

Xu hướng chung của người dân miền Bắc là ủng hộ Tổng thống và những chính sách ông đề ra. Chỉ riêng một nhóm Cộng hòa cấp tiến, tỏ ra chống đối chương trình của Johnson. Năm 1865, họ ngạc nhiên trước Tuyên bố tháng Năm, cho rằng Johnson đã lừa họ về vấn đề quyền bầu cử của người da đen. Suốt mùa hè và mùa thu năm 1865, những người cấp tiến và chủ trương bãi nô vận động cho yêu sách này; nó là nguyên tắc tất yếu của việc giải phóng nông nô da đen. Những người cấp tiến đều cho rằng sẽ “không thể có tái thiết nếu người da đen không được quyền bầu cử”. Lãnh đạo phe cấp tiến viết thư cho nhau trao đổi quan điểm và hứa hẹn tổ chức chống đối các chính sách của Johnson. Trong một lá thư Thượng Nghị Sĩ Henry Wilson viết gửi Ủy viên Cục vấn đề người tự do: “Tôi hy vọng Ông sẽ làm mọi cách để bảo vệ người da đen bởi vì có vẻ như quốc gia này đã để họ rơi vào tay bọn chủ nhân bất trung thực”

Vấn đề quyền đi bầu của người da đen gặp nhiều rắc rối khó khăn. Không một chính khách nào tìm ra giải pháp thỏa đáng. Mặc dù có sự nới lỏng cho người da đen ghi tên vào danh sách cử tri và những cuộc vận động đòi quyền bầu cử của những người da đen phương Bắc, chỉ có năm tiểu bang đều ở miền New England cho phép người da đen đi bầu như người da trắng. Đại đa số đảng viên Cộng hòa không theo phe cấp tiến, họ thuộc các nhóm trung dung hay bảo thủ và lo ngại vấn đề người da đen có thể khiến họ mất những lá phiếu của cử tri.

Mối hiểm nguy tiềm ẩn này trở nên rõ rệt trong ba cuộc trưng cầu dân ý về sửa đổi hiến pháp nhằm trao quyền bầu cử cho cộng đồng thiểu số da đen ở miền Bắc. Tại bang Minnesota, các đại hội của đảng Cộng hòa đều ủng hộ tu chính án này nhưng thiếu 2.600 phiếu để có thể thông qua dự luật mặc dù một người Cộng hòa đã được bầu làm thống đốc bang. Tại bang Wisconsin, tướng Lucius Fairchild, một người Cộng hòa chủ trương cho người da đen đi bầu, thắng cử với 10.000 phiếu đa số trong cuộc chạy đua vào chức thống đốc nhưng tu chính án thì lại thiếu 9.000 phiếu để được thông qua. Tại bang Connecticut, tu chính án cũng thất bại vì thiếu 6.000 phiếu. Thống kê cho thấy Tu chính án trao quyền bầu cử cho người da đen chỉ được 43% phiếu tại bang Connecticut, 45% tại bang Minnesota, và 47% ở bang Wisconsin. Đa số cử tri theo đảng Cộng hòa bỏ phiếu thuận trong khi hầu hết cử tri Dân chủ bỏ phiếu chống. Ngoài ra, vấn đề quyền bầu cử của người da đen bị quên lãng khi Quốc hội họp lại vào tháng 12 năm 1865.

Mặc dù những chính sách Tổng thống Johnson đưa ra có vẻ thắng thế, các cộng đồng phương Bắc và lãnh tụ Cộng hòa cảm thấy không an tâm với những diễn biến ở miền Nam. Các thông tin về bạo lực nổi lên chống người da đen tự do, việc ban hành các đạo luật áp chế người da đen gây hoang mang và tức giận. Nhiều người phương Bắc tuy không tán thành trao quyền bầu cử nhưng đòi hỏi sự tự do và quyền tự do lao động cho người da đen.

Tin tức cho biết tại nhiều bang miền Nam khách sạn, nhà hàng và tàu bè từ chối phục vụ cho khách từ phương Bắc. Không khí có vẻ gần giống như một cuộc “bạo loạn” mới, theo một tờ báo ở Chicago. TNS Lyman Trumbull của bang Illinois, cho rằng Liên bang dùng các biện pháp bảo vệ dân quyền cho người da đen chỉ khuyến khích các bang phía Nam hợp nhất với nhau. Cần thiết khống chế bạo lực trước khi đưa các bang miền Nam về với các hoạt động đời sống bình thường của quốc gia.

Khi Quốc hội Khóa 39 nhóm họp đầu tháng 12, Tổng thống Johnson tuyên bố đã tạo dựng trật tự mới ở miền Nam, do những viên chức trung thành với Liên bang kiểm soát. Ông không thể tin được là các người Cộng hòa phương Bắc lại xem chương trình tái thiết của ông là hoang đường với chủ trương cho người da đen quyền tự do và vứt bỏ nó đi. Giờ đây Johnson phải chấp nhận người da đen tự do được bình đẳng dân sự với người da trắng nhưng không có quyền bầu cử và những người theo Liên bang trong thời chiến xứng đáng đảm trách vai trò quan trọng trên chính trường miền Nam.

Tuy nhiên, những người thân cận với Johnson biết rõ không dễ gì ông chịu thỏa hiệp. Họ dự đoán sẽ xảy ra những tranh chấp chính trị về công cuộc tái thiết. Harvey Watterson, đặc phái viên của Tổng thống tại miền Nam tuyên bố: “Sẽ có tranh chấp giữa nhóm cấp tiến và Tổng thống. Cứ để nó xảy ra, càng sớm càng tốt cho đất nước”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #32 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2023, 10:33:09 am »


6

TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC TÁI THIẾT



Nền chính trị Hoa Kỳ ở thế kỷ 19 có nét đặc thù là Quốc hội được bầu ra nhưng phải hơn một năm sau mới nhóm họp phiên đầu tiên. Quốc hội Khóa 39 được bầu năm 1864 đang lúc chiến tranh ác liệt, nhóm họp lần đầu tháng 12 năm 1865 để bàn thảo những vấn đề tái thiết sau chiến tranh. Câu hỏi đặt ra là ai sẽ kiểm soát miền Nam? Ai sẽ trị vì đất nước? Quy chế người nô lệ được giải phóng như thế nào? Lúc đó đảng Cộng hòa hầu như kiểm soát hoàn toàn cả hai viện Quốc hội với đa số áp đảo 3/1. Chính những tương tác trong nội bộ đảng Cộng hòa khi ấy đã hình thành đường lối chính trị đề ra tại Quốc hội.

❖ NHỮNG NGƯỜI CỘNG HÒA CẤP TIẾN

Tại Quốc hội, đảng Cộng hòa chia ra cánh tả và cánh hữu. Cánh tả gồm những người cấp tiến với nhiều kinh nghiệm, cam kết theo đuổi việc bãi nô, và họ có cả một chương trình tái thiết miền Nam. Phần đông những đảng viên cấp tiến này từ vùng New England và những bang nằm gần vùng này ở phương Bắc. Đây là vùng có hệ thống lao động tự do triển khai mạnh. Hai nhà lãnh đạo cấp tiến nổi bật nhất là Thaddeus Stevens và Charles Sumner; hai người rất khác nhau về nhân cách và kiểu phát biểu. Stevens là một chính trị gia khôn ngoan có tài hùng biện tại Quốc hội. Sumner nổi tiếng vì tính tự cao tự đại, bướng bỉnh, không chịu thỏa hiệp; vì thế không được các bạn đồng liêu tại Thượng nghị viện ưa thích. Tuy nhiên, những người chủ trương bãi nô tôn ông làm lãnh tụ của họ và ông rất được lòng người da đen ở cả hai miền ủng hộ. Họ tìm đến ông để kể lể những nỗi thống khổ và xin ý kiến. Năm 1869, một cựu chiến binh da đen viết ca ngợi ông trên báo: “Tên Ngài sẽ khắc mãi trong tim chúng tôi”.

Chính ý tưởng cuộc nội chiến đã tạo “cơ hội vàng” cho mọi cuộc đổi thay đã liên kết những người cấp tiến năm 1865. Động lực cho ý tưởng cấp tiến chính là viễn cảnh lý tưởng về một quốc gia dân chủ trong đó mọi công dân được bình đẳng về chính trị và dân quyền được Nhà nước bảo đảm. Từ nhiều thập kỷ trước đó, Stevens, Sumner và nhiều người cấp tiến khác đã lên tiếng tranh đấu cho người da đen được quyền đi bầu và bác bỏ ý tưởng “Hoa Kỳ là một quốc gia với chính quyền của người da trắng”.

Khi cuộc nội chiến nổ ra, những người cấp tiến còn đi xa hơn các đảng viên Cộng hòa thuần túy: họ kêu gọi tăng cường quyền lực quốc gia và không để chủ nghĩa Liên bang và các quyền hạn của tiểu bang cản trở thực thi các quyền công dân. Với Stevens, chiến tranh co lôgic và những đòi hỏi riêng. Ông phát biểu trước Hạ nghị viện: Những bang phía Nam bại trận phải mất vị thế hiến định của họ và Quốc hội phải xem họ là những tỉnh thành bị thôn tính. Ông gặp sự chống đối từ những người cấp tiến khác muốn duy trì thế Liên bang cho các bang thua trận dựa trên điều khoản Hiến pháp đảm bảo thể chế Liên bang cho tất cả các tiểu bang. Hơn ai hết Sumner ra sức bảo vệ điều khoản này của Hiến pháp. Ông tuyên bố rằng Hiến pháp không cho phép Quốc hội quyền lực tối thượng đối với các bang. Ông nói, một chính quyền chối bỏ quyền bình đẳng của mọi công dân trước luật pháp và không dựa vào nguyện vọng của người dân thì sẽ không còn là Cộng hòa nữa.

Ý tưởng xây dựng lại xã hội miền Nam khiến một số người cấp tiến đề nghị chính phủ Liên bang tái lập hệ thống đồn điền trang trại và cấp phát nhà cửa cho người nô lệ cũ. Tại kỳ đại hội đảng Cộng hòa bang Pennsylvania tháng 9 năm 1865, Stevens đề nghị Chính phủ tịch thu trên 4 triệu km2 đất thuộc 10% chủ điền giàu có ở phương Nam. Ông nói việc tịch thu này sẽ làm suy yếu giai cấp cũ thống trị miền Nam để rồi được thay thế bằng một cơ cấu xã hội gồm những người lao động và tiểu chủ da trắng và da đen miền Nam cùng những thương nhân phương Bắc mua lại các đồn điền.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #33 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2023, 10:33:53 am »


❖ NGUỒN GỐC BỘ LUẬT DÂN QUYỀN

Từ ngày Quốc hội khóa 39 nhóm họp, đa số các nghị sĩ Cộng hòa đều tỏ ra lo ngại về các chính sách của Tổng thống Johnson đưa ra và ít nhiều tìm cách chống đối. Ví dụ thư ký Hạ viện Edward McPherson đã không ghi tên các nghị sĩ miền Nam trúng cử vào danh sách chính thức. Hơn nữa cả hai Viện đều tiến hành lập Ủy ban Liên hợp về tái thiết để kiểm tra những điều kiện tại các bang miền Nam và xét xem họ có được đại diện tại Quốc hội hay không.

Một số dân biểu ủng hộ Johnson coi những bước trên là một sự thách thức đối với quyền uy của Tổng thống. Tuy nhiên, Johnson đã tỏ ra phớt lờ và trong bài diễn văn đọc hằng năm ông đã kêu gọi sự hòa giải.

Một số đảng viên Cộng hòa tỏ vẻ chấp nhận quan điểm của Johnson như là bước đầu của cuộc tái thiết nhưng họ không đả động gì đến đề nghị trao quyền bầu cử cho người da đen. Tình trạng này dẫn tới việc phe ôn hòa nắm quyền lãnh đạo tại Quốc hội. Những người Cộng hòa ôn hòa như James G. Blaine và John A. Bingham ở Hạ viện và Lyman Trumbull, John Sherman và William Pitt Fessenden ở Thượng viện. Họ xem tái thiết là một việc tất yếu nhưng không phải là cơ hội thay đổi cấu trúc xã hội miền Nam. Tuy nhiên tất cả những người Cộng hòa ôn hòa đều muốn có thay đổi trong chính sách tái thiết của Johnson. Vì lo ngại có nhiều kẻ “phản loạn” cầm quyền ở miền Nam, họ muốn chính phủ buộc các viên chức này cam kết trung thành với Liên bang và Tổng thống ngưng gặp gỡ những “phần tử xấu xa” trong hàng ngũ Dân chủ. Cũng với lý lẽ của Tổng thống khi bổ nhiệm những thống đốc tạm thời cho các tiểu bang miền Nam và buộc những bang này chuẩn thuận Tu chính án 13, họ yêu cầu Quốc hội không chấp nhận đại diện của miền Nam chừng nào họ chưa đảm bảo quyền lợi thiết thực của người nô lệ được giải phóng. Tháng 1 năm 1866, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lyman Trumbull đưa ra Thượng viện 2 dự luật trình bày quan điểm của nhóm ôn hòa: một đạo luật duy trì Cục vấn đề người tự do và cho phép các nhân viên Cục khởi tố các vụ xâm phạm quyền dân sự của người da đen - đạo luật này được gọi là Luật Dân quyền. Đạo luật thứ hai cấp tiến hơn được gọi là Luật Dân sự, xem mọi người sinh ra tại Hoa Kỳ (ngoại trừ người da đỏ) đều là công dân và có quyền bình đẳng bất kể màu da về những việc như ký kết hợp đồng, thưa kiện, được hưởng sự bảo đảm về an ninh con người và tài sản. “Không một tiểu bang nào được phép chối bỏ những quyền lợi này của mọi công dân”.

Về ý nghĩa hiến định, Dự luật Dân quyền là cố gắng đầu tiên trong việc định nghĩa Tu chính án 13 nói đến sự tự do của công dân. Như một dân biểu giải thích, “Dự luật Dân quyền bảo đảm cho giai cấp lao động nghèo khổ quyền ký kết hợp đồng lao động, đòi hỏi mức lương thỏa đáng và những phương tiện làm chủ và có quyền hưởng thụ thành quả lao động nhọc nhằn của họ”.

Dự luật về dân quyền cho thấy sự thay đổi sâu sắc trong mối quan hệ giữa Liên bang và các tiểu hang và ý tưởng cấp tiến trong đời sống chính trị. Trước chiến tranh, mọi ý tưởng về quyền bình đẳng của người da đen - được hưởng các quyền công dân như người da trắng - đều bị xem là điên rồ. Và mặc dù dự luật chủ yếu nhắm bảo vệ người nô lệ được giải phóng, nó đã vô hiệu hóa các luật kỳ thị người da đen ở phương Bắc. Lot Morrill, Thượng Nghị Sĩ bang Maine nhận định: “Dự luật này mang tính chất cách mạng mặc dù chúng ta không có cuộc cách mạng nào”.

Thực chất dự luật này kết hợp những yếu tố kế tiếp và đổi thay về quan điểm của đảng Cộng hòa hồi đầu năm 1866. Dự luật qui định trách nhiệm thực thi luật pháp cho các tiểu bang trong khi vẫn duy trì hệ thống tòa án liên bang nhưng lại không đặt các cục cảnh sát liên bang hay đơn vị quân đội ở chính các tiểu bang này để bảo vệ quyền lợi các công dân.

Với những lời khiếu tố của người da đen giải phóng và người da trắng trung thành với chế độ Liên bang liên tiếp gửi về tố cáo những vi phạm của các chính quyền tiểu bang Maine, Quốc hội đã thông qua dự luật do cơ quan các vấn đề của người nô lệ được tự do (Cục vấn đề người tự do) soạn thảo. Thế nhưng, trước sự kinh ngạc và thất vọng của Quốc hội, Tổng thống đã dùng quyền phủ quyết gạt bỏ dự luật này vì “nó áp đặt một quyền giám sát bảo hộ rất lớn của Quốc hội không có trong Hiến pháp”. Ông tuyên bố: “Quốc hội chưa bao giờ cứu trợ về kinh tế, xây trường học, hay mua đất cho người dân. Nếu nay lại làm những việc này thì có thể sẽ làm người được giải phóng hiểu là họ không cần phải làm việc để kiếm sống”. Ông nhấn mạnh không thể quyết định những vấn đề này khi mà 11 tiểu bang chưa có đại diện tại Quốc hội; hơn nữa, vì Tổng thống, người được nhân dân cả nước bầu ra, có cái nhìn bao quát hơn nghị sĩ, dân biểu vốn chỉ do một tiểu bang bầu ra. Bài đọc của Johnson mang nặng tính bảo thủ tạo nên một thế hành chính quan liêu bao quát đè nặng trên các quyền công dân, đòi hỏi sự tự lực không phụ thuộc trợ giúp từ bên ngoài. Ông đưa ra những chủ đề chống lại các biện pháp giúp đỡ của chính phủ liên bang cho người da đen còn tồn tại cho tới ngày nay. Johnson cũng cáo buộc rằng Quốc hội “đang tìm cách biến Cục thành một cơ quan thường trực của chính phủ”. Ông tỏ vẻ không thông cảm nỗi thống khổ của người da đen.

Việc Tổng thống phủ quyết dự luật dẫn đến sự đối đầu chính trị giữa Tổng thống và Quốc hội.

Vì sao Andrew Johnson lại có thái độ như trên? Ông vốn được sự ủng hộ của nhân dân miền Bắc lẫn miền Nam và của đảng viên cả hai đảng Cộng hòa và Dân chủ. Dự luật do Cục vấn đề người tự do đưa ra khiến ông phải chọn lựa đồng minh. Ông biết rõ người da trắng miền Nam không ưa Cục và những người Dân chủ phương Bắc thì muốn xóa sổ nó. Cho rằng nhóm cấp tiến tìm cách chống lại ông nên Johnson liên kết với những người Cộng hòa trung dung, hy vọng “lập nên một đảng mới của Tổng thống”.

Tổng thống Johnson đã sai lầm khi cho rằng chỉ những đảng viên Cộng hòa cấp tiến mới quan tâm đến quyền công dân của người da đen. Thượng viện bỏ phiếu để bỏ qua phủ quyết của Tổng thống. Tuy còn thiếu 2 phiếu để có đủ hai phần ba số phiếu thuận do gạt bỏ phủ quyết nhưng trong số 38 Thượng Nghị Sĩ Cộng hòa thì đã có 30 Thượng Nghị Sĩ bỏ phiếu thuận. Điều này cho thấy rạn nứt trong nội bộ đảng Cộng hòa trầm trọng thêm và con số đảng viên Cộng hòa chống Johnson gia tăng. Một ngày sau khi Thượng viện bỏ phiếu chống lại phủ quyết của Tổng thống, Johnson đã lên tiếng chống những người Cộng hòa cấp tiến và so sánh họ với các lãnh tụ Liên minh miền Nam muốn “chống đối những nguyên tắc cơ bản của chính phủ”.

Khi Dự luật về Dân quyền được Hạ viện thông qua, Johnson một lần nữa dùng quyền phủ quyết để chống. Dự luật qui định những người da đen nô lệ cũ cũng có những quyền hạn về “con người và tài sản” như người da trắng.

Những đảng viên Cộng hòa trung dung ghi nhận không còn khả năng hợp tác với Tổng thống Johnson khi ông phủ quyết dự luật về Dân quyền. Đầu tháng 4, lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, Quốc hội thông qua một đạo luật bất chấp sự phủ quyết của Tổng thống.

Johnson đã mắc phải sai lầm lớn khi phủ quyết dự luật về quyền dân sự. Ông đã thất bại khi tìm sự liên minh với những người Cộng hòa trung dung để gạt bỏ nhóm cấp tiến vì cho dù có khác biệt về chính kiến thì hầu như tất cả những người Cộng hòa đều chủ trương sau khi bãi bỏ chế độ nô lệ thì phải bảo vệ quyền lợi của người da đen được tự do như lời bình luận của tờ Republican (Cộng hòa) ở Springfield: “Việc bảo vệ dân quyền cho người được giải phóng phải nối tiếp việc dẹp loạn... Đảng phái sẽ chẳng là gì nếu không làm việc này - Và quốc gia sẽ bị ô nhục nếu cứ do dự”.

Tuy thua trong việc phủ quyết dự luật về dân quyền, Johnson lại tìm một vấn đề khác để chống đối: sự can thiệp của chính phủ Liên bang để bảo đảm dân quyền của người da đen.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #34 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2023, 10:34:32 am »


❖ TU CHÍNH ÁN 14

Vì sự chia rẽ với Tổng thống ngày càng lớn các đảng viên Cộng hòa tìm cách bám lấy Hiến pháp để tránh Tổng thống dùng quyền phủ quyết và thay đổi đa số, hậu quả của cuộc nội chiến. Chỉ riêng trong tháng đã có không dưới 70 dự thảo Tu chính án cho hiến pháp được trình ra trước Quốc hội. Mãi tới tháng 6 sau nhiều cuộc họp gây tranh cãi sôi nổi thì ban Tu chính án thứ 14, tu chính án quan trọng nhất, được Quốc hội thông qua. Điều khoản 1 nghiêm cấm các tiểu bang rút ngắn sự bình đẳng trước pháp luật. Điều khoản 2 qui định giảm số đại diện của tiểu bang tương ứng với số nam công dân mất quyền bầu cử. Trước chiến tranh, ba phần năm (3/5) nô lệ được tính cho số đại diện tại Quốc hội nhưng giờ đây gồm tất cả những nô lệ đã được tự do. Vì không thể cưỡng ép miền Nam cho người da đen được quyền bầu cử, các người Cộng hòa đưa ra cho miền Nam hai sự lựa chọn: hoặc chấp nhận để người da đen tự do được quyền bầu cử hoặc mất quyền đại diện tại Quốc hội. Điều 3 cấm những người đã tuyên thệ trung thành với Hiến pháp nhưng lại đứng về phe Liên minh miền Nam làm việc cho các cơ quan chính phủ trung ương (Liên bang) và địa phương (tiểu bang). Tuy không loại trừ hẳn những người từng bị xem là “kẻ phản loạn” nhưng đa số những chính khách miền Nam thời tiền chiến đều không được quyền tham gia chính phủ và như thế quyền lực thật sự nằm trong tay những người trung thành với Liên bang; đây cũng chính là ý đồ của những người Cộng hòa. Tu chính án 14 cũng nghiêm cấm việc trả nợ cho Liên minh miền Nam và cho phép Quốc hội đặt ra các qui định qua các thủ tục pháp chế cần thiết.

Nhưng Tu chính án 14 cũng không được mọi người hài lòng vì nó mặc nhiên cho phép các tiểu bang được hạn chế quyền bầu cử vì lý do chủng tộc. Phong trào “Phụ nữ đòi quyền bầu cử” cũng không hài lòng vì điều 2 chỉ nói đến “nam công dân”. Có nhiều phụ nữ đã tham gia các phong trào đòi bãi bỏ chế độ nô lệ. Sự kiện này khiến cho nữ giới tức giận vì bị “phản bội”. Nữ giới giờ đây không còn tin tưởng nơi nam giới, tự đứng ra để đấu tranh đòi quyền bình đẳng.

Những tranh cãi quanh Tu chính án 14 mở đầu cho các cải cách ở thế kỷ 19.

Phần đầu của Tu chính án 14 ghi rõ: Mọi người sinh ra ở Hoa Kỳ hoặc nhập quốc tịch Mỹ đều là công dân của đất nước và tiểu bang. Tu chính án nghiêm cấm tiểu bang không được cắt xén các quyền lợi của công dân; không được tước bỏ quyền sống, tự do hoặc tài sản của công dân mà không qua qui trình pháp lý, hoặc từ chối sự bảo vệ của luật pháp.

Các chính trị gia, luật sư, thẩm phán và những học giả suốt hơn một thế kỷ bàn cãi về ý nghĩa khá mơ hồ của những ngôn từ trên. Thế nhưng mục tiêu của Tu chính án 14 phải được hiểu trong bối cảnh chính trị và ý thức hệ của năm 1866: sự chia tay với Tổng thống, cố gắng tìm biện pháp tập hợp những người Cộng hòa và sự nhất trí với Liên bang để bảo vệ quyền lợi của người da đen tự do nhưng không đề cập đến quyền bầu cử. Sau nhiều cuộc bàn cãi và những lần cắt xén, thay đổi Tu chính án 14 vẫn giữ được nguyên tắc cơ bản: quốc gia đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật.

Ngay cả đảng viên Cộng hòa cũng có cách hiểu khác nhau về quyền bình đẳng trước pháp luật. Những người trung dung hiểu việc tái thiết như một qui trình năng động và muốn cả Quốc hội lẫn các tòa án Liên bang áp dụng những điều khoản trong Tu chính án một cách linh động và chống lại những bất công người da đen đang gặp ở miền Nam. Thật ra Quốc hội trông đợi một hệ thống pháp lý hữu hiệu để thực thi dân quyền, đồng nghĩa với việc duy trì một đội quân thường trực ở miền Nam hoặc xây dựng một nền hành chính để giám sát công cuộc tái thiết.

Khi đặt ra quyền công dân trong quốc gia, đảng Cộng hòa đã thúc đẩy tiến trình xây dựng đất nước có từ trong nội chiến. Thượng Nghị Sĩ Jacob Howard bang Michigan nói các tiểu bang sẽ không còn được phép xâm phạm các quyền tự do qui định trong luật về các quyền. “Các bang phải tôn trọng những quyền hạn con người như đã ghi trong tám bản tu chính án đầu tiên. Cục vấn đề người tự do cũng đã tìm cách bảo vệ quyền tự do cá nhân cơ bản như tự do ngôn luận, quyền mang vũ khí, được xét xử bởi một tòa án không thiên vị, không phải chịu những hình phạt vô lý, bắt bớ,... Vì những thứ quyền này đang bị vi phạm có hệ thống tại miền Nam, việc ra đời của Tu chính án xét là cần thiết”.

Khi Quốc hội tạm nghỉ trong tháng 7, có hai vấn đề gây tranh cãi chưa được giải quyết. Một là các bang phía Nam sẽ được kết nạp lại vào Liên bang như thế nào. Bang Tennessee nhanh chóng phê chuẩn Tu chính án 14 và được quyền gửi đại diện đến Quốc hội tuy chưa giải quyết vấn đề quyền bầu cử của người da đen. Trường hợp tương tự như ở nhiều bang khác. Nhưng, hầu hết các nghị sĩ đều nói: “người da đen phải được quyền đi bầu, nhưng mọi người như né tránh nói đến vấn đề này chỉ vì “sợ mất đi khả năng qui tụ được hai phần ba (2/3) số phiếu”. John B. Henderson, Thượng Nghị Sĩ bảo thủ ở bang Missouri tin tưởng quyền bầu cử của người da đen sẽ là hiện thực, nhưng “có lẽ phải mất 5 năm nữa thì Thượng viện mới thông qua”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #35 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2023, 10:35:06 am »


❖ CHIẾN DỊCH NĂM 1866

Ngày 1 tháng 5 năm 1866 hai chiếc xe ngựa đụng nhau trong một tai nạn trên đường phố ở Memphis (bangTennessee). Một xe do một người da trắng và xe kia do một người da đen điều khiển. Cảnh sát đến và bắt giam người phu da đen. Lập tức một nhóm cựu chiến binh người da đen nhảy vào can thiệp trước một đám đông người da trắng đang vây quanh. Từ sự cố này đã bùng lên cuộc bạo loạn chủng tộc suốt ba ngày đêm với lực lượng cảnh sát và lính cứu hỏa phần đông là người Ai-len di dân trấn áp những đám người da đen trên các đường phố, đặc biệt là khu ổ chuột ở mạn nam thành phố, nơi có khu gia cư của các binh sĩ da đen trú đóng tại đồn Pickering gần bên. Khi bạo loạn tạm yên, có 46 người da đen và hai người da trắng bị giết, năm thiếu nữ da đen bị hãm hiếp, hàng trăm nhà ở của người da đen, nhà thờ, trường học bị đập phá, cướp bóc, hoặc thiêu hủy. Gần ba tháng sau một cuộc bạo loạn tương tự xảy ra tại thành phố New Orleans (bang Louisiana) nhưng lần này là do chính sách tái thiết gây nên. Các lực lượng từng chiến đấu cho Liên minh miền Nam trước đây nay trở nên hùng mạnh. Điều này khiến cho nhóm những người cấp tiến trong thành phố và thống đốc bang là James Wells phải lo ngại. Wells yểm trợ nhóm người này tổ chức một cuộc họp triệu tập lại Đại hội Hiến pháp 1864 để trao quyền bầu cử cho người da đen, ngăn cấm “bọn phiến loạn” và xác lập một chính phủ tiểu bang mới. Tới ngày họp, 30 tháng 7, chỉ có 25 đại biểu đến dự nhưng sau đó xuất hiện một đám đông trên 200 người da đen nguyên là cựu chiến binh tuần hành cổ vũ cho Đại hội. Xô sát xảy ra giữa đám biểu tình và cảnh sát người da trắng. Lúc lực lượng quân đội Liên bang can thiệp, có 34 cựu chiến binh da đen và ba người da trắng cấp tiến thiệt mạng, trên 100 người khác bị thương. Tướng Sheridan phải thốt lên: “Đúng là một cuộc tàn sát đẫm máu!"

Với những biến cố như trên xảy ra, các chính khách phương Bắc cho rằng chính sách tái thiết của Tổng thống Andrew Johnson đã phá sản. Tệ hại hơn nữa là cuộc bạo loạn ở New Orleans xảy ra đúng hai tuần trước ngày Đại hội Đoàn kết toàn quốc khai mạc tại Philadelphia.

Đại hội diễn ra có vẻ hòa hợp. Trên 7.000 khán giả dự hội nghị vỗ tay vang dội khi Thống đốc bang Nam Carolina James Orr bước vào hội trường, tay khoác tay tướng Darius Couch bang Massachusetts, dẫn đầu đoàn đại biểu dự đại hội. Thế nhưng đằng sau là cả những bất đồng to lớn. Chủ bút báo New York Times Henry Raymond là người được mời đọc diễn văn nhưng trong bài đọc đã soạn trước phần ông cổ vũ Tu chính án 14 và chỉ trích chủ nghĩa nô lệ đã bị ban tổ chức loại bỏ. Kết quả đại hội đã không thành lập nổi một đảng quốc gia mới mà chỉ là lời kêu gọi bỏ phiếu bầu cho những nghị sĩ ủng hộ các đường lối chính sách của Tổng thống Johnson.

Lúc này Johnson quyết định giành hậu thuẫn của dân chúng miền Bắc. Ngày 28 tháng 8, Johnson cùng với Đại tướng Ulysses Grant, Đô đốc David Farrafut cùng đoàn tùy tùng bắt đầu chuyến đi thăm viếng các nơi để vận động cho cuộc bầu cử sắp tới. Ở các chặng đầu tại New York và Philadelphia, Johnson được các cử tri thuộc giới tài chính và thương mại hoan nghênh nhiệt liệt. Đoàn đi tiếp sang phía Tây, và tại Ohio có người chất vấn ông về những việc đã xảy ra. Tại Cleveland khi một thính giả hô to “Hãy treo cổ Jeff Davis”, ông đã hỏi lại, “Vậy tại sao không treo cổ Thad Stevens và Wendell Phillips” (hai lãnh tụ phe cấp tiến)? Hầu như ở tất cả những thành phố đoàn đến và tiếp xúc cử tri Johnson đều tỏ thái độ hung hăng, chỉ trích các đảng viên cấp tiến. Tại St. Louis, ông nói Quốc hội đã gây ra các vụ bạo loạn ở New Orleans. Thái độ của Johnson khiến những đảng viên ủng hộ ông cũng phải xấu hổ; họ than: “Thật đáng trách!”. Và chuyến đi của Johnson để tìm sự ủng hộ của cử tri phương Bắc đã thất bại. Cuộc bầu cử hai tháng sau đó đã trở thành cuộc trưng cầu ý dân về Tu chính án 14. Nhiều người ủng hộ Johnson trước đây nay đã tạm biệt ông và tại kỳ bầu cử Quốc hội mới, đảng Cộng hòa chiếm hơn 2/3 số ghế, đủ để họ vượt qua quyền phủ quyết của Tổng thống Johnson.

Tuy nhiên, Johnson vẫn chưa chịu thua và luôn chống đối Tu chính án 14. Trong khi đó giới báo chí miền Nam tiếp tục đưa tin sai sự thật, nói những người chống đối Johnson ở phương Bắc đều là nhóm “cấp tiến cuồng tín, không được nhân dân ủng hộ”. Kết quả có 10 tiểu bang gạt bỏ Tu chính án 14.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #36 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2023, 10:35:36 am »


❖ NGƯỜI DA ĐEN ĐƯỢC QUYỀN ĐI BẦU

Tại phiên họp thứ hai Quốc hội Khóa 39 họp tháng 12, 1866, các đảng viên Cộng hòa tự coi mình đã làm chủ tình hình. Họ thẳng thừng phớt lờ bài diễn văn của Tổng thống Johnson kêu gọi phục hồi quyền đại diện của những tiểu bang ly khai. Viễn cảnh người da đen được quyền đi bầu đã thấy rõ.

Tháng 1 năm 1867, dự luật ban cho người da đen ở Hạt (District of) Columbia quyền bầu cử trở thành luật bất chấp quyền phủ quyết của Tổng thống. Tiếp theo Quốc hội cũng lần lượt thảo luận về nhiều vấn đề khác: giải phóng toàn diện cho người da đen ở miền Nam, thiết quân luật, buộc tội Tổng thống,... George Julian, chủ nhiệm Ủy ban Công thổ Hạ viện nói miền Nam cần có chính phủ mạnh; vốn đầu tư và lao động từ phương Bắc cần đưa tới để xây dựng nền văn minh và dân chủ thực sự. “Các bang phía Nam phải nằm dưới quyền Washington kiểm soát và sẽ được tái sát nhập vào Liên bang trong tương lai”.

Phát biểu của Julian tác động đến Hạ viện. Lập tức Ủy ban Liên hợp Hạ viện chấp thuận áp đặt luật quân sự tạm thời tại miền Nam chờ đến khi các bang được tái nhập Liên bang. Tuy nhiên, vấn đề còn gây tranh cãi tại Thượng viện. Một ủy ban do Thượng Viện lập ra xác định các điều kiện để tái sát nhập các bang miền Nam trong đó có quyền bầu cử của người da đen. Như thế, đảng Cộng hòa mặc nhiên chủ trương người da đen được quyền gia nhập cơ cấu chính trị ở miền Nam.

Tổng thống Johnson giữ im lặng suốt thời gian Quốc hội bàn cãi thảo luận.

Charles Nordhoff của tờ New York Evening Post (Bưu điện New York buổi chiều) sau lần phỏng vấn Tổng thống tại Tòa Bạch ốc hồi cuối tháng 2 (1867) đã viết: “Johnson rất bực tức vì ông nghĩ rằng rồi đây người dân miền Nam sẽ bị chà đạp để bạo vệ ‘bọn da đen’”. Nordoff từ trước vốn ái mộ Andrew Johnson cũng phải nhận xét: “(Johnson)... tỏ ra là một người ‘đần độn’ chỉ biết chống lại quyền phổ thông đầu phiếu”.

Ngày 2 tháng 3 năm 1867 Johnson phủ quyết dự luật tái thiết đã thông qua Quốc hội nhưng cuối cùng Quốc hội với quá 2/3 số phiếu thuận cũng vượt qua được quyền phủ quyết này. Thượng nghị sỹ Reverdy Johnson bang Maryland là đảng viên Dân chủ duy nhất bỏ phiếu thuận.

Đạo luật tái thiết miền Nam năm 1867 chia các bang trong Liên minh miền Nam cũ ngoại trừ bang Tennessee thành năm tiểu khu quân sự dưới quyền các chỉ huy quân đội, được quyền sử dụng quân đội để “bảo vệ cuộc sống và tài sản của nhân dân”. Tuy không loại bỏ ngay những cơ cấu chính quyền do Andrew Johnson tạo lập, dần dà những thể chế mới cũng được thành lập với những hiến pháp tiểu bang mới được đa số cử tri bầu và thông qua Tu chính án 14. Cùng lúc, Quốc hội cũng thông qua đạo luật Habeas Corpus (lệnh buộc đưa người ra tòa), cho phép đưa các vụ kiện ra trước tòa án Liên bang.

Tương tự những quyết định khác của Quốc hội Khóa 39, đạo luật tái thiết là sự pha trộn không nhất quán giữa lý tưởng và tính thiết thực về chính trị. Đạo luật xác lập quyền quân sự nhưng chỉ tạm thời để giữ gìn hòa bình với sự bảo đảm các tiểu bang sẽ sớm được thống nhất. Đạo luật tạo nên trật tự mới ở miền Nam nhưng vẫn chưa kiểm soát được những người miền Nam theo Liên bang vì không có khoản nào đề cập đến kinh tế của người được giải phóng. Nhưng dù sao, nó cũng là bước cơ bản tiến tới nền dân chủ đa chủng tộc. Đảng Dân chủ đã chống lại đạo luật trao quyền bầu cử cho người da đen vì nó “tạo nên sự bình đẳng về chủng tộc trong một cộng đồng chính trị. Liệu những nô lệ được giải phóng có khả năng thực thi những quyền hạn chính trị hay chưa?”, đây là ý kiến của Thượng Nghị sĩ Thomas Hendricks bang Indiana. Tướng Ord, chỉ huy quân đội Liên bang ở bang Arkansas thì cho rằng người da đen giải phóng vốn “đã quen phục tùng và chỉ biết vâng lời sẽ không dám xuất hiện ở nơi bỏ phiếu”. Một số người cấp tiến lại e ngại họ sẽ bị các chủ nô cũ chi phối. Các quyền hạn chính trị trở nên vô nghĩa nếu còn lệ thuộc về kinh tế.

Những người da đen tự do không tin vào những dự đoán trên suốt thời kỳ tái thiết. Họ đã chứng minh có ý thức chính trị và tính độc lập khi sử dụng lá phiếu. Tuy nhiên, những mục tiêu cao quý về bình đẳng dân sự và chính trị đã không đạt tới. Công cuộc tái thiết kết thúc không vì những người da đen nghèo khổ bị áp bức về kinh tế nhưng vì cộng đồng da đen ngoan cường bị bỏ rơi và trở thành nạn nhân của bạo lực và gian lận.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #37 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2023, 03:44:40 pm »


7

KẾ HOẠCH TÁI THIẾT MIỀN NAM CỦA ĐẢNG CỘNG HÒA



❖ VẬN ĐỘNG CHÍNH TRỊ NƠI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DA ĐEN

Việc ban hành Đạo luật tái thiết, giống như Đạo luật giải phóng nô lệ, đem lại cho người da đen ý niệm một kỷ nguyên mới đã mở ra. “Người nô lệ cũ giờ đây có thể đứng ngang vai với người da trắng”, một diễn giả da đen nói trước một cuộc biểu tình tại Savannah. Tương tự như hồi năm 1865, người da đen tìm được nhiều cách để được tự chủ và đối xử bình đẳng, và sẵn sàng chộp cơ hội để được đổi thay. Phu bến tàu da đen ở các thành phố cảng như Charleston, Savannah, Mobile, Richmond vil New Orleans đình công liên tục; hàng trăm, hàng ngàn người da đen ở Nam Carolina không đóng thuế cho chính quyền địa phương hiện hữu, và nhiều người da đen bị cảnh sát bắt giữ được các đám đông giải thoát. Ở Richmond, ba người da đen không chịu bước xuống xe điện dành cho người da trắng; họ được một dám đông yểm trợ, hô to khẩu hiệu: “Chúng ta hãy giành lại quyền công dân của chúng ta”.

Năm 1867, người da đen bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề chính trị. Nhiều diễn giả da đen cũng như da trắng thường xuyên đến các bang phía Nam để thuyết trình. Chủ đề thường đề cập đến lịch sử và chính phủ Hoa Kỳ. Tại hạt Monroe bang Alabama trước năm 1867 chưa từng có người da đen hội họp về một mục đích chính trị; giờ đây các đám đông da đen vây quanh những nhà diễn thuyết để nghe. Ngày 1 tháng 8, các nhà máy thuốc lá ở Richmond đóng cửa vì công nhân bỏ đi dự đại hội tiểu bang của đảng Cộng hòa. Quá hồ hởi về không khí chính trị, một vị mục sư Tin Lành xuất thân là nô lệ đã viết: “Chính trị đã thâm nhập vào chúng tôi đến mức... phải giảm thiểu những công việc về tôn giáo”. Nhà thờ cũng đã bị “chính trị hóa”. Tài liệu chính trị hầu như được phổ biến hoặc đọc to tại các buổi lễ đạo, trong nhà thờ, tại hội quán, câu lạc bộ, các cuộc họp mặt, vui chơi giải trí, lửa trại, v.v.

Cũng vì người da đen ồ ạt đến với các tổ chức, người da trắng tìm cách rút và tự thành lập các hội đoàn riêng mang tính kỳ thị chủng tộc. Một chủ điền nhận xét tình hình chung: “Chưa bao giờ lại có nhiều người phấn kích bởi những đề tài chính trị như bọn người da đen miền Nam lúc này. Chúng như điên rồ cả lũ!”

Chính Hội Liên hiệp đã thúc đẩy làn sóng tham gia hoạt động chính trị này. Trước năm 1867, người da đen cũng từng tham gia các hội đoàn ngay ở miền Nam, và phong trào này lan rộng trong và sau thời nội chiến với sự tham gia của nhiều người da trắng. Giờ đây, vì có nhiều người nô lệ cũ tham gia nên ở một số nơi những người da trắng rút ra khỏi hội đoàn và lập riêng chi nhánh cho họ. Tuy nhiên, có nhiều hội đoàn liên kết người da trắng với người da đen cùng những “đào binh” từ phe Liên minh miền Nam.

Đến cuối năm 1867, hầu như tất cả cử tri da đen ở miền Nam đều tham gia một hội liên hiệp hoặc tổ chức chính trị của địa phương. Các buổi họp mặt, tại hội trường hay lại nhà thờ, đều bắt đầu với lời cầu kinh do một vị mục sư khởi xướng, tiếp đến những hội viên mới tuyên thệ trung thành với đảng Cộng hòa và những nguyên tắc về quyền bình đẳng. Sau đó là thảo luận về những vấn đề thời sự. Biên bản các cuộc họp của Hội Liên hiệp ở Maryville, một thị trấn miền núi thuộc bang Tennessee có tập quán bãi nô từ lâu, cho thấy chủ đề các buổi sinh hoạt bao gồm các khoản nợ của quốc gia, việc buộc tội Tổng thống cùng rất nhiều vấn đề kinh tế xã hội. Nhiều câu hỏi đặt ra như “nữ giới có nên được giáo dục như nam giới?”, “học sinh sinh viên có buộc phải đóng thuế công ty không?”, “Có nên tách miền Đông Tennessee thành một bang không?”. Mặc dù vùng này chỉ có 1/10 dân số là người da đen, những người da trắng gồm tiểu điền chủ, tiểu doanh nhân, lao động nông nghiệp, nhiều người là cựu chiến binh quân đội Liên bang, đã đề nghị bang Tennessee cử ít nhất một đại biểu da đen vào Quốc hội. Năm 1868, Đông Tennessee đã bầu một thẩm phán tòa hòa giải và bốn ủy viên Hội đồng thành phố là người da đen.

Các hội đoàn liên hiệp đều có những hoạt động muôn mặt. Xây dựng trường học; nhà thờ, gây quỹ chăm sóc người bệnh, v.v.. Ở Alabama, người nô lệ cũ bu quanh nhà tổ chức hội liên hiệp George Cox để hỏi thể thức kiện giới chủ nhân, tránh bị phạt vạ vì tham dự các buổi sinh hoạt chính trị, và đòi được chia nông sản thỏa đáng. Tại bang Texas, các hội đoàn này còn đòi giới chủ phải trả tiền công cho những người da đen bị giữ lại đồn điền sau ngày tuyên bố bãi nô.

Không khí sôi sục về vận động chính trị đã dẫn đến thành phần lãnh đạo chính trị của người da đen từ 1864 đến 1867. Nhiều người da đen tham gia các hoạt động năm 1867 sinh trưởng hoặc được đào tạo tại miền Bắc. Một thành viên người da trắng tham dự Đại hội đảng Cộng hòa lần đầu tiên ở bang Nam Carolina tỏ ra “hết sức ngạc nhiên vì sự thông minh và khả năng của da màu”. Điển hình là William Viney, một Cựu chiến binh trẻ người da đen sinh tại Ohio đến phương Nam lập nghiệp. Sau khi đạo luật tái thiết được ban hành, Viney tổ chức nhiều cuộc hội họp sinh hoạt chính trị. Giống như Viney, nhiều người da đen phương Bắc đã xuống phía Nam cùng với đạo quân Liên bang và ở lại, hoặc là nhân viên Cục vấn đề người tự do, giáo viên, mục sư do các tổ chức xã hội, tôn giáo ở miền Bắc gửi đi. Thành viên các hội liên hiệp còn gồm những nô lệ da đen bỏ trốn đã trở về, con cái những người da đen tự do được cha mẹ gửi đi học ở phương Bắc, đa số theo học tại trường Đại học Oberlin, bang Ohio1.

Thời kỳ tái thiết là một trong số ít cơ hội miền Nam cung cấp cho đất nước những công dân da đen nhiều tài năng và tham vọng.

Hơn nữa, từ các cộng đồng người da đen miền Nam giới lãnh đạo nổi lên nhanh chóng, có phần hơn cả ở miền Bắc. Đa số lãnh đạo địa phương đã từng là nô lệ, sau giải phóng họ đã học hành, tu luyện và trở thành những thầy giảng, giáo viên giỏi và thợ chuyên môn có ích cho xã hội. Thomas Allen là một ví dụ. Xuất thân là nô lệ, ông đã tự học và làm nhiều nghề khác nhau như nông phu, thợ đóng giày dép, và sau trở thành thầy giảng Tin Lành và giáo viên. Ông là người tổ chức Hội Liên hiệp và đắc cử Hội đồng lập pháp bang Georgia.

Tại các buổi họp của đảng Cộng hòa và các chi hội Liên hiệp, mọi người da đen bình thường đều kêu gọi được thực thi các quyền công dân bình đẳng với người da trắng. Họ mường tượng một xã hội không còn những phân biệt về màu da, chủng tộc. Tất cả như đều hy vọng ở một ngày mai trong xã hội không còn sự phân biệt “da đen, da trắng” nữa. Tuy nhiên, họ vẫn luôn tự hào với những chiến binh da đen từng phục vụ trong quân đội Liên bang, thích cho con em học với các giáo viên da đen, đi nhà thờ do người da đen xây dựng.

Người da đen miền Bắc đưa ý tưởng “lao động tự do” và “tự lực cánh sinh” đến phương Nam cùng với ý niệm tôn trọng quyền sở hữu tài sản cá nhân và sáng kiến riêng, người da đen miền Nam tiếp thu những ý tưởng này nhưng nhấn mạnh quan điểm “bình đẳng chính trị không có nghĩa là người ngu dốt, hèn hạ cũng được bình đẳng xã hội với người lịch lãm và thông minh”.

Một sự kiện xảy tới năm 1867 khiến người da đen miền Nam đòi quyền sở hữu ruộng đất. Sau liên tiếp nhiều vụ mùa thất bát, các lao động người da đen làm việc theo hợp đồng không được chia sản phẩm hoặc được chia rất ít; họ rơi vào hoàn cảnh nghèo đói và lệ thuộc. Do vậy, một lần nữa họ lại lên tiếng đòi được chia đất, và vấn đề đất đai về cơ bản lại chi phối hoạt động chính trị của người da đen ở phương Nam. Hơn thế nữa, họ còn đòi được chia tài sản của chủ điền da trắng. Phát biểu trước đám đông người da đen ở Alabama, các đại biểu nguyên là nô lệ cũ tuyên bố: “Tất cả tài sản của người da trắng đều do lao động da đen làm ra; vì thế người da đen chúng tôi đòi phải được hưởng một phần tài sản này”.

Điểm đáng chú y nữa trong các hoạt động chính trị của người da đen miền Nam là phụ nữ cũng tham gia hoạt động như phái nam: họ có mặt tại các buổi hội họp, biểu tình tuần hành, và bỏ phiếu cho các nghị quyết.

Một ký giả phương Bắc viết về người da đen đi bầu cử tại bang Alabama như sau: “Từng đám đông người da đen lũ lượt đi bỏ phiếu bất kể mệt nhọc, đói khát, và sự đe dọa của giới chủ nhân. Đa số ăn mặc rách rưới, đi chân đất, vậy mà họ cam chịu đứng chờ hàng giờ trong mưa bão. Tại sao vậy? Tất cả chỉ vì họ muốn được bình đẳng với người da trắng”.
___________________________________
1. Trường đại học xây dựng năm 1833, có nhiều thành tích về giải phóng nô lệ, và là Đại học đầu tiên ở Hoa Kỳ dạy chung sinh viên nam và nữ - ND
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #38 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2023, 03:46:08 pm »


❖ LIÊN MINH CỘNG HÒA

Trong suốt quá trình tái thiết, đại đa số người da đen theo đảng Cộng hòa ở miền Nam, chủ yếu là ở 3 bang Nam Carolina, Mississippi và Louisiana; một phần tư (1/4 ) dân số các bang Texas, Tennessee và Arkansas là người da đen; ở bang Virginia và Bắc Carolina, tỉ lệ này là 40% và gần 50% ở các bang Alabama, Florida, và Georgia. Nhưng ở những bang có đông đảo người da đen theo đảng Cộng hòa phía Nam vẫn cần có sự yểm trợ của người da trắng. Những người da trắng này thường là những người miền Bắc vào Nam để tìm cơ hội làm ăn (carpetbaggers) và người miền Nam từng chống đối việc ly khai với Liên bang trước năm 1864 và ủng hộ công cuộc tái thiết (scalawag). Thành kiến về chính trị, tính địa phương và giai cấp tạo dựng hình ảnh những người miền Bắc đến làm ăn ở miền Nam như một bọn “khố rách áo ôm” phiêu lưu vào miền Nam để trục lợi từ cuộc nội chiến và tái thiết. Thật ra những người miền Bắc này vốn là cựu quân nhân, những trí thức thuộc giai cấp trung lưu - có người là luật sư, doanh nhân, nhà báo, viên chức ở Cục bảo vệ người được tự do - hoặc tầng lớp khá giả. Đa số vào Nam từ trước năm 1867 là lúc mà người da đen phương Nam chưa được quyền đi bầu. Một số “carpetbaggers” có lý tưởng phục vụ công bằng xã hội, số khác tìm kiếm lợi nhuận trong công việc. Nhiều người đã chuyển qua làm chính trị sau thời gian làm việc tại Cục và vì muốn được phục vụ công cuộc tái thiết; cũng có người do làm ăn thất bại. Henry Warren, sinh ra ở bang Massachusetts, tốt nghiệp Đại học Yale, và Albert Morgan, quê ở Ohio, cựu sĩ quan quân đội Liên bang, là ví dụ điển hình. Sau chiến tranh, hai người ở lại miền Nam và làm chủ điền canh tác bông ở bang Mississippi nhưng bị phá sản. Năm 1867, Warren xin được việc làm với chính quyền quân sự, phụ trách đăng ký cử tri. Morgan được những người da đen giới thiệu vào Đại hội lập hiến. Sau này, cả hai người đều trở thành đại biểu quốc hội. Nói chung, các ‘carpetbaggers’ đều có ý đồ kiếm lợi nhuận cho bản thân kết hợp với mục tiêu cao đẹp là giúp đỡ “miền Nam chậm tiến” qua việc giúp đỡ xây dựng những thể chế tự do, giáo dục miễn phí và hệ thống lao động tự do.

Scalawags nói chung đều bị xem là những kẻ đã “phản bội” lại miền Nam, họ có nhiều nguồn gốc khác nhau; là nhà chính trị nổi tiếng, viên chức cũ, những người theo chính sách liên hiệp và từng ủng hộ việc ly khai khỏi Liên bang, những thợ chuyên môn và doanh nhân mong muốn có một miền Nam đổi mới. Nhiều scalawags nhờ có làm việc cho chính phủ trước đây, từng là đại biểu Quốc hội và các Hội đồng địa phương nên có nhiều kinh nghiệm chính trường. Họ là những người Whig cũ, đấu tranh cho một miền Nam theo đảng Cộng hòa. James Alcorn, chủ nhân một đồn điền rộng lớn bậc nhất trong thung lũng Yazoo-Mississippi, tự xem mình là người tiên phong trong cuộc tái thiết, nói người da đen tự do phải được bảo đảm các quyền dân sự và chính trị nhưng chính quyền tiểu bang phải do người da trắng nắm, và vốn tái thiết phải do một Quốc hội theo đảng Cộng hòa chi viện. Khi người da đen không chấp nhận sự lãnh đạo của người da trắng, Alcorn và những người Whig cũ này từ bỏ đảng Cộng hòa.

Một nhóm ‘scalawags’ khác có tư tưởng canh tân hơn, nhìn nhận Cộng hòa là đảng tiến bộ có thể đem lại nhiều cải cách kinh tế xã hội cho miền Nam. Một ‘scalawag’ ở bang Bắc Carolina, Thomas Settle, tuyên bố: “Hãy bỏ đi những tư tưởng và cảm xúc thời tiền chiến... Chúng ta cần có người miền Bắc và những khái niệm miền Bắc, cần vốn đầu tư của họ để xây dựng nhà máy và xưởng ở đây. Chúng ta muốn có sự thông minh, nghị lực và các công trình của họ”. Chủ nghĩa cộng hòa thu hút nhiều thợ thủ công ở các thị trấn và thành phố nhỏ về được những người lao động nhập cư ủng hộ. Nhiều đảng viên Cộng hòa ở miền tây nam Texas là người di dân Đức.

Tuy nhiên người da trắng theo đảng Cộng hòa tạp trung nhiều nhất ở các vùng phía đông Tennessee, tây nam Missouri, tây bắc Carolina, tây bắc Arkansas và bắc Alabama. Nhiều tiểu chủ, tiểu thương gia và người lao động cũng gia nhập đảng Cộng hòa.

Với những ‘scalawags’ ở sâu trong vùng nội địa, cuộc tái thiết hứa hẹn chấm dứt những ưu đãi các chính quyền tiểu bang dành cho những hạt có đồn điền. Các tiểu điền chủ thì hy vọng được trợ giúp đền bù thiệt hại do chiến tranh. Nhiều tiểu điền chủ ở các bang Georgia và Nam Carolina đứng trước một nạn đói có thể khủng khiếp như nạn đói (1845-1850) ở Ai-len đang đe dọa vùng sâu bang Alabama. Nhiều gia đình đã phải cầm cố nông trại để trả tiền mua sắm thiết bị nông cụ và có thể sẽ mất trắng tài sản. Do vậy họ trông mong đảng Cộng hòa sẽ giúp họ trang trải nợ nần và cứu đói. Nhưng họ sớm tỏ vẻ nghi ngờ ý nghĩa đường lối kinh tế của đảng Cộng hòa. Họ lo ngại tác dụng của chương trình tái thiết sẽ là tăng thuế và bảo đảm cho các nhà tín dụng để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài. Tại hội nghị lập hiến bang Alabama, một đảng viên Cộng hòa từ Hạt Winston, J.M. Wilhite kêu gọi ‘tước quyền bầu cử của bọn ly khai’ và ‘giảm thuế’. Một số scalawags ở vùng sâu kết hợp với người da đen đòi phân chia lại ruộng đất của các đại chủ điền. Những đòi hỏi này khiến các nhà đầu tư từ phương Bắc lo ngại. Nói chung, những người scalawags vùng sâu, vùng cao ít đồng quan điểm với người da đen: không nghĩ rằng ‘bình đẳng xã hội’ giữa các sắc tộc là một quyền lợi chính đáng của người da đen. “Không có lý do gì buộc người da trắng phải ngồi chung ghế với người da đen ở nhà thờ, trường học hay ở chung khách sạn. Mọi người đều được luật pháp che chở, không cần phải có những điều kiện này”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #39 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2023, 03:47:15 pm »


Đa số ‘scalawags’ chấp nhận sự hiện hữu của người da đen, có lẽ cũng do tập quán có từ thời kỳ nô lệ, sẵn sàng đấu tranh cho quyền lợi chính trị và dân sự của người da đen. Một tờ báo Cộng hòa ở bang Bắc Carolina viết: “Những người theo chủ nghĩa Liên hiệp buộc phải chấp nhận bảo vệ người da đen hoặc sự phá hoại bởi bọn phiến loạn”. Tuy nhiên, sự kiện này không có nghĩa là sự kỳ thị chủng tộc đã hết. Nó cho thấy xu hướng chính trị của nhiều người da trắng vùng sâu, vùng cao miền Nam trong năm 1867.

Năm 1867, chủ nghĩa cấp tiến thắng thế tại bang Nam Carolina. Đại hội đảng Cộng hòa ở Charleston hồi tháng 3 bao trùm bởi những người da đen tự do ở thành phố đưa ra một chương trình thay đổi mọi mặt của đời sống với những yêu cầu nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa người da đen và người da trắng: áp dụng chung hệ thống giáo dục hỗn hợp; bãi bỏ hình phạt thể xác và giam giữ con nợ, không tịch biên tài sản của con nợ nghèo; trách nhiệm của chính phủ đối với “người già, người tàn tật và người nghèo neo đơn; tăng thuế cao trên đất đai bỏ hoang để làm suy yếu những tổ chức cá nhân độc quyền chiếm hữu đất; chia đất không sử dụng cho nông dân nghèo". Chương trình này cũng được đại hội đảng cấp tiểu bang hồi tháng 7 chấp thuận.

Phong trào cấp tiến cũng rộ lên ở bang Virginia và bang Louisiana mặc dù tại đại hội Cộng hòa ở New Orleans một nhóm ‘carpetbaggers’ đã nắm quyền kiểm soát khiến những lãnh tụ da đen thất vọng. Tại bang Georgia, đảng Cộng hòa không chấp nhận các đòi hỏi của người da đen về vấn đề giúp trả nợ cho giới tiểu chủ ở vùng sâu. Ở bang Texas, những người Cộng hòa trung dung (ôn hòa) chủ trương hòa giải hòa hợp với những người thuộc Liên minh miền Nam cũ bằng cách đẩy mạnh chương trình xây dựng đường sắt và cho người da đen một vai trò thứ yếu trong xã hội trong khi phe cấp tiến đòi hỏi loại trừ bọn phản loạn, tăng cường bảo vệ người da đen, và tích cực chống độc quyền trong nội bộ.

Trong khi những người Cộng hòa ở miền Nam tranh cãi về một trật tự xã hội mới thì các lực lượng bên ngoài tìm cách lái công cuộc tái thiết sang một hướng ôn hòa hơn. Từ ngày họp đầu tiên của Quốc hội khóa 40 vào tháng 3 năm 1867 những đảng viên Cộng hòa lãnh đạo cho thấy sẽ không có đổi thay mới ngoại trừ việc bảo vệ những gì đã đạt được. Hội nghị đã bác yêu cầu giải tán ngay các chính quyền tiểu bang hiện hữu, thiết lập hệ thống giáo dục hỗn hợp và cấp trang trại cho người nô lệ cũ.

Tại Hạ viện, Thaddeus Steven trình dự luật ban phát cho mỗi nô lệ cũ 40 mẫu Anh (16ha) đất tịch thu từ các chủ điền.

Những đảng viên Cộng hòa trung dung ở miền Bắc không muốn bị “cỗ xe Cách mạng nghiền nát”. Họ ủng hộ chủ trương trao quyền dân sự và chính trị cho người da đen miền Nam nhưng không chấp nhận cấp đất cho nô lệ được tự do. Do đó, đề nghị của Stevens gặp nhiều chỉ trích phản kháng. Báo Người Cộng hòa ở Springfield nhận xét “người da đen được cấp đất sẽ không tiếp thu thói quen làm việc của người lao động tự do”. Tờ Thời báo New York cảnh báo viễn ảnh tịch thu điền thổ ở miền Nam sẽ lan ra tới miền Bắc, chỉ trích nặng nề nhóm cấp tiến muốn “tiếp nối nội chiến vì vấn đề nô lệ bằng một cuộc chiến tranh về tài sản”.

Lần đầu tiên, đảng Cộng hòa thống nhất ra mắt cử tri kêu gọi ủng hộ chủ trương trao quyền bầu cử cho người da đen, ít ra là ở miền Nam. đảng Dân chủ lập tức phản công, dựa vào thành kiến sắc tộc để trả thù đảng Cộng hòa. Tại Ohio - nơi đảng Cộng hòa giành được ít phiếu - Allan Thurman, ứng cử viên thống đốc thuộc đảng Dân chủ, hứa hẹn “sẽ không để tiểu bang lệ thuộc chủ nghĩa ‘mê bọn da đen’”. Ở vùng Bờ biển phía Tây, đảng Dân chủ còn thêm lời kêu gọi chống người Hoa; họ nói: “đảng Cộng hòa chủ trương bình đẳng toàn diện cho mọi sắc dân; điều này dẫn tới nguy cơ ‘dân châu Á’ sẽ ồ ạt nhập cư và kiểm soát tiểu bang chúng ta bằng liên minh giữa bọn Mông Cổ, Ấn Độ và Phi châu”.

Về phần mình đa số đảng viên Cộng hòa giữ không bị lôi kéo vào vấn đề sắc tộc nhưng cơn khủng hoảng đã đẩy chính trị cả nước về phía tả cũng đã ảnh hưởng đến những người Cộng hòa bình thường. Một số đông đảng viên không theo nhóm cấp tiến giờ đây cũng ủng hộ sự bình đẳng chính trị cho người da đen phương Bắc. Ngay cả bang New Jersey vốn bảo thủ cũng cho người da đen đi bầu. Tại bang California, ứng cử viên thống đốc George Gorham phát biểu chống phong trào “bài cu-li”1: “Người Âu và người Á đều do Thiên Chúa tạo dựng”.

Các cuộc bầu cử vào mùa Thu năm 1867 diễn ra theo hai hướng. Ở miền Nam, cử tri bầu đại diện cho các đại hội lập hiến; kết quả là đảng Cộng hòa toàn thắng. Một đảng viên da trắng trong Thung lũng Tunnessee, bang Alabama nhận xét: “Tất cả người da đen đều đổ xô đi bầu. Không một ai ở nhà. Cử tri da trắng thì tỏ vẻ lãnh đạm, nghĩ rằng nếu họ không đi bầu thì các đại hội sẽ thiếu số phiếu cần thiết của cử tri, do vậy họ đi rất ít”. Tại các bang Bắc Carolina, Georgia, Alabama, và Arkansas trên 1/5 cử tri da trắng bỏ phiếu triệu tập đại hội. Con số này không đáng kể tại các bang khác.

Kết quả ở miền Bắc thì ngược lại. Đảng Dân chủ thắng áp đảo từ bang Maine ở phía Đông tới bang California ở phía Tây, đảng Dân chủ vượt qua đảng Cộng hòa trên 50.000 phiếu ở bang New York, gần 3.000 phiếu trong cuộc bầu cử thống dốc ở bang Ohio, và thắng với số phiếu áp đảo tại bang California. Báo The Nation (Dân tộc) cho biết, số phiếu bỏ cho Cộng hòa giảm ba phần tư số phiếu họ có năm 1866. “Không thể chối cãi việc đảng Cộng hòa chủ trương quyền bình đẳng là nguyên nhân chính khiến họ thất bại nặng nề”, tờ báo này bình luận.

Kết quả bầu cử làm thay đổi cán cân quyền lực trong đảng Cộng hòa. Tại bang Massachusetts, đường lối chính sách cấp tiến không còn được cử tri chấp nhận. Tuy không từ bỏ chương trình tái thiết, nhiều đảng viên Cộng hòa phương Bắc không còn quan tâm đến vấn đề người da đen, và tất nhiên chương trình phân phát đất cũng bị quên lãng.
____________________________________
1. ‘Cu-li’ là danh từ sỉ nhục chỉ người Hoa đến từ Trung Quốc để xây dựng đường sắt ở thế kỷ 19 [ND].
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM