Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:30:52 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử  (Đọc 29253 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #50 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2025, 09:00:04 pm »

CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 4 TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971


Trung tướng MAI QUANG PHẤN
Ủy viên Trung ương Đảng,
Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 4


Sau thất bại nặng nề trong chiến lược "Chiến tranh cục bộ", cùng với sức ép của ta trên bàn đàm phán ở Hội nghị Pari và phong trào phản đối chiến tranh lan rộng khắp thế giới, đế quốc Mỹ đề ra chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", dùng quân đội Sài Gòn dần dần thay thế quân đội Mỹ. Đổ quân đội Sài Gòn đủ sức đương đầu với quân ta, mục tiêu có tính chiến lược của đế quốc Mỹ là cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam, trong đó Đường 9 - Nam Lào được chúng xác định là một huyết mạch đặc biệt quan trọng, là "cuống họng" của tuyến đường vận tải Hồ Chí Minh. Do vậy đầu năm 1971, địch mở cuộc hành quân mang tên "Lam Sơn 719" nhằm cắt đứt, tiến tới phá hủy hoàn toàn tuyến vận tải và căn cứ hậu cần chiến lược của ta tại khu vực Đường 9 - Nam Lào.


Ngay từ giữa năm 1970, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nắm được ý đồ của địch, vì vậy đã khẩn trương xúc tiến mọi công tác chuẩn bị tác chiến, chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị chiến trường, sẵn sàng và chủ động ứng phó. Bộ Chính trị chỉ thị cho Quân ủy Trung ương: nhất thiết phải đánh thắng trận này dù phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong nhưng trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược.


Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương là chủ động đánh bại các cuộc hành quân của địch, ngày 13 tháng 10 năm 1970, Tổng cục Chính trị ra chỉ thị về "Công tác chính trị trong nhiệm vụ chiến đấu ở Đường 9 - Nam Lào". Chỉ thị khẳng định: Phải làm cho cán bộ và chiến sĩ nhận thức đầy đủ về tình hình, nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước hiện nay, nhiệm vụ của các lực lượng cơ động và nhiệm vụ trước mắt của các đơn vị; trên cơ sở đó xây dựng quyết tâm chiến đấu thật cao, xung phong nhận nhiệm vụ khó khăn nhất, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, luôn luôn nêu cao tinh thần anh dũng chiến đấu, tích cực chủ động tiến công địch, vượt qua khó khăn gian khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong bất cứ tình huống nào, bất cứ chiến trường nào...


Với vai trò là hậu phương trực tiếp, là bàn đạp tiến công của lực lượng tham gia chiến dịch, Quân khu 4 đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của chiến dịch. Để tạo nên sức mạnh về ý chí, tinh thần và vật chất cho chiến dịch, lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã làm tốt công tác đảng, công tác chính trị động viên cao nhất sức người, sức của, vượt qua mọi khó khăn, vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần quan trọng cho chiến dịch thắng lợi hoàn toàn.


Trên cơ sở chỉ thị của Tổng cục Chính trị, bước vào giai đoạn chuẩn bị, cuối năm 1970, Thường vụ Quan khu ủy họp xác định lại một lần nữa vị trí, nhiệm vụ chính trị của Quân khu: tiếp tục làm bốn nhiệm vụ trên ba chiến trường, trong đó chi viện cho mặt trận Đường 9 - Nam Lào là nhiệm vụ hàng đầu; đồng thời tổ chức quán triệt, giáo dục xây dựng quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ; tiếp tục thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về cuộc vận động nâng cao chất lượng của tổ chức Đảng và kết nạp đảng viên; đẩy mạnh củng cố, kiện toàn cơ quan lãnh đạo và chỉ huy các cấp; tăng cường giáo dục chấp hành tốt chính sách, kỷ luật chiến đấu.


Hội nghị tổng kết công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang Quân khu, do Cục Chính trị Quân khu tổ chức, đã chỉ rõ phải tăng cường quán triệt và giáo dục làm cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhận thức sâu sắc vị trí của mình là hậu phương trực tiếp của miền Nam, là quân khu đi đầu trong nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam, phải đáp ứng nhanh nhất, đủ nhất, tốt nhất và trước nhất mọi yêu cầu của tiền tuyến, là "Đội dự bị của miền Nam, trực tiếp là Trị - Thiên và Đường 9".


Quán triệt và chấp hành chỉ thị của Tổng cục Chính trị, Nghị quyết của Quân khu ủy, khắp các địa phương, đơn vị lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã dấy lên phòng trào thi đua sôi nổi khắc phục mọi khó khăn, trực tiếp tham gia và phục vụ chiến dịch. Các đơn vị công binh quân khu và các tỉnh đội, các đại đội thanh niên xung phong các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình làm việc suốt ngày đêm để sửa đường, sửa ngầm, sửa cầu, bắc cầu phao, sửa chữa các bến vượt bảo đảm cơ động cho các lực lượng, binh khí kỹ thuật từ hậu phương đến vị trí tập kết đúng thời gian quy định. Đến ngày 5 tháng 1 năm 1970, trên 200 xe cơ giới các loại, 80 nghìn tấn lương thực, đạn dược, thuốc men đã được tập kết ở Nam Long Đại.


Nam Quảng Bình và Vĩnh Linh là nơi xuất phát tiến công của các binh đoàn chủ lực, là nơi tập kết hậu cần, phương tiện vật chất kỹ thuật, vì vậy, ngày 12 tháng 11 năm 1970, Đảng ủy Tỉnh đội Quảng Bình họp ra nghị quyết xác định rõ nhiệm vụ cấp bách của lực lượng vũ trang tỉnh: tập trung lực lượng phối hợp với lực lượng công binh của Bộ, của Quân khu và bộ đội Đoàn 559 tiếp tục mở mới và nâng cấp tuyến đường trục dọc Trường Sơn, các tuyến đường ngang và đường vòng tránh để đưa tuyến vận tải cơ giới lên hai chiều ban ngày. Với tinh thần "Chiến trường cần gì, hậu phương sẵn sàng đáp ứng", cấp ủy, chỉ huy các đơn vị lực lượng vũ trang tăng cường công tác tuyên truyền, động viên, chỉ đạo chặt chẽ, tổ chức lực lượng ra quân đồng loạt. Phối hợp với lực lượng công binh, quân dân địa phương ngày đêm hăng hái lao động khôi phục, bảo đảm giao thông trên tuyến quốc lộ 1A, 15A tạo thuận lợi tốt nhất cho các đơn vị chuẩn bị bước vào chiến dịch.


Phong trào tòng quân, đi dân công hỏa tuyến diễn ra sôi nổi khắp các địa phương trong toàn Quân khu. Cuối năm 1970, toàn Quân khu đã tuyển được 12.607 tân binh. Với khẩu hiệu "Đưa nhiều hàng kịp thời phục vụ chiến dịch'', đến đầu tháng 1 năm 1971, các đại đội dân công hỏa tuyến của các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh cùng với các lực lượng của Bộ, các ban ngành địa phương và đông đảo nhân dân đã vận chuyển vào chiến trường hàng vạn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực thực phẩm. Khắp các địa phương ở Nghệ An, Hà Tĩnh, đã diễn ra phong trào thi đua "Toàn dân đánh giặc", "Toàn dân bàn việc nước"; các đơn vị bộ đội, dân quân nô nức thi đua, ngày đêm hăng say lao động sửa đường, làm cầu bảo đảm giao thông, dành mọi ưu tiên cho nhiệm vụ ở tiền tuyến, bảo đảm tốt nhất cho các lực lượng sẵn sàng ra trận. Hàng vạn quân, hàng nghìn xe pháo và các phương tiện kỹ thuật trên mọi nẻo đường rầm rập hành quân ra tiền tuyến. Các lực lượng vũ trang Quảng Bình phát huy truyền thống quê hương ''hai giỏi" quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Chỉ hai ngày sau khi có lệnh, 7 đoàn dân công hỏa tuyến của các huyện, thị xã Đồng Hới và 4 đại đội dân công hỏa tuyến của các cơ quan cấp tỉnh, các trường Trung cấp Sư phạm, Nông nghiệp... đã lên đường với khí thế sôi nổi, đầy nhiệt huyết.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #51 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2025, 09:01:50 pm »

Trên địa bàn Quân khu, trên tất cả các tuyến đường giao thông, đường sắt, đường bộ, đường sông, đường biển, các binh đoàn ngày đêm cơ động lực lượng với số lượng hàng vạn quân, hơn 15.000 xe cơ giới vượt 500km từ miền Tây Nghệ An vào Bắc Đường 9. Trên khắp các nẻo đường hành quân, các mẹ, các chị đón đợi để động viên, tặng quà, nước uống... Không khí nô nức vào chiến trường như "đi trẩy hội".


Do làm tốt công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức, đặc biệt là việc tập trung xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu, giải quyết tốt mọi vướng mắc về tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ, đồng thời tổ chức bảo đảm chu đáo, hiệp đồng chặt chẽ, hệ thống tổ chức lãnh đạo, chỉ huy được củng cố, nên các đơn vị tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu vượt qua mọi gian khó, hiểm nguy, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, lập được nhiều chiến công xuất sắc ngay từ đầu.


Việc sẵn sàng chăm sóc, cứu chữa kịp thời cho thương, bệnh binh của chiến dịch cũng được Bộ Tư lệnh Quân khu quan tâm ngay từ đầu: tổ chức điếu động một đội điều trị tăng cường cho chiến dịch gồm 72 bác sĩ, y tá, dược sĩ của Viện Quân y 4 cùng trang bị, thuốc men khẩn trương hành quân vào chiến trường. Trong suốt chiến dịch, đội điều trị vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn và ác liệt trong điều kiện thời chiến đã cấp cứu, điều trị kịp thời ngay tại chiến trường cho 5.340 thương bệnh binh, góp phần bảo đảm sức chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ trên khắp mặt trận.


Ngày 30 tháng 1 năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" với quy mô lớn nhất từ trước cho đến bấy giờ, gồm: 3 sư đoàn (sư đoàn dù, thủy quân lục chiến và Sư đoàn 1 bộ binh) với trên 40.000 quân (có 9.000 quân Mỹ), 2 trung đoàn thiết giáp (460 xe), 21 tiểu đoàn pháo binh (250 khẩu), 700 máy bay các loại. Ngay sau khi địch mở cuộc hành quân tiến công ra Đường 9 - Nam Lào, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra lời kêu gọi lực lượng vũ trang và hậu phương của chiến dịch, tiếp tục khẳng định đây là một trong những trận có ý nghĩa chiến lược, không những để giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược mà còn nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự bị chiến lược của địch, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của chúng, đẩy mạnh cuộc kháng chiến tiến lên mạnh mẽ, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa.


Để bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng đối với các lực lượng vũ trang ở khu vực Đường 9, ngày 8 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (mật danh là Bộ Tư lệnh 702) và chỉ thị cho các lực lượng vũ trang Đường 9 kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn, giành toàn thắng trong chiến dịch. Quân ủy Trung ương kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên hãy ra sức thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu và quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng: hãy phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc ta; tập trung tất cả tinh thần và sức lực, dũng mãnh tiến công, liên tục chiến đấu, tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết bảo vệ vững chắc tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này.


Quán triệt sâu sắc chỉ thị và lời kêu gọi của Quân ủy Trung ương, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang Quân khu 4 được cấp ủy, chỉ huy các cấp triển khai tích cực, xây dựng ý chí quyết tâm cao nhất cho mọi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên. Trên chiến trường, ngay từ đầu, cùng với các đơn vị của Bộ, các đơn vị lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã nhanh chóng cơ động, triển khai đội hình chiến đấu tiến công tiêu diệt địch trên đường Bông Kho, Kê Sóc, Ba Lào.


Trước sự phát triển nhanh của tình hình, ngày 27 tháng 2 năm 1971, Hội nghị Thường vụ Quân khu ủy 4 mở rộng đã phân tích, đánh giá tình hình và xác định: thời cơ lớn đã xuất hiện sớm hơn dự kiến của ta; địch muốn rút chạy, nhưng ta quyết tâm bao vây, tiêu diệt chúng. Thường vụ Quân khu ủy chỉ thị tăng cường giáo dục, động viên quân và dân trong Quân khu tiến công mạnh dạn, táo bạo, sâu hiểm, bằng mọi lực lượng và mọi phương thức đánh bại một bước bình định của địch, giành cho được nông thôn, phát triển phong trào thành thị, làm rối loạn hậu phương địch. Quán triệt sâu sắc quyết tâm của Trung ương Đảng và chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Thường vụ Quân khu ủy chỉ rõ: Phải làm cho toàn Đảng bộ, quân và dân trong Quân khu nhận rõ thời cơ chiến lược mới; cán bộ chỉ đạo và chỉ huy các cấp cần phân công đi xuống tận thôn, xã bố trí kế hoạch, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện phối hợp lực lượng và thống nhất chỉ đạo trong toàn khu vực; phải nghiêm túc hơn trong việc chấp hành chỉ thị và chế độ báo cáo kịp thời diễn biến hằng ngày của địch và ta.


Sau Hội nghị, các địa phương, đơn vị lực lượng vũ trang trong Quân khu đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhận rõ tình hình, xác định rõ nhiệm vụ, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, xây dựng quyết tâm chiến đấu cao, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Khắp mọi nơi trong địa bàn Quân khu dấy lên phong trào thi đua với khí thế hết sức sôi nổi. Ở Quảng Bình, các đơn vị bộ đội địa phương chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc. Các đơn vị dân công hỏa tuyến bám sát các lực lượng chiến đấu, không quản ngại hy sinh, gian khổ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Từ mặt trận, ngày 8 tháng 3 năm 1971, Đại đội 3 hỏa tuyến gồm 104 đồng chí đã gửi "Thư quyết tâm" với chữ ký bằng máu của 88 đồng chí nam và 16 nắm tóc của các đồng chí nữ về cho Tỉnh ủy và Bộ Chỉ huy chiến dịch "xin hứa phát huy truyền thống quê hương "hai giỏi" quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu".


Bước vào giai đoạn cuối của chiến dịch, từ ngày 12 đến ngày 23 tháng 3 năm 1971, được lệnh của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, Sư đoàn 324 được tăng cường một phân đội xe tăng, một phân đội cao xạ, một phân đội công binh và đại đội bộ đội địa phương huyện Hướng Hóa phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tiếp tế đạn dược, lương thực, thực phẩm đã vây chặt quân địch ở điểm cao 550, đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến.


Ngày 14 tháng 3 năm 1971, sau 7 ngày vận chuyển gạo phục vụ chiến dịch, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 27 đã xung phong dũng mãnh đánh địch rút chạy trên Đường 9 (ở khu vực Động Na, Kế Sóc, Ba Lào), tiêu diệt đoàn xe 30 chiếc từ Nam Lào chạy về Sa Mưu, đốt cháy 28 chiếc, diệt 120 tên địch. Bộ đội địa phương Quảng Trị phối hợp với bộ đội đặc công của Quân khu đánh chìm 4 tàu trên sông Hiếu. Đặc biệt, ngày 23 tháng 3, Tiểu đoàn 33 đặc công của Quân khu cùng với tiểu đoàn đặc công của Bộ tập kích vào Tà Cơn, diệt hàng trăm tên địch, phá hủy 42 máy bay lên thẳng và 5 xe tăng...


Trong quá trình chiến dịch, phối hợp với các lực lượng của B5, các phân đội bộ binh, súng máy 12,7mm, các tổ bắn tỉa của các địa phương tiêu diệt nhiều sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng. Hai đại đội 12,7mm của dân quân các huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ bắn rơi ba máy bay Mỹ. Các đoàn dân công hỏa tuyến Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình ngày đêm vượt suối, trèo đèo, vượt qua bom đạn ác liệt chuyển gạo, đạn đều vượt kế hoạch chỉ tiêu trên giao, kịp thời cho các đơn vị ở phía trước và chuyển thương binh về tuyến sau.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #52 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2025, 09:02:45 pm »

Thi đua với tiền tuyến lớn, ở hậu phương, các lực lượng vũ trang ba thứ quân của Quân khu luôn cảnh giác, chiến đấu kiên cường, bảo vệ vững chắc địa bàn Quân khu và hành lang vận chuyển. Từ ngày 1 tháng 2 đến ngày 23 tháng 3 năm 1971, quân và dân trong Quân khu đã bắn rơi 14 máy bay, bắn chìm 3 tàu biệt kích địch khi chúng tăng cường đánh phá ra hậu phương hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương với tiền tuyến.


Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa hết sức to lớn, đánh dấu sự lớn mạnh của quân và dân ta, tạo một bước ngoặt quan trọng thay đổi cục diện chiến tranh, mở ra triển vọng hiện thực đánh bại hoàn toàn chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và học thuyết Níchxơn của đế quốc Mỹ ở Đông Dương. Các lực lượng vũ trang Quân khu 4 vui mừng phấn khởi vì đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của chiến dịch. Công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang Quân khu 4 trong chiến dịch đã góp phần quan trọng cho những chiến công đó. Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị đã được chuẩn bị chu đáo, tiến hành sâu rộng chặt chẽ và cơ bản từ giữa năm 1970. Quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, của Quân ủy Trung ương và của Tổng cục Chính trị, Quân khu ủy luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các lực lượng vũ trang Quân khu; luôn bám sát diễn biên của chiến dịch, nắm chắc tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, kịp thời giải quyết những vướng mắc; luôn luôn củng cố, kiện toàn các tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy đảng, các tổ chức quần chúng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, đoàn viên.


Cấp ủy Đảng và cơ quan chính trị các cấp tăng cường giáo dục nêu cao tinh thần yêu nước, lòng căm thù sâu sắc giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao, thực hiện dân chủ, phát huy trí tuệ của quần chúng trong việc hiến kế, lập công để hoàn thành nhiệm vụ ở mức cao nhất. Trong giai đoạn chuẩn bị cũng như trong suốt quá trình chiến dịch, sau khi chiến dịch kết thúc và trong từng trận đánh, công tác đảng, công tác chính trị được tiến hành liên tục, phát huy cao nhất truyền thống cách mạng của các lực lượng vũ trang, bồi dưỡng tinh thần quyết chiến, quyết thắng, vượt qua mọi thử thách, hiểm nguy, tự lực, tự cường, đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.


Phong trào thi đua được phát động mạnh mẽ khắp các đơn vị lực lượng vũ trang và các địa phương trong toàn Quân khu. Từ cơ quan Quân khu đến các phân đội, tất cả cán bộ, chiến sĩ các đơn vị bộ đội cũng như thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến đều nêu cao tinh thần thi đua quyết thắng, ai ai cũng nỗ lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang Quân khu 4 đã thực sự trở thành "linh hồn sống", là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang Quân khu vượt qua mọi khó khăn gian khổ, không sợ hy sinh, ác liệt, giành thành tích cao nhất để thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu, kính dâng lên Đảng, góp phần cùng chiến dịch giành thắng lợi hoàn toàn.


Thực tiễn tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay:

Một là: luôn luôn quán triệt sâu sắc quan điểm và đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, mà trực tiếp là của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; nắm vững tư tưởng chỉ đạo, nghệ thuật quân sự và triệt để chấp hành những quyết sách, chỉ đạo của cấp trên; xác định đúng đặc điểm, vị trí, nhiệm vụ trọng tâm trong từng giai đoạn, từng thời kỳ để có chủ trương, quyết định đúng đắn và kịp thời, làm cơ sở cho các lực lượng của Quân khu xây dựng quyết tâm, mục tiêu, kế hoạch hành động, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.


Hai là: xây dựng tổ chức Đảng các cấp vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của một địa bàn chiến lược, bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, mọi mặt của Đảng trong bất kỳ tình huống nào. Công tác xây dựng Đảng phải luôn luôn được đặt lên hàng đầu, liên tục và toàn diện cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, từ cấp ủy Đảng các cấp đến từng đảng viên. Thường xuyên giữ vững sự đoàn kết của Đảng, đoàn kết giữa Đảng với quần chúng. Mỗi đảng viên là tấm gương sáng, sẵn sàng xông pha nơi hiểm nguy và ác liệt, từ đó động viên được tinh thần, ý chí, trí tuệ của quần chúng, tạo thành sức mạnh chiến đấu thắng lợi.


Ba là: thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho mọi cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị kiên định, luôn luôn đứng vững trên lập trường giai cấp và dân tộc. Quán triệt sâu, rộng đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp ủy các cấp, nâng cao tinh thần yêu nước, phát huy truyền thống của dân tộc,của quê hương, nhận rõ kẻ thù, tình hình, nhiệm vụ của mình, từ đó xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao nhất cho cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ.


Bốn là: công tác đảng, công tác chính trị thường xuyên bám sát thực tiễn, nắm chắc cục diện của chiến trường, mọi diễn biến của thực tiễn về thế trận, về lực lượng của cả ta và địch, đồng thời nắm được mọi diễn biến về tư tưởng, tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ cũng như các vướng mắc khác; trên cơ sở đó có quyết định, chủ trương, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, giải quyết thấu đáo mọi vướng mắc về tư tưởng, tập hợp sức mạnh của tất cả các lực lượng, chiến đấu giành thắng lợi trước mọi kẻ thù.


Năm là: luôn luôn chủ động phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các địa phương, động viên toàn dân, phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân, phát động phong trào toàn dân tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, phát huy cao nhất tiềm lực chính trị, tinh thần và vật chất của toàn dân. Kết hợp chặt chẽ tiền tuyến với hậu phương, hậu phương là nơi nuôi dưỡng, tập kết lực lượng, là bàn đạp xuất phát tiến công, là nguồn lực chính để tiền tuyến phát huy cao nhất ý chí, tinh thần để chiến đấu thắng lợi.


Những kinh nghiệm quý báu của công tác đảng, công tác chính trị trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đã được vận dụng và phát huy trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần quan trọng dổ các lực lượng vũ trang Quân khu 4 cùng cả nước tiếp tục chiến đấu giành thắng lợi hoàn toàn vào mùa Xuân 1975. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và chiến tranh vệ quốc trong tương lai (nếu xảy ra), những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị và phát huy tác dụng nhằm xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu vững mạnh toàn diện, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #53 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2025, 09:05:47 pm »

CÔNG TÁC BẢO ĐẢM KỸ THUẬT
TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971


Trung tướng NGUYỄN CHÂU THANH
Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật


Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 của quân và dân ta, chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ bị phá sản. Nhưng với bản chất phản động, ngoan cố và hiếu chiến, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, nhằm 3 mục tiêu: hủy diệt, giành dân và bóp nghẹt, với 4 biện pháp chính là phát triển quân đội, củng cố chính quyền Sài Gòn, tăng cường "bình định và tiến hành "chiến tranh bóp nghẹt". Đồng thời, chúng đẩy mạnh chính sách ngoại giao quỷ quyệt, bắt tay với các nước lớn để hạn chế, cắt viện trợ của quốc tế cho cuộc kháng chiến của quân và dân ta.


Lợi dụng những sai lầm, sơ hở của ta sau Tết Mậu Thân (1968), trong hai năm 1969 - 1970, địch liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, "bình định" cấp tốc, gây cho ta những tổn thất nặng nề, thực hiện được một phần mục tiêu mà chúng đề ra. Từ giữa năm 1970 đến đầu năm 1971, đi đôi với các biện pháp bình định, địch tập trung quân chủ lực Việt Nam cộng hòa, có sự chi viện tối đa của hỏa lực không quân, pháo binh Mỹ, liên tiếp mở các cuộc hành quân đánh phá hành lang vận chuyển và hậu phương chiến lược trực tiếp của ta ở Đông Bắc Campuchia, ngã ba biên giới và Đường 9 - Nam Lào, hòng "bóp nghẹt" nguồn chi viện nhân lực, vật lực cho cuộc kháng chiến của nhân dân 3 nước Đông Dương. Nhưng đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn không ngờ rằng đây là những sai lầm chiến lược của chúng.


Sau khi Mỹ và quân đội Sài Gòn thất bại trong cuộc hành quân đánh sang Đông Bắc Campuchia vào giữa năm 1970, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã sớm nhận định: sớm muộn địch cũng sẽ có những hành động phiêu lưu quân sự mới, và hướng tiến công chủ yếu của chúng trong mùa khô 1970 - 1971 sẽ là khu vực Đường 9 - Nam Lào. Đúng như dự đoán của ta, đầu năm 1971, Mỹ và chính quyền Sài Gòn huy động 88 tiểu đoàn bộ binh, 15 thiết đoàn xe tăng, hàng chục tiểu đoàn pháo binh, được không quân Mỹ yểm trợ, mở cuộc hành quân mang mật danh "Lam Sơn 719", đánh ra Đường 9 - Nam Lào, hòng cắt đứt tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, bóp nghẹt cuộc chiến tranh cách mạng của quân và dân ta ở miền Nam.


Để chuẩn bị cho chiến trường Đường 9 - Nam Lào, ngay từ tháng 6 năm 1970, Quân ủy Trung ương đã chủ trương phát triển và củng cố lực lượng vận tải chiến lược của Đoàn 559, kết hợp các hình thức vận tải đường bộ, đường sông, đường ống, đường biển, kết hợp đánh địch với nghi binh phòng tránh... Đoàn 559 được bổ sung thêm lực lượng của Sư đoàn 968 và Đoàn chuyên gia quân sự 565 ở Hạ Lào thành đơn vị tương đương cấp quân khu, do Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo. Nhiều trung đoàn, tiểu đoàn vận tải, các đơn vị pháo cao xạ, tên lửa, công binh..., cùng một khối lượng lớn vũ khí trang bị kỹ thuật và phương tiện quân sự được tăng cường cho Đoàn 559. Nhờ đó, khối lượng vận chuyển của Đoàn 559 vào chiến trường năm 1970 tăng gấp đôi so với năm 1969.


Tháng 10 năm 1970, Binh đoàn 70 được thành lập, sẵn sàng đón đánh địch nếu chúng tiến công ra khu vực Đường 9 - Nam Lào. Đây là binh đoàn chiến lược đầu tiên của quân đội ta, gồm 3 sư đoàn 304, 308, 320 và các trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng trực thuộc. Đại tá Cao Văn Khánh, nguyên Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị được cử làm Tư lệnh, đồng chí Hoàng Phương được cử làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Binh đoàn. Ngoài ra, Binh đoàn 70 còn được Mặt trận B5, một số đơn vị của Quân khu Trị - Thiên (134) và một số đơn vị thuộc Đoàn 559 sẵn sàng phối thuộc, chi viện. Tổng cộng lực lượng tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào lên đến 58.791 cán bộ, chiến sĩ, Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị và kế hoạch tác chiến của Bộ Quốc phòng, các đơn vị gấp rút chuẩn bị lực lượng, tổ chức thế trận, sẵn sàng phối hợp, hiệp đồng tác chiến.


Để bảo đảm cho chiến dịch, Tổng cục Hậu cần chỉ đạo mở thêm đường 10, củng cố đường 16 trước khi chiến dịch mở màn. Hệ thống kho tàng, trạm, xưởng sửa chữa (cơ sở bảo đảm kỹ thuật) trên tuyến chi viện chiến lược 559 chủ động chuẩn bị vũ khí trang bị, phụ tùng, vật tư bảo đảm cho 7 đến 8 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn xe tăng và 1 trung đoàn pháo cao xạ có thể hoạt động liên tục trong 3 tháng. Mạng lưới bảo đảm kỹ thuật phục vụ chiến dịch được tổ chức và hoạt động khá hiệu quả. Đến trước ngày nổ súng, ngành Kỹ thuật đã dự trữ được khối lượng lớn vũ khí, khí tài, đạn dược và vật tư kỹ thuật. Các cục Quân giới, Quân khí, Quản lý xe máy và Cục Vận tải còn cử cán bộ, nhân viên kỹ thuật tăng cường cho các trạm, xưởng sửa chữa trên tuyến chi viện chiến lược 559 và Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, thành lập các tổ, đội, trạm sửa chữa cơ động phục vụ chiến dịch.


Về công tác bảo đảm, ngành Kỹ thuật đã tổ chức theo tuyến từ Bộ Tư lệnh đến các sư đoàn bộ binh, trung, lữ đoàn, binh chủng và các đơn vị phối thuộc. Ngành Kỹ thuật phối hợp tổ chức mở đường mới đưa xe cơ giới vận chuyển lực lượng và vũ khí trang bị kỹ thuật vào các khu vực tập kết của bộ đội. Đến đầu tháng 1 năm 1971, lượng dự trữ vũ khí, khí tài, đạn dược và vật tư kỹ thuật đã đạt 6 nghìn tấn, bảo đảm cho 5 đến 6 vạn quân tác chiến trong 4 đến 5 tháng. Ngoài ra, trên tuyến chi viện chiến lược 559, ta còn dự trữ tại các kho, các hang, hầm hơn 3 vạn tấn vũ khí trang bị, sẵn sàng cấp phát, bổ sung cho các đơn vị trong quá trình chiến dịch.


Đầu tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh và Đảng ủy Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (mật danh là Bộ Tư lệnh 702) được thành lập. Lực lượng ta tham gia chiến dịch có 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2), 2 trung đoàn bộ binh (27, 278), 8 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn công binh, 3 tiểu đoàn xe tăng, 6 trung đoàn cao xạ, 8 tiểu đoàn đặc công... Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Tổng tham mưu phó được cử làm Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị được cử làm Chính ủy;Đại tá Cao Văn Khánh được cử làm Tư lệnh phó; Đại tá Phạm Hồng Sơn được cử làm Tư lệnh phó - Tham mưu trưởng, Đại tá Hoàng Phương được cử làm Phó Chính ủy. Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng là đại diện Thường vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Đây là cơ quan chỉ huy mạnh, đủ khả năng tổ chức và phối hợp tác chiến với các chiến trường liên quan như Quân khu Trị - Thiên, Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5), Đoàn 559 và Liên quân Việt - Lào ở khu vực Nam Lào.


Phối hợp với hoạt động tác chiến tại Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, ngày 6 tháng 2, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị ra chỉ thị, yêu cầu các đơn vị, các địa phương phát huy cao nhất khả năng của hai lực lượng, của ba thứ quân đánh mạnh vào các hậu cứ, hệ thống kho tàng chân hàng, cơ quan đầu não, căn cứ xuất phát hành quân các phương tiện giao thông, ngăn chặn tiếp tế đường bộ đường sông, hạn chế tiếp tế đường không của địch.


Ngày 9 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị nhấn mạnh: đây là chiến dịch có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Thắng lợi của chiến dịch không những bảo đảm cho sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến, mà còn tiêu diệt một lực lượng dự bị chiến lược quan trọng của quân đội Sài Gòn, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân Mỹ đánh một đòn rất mạnh vào ý chí xâm lược của chúng. Quân ủy Trung ương yêu cầu toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên hãy ra sức thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng..., tập trung tất cả tinh thần và sức lực, dũng mãnh tiến công, liên tục tiến công tiêu diệt thật nhiều lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết bảo vệ đường Hồ Chí Minh, xốc tới giành toàn thắng trong chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #54 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2025, 09:07:03 pm »

Trước khi Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào mở màn, các lực lượng bảo đảm kỹ thuật như Cục Quân khí, Cục Quân giới, Cục Quản lý xe máy, Cục Vận tải và Đoàn 559 đã bảo đảm trực tiếp cho chiến dịch 3.152 tấn vũ khí trang bị kỹ thuật. Các cục đều cử cán bộ chỉ huy, tham mưu kỹ thuật làm phái viên trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn công tác kỹ thuật của ngành mình. Trong chiến dịch này, lần đầu tiên chúng ta sử dụng số lượng lớn xe tăng, xe thiết giáp tham gia chiến đấu (89 chiếc). Do điều kiện địa hình và thời tiết, nên số lần xe hỏng hóc nhiều, nhưng nhờ chủ động chuẩn bị và có phương án sửa chữa chu đáo, lực lượng kỹ thuật đã sửa chữa được nhiều xe hỏng; có xe được sửa chữa trực tiếp tại trận địa, bảo đảm kịp thời cho chiến đấu. Quá trình chiến dịch, trên hướng chủ yếu, ngành Kỹ thuật bảo đảm cho 32 xe ô tô của Binh trạm 27 vận chuyển vũ khí trang bị kỹ thuật và vật chất đến các cụm kho ở Mường Trương, Salít, Chaki, Alia; trực tiếp bảo đảm vũ khí, đạn dược và vật tư kỹ thuật đến kho sư đoàn và trận địa pháo. Tại hướng Tây và Nam, Ngành bảo đảm cho xe ô tô của Binh trạm 9, Binh trạm 33; trực tiếp bảo đảm vũ khí, đạn dược và vật tư kỹ thuật đến kho Sư đoàn 2, Sư đoàn 324; có nơi tổ chức đưa đạn đến tận trận địa pháo của sư đoàn. Ở hướng Đông, ngành bảo đảm cho Binh trạm 17 tổ chức vận chuyển vũ khí, đạn dược, vật tư kỹ thuật đến tập kết ở Bên Quang đổ phục vụ cho các đơn vị thuộc Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5). Ngoài ra, Ngành còn phối hợp bảo đảm kỹ thuật cho 1.217 lượt xe cơ động lực lượng, chuyên chở 27.935 người và binh khí kỹ thuật vào chiến trường; tổ chức bảo đảm cho 2 tiểu đoàn pháo Đ74, 2 trung đoàn pháo cao xạ 37mm và 57mm, 3 tiểu đoàn xe tăng và xe thiết giáp bí mật hành quân vào vị trí tập kết chiến đấu.


Trong quá trình chiến dịch, ngành Kỹ thuật đã lau chùi, bảo quản, tổ chức cấp phát 23.312 súng bộ binh; 770 súng cối, pháo và ĐKZ các loại; 670 súng pháo cao xạ; 603 xe ô tô; 98 xe xích; 89 xe tăng, xe thiết giáp. Trước khi bước vào chiến dịch, vũ khí trang bị kỹ thuật của các đơn vị đều được ngành Kỹ thuật tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng. Căn cứ quyết tâm và kế hoạch tác chiến của Bộ Tư lệnh chiến dịch, ngành Kỹ thuật tổ chức cấp mới từ 5 đến 6% xe vận tải, 25% xe quân binh chủng, 5 đến 6% xe xích... (so với tổng số xe tham gia chiến dịch). Tổ chức 11 trạm sửa chữa xe, 26 trạm sửa chữa vũ khí phục vụ chiến dịch. Ngoài ra, còn tăng cường cho chiến dịch 4 đội sửa chữa cơ động, với 172 nhân viên kỹ thuật thuộc các ngành xe máy, quân khí, quân giới, tăng thiết giáp (1 đội tiểu tu ô tô 1 đội sửa chữa xe, 1 đội sửa chữa tăng xích, 1 đội sửa chữa pháo). Kết quả, các trạm, đội sửa chữa cơ động đã sửa chữa, khắc phục được 2% súng bộ binh, 5 đến 7% súng cối pháo và ĐKZ các loại, 17 đến 37% súng pháo cao xạ, 61% xe ô tô, 63% xe xích, 50% xe tăng, xe thiết giáp... (so với tổng số hỏng hóc).


Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công chiến lược Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Quân và dân Mặt trận Đường 9 - Nam Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 20.000 tên, bắt sống hơn 1.000 tên địch, đánh thiệt hại nặng 6 trung lữ đoàn, 13 tiểu đoàn bộ binh, phá hủy 1.100 xe quân sự (có 580 xe tăng, xe bọc thép), hơn 100 khẩu pháo lớn, bắn rơi 550 máy bay, thu trên 3.000 khẩu súng các loại. Trong chiến dịch này, chúng ta đã phối hợp và hiệp đồng tác chiến chặt chẽ với các đơn vị Quân đội nhân dân Lào, làm nên thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự, chính trị và ngoại giao. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 là đòn đánh báo hiệu sự thất bại thảm hại của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ, mở ra triển vọng cho thắng lợi của những chiến dịch tác chiến quy mô lớn tiếp theo ở chiến trường miền Nam, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến toàn thắng.


Thực tiễn công tác bảo đảm kỹ thuật cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho ngành Kỹ thuật; cụ thể:

Một là, phải quán triệt và vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng; chỉ thị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương và mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng vào quản lý, chỉ đạo và tổ chức bảo đảm kỹ thuật.

Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, ngành Kỹ thuật đã đưa nghệ thuật quản lý, chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật trong chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn lên bước phát triển mới. Ngành Kỹ thuật đã nghiên cứu, sáng tạo trong tổ chức lực lượng kỹ thuật phục vụ yêu cầu chiến đấu, có kế hoạch và phương thức bảo đảm kỹ thuật để vũ khí trang bị có hệ số kỹ thuật cao, để bộ đội có sức chiến đấu và sức cơ động, có khả năng tác chiến liên tục,đạt hiệu suất chiến đấu cao, giành thắng lợi trong mọi tình huống, trong từng trận đánh, tiến tới giành thắng lợi trong toàn chiến dịch.


Hai là, phải xây dựng được hệ thống tổ chức bảo đảm kỹ thuật tập trung, thống nhất, đúng với ý đồ và kế hoạch tác chiến của chiến dịch, phù hợp với khá năng khai thác, sử dụng vũ khí trang bị kỹ thuật và khả năng phối hợp tác chiến của bộ đội trong chiến dịch hợp đồng binh chủng.


Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, ngành Kỹ thuật đã tổ chức và phát huy được vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ của cơ quan, cơ sở kỹ thuật; nhất là các tổ, đội, trạm sửa chữa cơ động tại chiến trường. Việc tổ chức hệ thống bảo đảm kỹ thuật tập trung, thống nhất, khá vững chắc từ Bộ Tư lệnh chiến dịch đến các hướng, các đơn vị, nhất là hướng chủ yếu và đơn vị chủ công là một thành công của ngành Kỹ thuật trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào.


Ba là, phải quán triệt nhiệm vụ và xây dựng quyết tâm cho đội ngủ cán bộ, nhân viên kỹ thuật phục vụ chiến dịch, xây dựng cho họ bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên món kỹ thuật giỏi.

Đây là vai trò quyết định của nhân tố con người trong công tác kỹ thuật, nhất là công tác kỹ thuật trong một chiến dịch lớn ở chiến trường, nơi thử thách và đánh giá bản lĩnh, khẳng định ý chí và trình độ chuyên môn cao nhất đối với người lính kỹ thuật. Ngành Kỹ thuật đã giáo dục, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và rèn luyện toàn diện để đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật có ý chí quyết chiến quyết thắng, làm chủ vũ khí trang bị kỹ thuật, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ.


Bốn là, phải chủ động tạo nguồn, huy động vũ khí trang bị kỹ thuật theo kế hoạch tác chiến của chiến dịch, có lượng dự trữ vũ khí, đạn dược và vật tư kỹ thuật để sẵn sàng cấp phát, bổ sung cho bộ đội chiến đấu trong điều kiện chiến dịch phát triển, hoặc thời gian kết thúc chiến dịch chậm so với kế hoạch, ưu tiên bảo đảm kỹ thuật và huy động cao nhất, lớn nhất vũ khí trang bị kỹ thuật cho các đơn vị binh chủng, các đơn vị hỏa lực, đơn vị chủ công trên hướng chủ yếu và mũi đột kích của chiến dịch. Tổ chức tốt công tác quản lý, khai thác, sửa chữa kịp thời những hỏng hóc của vũ khí, khí tài tại chiến trường để duy trì chất lượng, phát huy hết uy lực của vũ khí trang bị. Tích cực nghiên cứu, cải tiến, cải biên vũ khí, khí tài, đạn dược theo yêu cầu chiến đấu của chiến dịch, không ngừng nâng cao hiệu suất chiến đấu cho bộ đội.


Năm là, tổ chức và vận động các lực lượng tham gia chiến dịch làm tốt công tác bảo đảm kỹ thuật. Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là chiến dịch tác chiến hiệp đồng binh chủng, yêu cầu về vũ khí trang bị kỹ thuật rất lớn, nhiều loại vũ khí trang bị hiện, đại như xe tăng, pháo và cối các loại... cơ động trong điều kiện địa hình rừng núi. Vì vậy, chuẩn bị và thực hiện công tác bảo đảm kỹ thuật phải được tiến hành chu đáo. Lực lượng thực hiện công tác kỹ thuật ở chiến trường không chỉ có cán bộ, nhân viên kỹ thuật của Ngành, mà tất cả cán bộ, chiến sĩ và nhân dân khu vực Đường 9 - Nam Lào cùng tham gia làm công tác bảo đảm kỹ thuật. Đó là yếu tố quan trọng tạo cho ngành Kỹ thuật có sức mạnh tổng hợp, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật phục vụ chiến địch, góp phần cùng quân và dân Đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc tiến công "Lam Sơn 719", làm phá sản chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ.
   Sau thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, ngành Kỹ thuật tiếp tục bảo đảm cho các chiến dịch tác chiến chiến lược, với quy mô ngày càng lớn. Đặc biệt, ngành Kỹ thuật đã khắc phục khó khăn, nỗ lực vượt bậc bảo đảm kỹ thuật cho các chiến dịch tác chiến hợp đồng quân binh chủng trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của nhân dân ta.
   Nhìn chung lại, trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, ngành Kỹ thuật đã đưa nghệ thuật chỉ đạo và tổ chức bảo đảm kỹ thuật cho chiến dịch hợp đồng binh chủng lên bước phát triển mới, phù hợp với sự phát triển của vũ khí trang bị kỹ thuật, với khả năng và trình độ công nghệ của ngành Kỹ thuật quân đội. Hiện nay, ngành Kỹ thuật nói chung, Tổng cục Kỹ thuật nói riêng đã và đang tập trung quy hoạch, đầu tư xây dựng, nâng cao khả năng công nghệ cho các cơ sở bảo đảm kỹ thuật để tăng cường tiềm lực khoa hoc kỹ thuật quân sự. Các cấp kỹ thuật trong toàn quân đang tích cực triển khai thực hiện các chương trình, dự án, đề án nhiệm vụ kỹ thuật theo yêu cầu Nghị quyết 382 của Quân ủy Trung ương về lãnh đạo công tác kỹ thuật quân sự trong tình hình mới. Tiềm lực khoa học kỹ thuật quân sự tiếp tục được tăng cường; đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹthuật của Ngành phát triển toàn diện, với chất lượng ngày càng cao hơn; vũ khí trang bị kỹ thuật không ngừng được bổ sung và phát triển theo yêu cầu nhiệm vụ. Lực lượng Kỹ thuật đáp ứng tốt hơn yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #55 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2025, 07:46:18 pm »

CÔNG TÁC BẢO ĐẢM HẬU CẦN
CHO CHIẾN DỊCH ĐƯờNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971

Thiếu tướng NGUYỄN VĨNH PHÚ
Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần


Thực hiện chỉ thị của Trung ương về việc mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch, công tác chuẩn bị bảo đảm hậu cần cho chiến dịch đã được tiến hành khẩn trương, kịp thời ở tất cả các cấp. Trên tuyến hậu phương, Tổng cục Hậu cần thành lập cơ quan chỉ huy tiền phương ở Nam sông Gianh, do đồng chí Đặng Quốc Tuyển - Tham mưu phó phụ trách để trực tiếp chỉ huy các binh trạm đẩy mạnh chi viện cho Đoàn 559, chiến trường Trị - Thiên Tây Nguyên, Nam Bộ và cùng các đơn vị của Đoàn 559 xây dựng tuyến hậu cần chiến dịch. Sau đó, đồng chí Đinh Đức Thiện - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần đã trực tiếp kiểm tra và giao nhiệm vụ cho Đoàn 559 chuẩn bị theo chỉ đạo của Quân ủy (ở cả ba hướng), đặc biệt là chuẩn bị bảo đảm hậu cần cho hướng Đường 9 - Nam Lào. Đồng thời, Tổng cục chỉ đạo tăng lượng vật chất dự trữ, đầu tư xây dựng hậu cần tại chỗ trên các chiến trường. Trong khi tăng cường công tác chuẩn bị và chi viện hậu cần cho các chiến trường, Tổng cục Hậu cần vẫn tích cực chuẩn bị bảo đảm cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào theo các phương án tác chiến của Bộ.


Ngay trong mùa mưa năm 1970, Đoàn 559 đã chủ động chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng phục vụ tác chiến. Đầu mùa khô 1970 - 1971, Đoàn 559 mở thêm được 750km đường, bao gồm đường 16A từ Chà Lỳ vào Bản Đông, đường 18 từ Quảng Bình chạy thẳng vào Đường 9, hoàn thành xây dựng các cụm kho quanh khu vực Đường 9... Đặc biệt, Bộ Tư lệnh 559 chủ động điều 25 đại đội súng máy cao xạ 12,7mm của các binh trạm trên toàn tuyến bí mật bố trí ở khu vực Đường 9 phối hợp với các đơn vị pháo cao xạ, hình thành hệ thống phòng chống liên hoàn, gồm nhiều tầng lớp, sẵn sàng đón đánh địch, bảo vệ tuyến hành lang chiến lược trên địa bàn. Đầu năm 1971, tuyến đường ống phía Đông và Tây (mỗi tuyến dài 300 - 400km) cũng hoàn thành và đưa được nhiên liệu vào tới chiến trường.


Trong chiến dịch này, ta sử dụng Binh đoàn 70 (B70) làm nòng cốt, cùng với lực lượng tại chỗ của Đoàn 559, Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, Quân khu Trị - Thiên và Sư đoàn 2 thuộc Quân khu 5 (gồm Trung đoàn 141 và các đơn vị trực thuộc) từ Quế Sơn (Quảng Nam) được lệnh bí mật cơ động ra khu vực Đường 9... Tổng lực lượng tham gia chiến dịch lên đến 5 sư đoàn bộ binh, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn pháo phòng không, 3 trung đoàn công binh, 4 tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp, một số đơn vị đặc công, tổng quân số trên 62.000 người (có 58.000 người trực tiếp chiến đấu).


Cục Hậu cần B70 lúc đầu chỉ có Phòng Tham mưu, gồm một số cán bộ rút từ cơ quan Tổng cục và các cục, sau đó mới tổ chức tương đối hoàn chỉnh, gồm các phòng (tham mưu, chính trị, vận tải, quân nhu, quân y, quân giới, xe xăng); đơn vị trực thuộc Cục có 3 đội điều trị, 1 đại đội xe, 1 tiểu đoàn vận tải bộ và 1 đại đội kho. Vừa được thành lập, hậu cần binh đoàn triển khai ngay việc lập kế hoạch bảo đảm theo ý định tác chiến, tổ chức nghiên cứu chuẩn bị chiến trường ở khu vực Đường 9 - Bản Đông theo trục đường 16, hiệp đồng với Binh trạm 17 (Cục Vận tải) và Binh trạm 27 (559) để vận chuyển hàng từ binh trạm vào các cụm hậu cần.


Nhu cầu bảo đảm hậu cần chiến dịch gồm 7.737 tấn vật chất các loại (trong đó có 3.000 tấn vật chất quân nhu, 571 tấn xăng dầu, 4.037 tấn đạn dược) cứu chữa thương binh, bệnh binh (khoảng 20% quân số tương đương 12.400 người); bảo đảm kỹ thuật cho 23.312 khẩu súng bộ binh, 770 khẩu súng cối các loại, 670 súng, pháo cao xạ, 603 xe ô tô, 98 xe xích và 88 xe tăng.


Do chủ động đi trước một bước trong chuẩn bị, nên đến ngày 30 tháng 1 năm 1971 (khi có quyết tâm chiến dịch) dự trữ vật chất trên các hướng của chiến dịch đã đạt 6.385 tấn, đủ cho ba đến sáu vạn quân tác chiến trong thời gian 4 đến 5 tháng1 (Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 397). Trong đó, B5 có 2.746 tấn; B70 có 45 tấn; Binh trạm 107/B4 có 235 tấn... các binh trạm 7, 27, 32, 33, 41 có 3.751 tấn gạo và đạn2 (Công tác hậu cần chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Tổng cục Hậu cần, 1987, tr. 20-21). Ngoài ra, trên tuyến vận tải chiến lược 559 còn dự trữ sẵn hàng vạn tấn hàng hoá đồng bộ có thể đáp ứng cơ bản nhu cầu của chiến dịch.


Sau khi Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm, ngày 4 tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh chiến dịch (còn gọi là Bộ Tư lệnh 702) được thành lập, do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo làm Chính ủy; Đại tá Lương Nhân - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần được chỉ định làm Tư lệnh phó về hậu cần và kiêm Chủ nhiệm hậu cần Mặt trận.


Trên cơ sở phương án tác chiến, hậu cần chiến dịch đã tổ chức bố trí lực lượng hợp lý để bảo đảm cho các hướng. Trên hướng Bắc (hướng chủ yếu), do Cục Hậu cần B70 đảm nhiệm (quân số 336 người); được tăng cường 3 đội điều trị, 2 tiểu đoàn vận tải bộ, 1.500 dân công; triển khai thành 4 cụm hậu cần (2 cụm phía trước, một cụm ở giữa, một cụm ở phía sau); đứng phía sau có Binh trạm 27 của Đoàn 559. Ở hướng Tây có hậu cần Sư đoàn 2. Ở hướng Nam có hậu cần Sư đoàn 324 kết hợp với tiền phương của hậu cần B4 và Binh trạm 107 thuộc B4. Trên địa bàn chiến dịch còn có các binh trạm của Đoàn 559 (binh trạm 27, 9, 32, 33, 41) và các binh trạm của Cục Vận tải (binh trạm 16, 17). Mỗi binh trạm có khoảng 2.000 người, bao gồm các thành phần vận tải, công binh, kho, quân y, cao xạ, thông tin... có khả năng vận chuyển 5.000 tấn hàng/tháng. Các binh trạm này đã nhanh chóng chuyển hướng hoạt động từ nhiệm vụ vận tải chiến lược sang bảo đảm cho chiến dịch.


Cơ quan hậu cần chiến dịch (Mặt trận 702), mặc dù không có cơ sở bảo đảm tại chỗ, nhưng đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan tiền phương của Tổng cục để huy động vật chất, trực tiếp chỉ huy các binh trạm 16, 17 và 27 bảo đảm cho B70 và lực lượng B5, đồng thời hiệp đồng với Đoàn 559 sử dụng binh trạm 32, 33 trực tiếp bảo đảm cho các sư đoàn 2 và 324 cùng các lực lượng ở Nam Đương 9.


Suốt quá trình chiến dịch, dựa vào các cơ sở hậu cần chiến lược và hậu cần Mặt trận 134, B5 đã được chuẩn bị trước, hậu cần chiến dịch đã bảo đảm cho các đơn vị 8.271 tấn vật chất các loại (3.329 tấn đạn, 608 tấn xăng dầu, 4.196 tấn lương thực, thực phẩm và 138 tấn vật chất khác); cứu chữa 6.176 thương binh và chuyển về các bệnh viện hậu phương kịp thời và an toàn. Đồng thời, đã sửa chữa 50 - 60% số xe hỏng và hàng trăm súng, pháo các loại, góp phần quan trọng vào thắng lợi chiến dịch.


Kết quả đó đánh dấu bước trưởng thành mới của ngành Hậu cần ở cả 3 cấp: chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Sau hơn hai tháng trực tiếp phục vụ (30.1 - 10.4.1971), với sự tham gia của nhiều lực lượng (hậu cần các đơn vị chủ lực cơ động, hậu cần tại chỗ, hậu cần chiến lược, chiến dịch và chiến đấu) được hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa hết lòng chi viện, công tác hậu cần Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Quân ủy Trung ương giao. Lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các đơn vị chủ lực của ta tác chiến quy mô lớn đã được bảo đảm hậu cần đầy đủ, kịp thời, được bảo đảm cơ động lực lượng và binh khí kỹ thuật nhanh chóng, đạn dược đáp ứng đủ yêu cầu tác chiến, bộ đội ăn no, tỷ lệ quân số khoẻ cao từ đầu đến cuối chiến dịch.


Hậu cần là cầu nối chuyển sức mạnh của đất nước tới lực lượng vũ trang để bảo đảm cho tác chiến thắng lợi. Mạng giao thông vận tải là mạch máu của nền kinh tế và hoạt động hậu cần. Bốn mươi năm trôi qua, những bài học kinh nghiệm về công tác hậu cần Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đặc biệt là các bài học về chuẩn bị, bảo vệ, tiềm lực và chuyển hoá thế trận hậu cần; kết hợp hậu cần chiến lược, chiến dịch và các đơn vị, để hình thành bảo đảm tại chỗ theo khu vực và theo hướng... vẫn còn nguyên giá trị, cần nghiên cứu kế thừa và phát triển phù hợp với điều kiện mới, nhằm xây dựng hậu cần tại chỗ trên từng vùng chiến lược và cả nước, đáp ứng yêu cầu tác chiến trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Với nguồn lực to lớn của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bản lĩnh, trí tuệ, quyết tâm của mình, tin rằng ngành Hậu cần quân đội cùng toàn Đảng, toàn dân sẽ xây dựng được thế trận và tiềm lực hậu cần ngày càng vững mạnh góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #56 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2025, 07:49:24 pm »

QUÂN KHU 4 - HẬU PHƯƠNG TRỰC TIẾP, BÀN ĐẠP XUẤT PHÁT TIẾN CÔNG CỦA CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971

Trung tướng NGUYỄN HỮU CƯỜNG
Tư lệnh Quân khu 4


Cách đây 40 năm, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, đã tiến hành cuộc phản công chiến lược quy mô lớn - Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719", loại khỏi vòng chiến đấu một bộ phận lớn lực lượng chủ lực cơ động của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, thu và phá hủy một số lượng lớn vũ khí và phương tiện chiến tranh của chúng. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa to lớn về mặt chiến lược, mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng miền Nam - thời kỳ phản công giành những thắng lợi quyết định. Thắng lợi đó là thành quả tổng hợp của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan, là sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt về chiến lược và sách lược của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương; sự chủ động về kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu; là tinh thần chiến đấu anh dũng, ngoan cường của các lực lượng tham gia chiến dịch. Trong chiến công chung đó có sự đóng góp quan trọng củaQuân khu 4 - hậu phương trực tiếp của chiến dịch, nơi cung cấp nhân lực, vật lực, bàn đạp xuất phát tiến công của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào.


Địa bàn Quân khu 4 trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương trực tiếp của chiến trường Trị - Thiên, Đường 9, Trung - Hạ Lào; cửa ngõ của chiến trường Nam Đông Dương. Quân khu 4 có địa thế dài và hẹp, với độ dốc lớn, tầm bao quát và khống chế rộng; phía Đông giáp biển Đông; phía Tây giáp Thượng Lào, Trung Lào với các trục giao thông chiến lược 7, 8, 9, 217; phía Nam giáp với chiến trường Trị - Thiên; phía Bắc nối liền với hậu phương lớn miền Bắc; là nơi xuất phát của tuyến đường vận tải chiến lược Hồ Chí Minh chi viện nhân lực, vật lực cho chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia; đây cũng là bàn đạp xuất phát tiến công, phản công kẻ thù trên các hướng. Với vị trí địa lý đặc biệt đó, Quân khu 4 vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương; vừa làm nhiệm vụ trong nước, vừa làm nhiệm vụ quốc tế.


Từ giữa năm 1970, Bộ Chính trị đã nhận định: Mặc dù liên tiếp bị thất bại trên khắp các chiến trường, nhưng Mỹ và quân đội Sài Gòn sẽ tiếp tục có những hành động phiêu lưu quân sự mới. Chúng thay đổi chiến lược từ "tìm diệt" sang "quét và giữ"; đồng thời mở các cuộc hành quân đánh ra vòng ngoài nhằm phá vỡ hành lang vận chuyển chiến lược và hệ thống kho tàng, chân hàng hậu phương chiến lược của ta.


Tháng 10 năm 1970, địch bắt đầu có những hành động nghi binh. Chúng tung tin sẽ mở các cuộc tiến công ra Nam Quân khu 4, đồng thời đưa một lực lượng lớn quân Mỹ ra Quảng Trị. Nắm được ý đồ của địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhận định: địch có thể sẽ mở cuộc tiến công quy mô lớn trong mùa khô 1970 - 1971, đánh vào hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, đặc biệt là khu vực Đường 9 - Nam Lào. Bộ Chính trị chỉ thị: Trường hợp địch đánh ra Đường 9 thì đây là thời cơ thuận lợi cho ta tiêu diệt chúng. Nhất thiết phải đánh thắng trận này, dù có phải động viên sức người, sức của hy sinh đến thế nào. Vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược.


Để chủ động sẵn sàng về thế trận, quyết tâm tiêu diệt địch, làm chuyển biến cục diện chiến trường có lợi cho ta, Quân ủy Trung ương lệnh cho Quân khu 4 phải chuẩn bị cả hai phương án: Tham gia chiến dịch nếu chúng đánh ra Đường 9 - Nam Lào và sẵn sàng đánh thắng địch nếu chúng tiến công hạn chế ra phía Nam Quân khu, bảo vệ hành lang vận chuyển chiến lược, bảo vệ giao thông vận tải chi viện chiến trường.


Quán triệt chỉ thị của Quân ủy Trung ương, ngày 14 tháng 12 năm 1970, Quân khu ủy 4 họp xác định lại một lần nữa vị trí, nhiệm vụ chính trị của Quân khu: Tiếp tục làm bốn nhiệm vụ trên ba chiến trường; đồng thời hạ quyết tâm: Kiên quyết đập tan cuộc tiến công bằng bộ binh của địch ra Quân khu, bất kỳ địch đánh phá bằng hình thức nào, thời gian nào, với quy mô và lực lượng như thế nào. Tập trung sức người, sức của chi viện đắc lực cho chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đập tan hành động phiêu lưu quân sự của Mỹ uà tay sai. Theo đó, các lực lượng vũ trang Quân khu khẩn trương động viên sức người, sức của chi viện nhanh nhất, kịp thời nhất đáp ứng yêu cầu của chiến trường, nhằm đưa nhanh nguồn nhân lực, vật lực từ hậu phương lớn miền Bắc vào chiến trường.


Trước khi mở màn chiến dịch, Quân khu 4 tập trung lớn lực lượng và phương tiện của các đơn vị công binh quân khu, công binh các tỉnh đội, các đội Thanh niên xung phong các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình nỗ lực làm việc suốt ngày đêm để sửa chữa đường, san lấp hố bom, sửa ngầm, sửa cầu phà, bến vượt... bảo đảm cho các đơn vị cơ động lực lượng, phương tiện, binh khí kỹ thuật từ hậu phương đến vị trí tập kết đúng thời gian quy định. Trung đoàn công binh 249 cùng với các tiểu đoàn công binh vượt sông 27, 37 của Quân khu bảo đảm các bến vượt ở Nam Đàn (Nghệ An), Đò Trai (Hà Tĩnh), Long Đại (Quảng Bình). Các bến ngầm từ Phú Quý vào đến Lệ Ninh (Quảng Bình) do Đại đội 8 Trung đoàn 249 đảm nhiệm. Các tuyến đường số 1, 10, 18, 20... được sửa chữa kịp thời phục vụ cho các lực lượng bộ binh, binh khí kỹ thuật nhẹ cơ động tốt; riêng đường 15 được củng cố ưu tiên cho binh khí kỹ thuật hạng nặng cơ động.


Từ trung tuần tháng 10 đến thượng tuần tháng 12 năm 1970, tại Quảng Bình, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định mở chiến dịch "55 ngày đêm vận tải" chi viện cho Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Ngoài lực lượng chính của Quân khu 4, có sự tham gia của một bộ phận Đoàn 559, Cục Vận tải, dưới sự điều hành chung của Bộ Tư lệnh Quân khu 4. Quân khu đã huy động hầu hết các phương tiện cơ giới của các đơn vị vận tải: Binh trạm 1, Binh trạm 2, xe vận tải của các sư đoàn, trung đoàn, các lực lượng vận tải bộ (kể cả của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị) để tham gia chiến dịch. Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, mỗi tỉnh huy động trên 2.000 dân công và hàng nghìn xe đạp thồ, thuyền nan để phục vụ chiến dịch vận tải, làm kho hàng, bốc dỡ hàng... tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các đơn vị chủ lực chuẩn bị bước vào chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #57 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2025, 07:50:27 pm »

Phát hiện thấy việc cơ động lớn lực lượng, phương tiện của ta, Mỹ và quân đội Việt Nam cộng hòa huy động hàng ngàn lượt máy bay chiến đấu các loại, trinh sát, đánh phá các tuyến vận chuyển chiến lược, các trục vượt khẩu, kho, chân hàng, bãi đậu xe... hòng ngăn chặn chiến dịch vận chuyển. Trong hai ngày 21, 22 tháng 11, Mỹ đã huy động 53 tốp với 156 lần/chiếc đánh phá chân hàng ở cửa khẩu các tuyến đường 20, 10, 12 và đánh sâu xuống đồng bằng dọc quốc lộ 1 từ Hà Tĩnh đến phà Gianh (Quảng Bình). Với khẩu hiệu "sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm", "đưa nhanh, đưa nhiều hàng ra phía trước", phấn đấu trở thành "dũng sĩ vận tải", các đơn vị tham gia chiến dịch đã nêu cao quyết tâm vượt khó khăn, không ngại hy sinh, bám tuyến, bám hàng, tranh thủ ngày đêm vận chuyển hoàn thành và vượt chỉ tiêu kế hoạch. Trong 55 ngày đêm, Binh trạm 1, Binh trạm 2 đã vận chuyển được 35.095 tấn hàng; tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đã vận chuyển được 70.000 tấn. Các đội dân công hỏa tuyến của Thanh Hóa; của các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Đô Lương (Nghệ An); Nghi Xuân, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh (Hà Tĩnh) vừa làm tốt việc xây dựng lán trại, kho hàng, chăm sóc thương bệnh binh, vừa cùng các đơn vị tích cực vận chuyển được 5.468 tấn hàng (gồm 2.888 tấn đạn, 2.517 tấn lương thực, thực phẩm và 63 tấn hàng khác) từ căn cứ hậu cần chiến lược xuống căn cứ hậu cần chiến dịch và 3.148 tấn hàng từ căn cứ hậu cần chiến dịch xuống các đơn vị chiến đấu.


Với tinh thần "chiến trường cần gì, hậu phương sẵn sàng đáp ứng", đến đầu tháng 1 năm 1971, đã có trên 200 xe cơ giới các loại và 80.000 tấn lương thực, thực phẩm, đạn dược, thuốc chiến thương được tập kết ở Nam Long Đại (Quảng Bình), sẵn sàng đáp ứng cho chiến dịch. Ngoài ra, các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh còn ủng hộ cán bộ, chiến sĩ Đường số 9 trên 500 con trâu, bò.


Song song với nhiệm vụ vận chuyển chi viện cho tuyến trước, kế hoạch bảo đảm hậu cần, phương án tác chiến bảo vệ hậu phương Quân khu cũng nhanh chóng được hoàn chỉnh. Ngày 17 tháng 2 năm 1971, Quân khu hoàn chỉnh kế hoạch bảo đảm hậu cần cho các lực lượng tham gia tác chiến trên địa bàn Quân khu. Phương án bảo đảm được xác định trên bốn khu vực: Khu vực A bao gồm hai tỉnh Nghệ An Hà Tĩnh. Khu vực B bao gồm Nam, Bắc sông Gianh, Xuân Sơn, Đồng Hới. Khu vực C bao gồm nam Long Đại đến Thác Cóc. Khu vực D gồm Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị và Vĩnh Linh, về vật chất, lương thực, thực phẩm khu vực Đường 9 - Bắc Quảng Trị đủ 6 tháng, các khu vực khác đủ 4 tháng; đến cuối tháng 2 năm 1971 trên các khu vực đã có 1.949,6 tấn, trong đó có 46,4 tấn thuốc quân y, đạt 70% nhu cầu kế hoạch. Đạn các loại: Khu vực C, D có từ 3 đến 7 cơ số; khu vực A, B có 2 đến 5 cơ số; các đảo có 7 đến 10 cơ số. Bảo đảm quân y: Tổ chức cấp cứu theo khu vực, kết hợp quân và dân y được bố trí theo từng tuyến. Bảo đảm giao thông vận tải: Tổng khối lượng vận chuyển là 5.689 tấn, trong đó cho khu vực A, B là 3.807 tấn; khu vực C, D là 1.882 tấn. Toàn bộ lực lượng vận tải Quân khu được huy động làm nòng cốt, kết hợp với lực lượng bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến và giao thông vận tải địa phương cùng tham gia vận chuyển.


Phong trào động viên tuyển quân, đi Thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến được dấy lên sôi động trên khắp các địa phương trong Quân khu. Đến cuối năm 1970, toàn quân khu đã tuyển được 11.846 tân binh. Toàn Quân khu có 48.000 bộ đội chủ lực, 94.000 dân quân tự vệ; mỗi xã đều có một đến ba trung đội dân quân cơ động. Các tỉnh Nghệ An, Quảng Bình tổ chức trung đoàn bộ đội địa phương, ở các huyện phần lớn tổ chức đến cấp tiểu đoàn, có huyện tổ chức hai đến ba tiểu đoàn được trang bị gần giống với bộ binh của bộ đội chủ lực. Các Tiểu đoàn 25 pháo binh (Nghệ An), Tiểu đoàn 8 pháo cao xạ (Hà Tĩnh), Tiểu đoàn 46 bộ binh (Quảng Bình), Đại đội 361 huyện Lệ Thủy, Đại đội 362 huyện Lệ Ninh (Quảng Bình); các phân đội súng máy phòng không 12,7mm của các huyện Thiệu Hóa, Nông Cống, Ngọc Lặc (Thanh Hóa) tất cả đều hăng hái xung phong vào tham gia chiến đấu ở chiến trường Đường 9 - Bắc Quảng Trị. Ở Quảng Bình có 7 đoàn dân công hỏa tuyến của các huyện: Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa, thị xã Đồng Hối và 4 đại đội dân công hỏa tuyến của các cơ quan cấp tính, các trường trung cấp sư phạm, nông nghiệp,... chỉ hai ngày sau khi có lệnh đã lên đường tham gia chiến dịch với khí thế khẩn trương, sôi nổi.


Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ của chiến trường, từ Nam Quảng Bình vào Vĩnh Linh được xác định là nơi tập kết lực lượng, phương tiện kỹ thuật, là địa bàn xuất phát tiến công của các đơn vị chủ lực, các binh chủng. Để tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các đơn vị chuẩn bị bước vào chiến dịch, đồng thời bảo đảm đánh thắng địch trong mọi tình huống, kể cả khi địch liều lĩnh tấn công ra Nam Quân khu, Bộ Tư lệnh Quân khu đã nhanh chóng bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến cơ bản nhằm bảo vệ địa bàn trước tình hình mới, sử dụng dân quân tự vệ, bộ đội địa phương tỉnh kết hợp chủ lực Quân khu đánh địch bảo vệ dân bảo vệ kho tàng và các trục đường vận chuyển huyết mạch trong đó chú trọng giữ vững vùng rừng núi phía tây; bảo đảm tuyến giao thông cho chiến trường chính luôn được thông suốt, kết hợp đẩy mạnh tác chiến trên Đường số 9 Trung - Hạ Lào, buộc địch phải phân tán lực lượng bị động đối phó. Phương châm tác chiến được xác định là dựa vào làng xã chiến đấu, các điểm then chốt, kết hợp lực lượng cơ động đánh phủ đầu với hình thức chiến thuật kết hợp chốt với tập kích, phục kích đánh giao thông, đánh đổ bộ đường không. Lực lượng chủ lực Quân khu vừa chốt, vừa sẵn sàng cơ động, chuẩn bị chiến trường theo nhiệm vụ được giao.


Các đơn vị pháo cao xạ của Quân khu và của Bộ trên địa bàn được bố trí lại đội hình bảo đảm đánh thắng địch bảo vệ lực lượng và phương tiện tập kết phục vụ cho chiến dịch. Trung đoàn 218 được tăng cường bảo vệ Quảng Bình và Vĩnh Linh; Trung đoàn 214 ở Bắc Quảng Bình và phà Xuân Sơn; Trung đoàn 250 ở phà Địa Lợi và ga Tân Ấp; Trung đoàn 222 ở Vinh và Đô Lương; Trung đoàn 282 theo trục đường số 8; Trung đoàn 284 theo trục đường số 12; Trung đoàn 280 theo trục đường 20. Ngoài việc bố trí lại lực lượng pháo cao xạ, Quân khu còn chỉ đạo sử dụng bố trí các đội súng máy phòng không 12,7mm của dân quân ở các tỉnh Nghệ An (21 đội), Hà Tĩnh (46 đội), Quảng Bình (18 đội), Vĩnh Linh (14 đội) làm lực lượng bắn máy bay bay thấp; trước mắt có nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị cao xạ của Quân khu và của Bộ có nhiệm vụ bắn máy bay trinh sát, máy bay thả biệt kích, bảo vệ các tuyến vận tải chiến lược, bảo vệ các kho trạm, chân hàng, các đơn vị tập kết đứng chân trên địa bàn quân khu để chuẩn bị tham gia chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #58 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2025, 07:51:38 pm »

Tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Binh đoàn 70 (gồm các sư đoàn 304, 308, 320) đóng quân trên địa bàn Quân khu vừa huấn luyện, vừa tham gia phòng thủ. Ở thời điểm này, lực lượng cơ động của Quân khu có hai trung đoàn bộ binh (270B, 271B); hai trung đoàn pháo mặt đất (164, 166) và các trung đoàn pháo cao xạ (không kể lực lượng bộ đội địa phương tỉnh và dân quân tự vệ là lực lượng chiến đấu tại chỗ). Để chuẩn bị lực lượng sẵn sàng tăng cường cho chiến dịch, Quân khu đã nghiên cứu bổ sung lực lượng, vũ khí, trang bị kỹ thuật để củng cố cho các đơn vị tham gia hoạt động trên Đường 9, tiến hành điều chỉnh Trung đoàn 270 từ khu Đông về khu Tây và đưa Tiểu đoàn 45 của Quảng Bình vào thay thế vị trí Trung đoàn 270 ở khu Đông; đồng thời đưa lực lượng bắn tỉa của dân quân Vĩnh Linh, tiểu đoàn bộ đội địa phương các huyện Gio Linh, Cam Lộ (Quảng Trị) và các đơn vị phối thuộc của Bộ vào hoạt động ở Đường 9.


Mọi công tác chuẩn bị cho chiến dịch đã hoàn thành, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: Binh đoàn 70, lực lượng tại chỗ của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5), một số đơn vị của Quân khu Trị - Thiên và Đoàn vận tải chiến lược 559 cùng với các trung đoàn tiểu đoàn binh chủng.


Ngày 30 tháng 1 năm 1971, chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào bắt đầu, các lực lượng tại chỗ của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, lực lượng chủ lực của Quân khu Trị - Thiên theo nhiệm vụ được phân công phối hợp với lực lượng của Bộ tích cực tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Ngày 6 tháng 2, Trung đoàn 27 - đơn vị chủ lực của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị phục kích trên đường Bông Kho, bắn cháy 9 xe quân sự, diệt 90 tên địch. Ngày 7 tháng 2, Đại đội 5 Tiểu đoàn 33 đặc công Quân khu tập kích phá hủy 8 ô tô, diệt 30 tên địch.


Bước vào đợt 2 chiến dịch, các lực lượng của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị ở phía Nam tiến hành pháo kích và tập kích vào các căn cứ hậu cần, các sở chỉ huy của địch ở Khe Sanh, Sa Mưu, Đông Hà, Ái Tử, Cửa Việt... gây cho chúng những tổn thất nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh. Ngày 28 tháng 2, Đại đội 2 Tiểu đoàn 33 đặc công tập kích kho Sa Mưu của địch, đốt cháy hơn 240.000 lít xăng. Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 27) cùng với Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương Quảng Trị đánh quân địch nống lấn ra Ba Lào, Tà Cơn, diệt hàng trăm tên. Lực lượng của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị liên tục chặn đánh giao thông, tập kích sân bay, kho tàng, bến cảng nơi địch án ngữ, buộc địch phải tăng thêm hai lữ đoàn quân Mỹ và ba tiểu đoàn pháo binh để giải tỏa. Sư đoàn 324 (chủ lực Quân khu Trị - Thiên) trong hai ngày 27 và 28 tháng 2, tiến công tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 2, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 3 Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn ở điểm cao 619, bẻ gãy một trong những chốt quan trọng của địch ở cánh Nam. Tiếp đó, ngày 12 tháng 3, Sư đoàn được lệnh bao vây tiêu diệt Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến Mỹ ở điểm cao 550. Sau 5 ngày vây chặt quân địch tại điểm cao 550, được các lực lượng của hai Binh trạm 56, 51, Đại đội bộ đội địa phương huyện Hướng Hóa, dân quân dư kích các bản Việt - Lào phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu tiếp tế đạn dược, lương thực, thực phẩm... đến đêm 22 tháng 3, Sư đoàn tổ chức tiến công mãnh liệt, đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến Mỹ.


Cùng với các đơn vị ở cánh Nam, ở cánh Đông lực lượng ta tiếp tục áp sát Đường 9, chặn đánh địch rút chạy. Ngày 14 tháng 3, sau 7 ngày vận chuyển đạn, gạo phục vụ chiến dịch, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 27 tổ chức chặn đánh các đoàn xe chở bọn tàn binh địch trên đường rút chạy. Với sở trường đánh gần, xung phong mãnh liệt, Tiểu đoàn 3 đã tiêu diệt đoàn xe 30 chiếc từ Nam Lào chạy về Sa Mưu, đôt cháy 28 xe, diệt 120 tên địch. Đặc biệt ngày 23 tháng 3, một tiểu đoàn đặc công của Bộ và Tiểu đoàn 33 đặc công Quân khu tập kích vào Tà Cơn, diệt hàng trăm tên địch, phá hỏng 42 máy bay lên thẳng và 5 xe tăng.


Song song với chiến thắng liên tiếp của lực lượng chủ lực cơ động, lực lượng tại chỗ cũng tích cực hoạt động tiêu hao, tiêu diệt địch. Bộ đội địa phương Quảng Trị phối hợp với các phân đội đặc công của Quân khu đánh chìm 4 tàu địch trên sông Hiểu (đoạn từ Đông Hà - Cửa Việt). Trong suốt quá trình chiến dịch, phối hợp với lực lượng của Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, các phân đội bộ binh, súng máy phòng không 12,7mm, các tổ bắn tỉa của các địa phương chiến đấu ở bắc Quảng Trị tích cực tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Hai đại đội súng máy phòng không 12,7mm của dân quân các huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ (Hà Tĩnh) đã bắn rơi 3 máy bay Mỹ. Các đoàn dân công hỏa tuyến của các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày đêm vượt suối, trèo đèo, vượt qua bom đạn ác liêt, liên tục bám sát các đơn vị chủ lực chuyển gạo, đạn,... phục vụ kịp thời cho các đơn vị chiến đấu và chuyển thương binh về tuyến sau. Riêng đoàn dân công Quảng Bình phục vụ vận chuyển đã đạt 135% kế hoạch đề ra. Trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu xuất hiện những tập thể, cá nhân tiêu biểu như Đại đội 2 do đồng chí Hồ Thị Thu Hiền chỉ huy liên tục vận chuyển gạo, đạn, tải thương phục vụ chiến đấu đạt hiệu suất cao, sau đợt phục vụ chiến dịch, đơn vị được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Hai; đồng chí Dương Văn Tiên (xã Phú Trạch) thường xuyên gùi hàng với với mỗi chuyến 100kg; đoàn xe đạp thồ của tỉnh Thanh Hóa đạt năng suất vận chuyển cao. Chiếc xe đạp thồ của anh Nguyễn Đức Thọ (huyện Đông Sơn - Thanh Hóa) chở mỗi chuyến trên 500kg... Những chiến công của lực lượng dân công hỏa tuyến các địa phương Quân khu 4 đã góp phần quan trọng vào thắng lợi lịch sử của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào.


Thi đua với tiền tuyến, ở hậu phương, các lực lượng vũ trang Quân khu thường xuyên cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ vững chắc địa bàn, bảo vệ các tuyến đường hành lang vận chuyển. Từ ngày 1 tháng 2 đến ngày 23 tháng 3, quân và dân Quân khu 4 đã bắn rơi 14 máy bay, bắn chìm 3 tàu biệt kích của Mỹ và quân đội Sài Gòn.


Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi, ta đã tiêu diệt và tiêu hao nhiều đơn vị tinh nhuệ thuộc lực lượng dự bị chiến lược của địch; bảo vệ vững chắc tuyến hành lang vận chuyển chiến lược, góp phần bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn âm mưu địch tiến công hạn chế ra Nam Quân khu 4. Thắng lợi của chiến dịch đánh dấu bước trưởng thành của bộ đội chủ lực, thể hiện bước phát triển mới về nghệ thuật tác chiến chiến dịch của quân đội ta, mở ra thời kỳ mới - thời kỳ phản công giành thắng lợi quyết định bằng những chiến dịch đánh tập trung hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn của quân đội ta. Quân và dân Quân khu 4 hết sức phấn khởi và tự hào vì đã có những đóng góp xứng đáng của lực lượng bộ đội chủ lực cơ động, bộ đội địa phương, dân quân du kích, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến và các chiến sĩ gùi thồ,... đúng như lời khen ngợi của đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, tại buổi nói chuyện với cán bộ trung, cao cấp cơ quan Quân khu: "Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào ta thắng lớn, Quân ủy Trung ương nhiệt liệt biểu dương các lực lượng vũ trang, đồng bào Quân khu 4 đã góp phần xứng đáng chiến thắng Đường 9 - Nam Lào".


Quân và dân Quân khu 4 đã thực hiện tốt vai trò hậu phương trực tiếp, bàn đạp xuất phát tiến công trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Thắng lợi to lớn của chiến dịch đã để lại một số những bài học kinh nghiệm trong thực hiện vai trò hậu phương trực tiếp, bàn đạp xuất phát tiến công của Quân khu 4.


Một là, thường xuyên quán triệt sâu sắc đường lối cách mạng, đường lối quân sự của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên; kịp thời đề ra chủ trương, phương hướng lãnh đạo đúng đắn toàn diện.

Hai là, đánh giá đúng tình hình, nhất là âm mưu thủ đoạn của địch, trên cơ sở đó xây dựng quyết tâm, kế hoạch chiến đấu, phục vụ chiến đấu phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kỳ.

Ba là nắm vững yêu cầu phát triển của chiến tranh kiên quyết, khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh toàn diện, xây dựng hậu phương quân đội và tổ chức chiến trường, hình thành thế trận hậu cần rộng khắp tâp trung vào hướng chính, địa bàn quan trọng, bảo đảm chủ động trong mọi tình huống.

Bốn là, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu cùng với cấp ủy, chính quyền các địa phương phải đặc biệt quan tâm làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng và công tác tổ chức. Xây dựng kế hoạch chu đáo, hiệp đồng chặt chẽ với các cấp, các ngành nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực tổng hợp của toàn dân đáp ứng yêu cầu của chiến trường.

Năm là, vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng vào thực tiễn chiến trường Quân khu, các lực lượng vũ trang Quân khu phối hợp tốt với cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành, các lực lượng, tập trung làm chủ ở những nơi trọng yếu, chống chia cắt của địch, giữ vững mạch máu giao thông thông suốt trong mọi tình huống.


Những kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã được kế thừa, phát huy tác dụng to lớn trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Những bài học này vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn đối với nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu vững mạnh toàn diện, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng hiện nay cũng như tương lai.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #59 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2025, 08:00:00 pm »

HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP TÁC CHIẾN CỦA QUÂN VÀ DÂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VỚI CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971

Trung tướng TRẦN PHI HỔ
Tư lệnh Quân khu 9


Sau thất bại trong Mậu Thân năm 1968, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Mục tiêu cơ bản là nhằm giữ miền Nam Việt Nam, ngăn chặn phong trào cách mạng ở Đông Dương, giảm sự dính líu trực tiếp về quân sự và tránh sự thất bại của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Mỹ nhấn mạnh đến các biện pháp thực hiện là: Xây dựng quân đội Sài Gòn thành lực lượng mạnh, đủ sức đương đầu với lực lượng vũ trang của ta; củng cố chính quyền các cấp, ổn định tình hình kinh tế chính trị ở miền Nam Việt Nam; tập trung thực hiện chương trình bình định, bảo đảm cao nhất an ninh lãnh thổ, phản kích ra ngoài lãnh thổ miền Nam Việt Nam; tập hợp liên minh phản động trong khu vực, do quân Sài Gòn đóng vai trò nòng cốt; chặn đứng các nguồn tiếp tế chi viện cho cách mạng nước ta, xúc tiến các hoạt động ngoại giao để kiểm chế, cô lập cuộc đấu tranh của nhân dân ta.


Ở đồng bằng sông Cửu Long (bao gồm Quân khu 8 và Quan khu 9), sau đòn tiến công bất ngờ và đồng loạt của ta trong năm Mậu Thân (1968), từ cuối năm 1968 đến năm 1971, địch nhanh chóng hồi phục, phản kích quyết liệt, đẩy lùi lực lượng ta ra khỏi vùng ven thị xã, thị trấn. Lực lượng vũ trang ta bị tiêu hao nặng phải lùi dần về phía sau để bổ sung, củng cố. Địch bắt đầu thực hiện kế hoạch bình định dài hạn, gồm các chương trình "Bình định cấp tốc", "Bình định đặc biệt", "Bình định xây dựng", "Bình định phát triển", "Bình định bổ túc"... Chúng tập trung toàn bộ lực lượng của Quân đoàn 4 Sài Gòn, dưới sự yểm trợ tối đa của không quân và hải quân Mỹ, liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân đánh vào các vùng căn cứ của ta như: vùng Bảy Núi (An Giang), Vùng 4 (Kiến Tường), Vùng 20/7 (Mỹ Tho), Giồng Trôm (Bến Tre)... Quy mô lớn, dài ngày và ác liệt nhất là các cuộc hành quân "Nhổ cỏ U Minh" (bao gồm U Minh Thượng và U Minh Hạ) của địch ở Rạch Giá, Cà Mau.


Có thể nói, đây là thời kỳ đảng bộ, quân và dân đồng bằng sông Cửu Long gặp nhiều khó khăn nhất. Ta bị đẩy lùi từng bước, mất dần thế tiến công, lực lượng bị giảm sút. Ở nhiều địa phương, cán bộ, lực lượng vũ trang cơ sở "tróc" khỏi địa bàn; quần chúng sợ bom đạn, chạy ra vùng địch kiểm soát...


Trước tình hình đó, Khu ủy và Bộ Tư lệnh hai quân khu 8 và 9 xác định chủ trương cụ thể về việc bám trụ đánh phá bình định là: Lực lượng vũ trang phải bám dân, sống trong dân, dựa vào dân và làm chỗ dựa cho dân, cùng với dân hình thành lực lượng tổng hợp thường xuyên tiến công địch; bộ đội chủ lực phải đóng trên địa bàn cơ động ở khu vực đông dân, thực hành tiến công linh hoạt, làm chỗ dựa cho phong trào đấu tranh chính trị... Việc thực hiện chủ trương bám trụ ở các địa phương, đơn vị diễn ra giằng co, ác liệt. Cán bộ, lực lượng vũ trang ở các xã vùng địch lấn chiếm "tróc" địa bàn, dần dần quay trở lại địa phương, thực hiện ba bám: bám đất, bám dân, bám địch, khôi phục lại phong trào chiến tranh du kích.


Bước vào Đông Xuân 1970 - 1971, đế quốc Mỹ tiếp tục đẩy mạnh chương trình bình định nông thôn, ra sức đôn quân bắt lính, tích cực chuẩn bị các cuộc tiến công trên chiến trường ba nước Đông Dương nhằm triệt phá hành lang vận chuyển chiến lược của ta. Chúng thông qua kế hoạch mở ba cuộc hành quân lớn mang mật danh "Lam Sơn 719", "Toàn thắng 1-71" và "Quang Trung 4", trong đó cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh sang Đường 9 - Nam Lào có mục đích, quy mô và ý đồ lớn nhất trong việc kiểm nghiệm khả năng của quân đội Sài Gòn, đồng thời cũng để kiểm nghiệm kết quả sau hơn hai năm triển khai thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".


Về phía ta, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, với quyết tâm tiêu diệt lớn sinh lực và phá hủy phương tiện chiến tranh của địch, giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Chiến dịch diễn ra trong hơn 50 ngày đêm (30.1 - 23.3.1971), được chia thành ba đợt: Đợt 1 (30.1 - 7.2), địch nghi binh, điều động, triển khai lực lượng chuẩn bị xuất phát tiến công. Ta cơ động và triển khai lực lượng chiến dịch, tạo thế chuẩn bị đánh địch. Đợt 2 (8.2 - 11.3), địch tiến công đánh chiếm Bản Đông, phát triển lên Sê Pôn. Ta ngăn chặn địch từng bước, tập trung lực lượng bẻ gãy cánh quân phía bắc, đánh thiệt hại nặng cánh quân phía nam, tích cực chuẩn bị để tiến công vào toàn bộ đội hình địch. Đợt 3 (12 - 23.3), địch dừng lại và rút lui. Ta chuyển sang tiến công vào toàn bộ đội hình địch và đánh địch rút chạy.


Trong khi Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào sắp diễn ra, tại đồng bằng sông Cửu Long, mặc dù ở Mỹ Tho, Gò Công, Bên Tre, Kiến Phong (Quân khu Cool, Cần Thơ, Rạch Giá, Cà Mau (Quân khu 9), địch đánh phá rất ác liệt, nhưng Trung ương Cục và Quân ủy Miền vẫn tập trung chỉ đạo các địa phương trên khắc phục khó khăn gian khổ, tích cực đánh bại chương trình bình định của địch. Khu ủy và Bộ Tư lệnh hai quân khu xác định vị trí của cơ quan chỉ đạo trong đánh phá bình định: Cơ quan chỉ đạo, chỉ huy các cấp phải đứng vững ở vị trí có điều kiện và tạo nhiều biện pháp để nắm tình hình, nắm đơn vị, nắm phong trào, thực hành chỉ huy, xử trí tình huống kịp thời chính xác. Cơ quan, tỉnh, huyện, xã bám trụ xen kẽ với địch để hoạt động. Đảng bộ, quân và dân các địa phương cùng lực lượng chủ lực khu kiên trì bám trụ đánh địch, từng bước khôi phục và phát triển phong trào, chuyển tương quan lực lượng tại chỗ, phối hợp cùng chiến trường toàn Miền đánh phá bình định.


Ở Quân khu 8, Tiền phương Quân khu, Tỉnh ủy Mỹ Tho và Trung đoàn 1 đóng trong xã Long Tiên; Tỉnh đội Mỹ Tho đóng ở xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tại chiến trường trọng điểm của khu, mỗi nơi chỉ cách đồn địch từ 300 đến 800m. Chính sự kiên cường bám trụ xen kẽ với địch của cơ quan lãnh đạo, chỉ huy đã động viên được các địa phương, đơn vị; đồng thời kịp thời phát hiện những vấn đề phát sinh của địch và ta để chỉ đạo phong trào, chỉ đạo và chỉ huy đánh địch có hiệu quả. Tháng 3 năm 1971, Tiểu đoàn Đặc công 269 quân khu táo bạo luồn sâu, tập kích các trận địa pháo của địch ở Cai Lậy, Vĩnh Kim, phá hủy 5 khẩu pháo 105mm, loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục tên. Tiểu đoàn 261A, chủ lực khu, tập kích khu trù mật Mỹ Phước Tây, diệt đồn Bình Phú (Cai Lậy).


Ở Quân khu 9, thực hiện chủ trương của Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quan khu xác định phương thức tác chiến đối với từng khu vực, từng lực lượng: Phòng ngự bám trụ chiến đấu theo hình thức phòng ngự linh hoạt, kết hợp phản công đánh vào một số cứ điểm; phòng ngự bám trụ tiêu hao địch, giữ vững trận địa, không được để "tróc" địa bàn; địch chốt ở đâu thì trụ bám vây lại và liên tục đánh địch bằng nhiều cách; các lực lượng phải đánh địch càn quét, liên tục tiêu hao, tiêu diệt địch, làm cho địch phải co lại; từng bước bao vây các cứ điểm, các chốt, kiên cường bám trụ đồng thời nắm vững thời cơ kiên quyết phản công.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM