Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:48:34 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sá  (Đọc 33048 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #130 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2025, 08:03:32 pm »

Như vậy, việc mở chiến dịch tiến công lên Tây Bắc là một chủ trương sớm được hình thành ngay sau thắng lợi của chiến dịch Hòa Bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh. Chủ trương đó dự kiến sẽ được thực hiện làm hai bước, trong hai năm. Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, chiến dịch Thượng Lào năm 1953.


Thực hiện chủ trương trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và Trung ương Đảng, Bộ Tổng tư lệnh sớm triển khai mọi công tác chuẩn bị và xây dựng kế hoạch tác chiến. Việc đầu tiên là phải nắm được cụ thể tình hình địch ở Tây Bắc. Tiếp đó là công tác xây dựng cơ sở, tổ chức phát động nhân dân các dân tộc ủng hộ và tham gia kháng chiến. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nể vì Tây Bắc là vùng rừng núi hiểm trở, đi lại khó khăn, phần lớn nhân dân bị địch kiểm soát khống chế, kìm kẹp ngay từ trước và sau Cách mạng tháng Tám. Đời sống nhân dân hết sức cực khô, nghèo nàn, lạc hậu. Tiếp theo đó là công tác huy động dân công mở đường, vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí đạn dược... từ Việt Bắc sang, từ Khu 3, Khu 4 lên; công tác huy động hậu cần tại chỗ... cuối cùng là tổ chức lực lượng, lựa chọn cách đánh, chọn hướng tiến công, mục tiêu tiến công. Đó là cả một khối lượng công việc đồ sộ, cần phải huy động sức mạnh của mọi cấp, mọi ngành, mọi lực lượng... mới có thể giải quyết được...


Sau hơn 5 tháng làm công tác chuẩn bị, dựa vào so sánh thế và lực giữa ta và địch trên chiến trường, căn cứ vào đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chính thức quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm mục đích:

   " - Tiêu diệt sinh lực địch.
   - Tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc.
   - Giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc"1 (Bộ Tổng tham mưu, Kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, tập II, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1963. tr.139)


Chọn Tây Bắc để mở chiến dịch tiến công, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh đã có sự cân nhắc đúng đắn trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình địch ta chính xác, khách quan và khoa học. Ta đưa chủ lực đánh vào một địa bàn chiến lược hiếm yếu ở rừng núi, nơi địch tương đối yếu và sơ hở. Đây là nơi chúng khó phát huy ưu thế về vũ khí trang bị đặc biệt là không quân, pháo binh và khả năng cơ động. Trong khi đó chiến trường rừng núi lại là nơi ta có thể phát huy sở trường, khắc phục chỗ yếu của mình; hạn chế sở trường khoét sâu chỗ yếu của địch. Ở đồng bằng Bắc Bộ, hướng phòng thủ chủ yếu của địch, nơi tập trung lực lượng cơ động và có thể phát huy ưu thế của vũ khí, trang bị, hỏa lực thì ta chỉ sử dụng một bộ phận chủ lực phối hợp cùng các lực lượng vũ trang địa phương tận dụng thời cơ địch phải tập trung đỏi phó với cuộc tiến công của ta ở Tây Bắc đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát động nhân dân vùng dậy phá tề trừ gian, mở rộng thêm các khu du kích và căn cứ du kích, phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch. Đồng thời, thắng lợi của chiến dịch lại cổ vũ, tạo điều kiện, hỗ trợ cho các hoạt động kháng chiến của quần dân ta ở đồng bằng và các chiến trường khác giành thắng lợi lớn hơn.


Sau gần 2 tháng mở chiến dịch Tây Bắc (14-10 đến 10-12-1952) kể cả trung du và đồng bằng Bắc Bộ, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 13.800 tên địch. Riêng Mặt trận Tây Bắc, quân dân ta đã tiêu diệt, bắt và làm bị thương hơn 6.000 tên. Nhiều tiểu đoàn, đại đội thuộc các binh đoàn cơ động của địch bị xóa sổ1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tập II, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994. tr. 232 - 233). Nhiều tên phản động tay sai người địa phương, nhiều tên thực dân cáo già nhiều năm cai trị, thống trị Tây Bắc phải đền tội. Âm mưu củng cố "Xứ Thái tự trị", "Xứ Nùng tự trị" nhằm "chia để trị" của thực dân phản động Pháp bị thất bại hoàn toàn. Tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản), bốn huyện phía nam Lai Châu, hai huyện phía tây Yên Bái rộng 28.500km2 với 25 vạn dân được giải phóng. Những cánh đồng lớn, những vựa lúa ở Tây Bắc (Điện Biên, Nghĩa Lộ, Than Uyên, Quang Huy, Phù Yên) lắm thóc, nhiều lâm thổ sản, thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi, trồng trọt đã thuộc về nhân dân ta. Tám phần mười đất đai ở Tây Bắc được giải phóng nối liền với căn cứ địa Việt Bắc, bổ sung cho tiềm lực kháng chiến và làm cho hậu phương kháng chiến của cả nước thêm lớn mạnh. Đường giao thông liên lạc từ Trung Quốc, Lào qua Việt Nam, từ Tây Bắc, Việt Bắc xuống Liên khu 3, Liên khu 4 vào Liên khu 5 và Nam Bộ dễ dàng, thuận tiện hơn, tạo thêm những điều kiện mới để quân và dân ta tiến lên giành nhiều thắng lợi lớn hơn nữa.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cá về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Với chiến thắng Tây Bắc, hình thái chiến trường đã thay đổi theo hướng ngày càng có lợi cho ta. Ta đã giữ vững và từng bước mở rộng quyền chủ động chiến lược. Các lực lượng vũ trang nhân dân ta tích lũy thêm được nhiều kinh nghiệm tác chiến quy mô lớn hơn, hiệp đồng binh chủng cao hơn trên chiến trường rừng núi, xa hậu phương. Đặc biệt bộ đội chủ lực ta dần dần làm quen với cách đánh cứ điểm, tập đoàn cứ điểm mạnh. Đối với thực dân Pháp xâm lược, như tờ báo Bằng chứng Cơ đốc giáo xuất bản tại Pari những ngày đó đã khẳng định: "Tiếng súng Tây Bắc báo hiệu một mùa đông đáng lo ngại nữa cho Pháp, mùa đông thứ tám của cuộc chiến tranh ngày càng gợi ra những hình ảnh lo âu, thất vọng"1 (Theo Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tập II, Sđd, tr. 233). Còn tướng Xalăng, Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương cũng phải chua chát thốt lên "Rõ ràng không thể chối cãi được rằng quá nhiều đơn vị của chúng ta không thích ứng với cuộcchiến đấu trong rừng rậm, nơi mà Việt Minh làm chủ... và điều đó khiến tôi đau đầu... Hàng ngày tôi luôn nhận được những tin tức đáng ưu phiền"1 (Raun Xalăng, Việt Minh - đối thủ của tôi. xuất bản tại Pari năm 1971, tập 2, Thư viện Quân đội dịch, tr. 363 - 364).


60 năm nhìn lại chiến thắng Tây Bắc, chúng ta càng thấy rõ chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh mở chiến dịch tiến công Tây Bắc là hoàn toàn đúng đắn, chính xác. "Ta đã thắng to vì có sự lựa chọn hướng tiến công chiến lược đúng đắn. Có hướng tiến công chiến lược chính xác mới có chiến dịch thắng lợi"2 (Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tập II. Sđd, tr. 233 - 234).


Việc chọn hướng tiến công chiến lược đúng đắn, chính xác phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chiến lược, phù hợp với tương quan lực lượng địch - ta, phù hợp với thực tế chiến trường trong chiến dịch Tây Bắc đã khẳng định trình độ lãnh đạo chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, trình độ chỉ đạo, chỉ huy của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh ngày càng được nâng cao đồng thời khẳng định bước phát triển mới của nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật chiến dịch nói riêng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #131 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2025, 08:06:43 pm »

CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952 BÀI HỌC VỀ LỰA CHỌN CHIẾN TRƯỜNG

Trung tá, ThS LÊ THANH BÀI
Phó Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Pháp -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Trong chiến tranh cách mạng tư tưởng tiến công luôn giữ thế chủ đạo. Thống kê sơ bộ cho thấy, loại hình chiến dịch tiến công chiếm khoảng 80% trong tổng số chiến dịch đã được thực hiện trong hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Mục tiêu của các chiến dịch tiến công là tiêu diệt địch, giải phóng đất đai,... Để thành công, yếu tố lựa chọn, xác định chiến trường mở chiến dịch phù hợp với tương quan lực lượng địch, ta đóng vai trò hết sức quan trọng. Chiến trường được lựa chọn phải đạt hai yêu cầu căn bản: một là, nơi địch yếu, ta có điều kiện phát triển thuận lợi vào chiều sâu phòng ngự của địch để tiêu diệt mục tiêu quan trọng bên trong; hai là, nơi ta có thể triển khai lực lượng một cách thuận lợi. Thắng lợi của chiến dịch tiến công Tây Bắc Thu Đông 1952 là một điển hình cho việc lựa chọn chiến trường. Nhờ lựa chọn đúng chiến trường, quân và dân ta đã phát huy thế mạnh, giành ưu thế, giữ quyền chủ động, thực hiện thành công mục tiêu của chiến dịch,tạo nên bước chuyển biến quan trọng cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Thắng lợi chiến dịch Biên Giới Thu Đông 1950 đã tạo nên bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta. Tiếp tục phát triển thế tiến công, giành quyền chủ động chiến lược, từ tháng 12 năm 1950 đến tháng 6 năm 1951, ta liên tiếp mở các chiến dịch, sử dụng từ hai đến ba đại đoàn, kết hợp với Chiến tranh du kích, tiến công vào các phòng tuyến của quân Pháp ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích, phá kế hoạch củng cố lực lượng và bình định đồng bằng của Pháp. Tuy nhiên cả ba chiến dịch Trần Hưng Đạo (25.12.1950 - 18.1.1951), Hoàng Hoa Thám (23.3 - 7.4.1951) và Hà Nam Ninh (28.5 - 20.6.1951) đều không đạt được mục tiêu chiến lược và chiến dịch. "Có nhiều nguyên nhân, song điều chủ yếu là do ta chủ quan, đánh giá không đúng tình hình so sánh lực lượng địch, ta ở địa bàn chiến lược này; ta chọn hướng tiến công chiến lược ở nơi địch có khả năng phát huy hiệu lực của các loại binh khí kỹ thuật hiện đại là hỏa lực mạnh và cơ động nhanh của chúng. Như vậy là chưa phù hợp với đặc điểm địch và ta lúc đó"1 (Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh - Trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, H.1996, tr. 178).


Trong khi đó, sau khi giành được những ưu thế tạm thời, Đờ Lát (De Lattre de Tassigny) - Cao ủy kiêm Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương cho rằng đã đến lúc phải có trận đánh có tính chất chiến lược hòng làm thay đổi tương quan lực lượng, nhất là lực lượng chủ lực cơ động, giành quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ để xoay chuyển tình thế cuộc chiến tranh. Bởi vậy, ông ta mở cuộc hành quân lên Hòa Bình, nhằm chiếm vị trí chiến lược, cắt đứt con đường liên lạc giữa căn cứ địa Việt Bắc với đồng bằng Liên khu 3 và vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh. Tuy nhiên, tham vọng lớn lao của viên chỉ huy tài ba đã không thành hiện thực. Chớp thời cơ địch đưa quân lên Hòa Bình, quân và dân ta đã tiến hành chiến dịch phản công, đánh bại âm mưu của chúng. Thắng lợi của chiến dịch Hòa Bình buộc thực dân Pháp phải quay về phòng ngự chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, âm mưu cố gắng giành lại quyền chủ động của Đờ Lát bị phá vỡ, thế chủ động chiến lược của quân và dân ta càng được củng cố. Thắng lợi đó khẳng định địa bàn rừng núi là nơi quân đội và nhân dân Việt Nam phát huy được ưu thế, hạn chế được những thế mạnh về hỏa lực phi pháo và khả năng cơ động nhanh của đối phương.


Từ sau chiến dịch Hoà Bình, Chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch ngày càng phát triển mạnh, làm ruỗng nát hệ thống chiếm đóng của quân Pháp, nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ. Hậu phương kháng chiến được xây dựng và củng cố, kể cả hậu phương chiến lược và hậu phương tại chỗ, bao gồm căn cứ địa Việt Bắc, các vùng tự do ở Khu 4, Khu 5, Nam Bộ, Tây Nguyên và cả những căn cứ du kích trong lòng địch. Đó là điều kiện để ta mở một chiến dịch tiến công trong Thu Đông 1952. Vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định là chọn hướng chiến trường cho phù hợp với thực tiễn của cuộc kháng chiến, phù hợp với tương quan lực lượng giữa địch và ta, trong điều kiện địch chiếm ưu thế về vũ khí trang bị.


Thắng lợi của chiến dịch Hòa Bình là cơ sở thực tiễn để Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 3 (4-1952) tiến hành kiểm điểm, phê phán nhận thức, tư tưởng "nôn nóng, muốn đánh lớn, thắng nhanh", đồng thời quán triệt thêm một bước đường lối kháng chiến trường kỳ, vẽ "giai đoạn chuẩn bị để quyết định giành thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến". Hội nghị nhận định, trong tương quan địch còn mạnh hơn ta về trang bị kỹ thuật và tổng quân số, ta nắm quyền chủ động nhưng chưa đủ ưu thế áp đảo, nên việc chọn chiến trường mở chiến dịch phải hoàn toàn phù hợp với thế và lực của ta1 (Ở thời điểm này, lực lượng cơ động chiến lược của ta có 54 tiểu đoàn, đich 55 tiểu đoàn. Riêng ở Bắc Bộ ta 54 tiểu đoàn, địch 32, tỷ lệ 1,7/1). Ta cần chọn chỗ địch yếu, sơ hở đánh trước, nhằm khoét sâu nhược điểm căn bản của địch, làm chúng suy yếu dần, ta trưởng thành từng bước, giành thắng lợi từng phần, tạo ra chuyến biến so sánh lực lượng có lợi cho ta, tiến lên tiến hành những chiến dịch quyết chiến, chiến lược, giành thắng lợi quyết định chiến tranh.


Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, khắc phục "nhược điểm: trình độ kỹ thuật, chiến thuật còn kém,..", từ mùa hè năm 1952, các đơn vị trong toàn quân tiến hành chính huấn chính trị, nâng cao tinh thần giác ngộ và quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng cho cán bộ và chiến sĩ. Công tác chấn chỉnh tổ chức, biên chế và trang bị cũng được tăng cường. Trình độ chỉ huy chiến đấu, trình độ chiến thuật và kỹ thuật của bộ đội có nhiều tiến bộ mới. Lực lượng vũ trang ba thứ quân ngày càng trưởng thành, làm nòng cốt để toàn dân đánh giặc. Đến cuối năm 1952, chúng ta đã xây dựng được 6 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công binh và pháo binh. Đó là cơ sở quan trọng để ta chủ động mở chiến dịch tiến công trong Thu Đông 1952 nhằm tiếp tục phát huy quyền chủ động chiến lược.


Thấy rõ chiến trường rừng núi là địa bàn có lợi cho hướng tiến công chiến lược, với phương châm tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh, tháng 9 năm 1952, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy quyết định mở chiến địch tiến công địch trên chiến trường Tây Bắc, bởi đây là "chiến trường rừng núi duy nhất còn lại ở Bắc Bộ"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, tập 4, Bộ Tổng tham mưu xuất bản, 1963, tr. 216) cũng là nơi "địch yếu hơn hết ở Bắc Bộ, thành phần ngụy binh nhiều, bố trí tương đối phân tán, địa hình có phần thuận lợi cho ta". Mục đích của chiến dịch là: "Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai có tính chất quan trọng về chiến lược"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 13. Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr. 304).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #132 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2025, 08:08:38 pm »

Đến giữa năm 1952, lực lượng địch trên địa bàn có 8 tiểu đoàn và 41 đại đội đóng phân tán trên 144 cứ điểm, trong đó chi có 40 cứ điểm có từ một 1 đến 2 đại đội, công sự phần lớn chưa kiên cố, với phạm vi chiếm đóng khá rộng. Tuy nhiên, lợi dụng tình hình cơ sở trong nhân dân còn non yếu, đường vận chuyển tiếp tế của ta khó khăn, địa thế rừng núi xa xôi, hiểm trở dịch gây cho ta không ít khó khăn. Tuy vậy, so với đồng bằng Bắc Bộ, đây lại là nơi địch yếu hơn, lực lượng lính Âu - Phi không nhiều, địa hình rừng núi khiến hoạt động của máy bay và pháo binh bị hạn chế, việc tiếp tế bằng đường không cũng không dễ dàng do thiếu sân bay lớn, sương mù nhiều, bên cạnh đó, việc tiếp tế bằng đường bộ cũng khó khăn gấp bội. Đây cũng là nơi địch sơ hở, bởi cho rằng ta không thể triển khai lực lượng lớn vì không giải quyết nổi vấn đề tiếp tế, căn cứ địa Việt Bắc, hậu phương Liên khu 4 đều cách xa hàng trăm kilômét. Nhưng đó là một tính toán đầy chủ quan, đối phương đã không nhận định hết sức mạnh to lớn của Chiến tranh nhân dân, ý chí quyết tâm của một dân tộc nhất tề đứng lên kháng chiến vì độc lập tự do.


Để tiến tới có quyết định mở hướng tiến công lên Tây Bắc, ngay từ tháng 2 năm 1952, khi chiến dịch Hòa Bình sắp kết thúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị đã có ý định mở các chiến dịch tiến công dịch trên hướng núi rừng phía bắc nhằm "Tiêu diệt sinh lực địch, kể cả quân tăng viện từ đồng bằng lên, giải phóng một vùng rộng lớn ở Tây Bắc và Thượng Lào, tranh thủ nhân dân"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Tổng kết tác chiến chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975) Nxb Quân đội nhân dân, H 2005. tr. 158). Trên cơ sở đó và qua nghiên cứu thực tế, Tổng Quân ủy đã sớm quyết định chọn Tây Bắc là chiến trường cho chiến dịch tiến công trong Thu Đông 1952. Đó là chiến trường, "phù hợp với thế và lực của ta,... quyết định bước phát triển của ta trong giai đoạn giữ vững và phát huy thế chủ động chiến lược"2 (Bộ Tổng tham mưu, Ban tổng kết - Biên soạn lich sử (1991). Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Phàp (1945 - 1954), Bộ Tổng tham mưu xuất bản. 1991. tr. 574).


Như vậy, thực tiễn của chiến trường Bắc Bộ qua các chiến dịch cuối năm 1950 đầu năm 1951, và thắng lợi của chiến dịch Hòa Bình là cơ sở quan trọng để Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy xác định mở chiến dịch tiến công lên Tây Bắc. Chọn Tây Bắc là chiến trường cho chiến dịch tiến công Thu Đông 1952, Trung ương Đảng và Tổng quân ủy đã có sự lựa chọn, cân nhắc đúng đắn. Ta đưa chủ lực tấn công vào một chiến trường rừng núi có tầm quan trọng chiến lược, nơi địch phòng thủ yếu, khó phát huy sức mạnh về pháo binh, không quân, nhưng lại là nơi phù hợp với trình độ tác chiến và sở trường của bộ đội ta.


Với chiến trường đã được lựa chọn, Bộ Tổng tư lệnh đã chia địa bàn chiến dịch thành từng khu vực chủ yếu để tiến công. Trên khu vực tiến công chủ yếu ta lại tập trung ưu thế áp đảo địch trong các trận đánh then chốt. Đồng thời chia thời gian chiến dịch thành từng đợt, tập trung sức mạnh hoàn thành dứt điểm nhiệm vụ của mỗi đợt để tiếp tục tập trung sức mạnh cho đợt tiếp theo. Trong từng đợt lại chọn thời điểm có lợi nhằm phát huy thế và lực để giành thắng lợi. Với nghệ thuật tạo sức mạnh bằng cách chia địch ra trong khoảng không gian và thời gian nên ta đã giành được những thắng lợi quan trọng trong tấn công Phân khu Nghĩa Lộ (đợt 1), đánh tan hệ thống phòng ngự của địch trên cao nguyên Mộc Châu (đợt 2), kết hợp vu hồi chiến dịch từ Quỳnh Nhai giải phóng Thuận Châu, Tuần Giáo, Điện Biên Phủ và phần lớn Sơn La,...


Xác định đúng chiến trường là cơ sở cho chọn đúng hướng tiến công chủ yếu, đúng đối tượng tác chiến, vận dụng cách đánh phù hợp nên qua gần hai tháng thực hành chiến dịch, ta đã diệt và bắt hơn 6.000 địch (diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội), giải phóng phần lớn địa bàn chiến lược quan trọng ở phía tây Tổ quốc với gần 25 vạn dân; phá vỡ thế uy hiếp của địch đối với căn cứ địa Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4, tạo thêm bàn đạp cho thế tiến công của ta, đẩy địch lún sâu vào thế bị động chiến lược. Vùng giải phóng Tây Bắc nối liền căn cứ địa Việt Bắc với nước bạn Lào, tạo nên thế trận mới cho cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước.


Lựa chọn chiến trường bảo đảm được hai yếu tố căn bản cho một chiến dịch tiến công đã góp phần quan trọng vào chiến thắng Tây Bắc, hoàn thành được nhiệm vụ chiến lược "giữ vững và phát triển thế tiến công" của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thắng lợi đó đã "Khẳng định trình độ chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, trình độ chỉ đạo, chỉ huy của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh... Đây là kết quả của năm vững quy luật vận động của cách mạng và chiến tranh cách mạng ở nước ta, đồng thời là sự tiến bộ về nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật chiến dịch nói riêng"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952). H. 1992, tr. 56). Bài học về lựa chọn chiến trường trong chiến dịch tiến công Tây Bắc Thu Đông 1952 là một trong những đóng góp xuất sắc vào nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #133 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:17:33 pm »

THU ĐÔNG 1952 - THỜI ĐIỂM CHÍN MUỒI CHO VIỆC
MỞ CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

Đại tá, TS NGUYỄN HUY THỤC
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ -
Viện Lịch sử quân Sự Việt Nam


Phát huy chiến quả vang dội trong chiến dịch Biên Giới Thu Đông 1950, quân và dân ta trên khắp chiến trường liên tục đẩy mạnh tiến công tiêu diệt địch và chống phá kế hoạch bình định cấp tốc của thực dân Pháp giành thêm những thắng lợi mới. Chỉ trong chiến dịch Hòa Bình (1951 - 1952), ta đã loại khỏi chiến đấu gần 6.000 quân địch; thu 24 khẩu pháo, 778 súng, 98 máy vô tuyến điện; phá hủy 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 17 ca nô, tàu chiến, phá hủy 246 xe quân sự. Phối hợp với Mặt trận Hòa Bình, ở vùng sau lưng địch, quân và dân ta đã loại khỏi chiến đấu 15.000 tên địch các loại, tiêu diệt, bức hàng, bức rút hơn 1.000 đồn bốt, tháp canh của chúng; mở rộng và nối liền hệ thống căn cứ du kích thành thế liên hoàn từ Bắc Giang xuống Bắc Ninh tới sát quốc lộ số 5 qua Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông. Phần lớn kết quả bình định đồng bằng Bắc Bộ trong năm 1951 của địch bị phá rã1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tập II, Nxb Quân đội nhân dân,H.1994. tr. 178). Với những thắng lợi này, quân và dân ta đã đẩy cuộc Chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp ngày thêm sa lầy nghiêm trọng; đồng thời làm cho nội tình chính phủ cầm quyền ở "chính quốc" lâm vào tình trạng rối ren nghiêm trọng. Chỉ trong tháng 2 và 3 năm 1952, nội các chính phủ Pháp phải liên tiếp trải qua 3 lần thay đổi. Dù vậy, với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, giới cầm quyền chóp bu Chính phủ và quân đội Pháp vẫn trước sau thống nhất chủ trương hành động: tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, kiên trì chính sách "lấy chiến tranh nuôi Chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Tuy nhiên, do nguồn ngân sách bảo đảm cho chiến tranh đã cạn kiệt, Pháp đã phải từng bước nhượng bộ những yêu sách của Mỹ để tranh thủ nguồn viện trợ, mặt khác tìm cách "chia sẻ" gánh nặng ngân sách chiến tranh cho chính quyền tay sai bản xử, hòng tháo gỡ khó khăn cho "chính quốc".


Để xoay chuyển tình hình, chính phủ Pháp quyết định triệu hồi Đờ Lát (De Lattre de Tassigny) về nước và bổ nhiệm Xalăng (Salan) làm Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương. Đối với chiến trường Việt Nam, ngay sau khi nhậm chức, Xalăng triển khai kế hoạch chiến lược phòng ngự, rốt ráo bình định địa bàn tạm chiếm; mặt khác, tăng cường sử dụng mọi biện pháp đôn quân bắt lính ở khắp các địa phương, tổ chức thêm 24 tiểu đoàn ngụy quân (gồm 15 tiểu đoàn cơ động (BVN), 5 tiểu đoàn dù (BPVN) và một số đơn vị binh chủng), với tổng quân số hơn 33 nghìn tên để đáp ứng cho nhu cầu tác chiến trên chiến trường. Giới cầm quyền Pari cho đây là biện pháp hữu hiệu nhất để cứu ngụy cho những khó khăn kinh tế, chính trị của nước Pháp; bởi chính những khó khăn này mà việc đưa quân viễn chinh trực tiếp sang tham chiến trên chiến trường Việt Nam và Đông Dương ngày càng giảm (năm 1952 chỉ có 200 người). Vậy là, số lượng những thanh niên trai tráng người Việt Nam trở thành lực lượng xung kích chủ yếu, làm bia đỡ đạn thay cho quân viễn chinh trong cuộc Chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp ngày mỗi tăng thêm.


Để giữ cho được chiến trường chính Bắc Bộ, Xalăng tập trung vào đây một lực lượng ưu thế, cụ thể gồm: 88 tiểu đoàn bộ binh, trong đó có 32 tiểu đoàn cơ động (cũng cần lưu ý rằng, gần như tất cả các đơn vị cơ động này đều phải dành một bộ phận làm nhiệm vụ chiếm đóng, giữ địa bàn), được tổ chức thành 6 GM1(GM có biên chế, trang bị tương đương 1 trung đoàn bộ binh, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh (12 khẩu cỡ nòng 105mm)) (Groupement Mobile) - binh đoàn cơ động, 8 tiểu đoàn dù, 7 tiểu đoàn bộ binh độc lập; bố trí ở vùng hữu ngạn sông Hồng 17 tiểu đoàn, tả ngạn 7 tiểu đoàn, trung du 4 tiểu đoàn và Tây Bắc 3 tiểu đoàn; về không quân có: 145 máy bay, gồm 85 chiếc chiến đấu và 24 chiếc vận tải (chiếm 42% tổng lực lượng không quân trên toàn chiến trường Đông Dương); pháo binh có 11 tiểu đoàn (chiếm 50% lực lượng pháo binh trên chiến trường Đông Dương). Bên cạnh đó, các lực lượng đảm bảo chiến đấu khác cũng được ưu tiên cho chiến trường Bắc Bộ; đó là, cơ giới chiếm 37%, vận tải 40%, công binh 57%... so với lực lượng toàn chiến trường Đông Dương.


Theo tính toán chiến lược của Xalăng, để dần lập lại thế trận ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ - chiến trường chính Bắc Bộ trong Xuân Hè 1952, Pháp tập trung lực lượng và phương tiện quân sự mở 20 cuộc càn quét quy mô lớn (có trận tập trung từ 18 - 20 tiểu đoàn), kéo dài từ vài tuần đến vài tháng, nhằm tảo thanh địa bàn, dồn làng, tập trung dân, tăng cường bộ máy tề điệp để quản thúc nhân dân, tiếp tục công cuộc lập "vành đai trắng", xây dựng các tuyến "boong ke" kết hợp với các biện pháp bao vây kinh tế, phá hoại mùa màng, nhằm triệt phá tiềm lực kháng chiến của ta. Tuy nhiên, trước sức chiến đấu kiên cường và cách đánh thông minh, sáng tạo của quân và dân ta, các trận càn quét của quân Pháp tuy có gây cho ta những thiệt hại nhất định trên một số mặt, nhưng chúng không những không cải thiện được tình hình, mà ngày càng lún sâu thêm vào thế bị động chiến lược. Hầu như phần lán lực lượng (kể cả lực lượng cơ động chiến lược) cũng phải cảng ra giữ các địa bàn, mục tiêu đã chiếm được. Có thể thấy rằng, bên cạnh nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do đôi sánh lực lượng trên chiến trường đã thay đổi ngày càng có lợi cho ta, đặc biệt hơn chính là tài trí mưu lược của Bộ thống soái điều hành chiến tranh và sự phát triển vượt bậc của nghệ thuật quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh là những nhân tố quyết định, nhưng một phần khác cũng là từ sự thay đổi cơ cấu trong thành phần tổ chức, biên chế của quân đội Pháp: số lượng binh sĩ người bản xứ chiếm tỷ lệ ngày càng tăng (kết quả của chính sách "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương"), trong khi bản thân họ không phải là lính chuyên nghiệp, trình độ văn hóa thấp, kiến thức quân sự hạn chế, bị ép buộc tham gia quân đội... nên đã làm sức chiến đấu của quân đội Pháp giảm sút, nhất là khi họ lại tham gia vào thành phần lực lượng cơ động chiến lược1 (Trong tổng số 378.000 quân chủ lực cơ động chiến lược thì quân ngụy (quân bản xứ) chiếm tới 284.000 người). Đó là chưa kể đến yếu tố tư tưởng, ý thức tự tôn dân tộc mang tính tự phát, hoặc chịu tác động qua công tác binh địch vận của cách mạng đối với bộ phận không nhỏ trong lực lượng binh lính người Việt của Quân đội Pháp. Điều chắc chắn là người Pháp cũng đã nhận ra được điểm yếu chí mạng này, song "lực bất tòng tâm" không thể làm khác được.


Điều quan trọng hơn là từ sau chiến dịch Hòa Bình, thế chủ động chiến lược của quân và dân ta ngày càng được củng cố thêm vững chắc. Cuộc đấu tranh chống lại âm mưu và hành động bình định nông thôn của thực dân Pháp ở vùng sau lưng địch vẫn không ngừng được đẩy mạnh, vùng tự do của ta không những được giữ vững, mà còn được mở rộng thêm ở nhiều địa phương. Đối với khu vực biên giới Việt - Trung, công tác tiễu phỉ được tiến hành thường xuyên, ở những địa bàn trọng điểm như Lào Cai - Hà Giang, tháng 5 năm 1952, Bộ Tổng tư lệnh đã điều động Trung đoàn 148 Đại đoàn 316 xuống hậu thuẫn cho nhân dân tiến hành truy quét phỉ và các thế lực phản động lang đạo chống phá cách mạng. Quân và dân trên khắp mọi miền đất nước đều phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh; và nguyện đồng lòng, chung sức phấn đấu cho công cuộc kháng chiến cứu nước thành công. Công cuộc huy động nhân lực, vật lực phục vụ kháng chiến ngày càng thuận lợi và hiệu quả lớn hơn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #134 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:19:42 pm »

Nắm bắt sát thực những chuyển biến của tình hình, ngay từ tháng 3 năm 1952, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã họp Hội nghị lần thứ 3, một lần nữa khẳng định đường lối trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh của ta là hoàn toàn đúng đắn; đồng thời chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt cho toàn quân, toàn dân lúc đó là: đẩy mạnh tiến công tiêu diệt sinh lực địch, phát động chiến tranh du kích; phá chính sách "lấy Chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của thực dân Pháp; bồi dưỡng lực lượng kháng chiến. Đặc biệt hơn, để tăng cường sức mạnh cho kháng chiến, Đảng quyết định tiến hành cuộc chính Đảng, chỉnh quân, nâng cao lập trường, quan điểm cách mạng, khắc phục những nhận thức sai lầm, tư tưởng lệch lạc về phản công, nóng vội, muốn thắng nhanh, trông chờ, ỷ lại vào sự viện trợ và giúp đỡ của nước ngoài... Chính từ việc làm kịp thời và kiên quyết này đã góp phần thống nhất về nhận thức, tạo sự đoàn kết nhất trí cao về tư tưởng và hành động - một nhân tố đóng vai trò quyết định để quân và dân ta tiếp tục giành thêm những thắng lợi mới trong sự nghiệp kháng chiến, cứu nước.


Riêng với bộ đội chủ lực cơ động của Bộ và của khu - lực lượng nòng cốt của cuộc kháng chiến, sau chiến dịch Hòa Bình, duy chỉ có Trung đoàn 98 thuộc Đại đoàn 316 quân số bị tiêu hao nặng trong trận chống càn ở khu vực nam - bắc phần Bắc Ninh, tất cả 6 đại đoàn bộ binh 304, 308, 312, 316, 320, 325; Đại đoàn công pháo 351 (gồm 24 sơn pháo 75mm, 1 tiểu đoàn cối 120mm và 1 trung đoàn công binh); 5 trung đoàn độc lập của khu gồm 246, 208, 248, 42, 46 đều có thời gian nghỉ ngơi để củng cố, bổ sung lực lượng đủ theo biên chế, trang bị vũ khí và phương tiện kỹ thuật tương đối thống nhất. Thêm nữa, trong thời gian xuân hè 1952, toàn quân đồng loạt thực hiện đợt học tập chính trị và huấn luyện quân sự, nên tư tưởng, nhận thức cũng như trình độ kỹ chiến thuật, nhất là chiến thuật tiến công cứ điểm có công sự vững chắc... của bộ đội chủ lực cũng như của bộ đội địa phương và dân quân du kích được nâng lên một bước quan trọng. Có thể nói, đây thực sự là bước chuẩn bị rất quan trọng cho kế hoạch tác chiến Thu Đông 1952 của quân và dân ta.


Xuất phát từ nhận thức một cách sâu sắc giá trị chiến lược to lớn của Tây Bắc - chiến trường rừng núi rộng lớn nằm ở phía tây bắc Bắc Bộ1 (Ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định thành lập Khu Tây Bắc, gồm các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai,Yên Bái, có tổng diện tích là 44.300km2, dân số khoảng 440.000 người); phía tây giáp hai tỉnh Phong Xa Lỳ và Sầm Nưa (Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào), phía đông giáp căn cứ địa Việt Bắc, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía nam là tỉnh Hòa Bình - cầu nối với các tỉnh thuộc các liên khu 3 và 4; song, điều quan trọng là, lực lượng địch ở đây chỉ có 8 tiểu đoàn và 43 đại đội, 11 khẩu pháo bố trí ở phân tán trên các cứ điểm2 (Lực lượng chiếm đóng tại đây phần lớn là quân ngụy: Phân khu Nghĩa Lộ có Tiểu đoàn Thái số 1 và 8 đại đội; Phân khu Sông Đà có Tiểu đoàn Thái số 2 và 7 đại đội: Phân khu Sơn La có Tiểu đoàn Thái số 3 và 14 đại đội; Phân khu Lai Châu có Tiểu đoàn GFOT và 14 đại đội; Phân khu Tuần Giáo có Tiểu đoàn DAZANO. Quân Âu - Phi có 3 tiểu đoàn chốt ở Sơn La, Lai Châu làm lực lượng cơ động); nên ngay từ tháng 4 năm 1952, các đại đoàn 308, 312, 316; 6 Đại đội sơn pháo 75 (24 khẩu), 3 đại đội cối 120mm (12 khẩu), ba tiểu đoàn thuộc Trung đoàn công binh 151, Đại đoàn công pháo 351 và 11 đại đội bộ đội địa phương các tỉnh Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai đã được lệnh khẩn trương làm công tác chuẩn bị cho chiến dịch tiến công giải phóng Tây Bắc khi thời cơ đến1 (Ban chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc gồm các đồng chí: Trần Đăng Ninh - Đại diện Tổng Quân ủy là Trưởng ban, các ủy viên có các Đồng chí: Hoàng Văn Thái - Bộ Tổng tham mưu, Lê Liêm - Tổng cục Chính trị, Nguyễn Văn Nhạn - Tổng cục Cung cấp, Phan Mỹ - Văn phòng Thủ tướng phủ; các Đồng chí trong Liên khu Việt Bắc có: Chu Văn Tấn, Bùi Quang Tạo, Trần Quyết, Đồng Sỹ Học và Bằng Giang - Đại biểu Mặt trận Tây Bắc). Bên cạnh đó, theo chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh, Tổng cục Cung cấp đã khẩn trương chuẩn bị khoảng hơn 9.000 tấn lương thực, thực phẩm, 120 tấn vũ khí, đạn dược và dụng cụ y tế; Chính phủ đã huy động hơn 35.000 dân công hỏa tuyến phục vụ cho Mặt trận Tây Bắc để tu bổ lại nhiều đoạn đường do mưa lũ và máy bay địch phá hoại, chuyển đạn, gạo qua sông Thao rồi bí mật chuyển tải vào các kho trạm ở sâu trong lòng địch để phục vụ bộ đội tham gia chiến dịch2 (Bộ Quốc phòng - Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tập II. Nxb Quân đội nhân dân, H. 1994, tr. 206). Đồng thời, Bộ Tổng tham mưu đã hoàn thiện kế hoạch tác chiến chiến dịch (sau một số lần bổ sung, chỉnh sửa) và cũng được các đồng chí cố vấn Trung Quốc đồng thuận, nhất trí cùng tham dự chiến dịch.


Khi thấy trên thực tế các yếu tố cần thiết bảo đảm cho một chiến dịch đã được tạo dựng, chuẩn bị một cách chu đáo và kỹ lưỡng trên tất cả các mặt: lực lượng, chiến trường, vũ khí, đạn dược, hậu cần và thế trận cũng đã được "cài đặt", tháng 9 năm 1952, chấp thuận đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta quyết định mở chiến dịch tiến công Tây Bắc Thu Đông 1952 (còn gọi là chiến dịch Quang Trung), nhằm: Tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần địa bàn chiến lược Tây Bắc, nhằm tạo bước chuyển biến mới về thế trận trên chiến trường chính Bắc Bộ, chuẩn bị cho đòn chiến lược quyết định vào Đông - Xuân 1953 - 1954. Bộ Chính trị quyết định cử các đồng chí Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh làm Tư lệnh, Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng, Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chủ nhiệm Chính trị, Nguyễn Thanh Bình - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp làm Chủ nhiệm Cung cấp chiến dịch. Đảng ủy chiến dịch do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bí thư. Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp tổ chức các bộ phận tiền phương hình thành cơ quan chiến dịch.


Vậy là, bước vào Thu Đông 1952 - thời điểm mà các điều kiện chủ quan và khách quan đảm bảo chắc thắng cho một chiến dịch đã thực sự chín muồi; và với một Bộ chỉ huy chiến dịch đẩy mưu lược, dạn dày kinh nghiệm, lực lượng tham gia chiến dịch là những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội ta lúc ấy và nhất là luôn có sự hậu thuẫn trực tiếp to lớn của sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, chúng ta đã lập thêm một chiến công mang ý nghĩa chiến lược ở chiến trường Tây Bắc của Tổ quốc.


Chiến thắng Tây Bắc thêm một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Chính phủ và Hồ Chủ tịch, sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời và kiên quyết của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh; đồng thời, thể hiện sự phát triển không ngừng của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #135 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:23:42 pm »

CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952 NHỮNG NHÌN NHẬN TỪ ĐỐI PHƯƠNG

Trung tá, TS TRƯƠNG MAI HƯƠNG
Phó Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử Tổ chức quân sự -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Năm 1952, cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp bước sang năm thứ 7. Thắng lợi liên tiếp và sự trưởng thành của quân và dân ta, nhất là từ sau chiến dịch Biên Giới Thu Đông 1950 làm cho tình hình nước Pháp càng rối ren. Chỉ trong tháng 2 và 3 năm 1952, nội các Pháp đổ liên tiếp 3 lần, Đờ Lát đờ Tátxinhi bị gọi về nước rồi chết, Xalăng lên làm Tổng tư lệnh, Lơ Tuốcnô làm Cao ủy Đông Dương. Trên chiến trường Việt Nam, thực dân Pháp chủ trương thực hiện chiến lược phòng ngự, ráo riết bình định các vùng tạm chiếm.


Trong bối cảnh đó, dựa vào so sánh lực lượng giữa ta và địch, căn cứ vào đề nghị của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta quyết định mở chiến dịch Tây Bắc (14.10 - 10.12.1952). 60 năm đã trôi qua kể từ khi diễn ra chiến dịch, tại Pháp và các nước phương Tây đã xuất bản hồi ký của các tướng lĩnh; các công trình nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam; các bài báo, tạp chí đưa ra bình luận ở nhiều góc độ khác nhau trong khoảng thời gian trước, trong và khi kết thúc chiến dịch. Trong khi phần lớn các ý kiến đều cho rằng chiến dịch Tây Bắc là một thất bại về chiến lược của thực dân Pháp thì vẫn có ý kiến cố tình bào chữa cho những hành động của chỉ huy, của binh lính Pháp và đổ lỗi cho nhau trong phần gánh trách nhiệm. Nhưng sự thật về thắng lợi to lớn mà quân và dân ta giành được trong chiến dịch đã buộc đối phương không thể chối cãi.


Thời điểm trước khi diễn ra chiến dịch, đời sống và bối cảnh chính trị của nhân dân Pháp vẫn là vấn đề nan giải đối với Chính phủ lâm thời. Tờ tuần báo Hành động (Action) số ra ngày 2 tháng 4 năm 1952, ký giả người Pháp Henri Clau viết: "Dư luận tiến bộ lên án Chính phủ Pháp đang theo đuổi cuộc chiến ở Đông Dương, nhân dân Pháp bất bình vì tình trạng bắt lính kéo dài". Báo Nhân Đạo cũng lên tiếng: "Lòng người dân Pháp càng thêm chua xót khi đất nước đang trong thời kỳ khủng hoảng. Chính phủ vẫn cử quân sang xám lược Đông Dương"1 (Những bài báo của Pháp và phương Tây viết từ 1.1952 - 1.1953 Lưu Thông tấn xã Việt Nam).


Tại Hà Nội, nơi quân Pháp coi là "cái nút của chiến tranh", tình hình không mấy lạc quan. Theo báo cáo của Phòng Nhì thì tình hình thật đáng lo ngại vì các nguồn tin tức đều cho thấy chiến sự sẽ xảy ra mà quân Pháp ngày càng đuối sức về mọi mặt. Trên chiến trường, ngụy quân tăng, chủ lực Pháp giảm mạnh, cả năm 1952, viện binh từ Pháp sang chỉ được 200 tên, bằng 1/5 năm 19512 (Tư liệu về lực lượng của Pháp tại Đông Dương từ 1951-1953. Lưu tai Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng). Còn giới thạo tin thì dự đoán rằng: "Có vẻ như Việt Minh sẽ làm một điều gì đó, ông Giáp sẽ cầm quân theo hướng nào đây". Trong Điện mật số T.0.126/3T tướng Mácsăng gửi Bộ Tham mưu Pháp cũng có đoạn: "Tình hình Tây Bắc gặp nhiều khó khăn, có lẽ Việt Minh không mấy do dự khi chuẩn bị tiến công", nhưng rồi chúng lại tự trấn an bằng cách: "Nhưng chúng ta sẽ dùng pháo và bom để giải quyết, đó là thế mạnh vượt trội của chúng ta trên vùng rừng núi Tây Bắc"1 (Điện mật số T.0.126/3T của Hội đồng Quốc phòng Pháp. Lưu Thư viện Đại học KHXHNV - Đại học Quốc gia Hà Nội). Từ những nhận định trên và thực tế chiến trường, Tổng chỉ huy Xalăng vội vã điện về chính quốc xin viện trợ về lực lượng và tài chính nhưng không được chấp nhận. Khi đó, Becna Xtađi là Phó Chủ tịch Quốc hội, phụ trách các vấn đề an ninh tỏ ra thờ ơ và không đệ trình chính phủ.


Liên tiếp trong tháng 7 và 8 năm 1952, nhiều cuộc họp của các tướng tá Pháp đã diễn ra tại Sài Gòn và Hà Nội, ngoài việc xin viện trợ từ chính quốc còn tập trung phán đoán hướng tiến công của Việt Minh nhưng không có gì sáng sủa mà chỉ dừng ở nhận định: "Tình hình ở Tây Bắc không mấy tốt đẹp, chiến sự có thể xảy ra. Nhưng cũng chưa biết được Việt Minh sẽ tiến theo hướng nào"2 (Thư 412/CAB của Hội đồng Quốc phòng Pháp. Lưu Thư viện Đai học KHXHNV - Đại học Quốc gia Hà Nội). Sang mùa thu năm 1952, tướng Xalăng lại đặt vấn đề: mùa mưa sắp đến, từ 29 tháng 9, những ngày nắng ráo đã xuất hiện, vậy cái gì sắp xảy ra? Liệu ông Giáp sẽ tập trung nỗ lực trên hướng nào...? Viên Tổng chỉ huy than phiền rằng: Phòng Nhì bất lực, không cung cấp được tài liệu gì đáng kể về ý định của đối phương3 (Trần Trọng Trung, Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, Nxb Quân đội nhân dân"H. 2004. tr. 406). Trong báo cáo của Bộ Tham mưuPháp tại Hà Nội gửi về chính quốc có đoạn viết: "Từ tháng 9, một số triệu chứng bắt đầu xuất hiện. Sự đi lại và vận chuyển trên sông Hồng ở vùng Yên Bái tỏ ra khác thường trên một tuyến dài khoảng 60km. Các phiên liên lạc vô tuyến điện của đối phương tăng lên"1 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Pháp từ 1952 - 1954, Lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng). Cũng trong thời gian này, một số nhà nghiên cứu quân sự phương Tây lại nhận định rằng: "Nhìn vào nội tình chính trị nước Pháp và cuộc chiến tranh mà Pháp đang theo đuổi, chiến dịch có thế diễn ra cuối năm 1952. Nhưng rồi chiều hướng ngày càng xấu đi về mọi mặt đối với giới cầm quyền Pháp. Không hiểu số phận của cuộc chiến đi đến đâu nhưng nhân dân yêu chuộng tự do, hòa bình ở Pháp và trên thế giới đều bất bình".


Từ những nhận xét trên đây, một số tướng lĩnh Pháp, trong đó có tướng Mácsăng, đã rút ra kết luận: "Chỉ cần suy nghĩ như vậy cũng đủ để thấy thắng lợi hình như đã nằm trong tay đối phương". Không chỉ Bộ chỉ huy Pháp mà người cầm quân trực tiếp là tướng Xalăng cũng tỏ ra lo lắng cho số phận của vùng Tây Bắc. Điều lo lắng ấy không có phương sách đối phó nào khác hơn khi mà chiến trường quá rộng, lực lượng Pháp và ngụy đều rất hạn chế.


Về phía ta, đến thời điểm này, công tác phòng gian, giữ bí mật, nghi binh được thực hiện tốt nên địch không phát hiện được hướng tiến công chủ yếu của ta là Tây Bắc, mà chúng nghi ngờ ta sẽ tiến công vùng đồng bằng. Bởi vậy tướng Xalăng cho dàn các lực lượng cơ động dọc tuyến trung du và phần lớn trên sông Đáy. Riêng ở đồng bằng Bắc Bộ, chúng bố trí 29/32 tiểu đoàn cơ động chiến lược của toàn Bắc Bộ1 (Bắc Bộ có 6 GM, 8 tiểu đoàn dù, 7 tiểu đoàn lẻ). Tất cả các cứ điểm của địch ở đồng bằng và trung du được lệnh báo động khẩn cấp, điềuđó rất trúng ý định nghi binh của ta. Trước khi ta nổ súng ít ngày, địch phát hiện lực lượng nhỏ của ta thâm nhập khu vực Nghĩa Lộ nhưng vẫn không đoán được Tây Bắc là hướng tiến công chủ yếu để có biện pháp đối phó.


Cuối tháng 9, qua tin tức tình báo, phía Pháp nghi ngở hướng tiến công của ta, Tổng chỉ huy Xalăng lệnh báo động toàn Khu Tây Bắc từ ngày 4 tháng 10. Đồng thời, chúng nhanh chóng triển khai lực lượng: Một đại đội Tabo được điều gấp từ Lai Châu tăng cường cho Phân khu Nghĩa Lộ; sở chỉ huy phân khu được dời lên đồn Pú Chạng; toàn bộ hệ thống công sự tại Nghĩa Lộ được củng cố; các máy bay trinh sát và đội tuần tiễu của Pháp thường xuyên theo dõi nghiêm ngặt mọi hoạt động của ta từ hữu ngạn sông Hồng đến tả ngạn sông Đà.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #136 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:30:13 pm »

Theo đúng kế hoạch của ta, đợt 1 chiến dịch bắt đầu từ 14 - 23 tháng 10, các mũi tiến công nhanh chóng thọc sâu, chia cắt địch. Trước diễn biến quá nhanh, Xalăng không kịp trở tay. Ngày 15 tháng 10, viên Tổng chỉ huy thảo gấp Chỉ thị mật từ Sài Gòn và giao cho đại tá Bútxari chuyển cho Đờ Linarét đang chỉ huy quân Pháp tại Hà Nội, chỉ rõ: "Nghĩa Lộ và Sơn La đang bị uy hiếp nặng nề... nhưng các yếu tố nắm được chưa cho phép chúng ta có chủ trương... Phải đợi cho Việt Minh lộ rõ ý định của họ" và "Địa hình rừng núi đang buộc đối phương phải phân tán. Đó là nhân tố thuận lợi cần chú ý. Để tăng cường cho Nghĩa Lộ và bảo vệ Sơn La, không cần phải ném quân xuống Gia Hội hay Tú Lệ vì hai nơi này quá xa Nghĩa Lộ. Trước mắt, phải dành phần lớn không quân yểm trợ cho Tây Bắc"1 (Tài liệu Mật của Bộ Quốc phòng Pháp, Lưu Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng). Bản chỉ thị tới Tây Bắc quá chậm, sáng sớm ngày 16 tháng 10, Tiểu đoàn dù số 6 do thiếu tá Bigia chỉ huy đã đổ quân xuống Tú Lệ. Bởi vì, theo tính toán của Đờ Linarét muốn thu hút quân ta hòng tạo điều kiện cho các đồn binh của họ ở phía sau có đủ thời gian rút chạy về phía sông Đà. Khi đó, Tổng chỉ huy Xalăng đang ở Sài Gòn vẫn chờ đợi từng giờ, từng phút Đờ Linarét điện báo về, ông tự thú nhận rằng, đêm 17 tháng 10 là: "Một đêm đầy lo âu, vì những tin tức hàng giờ bay vào Sài Gòn luôn mâu thuẫn nhau" rồi thốt lên: "Tình hình diễn biến xấu nhất có thể xảy ra".


Sang ngày 18 tháng 10, sự lo ngại của tướng Xalăng đã thành sự thật. Đờ Linarét bay từ Tây Bắc về Hà Nội báo cáo: "Thế là hết", với nội dung ngắn gọn nhưng viên Tổng chỉ huy đã hiểu mọi điều. Đồng thời, Bécna Phôn còn nói thêm rằng: Từ trên máy bay, các phi công nhìn thấy rất rõ từng đoàn tù binh kéo đi, "Tay giơ quá đầu, lê bước giữa hai hàng lính Việt Minh". Đến hết ngày 18 tháng 10, ta đã đánh những trận then chốt đầu tiên của chiến dịch ở khu vực Nghĩa Lộ thành công. Đây cũng là đòn choáng váng đối với địch. Khi trả lời báo chí về sự thất bại nhanh chóng, Tổng chỉ huy Xalăng biện minh: "Ông Giáp đã bất ngờ tập trung Sư đoàn 308 vào Nghĩa Lộ. Các hướng khác: Sầm Nưa, Mường Hét, Mường Hum... chỉ là nghi binh. Nghĩa Lộ đã không đứng vững được thì các vị trí khác ở phía tây sông Đà sẽ tiếp tục trở thành những mồi ngon cho đối phương"2 (Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thiu. Sđd. tr. 412).


Trong những ngày diễn ra chiến dịch, các phóng viên liên tiếp chuyển tin và bài về nước. Báo chí Pháp và phương Tây đăng tải các tít trên trang nhất với nhan đề: "Cuộc rút lui khỏi Tú Lệ ", "Họ từ địa ngục trở về"; "Trang sử bi thảm". Nhà văn nổi tiếng người Pháp Jules Roy cho đăng bài: "Cuộc rút lui của một ngàn con người" trên Tạp chí của Pari, tháng 4 năm 1953, khi nhận xét về Tiểu đoàn dù số 6 đã viết: "Quân Việt Minh không bắn và lúc đó Bigia hiểu ra vì sao bọn họ để yên cho đơn vị đồn trú tiếp đón vui vẻ đại đội của Gia Hội. Bởi vì, bọn họ muốn có một trận đại thắng". Do bị bất ngờ về hướng tiến công và không có sự chuẩn bị trước về mọi mặt nên thất bại ngay từ trận đầu đối với Pháp là điều dễ hiểu.


Bước sang đợt 2 của chiến dịch, từ 7 đến 22 tháng 11, Xalăng vội vã điều lên Tây Bắc 6 tiểu đoàn, đồng thời cho xây dựng "con đê ngăn sóng" Nà Sản để hỗ trợ cho Lai Châu và Sơn La: "chặn đối phương tràn sang đất Lào". Mặc dù có nhiều biện pháp để chống trả ta như vậy, nhưng theo báo cáo của Phòng Nhì Pháp thì tình hình chiến trường thật bi đát: "Quân lính quá mệt mỏi, họ phải chịu đựng thời kỳ tệ hại nhất. Cuộc sống mệt nhoài, những trận tấn công không dứt cách từ ba mươi đến năm mươi kilômét, ở đó địa hình thù địch còn cộng thêm vào nỗi mệt nhọc của mọi người"1 (Tài liệu Mật của Bộ Quốc phòng Pháp, Lưu Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng). Biết chắc không thể kéo dài cuộc chiến tại Tây Bắc, Xalăng không còn có cách gì khác hơn ngoài việc chỉ thị gấp cho Bigia: Phải rút chạy ngay khỏi Tú Lệ, vét theo các đồn nhỏ quanh vùng đưa nhanh về Nà Sản, để "tránh đòn thứ hai của đối phương".


Như vậy, kế hoạch điều gấp Tiểu đoàn dù số 6 của Xalăng đã thất bại hoàn toàn, trong cuốn Đông Dương 1946 - 1962, Bécna Phôn đã nhiều lần vạch trần tính chất bịp bợm của trò chiến tranh tâm lý rẻ tiền của Xalăng: Theo Bécna Phôn thì sự hy sinh của Tiểu đoàn dù số 6 và lính ngụy Thái ở Mường Chen không thay đổi được số phận của vùng Tây Bắc. Bởi thế, khi hệ thống phòng ngự trên cao nguyên Mộc Châu bị đập vỡ, địch đã co lại để phòng thủ. Nhưng chính việc co lại trong thế thất thủ của địch đã biến thành một cuộc rút lui hỗn loạn. Đợt 2 chiến dịch kết thúc nhanh chóng trong thế bại trận của Pháp.


Tiếp đó, đợt 3 chiến dịch tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản diễn ra từ 30 tháng 11 đến 10 tháng 12. Tại Nà Sản địch có quân số đông, nhiều cứ điểm được xây dựng kiên cố vững chắc dựa vào nhau, có sân bay để phát huy uy lực của pháo binh và không quân, đó là tất cả những thuận lợi về phía địch. Ngược lại, chúng lại bị cô lập, việc tiếp tế, chi viện chỉ dựa vào đường không, công sự sơ sài, tinh thần binh lính bạc nhược. Mặt khác, tuy là hình thức phòng ngự mới nhưng tập đoàn cứ điểm này được thành lập trong thế bị động, địch đang ở thế "tiến thoái lưỡng nan", rút thì bị thất bại rất lớn, giữ thì bị cô lập và có thể bị tiêu diệt. Vì vậy, Bộ chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch của ta hạ quyết tâm: Tập trung lực lượng mở đợt tiến công thứ 3, tiêu diệt địch ở Nà Sản, giành toàn thắng. Trong quá trình tiến công Nà Sản, ta gặp rất nhiều khó khăn bởi sự chống trả quyết liệt của đối phương. Bộ chỉ huy chiến dịch nhận thấy cần có thêm thời gian chuẩn bị về mọi mặt đã quyết định kết thúc chiến dịch để tránh thương vong.


Trước quyết định sáng suốt của ta, trong hồi ký: "Việt Minh - địch thủ của tôi", tướng Xalăng cùng phải thú nhận: "Không thể tiếp tục tiến công Nà Sản, nhưng đối phương chẳng hề giảm quyết tâm tiến tới tiêu diệt các cứ điểm mạnh của Pháp". Tờ Nhật báo Giơnevơ (Journal de Genève) thẳng thắn rằng: "Pháp thất bại vì đã phạm sai lầm trên nhiều phương diện. Việc Pháp phải chấp nhận bỏ lại người, quân trang, quân dụng tại chiến trường Tây Bắc là tất yếu".


Khi kết thúc chiến dịch, nhiều sách, báo Pháp và phương Tây đã tiết lộ nguyên nhân lớn nhất mà Pháp thất bại tại Tây Bắc là không phán đoán được hướng tiến công của ta để có biện pháp đối phó kịp thời. Cũng đồng tình với một số tướng, tá Pháp trực tiếp chỉ huy các trận đánh, Bigia không chỉ phê phán gay gắt công tác tình báo yếu kém, cách chỉ huy quân của Xalăng và Cônhi có vấn đề mà còn đề cao tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ý chí, lòng quả cảm của các chiến sĩ bộ binh ta. Còn Lơ Tuốcnô - Cao ủy Pháp tại Đông Dương trả lời phỏng vấn Gunbe, phóng viên hãng thông tấn Mỹ U.P phải thừa nhận: "Một khi quân Việt Minh được tung ra thì khó mà chặn họ lại được và họ càng chậm hành động thì cuộc tiến công sắp tới của họ càng ác liệt hơn. Điều họ giành chiến thắng tại Tây Bắc là tất yếu".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #137 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:31:14 pm »

Một điều không thể phủ nhận về nguyên nhân thất bại của Pháp trong chiến dịch Tây Bắc chính là sự lớn mạnh nhanh chóng của quân đội ta. Trong báo cáo của Bộ Tham mưu Pháp ngày 15 tháng 11 năm 1952 ghi rõ: "Vào giữa năm 1952, quân đội Việt Minh đã đạt tới trình độ phát triển cao, bao gồm lực lượng tổng dự bị và những trung đoàn và tiểu đoàn độc lập, nhất là ở các vùng châu thổ". Cũng bàn về vấn đề này, Báo Thế giới số ra ngày 27 tháng 11 năm 1952 khẳng định: "Lực lượng tổng dự bị gồm 7 sư đoàn được tổ chức và trang bị hoàn chỉnh, đó là những binh đoàn có chức năng san bằng các đồn bốt của Pháp và tiêu diệt các lực lượng ứng chiến trong những trận đánh ngoài công sự đang diễn ra". Thời báo Niu Oóc tại Mỹ đưa ra bình luận: "Những người cầm đầu quân đội viễn chinh Pháp thường coi vấn đề thiếu binh lực là nguyên nhân chủ yếu, nếu không phải là duy nhất", và: "Muốn đọ sức với một đối thủ không thể coi thường, trên một chiến trường rừng núi bao la như ở Tây Bắc, điều lo lắng lớn nhất của Xalăng và Bộ tham mưu Pháp ở miền Rắc Việt Nam vẫn là vấn đề lực lượng"1 (Thời báo Niu Oóc tại Mỹ, số ra tháng 3 năm 1953, Lưu Thông tấn xã Việt Nam).


Hãng AFP Pháp bao biện cho sự thất bại của đội quân viễn chinh: "Chỉ tại quyết định đó của Việt Minh ở vào thời điểm cuối năm 1952, đó là giai đoạn quá độ đối với Pháp nên thất bại là khó tránh". Còn dưới con mắt của nhiều tướng lĩnh Pháp - những người trực tiếp tham chiến tại Việt Nam, từ Xalăng đến Mácsăng đã vạch ra những mặt yếu của quân đội viễn chinh Pháp và thú nhận: "Quân Pháp không đạt được mục đích vì không có cơ hội tốt như Việt Minh. Chiến dịch kết thúc là lúc quân Pháp phải nhìn nhận lại vấn đề về quân sự".


Cùng với các cuốn sách, hồi ký, bài báo, dư luận tiến bộ Pháp và phương Tây cũng vạch rõ nguyên nhân thắng lợi của Việt Minh là vì họ mưu trí, dũng cảm, biết kiềm chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu, tiêu hao rộng rãi lực lượng của Pháp trên khắp chiến trường Tây Bắc. Về phía quân Pháp, không chỉ đối phó với các đơn vị chủ lực Việt Minh mà còn phải đối phó với toàn thể nhân dân Việt Nam trên khắp địa bàn hành quân của chúng nên gặp rất nhiều bất lợi. Mặt khác, quân Pháp cũng không thể khắc phục nổi những khó khăn như: thiếu lương thực, thuốc men, tiếp tế khó khăn trên một chiến trường quá rộng, tinh thần binh lính chán nản, sa sút, thể lực mệt mỏi, suy giảm vì thương vong và ốm đau. Về phía chủ quan của Pháp cũng có nhiều bài viết biện minh cho thất bại này. Trong cuốn Con đường không vui của Bécna Phôn bộc bạch: "Quân Pháp vấp phải nhiều khó khăn hơn. Đối phương kiểm soát khu vực rừng núi xung quanh và triệt để dùng lợi thế này để giành thắng lợi". Còn tướng Xalăng thì than thở rằng: "Tình hình không ổn định cứ tồn tại mãi về phía chúng ta, khác hẳn với sự gắn bó chặt chẽ của phía Chính phủ Việt Minh"1 (Báo Nhân đạo, tại Pháp, số ra ngày 14 tháng 9 năm 1952, Lưu Thông tấn xã Việt Nam).


Sự thật chiến dịch Tây Bắc đã diễn ra như vậy, nhưng ở Pháp và một số nước phương Tây cũng có hẳn những chiến dịch xuyên tạc và vu cáo Việt Nam ở những góc độ khác nhau. Song, Đảng cộng sản Pháp đã bằng những bài diễn văn, bài báo, bằng những cuộc tranh luận công khai trên đài phát thanh, lên án mạnh mẽ giỏi cầm quyền phản động Pháp đã tiêu tốn của cải, tiến bạc và gây thương vong lớn cho binh lính Pháp tại chiến trường Tây Bắc. Tập san Quốc tế cũng vạch rõ: "Không phải bàn nhiều, chiến dịch Tây Bắc là kết quả chua xót về sai lầm chiến dịch của tướng Xalăng. Đó là sự trừng phạt nghiêm khắc đối với những sai lầm của một đường lối quân sự đã được áp dụng tại chiến trường Đông Dương"1 (Tập san Quốc tế, số tháng 6 năm 1953. Lưu Thư viện Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh). Còn Henri Nava khẳng định: "Tháng 12 năm 1952, cuộc hành quân chấm dứt bằng cuộc rút chạy của chúng ta trong những khó khăn mà không đạt được kết quả chiến lược nào"2 (Henri Nava. Thời điểm của những sự thât (Le temps Des Vèrités). Nguyễn Huy Cầu dịch, Nxb Công an nhân dân, H. 2004. tr. 43).


Đối với ta, chiến dịch tiến công Tây Bắc đã giành được thắng lợi về mọi mặt. Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng đất đai và tranh thủ nhân dân; góp phần làm đảo lộn thế bố trí chiến lược, khắc sâu thêm mâu thuẫn và chỗ yếu của địch; phá vỡ "bình phong" che chở cho địch ở Thượng Lào. Thắng lợi này cũng góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng của ba nước Đông Dương và phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Pháp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #138 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:38:15 pm »

PHÁT HUY TINH THẦN CHIẾN THẮNG TÂY BẮC, QUÂN VÀ DÂN SƠN LA TĂNG CƯỜNG ĐẨY MẠNH KHÁNG CHIẾN TOÀN DIỆN, GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI Ý CHÍ XÂM LƯỢC CỦA THỰC DÂN PHÁP

NGUYỄN NGỌC TOA
Phó Chủ tịch thường trực
Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La


Tỉnh Sơn La thuộc vùng núi cao trùng điệp kéo dài từ tỉnh Lai Châu tới tỉnh Hoà Bình, địa hình nghiêng dần đều hướng tây bắc - đông nam, xuôi về trung tâm đồng bằng Bắc Bộ; có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ dân trí chưa cao, kinh tế phát triển chậm, khí hậu thời tiết khắc nghiệt; có đường biên giới chung với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào 250km.


Về vị trí chiến lược của Tây Bắc, trong thư căn dặn các chiến sĩ trong bộ đội Tây Tiến đầu năm 1947, đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nêu rõ: "Miền Việt Tây đối với nước ta có một vị trí chiến lược rất quan trọng. Hùng cứ được vùng đó, không những quân địch ở vào cái thế cứ cao lâm hạ có thể uy hiếp hậu phương chúng ta mà chúng lại mong thực hiện cái âm mưu ác độc dĩ Việt đánh Việt, chia rẽ các anh em thiểu số, lập bộ đội người Việt thiếu số để tiến đánh chúng ta. Cái âm mưu chính trị lẫn quân sự ấy chúng đã thực hiện ở miền Nam bằng cách chiếm cứ cao nguyên Trung Bộ và lợi dụng anh em dân tộc thiểu số ở đó". "Ở miền Bắc Việt Nam thực dân Pháp cũng sẵn cái ý định khống chế các vùng dân tộc thiểu số từ Lai Châu đến Thanh, Nghệ để tiến đánh Hoà Bình, Phú Thọ, Thanh Hoá, Nghệ An và mong dùng chính sách lừa gạt và đàn áp đế lập nên Xử Thái Tự trị, Xứ Mường tự trị dưới gót sắt của chúng". "Do những nhận xét nói trên, các đồng chí thấy rõ nhiệm vụ bảo vệ biên cương phía tây của chúng ta là quan trọng đến chừng nào. Mỗi tấc đất miền Tây là một tấc đất của Tổ quốc Việt Nam, chúng ta không để cho địch dễ dàng giẫm lên được. Mỗi một đồng bào miền Tây là một người dân nước Việt, chúng ta không thể không bảo vệ quyền lợi của đồng bào, không thể để đồng bào ta bị quân địch giày xéo hay lung lạc. Hơn nữa, bảo vệ được lãnh thổ và nhân dân miền Tây tức là gián tiếp bảo vệ được đại hậu phương chúng ta, góp phần quan trọng vào thắng lợi cuối cùng".


Về vị trí của tỉnh Sơn La nói riêng, vừa là tiền tuyến tiến công địch vừa là hậu phương đảm bảo an toàn cho cơ quan lãnh đạo và chỉ huy tối cao khi cả nước chuyển vào thời kỳ "toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến" quyết tâm đánh thắng thực dân Pháp xâm lược.


Để giữ chủ động trên chiến trường Bắc Bộ, ngày 4 tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị chỉ thị mở chiến dịch Tây Bắc với "mục đích của chiến dịch này là: Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch; phát triển chiến tranh du kích, diệt phỉ, củng cố và phát triển cơ sở nhân dân sau lưng địch. Nếu thực hiện được mục đích trên, thì chúng ta buộc địch phải phân tán đối phó, phá được kế hoạch củng cố Tây Bắc của chúng, và do đó tạo được điều kiện thuận lợi để sau này tiêu diệt nhiều sinh lực địch hơn".


Sau một thời gian khẩn trương chuẩn bị chiến trường, ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc mở màn, đập tan lực lượng quân Pháp ở Nghĩa Lộ, Vạn Yên, Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Tuần Giáo... buộc địch co cụm về Nà Sản và thị xã Lai Châu, tạo điều kiện đoàn kết toàn thể các dân tộc nơi đây và xây dựng Tây Bắc thành một căn cứ địa vững chắc của cả nước.


Chiến thắng Tây Bắc cuối năm 1952, đã giải phóng phần lớn đất đai của tỉnh Sơn La, nhưng thực dân Pháp vẫn chiếm đóng Nà Sản và xây dựng thành tập đoàn cứ điểm mạnh, hòng đánh chiếm lại các vị trí đã mất, thực hiện âm mưu chiếm đóng Tây Bắc lâu dài. Từ Nà Sản, địch liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét những vùng xung quanh, đến tháng 4 năm 1953, thực tế chúng đã chiếm lại các vị trí dọc đường quốc lộ 41 (quốc lộ 6 ngày nay) từ Yên Châu đến Cò Nòi, Hát Lót, Mường La và Thuận Châu.


Đồng thời với hành quân lấn chiếm, thực dân Pháp tăng cường hoạt động gián điệp, biệt kích, do thám, đặc biệt là giúp đỡ bọn phản động địa phương gây phỉ, tạo thành hệ thống cụm phỉ hoạt động công khai ở diện rộng từ vùng Mường Lầm (sông Mã) đến các xã vùng cao Thuận Châu, kéo đến vùng cao Mường La và Phù Yên. Những hoạt động của địch ở Nà Sản và của bọn phỉ đã gây cho ta nhiều khó khăn, phức tạp trong việc củng cố các vùng mới giải phóng. Mặc dù Sơn La đã được giải phóng trong chiến dịch Tây Bắc năm 1952 (từ 14.10 - 30 12 1952) nhưng thực tế tỉnh Sơn La chưa được giải phóng hoàn toàn theo đúng nghĩa đầy đủ của nó. Quân và dân các dân tộc Sơn La vẫn phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chiến đấu chống địch lấn chiếm và tiến hành vận động tiễu phỉ, giữ vững trật tự trị an và an toàn xã hội. Cho nên sau chiến dịch Tây Bắc, quân và dân tỉnh Sơn La tiếp tục thực hiện chủ trương "kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính".


Cùng với lãnh đạo nhiệm vụ chiến đấu, Đảng bộ và chính quyền các cấp trong tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân các dân tộc hăng hái tham gia sản xuất, khôi phục kinh tế, văn hoá xã hội; tiến hành cứu đói, cứu rách, ổn định đời sống; xây dựng và củng cố tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể quần chúng nhằm tăng cường sức dân, tăng thêm sự đóng góp trực tiếp cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn.


Để giữ vững vùng giải phóng và đẩy mạnh cuộc chiến đấu, nhanh chóng tiến tới giải phóng toàn tỉnh, tháng 1 năm 1953, Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng đã họp đánh giá tình hình mọi mặt trong tinh từ khi giải phóng và đề ra phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng đầu năm là: Khẩn trương thanh toán gạo tạm vay và kiểm điểm công tác dân công phục vụ chiến đấu. Vận động nhân dân sản xuất và tiết kiệm bằng cách tiếp tế giống ngô, lúa, trâu cày cho dân, thực hiện tạm chia ruộng đất và giải quyết ruộng sản xuất cho dân hồi cư. Tiếp tục phát triển chiến tranh du kích, kiên quyết hoàn thành kế hoạch xây dựng tiểu đoàn bộ đội địa phương và dân quân du kích. Tích cực chống địch càn quét, lấn chiếm, diệt do thám, gián điệp biệt kích của địch. Củng cố và xây dựng chính quyền các cấp, chú ý các huyện phía bắc của tỉnh, kiện toàn ngành công an và bưu điện. Vận chuyển muối, nông cụ, cải thiện đời sống nhân dân. Chú ý củng cố Đảng, tổ chức học tập, huấn luyện đào tạo cán bộ. Tích cực phục vụ tiền tuyến, phương châm lúc này là: tranh thủ thắng lợi quân sự, đẩy mạnh các mặt công tác khác, củng cố khu mới giải phóng đi vào các mặt cụ thể như sau:

Về chính trị, sau chiến thắng Tây Bắc, phần lớn đất đai Sơn La được giải phóng, nhưng nhiều vùng ta chưa gây dựng được cơ sở cách mạng, hoặc cơ sở của ta còn rất yếu, nên chính quyền, đoàn thể các cấp, nhất là cấp xã chưa được xây dựng và củng cố. Ở Sơn La, sau Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến, Đảng bộ đã vận dụng sách lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng đế tập hợp mọi lực lượng chĩa mùi nhọn vào kẻ thù chung. Do đó từ tỉnh đến các xã được xây dựng mang tính chất chính quyền liên hiệp. Thành phần các cấp chính quyền phần lớn vẫn còn sử dụng các chức dịch cũ và tầng lớp trên, số cán bộ là bần cố nông chiếm tỷ lệ rất ít, do đó ít nhiều ảnh hướng đến việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ. Tình trạng đó kéo dài đến sau ngày giải phóng, cá biệt có nơi còn ngụy quân, ngụy quyền có tội ác với nhân dân còn lọt vào chính quyền cơ sở, làm nhân dân thiếu tin tưởng vào chính quyền cách mạng. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy chỉ thị: Phải thật sự đi vàocủng cố, xây dựng chính quyền các cấp, đặc biệt phải đào tạo, bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ có lập trường quan điểm vủng vàng, có năng lực, trình độ hiểu biết về công tác chính quyền. Thực hiện chỉ thị của Tỉnh ủy, Sơn La chấn chỉnh lại hệ thống chính quyền các cấp, khắc phục tình trạng chính quyền liên hiệp, loại bỏ những phần tử phản động còn nằm trong chính quyền các huyện, xã. Sau giải phóng, tỉnh Sơn La thay đổi lại đơn vị hành chính: đổi các huyện thành châu; từ 27 xã cũ thành 83 xã mới; thiết lập ủy ban kháng chiến hành chính lâm thời điều hành mọi công việc của huyện, xã.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #139 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:39:43 pm »

Để bổ sung đội ngũ cán bộ cho hệ thống chính quyền mới, tỉnh Sơn La chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ mới có thành phần cơ bản, lập trường tư tưởng vững vàng, đồng thời tiếp tục sử dụng trong bộ máy chính quyền các cấp những người thuộc tầng lớp trên, có tri thức, tiến bộ, tích cực ủng hộ kháng chiến, khắc phục được tình trạng cấp ủy đảng làm thay chính quyền. Đảng bộ đã thông qua phong trào quần chúng cơ sở và qua các đợt phát động làm thuế, đi dân công, tạm vay gạo và tiễu phỉ, lựa chọn những người ưu tú, thành phần cơ bản vào chính quyền và loại trừ dần những phần tử xấu, ra sức mở các lớp văn hoá và huấn luyện ngắn ngày để xoá nạn mù chữ, nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác chính quyền các cấp. Do có chủ trương và biện pháp tích cực, chính quyền từ tỉnh đến huyện và xã đều được củng cố chấn chỉnh lại. Quyền lợi, nghĩa vụ của công dân từ nay được thực hiện. Các dân tộc từ đây được bình đẳng tham gia xây dựng đất nước. Những mâu thuẫn, hiềm khích và miệt thị giữa các dân tộc cũng từng bước được xoá bỏ; chị em phụ nữ thực sự được giải phóng và làm chủ cuộc đời của mình, nhiều chị em đã hăng hái tham gia công tác xã hội.


Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động tham gia khôi phục, phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống mới. Ban Thường vụ Tính ủy đã đặt công tác củng cố các đoàn thể quần chúng như: Thanh niên, phụ nữ, mặt trận, nông hội... là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp ủy. Tính đến cuối năm 1954, toàn tỉnh đã có 79 xã có cơ sở nông hội với 1.554 hội viên, trong đó có 38 xã có Ban chấp hành nông hội. Ngoài tổ chức nông hội, ta còn tổ chức nhiều hình thức khác như tổ tăng gia (năm 1953, hai huyện Phù Yên và Mộc Châu tổ chức được 187 tổ tăng gia gồm 2.662 tổ viên; Sông Mã có 19 tổ gồm 103 gia đình tham gia; Mường La có 27 tổ với 417 tổ viên), tổ bần nông, tổ người nghèo, tổ cốt cán... để tập hợp quần chúng phát triển sản xuất.


Những cán bộ, đảng viên có trình độ khả năng được các cấp ủy phân công vào lãnh đạo trong các tổ chức quần chúng. Nhiều quần chúng trung kiên, ưu tú đã được rèn luyện trong kháng chiến nay được bồi dưỡng đào tạo phát triển thành đảng viên và tham gia hoạt động trong chính quyền, dân quân du kích, công an xã, làm tổ trưởng tăng gia... Hệ thống chính trị từng bước được củng cố1 (Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La, tập 1. tr. 257 - 260).


Thông qua phong trào quần chúng và qua các cuộc vận động chính trị lớn, Đảng bộ đã tăng cường công tác củng cố xây dựng đảng để đủ sức lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn mới. Sau ngày giải phóng cơ sở đảng được tổ chức lại theo đơn vị hành chính mới. Thời gian này Đảng bộ thành lập thêm chi bộ Công chính, chi bộ cảnh vệ, tiếp nhận chi bộ Thuận Châu chuyển từ tỉnh Lai Châu về (2-1954) và 2 chi bộ quân đội. Tính đến cuối năm 1954, toàn tỉnh có 3 Ban huyện ủy gồm các huyện Mộc Châu, Phù Yên, Mường La; 3 ban cán sự huyện là Yên Châu, Mai Sơn, Thuận Châu với 49 chi bộ cơ sở, tăng 16 chi bộ so với năm 1953 với tổng số đảng viên của tỉnh là 519 đồng chí (chưa kể Đảng viên trong quân đội); các chi bộ và các chi ủy đều được củng cố một bước. Cùng với tổ chức học tập chính trị trong toàn Đảng bộ về tình hình, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, Đảng bộ còn tiến hành xử lý một số cán bộ, đảng viên phẩm chất đạo đức kém và thoái hoá; nâng cao kỷ luật đảng, làm cho hàng ngũ đảng viên thêm trong sạch vững mạnh1 (Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La, tập 1. tr. 267-268).


Về kinh tế, với chủ trương 3 diệt là: "Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm" được đề ra từ sau Cách mạng tháng Tám. Đảng và Nhà nước ta đã đưa việc "diệt giặc đói" lên hàng đầu. Chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiên quốc được Đảng bộ tỉnh hết sức quan tâm, được thực hiện với phương châm triệt để "dựa vào dân, phát huy sức mạnh của dân, lấy tự lực cánh sinh làm chính, đồng thời tích cực tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế". Khẩu hiệu là: "Sản xuất đi đôi với chiến đấu", "Sản xuất với tinh thần chiến đấu"...


Để nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển sản xuất, cứu đói và nâng cao đời sống nhân dân, nghị quyết phát triển kinh tế nhấn mạnh: "Các cấp, các ngành cần tập trung lãnh đạo nhân dân xây dựng, khôi phục và phát triển kinh tế, trong đó lấy khôi phục phát triển sản xuất nông nghiệp làm trọng tâm".


Trong sản xuất nông nghiệp, mấu chốt là xoá bỏ đặc quyền, đặc lợi và quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân lao động. Để thực hiện "người cày có ruộng", ngay sau khi chiến dịch Tây Bắc kết thúc, Tỉnh ủy chủ trương giải phóng đến đâu, tạm chia ruộng công, ruộng chức, ruộng Việt gian bỏ chạy cho nhân dân. Đến tháng 1 năm 1954, Tính ủy đã ra nghị quyết chính thức về chỉnh lý ruộng đất và đề ra các bước công tác cụ thể, các biện pháp tiến hành công tác tạm chia ruộng. Đảng bộ tỉnh chỉ đạo các cấp chính quyền cử cán bộ xuống cơ sở tổ chức học tập chế độ chính sách của Đảng, Chính phủ cho nhân dân. Tỉnh đã trực tiếp chỉ đạo một số xã, huyện làm thí điểm công tác chia ruộng đất để kịp thời rút kinh nghiệm chỉ đạo cuộc vận động trong toàn tỉnh. Chỉ tính trong 34 xã đã phát động chia ruộng của 5 huyện: Mộc Châu, Phù Yên, Yên Châu, Mai Sơn, Mường La, tỉnh đã chia được 820.320 gánh1 (Đơn vị đo lường của địa phương) cho 47.014 nhân khẩu. Nhân dân tin tưởng vào chính sách của Đảng, Chính phủ, tin tưởng vào chế độ mới.


Để khuyến khích sản xuất nông nghiệp phát triển, Nhà nước đã cung cấp cho nhân dân 562 con trâu, 28.872 kg thóc giống và 67.272 nông cụ các loại.Ủy ban hành chính các cấp còn vận động nông dân tự điều hoà sức kéo được 250 con trâu và giúp đỡ nhau về thóc giống, ngô giống để sản xuất kịp thời. Vận động nhân dân tăng gia sản xuất rau ngắn ngày, tự điều hoà giúp đỡ nhau về lương thực để chống đói. Tổ chức quyên góp trong cán bộ nhân viên và các đơn vị bộ đội giúp đỡ nhân dân vùng đói, cung cấp muối, gạo, thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Tổ chức các đoàn cán bộ xuống cơ sở vận động, chỉ đạo nhân dân sản xuất... Tỉnh đã huy động lương thực phát không cho nhân dân gần 50 tấn thóc và cho vay trên 200 tấn đế chống đói, cung cấp gần 200 tấn muối, 8.000 công cụ các loại, trên 1.000m vải và nhiều thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Diện tích gieo trồng năm 1954 so với năm 1953 tăng gấp đôi, có nơi tăng gấp 3 lần. Năm 1953 toàn tính tổ chức được 420 tổ tăng gia, cuối năm 1954 phát triển được 1.799 tổ với khoang 8.900 hộ tham gia. Từ hình thức tổ tăng gia phát triển thành tổ đổi công và là cơ sở cho thành lập hợp tác xã sau này. Qua công tác phát triển sản xuất và chống đói, nhân dân các dân tộc Sơn La càng thêm phấn khởi một lòng tin tưởng vào Đảng, Chính phủ và chế độ mới, càng hăng hái tham gia làm nghĩa vụ với Chính phủ và đóng góp sức người, sức của phục vụ tiền tuyến.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM