vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #100 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2025, 05:42:07 pm » |
|
ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC MỘC CHÂU VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952 NHÂM THỊ PHƯƠNG Bí thư Huyện ủy Mộc Châu Cách đây vừa tròn 60 năm, vào tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, với mục tiêu: Tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đồng bào Tây Bắc khỏi ách áp bức của giặc, giải phóng một bộ phận đất đai Tây Bắc, phá âm mưu lập "Xứ Thái tự trị" của Pháp. Xác định đây là chiến dịch rất quan trọng nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho cán bộ và chiến sĩ tham gia chiến dịch "Phải đánh cho thắng". Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu với truyền thống cách mạng, ý chí tự lực tự cường đã tích cực đóng góp sức người, sức của và tập trung chuẩn bị mọi mặt phối hợp với các lực lượng tổ chức đánh địch, góp phần tạo nên thắng lợi của chiến dịch. Trong 2 ngày 11 và 12 tháng õ năm 1950, Tỉnh ủy Sơn La đã tổ chức Hội nghị Ban chấp hành mở rộng tại khu căn cứ Mộc Hạ để thảo luận và thông qua Nghị quyết về những nhiệm vụ gấp rút phải tiến hành trong thời gian diễn ra chiến dịch, cụ thể: Về quân sự: Khẩn trương xây dựng bộ đội địa phương vững mạnh, củng cố và phát triển dân quân du kích rộng rãi; tăng cường địch vận, thường xuyên chuẩn bị chiến trường, đồng thời rút ngay các đại đội độc lập về xây dựng những đơn vị chủ lực lớn mạnh. Về chính trị: Củng cố liên huyện Mộc - Yên và phát triển cơ sở hậu địch ở các huyện khác. Về kinh tế: Tích cực tham gia sản xuất để cải thiện dân sinh. Đồng thời, Tỉnh ủy chỉ thị cho các đảng bộ trực thuộc gấp rút củng cố phong trào, đặc biệt chú ý đến các vùng giáp địch; ra sức phòng gian, trừ gian, xúc tiến việc tổ chức lực lượng vũ trang để mỗi huyện có đủ một đại đội, ít cũng phải có một trung đội bộ đội địa phương. Ra sức củng cố các đội du kích tập trung, nhất là ở những nơi giáp địch, chú trọng tổ chức du kích ở vùng đồng bào dân tộc Mông, Dao và du kích bí mật trong vùng địch. Các huyện tích cực chuẩn bị mọi mặt đề phòng địch tấn công vào khu tự do. Riêng huyện Mộc Châu phải giữ vững đường liên lạc và phối hợp chặt chẽ với Đà Bắc, Mai Thuận, Phù Yên và Thanh Hoá. Về lực lượng bộ đội địa phương, ngày 8 tháng 4 năm 1950, Đảng bộ huyện Mộc Châu quyết định thành lập trung đội bộ đội địa phương đầu tiên, gồm 90 chiến sĩ. Ngày 19 tháng 5 năm 1950, để lập thành tích mừng sinh nhật Bác, lực lượng bộ đội địa phương của huyện xuất quân đánh đồn Tà Phểnh giành thắng lợi, diệt 4 tên địch, thu toàn bộ vũ khí, trang bị. Để đối phó với ta, thực dân Pháp lập thêm tuyến phòng thủ sông Đà, củng cố phòng tuyến đường 41 (quốc lộ 6) và sông Mã, chia cắt Sơn La với Liên khu Việt Bắc và các tỉnh khác, đồng thời tăng quân số và phương tiện chiến tranh lên gấp bội, chia quân chiến đấu trên 30 cứ điểm lớn nhỏ trong toàn tỉnh. Lúc này, địch liên tiếp tổ chức các cuộc hành quân càn quét lớn vào huyện Mường La, Mai Sơn, Thuận Châu, Yên Châu. Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhận định: sau khi phá phong trào ở Thuận Châu, Yên Cháu, Mai Sơn, Mường La, địch sẽ tập trung quân tiến công quyết liệt vào vùng tự do ở Mộc Châu. Đúng như dự đoán của ta, tháng 4 năm 1950, thực dân Pháp tập trung hàng nghìn quân, chia thành nhiều mũi, ồ ạt đánh vào khu căn cứ Mộc Hạ. Được sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, huyện Mộc Châu đã vận động nhân dân củng cố lũng lán kháng chiến lâu dài trong rừng, sơ tán của cải, tài sản, người già, trẻ em. Lực lượng dân quân du kích phối hợp với bộ đội địa phương bảo vệ bản, phục kích tiêu diệt địch. Nhờ có sự chuẩn bị trước nên các mũi tiến công của địch đã bị ta chặn đánh và bị tổn thất lớn, song do lực lượng quá chênh lệch, địch lại thực hiện chính sách "đốt sạch, phá sạch, giết sạch", gây cho ta rất nhiều khó khăn và thiệt hại đáng kể về của cải, tài sản. Sau chiến dịch Biên Giới - Thu Đông năm 1950, địch buộc phải rút một số đơn vị lính Âu - Phi ở Sơn La sang tăng viện cho Việt Bắc. Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào cách mạng Sơn La, lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích đã tập trung đánh mạnh dọc đường 41 và vùng Tạ Khoa. Nhờ vậy, các cơ sở đã bị địch phá vỡ, các phong trào đấu tranh dần dần được khôi phục và phát triển. Sang đầu năm 1951, thực dân Pháp ra sức dồn quân bắt lính, dồn mọi lực lượng để đánh phá khu căn cứ Mộc Hạ và tiêu diệt bằng được các cơ quan đầu não của ta. Ngày 28 tháng 3 năm 1951, chúng huy động gần 1.500 tên với đầy đủ vũ khí cá nhân, 15 súng máy, 10 súng cối do tên quan tư Vandrey phụ trách Tiểu khu Sơn La, trực tiếp xuống chỉ huy càn quét vào khu tự do, chúng tổ chức thành 5 mùi tiến công đánh thẳng vào Mộc Hạ. Mũi thứ nhất theo đường 41 đánh vào Phù Mẫu. Mũi thứ hai, từ huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình đánh lên Nà Bai ra Bó Bụt và đóng tại đây. Mũi thứ ba, theo đường dây thép cũ đánh vào Mường Men. Mũi thứ tư từ Mộc Lỵ đánh vào Kê Siển, Mường Khủa. Mũi thứ năm từ Vạn Yên theo dọc sông Đà đánh vào Bó Hoi, Bó Bụt. Các mũi chia thành từng tốp từ 1 đến 2 trung đội, sử dụng chiến thuật luồn rừng, leo núi, tấn công nhiều mặt, sục vào từng bản, từng lũng đánh úp cơ quan và lực lượng của ta. Địch tấn công khi ta đang tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất tại Mường Men (thuộc khu căn cứ Mộc Hạ), song các toán địch đi đến đâu cũng vấp phải sự chống trả quyết liệt của du kích. Quân dân khu căn cứ đã chiến đấu anh dũng, chặn đánh 30 trận lớn nhỏ, tiêu diệt và bắn trọng thương hơn 100 tên địch, trong đó có 10 tên chỉ huy của Pháp. Bị thất bại liên tiếp, địch buộc phải rút khỏi các vị trí chiếm đóng ở Mộc Hạ. Âm mưu càn quét nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não tỉnh Sơn La của thực dân Pháp bị thất bại, ta bảo toàn được lực lượng và bảo vệ được cơ quan đầu não của tỉnh, giữ vững khu tự do, tạo điều kiện thúc đẩy chiến tranh du kích phát triển mạnh. Trong lúc địch tăng cường càn quét ác liệt, Đảng bộ tỉnhvẫn tiến hành lãnh đạo, tổ chức thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất. Thắng lợi đó đã cổ vũ mạnh mẽ nhân dân khu căn cứ, tạo niềm tin vào sự tất thắng của chiến dịch.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #101 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2025, 05:47:02 pm » |
|
Tiếp tục triển khai thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Tỉnh ủy. Đảng bộ huyện Mộc Châu tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ và thu được một số kết quả nhất định, góp phần vào sự thành công của chiến dịch. Kết quả cụ thể như sau:
Thứ nhất, đối với công tác xây dựng Đảng: Đảng bộ đã chú trọng đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đáng viên, những tư tưởng cầu an, nhiệm kỳ... đã được đưa ra trong các cuộc kiểm thảo, lớp huấn luyện, các cuộc họp và cán bộ tự học tập. Do vậy, những tư tưởng đó đã được khắc phục, có nhiều chuyển biến trong cán bộ, đảng viên. Đảng bộ cũng đã giáo dục tư tưởng, cải tiến phương pháp lãnh đạo, chấn chỉnh, giải quyết những vướng mắc trong nội bộ đảng, ổn định tổ chức đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhân dân về thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, tích cực chuẩn bị đối phó với âm mưu mới của kẻ địch.
Thứ hai, đối với công tác tuyên truyền: Đảng bộ đã tích cực chỉ đạo các chi bộ, các tổ chức đoàn thể phân tích làm rõ luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch. Phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước dưới mọi hình thức, như: nói chuyện, mít tinh, phân phát tài liệu, họp bàn, thảo luận... Đặc biệt, thực hiện Chỉ thị 15 của Trung ương về thực hiện chính sách dân tộc thiểu số, Nghị quyết về vận động các dân tộc ít người, Đảng bộ huyện đã chỉ đạo các tổ chức đảng, chính quyền các xã tuyên truyền vận động nhân dân tích cực đóng góp sức người, sức của phục vụ chiến dịch Tây Bắc, nên chỉ trong 2 tháng 11 và 12 năm 1952, nhân dân các dân tộc Mộc Châu đã huy động 2.894 dân công, phục vụ gần 50.000 ngày công, đóng góp 43.500kg gạo, 42.600kg thịt và trên 50 tấn rau xanh, huy động gần 100 thanh niên lên đường nhập ngũ. Những đóng góp đó thể hiện niềm tin của nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu đối với sự lãnh đạo của Đảng và quyết tâm thực hiện thắng lợi chiến dịch.
Thứ ba, về lĩnh vực kinh tế: Đảng bộ huyện đã mở cuộc vận động thực hiện chính sách tạm vay lương thực, sản xuất tiết kiệm, huy động dân công và thu thuế nông nghiệp, tích cực vận động nhân dân làm nương để đóng góp lương thực, kết quả 3 xã khu tự do đã đóng góp gần 400 tấn lương thực; vận động 1.000 dân công tham gia vận chuyển hàng trăm tấn thóc gạo từ dưới xuôi lên cung cấp cho bộ đội; động viên cán bộ, chiến sĩ, nhân dân tích cực tăng gia sản xuất, vận chuyển muối, công cụ... tiếp tế cho dân, kết quả đã tiếp tế 20 tạ giống lúa chiếm, ngô cho nhân dân các xã khu căn cứ Mộc Hạ, Đoàn Kết, Tú Nang. Đồng thời Đảng bộ đã chỉ đạo việc chỉnh lý thuế, tiếp tế những mặt hàng thiết yếu và tiêu thụ lâm thổ sản cho dân, mở một số chợ để trao đổi mua bán hàng hoá, phục vụ nhu cầu thiết yếu của nhân dân.
Thứ tư, về lĩnh vực văn hóa - xã hội: Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo gắn việc thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động (sản xuất tiết kiệm, làm ăn tập thể...), phong trào bình dân học vụ, từ đó trình độ của nhân dân đã được nâng lên rõ rệt. Sách báo được đưa vào phổ biến trong các cơ quan, đoàn thể và các lớp bình dân học vụ. Nhờ đó, một số hủ tục lạc hậu dần được loại bỏ, nếp sống văn hóa mới được áp dụng và đã thu hút được đông đảo nhân dân tin tưởng đi theo cách mạng.
Thứ năm, về lĩnh vực quốc phòng - quân sự địa phương: Theo chỉ thị của Tỉnh ủy, từ tháng 4 năm 1952, bộ đội Mộc Châu (gồm Đại đội 403 và du kích Mộc Hạ, Mộc Thượng, Tú Nang) đã liên tiếp mở các cuộc tấn công nhằm tiêu hao sinh lực địch. Các trận đánh thu được thắng lợi đã tạo niềm tin và quyết tâm kháng chiến của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Đặc biệt qua 3 cuộc chỉnh huấn, đã có nhiều chiến sĩ phấn khởi, hăng hái thi đua tiêu diệt địch, kỹ thuật và trình độ tác chiến của lực lượng dân quân, du kích được nâng lên rõ rệt. Phong trào dân quân du kích ở địa phương cũng trưởng thành về mọi mặt, đảm bảo thực hiện tốt mọi nhiệm vụ, nhất là trong việc thực hiện nhiệm vụ chiến đấu tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ sơ tán nhân dân khi xảy ra chiến sự.
Khi tiếng súng mở màn đợt 1 của chiến dịch tại Phân khu Nghĩa Lộ, Tiểu khu Phù Yên nổ ra, Đảng bộ huyện và nhân dân các dân tộc Mộc Châu đã phối hợp chặt chẽ với quân chủ lực điều tra, nắm tình hình bố trí hầm hào, công sự, đồn bốt, lực lượng địch trên địa bàn. Trong quá trình đó, Đảng bộ cũng tập trung tuyên truyền vận động nhân dân đóng góp ở mức cao nhất sức người, sức của phục vụ chiến dịch Tây Bắc.
Sau đợt 1, đêm ngày 16, 17 tháng 11 năm 1952 nhân dân các dân tộc Mộc Châu tiếp tục giúp đỡ các đơn vị bộ đội chủ lực vượt sông Đà và giúp Trung đoàn 209, một tiểu đoàn của Trung đoàn 141 do đồng chí Nam Long chỉ huy, tiến công và tiêu diệt đồn Bản Hoa (thuộc xã Tân Lập),diệt hơn 300 tên dịch; tập kích đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn địch tại Ba Lay (thuộc xã Quy Hướng), đồng thời nhân dân đã cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích nhận tiếp quản, thu dọn chiến trường.
Đặc biệt trong 2 ngày 19 và 20 tháng 11 năm 1952 quân và dân Mộc Châu đã tích cực phối hợp với bộ đội chủ lực tiến đánh đồn Mộc Lỵ, đây là trận đánh vô cùng ác liệt. Đồn địch xây dựng trên núi đá tai mèo, hiểm trở; với một hệ thống lô cốt, công sự kiên cố, được trang bị nhiều loại vũ khí, nhiều tầng hỏa lực; xung quanh được bảo vệ bằng nhiều bãi mìn, dây thép gai, tháp canh. Đảng bộ huyện xác định việc đánh chiếm đồn có ý nghĩa vô cùng quan trọng, vì khu vực này là tuyến đường huyết mạch chuyên chở lương thực, đạn dược cho chiến dịch. Đảng bộ cũng chỉ thị cho nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu tích cực phối hợp với các lực lượng vũ trang trong công tác địch vận, làm giảm ý chí chiến đấu của địch và tích cực vận động đóng góp sức người, sức của phục vụ trận đánh. Kết quả, trận đánh đồn Mộc Lỵ đã giành thắng lợi rực rỡ, đã loại 309 tên địch ra khỏi vòng chiến đấu, thu hơn 500 khẩu súng các loại cùng toàn bộ kho tàng, vũ khí, quân trang, quân dụng và lương thực, thực phẩm, giải phóng gần 1.000 dân ở khu tập trung của địch, góp phần giải phóng hoàn toàn Mộc Châu, đồng thời tạo bàn đạp cho ta tiếp tục tiến lên chiếm đánh giải phóng toàn bộ tỉnh Sơn La (trừ khu vực Nà Sản) và một bộ phận khu vực Lai Châu.
Ngày 20 tháng 11 năm 1952. Mộc Châu hoàn toàn giải phóng, đây là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là sức mạnh cả về ý chí, tinh thần và vật chất của một dân tộc khát khao độc lập, tự do, không cam chịu nô lệ. Chiến thắng Mộc Châu là một mốc son trong lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung, của tỉnh Sơn La, huyện Mộc Châu nói riêng. Thắng lợi đó còn là một sự kiện có ý nghĩa về chính trị, xã hội, quân sự, ảnh hưởng sâu rộng trong toàn tỉnh Sơn La và các vùng lân cận. Đó là những trang sử được viết bằng máu và nước mắt của bao cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các dân tộc Mộc Châu đã sát cánh bên nhau, một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ, không sợ hy sinh, gian khổ, mất mát, anh dũng kiên cường, trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Mốc son đó mãi mãi là dấu ấn trường tồn trong tâm khảm của mỗi người dân Mộc Châu nói riêng, tỉnh Sơn La nói chung. Khẳng định điều đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh chiến dịch đã nhận xét, đánh giá như sau: "Trận tiến công trên khu Mộc Châu là trận đánh then chốt thứ 2 của chiến dịch Tây Bắc; vị trí này được Pháp coi là lá chắn trên đường số 41 ngăn chặn ta tiến sâu vào Tây Bắc từ hướng đông nam... Chiến thắng này chứng tỏ các đồng chí đã tiến bộ nhiều sau thời kỳ chỉnh huấn và sau đợi 1 của chiến dịch, đã tích cực khắc phục khó khăn quyết tâm thi hành mệnh lệnh để hoàn thành nhiệm vụ".
Ngày 10 tháng 12 năm 1952 chiến dịch Tây Bắc kết thúc, kết quả toàn chiến dịch quân ta loại khỏi vòng chiến đấu 6.023 tên địch, hầu hết các tên chỉ huy ở các vị trí lớn đã bị quân ta bắt. Ta chiếm lại 85 vị trí địch, thu 3.785 súng các loại, 90 máy vô tuyến điện, 1.450 dù và 6 máy bay, giải phóng 28.500km2, gồm 25 vạn dân. Chiến thắng Tây Bắc có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, đã giải phóng đồng bào Tây Bắc khỏi ách áp bức của giặc, giải phóng một bộ phận đất đai rộng lớn, một vùng chiến lược quan trọng. Quân và dân ta đã tiêu diệt và chiếm lại 10 vị trí lớn nhỏ của địch ở Tây Bắc. Chiến thắng còn có tác dụng phá phần lớn âm mưu thâm độc định lập "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị", "Xứ Nùng tự trị" của địch nhằm chia rẽ người Thái và người Kinh, người Thái với các đồng bào dân tộc thiểu số khác.
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Mộc Châu luôn tự hào được đóng góp sức người, sức của góp phần tạo nên chiến thắng của chiến dịch Tây Bắc. Ghi nhận những chiến công, đóng góp, cống hiến to lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng lực Lượng vũ trang nhân dân cho xã Mộc Hạ và huyện Mộc Châu. Điều đó thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng bộ, sự hy sinh đóng góp của nhân dân các dân tộc Mộc Châu trong chiến dịch Tây Bắc 1952.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #102 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2025, 07:52:42 pm » |
|
ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC TỈNH YÊN BÁI VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952 ĐỖ VĂN CHIẾN Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái Chiến thắng Tây Bắc năm 1952 có ý nghĩa vô cùng quan trọng, không những giải phóng một vùng chiến lược, phần lớn đồng bào Tây Bắc thoát khỏi ách thống trị của giặc Pháp mà còn xóa bỏ sự uy hiếp của địch đối với căn cứ địa Việt Bắc từ phía tây. Âm mưu thâm độc của thực dân Pháp lập "Xứ Thái tự trị" nhằm chia rẽ người Thái với người Kinh và người Thái với đồng bào các dân tộc thiểu số khác bị phá sản hoàn toàn. Cùng với cả nước, Đảng bộ, nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái đã có những đóng góp không nhỏ làm nên chiến thắng đó. Là tỉnh có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quân sự, nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc, Yên Bái là khu đệm giữa hậu phương và mặt trận. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, 2/3 diện tích Yên Bái bị thực dân Pháp chiếm đóng. Đặc biệt, phía tây tỉnh Yên Bái, thực dân Pháp thành lập khu quân sự Tây Bắc bao gồm nhiều phân khu trực thuộc, dưới phân khu là các tiểu khu. Trên địa bàn tỉnh Yên Bái có Phân khu Nghĩa Lộ là một trong những phân khu mạnh nhất của Pháp trong vùng Tây Bắc với 4 tiểu khu trực thuộc là Nghĩa Lộ, Ba Khe, Gia Hội và Than Uyên. Qua các chiến dịch Sông Thao (1949), Lê Hồng Phong (1950), Lý Thường Kiệt (1951), hệ thống phòng thủ của thực dân Pháp bị vỏ từng mảng, nhất là vùng Đông Bắc của tỉnh, vì vậy, vùng tự do của Yên Bái được mở rộng hơn. Khu quân sự Tây Bắc bị uy hiếp nặng nề, tinh thần của lính Pháp và tay sai, đặc biệt ở Phân khu Nghĩa Lộ sa sút nghiêm trọng. Trước tình hình đó, thực dân Pháp tìm mọi cách củng cố, bảo vệ Tiểu khu Nghĩa Lộ và Than Uyên. Về chính trị, Pháp tổ chức thăng cấp và thưởng huân chương cho một số sĩ quan, binh lính nguỵ, thêm cho tay sai một số quyền lợi hòng cột chặt chúng vào cỗ xe chiến tranh, về quân sự, chúng củng cố đồn bốt, mở rộng thêm sân bay Gia Hội, trang bị thêm vũ khí cho các đơn vị, ra sức bắt lính, phát triển quân nguỵ, lập nhiều đội biệt kích người cùng dân tộc, dùng đơn vị dân tộc này đi khủng bố, đàn áp, cướp phá vùng dân tộc khác, hòng gây mâu thuẫn chia rẽ giữa các dân tộc. Đồng thời, địch tiến hành càn quét, dồn dân vào sống tập trung quanh các đồn bốt nhằm cắt đứt mối quan hệ giữa cán hộ vùng địch hậu với nhân dân. Về kinh tế, chúng tăng cường bóc lột, vơ vét lương thực, thực phẩm phục vụ chiến tranh, dùng muối và hàng hoá khác để mua chuộc, lôi kéo nhân dân. Bên cạnh đó, thực dân Pháp tập trung thâm nhập, đánh phá vùng tự do của tỉnh. Tính riêng 4 tháng đầu năm 1951, Pháp đã 31 lần tấn công quân sự, tung biệt kích, gián điệp hoạt động để nắm tình hình, thăm dò lực lượng kháng chiến. Tháng 1 năm 1951, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ II đã tiến hành, trong đó đề ra một số công tác cấp bách trước mắt. Đối với công tác vùng địch tạm chiếm, Đảng bộ Yên Bái chủ trương vừa củng cố vừa phát triển cơ sở, chuẩn bị mọi mặt để khi có điều kiện thì phát động đấu tranh vũ trang với quy mô rộng lớn hơn. Đồng thời, coi trọng công tác vùng địch tạm chiếm ngang tầm với công tác vùng tự do; đẩy mạnh địch vận để làm đà cho các hoạt động khác. Việc xây dựng, phát triển bộ đội địa phương được đặc biệt chú ý, nâng cao cả số lượng và chất lượng, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường trang bị và hậu cần. Chú trọng xây dựng dân quân du kích ở nơi ta có cơ sở, quanh các căn cứ quan trọng của địch và vùng tự do sát địch. Các hoạt động quân sự phải nhằm vào nơi địch sơ hở, bố phòng yếu, có tác dụng hỗ trợ cho việc xây dựng cơ sở và địch vận. Tháng 12 năm 1951, tỉnh Yên Bái tổ chức Hội nghị tổng kết công tác vùng địch tạm chiếm, tiếp đó tiến hành hội nghị bàn việc phối hợp và phục vụ chiến dịch Tây Bắc (năm 1952). Hai hội nghị đưa ra nhận định, những tháng cuối năm 1951, công tác vùng địch tạm chiếm có thuận lợi và phát triển. Cơ sở của ta được mở rộng, chiến tranh du kích được đẩy mạnh. Nhưng sang năm 1952, khó khăn tăng lên do địch đã bổ sung lực lượng, củng cố lại vùng chiếm đóng và tăng cường khủng bố, càn quét. Trong khi đó, cán bộ trong vùng địch hậu chưa am hiểu phong tục, tập quán và tiếng nói của đồng bào các dân tộc. Việc tiếp tế cho các đơn vị, cán bộ trong vùng địch gặp nhiều trở ngại. Song ta có thuận lợi rất cơbản: nhân dân các dân tộc có truyền thống yêu nước, tin tưởng và quyết tâm theo Đảng kháng chiến; hầu hết các cơ sở của ta bị địch cànquét liên tục vẫn đứng vững, cán bộ, chiến sĩ ta có tinh thần dũng cảm, chịu đựng gian khổ, hy sinh, khắc phục mọi khó khăn trong công tác; mâu thuẫn giữa nhân dân các dân tộc với giặc Pháp và tay sai, mâu thuẫn nội bộ kẻ thù ngày càng sâu sắc, tinh thần bọn ngụy hoang mang, dao động mạnh. Từ tình hình đó, Tỉnh ủy chủ trương củng cố vững chắc các cơ sở ở vùng cao, dựa vào đó tiến xuống xây dựng cơ sở vùng thấp. Ra sức phát triển cơ sở ven các trục đường Nghĩa Lộ và những địa bàn có khả năng kinh tế. Một trong những nhiệm vụ rất quan trọng lúc này là đánh thông liên lạc từ vùng tự do vào với cơ sở trong vùng địch, vũ trang và cán bộ chính trị vào hoạt động. Công tác trong vùng địch phải có nhiều hình thức, biện pháp linh hoạt, trong đó hết sức coi trọng vận động nhân dân chống bắt lính, bắt phu, vận động ngụy quân, ngụy quyền bỏ hàng ngũ. Ở vùng tự do, các cấp ủy đảng và chính quyền tổ chức tốt việc phòng chống gián điệp, biệt kích do thám tình hình, phá các cơ quan, kho tàng. Lập kế hoạch chi tiết cho việc huy động dân công, cung cấp lương thực, thực phẩm cho hộ đội chủ lực khi có chiến dịch lớn. Nhờ các chủ trương, biện pháp đúng đắn, phong trào kháng chiến trong vùng địch tạm chiếm của tỉnh có bước phát triển mạnh mẽ. Cán bộ chính trị và các đội vũ trang đã gây dựng hàng loạt cơ sở vùng thấp Nghĩa Lộ - Than Uyên và ở hầu khắp các làng ven đường vào Nghĩa Lộ. Đường dây liên lạc bằng cơ sở nhân dân từ vùng tự do vào trong vùng địch thông suốt. Những kết quả này tạo thêm thuận lợi cho quân dân Yên Bái phục vụ chiến dịch Tây Bắc. Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng; theo phương châm tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm sơ hở của địch mà đánh, bộ đội chủ lực của ta mở chiến địch tiến công vào Tây Bắc. Từ tháng 5 năm 1952, quân dân tỉnh Yên Bái bước vào chuẩn bị mọi mặt để phối hợp và phục vụ chiến dịch. Dân quân du kích các xã Việt Long, Hưng Khánh, Đại Đồng, Tân Hợp (huyện Trấn Yên), Cát Thịnh, Thượng Bằng La, Minh An, Bình Thuận, Chấn Thịnh (huyện Văn Chấn) cùng các đại đội 85, 87, 97 bộ đội địa phương đã dẫn đường đưa quân báo của Đại đoàn 308 vào vùng địch và bảo vệ an toàn các con đường từ vùng tự do vào Nghĩa Lộ như đường 13A, đường từ Mậu A qua đèo Quế, đèo Khâu Vác, nắm tình hình địch ở các đồn Ba Khe, Ca Vịnh, Sài Lương, Thượng Bằng La, Đồng Bồ. Tỉnh Yên Bái đã thành lập Hội đồng cung cấp tiến phương, bố trí cán bộ phụ trách việc huy động và chỉ huy dân công phục vụ chiến dịch.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #103 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2025, 07:59:01 pm » |
|
Cuối tháng 9 đầu tháng 10 năm 1952, các đơn vị từ địa điểm tạm đứng chân đã tiến vào vị trí tập kết. Dòng sông Hồng cắt ngang là trở ngại lớn nhất cho các đơn vị trên đường tiến công vào Mặt trận Tây Bắc. Tại tỉnh Yên Bái có 4 địa điểm vượt sông bên tả ngạn từ thị xã Yên Bái lên tới Trái Hút là Âu Lâu, Lan Đình, Mậu A, Nước Nóng. Đại đoàn 308 vượt sông Hồng qua bến Mậu A theo đường Đại Bục, Khâu Vác vào Pú Chạng - Nghĩa Lộ. Trung đoàn 36, Trung đoàn 174 vượt sông ở bến Âu Lâu, qua đèo Bụt, Ca Vịnh, đèo Hồng tiến vào Cửa Nhì. Đại đoàn 312 vượt sông ó bến Nước Nóng theo đường Thụy Cuông, Nậm Bằng vào Gia Hội. Trung đoàn 141 vượt sông ở bến Lan Đình qua Y Can, khe Lóng vào Sài Lương. Bến Âu Lâu là điểm vượt sông của các đơn vị pháo hạng nặng. Pháo được tháo rời từng bộ phận để tiện cho các nhóm từ 2 - 4 người vận chuyển, tại các bến đều thành lập Ban chỉ huy vượt sông. Nhân dân các xã ven bến đã ủng hộ tre, nứa, lá cọ dựng các lán trại cho các đơn vị tập kết chuẩn bị vượt sông; phối hợp, tạo điều kiện cho bộ đội công binh lắp cầu phao, đóng thuyền, bè, mảng, dẫn đường cho bộ đội chủ lực, vũ khí, đạn dược qua sông an toàn, đúng kế hoạch.
Không chỉ phối hợp với các đơn vị tại các bến vượt sông Hồng, nhân dân ở các xã vùng tự do tham gia dân công vận chuyển lương thực, vũ khí... phục vụ chiến dịch, ủng hộ lương thực, thực phẩm cho bộ đội. Phục vụ chiến dịch Tây Bắc, toàn tỉnh Yên Bái đã vận động 5.428 lượt người đi dân công; huy động 730 tấn gạo, 622 con trâu, 386 con lợn, 72 tấn muối, 16 tấn đỗ, lạc, vừng cho bộ đội. Dân công Yên Bái cùng các đơn vị bộ đội đã khắc phục khó khăn, vượt qua đèo cao, suối sâu, mưa rét và bom đạn của địch vận chuyển được hàng vạn tấn đạn dược, lương thực, thực phẩm vào mặt trận. Riêng khối lượng vận chuyển qua sông Hồng tới 47.309 tấn. Nhiều cán bộ, đảng viên và dân công đã anh dũng hy sinh trong khi phục vụ chiến dịch.
Mặc dù nhiệm vụ phục vụ chiến dịch trong toàn tỉnh rất khẩn trương, ráo riết, song tại những vị trí trọng yếu địch không phát hiện được kế hoạch mở chiến dịch lớn vi công tác bảo mật, phòng gian được tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, chiến dịch được đảm bảo bí mật đến lúc khai hoả. Chỉ trong vòng 4 ngày đầu của chiến dịch (14-18.10), một vùng rộng lớn bên tả ngạn sông Đà gồm các huyện Văn Chấn, Than Uyên tỉnh Yên Bái đã được giải phóng. Nhân dân các xã vừa mới được giải phóng đã vận động dược 1.000 lượt người dân công đi một tháng, 2.312 lượt người dân công đi 7 ngày, huy động được 250 tấn gạo và vận chuyển hàng chục vạn tấn lương thực, vũ khí cho bộ đội trong đợt 2 cua chiến dịch Tây Bắc.
Với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chiến thắng Tây Bắc đã giành được thắng lợi vẻ vang. Chiến thắng Tây Bắc có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, đã giải phóng đồng bào Tây Bắc khỏi ách áp bức của giặc, giải phóng một bộ phận đất đai rộng lớn, một vùng chiến lược quan trọng. Quân và dân ta đã tiêu diệt và chiếm lại 10 vị trí lớn nhỏ của địch ở Tây Bắc còn có tác dụng phá phần lớn âm mưu thâm độc định lập "Xứ Thái tự trị", "Xứ Mường tự trị", "Xứ Nùng tự trị" của địch nhằm chia rẽ người Thái và người Kinh, người Thái với các đồng bào dân tộc thiểu số khác. Trong chiến công đó, có sự đóng góp to lớn về nhân lực, vật lực của quân dân Yên Bái.
Nhằm trân trọng, tôn vinh, biết ơn những đóng góp, hy sinh của nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng cho các thế hệ sau, coi truyền thống lịch sử là nguồn động lực vô cùng quý báu trong quá trình xây dựng và phát triển quê hương, tỉnh Yên Bái đã có nhiều chính sách đầu tư khôi phục xây dựng, tôn tạo nhiều điểm di tích lịch sử cách mạng, trong đó di tích bến Âu Lâu, đồn Nghĩa Lộ, mảnh đất ghi dấu nhiều chiến công của chiến dịch Tây Bắc xửng đáng với tầm vóc lịch sử.
Phát huy truyền thống quyết chiến, quyết thắng của chiến dịch Tây Bắc 60 năm trước đây và truyền thông đoàn kết, yêu nước của quê hương Yên Bái anh hùng, bước vào giai đoạn cách mạng mới, Đảng bộ, nhân dân các dân tộc Yên Bái tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội với tăng cường khả năng quốc phòng - an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình", "bạo loạn lật đổ" của các thế lực thù địch; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Trên con đường đổi mới, hào khí của chiến thắng Tâv Bắc vẫn ngời sáng và cổ vũ đưa Yên Bái cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #104 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2025, 08:07:08 pm » |
|
QUÂN VÀ DÂN PHÚ THỌ VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952 NGUYỄN DOÃN KHÁNH Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ Phú Thọ là một tỉnh miền núi, trung du nằm ở trung tâm Bắc Bộ, là địa bàn chuyển tiếp giữa rừng núi và đồng bằng, cửa ngõ giao thông nối liền Thủ đô Hà Nội với Tây Bắc và Việt Bắc. Trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trong khu vực phòng thủ ngày nay với (rừng cọ, đồi chè), Phú Thọ là căn cứ đứng chân của các đại đoàn chủ lực vừa xây dựng, vừa huấn luyện, cơ động chiến đấu trên khắp vùng Bắc Bộ và chi viện cho các chiến trường ở Lào. Một số huyện phía Bắc của tỉnh còn là căn cứ địa cách mạng để phát triển chiến tranh du kích. Khi dịch tiến công, các lực lượng tác chiến trên địa bàn Phú Thọ có điều kiện lợi dụng địa hình, địa vật, bố trí thế trận phòng ngự, bảo toàn lực lượng tạo thời cơ tiến công tiêu diệt địch, vừa có thể rút lui an toàn. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Phú Thọ là cửa ngõ quan trọng để bảo vệ chiến khu Việt Bắc; là nơi đứng chân cho các đơn vị vũ trang tiến quân lên miền Tây Bắc - địa bàn chiến lược cho cuộc kháng chiến trường kỳ với tinh thần quả cảm, với ý chí quậtcường "thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" đã làm nên chiến thắng Đoan Hùng vang dội, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch phản công Việt Bắc Thu Đông 1947; đưa các đoàn quân vượt sông Đà làm nên chiến thắng Tu Vũ trong chiến dịch Hòa Bình 1951,... Cùng với đó, đồng bào Phú Thọ ra sức đóng góp sức người, sức của, làm tròn trách nhiệm của một hậu phương với chiến trường chính Bắc Bộ. Thu Đông 1952, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch tiến công trên hướng Tây Bắc nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân và giải phóng một bộ phận đất đai Tây Bắc, thực hiện nhiệm vụ chiến lược "giữ vững và phát triển thế tiến công" của cuộc kháng chiến. Thêm một lần nữa quân dân Phú Thọ lại nỗ lực hết mình, góp phần vào thành công của chiến dịch. Mở hướng tấn công lên Tây Bắc là một quyết định đúng đắn, đầy táo bạo của Trung ương Đảng, bởi đây là địa bàn xa hậu phương, núi rừng hiểm trở, dân cư thưa thớt, kinh tế nghèo nàn, giao thông vận tải khó khăn; nhân lực, vặt lực tại chỗ hạn chế... Để đảm bảo cho chiến dịch, nhất thiết phải huy động sức người, sức của các địa phương quanh địa bàn tác chiến. Theo đó, vùng tự do Phú Thọ được xác định là "hậu phương trực tiếp chuẩn bị chiến trường và phối hợp chiến đấu" 1 (Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Phú Thọ (1945-2005), Nxb Quân đội nhân dân, H 2007, tr. 118) cho chiến dịch Tây Bắc. Thực hiện nhiệm vụ hết sức quan trọng, đầy nặng nề đó, Tỉnh ủy Phú Thọ đã quán triệt đến các cấp, các ngành trong toàn tỉnh tập trung vào nhiệm vụ huy động sức người, sức của phục vụ chiến trường; lực lượng vũ trang nêu cao tinh thần sẵn sàng chiến đấu lập công. Với tinh thần "tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng", quân dân Phú Thọ đã làm hết sức mình, huy động tối đa dân công đi phục vụ chiến trường; động viên, quyên góp thóc gạo, thực phẩm,... sẵn sàng phục vụ cho chiến dịch. Những ngày chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc, trên toàn tỉnh Phú Thọ đã dấy lên tinh thần "chưa có chiến dịch nào mà khí thế, quyết tâm lại được chuẩn bị, động viên lớn như chiến dịch này" 1 (Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Phú Thọ (1945-1954). Nxb Quân đội nhân dân, H.1999. tr271). Cùng với tiến hành phục vụ chiến trường, quân dân Phú Thọ thực hiện nhiệm vụ nghi binh, kiềm chế địch. Tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh phối hợp với Trung đoàn 89, Đại đoàn 316 tiến hành nghi binh địch ở hướng tây nam; các đơn vị khác phối hợp với bộ phận của Đại đoàn 308 làm nhiệm vụ bảo vệ hậu phương, sẵn sàng chống địch càn quét. Cuối tháng 9 đầu tháng 10 năm 1952, khi các đơn vị ta bắt đầu tiến quân lên Tây Bắc, quân dân Phú Thọ cùng nhân dân Yên Bái đã huy động 450 thuyền nan, bè mảng góp sức cùng bộ đội công binh thực hiện thành công cuộc vượt sông lớn nhất trong lịch sử 30 năm tiến hành chiến tranh giải phóng. Chỉ trong đêm 10 tháng 10 năm 1952, đã đưa 41.000 người, 338 lừa ngựa và hàng trăm tấn trang bị, lương thực, thuốc men đã qua sông Thao bí mật, an toàn. Những hoạt động phục vụ của quân dân Phú Thọ đã góp sức cho các đơn vị chủ lực hoàn thành nhiệm vụ của đợt 1 chiến dịch, đập tan Phân khu Nghĩa Lộ, giải phóng một vùng đất quan trọng, rộng trên 1 vạn kilômét vuông,trái từ hữu ngạn sông Hồng đến tả ngạn sông Đà, mở toang cánh cửa vào địa bàn Tây Bắc. Để cứu vãn tình hình, cứu ngụy cho phòng tuyến sông Đà, ngày 28 tháng 10, dưới sự chỉ huy của tướng Đờ Linarét - tư lệnh quân Pháp ở Bắc Bộ, lực lượng gồm 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn xung kích, 4 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn cơ giới, 7 đại đội công binh, thực dân Pháp mở cuộc hành quân Loren (Lorraine 1 (Lorraine là tên một miền đất của nước Pháp bị Đức chiếm từ 1871 đến 1918 mới trở về Pháp. Suốt 47 năm đó, hai bên tranh chấp nhiều lần. Đặt tên cho cuộc hành quân này, Pháp coi Phú Thọ là vùng tranh chấp giữa địch và ta)) đánh lên Phú Thọ, Yên Bái "nhằm cắt đứt đường tiếp tế vận chuyển lương thực, vũ khí của ta, phá kế hoạch của ta ở mặt trận chính và che giấu những thất bại của chúng ở tả ngạn sông Đà" 2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh. Bộ Tổng tham mưu xuất bản, 1963, tập 4, tr 401). Phối hợp với bộ binh, địch cho quân nhẩy dù xuống Đoan Hùng, theo quốc lộ số 2 đánh lên Yên Bái, sử dụng hàng trăm lượt máy bay oanh tạc, ném hàng nghìn tấn bom phá huy đường sá, cầu cống, sát hại đồng bào,... Hành động trên của địch không nằm ngoài dự tính của ta. Ngày 21 tháng 9 năm 1952, Bộ Tổng tham mưu nhận định "Phú Thọ là nơi kinh tế dồi dào, có nhiều nhân vật lực, lại có đường giao thông quan trọng, nối liền Liên khu Việt Bắc với Liên khu 3, 4, nối liền trung du Việt Bắc với miền thượng du Tây Bắc. Cho nên thu đông năm nay địch có thể đánh ra để thực hiện âm mưu của chúng" 3 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bô Tổng tư lênh. Sđd. tr. 394). Trên cơ sở đó, Tổng Quân ủy đã chỉ thị cho Tỉnh ủy phú Thọ, nêu rõ: "Trong khi chủ lực ta đánh mạnh trên các chiến trường chính thì địch sẽ đối phó bằng cách tấn công ra Phú Thọ để kiềm chế, chia sẻ lực lượng ta đồng thời phá hoại kinh tế kho tàng, mùa màng của ta, khủng bố nhân dân, bắt thanh niên đi lính. Tóm lại, chúng nhằm phá hoại nguồn cung cấp nhân vật lực của ta, gây khó khăn cho tiền tuyến. Vì vậy, nhiệm vụ của Đảng bộ và các lực lượng vũ trang là phải tích cực đánh địch bằng mọi cách để bảo vệ kho tàng, mùa màng, bảo vệ nhân dân" 1 (Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Phú Thọ (1945-1954). Sđd. tr. 272-273). Chấp hành chỉ thị của Tổng Quân ủy, Tỉnh ủy Phú Thọ nhanh chóng phổ biến đến các cấp bộ Đảng, chính quyền về tình hình, âm mưu địch và đề ra các phương án tác chiến chống địch càn quét. Nhiệm vụ chủ yếu của Phú Thọ lúc này là vừa tổ chức lực lượng chống càn vừa làm công tác sơ tán cơ quan, kho tàng về nơi an toàn. Tỉnh ủy đã phân công các đồng chí tỉnh ủy viên về các huyện trọng điểm giúp địa phương hoàn thành nhiệm vụ. Tuy vậy, công tác phòng tránh, sơ tán gặp rất nhiều khó khăn. Là tỉnh hậu phương, trên địa bàn Phú Thọ tập trung nhiều kho tàng với tống trọng lượng hàng hoá lên tới 15.000 tấn. Ngoài ra, còn có nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp quốc phòng và dân dụng cùng 2 phân viện điều trị với 500 thương bệnh binh. Thực hiện nhiệm vụ trên cân một số lượng lớn nhân lực, nhưng lúc này phần lớn nhân công khỏe mạnh đều tập trung lên phía trước, phương tiện lại thiếu thốn,... đòi hỏi phải có sự cố gắng của toàn Đảng bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân Phú Thọ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #105 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2025, 08:15:12 pm » |
|
Giữa lúc Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ đang dốc toàn sức, gấp rút hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ thương bệnh binh, phân tán bảo vệ kho tàng, dịch ồ ạt tấn công vào vùng hữu ngạn sông Thao, càn quét huyện Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn, chiếm đường 11. Sau khi chốt giữ một số cứ điểm ở hữu ngạn, ngày 2 tháng 11, chúng tấn công sang tả ngạn, đánh chiếm thị xã Phú Thọ, rải quân chiếm giữ quốc lộ số 2 và các đường giao thông liên huyện. Đồng thời điều lực lượng Âu - Phi bảo vệ tuyến quốc lộ số 2 từ Đông Anh lên Việt Trì, nhằm giữ thông đường vận chuyển phục vụ cuộc hành binh. Tiếp đến, ngày 9 tháng 11, chúng dùng cơ giới phối hợp quân nhảy dù chiếm Đoan Hùng, thực hiện âm mưu phá kho tàng, cắt đứt đường tiếp tế của ta từ Phú Thọ lên Tuyên Quang, Yên Bái. Chỉ trong một thời gian ngắn, địch đã làm chủ nhiều vị trí quan trọng ở các huyện phía tả ngạn sông Thao. Chúng nhanh chóng thiết lập công sự, móc nối bọn phản động, triệt hạ làng mạc, cướp thóc gạo, của cải của đồng bào, uy hiếp đồng bào, phá hoại cơ sở kho tàng ta chưa kịp di chuyển1 (Địch đã giết chết 189 người, làm bị thương 105 người, cưỡng hiếp 102 phụ nữ, đốt 2.881 ngôi nhà, phá huỷ 547 nhà dân, 12 chùa, 6 nhà thờ, bắn chết 4.170 con trâu, 9.900 con bò, 33.694 con lợn, phá huỷ 2.000 mẫu lúa, ngót 1.000 tấn lương thực, hàng trăm tấn chè, cà phê).
Nhờ có sự chuẩn bị từ trước, Tỉnh ủy Phú Thọ đã kịp thời chỉ đạo triển khai lực lượng, bố trí tác chiến trên tất cả các hướng. Cùng với đó, Bộ Quốc phòng nhanh chóng tăng cường cho Phú Thọ 2 tiểu đoàn bộ đội chủ lực thuộc Trung đoàn 176, cùng quân dân Phú Thọ đánh địch. Ngày 11 tháng 11, Tổng Quân ủy quyết định thành lập Ban chỉ huy Mặt trận Phú Thọ gồm các đồng chí Trần Mạnh Quỳ, Cục trưởng Cục Dân quân làm Chỉ huy trưởng, Nguyễn Tấn Phúc, Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ và đồng chí Chu Dốc, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 176 là Chỉ huy phó. Tỉnh ủy quyết định các cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở đều chia thành 2 bộ phận, một chỉ đạo chung, một theo sát lực lượng vũ trang để trực tiếp nắm tình hình, giúp đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Tỉnh ủy cũng ban hành chỉ thị yêu cầu các lực lượng vũ trang và nhân dân tích cực tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, bảo vệ hậu phương.
Dưới sự chỉ đạo của Ban chỉ huy Mặt trận Phú Thọ, của các cấp ủy Đảng, được sự phối hợp của bộ đội chủ lực, quân dân Phú Thọ đã chủ động phá hoại cầu đường, cất giấu tài sản, chiến đấu ngoan cường, kịp thời ngăn chặn, bẻ gãy nhiều mũi tiến công, nhiều trận càn của địch. Bộ đội địa phương và dân quân du kích Tam Nông đánh 19 trận, diệt và làm bị thương 108 tên. Quân dân Hạc Trì đánh 27 trận loại khỏi vòng chiến đấu 109 tên, giải thoát hơn 300 thanh niên bị bắt, bảo vệ hàng trăm tấn thóc và hàng hoá. Tại xã Cao Mại (Lâm Thao), trong một ngày bộ đội địa phương và du kích đã ba lần đánh bật địch ra khỏi làng, diệt hàng chục lính Âu - Phi,...1 (Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Phú Thọ, Sđd. tr. 275). Đó là những điển hình của quân dân Phú Thọ trong cuộc chiến đấu chống lại trận càn Loren của địch. Liên tục bị tiến công, lực lượng lại dàn mỏng trên địa bàn dài 80km, khiến cho mục tiêu phá hoại hậu phương Phú Thọ, hút chủ lực ta về giao chiến không thể thực hiện được, trong khi tiếp tế hậu cần gặp nhiều khó khăn1 (Việc tiếp tế cho 30.000 quân lên Phú Thọ đã thu hút hầu hết lực lượng vận tải của địch, trong lúc tập đoàn cứ điểm Nà Sản đang hình thành và yêu cầu không quân phải tiếp tế hàng ngày), tư tưởng quân lính mệt mỏi, thực dân Pháp buộc phải kết thúc cuộc hành quân sớm hơn dự kiến.
Dự đoán được âm mưu của địch, ngày 9 tháng 11, Bộ Tổng tư lệnh đã điều Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) từ chiến trường Tây Bắc về hậu phương Phú Thọ chiến đấu tiêu diệt sinh lực địch. Trung đoàn đã nhanh chóng vượt qua 200km đường rừng núi, kịp thời phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh triển khai phương án tác chiến.
Ngày 14 tháng 11, khi biết địch bắt đầu rút khỏi Đoan Hùng theo đường số 2, Ban chỉ huy Mặt trận Phú Thọ cùng Ban chỉ huy Trung đoàn 36 lập kế hoạch tổ chức trận địa phục kích trên quốc lộ số 2, đoạn Chân Mộng - Trạm Thản. Đêm ngày 16 tháng 11 năm 1952, 3 trung đội của Đại đội 310 (Tiểu đoàn 72 bộ đội địa phương Phú Thọ) phối hợp với du kích dẫn đường cho các tiểu đoàn của Trung đoàn 36 lần lượt chiếm lĩnh trận địa phục kích. Ngoài ra, Tiểu đoàn 72 còn bố trí Đại đội 319 phục kích ở Phú Hộ. Đại đội 315 ở Phú Lộc, cùng du kích địa phương đánh cản đường, tạo thời cơ để bộ đội chủ lực tiêu diệt địch.
Các trận địa phục kích của ta từ hai bên đường độc đạo sẵn sàng nổ súng. 9 giờ 45 phút, khi đoàn xe địch lọt vào trận địa, các loại hoả lực của ta từ đồi cao hai bên đường đồng loạt nhả đạn, đội hình quân dịch bị cắt thành đôi, những toán đi đầu thoát chết chạy về phía Phú Hộ. Từ triền đồi, bìa rừng, bộ đội nhanh chóng tràn xuống đường đánh giáp lá cà, dùng thủ pháo diệt cơ giới của địch. Sau 30 phút chiến đấu, hàng trăm tên địch đã bị loại khỏi vòng chiến đấu, 1 xe tăng bị phá hủy. Thừa thắng xốc tới, quân ta truy kích địch đến gần Phú Hộ, phá huỷ 13 xe cơ giới, diệt và bất sống thêm nhiều tên địch. Kết quả sau một ngày chiến đấu quyết liệt, với tinh thần dũng cảm, mưu trí, ta đã diệt và bắt hơn 400 tên địch, phá huỷ 44 xe cơ giỏi, trong đó có 17 xe tăng, xe bọc thép, thu nhiều quân trang quân dụng của địch. Phát huy thắng lợi, bộ đội ta tiến hành truy kích địch ở vùng Phú Hộ, núi Voi, núi Chò, núi Quyết,... diệt thêm 180 tên, bắt 7 tên, đưa tổng số quân địch bị tiêu diệt hơn 600 tên.
Bị thiệt hại nặng nề, ngày 25 tháng 11 năm 1952, Bộ chỉ huy quân Pháp phải lệnh cho Đờ Linarét rút lui, hủy bỏ cuộc hành quân Lorén. Sau gần một tháng tiến quân lên Phú Thọ, cuộc hành binh đầy tham vọng của thực dân Pháp đã bị thất bại thảm hại. Được chuẩn bị kỹ càng, được sự trợ giúp của bộ đội chủ lực, quân dân Phú Thọ đã làm thất bại âm mưu phá hoại hậu phương, đỡ đòn cho đồng bọn trên núi rừng Tây Bắc của địch, tạo điều kiện cho quân và dân ta tiếp tục phát triển tiến công. Thắng lợi đó là một đóng góp to lớn của quân dân Phú Thọ với chiến dịch Tây Bắc.
Những chiến công trên Mặt trận Phú Thọ đã cổ vũ mạnh mẽ, góp phần động viên quân ta trên chiến trường chính Tây Bắc, đấy mạnh tiến công, đập vỡ khu vực phòng ngự ở Mộc Châu của địch, giải phóng Sơn La (trừ Nà Sản), vùng tự do ở Tây Bắc đã chiếm 80% đất đai và 350.000 dân. Từ đây trở đi Tây Bắc đã trở thành căn cứ địa, nối liền với căn cứ địa Việt Bắc, là cơ sở vững chắc cho cuộc kháng chiến. Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc đã góp phần quan trọng giữ vững và phát triển thế chủ động chiến lược của cuộc kháng chiến.
Trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch, quân và dân Phú Thọ đã huy động 134.190 người, góp hơn 3 triệu ngày công, cung cấp và vận chuyển gần 2.500 tấn gạo, 40 tấn muối, 275 con trâu, bò và hàng trăm con lợn thịt, hơn 300 chiếc thuyền, tu sửa 200km đường giao thông, bảo đảm giao thông thông suốt. Cùng với đó, lực lượng vũ trang và nhân dân Phú Thọ cũng đã sát cánh cùng bộ đội chủ lực tiến hành nhiều trận đánh, giành được những thắng lợi quan trọng. Bộ đội địa phương, dân quân, du kích tỉnh đã tác chiến 176 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 856 tên địch, trong đó có 402 tên bị tiêu diệt, đã bảo vệ được kho tàng của Nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân1 (Lịch sử vũ trang nhân dân tỉnh Phú Thọ (1945-2005), Nxb Quân đội nhân dân. H. 2007. tr. 118). Phá tan âm mưu tìm diệt bộ đội chủ lực và phá hậu phương kháng chiến của địch. Như vậy, trong chiến dịch Tây Bắc quân dân Phú Thọ không chỉ làm tròn vai trò "hậu phương trực tiếp chuẩn bị chiến trường" mà còn góp phần kiềm chế, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, hoàn thành tốt nhiệm vụ "phối hợp với chiến dịch Tây Bắc".
Phát huy thắng lợi chiến thắng Tây Bắc, quân dân Phú Thọ đẩy mạnh thi đua lập công, tiếp tục đóng góp sức người sức của cho cuộc kháng chiến. Từ năm 1953 đến đầu năm 1954, hàng chục vạn lượt thanh niên và nhân dân Phú Thọ đã xung phong và có mặt trên các tuyến đường 13, 41, bạt núi, xẻ đồi, mở đường nối căn cứ địa Việt Bắc với Tây Bắc và vùng tự do Liên khu 3. Trong chiến dịch mở đường lên Tây Bắc, nhân dân Phú Thọ đã đóng góp gần 2.5 triệu ngày công, làm mới 82 cầu, 352 km đường; đã huy động hơn 9 vạn dân công với tổng số 4,2 triệu ngày công, 937 xe đạp thồ, 1.377 thuyền mảng phục vụ các mặt trận. Để chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ, toàn tỉnh lại huy động hàng vạn dân công, động viên hơn nghìn thanh niên nhập ngũ, nhân dân trong tỉnh đóng góp hơn nghìn xe đạp thồ, trên 3.000 thuyền mảng, 87 xe trâu, trên 4 nghìn tấn gạo và hàng trăm tấn thực phẩm... đã có hàng nghìn con em Phú Thọ ngã xuống trên các chiến trường, trên các cung đường vận chuyển. Đó là sự hy sinh, là đóng góp to lớn của quân và dân Phú Thọ vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp1 (Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên, Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến thắng Điên Biên Phủ, mốc vàng lịch sử chân lý thời đai, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2004. tr. 258. 259).
Phát huy truyền thống anh dũng kiên cường, khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ, trong những năm kháng chiến chống Mỹ, quân và dân Phú Thọ lại làm tốt vai trò hậu phương, tiếp tục chi viện sức người, sức của, cùng quân dân miền Bắc đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, cùng cả nước hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Hoàn thành nhiệm vụ đánh giặc, giữ nước, quân dân Phú Thọ ra sức thi đua, xây dựng quê hương giàu đẹp. Sau hơn 20 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, quê hương Phú Thọ đã có nhiều khởi sắc nhanh chóng vượt qua khó khăn, thử thách để giành được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội. GDP bình quân đầu người năm 2011 đạt 14,5 triệu đồng, tăng 4,8 lần so năm 2000 và tăng 2.7 lần so năm 2005. Cơ cấu kinh tế đã có sự dịch chuyển tích cực. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư với tốc độ nhanh. Bộ mặt nông thôn đã có nhiều khởi sắc. Lĩnh vực văn hóa - xã hội có những tiến bộ trên nhiều mặt; sự nghiệp giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển, hệ thống trường lớp được quan tâm đầu tư xây dựng. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ vượt bậc, chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên.
Tiếp tục đổi mới và phát triển, quân và dân Phú Thọ nỗ lực phấn đấu thực hiện thành công mục tiêu: giữ vững an ninh, quốc phòng trên địa bàn, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 12 - 13%/năm để đến năm 2015 GDP bình quân đầu người đạt 1.500 - 1.600 USD, tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa Phú Thọ cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp.
Tự hào với những thành tích đà đạt được trong chiến dịch Tây Bắc, với truyền thống được dựng xây trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng, quân và dân Phú Thọ sẽ hoàn thành được mục tiêu trên, thực hiện thành công nhiệm vụ đã được Đại hội đại biểu lần thứ XVII của Đảng bộ tỉnh xác định, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #106 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2025, 08:21:58 pm » |
|
ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC LAI CHÂU VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952 LÒ VĂN GIÀNG Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu Cách đây 60 năm, vào Thu Đông năm 1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã mở chiến dịch tiến công lên Tây Bắc và giành thắng lợi to lớn. Chiến dịch Tây Bắc 1952 đã góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta phát triển lên một giai đoạn mới mang tính quyết định. Chiến thắng của chiến dịch Tây Bắc 1952 đã trở thành một sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc ta. Đầu năm 1951, địch liên tục mở các cuộc càn quét vào các khu du kích của ta, càn đến đâu chúng dồn dân về ở sát đồn để dễ kiểm soát nhằm cô lập dân với cán bộ và bộ đội, thực hiện kế hoạch "tát cạn nước để bắt cá". Chúng đốt phá nhà cửa, phá hoại hoa màu, giết hại cán bộ, bộ đội và trung kiên của ta. Cùng với khủng bố, địch còn giở các thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc bọn cầm đầu ở các địa phương, xây dựng tổ chức phản động có vũ trang ở địa phương để phá hoại cơ sở của ta. Trước tình hình đó, ngày 27 tháng 7năm 1952, Trung ương Đảng ra nghị quyết tách 4 tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai trong Liên khu Việt Bắc, thành lập Khu 20 (tiền thân của Khu Tây Bắc), tạo điều kiện để Trung ương chỉ đạo địa phương được thuận lợi, nhanh chóng và trực tiếp hơn. Liên khu ủy Việt Bắc đã san sẻ cán bộ cũng như hỗ trợ các mặt cho Khu 20. Thực hiện phương châm tác chiến: "Tránh chỗ mạnh, đánh vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu". Tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng nhân dân và một phần đất đai ở Tây Bắc, phá tan "Xứ Thái tự trị" của địch, tạo đà tiến lên giải phóng hoàn toàn vùng Tây Bắc. Trong chiến dịch này, hơn 3 vạn bộ đội, dân công được điều lên Tây Bắc để chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Để chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết về chính sách vận động dân tộc thiểu số. Ngày 1 tháng 10 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ dân chủ cộng hòa Việt Nam" với các nội dung chính như sau: 1. Bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. 2. Bảo vệ nghề nghiệp làm ăn của nhân dân. 3. Tịch thu tài sản của bọn giặc Pháp và bọn phản quốc. 4. Bảo vệ đền chùa, nhà thờ, trường học, nhà thương và các cơ quan văn hóa xã hội khác. 5. Thưởng người có công, phạt người có tội. 6. Giữ gìn trật tự và trị an. 7. Nhân dân, đặc biệt là nông dân, nên tổ chức lại. 8. Bảo vệ tính mạng, tài sản của kiểu dân nước ngoài. Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Ban cán sự Đảng Lai Châu đã tổ chức cho nhân dân các khu tranh đấu học tập, giúp đồng hào yên tâm, tin tưởng vào chế độ, ổn định sản xuất và xây dựng cuộc sống mới. Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng, Khu ủy 20 đã kịp thời chỉ đạo các tỉnh khẩn trương chuẩn bị chiến trường phục vụ chiến dịch Tây Bắc. Khu ủy 20 đề ra nhiệm vụ trọng tâm của toàn Khu cuối năm 1952 là: "Động viên toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân vùng tự do cũng như vùng bị tạm chiến, huy động mọi khả năng nhân, vật lực ở Tây Bắc để phục vụ cho chiến dịch Tây Bắc". Thực hiện nhiệm vụ của Khu ủy 20 đề ra. Ban cán sự Đảng Lai Châu có chủ trương "Đẩy mạnh và củng cố cơ sở chính trị và cơ sở vũ trang để đảm bảo cho nhu cầu quân sự trước mắt". Được Trung ương và Khu ủy 20 tăng cường cán bộ, Ban cán sự Đảng Lai Châu đã điều động hơn 100 cán bộ, bộ đội do đồng chí Trần Quốc Mạnh chỉ huy, chia làm 5 đợt tiến vào nội tỉnh để phục hồi cơ sở chính trị và vũ trang, tích cực chuẩn bị chiến trường đón bộ đội vượt sông Đà sang tiêu diệt địch. Dưới sự chỉ đạo của Khu ủy 20, tỉnh đã phối hợp với Trung đoàn 148 do đồng chí Vũ Lập chỉ huy thảo luận kế hoạch chung phục vụ cho chiến dịch. Ban cán sự Đảng Lai Châu đã phân công: đồng chí Hoàng Bắc Dũng chịu trách nhiệm chung, đồng chí Hoàng Hoa Thưởng cùng hai trung đoàn 148 và 165 sang Tuần Giáo để phối hợp hoạt động và xây dựng bộ đội địa phương, thay mặt Ban cán sự Đảng tỉnh giải quyết mọi công việc trong nội địa, giúp đỡ số cán hộ của Điện Biên làm nhiệm vụ gây dựng lại cơ sở, đồng chí Trần Quốc Mạnh phụ trách huyện Quỳnh Nhai để xây dựng căn cứ. Sự quyết tâm của Ban cán sự Đảng Lai Châu, tinh thần tận tụy vượt qua mọi gian lao vất và của cán bộ, đảng viên hoạt động trong lòng địch, cùng với sự hỗ trợ của các cán bộ, bộ đội mới được tăng cường đã tiếp sức nhanh chóng để phục hồi và phát triển các cơ sở mới chuẩn bị cho chiến dịch. Sau khi nhận được chỉ thị của Khu ủy 20 về việc chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc, Ban cán sự Đảng Lai Châu đã cử cán bộ vào 2 huyện Tuần Giáo, Quỳnh Nhai để truyền đạt nghị quyết của Trung ương Đảng về mở chiến dịch Tây Bắc và phổ biến chủ trương công tác chuẩn bị cho chiến dịch. Một mặt đưa cán bộ quân sự vào củng cố, xây dựng dân quân, du kích ở các xã Vinh Quang, Thống Nhất, Quyết Tiến A, Quyết Tiến B, mặt khác, điều một trung đội bộ đội chủ lực của tỉnh phối hợp với giao thông mở con đường hành quân từ Sa Pa đi Quỳnh Nhai vào Sình Hồ. Ban chỉ huy Tình đội dân quân và một trung đội vào hoạt động tại Quỳnh Nhai, trưng dụng một số cán bộ trong văn phòng Ban cán sự Đảng tỉnh đi phục vụ chiến dịch, chuẩn bị nếu có điều kiện sẽ chuyển văn phòng vào nội địa (hiện đang ở Lào Cai). Điều động các đồng chí trước đây sang phối hợp hoạt động với huyện Than Uyên và Phong Thổ về để vào nội tỉnh hoạt động. Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc mở màn, đợt 1 ta tấn công Phân khu Nghĩa Lộ và Tiêu khu Phù Yên giành thắng lợi, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn. Phối hợp với các mũi tiến công, Tiểu đoàn 910 từ Lào Cai tiến xuống giải phóng Quỳnh Nhai. Đến ngày 26 tháng 10 năm 1952. sau 13 ngày chiến đấu, bộ đội ta đã quét sạch địch ở khu vực giữa sông Thao và sông Đà, từ Vạn Yên lên tới Quỳnh Nhai. Đợt 1 kết thúc, Lai Châu có huyện Quỳnh Nhai được giải phóng. Đợt 2 của chiến dịch, quân ta vượt sông Đà đánh vào Mộc Châu, Yên Châu dồn quân địch co cụm lại khu vực Nà Sản. Cánh quân vu hồi của ta gồm Trung đoàn 165, Tiểu đoàn 910 và bộ đội địa phương tỉnh Yên Bái, Lai Châu do đồng chí Bằng Giang chỉ huy vượt sông Đà, thọc sâu vào Quỳnh Nhai đánh vào phía sau lưng địch ở bắc Sơn La và nam Lai Châu. Trung đoàn 148 được nhân dân đôi bờ sông Đà trong đó có xã Huổi Só huy động tới 50 chiếc thuyền để chở bộ đội qua sông. Ngoài ra, nhân dân còn huy động hàng trăm con ngựa giúp bộ đội, dân công vận chuyển vũ khí, đạn dược và hăng hái đưa đường cho bộ đội bao vây, đánh tan Tiểu đoàn ngụy số 56 ở ngã ba Nậm Dín, bắt sống tên quan ba Pháp Đuyrăng. Ngày 17 tháng 11 năm 1952, Trung đoàn chiếm được Luân Châu. Ngày 20 tháng 11 năm 1952, giải phóng Tuần Giáo, truy kích địch qua cầu Nậm Mức sát thị trấn Lai Châu, một bộ phận tiến lên Sình Hồ đuổi địch về phía huyện lỵ. Ngày 30 tháng 11 năm 1952, Tiểu đoàn 542 tiến về giải phóng Điện Biên, bắt sống thiếu tá Giăng Xica. Đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, chiến dịch đã kết thúc thắng lợi, đại bộ phận Tây Bắc được giải phóng với 28.500km 2 và 25 vạn dân. Căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng và củng cố thêm vững chắc. Ta đã tiêu diệt được 6.000 tên địch, phá tan âm mưu lặp "Xử Thái tự trị" của địch. Dưới sự lãnh đạo của Ban cán sự Đảng Lai Châu, cán bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã tích cực tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đã đóng góp cho chiến dịch 1.595 tạ gạo, 93 tạ ngô, 21 tạ thóc, 21 tạ thịt bò, 38 tạ thịt lợn, 5 con trâu, 20 con bò, 31 con lợn và 130 tạ rau. Đã có 2.243 người đi dân công từ 1 đến 15 ngày, huy động được 100 con ngựa để vận chuyển lương thực, thực phẩm. Tỉnh Lai Châu có 3 huyện được giải phóng hoàn toàn là Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Điện Biên, phần lớn huyện Sình Hồ và một phần huyện Châu Lai cũng được giải phóng. Địch chỉ còn đóng ở Mường Bum, Mường Tè, thị trấn Lai Châu, huyện lỵ Sình Hồ và một số điểm quanh huyện. Có thể khẳng định, hầu hết các vùng trong tỉnh được giải phóng trong chiến dịch Tây Bắc có ý nghĩa rất quan trọng đối với Lai Châu. Bởi đây là lần đầu tiên đại bộ phận nhân dân các dân tộc Lai Châu được giải phóng, thoát khỏi ách nô lệ, lầm than, đứng lên làm chủ vận mệnh của mình. Vùng tự do của Lai Châu đã được nối liền với căn cứ địa Việt Bắc và các tỉnh của Khu 20 tạo thành một thế liên hoàn vững chắc. Cũng từ đây sự chỉ đạo của Trung ương, của Khu ủy 20, sự hỗ trợ của các chiến trường các tỉnh bạn đối với Lai Châu đã được thuận lợi hơn. Thắng lợi của chiến dịch đã khẳng định những đóng góp to lớn của quân và dân các dân tộc Lai Châu, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao, góp phần tạo thế và lực cùng nhân dân cả nước đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. 60 năm qua, kể từ khi chiến dịch Tây Bắc thắng lợi, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân các dân tộc Lai Châu đã một lòng, một dạ tuyệt đối trung thành với Đảng, đang tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của chiến dịch Tây Bắc lịch sử, cần cù trong lao động sản xuất, dũng cảm trong chiến đấu, vượt qua vô vàn khó khăn, thứ thách, tập trung đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhất là sau 8 năm chia tách và thành lập tỉnh Lai Châu mới. Phát huy thành tựu, tiếp nối truyền thống cách mạng, nắm chắc thời cơ, vượt qua khó khăn thách thức, Đảng bộ, nhân dân các dân tộc Lai Châu tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tập trung phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, bảo đảm quốc phòng - an ninh, đưa Lai Châu cơ bản ra khỏi tình trạng kém phát triển.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #107 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2025, 08:26:00 pm » |
|
LIÊN KHU 3 PHỐI HỢP VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952 Thiếu tướng PHẠM HỒNG HƯƠNG Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 3 Tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, trong đó xác định đồng bằng Bắc Bộ là hướng chiến lược quan trọng. Liên khu 3 được Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy giao nhiệm vụ: "Tăng cường hoạt động để phối hợp với chiến trường chính Tây Bắc, kìm giữ lực lượng địch không cho chúng tiếp viện lên Tây Bắc hoặc đánh ra vùng tự do, đồng thời lợi dụng những điều kiện thuận lợi mới do hoạt động của ta ở hướng chính tạo nên; đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng địch hậu, chống càn quét, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tranh thủ mở rộng khu du kích, căn cứ du kích; tăng cường địch vận, ngụy vận, phá tề trừ gian, chống gián điệp, phá âm mưu của địch dùng chính trị và kinh tế kết hợp với quân sự để bình định từng vùng quan trọng ở địch hậu" 1 (Bộ Tổng tham mưu, Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, tập 3, Nxb Quân đội nhân dân. H 1963. tr. 365). Để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo chiến trường, Trung ương Đảng chí định Ban chỉ đạo mặt trận phía nam đồng bằng gồm các đồng chí trong Thường vụ Liên khu ủy và đồng chí Văn Tiến Dũng, Bí thư Đảng ủy Đại đoàn 320; đồng chí Lê Chưởng, Bí thư Đảng ủy Đại đoàn 304; đồng chí Lê Thanh Nghị, Bí thư Liên khu ủy kiêm Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 3 làm Trưởng ban chỉ đạo mặt trận. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy giao, Liên khu ủy 3, Khu ủy Tả Ngạn đã tổ chức quán triệt, đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo các hoạt động phối hợp tác chiến với chiến trường chính Tây Bắc, tiếp tục giữ vững và thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích đồng bằng Bắc Bộ. Để phối hợp với chiến trường chính Tây Bắc, về mặt hậu cần, Liên khu 3 và Liên khu 4, chủ yếu là Thanh Hóa và các tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình được giao nhiệm vụ bảo đảm vật chất cho chiến dịch khi chiến dịch phát triển đến Sơn La. Từ đồng bằng Liên khu 3 đã hình thành con đường vận chuyển chính Nho Quan - Vụ Bản - Hòa Rình - Suối Rút dài 130 km. Chủ yếu là dân công mang vác, thuyền nan, xe trâu đưa gạo và thực phẩm lên phục vụ chiến trường. Về mặt quân sự, cùng với việc giữ bí mật, ta tổ chức nghi binh trên 2 hướng: trung du và Liên khu 3. Lực lượng dân công Liên khu 3 được huy động tu sửa cầu đường, làm đường bí mật, chuẩn bị thuyền mảng, lập kho, tìm vị trí tập kết cho bộ đội, huy động dân công và tổ chức hành quân rầm rộ nghi binh. Từ ngày 10 tháng 9 năm 1952, hai đại đội công binh tu sửa cầu, làm đường qua Tu Vũ, Hòa Bình xuống Liên khu 3. Bộ còn điều 1 đại đội trinh sát xuống hoạt động ở vùng Ninh Bình thực hiện hoạt động nghi binh theo chủ trương của chiến dịch. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy giao, Ban chỉ đạo mặt trận phía nam đồng bằng quyết định sử dụng Đại đoàn 320 và Trung đoàn 48 tác chiến trên hướng chính Ninh Bình, Nam Định; Trung đoàn 64 tác chiến trên hướng Hà Nam; Trung đoàn 46 hoạt động ở Hà Đông; Trung đoàn 52 hoạt động ở Thái Bình; Trung đoàn 42 hoạt động ở Hải Dương, Hưng Yên. Quyết tâm của Ban chỉ đạo mặt trận là chuẩn bị lực lượng và chiến trường chu đáo, sử dụng kết hợp cả ba thứ quân đánh mạnh, đánh liên tục, đánh cả ở tuyến ngoài và ở trong lòng địch. Trước mắt đánh vào tuyến đường 10 vừa thực hiện các đòn đánh tập trung tiêu diệt từng đơn vị, từng bộ phận địch. Sau đó, vừa đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát triển tiêu hao địch rộng khắp, vừa tác chiến tranh thủ củng cố xây dựng lực lượng, củng cố địa bàn đứng chân để đánh được liên tục, lâu dài. Công tác phòng gian, giữ bí mật và thực hiện nghi binh được thực hiện tốt nên đến trước ngày nổ súng địch vẫn không biết ta đánh Tây Bắc, mà nghĩ ta sẽ đánh đồng bằng. Cho đến cuối tháng 9 năm 1952, khi ta tiếp tục nghi binh trên hướng trung du, địch điều lực lượng 2 binh đoàn cơ động (GM1, GM2) lên càn quét và điều Binh đoàn cơ động số 4 (GM4) từ Nam Định xuống chặn Cầu Cổ (Ninh Bình), điều 2 tiểu đoàn từ Hà Nội xuống chặn Phủ Lý. Đến lúc đó, địch vẫn đinh ninh hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch Thu Đông 1952 của ta ở đồng bằng Bắc Bộ. Cùng với các động thái trên, địch tổ chức cho một số đơn vị nhỏ lẻ tổ chức càn phá cơ sở của ta ở các khu du kích, nhất là tại các khu du kích của các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, nơi chúng nghi hướng chính của ta trong Thu Đông 1952. Trong khi cơ động hoạt động địch tung tin sẽ càn phía nam Nam Định, cho nhiều tay sai bắt liên lạc với bọn phản động để chuẩn bị, đồng thời tranh thủ lập và củng cố các ban tể, sử dụng ngụy quân tăng cường tuần tiễu, phục kích, sục sạo phá cơ sở chung quanh nơi đóng quân hay trên các đường giao thông. Các hoạt động trên đã gáy cho ta khó khăn nhất định trong việc chuẩn bị. Đêm ngày 8 tháng 10 năm 1952, trong khi trên hướng chiến trường chính Tây Bắc, các đại đoàn chủ lực ta và lực lượng vũ trang Liên khu 10 còn đang tiến vào cài thế, tạo thế, thì tại miền đồng bằng châu thổ quân và dân Liên khu 3, Khu Tả Ngạn và các đại đoàn 304, 320 bắt đầu nổ súng tiến công địch. Mở màn là trận tiến công cứ điểm Bích Đào (một vị trí then chốt của địch trên đường 10) tiêu diệt 1 đại đội lính Âu - Phi. Tiếp theo là hàng loạt các trận phục kích đánh chặn địch ở Hà Nam, Thái Bình, gây cho địch nhiều thiệt hại. Phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích trên toàn vùng đồng bằng Bắc Bộ đồng loạt đẩy mạnh các hoạt động quân sự, chính trị, binh địch vận. Thực hiện bao vây tiêu diệt các đồn bốt địch, phá tề, trừ gian, xây dựng, củng cố cơ sở chính trị. Chỉ trong 6 ngày đầu của chiến dịch, bộ đội địa phương, dân quân du kích Hà Nam đã đánh 30 trận, diệt 143 tên địch, bắt sống 58 tên, phá 8 xe quân sự và liên tục vây hãm, uy hiếp một loạt các cứ điểm của địch. Ở các hướng khác, bộ đội chủ lực phối hợp cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích cùng đẩy mạnh hoạt động gây cho địch nhiều tổn thất. Trước hoạt động mạnh của ta trên đồng bằng châu thổ sông Hồng, địch buộc phải tăng cường lực lượng cơ động ứng cứu. Ngày 14 tháng 10 chiến trường chính Tây Bắc nổ súng, địch mới phát hiện ra hướng hoạt động chính của ta trong Thu Đông 1952. Chúng vội vã ngừng tiếp viện quân cho nam đồng bằng mà tập trung lực lượng mở cuộc hành quân Loren đánh lên Phú Thọ hòng chia sẻ lực lượng, gây khó khăn cho ta, đỡ đòn cho Tây Bắc. Để đánh lạc hướng phán đoán của ta, trước khi rút cơ động đi, địch tung tin đánh Nho Quan, Vụ Bản rồi thọc sâu ra vùng tự do của ta ở Ba Vì và chuyển vận nghi binh trên đường số 1, 21,... Kiên quyết thu hút, căng kéo lực lượng địch góp phần chặn đứng cuộc tiến công của địch ra vùng tự do trung du, hậu phương trực tiếp của chiến dịch Tây Bắc, quân dân vùng đồng bằng Bắc Bộ dồn dập tiến công tuyến phòng thủ đường số 10, đẩy mạnh tiến công vùng sau lưng địch. Đặc biệt, ngày 8 tháng 11, ta tấn công tiêu diệt Yên Lộc Thượng (Kim Sơn), Giang Nai (Yên Mô), chặn viện trên đường giao thông. Ngày 13, 14 tháng 11 ta tấn công Phát Diệm, diệt vị trí Cầu Xanh, bức rút 7 vị trí ở xung quanh Phát Diệm, uy hiếp mạnh ở mặt Ninh Bình. Địch lúng túng gom quân tiếp viện Ninh Bình thì sơ hở Nam Định, ta tiếp tục diệt và bức rút một số vị trí ven đường số 21 và 52, đánh viện, cắt tiếp tế giữa Nam Định và Bùi Chu, uy hiếp phía nam Nam Định. Từ cuối tháng 11, Ban chỉ đạo mặt trận phía nam đồng bằng quyết định điều động thêm Trung đoàn 48 vào Nam Định cùng Trung đoàn 9 và lực lượng địa phương đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động sau lưng địch. Đại đoàn 304 (thiếu) vẫn bám chắc đường số 10 tiếp tục hoạt động ở vòng ngoài. Trong khi đó, các chiến trường khác trên khắp đồng bằng Bắc Bộ cũng đẩy mạnh phối hợp với Tây Bắc, gây cho dịch nhiều khó khăn, lúng túng. Trước tình hình bị đánh mạnh trên cả các chiến trường phía trước và sau lưng, để tránh bị bao vây, tiêu diệt, thực dân Pháp quyết định bãi bỏ cuộc hành quân Loren, rút bớt các đồn lẻ ở Tây Bắc, tập trung lực lượng co cụm lại thành một tập đoàn cứ điểm ở Nà Sản. Tại đồng bằng Bắc Bộ, được tăng cường thêm lực lượng từ Mộc Châu, Phú Thọ co về, chúng tập trung 21 tiểu đoàn cùng lực lượng xe tăng, xe lội nước, tàu chiến mở cuộc hành quân càn quét Brơtanhơ đánh vào miền nam Nam Định nhằm tiêu diệt, đẩy lùi chủ lực của ta ra khỏi địa bàn, xóa bỏ căn cứ du kích, bắt thanh niên bổ sung quân, củng cố hệ thống phòng thủ miền nam đồng bằng của chúng. Trong thời gian tiến hành trận càn Brớtanhơ, ở các nơi khác, lực lượng cơ động và quân ngụy địa phương cũng phối hợp càn nhổ ven các trục giao thông (Hà Đông), yểm trợ cho lực lượng tại các vị trí bị vây (Hà Nam), mở tới 11 trận càn lớn nhỏ (lực lượng từ 1 đến 3 tiểu đoàn) vào chung quanh Phát Diệm, khu du kích Yên Khánh nhằm bảo vệ Phát Diệm và ngăn chặn sự chuyển vận của ta giữa Nam Định với bên ngoài.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #108 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2025, 08:27:20 pm » |
|
Về phía ta, ngay khi địch vừa tổ chức trinh sát và dân quân tạo thế chuẩn bị mở càn lớn, Ban chỉ đạo phía nam đồng bằng đã gấp rút vạch kế hoạch đánh trả địch và chỉ đạo các lực lượng vũ trang trên chiến trường theo dõi chặt chẽ mọi hành động của chúng để kịp thời đối phó. Ban chỉ đạo mặt trận chỉ đạo quân và dân phía nam đồng bằng bám sát địch. Các đơn vị chủ lực và bộ đội địa phương tỉnh chủ động, tích cực tiến công tiêu diệt địch. Bộ đội địa phương huyện và du kích xã được lệnh phát triển cách đánh du kích tiêu hao địch, hết sức tránh lối đánh cô thú, bị động, vừa đánh vừa luồn tránh thoát vây, không cho địch "cất vó". Dân quân du kích ở Ninh Bình, Hà Nam, Thái Bình,... phải đánh mạnh ở vòng ngoài để phối hợp và thu hút phân tán lực lượng địch.
Giai đoạn đầu từ ngày 1 đến ngày 8 tháng 12 năm 1952, địch tiến đánh 2 huyện Trực Ninh, Nam Trực (Nam Định). Do địch bao vây rộng nên toàn bộ Trung đoàn 48 và bộ đội địa phương tỉnh Nam Định đều lọt vào vòng càn. Sau khi tổ chức một số trận đánh quyết liệt gây cho địch một số thiệt hại, Trung đoàn 48 luồn càn chuyển sang vùng khác hoạt động, bộ đội địa phương và dân quân du kích 2 huyện tiếp tục bám địa bàn đánh địch.
Giai đoạn 2 địch chuyển lực lượng sang càn Xuân Trường, Giao Thủy, tiếp đến Hải Hậu (Nam Định) rồi chuyển sang bắc sông Ninh Cơ. Địch tập trung cơ động càn từng vùng nên phía sau địch sơ hở, mặt khác do bị thất bại liên tiếp nên tinh thần binh lính địch dao động. Đây là điều kiện để lực lượng vũ trang ta tấn công tiêu diệt địch. Trong khi đó, các lực lượng vòng ngoài, chấp hành nhiệm vụ của Ban chỉ đạo mặt trận giao, đã đánh mạnh vào tuyến chiếm đóng của địch, buộc chúng phải đưa một số đơn vị đang tiến hành cuộc hành quân Brơtanhơ đi đối phó.
Gần một tháng đánh trả cuộc hành quân Brơtanhơ của địch (ngày 1 đến cuối tháng 12-1952), mặc dù bị một số thiệt hại1 (Quân Pháp đốt hơn 5.000 nóc nhà, hơn 1.000 tấn thóc, bắt và giết hàng nghìn trâu bỏ, bắt đi hơn 3.000 thanh niên), nhưng quân và dân ta đã kiên quyết bám sát địa bàn tiêu diệt địch, đánh bại mục đích của cuộc hành quân của chúng. Chủ lực ta bảo toàn được lực lượng, trụ vững trên chiến trường và phối hợp cùng các lực lượng tại chỗ tiến công địch khắp nơi. Các căn cứ du kích đứng vững và mồ rộng, san phẳng và bức rút nhiều đồn bốt địch, buộc chúng phải kết thúc cuộc hành quân trong khi phòng tuyến sông Đáy và đường 10 vẫn ở tình trạng rạn nứt nghiêm trọng.
Từ sự phối hợp chặt chẽ giữa chiến trường chính Tây Bắc với chiến trường đồng bằng Bắc Bộ cho thấy sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt về chiến lược của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy. Trong gần 3 tháng thực hiện chiến dịch Thu Đông 1952, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt trong việc lựa chọn chiến trường chính Tây Bắc2 (Tháng 4 năm 1952, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 đã đánh giá: Các chiến dịch vừa qua như chiến dịch Trần Hưng Đạo (chiến dịch Trung Du), chiến dịch Hoàng Hoa Thám (chiến dịch Đường số 18). chiến dịch Quang Trung (chiến dịch Ha - Nam - Ninh) tiến hành ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, tuy lực lượng ta trưởng thành, lớn mạnh, nhưng ở đây địch phát huy sức mạnh binh khi kỹ thuật. Vì thế, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc trong Thu Đông 1952, chiến trường rừng núi quan trọng duy nhất còn lại ở Bắc Bộ, nơi ta có điều kiện phát huy ưu thế). Chiến trường chính mở, lực lượng địch bị thu hút, bị sơ hở trên chiến trường đồng bằng. Đây là điều kiện, thời cơ thuận lợi cho quân và dân Liên khu 3, Khu Tả Ngạn phát triển chiến tranh du kích, tích cực tiêu diệt địch, củng cố và mở rộng các căn cứ du kích. Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định kịp thời việc địch đánh lên trung du để ứng cứu Tây Bắc, nên đã chỉ thị cho cácđịa phương nắm vững thời cơ, đẩy mạnh hoạt động diệt địch phối hợp với chiến trường chính.
Trên chiến trường Liên khu 3, Trung ương Đảng và Tong Quân ủy kịp thời chỉ đạo thành lập Ban chỉ đạo mặt trận nam đồng bằng để chỉ đạo lực lượng vũ trang tiến hành các hoạt động phối hợp với chiến trường chính một cách thống nhất, chặt chẽ và hiệu quả. Nhờ tinh thần chủ động, kiên quyết, phối hợp hoạt động có hiệu quả của lực lượng vũ trang ba thứ quân. Từ việc chuẩn bị chiến trường cho chủ lực mau chóng, sẵn sàng cơ sở cho chủ lực tạm trú tương đối đầy đủ, là điều kiện phát triển và củng cố các khu du kích, căn cứ du kích, nhất là căn cứ du kích Hà Nam, khu du kích bắc và nam Nam Định.
Trong suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ phối hợp Mặt trận Tây Bắc, Liên khu ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu 3, trực tiếp là Ban chỉ đạo mặt trận phía nam đồng bằng Bắc Bộ đã kiên quyết thực hiện đúng sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, đẩy mạnh chiến tranh du kích phối hợp với tác chiến của các đơn vị chủ lực, buộc địch phải căng kéo lực lượng, bị động đối phó trên khắp chiến trường đồng bằng, không có điều kiện gom quân tiếp ứng cho Mặt trận Tây Bắc. Đặc biệt, đã thực hiện tốt công tác nghi binh chiến lược, đồng thời tiến hành có hiệu quả chiến thuật vây điểm, diệt viện (chuyển một lực lượng chủ lực vào uy hiếp Nam Định, Phát Diệm, buộc địch viện để bố trí diệt viện). Khi địch đánh lên trung du, Ban chỉ đạo điều thêm một lực lượng vào Nam Định uy hiếp Bùi Chu, phối hợp chặt chẽ với chiến trường Tây Bắc, buộc địch rút quân từ trung du về đối phó. Do đó, địch đã bị thu hút và thiệt hại ở chiến trường Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, quân vàdân liên khu có điều kiệnđẩy mạnh hoạt động phối hợpvới chiến trường chính. Trong chiến dịch Thu Đông 1952, phối hợp cùng chiến trường chính Tây Bắc, quân và dân Liên khu 3 lập thành tích xuất sắc đánh 1.290 trận, tiêu diệt 1.915 tên địch (chết 3.453 tên, bị thương 821 tên, bắt 604 tên, 37 tên ra hàng)1 (Nếu kể cả chủ lực, ta đánh 1.328 trận (trừ 304 trận chưa có thống kê và Nam Định chưa thống kê hết), diệt 9.793 tên địch).
Cùng với các hoạt động quân sự, quân và dân Liên khu 3, Liên khu 4 (chủ yếu là Thanh Hóa và Ninh Bình, Hòa Bình) đã huy động nhiều dân công, phương tiện vận chuyển được 5.254 tấn gạo, 54 tấn muối, 5 tấn thịt, 12 tấn thực phẩm phục vụ chiến dịch. Những đóng góp trên thiết thực góp phần trực tiếp làm nên chiến thắng trong chiến dịch Thu Đông 1952 của quân và dân ta trên chiến trường Tây Bắc.
Chiến thắng Tây Bắc 1952 là một thắng lợi lịch sử có ý nghĩa quan trọng, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta tiến lên một bước mới: giữ vững và phát huy quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, đẩy địch lún sâu vào thế bị động chiến lược, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng một bộ phận đất đai, phá âm mưu thâm độc của thực dân Pháp lập "Xứ Thái tự trị", phá vỡ "bình phong" che chở cho địch ở Thượng Lào. Chiến thắng Tây Bắc 1952 còn là bài học lịch sử sâu sắc về phối hợp tác chiến trên chiến trường chính và vùng sau lưng địch.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #109 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2025, 08:34:05 pm » |
|
QUÂN VÀ DÂN VIỆT BẮC VỚI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC NĂM 1952 Trung tướng BẾ XUÂN TRƯỜNG Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Tư lệnh Quân khu I Sau chiến dịch Hòa Bình, ta đã giành lại quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, Trung ương Đảng quyết định chọn hướng chiến lược lên Tây Bắc. Trước khi thực hành chiến dịch lớn, từ giữa năm 1952, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở đợt chỉnh huấn trong toàn quân. Các đơn vị chủ lực luân phiên ra vùng tự do trên địa bàn Việt Bắc để chỉnh huấn. Đầu tháng 9 năm 1952, với chủ trương tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc với quyết tâm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng Tây Bắc, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, giữ vững đường giao thông quốc tế Lào Cai - Vân Nam (Trung Quốc). Trong chiến dịch Tây Bắc, Liên khu Việt Bắc có nhiệm vụ bảo vệ vững chắc khu căn cứ địa của Trung ương và cung cấp sức người, sức của phục vụ chiến dịch. Tiến hành kế hoạch nghi binh, đẩy mạnh tác chiến vùng sau lưng địch. Mở rộng các khu căn cứ du kích, buộc chúng phải phân tán lực lượng đối phó, không thể chi viện cho hướng chính hoặc đánh ra vùng tự do; đồng thời tăng cường công tác địch vận, tiễu phỉ, phá tề, trừ gian, củng cố cơ sở dọc biên giới, tập trung ở vùng Lao - Hà (Lào Cai, Hà Giang), Lạng Sơn, Móng Cái (Quảng Ninh). Căn cứ vào nhiệm vụ trên giao, Bộ Tư lệnh liên khu đã xây dựng kế hoạch tác chiến Thu Đông 1952-1953, dự kiến các tình huống và có phương án chiến đấu cụ thể, đặc biệt chú ý hai hướng địch có thể tiến công là Thái Nguyên và Bắc Giang. Để bảo vệ căn cứ kháng chiến, bảo vệ cơ quan đầu não lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, các đơn vị chủ lực của liên khu và lực lượng vũ trang các địa phương Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang đã xây dựng, chuẩn bị chu đáo kế hoạch, dự kiến các tình huống, đề ra các phương án chiến đấu sát thực. Trước hết để làm trong sạch địa bàn, bảo đảm cho các đơn vị chủ lực bí mật cơ động từ căn cứ địa Việt Bắc ra tiền tuyến và cho lực lượng dân công vận chuyển tiếp tế cho chiến dịch, Bộ Tư lệnh liên khu đã chỉ đạo 4 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang và Tuyên Quang tổ chức tiễu phỉ trừ gian trong vòng 5 tháng liền. Kết quả, ta đã tiêu diệt hàng trăm tên và bắt được một số tên đầu sỏ, lực lượng còn lại rất hoang mang, dao động và rời đi nơi khác hoạt động, tai mắt của địch hầu như bị vô hiệu hoá. Chính vì vậy, chúng ta đã giữ được bí mật trong suốt quá trình chuẩn bị và thực hành chiến dịch. Như Bécna Phôn đã viết về tình hình chiến dịch như sau: "Các sư đoàn Việt Minh ngay trước mắt người Pháp đang Làm chủ trên không, đã vượt qua 180 dặm trong 6 tuần liền mà chẳng phải dùng đến một con đường bay hay một xe cơ giới nào... 1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân.H.2006). Trong xây dựng thế trận Chiến tranh nhân dân, Bộ Tư lệnh liên khu đặc biệt chú trọng thế cài xen kẽ giữa bộ đội chủ lực của liên khu và lực lượng vũ trang địa phương, nhằm chia địch ra mà đánh, trói địch lại mà diệt. Liên khu chỉ đạo các đơn vị, địa phương thực hiện một kế hoạch nghi binh lớn. Các trung đoàn 238, 246 đổi phiên hiệu là đại đoàn 316, 308, mở rộng địa bàn hoạt động khắp các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, phối hợp cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích tăng cường đánh địch trên nhiều hướng. Các đơn vị chủ lực của liên khu ngoài nhiệm vụ bảo vệ vững chắc căn cứ kháng chiến theo kế hoạch đã định, còn điều động một số đơn vị về các địa phương trọng điểm hỗ trợ lực lượng địa phương tiêu diệt các đồn bốt, ngăn chặn địch tiến công theo các phương án dự kiến. Đầu tháng 10 năm 1952, Liên khu Việt Bắc đã hoàn thành việc triển khai nhiệm vụ cho các địa phương, đơn vị: Tiểu đoàn 181 thuộc Trung đoàn 246 và 1 đại đội của tỉnh Thái Nguyên hoạt động hỗ trợ các huyện Kim Anh, Đa Phúc, Bình Xuyên (Vĩnh Phúc) đề phòng địch đánh lên Thái Nguyên. Tiểu đoàn 431 thuộc Trung đoàn 238 vượt đường 18 vào nam Bắc Ninh. Các tiểu đoàn 432, 433 thuộc Trung đoàn 238 đứng chân ở Việt Yên (Bắc Giang) sẵn sàng thay thế các đơn vị vùng hậu địch và để phòng địch đánh lên hướng tây Bắc Giang và đường 1. Bộ đội địa phương và dân quân du kích tỉnh Hải Ninh đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền ở vùng tam giác Bình Liêu, Đình Lập, Tiên Yên. Đặc khu Hòn Gai tổ chức hoạt động vũ trang ở Uông Bí, đầu mối đường 18. Tiểu đoàn 143 thuộc Trung đoàn 246 phối hợp bộ đội địa phương hữu ngạn sông Lô, hoạt động nghi binh làm giả Trung đoàn 88 của Đại đoàn 308, bí mật tiếp cận bàn đạp trên hướng chủ yếu chiến dịch tại Nghĩa Lộ. Những hoạt động nghi binh và làm nhiễu loạn tin tức đã góp phần đánh lạc hướng phán đoán của địch. Lo sợ ta tiến công đồng bằng Bộ chỉ huy Pháp vẫn phải bố trí một lực lượng đáng kể trong tổng số 32 tiểu đoàn cơ động tinh nhuệ để phòng thủ trên tuyến trung du. Trong điều kiện địa bàn hoạt động rộng, việc bảo đảm thông tin liên lạc gặp nhiều khó khăn, Bộ Tư lệnh và các cơ quan phải phân tán hoạt động trên các hướng trọng điểm. Tư lệnh Lê Quảng Ba và đoàn cán hộ cơ quan kiểm tra và chỉ đạo tác chiến trên hướng Bắc Giang. Chính ủy Chu Văn Tấn và đoàn cán bộ cơ quan kiểm tra và chỉ đạo tác chiến trên hướng Vĩnh Phúc. Tham mưu trưởng Đoàn Thế Hùng cùng đoàn cán bộ cơ quan kiểm tra và chỉ đạo tác chiến trên hướng Bắc Ninh. Nhờ tổ chức chỉ huy và chỉ đạo chặt chẽ, quân và dân liên khu đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tác chiến Thu Đông 1952 - 1953, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng tham gia chiến dịch Tây Bắc. Khi Đại đoàn 308 nổ súng tiến đánh Phân khu Nghĩa Lộ mở màn chiến dịch, địch đã kéo các đơn vị cơ động lên Tây Bắc. Để đánh bại âm mưu, thủ đoạn của địch phối hợp với chiến trường chính, các lực lượng vũ trang liên khu đã tổ chức đánh địch ở nhiều nơi, xây dựng và phát triển thêm nhiều khu du kích tạo thế uy hiếp các tuyến đường phía bắc Hà Nội. Tại Bắc Ninh, Bắc Giang, các đơn vị bộ đội địa phương dựa vào nhân dân tăng cường quấy rối, tiêu hao sinh lực dịch tại nhiều vị trí trên dọc các trục đường 18, 38, 13; đẩy mạnh phong trào "Lấn vành đai trắng". Các tiểu đoàn 432,433 thuộc Trung đoàn 238 của liên khu phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh mạnh vào các trung tâm chính trị, quân sự của địch ở Lạng Giang, Sen Hồ, Thái Đào, Ngô Khẽ, Võ Giàng, Cầu Do. Đầu tháng 12 năm 1952, Tiểu đoàn 20 pháo binh liên khu đưa súng cối vào sát thị xã Bắc Ninh, tập kích nhiều vị trí đóng quân của địch, diệt gần 100 tên, phá hỏng hai khẩu pháo 105mm và nhiều khí tài khác. Các phân đội nhỏ bộ đội địa phương cùng dân quân du kích chủ động tiến công tiêu diệt các tháp canh, đồn bốt bảo an nhỏ lẻ; tích cực chặn đánh địch ở các bốt đi lùng sục càn quét; phá tề trừ gian trong hậu địch. Giữa tháng 12 năm 1952, sau khi cố gắng vơ vét, thu gom được hai tiểu đoàn, có máy bay, pháo binh và 9 xe tăng yểm trợ, địch càn vào khu du kích Gia Lương. Lực lượng ta ở đây chỉ có 2 trung đội địa phương huyện và dân quân du kích vẫn chiến đấu kiên cường, đánh bật 8 đợt xung phong của giặc, diệt 72 tên. Nhiều khu du kích ở sau lưng địch được xây dựng và phát triển, nhất là ở các huyện Gia Lương, Thuận Thành, Gia Lâm, Từ Sơn (Bắc Ninh) và Lạng Giang (Bắc Giang). Nhiều đội du kích còn tổ chức vũ trang tuyên truyền vào các làng tề, móc nối gây cơ sở, xây dựng phong trào đấu tranh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|