Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:26:29 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)  (Đọc 31254 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #20 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2024, 10:13:02 pm »


Để nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, Chính phủ ra sắc lệnh quy định cấp bậc, quân hiệu quân phục, đổi tên Vệ quốc đoàn thành Quân đội quốc gia Việt Nam.

Thực hiện sắc lệnh của Chính phủ, lực lượng vũ trang các tỉnh Khu 4 được kiện toàn về tổ chức, đứng chân trên các địa bàn chiến lược quan trọng của tỉnh để sẵn sàng đối phó với âm mưu của địch.

Ở Thanh Hóa, trung đoàn 77 có ba tiểu đoàn bộ binh 319, 355, 375. Mặt trận miền tây có hai đại đội 73 và 71. Ở Nghệ An, trung đoàn 57 có ba tiểu đoàn bộ binh 346, 265, 418. Mặt trận Quỳ Châu có hai đại đội 58, 62. Mặt trận đường 7 có tiểu đoàn 265. Khu tăng cường tiểu đoàn tiếp phòng quân cho Huế. Ở Hà Tĩnh, trung đoàn 103 có ba tiểu đoàn bộ binh 377, 460, 453. Mặt trận đường số 8 có tiểu đoàn 453. Ở Quảng Bình, tiểu đoàn Lê Trực (274) có sáu đại đội, đại đội 6 phụ trách mặt trận Ba-na-phào. Ở Quảng Trị, trung đoàn Thiện Thuật có ba tiểu đoàn 13, 14, 15. Mặt trận Đường số 9 có tiểu đoàn 13. Ở Thừa Thiên, trung đoàn Cao Vân có bốn tiểu đoàn 16, 17, 18 và tiểu đoàn tiếp phòng quân Huế.

Các trung đoàn đều có trung đội hay đại đội trực thuộc như công binh, trợ chiến, thông tin, trinh sát.

Khu còn có một đại đội vệ binh, một đại đội pháo binh, thiết giáp. Khu tăng cường cho Huế một khẩu 75 mi-li-mét, cho Vinh một khẩu 37 mi-li-mét.

Cán bộ của các đơn vị chủ lực của Khu được bồi dưỡng, đào tạo ở Trường quân sự Nhượng Bạn, tuy nhiên trình độ chỉ huy tác chiến còn hạn chế.

Lực lượng dân quân tự vệ và du kích do các tỉnh đội, huyện đội, xã đội, khu đội tổ chức chỉ huy. Dân quân tự vệ chia làm hai loại: tự vệ chiến đấu thoát ly, tập trung lên huyện, thành phố, thị xã; dân quân tự vệ không thoát ly hoạt động ở cơ sở (xã, khu phố, xí nghiệp, cơ quan, trường học...). Ở Thanh Hóa, Nghệ An, mỗi tỉnh có từ bốn đến năm đại đội tự vệ tập trung. Các tỉnh khác, mỗi tỉnh có khoảng hai đại đội. Ở cơ sở, dân quân tự vệ không thoát ly có từ một đến hai tiểu đội hoặc từ một đến hai trung đội, tùy theo số dân và yêu cầu quân sự từng nơi.

Cơ quan bộ chỉ huy khu có các phòng tham mưu, chính trị, hậu cần, văn phòng, tòa án quân sự và năm đại đội trực thuộc (cảnh vệ, thông tin, công binh, pháo binh, vận tải), đáp ứng những yêu cầu cấp bách của công tác chỉ đạo, chỉ huy.

Lực lượng công an các tỉnh được tăng cường và mở rộng phạm vi hoạt động về cơ sở nông thôn, đồng thời tiến hành thành lập các quận công an, mỗi quận được giao phụ trách một số huyện, thị xã, phát triển các mạng lưới điệp báo viên, trinh sát viên và biệt động đội ở các thôn xã.

Bên cạnh công tác tổ chức xây dựng lực lượng, việc nâng cao chất lượng toàn diện cả về chính trị, quân sự, cung cấp của các đơn vị và việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội đều được coi trọng.

Đảng bộ khu quân sự có hệ thống tổ chức từ quân khu ủy đến chi bộ đại đội, cơ quan. Khu bộ có liên chi cơ quan tham mưu — chính trị — hậu cần, trung đoàn có trung đoàn ủy, liên chi cơ quan trung đoàn bộ. Tiểu đoàn có tiểu đoàn ủy gồm nhiều chi bộ hoặc một chi bộ. Đại đội có chi bộ (cũng có đại đội chưa thành lập được chi bộ, chỉ có một vài đảng viên sinh hoạt ghép với chi bộ khác).

Song song với hệ thống tổ chức đảng, có hệ thống cán bộ chính trị và cơ quan công tác chính trị, đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị. Cấp khu và trung đoàn có chính trị ủy viên. Cấp tiểu đoàn, đại đội có chính trị viên. Cơ quan cấp khu có phòng chính trị, trung đoàn có ban chính trị, tiểu đoàn có tiểu ban chính trị, đại đội có trợ lý chính trị.

Các hình thức sinh hoạt đảng được duy trì có nền nếp. Công tác phát triển đảng được coi trọng (thời gian này toàn khu có 1.072 đảng viên, tỷ lệ lãnh đạo đạt khoảng 10 phần trăm).

Công tác giáo dục chính trị, các hình thức tuyên truyền cổ động, các hoạt động văn hóa, văn nghệ sôi nổi phong phú. Trung đội có báo liếp, báo tường. Hàng tuần, đại đội tổ chức sinh hoạt văn nghệ, tập múa, hát, ngâm thơ kể chuyện, diễn kịch... Đội ngũ cán bộ được chấn chỉnh tăng cường. Những biểu hiện tư tưởng tác phong quan liêu, quân phiệt bị nghiêm khắc phê phán. Những cán bộ không đủ phẩm chất và năng lực dần dần được thay thế.

Trong hoàn cảnh tình hình kinh tế của đất nước còn nhiều khó khăn thiếu thốn, nhưng Đảng, Chính phủ và nhân dân quân tâm đặc biệt đến đời sống vật chất, tinh thần của quân đội, Bộ Quốc phòng quy định phụ cấp cấp bậc và thâm niên cho quân nhân. Chính phủ thành lập Ủy ban «mùa đông binh sĩ». Nhân dân các địa phương Khu 4 đã chăm lo đời sống bộ đội, hăng hái nhiệt tình đóng góp tiền bạc, vải, len, may chăn màn, áo trấn thủ và gửi quà bánh, thực phẩm cho chiến sĩ, nhất là ở tiền tuyến, ở các vùng biên giới miền tây, các đảo và các đồn tiền tiêu hẻo lánh. Gia đình quân nhân được chính quyền và nhân dân địa phương động viên giúp đỡ. Hội mẹ chiến sĩ nhận nhiều cán bộ chiến sĩ làm con nuôi. Quán quân nhân được tổ chức ở nhiều vùng (Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa) cho bộ đội đi công tác qua vào ăn nghỉ không phải trả tiền.

Để tăng cường trang bị vũ khí cho các đơn vị, tháng 9 năm 1946, Ban chỉ đạo khí giới các địa phương Khu 4 được nhập vào hệ thống quân giới toàn quốc thành Ty quân giới Khu 4, phụ trách chế tạo và sửa chữa vũ khí toàn khu. Đồng chí Phan Trọng Quang được cử làm trưởng ty, đồng chí Phạm Mỹ Vinh làm phó trưởng ty.

Các xưởng ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình được củng cố và xây dựng lớn hơn, bảo đảm sản xuất và sửa chữa các loại vũ khí, đáp ứng một phần yêu cầu của lực lượng vũ trang, cung cấp kịp thời cho các mặt trận. Đến cuối tháng 9, xưởng Đội Quyên (Quảng Trị) mỗi tháng sản xuất được hàng trăm quả lựu đạn. Nhiều công nhân đã tận tụy dũng cảm quên mình vì nhiệm vụ. Hai đồng chí Nguyễn Đình Dục và Nguyễn Xuân Huân ( xưởng Cao Thắng — Thanh Hóa) hy sinh; đồng chí Trần Hòa (xưởng Đội Quyên - Quảng Trị) bị thương cụt tay trong lúc thử lựu đạn vừa chế tạo xong.

Cũng tháng 9, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên quyết định sáp nhập hai xưởng Ngọc Lâm và Phú Lâm thành một xưởng, rồi chuyển về khu an toàn, chuẩn bị đối phó với tình hình chiến tranh có thể xảy ra.

Địch ngày càng vi phạm trắng trợn hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng ba. Các cuộc thương lượng đàm phán với Pháp không đạt kết quả. Thực dân Pháp tiếp tục mở rộng chiến tranh ở Việt Nam. Quân đội pháp lấn chiếm nhiều vùng ở các tỉnh phía bắc, tăng cường khiêu khích ở Hà Nội, đổ quân trái phép lên Đà Nẵng1, điều quân từ Lào tăng cường cho các vị trí của chúng ở miền tây Khu 4, nhất là ở vùng đường số 9 (Quảng Trị), đưa thêm nhiều đơn vị quân đội từ bên Pháp sang Đông Dương.
______________________________________________
1. Hiệp định quân sự quy định cho Pháp đưa quân tiếp phòng vào Đà Nẵng là 225. Đến ngày 9-12-1946 Pháp lại đổ bộ trái phép thêm 800 lính lê-dương nữa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #21 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2024, 10:14:21 pm »


Ngày 19 tháng 10, Hội nghị quân sự toàn quốc họp dưới sự chủ tọa của đồng chí Trường-Chinh đã nhận định: «Nhất định không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình nhất định cũng sẽ đánh Pháp».

Để chuẩn bị đối phó với chiến tranh, ngày 19 tháng 10 năm 1946 Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định thống nhất Quân ủy hội và Bộ Quốc phòng thành Bộ Quốc phòng —Tổng chỉ huy. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được cử giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng chỉ huy quân đội. Đảng và Nhà nước phân chia cả nước thành 12 chiến khu. Trung ương điều chỉnh cán bộ chỉ huy các khu quân sự trong toàn quốc. Đồng chí Lê Thiết Hùng, tổng chỉ huy tiếp phòng quân được cử làm Khu trưởng, đồng chí Trần Văn Quang làm Chính trị ủy viên, đồng chí Hoàng Điềm làm Tham mưu trưởng Chiến khu 4, ta giải thể ủy ban phòng thủ các cấp và lập ủy ban kháng chiến từ xã đến khu. Đồng chí Hồ Tùng Mậu được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Khu 4. Theo sự chỉ đạo của Khu ủy, Ủy ban kháng chiến và Bộ chỉ huy chiến khu, các tỉnh, một số huyện tích cực xây dựng các khu căn cứ, tổ chức lại lực lượng bảo vệ biên giới, phòng thủ bờ biển, củng cố lực lượng công an, xây dựng dân quân tự vệ và tiếp tục kiện toàn các đơn vị quân đội.

Tháng 12 năm 1946, các tỉnh mở hội nghị quân, dân, chính, đảng bàn kế hoạch kháng chiến. Mọi địa phương, mọi ngành chú ý theo dõi sát tình hình cả nước, tăng cường nắm tình hình hoat động của địch trong và ngoài địa phương, động viên tổ chức nhân dân chuẩn bị bước vào kháng chiến. Nhiều nơi bắt đầu thực hiện chủ trương quân sự hóa toàn dân. Tất cả nam, nữ đều vào dân quân. Nhiều cụ già cũng xung phong gia nhập các đơn vị lão dân quân. Trẻ nhỏ và người già ở hai bên đường số 1 được di chuyển chỗ ở. Việc tu sửa đường sá, chuẩn bị phương tiện vận chuyển tiếp tế được triển khai tích cực. Nhiều địa phương huy động vũ khí trong dân, rèn thêm giáo mác để trang bị cho dân quân, tự vệ; tổ chức tập trận giả, cắm chông ở các bãi trống, canh phòng bờ biển, lập danh sách bọn phản động để phân hóa, xử lý làm trong sạch địa bàn và sẵn sàng đánh địch nhảy dù và tập kích bờ biển.

Tình thế sắp xảy ra chiến tranh ngày càng tăng; trong các ngày 15 đến 19 tháng 12 năm 1946, quân Pháp liên tục nổ súng, ném lựu đạn tàn sát đồng bào, khiêu khích công an, tự vệ và bộ đội ở Hà Nội. Chúng còn gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí của tự vệ và công an, đòi ta để cho chúng trị an trong thành phố và đe dọa “đến sáng 20 tháng 12, những điều đó không được chấp nhận thì quân Pháp sẽ chuyển sang hành động».

Trong hai ngày 18, 19 tháng 12 năm 1946, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng ở làng Vạn Phúc (tỉnh Hà Đông) dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi phân tích tình hình mọi mặt, Thường vụ Trung ương Đảng nhận định: âm mưu của Pháp mở rộng chiến tranh nay đã chuyển sang một bước mới, thời kỳ hòa hoãn đã qua, khả năng hòa bình không còn nữa. Nhân dân ta không thể trở lại cuộc đời nô lệ, Trung ương Đảng quyết định phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Chính phủ, tài chèo lái của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu ủy, Ủy ban kháng chiến khu và Bộ chỉ huy Khu 4 đã chỉ thị cho các tỉnh và các đơn vị vũ trang gấp rút chuẩn bị mọi mặt để khi có lệnh, chủ động tiến công địch, trước hết là những nơi có quân Pháp đóng (Huế, Vinh).

Đến đây, nhân dân và các lực lượng vũ trang trong Khu 4 đã sẵn sàng và chủ động bước vào cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, gian khổ và tin tưởng nhất định thắng lợi.

*

*         *

Với một tầm nhìn chiến lược sắc sảo, một trái tim nhiệt huyết, toàn tâm toàn lực về Tổ quốc và đồng bào, một bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên quyết, một đầu óc sáng suốt, minh mẫn và bình tĩnh tuyệt vời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với tập thể Ban chấp hành Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua thời kỳ trứng nước.

Trải qua 16 tháng (8 năm 1945 đến 12 năm 1946), tuân theo lời dạy của Hồ Chủ tịch, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh trực tiếp là Xứ ủy, các Tỉnh ủy, nhân dân và các lực lượng vũ trang Khu 4 phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, vượt qua mọi khó khăn thử thách, xây dựng và bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng non trẻ, xây dựng và phát triển lực lượng về mọi mặt, chuẩn bị sẵn sàng, chủ động cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Chỉ một thời gian ngắn nhưng là thời kỳ lịch sử đặc biệt, nó nối liền giữa Cách mạng tháng Tám với kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược. Thời kỳ lịch sử này vô cùng gay go phức tạp, với những khó khăn thử thách đặc biệt nghiêm trọng. Vượt qua thời kỳ lịch sử đó để tiếp tục đi lên trên con đường giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương, điều cơ bản là cấp lãnh đạo và chỉ đạo từ khu đến các tỉnh và cơ sở ở Khu 4 đã thấm nhuần sâu sắc, vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách, những quan điểm tư tưởng của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trước bao khó khăn chồng chất và những nhiệm vụ nặng nề, phức tạp, cấp bách, lãnh đạo và chỉ đạo các cấp từ khu đến cơ sở luôn luôn biết dựa vào dân, bồi dưỡng sức dân và phát huy sức mạnh của toàn dân, nên Khu 4 đã sớm ổn định được tình hình, tăng cường sức mạnh tổng hợp, kiên quyết, khôn khéo và linh hoạt, loại trừ những kẻ thù nguy hiểm, tập trung đối phó với kẻ thù chủ yếu là thực dân Pháp xâm lược, chủ động sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài.

Cùng với những thắng lợi và thành công lãnh đạo, chỉ đạo trên địa bàn khu, thời kỳ này cũng còn một số khuyết điểm hạn chế như trong xây dựng lực lượng vũ trang có lúc, có nơi chưa chú trọng đúng mức đến chất lượng chính trị, trong đấu tranh chống bọn phản cách mạng chưa thật coi trọng công tác giáo dục, vận động đồng bào Thiên chúa giáo đấu tranh vạch mặt các phần tử phản động đội lốt tôn giáo; trong việc chuẩn bị kháng chiến mặc dù đã chủ động tích cực, nhưng vẫn chưa thật chu đáo, chặt chẽ, ảnh hưởng đến khả năng tác chiến sau này...

Tuy còn những khuyết điểm, nhược điểm, nhưng quân và dân Khu 4 đã vượt qua thời kỳ trứng nước và những khó khăn thử thách hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ quan trọng và cần kíp. Do vậy khi Trung ương Đảng, Hồ Chủ tịch, Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy ra lệnh tiến công thực dân Pháp xâm lược, toàn thể bộ đội và đồng bào Khu 4 đã ở trong tư thế chủ động, sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài với niềm tin tất thắng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #22 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2024, 10:35:39 pm »


CHƯƠNG II

NĂM ĐẦU CUỘC KHÁNG CHIẾN
(19-12-1946 - 4-1948)


Thực dân phản động Pháp bội ước, tăng cường lực lượng đánh chiếm Lạng Sơn, Hải Phòng, khiêu khích Hà Nội. Chúng đã nhiều lần gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí quân đội và công an thủ đô, buộc Chính phủ ta phải đầu hàng.

Ở Khu 4, một bộ phận lực lượng Pháp đóng ở Vinh và Huế.

Tại Vinh, một trung đội 34 tên, do tên thiếu tá Đờ-com-mong và đại úy Mê-tơ-ra-nô chỉ huy và đoàn sĩ quan liên kiểm có 50 Pháp kiều đóng ở sở canh nông, kho Đê-pô, khu ga.

Ở đồn Đạo Ngạn (huyện Thanh Chương) còn có 50 tên gồm công sứ, giám binh, đồn trưởng Pháp bị Nhật bắt giam ngày đảo chính Pháp (9 tháng 3 năm 1945).

Tại Huế, 750 binh sĩ Pháp và 250 kiều dân Pháp có vũ trang (một tiểu đoàn thuộc trung đoàn thuộc địa số 23 và một đại đội cơ giới do tên trung tá Cốt-cơ chỉ huy) đóng trên 20 vị trí ở ba khu vực A, B, C.

Khu A (tả ngạn sông Hương, bắc thành phố).

Khu B (hữu ngạn sông Hương, đông thành phố đến An Cựu, Tràng Tiền).

Khu C (sông đào Phú Cam, ga Huế, ga An Cựu).

Tại miền tây Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, giặc Pháp từ Trung Lào áp sát biên giới Lào — Việt cấu kết với bọn thổ ty, lang đạo phản động, gây cơ sở, chờ thời cơ đánh chiếm những điểm chốt sâu trong nội địa như Hồi Xuân, La Hán (Thanh Hóa), Mường Xén, Quỳ Châu (Nghệ An)...

Mỗi tỉnh ở Khu 4 lúc này có một trung đoàn bộ đội tập trung từ ba đến bốn tiểu đoàn và một số đại đội trực thuộc. Riêng Quảng Bình có một tiểu đoàn.

Thanh Hóa có trung đoàn Đinh Công Tráng (77) do đồng chí Hoàng Tiến Trinh làm trung đoàn trưởng.

Nghệ An có trung đoàn Đội Cung (57) do đồng chí Hoàng Quang Việt làm trung đoàn trưởng.

Hà Tĩnh có trung đoàn 103 do đồng chí Tùng Lâm làm trung đoàn trưởng.

Quảng Bình có tiểu đoàn Lê Trực, do đồng chí Lê Thanh Đồng làm tiểu đoàn trưởng.

Quảng Trị có trung đoàn Thiện Thuật do đồng chí Hùng Việt làm trung đoàn trưởng.

Thừa Thiên có trung đoàn Cao Vân do đồng chí Hà Văn Lâu làm trung đoàn trưởng.

Huế, Thừa Thiên, Nghệ An được tăng cường lực lượng vì đang có quân Pháp đóng.

Theo kế hoạch tác chiến đã được Bộ chỉ huy Khu 4 và Thường vụ các tỉnh ủy Nghệ An, Thừa Thiên thông qua, ta bố trí lực lượng như sau:

Ở Vinh, đại đội 1 thuộc trung đoàn Đội Cung do đồng chí Nguyễn Chấn chỉ huy và đại đội tự vệ Lê Lợi do đồng chí Nguyễn Cận chỉ huy, có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở sở canh nông, kho Đê-pô và khu ga.

Ở Huế, Thừa Thiên, tiểu đoàn 17 trung đoàn Cao Vân do đồng chí Võ Lương làm tiểu đoàn trưởng, đánh địch ở Khu A, tiểu đoàn tiếp phòng quân Thuận Hóa do đồng chí Lê Khánh Khang làm tiểu đoàn trưởng phụ trách đánh Khu B, tiểu đoàn 16 do đồng chí Huỳnh Điểu làm tiểu đoàn trưởng có nhiệm vụ đánh chiếm Khu C. Tiểu đoàn 18 bố trí ở nam Thừa Thiên.

Ngoài ra còn có tiểu đoàn tiếp phòng quân Nghệ An đóng ở phía bắc thành phố Huế cùng với khẩu đội pháo 75 mi-li-mét của trung đoàn Cao Vân làm lực lượng dự bị.

Một đại đội Hà Tĩnh, một đại đội Quảng Bình, một đại đội Quảng Trị, một đại đội của trường quân chính Nhượng Bạn được bổ sung về các tiểu đoàn ở các khu vực A, B, C. Dân quân tự vệ toàn tỉnh Thừa Thiên phục vụ chiến đấu khoảng 10.000 người. Tự vệ thành phố Huế trên 1.000 người.

Để chủ động tiến công quân địch trên toàn chiến trường, theo chủ trương của Trung ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy quyết định:

«Mở đợt tấn công quân địch ở các thành phố, thị xã có địch chiếm đóng, tiêu diệt một bộ phận lực lượng, kìm giữ chúng trong vị trí và đô thị trong một thời gian nhất định, kịp thời chuyển cả nước vào thời kỳ chiến tranh».

Nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng chỉ huy, Khu ủy, Bộ chỉ huy Khu 4 chỉ thị các đơn vị, địa phương tăng cường sẵn sàng chiến đấu cao độ.

Chiều 19 tháng 12 năm 1946 Ủy ban kháng chiến Thừa Thiên họp cán bộ chỉ huy các mặt trận, các huyện. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Bí thư tỉnh ủy phổ biến nhiệm vụ. Mọi người nhanh chóng về vị trí chiến đấu.

Sáng 20 tháng 12 năm 1946, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi đồng bào toàn quốc đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ngày 22 tháng 12 năm 1946 Ban thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị toàn dân kháng chiến.

Lời Hồ Chủ tịch là tiếng gọi thiêng liêng của non sông đất nước, là nguồn động viên cổ vũ mạnh mẽ hàng triệu quân và dân Khu 4 vùng lên, cùng toàn quân và toàn dân giết giặc cứu nước.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #23 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2024, 10:37:06 pm »


I — NHỮNG NGÀY ĐẦU KHÁNG CHIẾN — CHỦ ĐỘNG TIẾN CÔNG ĐỊCH Ở VINH

20 giờ 30 phút ngày 19 tháng 12 năm 1946, Đài tiếng nói Việt Nam thông báo «Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Xin trân trọng mời đồng bào cả nước nghe lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh» (đó là mật lệnh tổng tiến công).

21 giờ 30 phút, đồng chí Hồ Tùng Mậu, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Khu 4 và đồng chí Đào Chính Nam, khu phó, giao nhiệm vụ cho Chính ủy trung đoàn 57 Lê Nam Thắng và Tham mưu trưởng trung đoàn Lê Văn Xứng chỉ huy đơn vị tiêu diệt quân Pháp ở Vinh theo kế hoạch đã định.

23 giờ, ta nổ súng, sau hơn một giờ chiến đấu, bộ đội xung phong chiếm tầng dưới. Địch hoảng sợ rút lên tầng hai, đồng chí Trần Năng Đắc, phó đoàn liên kiểm Việt Nam ra lệnh cho tên đại úy phó đoàn liên kiểm Pháp đầu hàng và tuyên bố nếu không hàng sẽ đốt cháy ngôi nhà. Ta vừa kêu gọi quân địch vừa cho một xe chở xăng, một xe khác chở rơm chạy thẳng vào cổng chính vị trí địch. Để tăng cường sức mạnh chiến đấu, khu điều động thêm cho hướng này hai xe thiết giáp và một khẩu pháo 37 mi-li-mét.

0 giờ 30 phút ngày 20 tháng 12 năm 1946, trước sức mạnh áp đảo của ta, trung đội quân Pháp ở Vinh phải đầu hàng không điều kiện.

Tại sân bay Yên Đại, đại đội do đồng chí Nguyễn Đức Sao chỉ huy, bắt tổ lái và thu chiếc máy bay Mo-ran. Qua hai trận chiến đấu đầu tiên, ta bắt 34 tù binh, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Đó là chiến công đầu xuất sắc của quân và dân Nghệ An hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, được Bộ Tổng chỉ huy biểu dương khen ngợi. Chiến công ấy một lần nữa khơi dậy truyền thống hào hùng Xô-viết Nghệ — Tĩnh kiên cường, tô đậm thêm truyền thống chống ngoại xâm của quê hương, đồng thời tạo một niềm tin vững chắc cho nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân, quyết tâm kháng chiến chống thực dân Pháp.

Bao vây tiến công giặc Pháp ở Huế

Vào những ngày đầu tháng 12 năm 1946, quân Pháp ở Huế tập trung chuẩn bị công sự, dự trữ lương thực để chờ viện binh, phối hợp tấn công đánh chiếm cả Huế, Thừa Thiên.

Chủ trương của ban chỉ huy mặt trận Huế lúc toàn quốc kháng chiến là tích cực tiến công địch, khi có điều kiện cố gắng tiêu diệt.

2 giờ 30 phút ngày 20 tháng 12 năm 1946, tiếng súng tiến công quân Pháp ở Huế bắt đầu. Do có nguyên nhân khách quan và chủ quan, Huế nổ súng chậm 6 giờ 30 phút so với Hà Nội, do đó đã mất yếu tố bí mật bất ngờ.

Công nhân dùng bom phá hủy nhà máy đèn. Đơn vị ở trường kỹ nghệ chiếm ngã Năm, phá một xe jeép và một xe vận tải địch. Đơn vị bố trí ở bến Ngự đánh chiếm khách sạn Thanh Minh, phá hai xe thiết giáp ở đầu cầu Nam Giao. Bộ đội ở An Định Cung đánh vào trường Thiên Hữu và miếu Đại Càn, phá được một xe thiết giáp. Quân Pháp cho hai xe thiết giáp và bộ binh từ trường Thiên Hữu tiến xuống chiếm nhà máy đèn. Chúng lọt vào ổ phục kích, bộ đội giật bom và xung phong tiêu diệt xe và 45 tên Pháp, thu được bốn tiểu liên Tôm-sơn. Chiếc xơ-cút-ca đang chạy qua cầu Ga thì bị ta đánh bom cầu sập. Xe rơi xuống sông. Hai tiểu đội bộ đội ta xung phong vào trường Khải Định, diệt được một số địch, đốt được một kho xăng. Tiểu đội khác đánh vào ty công chính, lần thứ nhất bị đánh bật ra, đánh lần thứ hai có gây cho địch một số thiệt hại. Địch cho xe thiết giáp và bộ binh phản công lại. Cả tiểu đội chiến đấu ngoan cường và hy sinh anh dũng. Các chiến sĩ công binh với những quả bom hàng trăm ki-lô-gam làm bật tung cầu Ga, cầu An Cựu, hai nhịp cầu Tràng Tiền, cắt đứt khu vực Pháp đóng với bên ngoài thành phố.

Sau gần một đêm và một ngày, bộ đội ta đồng loạt tiến công các vị trí địch, đồng chí Hà Văn Lâu và đồng chí Hoàng Lưu chủ trương cho bộ đội, tự vệ cùng nhân dân dựa vào sông Hương, sông An Cựu, đường số 1 dựng chiến lũy, bao vây địch. Quân địch cố thủ trong các vị trí kiên cố, tuy lực lượng địch không nhiều hơn, nhưng là đội quân nhà nghề, có trang bị hiện đại. Lực lượng ta tuy đông nhưng tri thức quân sự có hạn, trang bị lạc hậu, không có vũ khí công đồn, nên hiệu suất chiến đấu thấp.

Trận tiến công đầu tiên nhằm tiêu diệt quân địch tại Huế không thu được thắng lợi hoàn toàn vì lấn cấn trong chủ trương bảo toàn lực lượng nên đã không tập trung ưu thế binh lực để giải quyết dứt điểm mà chỉ đưa một số ít lực lượng, trang bị kém, lại rải ra tấn công phân tán khắp các vị trí nên không tiêu diệt được địch. Tuy vậy, bộ đội, tự vệ, công an, trinh sát và nhân dân thành phố Huế đã nêu cao tinh thần chấp hành triệt để mệnh lệnh «Toàn quốc kháng chiến» của Hồ Chủ tịch, nêu cao tinh thần dũng cảm hy sinh, tiêu diệt được gần 100 tên địch, thu và phá hủy được một số vũ khí, gây cho địch những đòn thất bại đầu tiên, buộc chúng phải cố thủ, chống đỡ bị động và vô cùng căng thẳng.

Để tiếp tục tiêu diệt địch, Ban chỉ huy mặt trận Huế chủ trương chuyển sang bao vây và thu hẹp khu vực chiếm đóng của Pháp, triệt đường tiếp tế, tập kích quấy rối, thành lập những “tiểu tổ cảm tử”, chọn những chiến sĩ thông thuộc địa hình, địa vật trong thành phố, luồn vào lòng địch, liên tục đánh địch, buộc chúng phải thường xuyên đối phó. Quân địch bị bao vây, đạn dược và lương thực thiếu, chúng phải dùng máy bay để tiếp tế. Để cố thủ chờ đợi viện binh, chỉ huy Pháp ra lệnh cho binh lính chúng củng cố công sự, đánh nống ra để nới rộng vòng vây.

Các đêm 21, 22, 23 tháng 12 năm 1946, ta liên liếp tiến công quân địch ở trường Khải Định, hiệu buôn Sáp-phăng-rông, đồn Phan Đình Phùng, nhà Mo-ranh, tiêu diệt một số quân Pháp, phá hỏng hai xe thiết giáp.

Trong trận đột kích vào nhà Mo-ranh đêm 25 tháng 12, 20 chiến sĩ do trung đội trưởng Ngọc chỉ huy, diệt được nhiều địch, bắt hai tù binh. Trời sáng rõ, anh em bị mắc kẹt trong sở công chính. Đơn vị của Ngọc chiến đấu đến 11 giờ, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của giặc Pháp, quân địch hết đạn phải cho máy bay đến thả dù tiếp tế, nhiều chiếc dù rơi trước sân nhà Mo-ranh. Hơn chục tên Pháp bò ra lấy hàng bị giết trước tài bắn tỉa của xạ thủ Lê Văn Minh. Đến 14 giờ, bộ đội ta hết đạn. Quân địch tổ chức phản công, các trận đánh giáp lá cà diễn ra ác liệt. Có chiến sĩ bị địch bắt, tự sát, không chịu đầu hàng. Đồng chí Ngọc cùng 18 chiến sĩ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng (chỉ có đồng chí Lạc bí thương, vượt sông Hương trở về đơn vị). Cái chết anh hùng kiên cường của 19 chiến sĩ trung đoàn Cao Vân đã gây một ấn tượng sâu sắc vào ký ức của nhân dân thành phố Huế trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tham gia các trận chiến đấu này, còn có nhiều em thiếu niên thành Huế nhanh như sóc, ban đêm len lỏi trong lòng địch, leo lên ống máng, bò lên mái nhà, dỡ ngói thả lựu đạn vào giường giặc ngủ, hoặc lấy súng ngắn, tài liệu mật của địch, hoặc truyền đạt mệnh lệnh, dẫn đường cho các đơn vị bộ đội đánh giặc.

Sau 10 ngày đánh địch bằng những đơn vị nhỏ, ban chỉ huy mặt trận thay đổi cách đánh, tập trung lực lượng lớn hơn để chiến đấu, nên đã tiêu diệt được một số vị trí địch.

Đêm 1 tháng 1 năm 1947, các chiến sĩ công binh dùng bốn quả bom đánh vào khách sạn Mo-ranh, sau đó bộ binh xung phong diệt 50 tên, thu tám súng trường, hai tiểu liên, đốt một kho xăng.

Ngày 2 tháng 1, ta tiêu diệt vị trí nhà Mác-bớp, đánh bật địch ra khỏi trường Pen-lơ-ranh. Trong trận tấn công vị trí Đại Càn, ban chỉ huy mặt trận điều khẩu pháo 75 mi-li-mét phối thuộc chiến đấu với tiểu đoàn tiếp phòng quân Thuận Hóa. Vị trí địch bị pháo ta bắn sập, bộ binh xông vào diệt nhiều địch, thu nhiều vũ khí.

Tuy nhiên, do hỏa lực địch mạnh, nhất là dựa vào nhà cửa công sự kiên cố, nên quân Pháp vẫn giữ được các vị trí then chốt trong thành phố. Từ ngày 3 đến ngày 20 tháng 1, quân ta tiếp tục bao vây, tìm nhiều cách đánh như bí mật vào đặt bom, chất rơm, rắc ớt, nổi lửa hun vị trí giặc, nhưng quân Pháp đã đề phòng, tìm mọi biện pháp đối phó, nên đã hạn chế được thương vong. Chúng dựa vào các vị trí kiên cố để cố thủ, bảo toàn lực lượng, chờ viện binh.

Mặc dù khó khăn ác liệt, nhưng với truyền thống chống ngoại xâm oanh liệt của quê hương, sau 50 ngày bao vây quân Pháp tại Huế, quân và dân Thừa Thiên — Huế đã nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, tiêu diệt gần 200 tên địch, bắn rơi một máy bay Mo-ran, phá một đại bác 37 mi-li-mét, thu hai trọng liên 20 mi-li-mét, một ba-zô-ka, một khẩu 12 ly 7, 20 khẩu súng trường và một số quan trang, quân dụng, phá được nhà Pen-lơ-ranh, nhà Mắc-bớp, miếu Đại Càn, một phần nhà Mo-ranh. Tuy ta tiêu hao được một số sinh lực địch và vây hãm chúng gần hai tháng trong thành phố, nhưng không tiêu diệt được quân Pháp ở Huế.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #24 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2024, 10:39:06 pm »


Đánh quân địch đến giải vây Huế, chiếm đóng Thừa Thiên

Để giải vây Huế và sau đó đánh chiếm Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình, nhằm chia cắt Khu 4, chia cắt nước ta ở chỗ chiều ngang hẹp nhất, và cũng là tạo bàn đạp để sau này khi có điều kiện tiến ra đánh chiếm các tỉnh phía bắc Khu 4, ngày 19 tháng 1 năm 1947, một trung đoàn quân viễn chinh Pháp khoảng 3.000 tên phối hợp pháo binh cơ giới từ biển đổ bộ lên Lãng Cô, Tư Hiền. Sau khi chiếm được bàn đạp, quân địch liền chia thành hai cánh, một cánh chính theo đường số 1 đánh ra Huế, một cánh nhỏ đánh vào đèo Hải Vân. Sau đó, địch dùng lực lượng lớn mở nhiều trận tiến công nam Thừa Thiên.

Ta chặn đánh địch quyết liệt ở đèo Hải Vân, Nước Ngọt, đèo Mũi Né, Cầu Hai... Bộ đội phối hợp chiến đấu với dân quân, chôn mìn giữa đèo Phước Tượng, tiêu diệt được nhiều địch. Ngày 25 tháng 1, bộ đội bắn rơi một máy bay.

Sau ba ngày kịch chiến (26, 27, 28 tháng 1), ta gây cho địch nhiều thiệt hại, nhưng hỏa lực địch mạnh nên ta phải vừa chiến đấu vừa rút lui. Ngày 31 tháng 1, quân Pháp tiến tới hữu ngạn sông Truồi. Bộ đội ta giật bom diệt một trung đội địch. Quân địch mở nhiều đợt vượt sông, nhưng đều bị ta đánh lui. Ngày 3 tháng 2, địch cho ba máy bay bắn phá trận địa của ta. Sau đó chúng cho xuồng máy chở quân vượt sông, đồng thời cho một tốp lính bí mật vòng sau lưng quân ta đánh tập hậu, trung đội giữ bờ sông tưởng mình đã bị bao vây, nên đã tự động rút. Do vậy địch vượt được sông Truồi, đánh chiếm được một số vị trí quan trọng. Bộ đội ta tích cực phản công nhưng không thu được kết quả.

Ngày 5 tháng 2, quân Pháp chiếm Hà Úc, Hà Thanh, Cửa Thuận. Bọn địch trong thành phố đánh nống ra bắt liên lạc với bọn ở bên ngoài. Bộ đội ta bị tiến công từ nhiều phía, phải rút khỏi thành phố trong tình trạng bị động nên có bộ phận bị mất liên lạc, có bộ phận bị kẹt trong thành phố.

Quân Pháp lúc này đã đông hơn ta nhiều lần, lại có vũ khí trang bị hiện đại, phối hợp cả thủy, lục, không quân, binh lính, sĩ quan địch có kinh nghiệm của một đội quân đánh thuê nhà nghề. Còn bộ đội ta trang bị thiếu thốn, vũ khí thô sơ, lựu đạn, đạn ít, kém phẩm chất. Cán bộ chỉ huy các cấp hăng hái, dũng cảm nhưng tri thức quân sự rất hạn chế, không nắm vững tương quan lực lượng địch ta, vận dụng cách đánh thiếu linh hoạt, sáng tạo, không chỉ huy được bộ đội, khi bị đánh mạnh, phải rút lui.

Sau khi giải vây Huế, quân Pháp tiếp tục tiến quân ra phía bắc Thừa Thiên. Ngày 7 tháng 2 địch chiếm Lại An (Phú Vang). Ngày 7 tháng 2 chúng tiến ra tới Phú Ốc thì bị quân ta chặn lại. Sáng 10 tháng 2 được sự yểm hộ của máy bay và trọng pháo, địch mới vượt được sông Phú Ốc, ngày 12 tháng 2 chiếm Phò Trạch, ngày 13 tháng 2 chiếm Mỹ Chánh.

Trước đà tiến công của địch, tiểu đoàn 16 phải rút về hữu ngạn sông Hương, chặn đánh địch từ Ngọc Hồ ra Trúc Lâm, An Hòa. Tiểu đoàn 17 chặn đánh địch trên đường số 1 từ bắc An Hòa ra Mỹ Chánh. Tiểu đoàn Thuận Hóa chặn địch từ phía Lại An, Thủy Tú. Phần lớn bộ đội mặt trận Huế lúc này vẫn còn áp dụng lối đánh dàn hàng ngang, bố trí trận địa phòng ngự bị động, bị thương vong nên phải rút lui, cũng có những trận đánh linh hoạt, có hiệu quả như ở Cổ Bưu, Thủy Tú gây cho địch nhiều thiệt hại.

Trước sức tiến công của địch, bộ đội ta bị tổn thất nặng, bị động lúng túng. Có phân đội bị địch tập kích, phải rút lên núi, có bộ phận vứt súng lại trong dân, hoặc chạy ra tận Quảng Trị. Bộ đội mệt mỏi, một số dao động bi quan; Nhân dân hoang mang thiếu tin tưởng.

Sau 25 ngày tiến công, cánh quân lớn của giặc Pháp đã đổ bộ lên nam Thừa Thiên, giải vây được Huế và đánh chiếm Thừa Thiên. Cánh quân này cùng với cánh quân đường số 9 tiến công đánh chiếm Quảng Trị. Thế là mặt trận Huế vỡ.

«Mặt trận Huế vỡ có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Trong đó phải kể đến những sai lầm khuyết điểm về chỉ đạo tác chiến, về chỉ huy chiến đấu của Ban chỉ huy mặt trận và cán bộ cao cấp. Về tư tưởng: muốn giải quyết nhanh lực lượng địch đã có trong thành phố, nhưng trong chỉ đạo cách đánh lại đánh nhỏ lẻ, phân tán, thiếu tập trung và kéo dài liên miên các trận chiến đấu. Mặt khác sợ địch tràn ra tấn công nên đã bố trí phòng ngự và để nhiều lực lượng ở vùng ngoài thành phố, do đó không đủ lực lượng và khả năng để tiêu diệt gọn quân địch.

Cán bộ chỉ huy chưa nắm vững quan điểm kháng chiến toàn dân, toàn diện nên không tổ chức, tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân tham gia chiến đấu, không lập chướng ngại vật, không đào hầm hào và không phát triển du kích chiến tranh để đề phòng khi mặt trận bị vỡ và chiến tranh lan rộng, trái lại đã làm cho dân quá lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi quyết định. Cán bộ còn chủ quan coi thường địch, chiến sĩ cũng bị ảnh hưởng đến tác phong coi thường địch nên thiếu chủ động trong hoạt động tác chiến. Đến lúc mặt trận vỡ, cán bộ, chiến sĩ và cả nhân dân hoang mang, tinh thần khí thế xẹp xuống...

Ngoài ra cũng cần phải thừa nhận rằng: chỉ huy còn quá ấu trĩ, non kém, chưa có kinh nghiệm, vũ khí còn thô sơ, hư hỏng và cũ kỹ, đạn thiếu, lựu đạn không nổ...»1.
______________________________________________
1. Báo cáo tổng kết chiến sự của đồng chí Trần Văn Quang, Chính trị ủy viên Liên khu 4 trong hội nghị quân sự Liên khu tháng 4 năm 1948.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #25 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2024, 10:42:14 pm »


Đánh quân địch tiến công Quảng Trị

Đường số 9 là con đường chiến lược rất quan trọng chạy từ Đông Hà lên Lao Bảo đến Xà-vẳn-nạ-khệt của nước Lào.

Sau khi đánh chiếm nước Lào, bọn chỉ huy Pháp sử dụng trên 1.000 tên, có máy bay, thiết giáp yểm hộ đánh chiếm đường số 9 làm bàn đạp để tiến công Quảng Trị.

Tiểu đoàn 13 thuộc trung đoàn Thiện Thuật phối hợp với dân quân tự vệ các địa phương, tổ chức bố phòng đánh địch trên đường số 9.

Ngày 10 tháng 1 năm 1947, khoảng 500 tên Pháp định vượt sông Xê-băng-phai đánh vào làng Tổng Thuật. Một trung đội bộ đội ta chặn đánh quyết liệt, nên quân địch không qua được sông. Ngày 11 tháng 1, quân địch dùng trọng pháo, máy bay bắn phá dữ dội, rồi lại thúc quân tràn qua sông, nhưng chúng đã phải để lại 30 xác chết. Sau khi vượt sông địch xuyên rừng, vòng ra phía sau đánh Khe Sanh. Tuy địch đánh bất ngờ, nhưng trung đội tự vệ ở đây cùng với các chiến sĩ trạm điều dưỡng tại bệnh xá đã chặn đánh địch, để đồng bào có đủ thời gian thiêu hủy nhà cửa, tản cư. Sau đó ta vừa đánh, vừa rút về Rào Quán. Ngày 12 tháng 1, một bộ phận khác của địch vượt được qua Lao Bảo. Một đại đội của ta chặn đánh diệt hơn 60 tên địch. Đồng thời với hai cánh quan đánh vào Khe Sanh và Lao Bảo, khoảng 200 tên địch vượt qua biên giới Lào — Việt băng rừng qua ngả Tà Rụt tiến tới vùng Ba Lòng.

Ngày 15 tháng 1 địch đánh Rào Quán. Đồng chí Hùng Việt trung đoàn trưởng trung đoàn Thiện Thuật trực tiếp chỉ huy trận đánh. Địa lôi, bom, mìn của ta chôn dầy đặc. Cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 13 bí mật phục kích hai bên đường. Đồng chí Trần Hữu Dực chủ tịch Ủy ban hành chính Trung Bộ lên kiểm tra, trực tiếp góp ý và động viên cán bộ, chiến sĩ phát huy tinh thần quyết thắng, mưu trí, dũng cảm đánh thắng địch. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Địch bị chết, bị thương hơn 100 tên. Chúng phải dừng lại một thời gian để củng cố. Ngày 20 tháng 1 quân địch lại tiến ra Cùa theo dốc Làng Hạ, Xoa. Đại đội Lê Hồng Phong1 phối hợp chiến đấu với một trung đội bộ đội chủ lực diệt hàng chục tên địch. Ngày 23 tháng 1, quân địch tràn vào Cùa, tiểu đoàn 14 của ta rút về Cam Lộ. Chiếm được Cùa, quân Pháp chỉ để một trung đội làm lực lượng nghi binh, còn lại rút lên Mai Lĩnh, đánh Đầu Mầu. Ngày 25 tháng 1, tiểu đoàn 13 chiến đấu quyết liệt, diệt 30 tên địch. Ngày 3 tháng 2, quân ta tắt đường rừng tập kích bất ngờ vị trí Mai Lĩnh, giết thêm một số lính địch. Sau khi bị thiệt hại nặng ở Đầu Mầu, địch phải dừng lại 15 ngày để củng cố.

Cùng với việc chỉ đạo đánh địch trên đường số 9, tỉnh ủy Quảng Trị chủ trương đẩy mạnh giáo dục tuyên truyền nhân dân về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện. Cán bộ, đảng viên thường xuyên bám sát cơ sở, hướng dẫn nhân dân cất giấu của cải, thực hiện vườn không nhà trống, chống địch càn quét. Dân quân tự vệ rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật đánh du kích, nhờ vậy khi địch đến, nhân dân bình tĩnh, hăng hái tham gia đánh địch.

Sau khi lực lượng được củng cố, ngày 13 tháng 2 quân địch đánh chiếm Cam Lộ. Ngày 17 tháng 2 quân Pháp vào Đông Hà.

Đường số 9 dài 84 ki-lô-mét, quân Pháp phải hành quân mất 39 ngày với trên 300 tên bỏ mạng.

Như vậy là một ngày trên đường số 9, giặc Pháp chỉ đi được trên hai ki-lô-mét và phải trả giá tám tên bị giết.

Tiểu đoàn 13 trung đoàn Thiện Thuật chiến đấu anh dũng mưu trí, tiêu diệt một bộ phận binh lực và làm chậm bước tiến của địch.

Cánh quân địch ở Huế, sau khi chiếm được Thừa Thiên, ngày 13 tháng 2 tiếp tục hành quân. Từ bàn đạp Mỹ Chánh, trên 1.500 tên tiến ra Hải Lăng, Triệu Phong. Ngày 16 tháng 2 chúng đánh chiếm thị xã Quảng Trị.

Tiểu đoàn 14 của ta phòng thủ thị xã. Một đại đội bố trí gần nhà ga, chặn đánh địch từ cầu Ga về vườn hoa. Một đại đội bố trí ở làng Tri Bưu. Một đại đội bố trí trên mặt thành nhìn ra phía sân vận động và đường số 1. Để tăng cường lực lượng, Bộ chỉ huy Khu 4 bổ sung đại đội vệ binh do đồng chí Ngô Kiến làm chính trị viên, bố trí ở làng Thạch Hãn. Đồng chí trung đoàn trưởng Hùng Việt trực tiếp chỉ huy trận chiến đấu này.

Nhân dân thị xã đã tản cư, các nhà kiên cố đã được phá hủy. Bom giật, bom treo, mìn, địa lôi được bố trí ở những nơi dự kiến quân địch có thể tập trung.

5 giờ 30 phút ngày 16 tháng 2, khi pháo địch bắn dữ dội vào thành Quảng Trị vừa dứt, bộ binh địch ào ào xông lên, lập tức súng máy của ta nổ giòn giã vào đội hình địch. Địch định chiếm một xóm nhỏ trước làng Thạch Hãn. Từ các giao thông hào, các chiến sĩ vệ binh bám đánh địch. Địch giạt ra phía bên kia đường, vòng qua sân vận động để chiếm những lùm cây và mô đất ở nghĩa địa. Trung đội bố trí ở đây đồng loại nổ súng. Địch phải lùi lại chạy tạt về ngả Tri Bưu. Súng liên thanh của bộ đội ta bố trí ở ngã tư Xuân Tịnh và trên mặt thành quét xuống. Những viên đạn súng cối của ta từ trong thành rơi đúng đội hình địch. Nhiều ngôi nhà chất đầy rơm rạ, củi khô bốc cháy. Giữa làn khói mịt mù, quân ta bám đánh địch ở trường Quảng Đức, ngã tư Xuân Tịnh, quanh khu nhà Tòa sứ. Địch cho xe cơ giới tiến lên, bắn mãnh liệt vào đội hình quân ta, đồng thời bộ binh công kênh nhau nhảy vào thành nội. Quân địch vấp phải lưới lửa dày đặc của ta. Các cỡ súng nổ giòn, mìn địa lôi cũng nổ. Bom từ trên cây rơi xuống, bom từ duới đất nổ tung lên, gần 100 tên địch bị giết. Dưới sự yểm hộ của hai khẩu đại liên đặt ở chùa Phật học, bộ đội ta vừa đánh địch vừa ra khỏi thành phố. Đại đội ở Tri Bưu chống cự mãi đến 16 giờ mới rút về An Tiêm. 20 chiến sĩ trung đoàn Thiện Thuật và tự vệ thị xã nguyện «cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh», xung phong ở lại, dùng lựu đạn diệt thêm nhiều địch, bẻ gãy nhiều đợt xung phong và cuối cùng đã hy sinh anh dũng. Các tiểu tổ cảm tử khác của bộ đội và tự vệ thị xã cố thủ trong các hầm bí mật. Đến ngày thứ ba, bom vẫn nổ trong thành phố. Đánh chiếm thị xã Quảng Trị, hơn 200 tên địch đã bị thiệt mạng; và hàng trăm binh lính bị thương đưa về Huế.

Trận đánh địch tiến công thị xã Quảng Trị là trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao. Nó thể hiện tinh thần quyết đánh và biết đánh, ý chí chiến đấu ngoan cường dũng cảm với cách đánh sáng tạo, sử dụng các loại vũ khí thô sơ linh hoạt của bộ đội và dân quân tự vệ.

Trước chiến công xuất sắc của bộ đội, dân quân tự vệ ở đường số 9 và thị xã, tỉnh ủy Quảng Trị họp ở Tiên Lương nhận định: Quân Pháp còn phải dừng lại một thời gian dài để củng cố lực lượng và vùng mới chiếm đóng, rồi mới tiếp tục đánh chiếm Gio Linh, Vĩnh Linh (Quảng Trị) Tỉnh ủy chủ trương: sử dụng một bộ phận bộ đội ở lại đồng bằng cùng nhân dân kháng chiến. Đến lúc địch đánh ra bắc Quảng Trị, tỉnh ủy mới chuyển về phía tây, lấy khu vực Cùa, Ba Lòng làm căn cứ chỉ đạo kháng chiến lâu dài. Để tiến hành chiến tranh du kích, tỉnh đã bố trí các đơn vị trên các địa bàn trong toàn tỉnh. Tiểu đoàn 15 giữ vùng Hà Trung, Hà Thanh, tiêu hao tiêu diệt địch, làm chậm bước tiến của chúng. Tiểu đoàn 14 phân tán, phối hợp với dân quân tự vệ, vừa chiến đấu vừa xây dựng cơ sở ở huyện Triệu Phong và Hải Lăng. Tiểu đoàn 13 hoạt động ở huyện Gio Linh, Vĩnh Linh. Đại đội Lê Hồng Phong xây dựng cơ sở ở Ba Lòng. Đại đội biệt động của trung đoàn chuyển về hoạt động ở đường số 9, huyện Hướng Hóa.

Thực hiện chủ trương của tỉnh ủy, trong những vùng địch tạm chiếm đóng, các hoạt động nhỏ, lẻ của bộ đội, dân quân gây cho địch nhiều tổn thất. Đêm 20 tháng 2, bộ đội đột nhập phủ Triệu Phong, ném lựu đạn giết năm tên địch. Cũng đêm đó, tấn công nha thương chính, Chợ Sải. Ngày 21 tháng 2, ta phục kích giết ba tên địch ở Phú Vang (Hải Lăng). Ngày 2 tháng 3, biệt động đội Khe Sanh giật mìn phá một xe vận tải, giết ba tên Pháp.

Đúng như dự kiến của tỉnh ủy, sau khi bị thiệt hại nặng, quân Pháp phải dừng lại 34 ngày ở Đông Hà và thị xã Quảng Trị để củng cố lực lượng.

Trong thời gian này, một việc rủi ro đáng tiếc xảy ra, đồng chí Hùng Việt, trung đoàn trưởng trung đoàn Thiện Thuật, người chỉ huy dũng cảm và mưu trí đã hy sinh vì quả đạn pháo 75 mi-li-mét nổ trong khi đồng chí đang trực tiếp hướng dẫn ba chiến sĩ tiểu đoàn 14 biến quả đạn pháo ấy thành những quả mìn để diệt địch. Khu ủy chỉ định đồng chí Trần Sâm làm trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Chưởng làm chính ủy trung đoàn Thiện Thuật.

Ngày 27 tháng 3, cùng với việc cho quân đổ bộ lên Đồng Hới (Quảng Bình), bộ binh địch tiến công chiếm hai huyện Gio Linh, Vĩnh Linh (bắc Quảng Trị). Các đơn vị triển khai nhiệm vụ chiến đấu như kế hoạch đã định. Tiểu đoàn 13 chặn đánh địch trên đường 76, phá hủy một xe tăng ở An Nha, diệt 20 tên. Đêm 28 tháng 3, quân ta tập kích vào Chợ Phiên (Cam Lộ) diệt một số địch, trong đó có một quan tư. Ngày 31 tháng 3 quân địch đánh chiếm Vĩnh Linh. Tiểu đoàn 15 chặn đánh quyết liệt, gây cho địch nhiều thiệt hại.

Đối với đợt tiến công này của địch, trung đoàn Thiện Thuật đã dự kiến đúng và có biện pháp đối phó kịp thời, nên bảo toàn được lực lượng để tiếp tục kháng chiến lâu dài.

Đêm 31 tháng 3, tỉnh ủy, ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh chuyển lên tây Vĩnh Linh rồi xuyên rừng, luồn qua vùng địch, trở lại vùng núi Hải Lăng, Cam Lộ, lấy vùng Ba Lòng làm chiến khu của tỉnh. Trung đoàn bộ và tiểu đoàn 15 rút lên Khe Bò rồi chuyển vào Khe Tăm theo đường rừng cũng trở lại Ba Lòng.

Do chủ trương của tỉnh ủy Quảng Trị và trung đoàn Thiện Thuật đúng đắn nên đã phát huy được tinh thần tích cực tiến công, tiêu hao, tiêu diệt địch, làm chậm bước tấn công của chúng, phát động chiến tranh du kích, giữ gìn lực lượng để chiến đấu lâu dài với địch.
______________________________________________
1. Đại đội dân quân tập trung của tỉnh Quảng Trị.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #26 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2024, 10:45:17 pm »


Chống quân Pháp tiến đánh Quảng Bình

Chiếm được Vĩnh Linh, một mặt địch đóng chốt các điểm chủ yếu ở Gio Linh, Vĩnh Linh (Quảng Trị) , mặt khác chúng cho một cánh quân nhanh chóng tiến ra Lệ Thủy, Quảng Ninh (Quảng Bình), phối hợp với quân địch đổ bộ cửa Nhật Lệ, Thanh Khê đánh chiếm tỉnh Quảng Bình. Khoảng 2.000 tên có tàu chiến, ca nô, máy bay yểm hộ đánh chiếm thị xã Đồng Hới và 500 tên đổ bộ lên Thanh Khê (Bố Trạch).

Để ngăn chặn, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, tiểu đoàn Lê Trực (Quảng Bình) bố trí lực lượng như sau: đại đội 1 phòng thủ thị xã Đồng Hới, đại đội 2 ở Phú Hội (cách thị xã Đồng Hới ba ki-lô-mét), đại đội 3 ở huyện Quảng Ninh, Lệ Thủy, đại đội 4 ở huyện Quảng Trạch, đại đội 5 ở huyện Bố Trạch, đại đội 6 ở phía tây Ba-na-phào (Lào).

6 giờ 30 phút ngày 27 tháng 4, bốn ca nô địch đổ quân lên cửa Nhật Lệ. Hai trung đội bộ đội ta chặn đánh, diệt 10 tên. Quân địch phải rút lui và cho máy bay bắn phá vào trận địa của ta. Sau đó, chúng cho 12 ca nô đổ bộ, có thiết giáp đi cùng, đánh chiếm Tam Tòa. Đồng chí Thanh Đồng tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Lê Trực trực tiếp chỉ huy bộ đội chặn đánh địch. Sau một giờ chiến đấu, đồng chí Thanh Đồng hy sinh anh dũng. Có bộ phận rút lui, nhưng cũng có bộ phận vẫn kiên cường chống cự với địch. Quân địch chiếm Tam Tòa và đến 10 giờ, chúng làm chủ thị xã Đồng Hới.

Tiếp đó, quân địch chia làm hai cánh, một cánh đánh chiếm Lệ Kỳ, Long Đại (huyện Quảng Ninh), một cánh đánh chiếm nhà ga Thuận Lý, Diêm Điền, Đức Phổ, Hữu Cung... Bộ đội và dân quân tự vệ chặn đánh lẻ tẻ, tiêu hao một số sinh lực địch. Một trung đội bố trí ở cầu Rào chiến đấu anh dũng, phá được cầu rồi rút lui. Ở Diêm Điền, bộ đội giết năm tên địch, phá một xe cơ giới. Quân địch từ Thuận Lý đánh lên Phú Quý bị bộ đội và dân quân giội bom phá hủy hai xe jeép, giết sáu tên Pháp.

Để nhanh chóng đánh chiếm Quảng Bình, 11 giờ cùng ngày (27 tháng 3) quân Pháp cho tàu chiến đổ quân lên Thanh Khê, chiếm bàn đạp Lý Hòa để đánh chiếm Hoàn Lão (huyện lỵ Bố Trạch). Ngày 1 tháng 4, quân địch đánh lên Thụ Lộc. Ngày 4 tháng 4 chúng đánh Vạn Lộc, An Tiêm, Hòa Duyệt. Ở Hòa Duyệt bộ đội ta chặn đánh giết bốn tên địch. Ngày 7 tháng 4 quân Pháp đánh chiếm các chốt quan trọng ở đường số 2. Ngày 10 tháng 4 chúng dùng ca nô chở quân ngược dòng sông Gianh đánh chiếm Tiên Lễ, Minh Lễ trên tuyến đường sắt. Ngày 15 tháng 4 chúng vượt sông đánh chiếm Ba Đồn (huyện lỵ Quảng Trạch). Ngày 18 tháng 4 chúng đánh Minh Cầm (huyện lỵ Tuyên Hóa), quân ta chặn đánh quyết liệt, gây cho địch một số thương vong, buộc chúng phải rút về Ba Đồn, Thanh Khê.

Trong đợt chiến đấu này, so sánh tương quan lực lượng địch ta quá chênh lệch, lực lượng ta quá ít, trang bị thô sơ lạc hậu, còn lực lượng địch đông gấp bội, trang bị hiện đại, nên sau 20 ngày quân Pháp đánh chiếm nhiều vị trí quan trọng trên các trục giao thông, các thị trấn, thị xã của Quảng Bình.

Kể từ ngày quân Pháp bị bao vây ở Huế đến khi chúng bắt đầu đánh Quảng Bình, quân và dân Quảng Bình có thời gian trên ba tháng để chuẩn bị kháng chiến, nhưng do không rút kinh nghiệm của Thừa Thiên và Quảng Trị, nên đã để quân Pháp đánh chiếm nhiều vùng thuộc Quảng Bình khá nhanh.

Tham gia mặt trận miền tây — Liên minh chiến đấu Việt – Lào

Căn cứ rừng núi phía tây các tỉnh Khu 4 có giá trị chiến lược rất quan trọng.

Đế quốc Pháp có âm mưu đánh chiếm vùng này làm bàn đạp đánh thốc sau lưng hậu phương ta, chia rẽ giữa người Kinh và người Thượng, giữa hai dân tộc Việt - Lào, bắt thanh niên các dân tộc thiểu số làm bia đỡ đạn cho chúng.

Các lực lượng vũ trang Khu 4 có nhiệm vụ tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, phá thế uy hiếp của chúng đối với miền tây, thực hiện sự liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc Việt - Lào, bảo vệ biên giới, xây dựng củng cố căn cứ địa rừng núi ngày càng vững chắc.

Cùng với ba tiểu đoàn thuộc Khu 2, Khu 3 và Hà Nội, Khu 4 có hai tiểu đoàn và ba đại đội, một tiểu đoàn tăng cường do đồng chí Tổng Thái, trung đoàn phó trung đoàn 77 chỉ huy và tiểu đoàn 265 thiếu của trung đoàn 37 do đồng chí Kỷ làm tiểu đoàn trưởng hoạt động ở đường 7, một đại đội trung đoàn 103 hoạt động ở tây đường 8, đại đội 6 tiểu đoàn Lê Trực ở Ba-na-phào và đội biệt động Quảng Trị ở tây đường số 9.

Phối hợp chiến đấu với bộ đội Khu 4, bộ đội Lào có đại đội người Mẹo ở Noọng Hét, một trung đội ở Mường Dương và một trung đội ở Mường Mô...

Hoạt động ở miền tây, các lực lượng vũ trang Khu 4 vừa tác chiến vừa tuyên truyền vận động nhân dân vạch rõ âm mưu thâm độc của thực dân Pháp, động viên nhân dân miền núi hăng hái tham gia kháng chiến, chống thực dân Pháp. Ngày 21 tháng 2, một đại đội của trung đoàn 103 phối hợp với dân quân huyện Hương Khê tiến công một đại đội địch ở Vũ Quang (Hương Khê), giết 30 tên Pháp và ngụy Lào. Cùng ngày, hồi 4 giờ 30 phút một đại đội khác của trung đoàn 103 phối hợp với dân quân huyện Hương Son và bộ đội Lào đột kích vào đồn Na Pê. Quân ta xung phong vào đồn và nhà băng-ga-lô, dùng liềm, mã tấu, lựu đạn tiêu diệt địch. Bị tấn công bắt ngờ, 20 tên Pháp và lính ngụy Lào bị giết, nhiều tên khác bị thương.

Đến cuối tháng 2 năm 1947 các lực lượng vũ trang Khu 4 đã tiến công các vị trí Mường Na, Mường Lạc, Mường Pun, Sầm Tớ... Tháng 3 các đơn vị ta cùng lực lượng vũ trang yêu nước Lào bao vây thị xã Sầm Nưa. Quân Pháp phải tăng cường lực lượng để giải vây. Bộ đội Nghệ An lên biên giới phản công khiến quân địch phải bỏ chạy về Mường Na. Bộ đội Thanh Hóa rút sâu vào nội địa thượng du. Địch chiếm Hồi Xuân, La Hán, đóng chốt ở Cổ Lũng. Sau khi được củng cố, bộ đội Thanh Hóa liên tục tập kích, phục kích, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Dân quân Phù Lễ (Hồi Xuân) anh dũng đánh giặc bảo vệ làng bản, tích cực phục vụ bộ đội chiến đấu. Liên quân Việt - Lào chặn đánh quân địch vận chuyển, tiếp tế lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược làm cho chúng gặp nhiều khó khăn. Sau một thời gian, quân Pháp buộc phải rút khỏi Hồi Xuân, La Hán.

Trong cuộc chiến đấu xa hậu phương, bộ đội tình nguyện Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, địa thế hiểm trở, núi rừng trùng điệp, thiếu gạo, muối, thiếu súng đạn, khí hậu thời tiết khắc nghiệt, cán bộ, chiến sĩ vẫn nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ hy sinh.

Các đơn vị hoạt động ở vùng Mường Mô, Noọng Hét, có tháng phải sống bằng rau rừng, bắp ngô, củ sắn, phải đốt cỏ tranh lấy tro thay muối. Đội biệt động Quảng Trị xây dựng cơ sở ở các bản Lào, có chín chiến sĩ hy sinh thì năm đồng chí do bệnh sốt rét. Phần lớn chiến sĩ tình nguyện bị bệnh sốt rét, nhưng với tinh thần quốc tế vô sản cao cả «Vẹn tình, trọn nghĩa» bộ đội Việt Nam vẫn bám địa bàn trên đất bạn, cùng bạn hoạt động.

Ở những vùng địch tạm chiếm, nhân dân Lào bị địch khủng bố, đàn áp dã man, bóc lột đến tận xương tủy. Chúng giết người, cướp của, bắt thanh niên đi lính, bắt dân nộp thuế bằng thuốc phiện, bằng bạc Đông Dương, bằng lương thực, thực phẩm1.

Càng căm thù giặc Pháp, nhân dân Lào càng thương yêu tin tưởng cán bộ, chiến sĩ Liên quân Việt — Lào, càng hăng hái tham gia kháng chiến.

Các tổ chức hội yêu nước được thành lập, bộ đội, dân quân Lào học tập cách đánh du kích, cách sử dụng vũ khí thô sơ như mìn, chông, bẫy lao, dụng cụ lăn đá, cung, tên nỏ có tẩm thuốc độc. Trung đội Xiêng Xinh, trung đội Bou Liêng, tiểu đội dân quân Mẹo là những đơn vị điển hình. Một số đơn vị của bạn đã độc lập tác chiến hoặc phối hợp chiến đấu với bộ đội tình nguyện Việt Nam phục kích chống càn, bảo vệ nhân dân.

Ngày 31 tháng 4, 10 tên Phúp và 70 lính ngụy Lào hành quân xuống Tri Lễ (tây Nghệ An) bị Liên quan Việt - Lào chặn đánh ở Mường Pao và Mường Dương. Bảy lính Pháp và sáu lính ngụy Lào bị giết. Trung đội dân quân người Mẹo phối hợp chiến đấu với trung đội Bou Liêng, giết một số lính Pháp và lính ngụy Lào, phá cuộc càn quét của địch xuống Mường Mô.

Nhân dân Lào biết cách tránh giặc, cất giấu của cải ngoài rừng, động viên, thuyết phục con em đã bị bắt đi lính ngụy quay về với kháng chiến. Ngày 10 tháng 5 ở Mường Na, ba lính ngụy Lào mang theo một súng máy, hai súng trường chạy sang hàng ngũ bộ đội Lào.

Trước những thắng lợi của Liên quan Việt — Lào, quân Pháp đã tập trung lực lượng, tăng cường càn quét phá hoại các căn cứ địa dọc các đường giao thông chiến lược quan trọng. Ngoài ra địch còn tiến hành chiến tranh tâm lý, nhằm chia rẽ tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt — Lào. Nhưng mọi thủ đoạn thâm độc của chúng đều bị thất bại. Vùng tự do của ta và bạn ngày càng được mở rộng. Biên giới miền tây Khu 4 ngày càng được củng cố. Tình đoàn kết chiến đấu Việt — Lào ngày càng gắn bó chặt chẽ.

Trong những ngày đầu kháng chiến, các lực lượng vũ trang Khu 4 gặp muôn vàn khó khăn nhưng đã giành được những thắng lợi quan trọng, bắt gọn quân Pháp ở Vinh, 50 ngày bao vây quân Pháp ở Huế, tiêu diệt một bộ phận quân Pháp khi chúng tới giải vây Huế và đánh chiếm Bình-Trị-Thiên, tham gia mặt trận miền tây. Với lực lượng trên 8.000 quân, sau bốn tháng tiến công, quân Pháp mới chiếm được những thành phố, thị xã, huyện lỵ, các đường giao thông chiến lược quan trọng và chỉ một phần nông thôn đồng bằng, nhưng đã phải trả giá với trên 1.000 quân bị diệt.
________________________________________________
1. Mỗi người dân ở Mường Hương (Lào) giáp Mỹ Lý (tây Nghệ An) phải nộp thuế ba ki-lô-gam thuốc phiện, 100 đồng bạc Đông Dương và 50 ki-lô-gam gạo.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #27 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2024, 07:20:38 pm »


II. KHÔI PHỤC NHANH CHÓNG LỰC LƯỢNG KHÁNG CHIẾN Ở TIỀN TUYẾN

Tháng 4 năm 1947, sau khi chiếm đóng Hà Nội, mở thông đường số 5, nối liền Hà Nội — Hải Phòng, giải tỏa Nam Định, quân Pháp đánh rộng ra các vùng xung quanh như Hà Đông, Phủ Lý. Ở miền Nam, quân địch lấn chiếm một số vùng ở đồng bằng sông Cửu Long và nam Trung Bộ. Ở Khu 4, Khu 5, quân địch chiếm Bình —Trị — Thiên, Đà Nẵng, một phần Quảng Nam nối thông con đường chiến lược từ cảng Đà Nẵng, Đông Hà, Xà-vẳn-nạ-khệt.

Cùng thời gian này, cơ quan lãnh đạo, chỉ huy Khu 4 cũng có thay đổi: đồng chí Nguyễn Sơn làm Khu trưởng, đồng chí Vương Thừa Vũ Khu phó, đồng chí Nguyễn Sĩ Tuấn, tham mưu trưởng Khu.

Ở Bình —Trị —Thiên, quân Pháp xúc tiến kế hoạch bình định và mở rộng vùng chiếm đóng. Bộ tư lệnh bắcTrung Bộ đóng ở Huế do tên tướng Lơ Bơ-rít cầm đầu. Quân Pháp chia Bình - Trị - Thiên thành ba phân khu. Phân khu Quảng Bình, phân khu Quảng Trị và phân khu Thừa Thiên. Mỗi phân khu chia thành các tiểu khu, trong từng tiểu khu, địch bố trí hệ thống cứ điểm lớn, tháp canh. Quân địch bố trí các hệ thống pháo binh để khống chế chiến khu, vùng du kích và vùng tự do của ta.

Tổng số binh lính địch trên địa bàn bắc Trung Bộ có 8.000 tên gồm cả lính Pháp, Đức, Ma-rốc, khố đỏ, bảo vệ quân. Quảng Bình có gần 2.000 tên. Quảng Trị có gần 3.000 tên, Thừa Thiên trên 3.000 tên. Quân Pháp tổ chức bộ máy ngụy quyền từ xứ, tỉnh, huyện đến xã, thôn. Chúng lập ra hội đồng tham nghị lâm thời và hội đồng chấp chính lâm thời Trung Kỳ. Bộ máy ngụy quyền gồm những tên Việt gian đầu sỏ, bọn đội lốt tôn giáo như Trần Văn Lý, bọn địa chủ cường hào, quan lại như Trần Thanh Đạt, Hà Xuân Hải, Nguyễn Khoa Toàn, bọn chuyên nghề mật thám như Rơ-ne Hạnh, bọn lưu manh mới mọc lên như Năm Ôn. Cùng với các tổ chức chính trị phản động như Quốc dân đảng, Liên đoàn công giáo, Quốc gia liên hiệp... địch còn tổ chức Việt binh đoàn, Hương vệ, Bảo vệ quân... Tổng số Bảo vệ quân ở Bình —Trị — Thiên có trên 2.000 tên. Mỗi làng có trên 30 hương vệ được trang bị một ít súng và lựu đạn.

Giặc Pháp càn quét rất ác liệt, chúng dùng chính sách đốt sạch, phá sạch, giết sạch đàn áp khủng bố nhân dân, phá hoại về kinh tế, làm cho nhân dân chết dần, chết mòn vì đói, rét, bệnh tật. Chúng xâm nhập văn hóa đồi trụy, khuyến khích cờ bạc, dùng rượu cồn, thuốc phiện để đầu độc nhân dân, chúng điên cuồng lồng lộn càn quét khủng bố khắp nơi. Chúng dựa vào bọn Việt gian lập danh sách những cán bộ chủ trì của xã, huyện, đặt giải thưởng từ 100 đồng đến 5.000 đồng nếu ai chỉ điểm để bắt hoặc giết một cán bộ. Ở Thừa Thiên kho vũ khí, bom, mìn, kho thuốc súng của ta đang di chuyển lên miền tây thì bị bọn chó săn dẫn quân Pháp đến lấy chở về Huế. Địch còn cướp kho thóc dự trữ 400 tấn của ta. Cả Thừa Thiên chỉ còn hai tấn gạo, mà số người ăn, bao gồm cán bộ, công nhân viên, bộ đội, tự vệ chiến đấu, công nhân cơ xưởng... có đến trên 2.000. Ở Quảng Trị, Quảng Bình cũng rất khó khăn về lương thực. Vấn đề nguy ngập nhất ở Bình-Trị-Thiên lúc này là cán bộ, đảng viên không bám đất, bám dân để lãnh đạo kháng chiến. Cán bộ xã không liên lạc được với cấp trên. Một số vùng, số đông đảng viên lẩn tránh vào rừng hoặc chạy sang những vùng chưa có chiến sự.

Sau khi mặt trận Huế vỡ, đảng bộ huyện Hương Thủy từ 170 đảng viên còn 30, Phú Vang từ 193 đảng viên còn 23, Hương Trà còn 20 đảng viên1.

Trung đoàn Cao Vân (Thừa Thiên) giảm sút sức chiến đấu nghiêm trọng. Tiểu đoàn 18 chỉ còn hai trung đội. Vũ khí mất mát nhiều... Tiểu đoàn Lê Trực (Quảng Bình) rút lên núi. Dân quân tự vệ nhiều nơi tan rã. Nhân dân nhiều vùng hoang mang. Ở những nơi đó, tiếng súng kháng chiến tạm thời lắng xuống.

Trước tình hình nguy ngập như vậy, đầu tháng 3 năm 1947 một số cán bộ, đảng viên thuộc đảng bộ Thừa Thiên kịp thời họp đề ra những nhiệm vụ cấp bách: Tập hợp nhanh chóng các cán bộ, đảng viên thất lạc trở về, củng cố tổ chức đảng, chính quyền ở cơ sở; phát động chiến tranh du kích, lập đội công an vũ trang lấy tên là «Đội danh dự», tiến hành diệt tề trừ gian, nhanh chóng tập hợp bộ đội, dân quân tự vệ, chọn những người gan dạ lập đội “Quyết tử quân” đánh ngay một trận quyết không để tắt lâu tiếng súng kháng chiến. Hội nghị giao cho đồng chí Hà Văn Lâu và đồng chí Trần Quý Hai tổ chức trận đánh.

Trước đêm nổ súng, 20 chiến sĩ «Quyết tử quân» cải trang thành dân thường, bí mật ở nhà cụ Học, một gia đình cơ sở cách mạng trong thành phố Huế. 23 giờ ngày 24 tháng 3 năm 1947, phân đội bất ngờ tấn công đồn Hộ Thành. Sau 20 phút chiến đấu, 20 tên Việt gian, ba tên Pháp bị giết. Quân ta rải truyền đơn, rồi rút về căn cứ.

Trận đánh này gây ảnh hưởng chính trị lớn trong thành phố Huế và lan đi nhanh chóng ra các phủ, huyện, gây lo sợ trong chính quyền bù nhìn, tạo niềm phấn khởi trong nhân dân.

Ngày 25 tháng 3, hội nghị cán bộ đảng tỉnh Thừa Thiên họp tại Nam Dương (Triều Dương. Vĩnh Nậy, Quảng Điền) do đồng chí Nguyễn Chí Thanh, ủy viên Trung ương Đảng, bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên triệu tập và chủ trì hội nghị. Các đồng chí Nguyễn Sơn, phó bí thư tỉnh ủy, Hoàng Anh chủ tịch tỉnh, Hoàng Phương Thảo, Trần Thọ, Lâm Mộng Quang, Trần Quý Hai, Lạc Cò dự hội nghị.

Hội nghị đề ra những chủ trương chính:

1. Tiếp tục tiếng súng kháng chiến, phá chính sách bình định của giặc, tiến hành trừ gian, phá tề.

2. Đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cất giấu lương thực, canh gác để làm ăn, tiếp tế chiến khu.

3. Củng cố, xây dựng lại cơ sở, đưa cán bộ, đảng viên trẻ về địa phương cũ để hoạt động, nắm lấy quần chúng nhân dân để kháng chiến, chấn chỉnh quân đội, dân quân tự vệ, chỉnh đốn ủy ban, kiện toàn sự lãnh đạo của Đảng.

Hội nghi đặc biệt nhấn mạnh: Phải nhanh chóng bám cơ sở đánh địch bằng cách đánh du kích. Cán bộ, đảng viên, bộ đội kiên quyết trở lại đồng bằng, bám đất, bám dân nhanh chóng khôi phục lực lượng kháng chiến.

Đồng chí Nguyễn Chí Thanh nhắc nhờ cán bộ đảng viên «Mất đất chưa phải là mất nước. Chúng ta phải tranh thủ từng người, từng thôn. Chúng ta không để mất dân, chết cũng không rời cơ sở. Chúng ta nhất định thắng». Đây là cuộc hội nghị lịch sử của Thừa Thiên. Hội nghị này đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng có ý nghĩa quyết định công tác lãnh đạo của đảng bộ, kịp thời ngăn chặn bước đi xuống của phong trào, đưa cuộc kháng chiến ở Thừa Thiên từng bước đi lên.

Để khuếch trương thắng lợi, hội nghị giao cho trung đoàn Cao Vân tổ chức «đánh một trận ra hồn», tiêu diệt địch, bắt tù binh, thu vũ khí.
________________________________________________
1. Lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên ngày đầu kháng chiến (chép tay). Lưu trữ Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Bình — Trị — Thiên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #28 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2024, 08:18:55 pm »


Ngày 29 tháng 3, một số cán bộ, chiến sĩ được tuyển chọn trong hai tiểu đoàn 16 và 18 thuộc trung đoàn Cao Vân tiến công đồn Đất Đỏ. Nhờ làm tốt công tác địch vận, ta vận động được lý trưởng đưa chiến sĩ biệt động đội vào làm bồi bếp và phục dịch trong vị trí để làm nội ứng. Đến bữa ăn tối, những người phục dịch đó ném bốn quả lựu đạn vào giữa bàn ăn của lính Pháp. Nhiều tên chết tại chỗ. Nghe tiếng lựu đạn nổ, bốn tiểu đội phục sẵn bên ngoài vị trí lập tức xông vào. Trận ác chiến diễn ra trong bốn giờ liền, đến 22 giờ ta tiêu diệt được trung đội lính Pháp, bắt được một hạ sĩ quan Pháp, thu toàn bộ vũ khí gồm năm súng cối 60 mi-li-mét, một đại liên, hai trung liên, ba tiểu liên tôm-son, 11 súng trường, sáu súng lục, 150 quả lựu đạn, nhiều đạn và quân trang, quân dụng. Ta phá đồn và giải thoát đồng bào bị bắt làm phu ở đây.

Chiến thắng Đất Đỏ được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng biểu dương: “... Chiến thuật của ta lúc này cũng phải tranh thủ tiến công... Trong tiến công ta phải đánh tiêu diệt. Trận Đất Đỏ là trận đánh tiêu diệt”1.

Trận Đất Đỏ là một trận thắng giòn giã, mở đầu việc chuyển hướng cách đánh của bộ đội chủ lực và dân quân địa phương. Nó biểu hiện quyết tâm cao của cán bộ, chiến sĩ quyết đánh và biết đánh một đối tượng mạnh hơn về quân sự, lại được bố trí chặt chẽ. Số vũ khí ta thu được trong trận Đất Đỏ đã góp phần trang bị thêm vũ khí cho bộ đội, dân quân tự vệ, phát triển chiến tranh du kích sau này.

Cùng với Hộ Thành, trận thắng Đất Đỏ mở màn cho bộ đội Bình —Trị — Thiên về cách đánh địch bằng binh vận, xây dựng cơ sở kháng chiến ngay trong sào huyệt địch.

Trận Hộ Thành, Đất Đỏ có tiếng vang về quân sự, có ảnh hưởng lớn về chính trị, mang lại trong nhân dânThừa Thiên — Huế một niềm tin: «Đảng về rồi», «Chính quyền cách mạng về rồi», «Bộ đội Cụ Hồ về rồi».

Giữa đêm tối đầy khủng bố, đàn áp, giết chóc, chiến thắng Hộ Thành, Đất Đỏ là niềm tin và hy vọng.

Dù khó khăn, ác liệt đến mấy, do biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc, bám dân, tin dân, phát động được tinh thần yêu nước của toàn dân, xây dựng lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, làm cho quần chúng nhân dân ý thức được mục đích của cuộc chiến đấu trường kỳ là đánh thắng thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập hoàn toàn cho đất nước. Khi ý Đảng, lòng dân đã quyết, tâm đã đồng thì nó trở thành động lực phi thường để quân và dân Bình — Trị — Thiên vượt lên mọi khó khăn, tiếp tục đứng lên kháng chiến thắng lợi.

Ở Quảng Trị, công tác chuẩn bị kháng chiến lâu dài được tiến hành khẩn trương, tích cực. Kế hoạch bố phòng, kế hoạch xây dựng và tác chiến của bộ đội chủ lực, dân quân tự vệ được chuẩn bị đầy đủ hơn. Công tác giáo dục tuyên truyền trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện được chú trọng, nên khi chiến sự xảy ra, quân và dân trong tỉnh đều bình tĩnh, vững vàng.

Nắm vững phương châm chỉ đạo kháng chiến của Đảng, trung đoàn Thiện Thuật đã tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tiêu hao tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch; phân tán một bộ phận, đồng thời tập trung chỉ đạo, tập trung lực lượng, với trang bị sẵn có, tận dụng các vũ khí tự tạo như bom, mìn, địa lôi... đánh những trận có hiệu suất chiến đấu cao như Rào Quán, Đầu Mầu, thị xã Quảng Trị...

Cuối tháng 2 năm 1947, trước tình hình cuộc kháng chiến đang ngày càng gay go quyết liệt, một số cán bộ của đảng bộ Quảng Trị đã họp, gồm các đồng chí Đặng Thí (bí thư tỉnh ủy), Nguyễn Xuân Luyện, Nguyễn Hữu Khiếu, Trần Sâm, Lê Chưởng... kịp thời chủ trương: quyết không để mất dân, địch có thể chiếm đất, địch có thể chiếm được đồng bằng, nhưng ta phải giữ vững vùng rừng núi mà giành giật khu vực đồng bằng đông dân với địch. Địch sẽ ra sức tiêu diệt cơ sở kháng chiến, đánh bạt cán bộ, đảng viên, bộ đội lên núi để lập hội tề, nhưng cán bộ, đảng viên lực lượng vũ trang ta quyết không rời quần chúng, giữ vững các vùng căn cứ đồng bằng, nhất định sẽ bảo toàn được lực lượng. Đảng ủy các cấp một mặt phải nhanh chóng chuyển sang chỉ đạo đấu tranh võ trang, bám đất, bám dân, giữ vững cơ sở, khôi phục lực lượng kháng chiến, lãnh đạo chiến tranh du kích ở địa phương, mặt khác phải kiên quyết đập tan kế hoạch lập ngụy quyền của địch.

Cũng như Thừa Thiên và Quảng Trị, ở Quảng Bình quân Pháp dùng mọi thủ đoạn khủng bố, tàn sát nhân dân. Chúng xây đồn bốt dày đặc dọc các đường giao thông chiến lược quan trọng và khắp các thôn xóm, đồng bằng, nhiều đồn bốt địch còn cắm sâu trong vùng rừng núi như Sen Bàng, Khương Hà... Để phong tỏa, cắt đứt liên lạc, triệt đường tiếp tế giữa căn cứ rừng núi với đồng bằng, giữa Quảng Bình với Hà Tĩnh, Nghệ An.

Để kịp thời củng cố lực lượng, đẩy mạnh kháng chiến, Khu ủy, Bộ chỉ huy Khu cử đồng chí Võ Thúc Đồng làm bí thư tỉnh ủy, đồng chí Hoàng Văn Diệm làm chủ tịch, đồng chí Văn Lễ làm tiểu đoàn trưởng. Đầu tháng 4 năm 1947 tỉnh ủy Quảng Bình họp chủ trương: Cán bộ, đảng viên, bộ đội quay về đồng bằng bám đất, bám dân để tiếp tục kháng chiến. Các đại đội của tiểu đoàn Lê Trực được phân tán về các huyện, xã ở đồng bằng cùng cán bộ, đảng viên ở địa phương vừa tuyên truyền củng cố cơ sở đảng, chính quyền, vừa củng cố dân quân, tiến hành chiến tranh du kích. Lực lượng công an phối hợp với bộ đội phá tề, trừ gian. Nhân dân đẩy mạnh sản xuất, chống đói, tiếp tế lên chiến khu. Để chống âm mưu địch càn quét, mở rộng vùng chiếm đóng, nhân dân xây dựng nhiều làng chiến đấu. Làng chiến đấu Cự Nẫm (huyện Bố Trạch) thành làng chiến đấu kiểu mẫu.

Trên cơ sở nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng, quan điểm quần chúng, tư tưởng cách mạng tiến công của Đảng, khẩu hiệu “Về đồng bằng” là đúng đắn, sáng tạo, thể hiện sự kiên định và nhạy bén của các cấp ủy đảng ở địa phương.
_____________________________________________
1. Phông Khu 4 — Lưu trữ K4 Bộ quốc phòng, hồ sơ 355. tờ. 25.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #29 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2024, 08:22:51 pm »


Để khôi phục nhanh chóng lực lượng kháng chiến, Bộ chỉ huy Khu 4 chỉ rõ:

“...Muốn giải quyết vấn đề Bình - Trị - Thiên bằng cách chỉ dùng quân đội chiến đấu với giặc thì không những chúng ta chưa đủ sức đuổi giặc ra các cứ điểm nhỏ mà còn sao lãng cả vấn đề nhân dân. Chúng ta phải có một chủ trương rõ rệt, có một sự phối hợp chặt chẽ giữa quân sự và chính trị, có sự lãnh đạo phong trào kháng chiến một cách toàn diện và thống nhất. Chúng ta phải củng cố hàng ngũ nhân dân, giáo dục nhân dân đánh giặc, tránh giặc, cất giấu của cải mỗi khi giặc đến. Chúng ta phải vũ trang nhân dân, phát triển dân quân xã là cơ sở của cuộc kháng chiến, làm cho nhân dân tham gia đánh giặc thực sự... »1.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các tỉnh ủy và chỉ thị của Bộ chỉ huy Khu, cán bộ, đảng viên các cơ quan dân, chính, Đảng cùng với cán bộ, chiến sĩ các trung đoàn Cao Vân, Thiện Thuật, tiểu đoàn Lê Trực đã quay về đồng bằng bám đất, bám dân, phục hồi lực lượng kháng chiến.

Giữa vòng vây của quân thù, giặc Pháp càn đi quét lại liên miên, bọn Việt gian, mật thám lùng sục tận thôn xóm, việc đột nhập trở về đồng bằng của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ là một việc vô cùng nguy hiểm, gian khổ và ác liệt. Ban ngày phải nằm bờ nằm bụi ở ngoài đồng, hoặc ẩn nấp giữa cồn cát nóng, sẵn sàng chịu đựng cái đói, cái rét, cả bệnh tật hoành hành. Ban đêm mới len lỏi vào tận thôn xóm, tuyên truyền giác ngộ nhân dân, bắt mối gây cơ sở, củng cố dân quân tự vệ. Nhiều đảng viên, cán bộ, chiến sĩ bị địch bắt tra tấn cực kỳ dã man vẫn kiên cường, bất khuất.

Ở Phú Lộc (Thừa Thiên) địch giết đồng chí Lê Cam, một cán bộ bộ đội. Để uy hiếp tinh thần của nhân dân, địch bêu đầu đồng chí Cam trên cây lồ ô vót nhọn đem đi khắp các chợ. Thi hài đồng chí còn bị địch chặt làm ba khúc, chôn ba nơi quanh đồn giặc. Quân địch hăm dọa đồng bào, ai đến gần, thắp hương, tỏ lòng thương tiếc sẽ bị xử bắn. Nhưng đồng bào thôn Mỹ Lợi đã vận động được binh lính địch giúp đỡ, tập trung thi hài đồng chí Cam mang về chôn cất chu đáo.

Quân địch bắt được đồng chí Do, cán bộ chỉ đạo phong trào huyện Phú Vang, tra tấn cực kỳ dã man nhưng không moi được một tin tức gì. Đồng chí chửi thẳng vào mặt quân giặc «Chúng bay là quân cướp nước! Loài dã man!». Địch cắm cọc bêu đầu đồng chí Do ở chợ, cả làng Diên Trường thương khóc, lập bàn thờ thắp hương mặc niệm hương hồn đồng chí.

Tinh thần anh dũng kiên cường, bất khuất hy sinh vì dân vì nước của cán bộ, chiến sĩ đã thu phục được lòng thương yêu, kính trọng của nhân dân. Mặc dù bị địch kìm kẹp gắt gao, nhân dân vẫn tin tưởng vào Đảng, Bác Hồ, coi bộ đội là con, em ruột thịt của mình. Hành động dã man của giặc càng nung nấu quyết tâm sắt đá tham gia kháng chiến của nhân dân. Mũi nhọn căm thù vẫn chĩa về phía bọn thực dân xâm lược Pháp. Các cơ sở Đảng, chính quyền dần dần được khôi phục. Lực lượng dân quân, tự vệ từng bước được củng cố.

Thừa Thiên có sáng kiến thành lập «Quyết tử quân» tập trung một số bộ đội, hợp lực với số tự vệ địa phương thành những đơn vị chiến đấu nhỏ, mạnh. Các đội «Quyết tử quân» đã chặn đánh các toán địch đi lùng sục lẻ tẻ, bảo vệ chính quyền và cấp ủy đảng địa phương, bảo vệ tính mệnh và tài sản của đồng bào và đêm đêm đi quấy rối hoặc tập kích các vị trí địch. Các đội «Quyết tử quân» trải qua những cuộc chiến đấu sôi nổi, ngày càng trưởng thành.

Ở Quảng Trị, có sáng kiến thành lập «Biệt động đội». Biệt động đội gồm một số bộ đội, tự vệ chiến đấu, đoàn viên thanh niên cứu quốc, đội viên thiếu niên tiền phong hăng hái dũng cảm chiến đấu. «Biệt động đội» bám chặt cơ sở, chống càn quét, bảo vệ nhân dân, tiêu diệt những toán địch nhỏ lẻ, cướp vũ khí để trang bị cho mình, gây dựng cơ sở dân quân tiến hành chiến tranh du kích.

Ở Quảng Bình lại có sáng kiến thành lập đơn vị «Dân quân thường trực» bao gồm những thanh niên khỏe mạnh, nhiệt tình hăng hái, dũng cảm, lựa chọn trong hàng ngũ dân quân. Dân quân thường trực có nhiệm vụ bảo vệ cấp ủy Đảng, chính quyền, bảo vệ nhân dân, chống các cuộc càn quét, phá âm mưu lập hội tề của địch.

Các đội «Quyết tử quân», «Biệt động đội», «Dân quân thường trực» chiến đấu rất anh dũng, đã gây được ảnh hưởng tốt trong nhân dân và có một tác dụng quan trọng trong việc khôi phục nhanh chóng lực lượng kháng chiến trong năm đầu kháng chiến ở Bình — Trị — Thiên

Sau một thời gian khi lực lượng kháng chiến đã lớn mạnh, hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trạng đã được khôi phục, hình thức tổ chức «Biệt động đội» và «Quyết tử quân» ở Thừa Thiên, Quảng Trị không thích hợp nữa, các đơn vị bộ đội được bổ sung về các trung đoàn để thành lập các đơn vị theo hệ thống bộ đội, đội viên “Quyết tử quân”, «Biệt động đội» còn lại biến chế thành những đơn vị dân quân thường trực ở các địa phương hoặc chuyển thành công an. Tổ chức «Dân quân thường trục» của Quảng Bình vẫn duy trì, nhưng tổ chức chặt chẽ hơn, trang bị mạnh hơn, nhờ lấy vũ khí địch trang bị cho mình.

Chiến tranh du kích phát triển ngày càng mạnh ở Bình - Trị - Thiên. Các trận đánh nhỏ lẻ diễn ra liên tiếp. Ngày 28 tháng 3 các chiến sĩ «Biệt động đội» giật mìn phá một xe vận tải, giết ba tên Pháp ở Khe Sanh. Ngày 8 tháng 4, một tiểu đội “Quyết tử quân” phối hợp với dân quân Phong Điền phục kích ở Bến Đốt trên sông Phò Trạch (Thừa Thiên), đánh đắm một thuyền chở lương thực, giết hai tên Pháp, làm bị thương hai tên khác, thu hai súng cối 60 mi-li-mét, ba tiểu liên tôm-sơn, một súng trường Mỹ...

Để đẩy mạnh chiến tranh du kích, dân quân tự vệ ngày càng được củng cố, phát triển. Tháng 5 năm 1947. Bộ chỉ huy Khu 4 tổ chức học tập sâu rộng trong các lực lượng vũ trang địa phương bức thư của Bác Hồ gửi hội nghị dân quân toàn quốc lần thứ nhất: «…Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận kẻ địch hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã»2.
_______________________________________________
1. Trích Bản tổng kết chiến sự từ 19 tháng 12 năm 1946 đến tháng 7 năm 1948, đồng chí Trần Văn Quang, chính trị ủy viên Khu 4.
2. Hồ Chí Minh. Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H.1970, tr. 174.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM