thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2025, 08:09:09 pm » |
|
Nhà Giao tế của Tỉnh sơ tán ở tạm trong một khu rừng già, có nhiều cây to rậm rạp. Mỗi ngày được nghe 3 lần ve sầu kêu vào lúc 9 giờ, 12 giờ và chừng 17 giờ. Khởi đầu chỉ có một con kêu, tiếp đến là hàng trăm hàng ngàn, thậm chí hàng vạn con cùng cất tiếng. Âm thanh trong, đục, véo von, rè... với tần số rung khác nhau nghe réo rắt quanh tai gây cảm giác với những nỗi nhớ buồn nhiều hơn vui! Tôi vô cùng nhớ đơn vị, nhớ đồng đội, nhớ chiếc MiG thân yêu của tôi đã cùng nhau gắn bó trong trận không chiến ác liệt vừa qua, nhưng không may đã phải vĩnh biệt nó. Thật buồn nhớ làm sao! Mỗi lần nỗi buồn nổi lên, tôi lại đọc câu thơ của nhà thơ Tố Hữu để làm cho tôi vui lại phần nào:
"Ai chiến thắng mà không hề chiến bại Ai nên khôn mà không dại đôi lần!..."
Đúng thật! Trận thua ngày 26-4 là do "cái dại" của mình đẫn đến, do cái tính "cố đấm ăn xôi" đã mắc phải từ bé, từ cái thời còn đi đánh nhau với bạn cùng chăn bò trên cánh đồng Trang. Đã thừa hiểu là với MiG-21 trong không chiến không nên đánh quần kiểu "vòng thúng" với bọn F-4 vì bọn F-4 lượn vòng bán kính nhỏ hơn MiG-21. Chúng lượn "vòng thúng" thì MiG-21 lượn "vòng nong", không cắt bán kính bám đuôi chúng được. Hơn nữa, MiG-21 thời ấy vũ khí mang theo chủ yếu là tên lửa hồng ngoại, bởi vậy lại càng không phù hợp với kiểu lượn "vòng thúng". Một lần dại đã để lại hàng trăm bài học sâu sắc cho tôi trong những trận không chiến sau này không bao giờ lặp lại!
Thật cảm động khi được tin Quân chủng đã cho một chiếc trực thăng Mi-4 bay lên Cao Bằng để đưa tôi về bệnh viện. Nhưng lại thật không may vì khi chiếc trực thăng bay lên đến Bắc Cạn thì bị hỏa lực mặt đất bắn rơi. May mắn là cả tổ bay và bác sĩ Lễ đều an toàn.
Gần một tuần lễ sau, cầu Gia Bẩy mới sửa chữa xong và thông xe. Đơn vị lên đưa tôi về bệnh viện 108. Về tới nơi, các bác sĩ không quản đêm hôm, bắt tay ngay vào khám lưng và chụp cột sống cho tôi. Cột sống bị xẹp 3 đốt. Bây giờ chữa được cho lành đã là quá quý chứ hòng gì nói đến bay! Các bác sĩ bi quan một thì tôi bi quan gấp ngàn lần! Chẳng lẽ đến đây đành ôm hận tạm biệt bầu trời sớm như vậy sao! Buồn tới mức miếng ăn đưa vào miệng cũng thấy đắng ngắt. Sau khi nghiên cứu phim chụp đốt sống lưng của tôi, bác sĩ Địch - Trưởng khoa Không quân ở bệnh viện 108 đã đề ra phương pháp chữa trị để cho "3 đốt sống sẽ liền lại như cũ và có thể bay trở lại được"... Nhưng phải kiên trì chịu đựng phải nằm bất động trong 3 tháng. Ông hỏi tôi có chịu đựng được không. Tôi thưa: "Bác sĩ chữa cho tôi bay được thì dù có khổ cực đến mấy tôi cũng chịu đụng được!". Hàng ngày, ông đến phòng bệnh kiểm tra và nhắc tôi phải nghiêm túc nằm bất động. Bởi mỗi cử động đều ảnh hưởng đến cột sống, cho nên phải hạn chế tới mức tối thiểu mọi cử động. Chiếc phản tôi nằm có độ dốc đến 30 độ, bởi vậy phải treo hai hòn gạch buộc vào hai vai để giữ người không bị tụt xuống. Hai chân cũng buộc hai hòn gạch để kéo giãn đốt sống theo độ dốc của chiếc phản. Tôi nằm bất động được 1 tuần, rồi nửa tháng, rồi gần tròn một tháng thì thấy đây đúng là một cực hình. Tiết trời thì nóng bức, điện thì lúc có lúc không... Chiếc quạt "tai voi" chạy cả tháng tới giờ trông nó cũng uể oải lắm rồi. Song cái mừng vui trong tôi là "có thể được bay lại" đã chiếm lĩnh, đã đánh bật mọi khổ cực, đánh bật thương tật mỗi ngày một lùi xa.
Bác sĩ Địch kiểm tra đốt sống thấy xương đã liền rất tốt và cho tỏi bắt đẩu tập đi trong nhà cho quen dần rồi tập cúi xuống, ngửng lên nhẹ nhàng để đề phòng đốt sống bị đơ cứng thì sau này sẽ khó chữa. Tôi kiên trì tập luyện theo sự hướng dẫn của bác sĩ Địch trong vòng gần hai tháng thì đi khám lại toàn bộ theo đúng quy trình "khám tuyển phi công". Sau khi khám, Hội đồng giám định ghi: "Đủ điều kiện bay!". Nghe kết luận của Hội đồng giám định, tôi sung sướng rơi nước mắt! Vậy là tỗi vẫn còn duyên với con đường tới bầu trời! Ngày 20-7-1966, tôi cầm tờ giấy xuất viện với nội dung: "Về đơn vị bav...". Trong lòng tràn ngập niềm vui. Chỉ có chiến đấu! Chiến đấu và chiến đấu! Tôi rất biết ơn bác sĩ Địch, bác sĩ chính là ân nhân, là người đưa tôi trở lại bầu trời lần thứ hai! Tôi cũng biết ơn bác sĩ Quý - phó của bác sĩ Địch và cám ơn chị Gái - người mà cả khoa Không quân ai cũng quý mến gọi chị là chị cả. Chị luôn tận tình, chu đáo, hòa nhã... Cách cư xử của chị làm cho ai buồn cũng phải vui, ai giận cũng phải thương. Thật hiếm có người phụ nữ đức độ như chị.
Tôi trở lại đơn vị giữa lúc đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc với mức độ ngày càng gia tăng. Chúng đã đánh phá đến vùng ngoại ô thành phố Hà Nội. Kho xăng Đức Giang bị chúng thiêu rụi. Mỹ và một số nước chư hầu cũng ồ ạt đổ quân vào miền Nam để mở những đợt tấn công lớn nhằm xóa sổ quân giải phóng miền Nam Việt Nam.
Trước tình hình đó, quân và dân hai miền Nam Bắc kiên quyết thực hiện lời kêu gọi của Bác Hồ: "... Đế quốc Mỹ có thể đưa vào 10 vạn, 20 vạn quân hoặc nhiều hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, nhà máy, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song, nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do... Trên khắp các chiến trường, Mỹ đã bị giáng trả những đòn chí mạng, nhưng chúng như con thú dữ, càng bị đánh, càng gần ngày sắp chết, chúng càng hung hăng, dữ tợn.
Không quân ta có sự phát triển lớn về lực lượng. "Trung đoàn Sao Đỏ" được bay chuyển loại MiG-21, toàn bộ số MiG- 17 của Trung đoàn bàn giao cho "Trung đoàn Yên Thế" sử dụng. Liên Xô viện trợ thêm cho ta mấy phi đội MiG-21 F-13. Loại máy bay MiG-21 F-13 là loại cũ hơn MiG-21 PFL. Nó được trang bị một khẩu súng 37 li và tên lửa hồng ngoại. Tính năng cơ động của nó có thể tiến hành không chiến với F-4 theo kiểu lượn "vòng thúng" không thua kém.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2025, 08:10:04 pm » |
|
Thời kỳ này, bên cạnh "Trung đoàn Sao Đỏ" còn có một đội chuyên gia Liên Xô (gồm có giáo viên bay và thợ lắp ráp máy bay). "Trung đoàn Yên Thế" thì có một tổ chuyên gia bay biển của Cuba huấn luyện cho cách bay biển và ném bom thia lia để chuẩn bị đánh tàu chiến Mỹ khi chúng vào sâu trong Vịnh Bắc Bộ. Đặc biệt còn có lực lượng Không quân của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên tình nguyện sang Việt Nam chiến đấu giúp nhân dân Việt Nam. Lực lượng này gồm các phi công bay trên MiG-17 và MiG-21, gồm các chỉ huy tham mưu, dẫn đường... Ta gọi lực lượng của Triều Tiên là "các bạn Z". Công tác chỉ huy chiến đấu bạn tự đảm nhiệm, còn máy bay và công tác bảo đảm kỹ thuật do ta đảm bảo cho bạn bay huấn luyện và chiến đấu. Không quân nhân dân Việt Nam vô cùng cảm ơn tinh thần quốc tế trong sáng, vô tư, dũng cảm của các phi công Không quân nhân dân Triều Tiên. Bạn đã thực hiện được một số trận chiến đấu, bắn hạ được máy bay Mỹ nhưng cũng chịu tổn thất đáng kể. Chúng tôi coi sự tổn thất của bạn cũng như tổn thất của chính mình, đã lo liệu chu đáo, đáp ứng được mọi yêu cầu theo phong tục tập quán của bạn. Nhất là, khi có trường hợp bạn hy sinh, phải lo cho bạn một con cá chép còn sống để làm lễ cúng. Bộ phận làm công tác chính sách của ta đã đến các Hợp tác xã (dù ngày hay đêm) tìm cho bằng được cá chép to, tươi sống mang về cho bạn làm thủ tục, bấy giờ mới yên tâm, báo cáo "Đã hoàn thành nhiệm vụ!".
Cuộc chiến tranh phá hoại bằng Không quân Mỹ ra miền Bắc Việt Nam vào khoảng giữa năm 1966 và năm 1967 có thể gần đến đỉnh cao. Hầu như ngày nào cũng có bom đạn của Mỹ dội xuống các mục tiêu mà Mỹ cho là tiềm lực của miền Bắc chi viện cho đồng bào và quân giải phóng miền Nam Việt Nam.
Thời kỳ này, Không quân chiến đấu của ta cũng đạt đến đỉnh cao về phát triển lực lượng. Ngoài 2 Trung đoàn MiG đã có, còn được thành lập thêm 2 Trung đoàn MiG nữa, gồm 1 Trung đoàn MiG-21 và 1 Trung đoàn MiG-19 đóng quân xung quanh, bảo vệ Hà Nội. Việc bố trí lực lượng đó có thể tổ chức thành các tuyến chiến đấu bảo vệ mục tiêu (đánh chặn từ xa, đánh ngoài mục tiêu và đánh trên mục tiêu), có thể đánh độc lập hoặc đánh hiệp đồng giữa các Trung đoàn với nhau hay là đánh hiệp đồng với cao xạ, với tên lừa. Đánh hiệp đồng theo hướng hoặc theo độ cao cho từng loại. Phương châm sử dụng lực lượng là dùng biên đội nhỏ (2 chiếc đến 4 chiếc). MiG-17 áp dụng chiến thuật "vòng thúng" đánh ở độ cao thấp. MiG-21 áp dụng chiến thuật đánh chặn, dùng tốc độ lớn đánh địch từ xa mục tiêu. Riêng MiG-19 thì chưa hình thành rõ rệt lối đánh riêng của mình.
Chiến thuật đánh "vòng thúng" thời kỳ đầu của MiG- 17 tỏ ra rất hiệu quả, có nhiều trận đánh thắng ròn rã, bắn rơi 2-3 chiếc máy bay địch trong một trận, ta an toàn. Nhưng ta mất cảnh giác khi địch thay đổi thủ đoạn đánh "vòng thúng" bằng lối đánh "giã gạo". Chúng dùng ưu thế bay trên cao hơn MiG-17, từ trên cao bổ xuống phóng tên lửa rồi lại kéo cao lên thoát ly ra ngoài "vòng thúng", loại trừ khả năng bám đánh gần của MiG-17 (vì tốc độ nhỏ hơn và phải tiếp cận gần thì mới sử dụng được pháo). Lối đánh "vòng thúng" không còn hiệu nghiệm nữa, nhiều trận bị địch bắn rơi mà ta chậm thay đổi lối đánh, dễ bị tổn thất đáng tiếc. Đó là những trận không chiến nhớ đời thuộc về các phi công và các cơ quan tham mưu chỉ huy Không quân ta lúc bây giờ! Địch thay đổi thủ đoạn đánh mà ta không thay đổi là ta thua! Trong không chiến không có gì là bất biến cả, tất thảy đều là vạn biến! Để phá thủ đoạn đánh "giã gạo" của địch, ta áp dụng cách đánh hiệp đồng với MiG-21. MiG-17 ở tầng thấp đánh "vòng thúng", còn MiG-21 đánh trên cao phá thế "giã gạo" của địch từ trên xuống, nhưng lại không mấy hiệu nghiệm. Ngược lại, MiG-21 còn bị dính đạn pháo của MiG-17 bắn nhầm vì nhận dạng kém, cũng bởi chưa bay hợp luyện với nhau thành thạo...
MiG-21 của ta thời kỳ đầu bước vào chiến đấu còn non nớt nhiều mặt cả về chiến thuật lẫn kỹ thuật nên áp dụng cách đánh nào cũng lúng túng. Bên MiG-17 áp dụng lối đánh "vòng thúng" giành thắng lợi như chẻ tre thì ai mà chẳng mê! Trong nội bộ MiG-21 đã xảy ra sự tranh luận rất sôi nổi. Số phi công chuyển loại từ MiG-17 sang MiG-21 thì xin áp dụng chiến thuật "vòng thúng", còn số anh em học ở Liên Xô về thì đòi áp dụng lối "đánh chặn". Trên chấp nhận cả hai cách đồng thời phải thay đổi phương án mang vũ khí. Số 1 thì mang tên lửa đánh chặn, còn số 2 thì đeo hai thùng rốc-két, mỗi thùng chứa 32 quả (tổng cộng là 64 quả) gồm cả đạn xuyên và đạn phá. Uy lực nghe chừng rất mạnh, phù hợp với lối đánh "vòng thúng" nhưng thực tế trong chiến đấu thì sức tấn công của biên đội không tăng mà lại giảm. Các số 2 thường không bảo vệ được cho số 1 vì đeo thùng rốc-két lực cản lớn, hạn chế rất nhiều đến khả năng cơ động và tăng tốc độ của MiG-21, đồng thời lại tốn nhiên liệu gần gấp đôi số 1 nên thường phải cho số 2 thoát ly khỏi trận chiến sớm mới đủ dầu liệu về hạ cánh. Sai lầm này nối tiếp sai lầm khác. Từ phi công đến chỉ huy và cơ quan tham mưu đều đổ lỗi cho 2 thùng rốc-két làm hạn chế tính năng của máy bay nên đã đề nghị Liên Xô viện trợ cho loại MiG-21 có súng. Vậy là Liên Xô đã viện trợ ngay cho loại MiG-21 F-13. Thế là trút bỏ được gánh nặng rốc-két. Anh em phi công thì cười tươi như hoa, còn anh em thợ máy thì cười ra nước mắt vì F-13 là loại máy bay cũ, thường xuyên có hỏng hóc. Rất nhiều đêm anh em thợ máy phải thức đến trắng đêm mới sửa chữa xong hỏng hóc để hôm sau có đủ số máy bay trực ban chiến đấu. Sử dụng MiG-21 F-13 đánh kiểu "vòng thúng" với lũ F-4 cũng chẳng khả quan gì hơn so với MiG-21 PFL. Bởi vậy, việc nghiên cứu lối đánh nào cho phù hợp với MiG-21 là rất bức bách!
Theo giấy xuất viện của bác sĩ cho tôi về đơn vị nhưng phải đi nghỉ an dưỡng 1 tháng. Không thể không đi được. Tôi đành nài nỉ xin nghỉ nửa tháng thôi. Trên đồng ý. Tôi cùng với một số anh em hay bị ốm vặt xách túi lên xe, ngược núi lên khu nghỉ mát Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Nơi ấy cách sân bay chỉ chừng 60 km và ở độ cao trên 1.000 mét so với mực nước biển. Đó là nơi còn an toàn, địch chưa dòm ngó tới. Bấy giờ đã là giữa mùa Thu, cái lạnh đã kéo về, đêm ngủ phải đắp chăn bông và mặc áo ấm. Khu nhà nghỉ có các ngôi nhà làm bằng gỗ lợp tôn, nằm gọn trong thung lũng núi, xung quanh là những ngọn núi rất cao bao bọc. Cao nhất là đỉnh "rùng rình" hơn 1.900 mét. Rừng già có nhiều gỗ quý (rừng quốc gia cấm khai thác). Tổ chức chính quyền có 2 thôn: thôn 1 là khu nghỉ mát, khu 2 là khu dân sinh, sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng rau, làm vườn, trồng cây thuốc cho Đông y, nuôi ong mật...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2025, 08:12:10 pm » |
|
Khi đi nghỉ, đồng chí Trung đoàn trưởng Trần Mạnh dặn dò tôi: "Cậu lên Tam Đảo nghỉ để lấy lại sức sau trận nhảy dù, song cố gắng nghiên cứu đề xuất cách đánh của MiG-21 để sau khi nghỉ, về lại đơn vị sẽ tổ chức "quân sự dân chủ" thảo luận tìm cách đánh cho MiG-21!". Đã 1 tuần lễ trôi qua, tôi cùng số anh em đi nghỉ trao đổi đến nát óc mà vẫn thấy tối om như đường hầm không có lối thoát. Đánh kiểu "vòng thúng" thì không ổn rồi, còn đánh chặn như kiểu Liên Xô dạy thì là mình đánh với bọn "tiêm kích bom" chứ có phải đơn thuần là đánh máy bay ném bom đâu. Khả năng tự vệ của bọn ném bom là rất yếu, nhưng bọn tiêm kích bom thì khi nó vứt bom đi là nó thành tiêm kích rồi, đấy là đối thủ lợi hại với MiG. Lúc ấy không còn là trận đánh chặn "cổ điển" nữa mà không khéo thì lại quay lại kiểu đánh "vòng thúng" như chơi, lại sa vào đường hầm không lối thoát! Ý của Trung đoàn trưởng là muốn MiG-21 đoạn tuyệt hẳn với cách đánh "vòng thúng" càng sớm càng tốt. Thời gian thử nghiệm cách đánh ấy là quá đủ rồi, ta bị địch bắn rơi nhiều rồi và sự hy sinh của các phi công lẽ ra là không đáng có. Tiếc lắm! Đồng chí Trung đoàn trưởng nói vậy.
Anh em đi nghỉ mát mà cứ ngồi lì trong nhà tranh luận về chuyện đánh đấm, đau hết cả đầu. Hôm nay được ngày đẹp trời, anh em rủ nhau đi xem Thác Bạc. Thác Bạc đẹp nổi tiếng ở thung lũng Tam Đảo còn gắn với một câu chuyện oan uổng nữa. Thác nước từ trên cao đổ xuống khe sâu hun hút. Nước luồn qua các khe đá hoặc tràn qua những tảng đá tung bọt trắng xóa như bông. Tiếng réo ào ào của nước hòa với tiếng lá cây rừng đập vào nhau trong những cơn gió núi tạo thành bản hòa âm lúc trầm lúc bổng, hư hư ảo ảo, huyền diệu như trong mê cung. Những người sống lâu nhất ở đây kể lại rằng trước đây có một thương gia người Pháp đã đưa vợ và cô con gái đang tuổi học trò xuống thăm ngắm Thác Bạc. Cô con gái được người dân gọi là "cô đầm", đẹp như nàng tiên. Cả gia đình người thương gia đang ngây ngất ngắm cảnh mây trời sắc nước của Thác Bạc thì "cô đầm" bỗng gieo mình theo dòng nước trắng xóa và mất hút dưới khe sâu Thác Bạc. Cô đã để lại tuổi hoa học trò và sắc đẹp mê hồn ở khe nước Thác Bạc này mãi mãi.
Hiếm có một ngày chúng tôi được ngắm cảnh Thác Bạc dưới khung trời xanh thắm với những đám mây trắng bồng bềnh trôi như thế này. Thật như chốn bồng lai tiên cảnh ở độ cao hơn 1.000 mét.
Rời khu nghỉ Tam Đảo, về đơn vị, tôi nhanh chóng bay hồi phục để được tham gia trực ban chiến đấu cùng với anh em. Lúc này, ngày nào địch cũng trinh sát tầng cao, chụp ảnh tất cả các mục tiêu xung quanh Hà Nội. Đấy là dấu hiệu địch chuẩn bị đánh lớn. Tôi được phân công trực đánh trinh sát tầng cao vì đã có kinh nghiệm đánh trên tầng bình lưu này. Nhưng trận thứ hai của tôi không gặp may vì phát hiện nhầm mục tiêu. Mục tiêu ấy lại là máy bay của bạn bay ở xa bên kia biên giới. Ngay Sở chỉ huy cũng nhầm nên cho phép tôi công kích mục tiêu đó. Kết quả là máy bay tôi gần hết dầu, phải hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay Bình Viễn của Trung Quốc. Hai ngày sau, Trung đoàn phó Trần Hanh và tổ thợ máy do anh Nguyễn Văn Sảnh phụ trách cùng anh Phạm Hồng Lợi là tổ trưởng đặc thiết được chiếc Li-2 chở sang làm việc với bạn để bạn nạp dầu cho máy bay tôi. Sau đó, tôi cất cánh từ Bình Viễn về sân bay Đa Phúc.
Hôm đó, thời tiết ở sân bay Đa Phúc rất xấu: mây thấp và tầm nhìn rất kém, mọi điều kiện đều không đủ cho MiG-21 hạ cánh, nhưng cũng không còn đủ dầu liệu để đi sân bay khác được nữa, bởi vậy, mọi động tác xuyên mây hạ cánh của tôi phải đảm bảo thật chuẩn xác mới về một cách an toàn được. Tôi hạ cánh xong, Trung đoàn trưởng ra tận cầu thang máy bay đón tôi và ôm hôn thắm thiết. Những lời động viên của Trung đoàn trưởng hôm đó đã theo tôi trong suốt cả chặng đường chiến đấu của mình. Những lời ấy đã giúp tôi hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Hễ gặp bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào là tôi lại nhớ lại lời của Trung đoàn trưởng: Cậu đã bình tĩnh, quả cảm, xử lí chính xác cho nên người còn, máy bay còn về đây. Vậy phải giữ vững tinh thần, khí phách của người lái máy bay chiến đấu để tiếp tục chiến đấu nghe!".
Những tháng cuối năm 1966, mức độ ác liệt của cuộc chiến ngày một tăng. MiG-17 vẫn áp dụng cách đánh "vòng thúng" hoặc còn gọi là "đánh quần". Anh em ta đã biết tính bọn giặc lái F-4 rất hiếu chiến. Chúng như những con thiêu thân, hễ thấy MiG-17 là lao vào, bởi vậy, anh em nhử mồi cho chúng vào "vòng thúng" sau đó ta cắt bán kính lọt vào trong, "điểm huyệt". Có nhiều trận, MiG-17 bắn rơi 2-3 F-4B của Không quân Hải quân Mỹ. Có tháng thắng lợi rất ròn rã: MiG-17 bắn hạ đến 27 máy bay Mỹ với các chủng loại F-4B, F-8, A-4...
Những ngày cao điểm (ngày địch tập trung lực lượng đánh lớn vào mục tiêu quan trọng) thì MiG-17 trực ban chiến đấu từ 8 đến 12 chiếc, còn MiG-21 thì 8 chiếc. Chiến thuật đánh áp dụng đội hình 4 chiếc cho MiG-17 và đội hình 2 chiếc, cùng lắm là 4 chiếc cho MiG-21. Còn địch thì áp dụng đội hình từ 30 đến 40 chiếc, thậm chí có thời kỳ còn sử dụng đến 60 chiếc vào đánh một mục tiêu. Số lượng tiêm kích đi yểm hộ củng tăng gấp đôi. Bài đánh cổ điển của chúng vẫn là: một số tốp vào khống chế các sân bay của ta rồi tiêm kích bay chung với đội hình cường kích và có những tốp bay sau hoặc bay cạnh bên phải hay bên trái đội hình. Nhìn chung, địch tổ chức rất chặt chẽ theo bài bản không chiến hiện đại của Không quân nhà nghề. Vậy nhưng, chúng vẫn bị MiG-17 bắn hạ ngày càng nhiều.
Thời kỳ này, MiG-21 cũng phát triển đánh biên đội 4 chiếc, phát huy được thế chủ động, bắn hạ được một số F-105 của địch nhưng cách đánh vẫn chưa tháo gỡ được lúng túng giữa kiểu đánh "vòng thúng" và "đánh chặn" nên hiệu suất chiến đấu chưa cao.
Trận đánh ngày 19-12-1966 của biên đội 4 chiếc MiG-21 là trận đánh thắng nhưng không ròn rã (ta bắn rơi máy bay địch và ta an toàn). Biên đội ấy, tôi là số 1, Nguyễn Đăng Kính số 2, Vũ Ngọc Đỉnh số 3, Nghiêm Đình Hiếu số 4 cất cánh từ sân bay Đa Phúc theo hướng Đông-Tây bay đến địa phận Vĩnh Phúc thì gặp địch ở thế đối đầu. Biên đội vòng trái gấp để bám theo địch. Đội hình địch gồm hơn 20 chiếc (có cả tiêm kích và tiêm kích bom). Chúng phát hiện được MiG, nhanh chóng vứt bom, bay kiểu "vòng thúng" để không chiến với MiG. Kết quả trận đánh: Vũ Ngọc Đỉnh bắn rơi 1 F-105, tôi bắn bị thương 1 F-105 (sau này báo chí phương Tây đăng thì mới biết là nó đã bay lết về sân bay bên Thái Lan hạ cánh).
Đó cũng là trận đánh kết thúc năm 1966 đầy thử thách gian nan đối với MiG-21.
Rút kinh nghiệm trận đánh, Hội nghị kết luận: đấy là trận đánh thắng, bắn rơi máy bay địch, ta an toàn, bảo vệ được mục tiêu (địch ném bom ngoài mục tiêu).
Những ngày còn lại của năm 1966 và những ngày đầu năm 1967, thời tiết cực kỳ xấu, tầm nhìn chỉ vài chục mét, mây thấp xà sát sân bay. Đơn vị không bay được, tập trung để "quân sự dân chủ", thảo luận sôi nổi tìm cách đánh cho MiG-21.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2025, 08:12:51 pm » |
|
Ngày 2-1-1967, một trận đánh bất ngờ diễn ra trên vùng trời sân bay Đa Phúc. Biên đội 4 chiếc MiG-21 vừa cất cánh xuyên mây lên, ra khỏi mây thì gặp ngay tiêm kích địch. Địch đã dàn sẵn thế trận để đánh MiG, ta ở thế bị động, lúng túng vì vậy bị địch bắn rơi. Đó là trận thua cay đắng của MiG-21 khi bước vào đầu năm 1967. Cay đắng hơn nữa là lại bị thua tiếp trận nữa vào ngày 6-1-1967. Thế trận hai bên vào ngày này giống như ngày 2-1. Ta bị hy sinh một phi công giỏi. Đấy là phi công Đồng Văn Đe. Tôi lại đọc câu thơ của Tố Hữu: "Ai chiến thắng mà không hề chiến bại!...". Nhưng điều đáng nói để nhớ đời là trận thua của ngày 2-1 chưa rút kinh nghiệm xong thì lại để diễn ra cảnh tương tự vào ngày 6-1, rồi sau đó là từ người chỉ huy đến phi công, đến các thành phần của cơ quan tham mưu... phải ngồi lại vò đầu suy nghĩ, kiểm điểm với nhau... cho thật khách quan, không đổ lỗi cho nhau. Vấn đề đặt ra là cùng nhau rút ra bài học để những trận chiến đấu tới đây không bị lặp lại sự mất cảnh giác như vừa rồi nữa.
Sau này chúng ta mới biết chính xác âm mưu thủ đoạn của địch, là chúng chủ động tổ chức những trận không chiến trên bầu trời "thung lũng MiG" nhằm quét sạch bóng dáng máy bay MiG, giành quyền làm chủ bầu trời. Ngày 2-1, địch sử dụng 32 máy bay F-4, mỗi máy bay mang 8 tên lửa không đối không cùng với một số tốp F-105 "nhử mồi" cho MiG-21 quyết quây để tiêu diệt MiG. Địch đã lừa được cơ quan tham mưu chỉ huy, dẫn đường của ta làm cho ta phán đoán hoàn toàn sai về đối tượng địch, bởi vậy đã đưa 4 MiG-21 lâm vào thế trận bất lợi dẫn đến mất 4 chiếc MiG-21. Liền sau đó mấy ngày lại mất tiếp 2 chiếc MiG-21. Cay đắng hơn nữa là một phi công giỏi của ta đã hy sinh.
Nguyên nhân trận thua để lại bài học nhớ đời đó là: không nắm được âm mưu địch, sự thay đổi thủ đoạn của địch nên bị địch lừa, tưởng đấy là bọn tiêm kích bom, thực chất đấy là bọn tiêm kích bay theo đội hình với tốc độ, độ cao như tiêm kích bom. Trong khi chúng ta vẫn còn đang loay hoay tìm cách đánh với tiêm kích địch, lại chưa thành thạo cách đánh trên mây thì bị chúng bẫy, một cái bẫy chết người vì ta rơi vào thế mạnh của chúng. Thế mạnh của chúng là lấy số đông để áp đảo MiG. Thế mạnh ấy xuyên suốt cuộc chiến tranh, nhưng một nguyên nhân hết sức cơ bản của trận thua là cách đánh của MiG-21 chưa phù hợp với tính năng và hỏa lực của nó. Đó là điều bức xúc bấy lâu nay kể từ ngày đưa MiG-21 ra chiến đấu của đồng chí Trung đoàn trưởng. Đó đồng thời cũng là ý kiến của đa số cán bộ tham mưu, phi công trong Trung đoàn. Rút kinh nghiệm trận thua này, đồng chí Trung đoàn trưởng kết luận: phải kiên quyết đoạn tuyệt với lối đánh "vòng thúng" hay còn gọi là "lối đánh quần" đối với MiG-21, cho dù lối đánh này MiG-17 đang áp dụng giành thắng lợi ròn rã.
Quyết định thay đổi cách đánh của MiG-21 bấy giờ là quyết định táo bạo của Trung đoàn trưởng. Tất nhiên là phải dưới sự lãnh đạo của tập thể Đảng ủy và được sự phê chuẩn của cấp trên nhưng người khởi xướng ra cách đánh là vô cùng quan trọng.
Cách đánh mới là "đánh chặn - thọc sườn", có nghĩa là dẫn máy bay MiG áp sát máy bay địch với một góc tiếp cận bên cạnh sườn đội hình địch (bên trái hoặc bên phải đội hình máy bay địch). Bởi vậy yêu cầu sự hiệp đồng tỉ mỉ, ăn ý nhau giữa sỹ quan dẫn đường ở bàn tiêu đồ với sỹ quan dẫn đường trên màn hình "IKO", cùng phối hợp dẫn sao cho máy bay ta áp sát địch có một góc "thọc sườn" không lớn hơn 90 độ (nghĩa là không xông lên trước đội hình địch) hoặc không nhỏ hơn 30 độ (tức là không tụt hậu sâu). Đồng thời, khi MiG tiếp cận địch luôn phải có đà, có thế, phải có tốc độ lớn hơn máy bay địch và độ cao cao hơn địch, mới đảm bảo lối đánh nhanh rút nhanh, mới không sa đà vào lối đánh vòng thúng". Trách nhiệm của các sỹ quan dẫn đường trong cách đánh này lớn hơn cách đánh cũ rất nhiều. Cách đánh mới này còn tạo lợi thế cho phi công ta quan sát được toàn bộ đội hình của địch, dễ dàng nhận ra tốp nào là tốp tiêm kích địch để loại trừ bị dẫn dụ vào lối đánh quần. Đối tượng tác chiến của ta hồi đó được xác định phải tiêu diệt chủ yếu là máy bay cường kích, tiêm kích bom, trinh sát, gây nhiễu... còn tiêm kích đơn thuần thì không phải là đối tượng chính của ta. Cách đánh mới đã đáp ứng được mục đích đó.
Sau khi áp dụng cách đánh mới, Trung đoàn giành chiến thắng liên tiếp, bắn rơi nhiều máy bay địch, bảo vệ được mục tiêu, ta an toàn. Xuất hiện nhiều phi công chiến đấu giỏi, như Nguyễn Ngọc Độ, Phạm Thanh Ngân, Nguyễn Văn Cốc (được mệnh danh là "Chim cắt số 2" của đơn vị), Mai Văn Cương, Vũ Ngọc Đỉnh, Đặng Ngọc Ngự, Nguyễn Đăng Kính, Nguyễn Nhật Chiêu, Đồng Văn Song, Nguyễn Hồng Nhị (được anh em tôn vinh là "Thanh kiếm bầu trời" vì tiêu diệt được nhiều máy bay trinh sát có giặc lái thuộc loại RF). Đặc biệt, trong Trung đoàn có phi công Hà Văn Chúc, một mình dùng lối "đánh nhanh thọc sâu" đã xuyên suốt đội hình 36 máy bay địch, bắn rơi tên Đại tá dẫn đầu tốp địch, làm cho đội hình địch rối loạn, bỏ dở cuộc ném bom vào mục tiêu ở phía Bắc Hà Nội. Hy hữu còn có lần bắn rơi 2-3 máy bay liền trong một trận. Sở dĩ Trung đoàn vượt qua được giai đoạn lùng nhùng, từ chỗ chưa có cách đánh tốt sang có cách đánh tốt, từ chỗ hiệu suất chiến đấu thấp sang hiệu suất chiến đấu cao, trước hết chính là nhờ thay đổi cách đánh phù hợp với MiG-21. Người táo bạo dám thay đổi cách đánh đó là đồng chí Trung đoàn trưởng Trần Mạnh. Anh em chúng tôi mỗi khi nói đến chiến thắng của Trung đoàn, nói đến cách đánh của MiG-21 là phải nhắc đến tên đồng chí Trung đoàn trưởng Trần Mạnh, tôn vinh đồng chí là "Trung đoàn trưởng của các Trung đoàn trưởng!". Đồng chi trưởng thành từ người lính bộ binh lên giữ chức Chính ủy Trung đoàn rồi được tuyển đi lái máy bay MiG-17. Năm 1966, đồng chí được bổ nhiệm là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 921 (Trung đoàn Sao Đỏ). Đồng chí có tác phong chỉ huy rất quyết đoán, táo bạo, thông minh, sáng tạo, phát hiện cái mới nảy sinh đúc kết thành kinh nghiệm kịp thời và vận dụng đạt hiệu quả cao hơn. Với phong thái chững chạc, điềm đạm, dân chủ, sâu sát, nhạy bén... đồng chí đã đánh giá mọi phát sinh trong không chiến giữa ta và địch một cách khách quan, nhờ vậy mà đưa ra được những đấu pháp chính xác, kịp thời. Đồng chí đã táo bạo đưa ra cách đánh mới cho MiG- 21 là "đánh chặn - thọc sườn - đánh có đà có thế - đánh nhanh thọc sâu". Nó bao gồm cả hành động và tư tưởng chỉ đạo cho hành động của người chỉ huy, các cán bộ tham mưu, dẫn đường và phi công áp dụng xuyên suốt cuộc chiến tranh một cách vững chắc, đập tan cuồng vọng của bọn chỉ huy Không quân Mỹ muốn xóa sổ Không quân Bắc Việt, muốn không còn một chiếc MiG nào bay trên bầu trời Bắc Việt nữa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2025, 08:17:06 pm » |
|
Nói đến MiG-21 vững vàng vượt qua thời kỳ khó khăn ác liệt nhất thì không thể thiếu vai trò của đồng chí Chính ủy Trung đoàn Chu Duy Kính. Đồng chí trưởng thành từ một người lính đặc công, từng vào đánh sân bay Cát Bi (Hải Phòng), đốt cháy nhiều máy bay của giặc Pháp. Đồng chí được bổ nhiệm Chính ủy Trung đoàn 921 cùng thời gian với Trung đoàn trưởng Trần Mạnh. Tác phong lãnh đạo của đồng chí rất sâu sát, gần gũi bộ đội, nhạy bén nắm bắt tình hình một cách kịp thời, đề ra phương pháp lãnh đạo, giáo dục sát thực có hiệu quả. Đồng chí rất thương yêu bộ đội, sống giản dị, khiêm tốn, gương mẫu. Đồng chí còn là một cán bộ chính trị có lý luận sắc sảo, có sức thuyết phục cao. Đồng chí đã cùng với Trung đoàn trưởng lãnh đạo, chỉ huy Trung đoàn Không quân 921 vượt qua giai đoạn chiến đấu khó khăn ác liệt nhất. Đó là thời kỳ Mỹ tập trung đánh nhằm tiêu diệt Trung đoàn MiG-21, nhưng chúng đã thất bại thảm hại, bị các phi công của Trung đoàn hạ gục hết chiếc này đến chiếc khác, kể cả máy bay chiến lược B-52. Nhắc đến chiến công rực rỡ của Trung đoàn Không quân 921 là nhắc đến công lao sáng tạo, tài trí lãnh đạo chỉ huy Trung đoàn chiến đấu của hai đồng chí Trần Mạnh và Chu Duy Kính (Trung đoàn trưởng và Chính ủy). Những ngày tháng khó khăn nhất hồi đầu năm 1967 đã lùi xa rồi nhưng hình ảnh của Trung đoàn trưởng và Chính ủy ngồi tại bàn tiêu đồ trong sở chỉ huy Trung đoàn tại nơi sơ tán là làng Thụy Hương đến nay vẫn còn in đậm trong trí nhớ của tôi. Hai ông thức trắng đêm dưới cái lạnh cắt da cắt thịt của gió mùa Đông Bắc tràn về, ngồi bóp trán suy nghĩ để đưa ra nhận định chính xác về âm mưu của địch, về tình hình của ta và đề ra cách đánh cho MiG-21 "phải thắng, phải tồn tại". Địch cũng tìm mọi cách tiêu diệt ta bằng được. Chúng đánh phá sân bay nhằm tiêu diệt khí tài và lực lượng phi công, thợ máy dưới mặt đất trên trời thì bày binh bố trận tiêu diệt máy bay và phi công trong các trận không chiến. Phi công ta nhảy dù ra, chúng dùng súng 20 li bắn dù để diệt phi công. Trường hợp của phi công Lộc bay trên MiG-17 là một ví dụ. Trong trận không chiến ở vùng trời Thái Nguyên, máy bay của đồng chí bị thương, đồng chí phải nhảy dù rời bỏ máy bay. Hai chiếc F-4 đã bay đuổi theo, nã súng 20 li vào dù của đồng chí. Một viên đạn sượt qua đầu làm bay mất một mảng xương sọ, may thay không phạm vào não. Đồng chí được đưa về bệnh viện 108 chữa trị. Các bác sĩ đã vá xương sọ bằng một miếng mi-ca. Sau này, đồng chí còn tiếp tục bay chiến đấu một thời gian nữa rồi mới chịu thôi bay, xuống làm công tác mặt đất.
Ý chí chiến đấu của bộ đội rất cao, cho dù có bị tổn thất nhưng không ai nao núng tinh thần. Tất cả đều hăng hái xin đi chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì đồng bào. Hai ông đã thảo luận, bàn bạc với nhau là lúc này, người lãnh đạo chỉ huy phải thật tỉnh táo, tìm mọi cách vượt qua khó khăn mang tính sống còn của đơn vị, không mắc mưu địch, không liều lĩnh đánh, không để xảy ra sự hy sinh không đáng có... Và các ông đã lãnh đạo Trung đoàn vượt được mọi trở ngại, giành chiến thắng. Khi Trung đoàn được phong danh hiệu Anh hùng và một số phi công của Trung đoàn cũng được phong Anh hùng, anh em phi công chúng tôi nói với nhau: Trung đoàn trưởng và Chính ủy của Trung đoàn hoàn toàn xứng đáng là Anh hùng của Anh hùng!".
Tháng 6-1967, Liên Xô viện trợ cho ta MiG-21 loại mới, được cải tiến nhiều hệ thống, trong đó có hệ thống SPS giúp cho hạ cánh tốt hơn...
Rồi tiếp đến là lực lượng phi công cũng được bổ sung dồi dào do số tốt nghiệp ở Liên Xô về...
Đơn vị vẫn duy trì chế độ cho phi công nghỉ mát ở Tam Đảo theo từng tốp một.
Ngày 30-6, tôi cùng với một số anh em đã bắn rơi máy bay Mỹ được đơn vị phân công cho đi nghỉ mát đợt này. Thực ra, không ai muốn đi nghỉ cả, chỉ muốn ở nhà để được trực, được chiến đấu, nhưng đơn vị dứt khoát phân công theo lịch phải đi nghỉ để lấy sức cho những trận chiến đấu nay mai. Đợt này đi cùng tôi có các anh Nguyễn Nhật Chiêu (đã bắn rơi 5 chiếc), Lê Trọng Huyên (đã bắn hạ 2 chiếc), Nguyễn Ngọc Xíu (bắn hạ 3 chiếc), Mai Văn Cương (bắn hạ 4 chiếc), Đặng Ngọc Ngự (bắn hạ 4 chiếc)... Năm nay đi nghỉ rất đông, vui và thoải mái chứ không như kỳ nghỉ của năm 1966. Năm ấy đi nghỉ mà cứ ôm đầu suy nghĩ tìm cách đánh, còn năm nay thì đã có cách đánh hiệu quả cho MiG-21 rồi.
Trung đoàn động viên anh em thật yên tâm đi nghi để lấy sức đối chọi với địch trong mùa khô tới. Cấc cấp lãnh đạo dự đoán tình hình chiến sự từ nay đến cuối năm 1967 sẽ rất ác liệt và cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ trên miền Bắc luôn tỉ lệ thuận với việc Mỹ đổ quân vào miền Nam (hiện Mỹ và các nước chư hầu đã đưa 50 vạn quân vào miền Nam rồi và sẽ còn tiếp tục đưa thêm nữa). Địch đưa quân vào miền Nam càng nhiều, gây khó khăn cho ta càng lớn nhưng chúng sẽ chuốc lấy thất bại càng thảm hại hơn và chắc chắn cuối cùng sẽ thua. Chúng tôi tin tưởng như vậy.
Chúng tôi đi nghỉ mát trong những ngày chiến tranh đang tiếp diễn ác liệt tuy vậy cũng rất vui, với tôi, niềm vui còn được nhân lên gấp bội! Một niềm vui chưa từng có đã đến với đời riêng của tôi. Một tình yêu thật bất ngờ đã đưa tôi và cô y sĩ phụ trách Trạm xá Tam Đảo là Nguyễn Thị Thanh Dậu đến với nhau.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2025, 08:18:18 pm » |
|
Lần đầu tiên trong đời, tôi mạnh dạn bắt tay một người con gái xa lạ ấy và dám hỏi: "Em có yêu anh không?". Anh em trong đơn vị từng mệnh danh cho tôi là anh chàng nhát gái! Trung đoàn trưởng và Chính ủy đã dẫn tôi đi "xem mặt" mấy đám ở Đa Phúc, nhưng đám nào tôi cũng chỉ im lặng không nói nửa lời, vậy mà hôm nay tôi dám hỏi... Tôi có cảm giác trống ngực tôi ngày đập càng nhanh vì sợ cô mắng thì ngượng lắm. Nhưng cô không mắng mà đáp lại câu hỏi bằng nụ cười rất tươi xinh. Nụ cười hiền dịu ấy đọng lại trong tôi mãi mãi! Sau này khi chúng tôi trở thành đôi bạn hiền trăm năm của nhau, vào một đêm mùa Đông nằm trên Tam Đảo trong khung cảnh "đầu gối tay em, em gối mây...", nàng đã tâm sự:
- Hôm đó anh hỏi em, em không trả lời, anh có giận em không?
- Anh không giận mà ngược lại càng yêu em hơn - Tôi trả lời.
Nàng thủ thỉ: "Qua đó làm cho em càng hiểu tính nết của người miền Nam hơn và cũng càng yêu anh hơn!". Nàng sinh ra trong một gia đình vô cùng nghèo khổ. Thời Pháp đô hộ, cha nàng là Nguyễn Văn Tác, mẹ nàng là Nguyễn Thị Bì đã đi lang thang làm thuê kiếm sống hàng ngày từ vùng Ninh Bình, Hà Đông đi đến Thái Nguyên và cuối cùng dạt lên Tam Đảo làm phu vác đá cho thực dân Pháp mở đường xây dụng khu nghi mát Tam Đảo. Tiền công mỗi ngày được mấy hào bạc nhưng bị bọn cai thầu mưu ma chước quỷ quỵt nợ hết, có tháng không được hào nào. Đêm đêm phải nhịn đói lại cộng thêm cái lạnh của núi rừng Tam Đảo hành hạ nữa. Lại phải đi vay để chống đói. Lại nợ nần chồng chất hết lớp cũ đến lớp mới... Cha mẹ nàng sống trong cảnh lầm than, tương lai của cuộc đời ngày càng thêm bế tắc! Tháng 8-1945, cách mạng về đã thay đổi cuộc đời cho bao nhiêu người, xóa bỏ được cuộc sống lầm than nghèo đói cho bao nhiêu gia đình trong đó có gia đình của nàng. Nàng được đi học y sĩ, tốt nghiệp loại ưu, về phục vụ ở Trạm xá Tam Đảo. Các em của nàng gồm Nguyễn Dũng Chiến là bộ đội đi B, Nguyễn Tiến Thắng là công nhân quân giới quốc phòng, Nguyễn Thị Hồng Yên là bộ đội thông tin Không quân. Bố của nàng làm công tác bưu tá xã Tam Đảo, còn mẹ làm vườn, trồng rau và nuôi ong.
Thời gian nghỉ mát đã hết, chúng tôi lưu luyến chia tay. Trước khi chia tay, nàng đưa tôi xuống xóm 2 thăm bố mẹ và để cho biết nhà nàng. Nàng đãi cả tốp phi công nghỉ mát chúng tôi mỗi người một chén nước chè xanh pha với mật ong thơm ngon không gì bằng!
Về đến đơn vị, anh em phi công chuẩn bị quần áo bay, mũ bay để ngày mai đi trực chiến (theo nề nếp: 3 giờ sáng dậy vệ sinh cá nhân, 3 giờ 30 ăn sáng, 5 giờ đi sân bay, 5 giờ 30 tiếp thu máy bay và hiệp đồng với sĩ quan dẫn đường ở Sở chỉ huy và sẵn sàng cất cánh bất kể lúc nào!). Tôi chuẩn bị đi ngủ sớm thì được lệnh gọi tôi lên Sở chỉ huy để gặp Trung đoàn trưởng. Tôi bước vào Sở chỉ huy, giơ tay chào thủ trưởng. Đồng chí bắt tay tôi và bảo tôi ngồi vào bàn tiêu đồ đồng thời chỉ mục tiêu trên bản đồ và nói: "Ngày mai địch có thể vào đánh phá. Trước khi cường kích vào đánh sẽ có máy bay trinh sát có người lái RF vào trinh sát. Trung đoàn giao nhiệm vụ cho biên đội Nhị - Kính ngày mai phải bắn rơi chiếc RF vào trinh sát mục tiêu để phá tan đợt đánh phá và bảo vệ mục tiêu!". Đồng chí chỉ mục tiêu, dự kiến đường bay và phương án dẫn đường cho kíp trực sở chỉ huy ngày mai biết để chuẩn bị.
Tôi rời Sở chỉ huy về nhà nằm trằn trọc suy nghĩ về cách đánh loại trinh sát có người lái RF. Bọn này sừng sỏ lắm cho nên phải chuẩn bị nhiều phương án đối chọi với nó. Tôi vừa chợp mắt được một lát thì trực ban đã gọi dậy để ra sân bay. Mắt ngái ngủ còn cay sè, ra đến tận sân bay mới hết cay. Tiếp nhận máy bay và kiểm tra xong, hai anh em vào nhà trực, vừa ăn sáng vừa trao đổi cách đối phó với RF khi chúng phát hiện có MiG tiếp cận.
Tôi dặn Nguyễn Đăng Kính tuyệt đối không được mở ra-đa để giữ bí mật. Sở chỉ huy thông báo khoảng 10 giờ sáng sẽ có đợt đánh phá mục tiêu "X". Bởi vậy, loại RF có thể sẽ vào trinh sát trước 10 giờ.
8 giờ kém 15 phút ngày 31-8-1967, có lệnh "Biên đội vào cấp 1!". Tôi đeo quai dù vừa xong thì được lệnh mở máy cất cánh. Sở chỉ huy nhắc tôi: "420! Động tác khẩn trương!". Tôi nghĩ, RF đã bay vào.
Tôi và Kính cất cánh từ đầu Đông sân bay Đa Phúc, lên đến độ cao 200 mét thì Sở chỉ huy cho hướng bay và độ cao lên 6000 mét. Đến vùng trời Phú Thọ, chúng tôi phát hiện 2 chiếc RF đang bay ra phía biên giới. Biên đội bật tăng lực toàn phần đuổi theo chúng. Đuổi đến vùng trời Nghĩa Lộ thì tôi ngắm bắn được thằng RF-101. Nó cắm thẳng xuống khu rừng và sau đó là một chiếc dù màu xanh đỏ bung ra. Trong quá trình chúng tôi đuổi đánh, nó làm những động tác cơ động kịch liệt để tránh tên lửa và làm nhiều động tác giả để đánh lừa chúng tôi, nếu chúng tôi lao theo nó thì sẽ đâm vào núi mất mạng ngay lập tức. Nhưng nó không thể lừa được tôi!
Đó là lần đầu tiên biên đội xuất kích đi đánh RF giành thắng lợi đã góp phần phá tan kế hoạch của địch đánh phá Hà Nội.
Sau lễ kỷ niệm ngày Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa lần thứ 22 (2-9-1945 - 2-9-1967), tình hình chiến sự có lắng dịu xuống đôi chút. Địch chỉ dùng những tốp lẻ đánh các mục tiêu xa Hà Nội, đồng thời tăng số lần trinh sát Hà Nội bằng loại RF. Trên nhận định đó là triệu chứng địch sắp đánh lớn.
Tôi được phân công trực chiến liên tục để đánh RF nhưng chưa gặp thời cơ. Chiều chiều, trước giờ rút ban thường là khoảng thời gian yên ắng hiếm có. Tôi đứng cạnh chiếc MiG-21 nhìn về phía núi Tam Đảo xanh lơ dưới ánh nắng chiều mà da diết nhớ người yêu! Giờ này chắc cô y sĩ đang thu dọn đồ nghề để về nhà rồi đi vào rừng lấy củi nấu cơm đây. Tôi khe khẽ hát bài "Nụ cười sơn cước" để vơi bớt nỗi nhớ mong và cố không để anh em thợ máy nghe thấy, sợ anh em mà biết thì ngượng lắm... "Ai về sau dãy núi xanh lơ, nhắn giùm tim tôi chưa phai mờ, hình dung một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trắng, một chiếc vòng sáng lóng lánh với nụ cười nàng quá xinh... Những lời hát như nói hộ lòng tôi...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2025, 08:19:17 pm » |
|
Ngày 10-9-1967, địch bay nhiều tốp lớn vào miền Bắc đánh phá nhiều mục tiêu quanh Hà Nội.
Biên đội tôi và Đồng Văn Song được lệnh cất cánh bay lên đánh chặn tốp địch ở hướng Chiêm Hóa - Tuyên Quang. Biên đội bay đến vùng trời Tuyên Quang thì gặp địch. Tôi và Song triển khai đội hình đồng thời công kích. Tôi bắn rơi 1 F-4 và Song cũng bắn rơi 1 chiếc, phá tan đợt đánh phá của địch vào Hà Nội.
Ngày 23-9-1967, biên đội tôi và Nguyễn Đăng Kính chiến đấu trên vùng trời Nghĩa Lộ, tôi đã bắn rơi 1 chiếc RF-4C.
Ngày 10-10-1967, biên đội tôi và Nguyễn Đăng Kính chiến đấu trên vùng trời Sơn La, tôi tiếp tục bắn rơi 1 chiếc RF-4C nữa.
Ngày 24 và 25-10-1967, địch tập trung đánh phá sân bay Đa Phúc tan tành không còn sót chỗ nào. Từ đường băng, đường lăn, sân đỗ đến ụ để máy bay, hầm hào, nhà ga sửa chữa máy bay, kho nhiên liệu, khu doanh trại, nhà ăn, nhà ở của phi công... hễ cứ nơi nào có mái ngói là chúng san bằng bình địa! Đó là kế hoạch tiêu diệt MiG tận gốc, kể cả máy bay trên trời, máy bay dưới đất và nhân lực từ phi công đến các thành phần bảo đảm...
Trong hai ngày 24 và 25 tháng 10, chúng sử dụng Không quân và Không quân của Hải quân với số lượng 50-60 lần chiếc/mỗi lần đánh phá. Ngày 24 thì đánh vào buổi sáng. Ngày 25 thì đánh từ sáng sớm đến tận chiều tối. Khắp khu vực sân bay chỗ nào cũng còn bom phá, bom bi chưa nổ. Nhưng tối đến là nhân dân các xã xung quanh sân bay đã tập trung đi sửa gấp sân bay. Những tiếng hát, tiếng hò rộn lên vui vẻ mặc cho thi thoảng vẫn còn tiếng nổ của bom bi.
Ngày 25-10, mới hơn 7 giờ sáng, tiếng kẻng báo động đã vang dồn dập trong làng Thụy Hương. Tôi lấy vội chiếc mũ sắt chạy ra hầm chưa kịp đội lên đầu thì những tiếng động cơ của bọn F-105, F-4 gầm thét đến inh tai nhức óc tràn ngập khoảng trời làng Thụy Hương, cứ lần lượt từng tốp 4 chiếc một lao xuống đường băng cắt bom. Sân bay bỗng trở thành một chảo lửa khổng lồ, khói bụi bốc lên tận trời cao, không còn nhìn thấy gì hết. Máy bay và thợ máy của ta đã đi sơ tán sân bay Gia Lâm, còn lại chỉ là số anh em thông tin, cảnh vệ, sân đường, Đài chỉ huy, khu nhà trực chiến... mà thôi. Chắc anh em không thoát khỏi sự hy sinh mất mát! Tôi thương anh em mình quá, nước mắt cứ chảy giàn giụa trên mặt lúc nào không biết.
Ngày 30-10-1967, trên điều tôi và Nguyễn Đăng Kính xuống sân bay Gia Lâm trực ban chiến đấu thay cho các anh ở Đại đội 1. Máy bay trực ban chiến đấu ở đây là 2 chiếc MiG-21 F-13 - loại máy bay cũ thường phát sinh nhiều hỏng hóc. Anh em thợ máy đã thức trắng đêm để sửa chữa nên mặt anh nào anh nấy đều trũng sâu với nét mặt phờ phạc. Thương anh em lắm nhưng chẳng biết làm thế nào, tôi chỉ động viên anh em cố gắng sửa máy bay cho tốt để còn chiến đấu bảo vệ Hà Nội, bảo vệ Bác Hồ. Nghe nói đến Bác, anh nào cũng hăng hái, mắt sáng rực lên và cặm cụi làm việc để sớm đưa máy bay vào trực ban chiến đấu.
Đường băng sân bay Đa Phúc vừa sửa chữa xong thì đêm 1-11-1967, đích lại cho F-111 bay cực thấp vào ném bom tiếp. Đường băng bị trúng 4 quả bom nên lại phải huy động nhân dân đến sửa gấp. Bà con nói: "Các chú "bộ đội quần xanh" cứ yên tâm. Hễ khi nào nghe tiếng bom nổ là chúng tôi sẽ cuốc xẻng lên vai ra sân bay ngay, không chờ đến hiệu lệnh kẻng hay loa gọi đi sửa sân bay nữa!".
Đường băng của sân bay Đa Phúc vẫn chưa đảm bảo cho trực chiến được nên biên đội của tôi vẫn phải trực ở sân bay Gia Lâm. Đêm đêm, địch đều vào quấy phá giấc ngủ của Hà Nội. Bọn máy bay A-6 bay thấp lẻn vào đánh phá các cầu phao bắc qua sông Hồng nhằm cắt đứt tuyến đường chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Các loại đạn vạch đường của súng to súng nhỏ từ mặt đất bắn lên bủa vây vít đầu bọn giặc lái xuống dòng Nhị Hà - nơi cách đây hơn một thế kỷ đã diễn ra cảnh "lũ quân chàng Tôn sập cầu trôi đầy sông" (nói về quân tướng của Tôn Sĩ Nghị). Lửa đạn trông tựa như đêm pháo hoa, thật thích mắt.
Ngày 7-11-1967, biên đội của tôi được lệnh về sân bay Đa Phúc trực ban chiến đấu. 6 giờ sáng, khi mặt trời vừa nhô lên với màu đỏ rực giống như cái đĩa lửa thì chiếc trực thăng Mi-4 đã đến chở tổ trực từ Gia Lâm về Đa Phúc. Tổ lái máy bay trực thăng cố tình bay thật thấp qua các nóc nhà dân, nhà máy, xóm làng rồi các trận địa cao xạ, tên lửa... và "bơi" qua các cánh đồng lúa đang chín vàng óng. Họ như cố tình trêu các phi công lái "vỉ ruồi" chúng tôi rằng: "Đấy! Các ông đã để cho máy bay Mỹ vào ném các loại bom phá, bom bi... lỗ chỗ khắp nơi, từ nhà máy đến nhà dân, từ làng xóm đến cánh đồng... Các ông "vỉ ruồi" đã thấy chưa?". Ngày ấy, anh em bay vận tải thường trêu đùa, gọi máy bay MiG-21 là "vỉ ruồi". Trêu đùa nhau cốt để giải tỏa những căng thẳng chứ không có ý gì khác! Mấy trận vừa rồi anh em tôi không bắn rơi được chiếc nào nên ai cũng buồn.
Sau khi chiếc Mi-4 hạ cánh nhẹ nhàng xuống sân bay, tôi và Nguyễn Đăng Kính rời máy bay, đi kiểm tra đường lăn của sân bay để sắp tới chúng tôi sẽ cất cánh và hạ cánh từ đó. Việc ấy chưa hề có tiền lệ!
Trong quá trình tiếp thu, kiểm tra máy bay, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến lốp máy bay vì khi cất cánh và hạ cánh trên đường lăn vừa sửa gấp xong, mặt đường lăn còn rất nhám, dễ bị nổ lốp lắm.
Đồng chí Trung đoàn trưởng và đồng chí Chính ủy cùng đi trên chiếc "com-măng-ca đít vuông" do cậu Ngoạn lái từ Sở chỉ huy ra đỗ trước nhà trực chiến. Hai đồng chí bước xuống xe, bắt tay chúng tôi và dặn dò: "Hôm nay yêu cầu cần có một trận đánh của Không quân ta bắn rơi máy bay địch. Ngày hôm nay là ngày 7-11, trận đánh này có nhiều ý nghĩa lớn lắm. Trung đoàn mong biên đội cố gắng làm bằng được nghe!".
Chúng tôi hứa với Trung đoàn trưởng và Chính ủy rằng "sẽ quyết tâm bắn rơi tại chỗ!"
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2025, 08:21:05 pm » |
|
Hai đồng chí lên xe về Sở chỉ huy Trung đoàn, sở chỉ huy Trung đoàn được đặt trong căn hầm trong lòng núi Am Lợn. Đấy là căn hầm bê tông kiên cố, có thể chịu được các loại bom của địch. Kíp trực hôm nay được chọn gồm những sĩ quan có kinh nghiệm để đảm bảo dẫn dắt chắc chắn, không có gì sai sót. Tất cả chăm chú theo dõi tình hình trên bảng tiêu đồ xa. Đồng chí Chính ủy có chiếc cằm hơi nhọn và miệng hơi rộng, cặp mắt trũng sâu vì nhiều đêm thức trắng. Cộng thêm căn bệnh đau dạ dày nên người đồng chí sút sọp hẳn đi. Nhẽ ra đồng chí phải đi viện điều trị, nhưng đồng chí ấy nói: "Tao mà xa chiến đấu một ngày thì bệnh chỉ có nặng thêm mà thôi!". Thế đấy! Chính ủy lấy việc chiến đấu để vượt lên tất cả bệnh tật, lại khỏe ra và thông minh sáng suốt! Đúng vậy, cứ nhìn vào Chính ủy là như mình được truyền thêm quyết tâm, khó khăn mấy cũng vượt qua. Tác phong lãnh đạo của Chính ủy có sức thuyết phục cao. Tôi mà gặp Chính ủy thì không có ưu điểm gì mà không nói và cũng không có sai lầm, thiếu sót gì mà tôi không bộc lộ... Ngồi cạnh Chính ủy là Trung đoàn trưởng. Đồng chí có khuôn mặt hơi tròn, đôi mắt sáng, hiền hậu nhưng nghiêm túc. Đồng chí có tác phong chỉ huy rất điềm đạm, đĩnh đạc, rất quyết đoán, táo bạo. Lúc nào đồng chí cũng nhìn sâu vào bản chất kẻ thù để qua đó đánh giá hành động của chúng và chỉ huy bộ đội của mình chiến đấu giành thắng lợi. Đồng chí rất chú ý lắng nghe ý kiến của mọi người. Với tập thể thì rất dân chủ và với cá nhân thì rất độ lượng.
Tiếp thu máy bay xong, tôi và Nguyễn Đăng Kính đang đứng tán dóc với anh em thợ máy thì nhận được lệnh chuyển cấp. Chưa đầy phút sau thì có lệnh: "Ấp Bắc! Cờ Hồng!" (Mở máy! Cất cánh!). Đường lăn rộng 16 mét nên biên đội phải cất cánh từng chiếc một rồi tập hợp đội hình. Chúng tôi bay về phía Nghĩa Lộ trên độ cao 5.000 mét. Trời trong xanh không một gợn mây. Cảnh vật của vùng đồng bằng đến vùng rừng núi miền Tây Bắc thật tuyệt đẹp. Tôi càng thấy mến yêu Tổ quốc mình hơn. Bay qua vùng trời Nghĩa Lộ, chúng tôi nghe thấy tiếng trầm ấm của Trung đoàn trưởng vang lên trong tai nghe: "Ruồi xanh" (mật danh máy bay địch) bên phải 15 km. Biên đội chuẩn bị chiến đấu!". Tôi trả lời: "Nghe rõ!". Số 2 báo cáo địch bên phải 10 km gồm 6 tốp. Tôi hạ lệnh vứt thùng dầu phụ, tăng lực chuẩn bị công kích. Nguyễn Đăng Kính dõng dạc trả lời: "Nghe rõ!".
Địch cũng đã phát hiện có MiG. Các tốp F-4 bắt đầu vòng vèo đan chéo nhau tạo thành chiến thuật "vòng thúng" nhưng không kịp nữa rồi. Chúng tôi đã tạo đà và thế trước lúc địch hành động. Biên đội tôi đã áp sát đội hình bọn F-105. Tôi phóng quả tên lửa đầu tiên trúng một thằng F-105. Nó bốc cháy. Tôi báo về Sở chỉ huy: "Một chiếc cháy rồi!" và nhận được lệnh: "Tất cả "Thắng Lợi!"" (thoát ly khỏi không chiến).
Biên đội bay về trong niềm vui khôn tả. Một trận đánh làm cho địch không ngờ tới, không kịp trở tay, đành chấp nhận thất bại. Bộ đội và nhân dân quanh khu vực sân bay bừng lên niềm vui mới sau bao ngày đầy gian khổ và ác liệt tương như không thể trụ nổi. Ngày hôm nay, tiếng MiG đã vang lên mang theo chiến thắng trở về!
Tôi đi tập huấn ở Quân chủng một tuần lễ, dự tổng kết chiến đấu của Quân chủng trong thời gian qua. Ngồi ở khu sơ tán thuộc Tiên Phương, Quốc Oai, Sơn Tây, ngày nào địch cũng bay qua đầu về phía Hà Nội đê đánh phá. Ở đây có ngôi chùa "Trăm Gian" nổi tiếng trang nghiêm và đẹp đẽ, xung quanh chùa có rất nhiều cây Trám, đặc biệt là Trám đen, lấy quả già của nó để kho cá thì ngon tuyệt. Cách chùa "Trăm gian" không xa là chùa Thổ Ngõa. Chúng tôi được bố trí ăn nghỉ ở chùa này. Ở đây có giống chè xanh lá rất dày và giòn, nước không chê vào đâu được, uống xong rồi mà trong cổ vẫn đọng mãi vị ngòn ngọt. Giếng nước ở đây có mạch từ đá ong chảy ra, trong vắt, múc gàu nước lên trông đã hấp dẫn rồi, chỉ muốn uống ngay. Phía Tây là núi Tản Viên và núi Ba Vì, ở đó có Trường Sỹ quan Trần Quốc Tuấn - nơi mà tôi đã từng nếm trải, rèn luyện một thời trai trẻ với những kỷ niệm đẹp không bao giờ quên!
Kết thúc đợt tập huấn, tôi về đơn vị, khi đang bàn bạc với Đại đội bố trí lực lượng trực ban chiến đấu cho ngày 28- 11 thì đồng chí trợ lí chính sách của Trung đoàn đến gặp tôi và báo tôi phải lên gặp Chính ủy ngay. Tôi vừa đi vừa nghĩ "Chắc lại có nhiệm vụ đột xuất gì đây". Tôi vừa bước vào nhà, Chính ủy đã bảo tôi ngồi xuống uống nước và bắt đầu câu chuyện mà tôi chưa dám nghĩ vào thời điểm này. Chính ủy nói: "Trung đoàn quyết định ngày mai (28-11-1967) cho cậu về Tam Đảo tổ chức lễ cưới. Trong thời gian cậu đi tập huấn thì ở nhà, cơ quan cán bộ và chính sách đã chuẩn bị xong xuôi đâu vào đấy hết rồi, nhưng chưa cho cậu biết ngay vì sợ ảnh hưởng tư tưởng, không tập trung tập huấn...". Tôi ngồi im nghe Chính ủy nói mà lòng rối bời với bao nỗi mừng vui, e ngại... thật khó tả. Tôi thành thật báo cáo với Chính ủy là tình hình chiến đấu đang căng thẳng, vậy việc riêng của tôi có thể hoãn lại một thời gian nữa được hay không. Chính ủy nói ngay: "Việc đó không thể hoãn được vì địa phương rồi gia đình và đơn vị đã thống nhất rồi! Hơn nữa, sắp tới cậu lại được cử sang Liên Xô phổ biến kinh nghiệm và chuẩn bị cho đoàn học viên đang bay ở bên đó để khi anh em về nước có thể tham gia chiến đấu được ngay. Trung đoàn đang rất cần tăng cường lực lượng để mở rộng phạm vi hoạt động vào vùng trời khu Bốn, bảo vệ giao thông vận chuyển hàng hóa cho chiến trường, sắp tới công việc rất bận rộn, không có thời cơ cho cậu nữa. Thôi nhé! Cậu về chuẩn bị để sáng mai, Trung đoàn cho chuyến xe chạy lên Tam Đảo sớm chuẩn bị cho kịp để buổi tối liên hoan. Đến tối thì các cơ quan và anh em phi công sẽ lên Tam Đảo dự vui với cậu!".
Thế là mọi chuyện đã rõ. Tôi rất cảm ơn Chính ủy. Ra về, trong lòng mừng vui thì ít mà lo lắng thì nhiều! Chưa biết lo cái gì trước, cái gì sau bây giờ đây! Tôi ghé vào Ban quân nhu Trung đoàn xin các đồng chí nhượng cho mấy tút thuốc lá "Xuân Mới", mấy cân kẹo Hà Nội, chè Hồng Đào, rượu Lúa Mới... Còn cái quà êm ấm nhất của ngày cưới là chiếc chăn bông vải hoa Trung Quốc vừa đẹp vừa ấm thì trong kho đã hết. Các đồng chí quân trang hứa sẽ gửi lên Tam Đảo cho tôi sau.
Quà ngày cưới chỉ có vậy, nhưng trong bối cảnh chiến đấu và khó khăn thời bao cấp mà có được như thế cũng là quý lắm rồi. Anh em trong đơn vị biết tin đều đến chúc mừng tôi, tất cả không có điều kiện dự ngày vui của tôi vì đường lên Tam Đảo xa xôi không thể đi được. Tôi ngồi thẫn thờ nhìn mấy gói quà đề "Quà Cưới" mà trong lòng nhớ da diết ba má và các anh chị em ở trong quê. Ước gì ba má, anh chị em và bà con ở trong quê có mặt trong ngày cưới của tôi thì sung sướng biết ngần nào và cũng thỏa lòng mong ước của người yêu tôi. Nhưng đất nước còn bị chia cắt, mong ước ấy đành gác lại trong lòng đợi ngày thống nhất đất nước.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 08 Tháng Mười, 2025, 08:25:51 pm » |
|
Suốt ngày 28-11-1967, người yêu tôi dẫn tôi đi khắp Tam Đảo, trước tiên, lên ủy ban nhân dân xã để đăng ký kết hôn và mời các đồng chí đến dự liên hoan, rồi tiếp đến là đi mới các bà con hàng xóm láng giềng, bạn bè, những người thân quen với gia đình bố Tác.
Trời tối, người yêu tôi dẫn tôi về tới nhà thì cũng vừa lúc đến giờ lên Hội trường để khai lễ. Lúc này, Dậu mới nhờ mấy chị bạn thân tết lại cái đuôi sam cho gọn. Dậu có mái tóc dài quá khoeo chân, rất đẹp, tôi rất thích.
Buổi hôn lễ của chúng tôi được tổ chức rất đầm ấm, vui vẻ, được đơn vị và chính quyền lo cho rất chu đáo. Đại diện cho họ nhà trai và họ nhà gái phát biểu chúc mừng cô dâu chú rể và cám ơn tất cả đã đến dự. Cô Dậu bưng cái khay đựng ly, tôi cầm chai rượu đi đến từng bàn rót rượu vào ly và mời khách. Ly rượu "Lúa Mới" đậm đà hương vị quê hương mừng ngày cưới. Hôn lễ chỉ diễn ra trong vòng hơn một tiếng đồng hồ, nhưng nó sống mãi với vợ chồng tôi suốt cả đời người. Nó là bước ngoặt của cuộc đời riêng tư của hai người sống hạnh phúc với nhau mãi mãi!
Tôi nghỉ ở nhà bốn ngày với vợ mới cưới ở tuổi 23 tràn đầy yêu thương. Gia đình còn có bố mẹ vợ và các em sống với nhau thật êm ấm cho dù hoàn cảnh rất nghèo khổ, thiếu thốn, khó khăn.
Những ngày đầu tháng 12-1967, gió mùa Đông Bắc ào ào tràn về kéo theo cái lạnh tê buốt, người không muốn rời khỏi chăn. Đêm đã khuya, đơn vị cho xe lên đón tôi, chắc là có việc gấp gáp. Đúng vậy! Ngày mai tôi phải về Hà Nội làm các thủ tục giấy tờ để đi Liên Xô công tác. Tôi tạm biệt người vợ mới cưới được 4 ngày giữa đêm Đông lạnh buốt. Nước mắt của nàng từng giọt ấm nồng rơi xuống vai tôi nhưng miệng vẫn cười, vẫn tươi xinh động viên tôi: "Anh yên tâm đi công tác!...". Chào tạm biệt bố mẹ và các em, tôi dắt nàng đi bộ lên đầu dốc. Xe đơn vị đã đậu ở đó. Tôi cởi chiếc áo bông còn hơi ấm đưa cho nàng mặc và dặn: "Em mặc vào cho ấm để nhớ anh..."
Tôi về tới đơn vị vẫn còn hơi ấm của người vợ mới cưới đem theo, không sao ngủ được. Trời mới mờ sáng, tôi gọi Vũ Ngọc Đỉnh dậy để cùng đi Hà Nội. Chúng tôi phải qua cầu Đuống và cầu phao bắc qua sông Hồng sớm để tránh những đợt đánh phá cầu của địch. Đang là mùa khô - mùa vận chuyển hàng cho chiến trường cho nên địch tập trung đánh phá các cầu, phà như cơm bữa.
Sau khi về Quân chủng làm các thủ tục, giấy tờ xuất cảnh xong xuôi, chúng tôi được các thủ trưởng Quân chủng dặn dò, giao nhiệm vụ sang Liên Xô. Hai anh em trở về đơn vị chờ sự trả lời của bạn. Những ngày chờ đợi là những ngày ruột nóng như có lửa bỏ vào trong bụng. Tôi nghĩ chắc là người vợ yêu quý của tôi ở trên đỉnh núi Tam Đảo mong đợi. Thương nhớ nàng lắm nhưng tôi đành gác lại!
Giữa tháng 12-1967, địch mở nhiều trận đánh lớn. Mỗi tốp có từ 20-30 lần chiếc F-105 và F-4 vào đánh các mục tiêu ở phía Bắc Hà Nội và các sân bay Đa Phúc, Yên Bái, Kép. Trong khi chờ đi Liên Xô, tôi và Vũ Ngọc Đỉnh được tham gia trực ban chiến đấu cùng với anh em.
Trận đánh ngày 18-12-1967 là trận thắng lớn, ròn rã của Không quân ta. MiG-17 và MiG-21 đã hiệp đồng chiến đấu bắn rơi 6 máy bay Mỹ trên vùng trời phía Tây Bắc Hà Nội (vùng Sơn Tây, Phú Thọ, Vĩnh Phúc). Biên đội 3 chiếc của Nguyễn Hồng Nhị, Vũ Ngọc Đỉnh, Nguyễn Đăng Kính đã bắn rơi 2 chiếc (Nhị bắn rơi 1 F-4, Đỉnh bắn rơi 1F-105D) phá tan hoàn toàn cuộc oanh kích của địch định đánh vào các mục tiêu phía Bắc Hà Nội.
Thời gian cuối tháng 12-1967 và đầu tháng 1-1968, bầu trời lúc nào cũng đầy mây bao phủ làm hạn chế rất lớn sự hoạt động của Không quân cả ta và địch. Tôi trực ban chiến đấu liên tục nhưng chưa có thời cơ xuất kích. Sau trận thua đậm ngày 18-12, địch chỉ dám dùng máy bay tiêm kích bay giả làm máy bay cường kích hòng đánh lừa ta. Chứng lại quay lại các bài bản hồi đầu năm 1967, nhưng ta không mắc mưu, không "húc đầu vào đá" làm gì.
Ngày 8-1-1968, nhà trường Krasnodar, Liên Xô thông báo đồng ý tiếp nhận tôi và Vũ Ngọc Đỉnh sang trường. Trưa ngaỵ 18-1-1968, đổi ban trực. Tôi được một buổi chiều để chuẩn bị. Tối hôm đó chúng tôi về sân bay Gia Lâm và lúc 20 giờ 30 phút thì lên máy bay IL-14 của Trung Quốc bay theo tuyến thường lệ (tuần một lần) Bắc Kinh - Hà Nội - Bắc Kinh. Ra sân bay tiễn anh em chúng tôi có ông Thiếu tướng Xesencô - cố vấn trưởng Không quân Liên Xô bên cạnh Tư lệnh Quân chủng. Ông gặp anh em tôi dặn dò một số điểm sang gặp nhà trường, yêu cầu nhà trường cho anh em ta bay một số khoa mục cho phù hợp với tình hình chiến đấu ở Việt Nam.
Tôi sang Liên Xô lần này là lần thứ 3, nhưng lần này được đi bằng máy bay (hai lần trước đi bằng tàu hỏa liên vận). Ngồi trên chiếc IL-14 hai động cơ cánh quạt cọc cạch vượt hàng ngàn cây số trong đêm tôi từ Gia Lâm đến Bắc Kinh. Trời gần sáng thì hạ cánh ở sân bay Bắc Kinh rồi chuyển sang máy bay IL-18 của Hàng không dân dụng Trung Quốc để bay đến Yrcut, Liên Xô. Đến đó, sau khi làm thủ tục nhập cảnh xong, chúng tôi chuyển sang máy bay Tu-104 của Hàng không dân dụng Liên Xô để bay đến Mạc Tư Khoa... Chiếc Tu-104 bay một mạch từ Yrcut đến Mạc Tư Khoa. Đây là lần đầu tiên chúng tôi được làm hành khách trên chiếc máy bay dân dụng phản lực, bay với tốc độ lớn, trên độ cao cao, thấy rất êm rất thích...
Ngày 13-1-1968, hai anh em chúng tôi đi từ Mạc Tư Khoa về trường Krasnodar bằng tàu hỏa. Chuyến đi này mang kỷ niệm có một không hai, đấy là hai anh em ngủ cùng một phòng nhưng phòng lại hỏng hệ thống sưởi vậy là phải ráng chịu cái lạnh đến thấu xương suốt dọc đường cho đến Krasnodar.
Ngày 15-1-1968, chúng tôi đến trường Krasnodar. Địa chỉ để viết thư về trường là: "Krasnôđar-5. P/Ya-24". Cứ đề như thế là thư sẽ đến tay người nhận. Tất nhiên là còn phải có họ tên và chữ "Liên bang Xô-viết - CCCP". Điều đầu tiên là tôi viết thư cho người vợ yêu quý ở trên đỉnh núi xanh lơ đầy thương nhớ. Chắc rằng ngày ngày nàng ở trên núi vẫn ngóng trông về phía sân bay Đa Phúc chờ chồng!
Ngày 16-1-1968, tôi và Vũ Ngọc Đỉnh lên gặp Ban giám hiệu nhà trường để báo cáo về nhiệm vụ của chúng tôi, đặt vấn đề nhờ trường giúp đỡ cho đoàn học viên đang bay MiG-21 được bay thêm một số bài bay ứng dụng chiến đấu.
Hiệu trưởng - Thiếu tướng Rômanhencô và các Hiệu phó rất vui vẻ, thân mật tiếp tôi và Vũ Ngọc Đỉnh. Sau khi nghe chúng tôi xin bổ sung một số bài bay vào chương trình huấn luyện, Hiệu trưởng vui vẻ nhận lời. Như vậy là chúng tôi đã thực hiện được nhiệm vụ của Quân chủng giao. Mai đây, số học viên bay MiG-21 tốt nghiệp về nước sẽ trực tiếp tham gia chiến đấu ngay. Trung đoàn sẽ có thêm một lực lượng phi công hùng hậu để cơ động vào khu Bốn chiến đấu bảo vệ hành lang chiến lược.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2025, 08:06:17 pm » |
|
Đầu tháng 4-1968, chúng tôi cùng hơn 30 phi công tốt nghiệp MiG-21 trên chuyên tàu hỏa liên vận Mạc Tư Khoa - Bắc Kinh - Hà Nội. Tàu hỏa liên vận về đến Bằng Tường thì xuống tàu hỏa, đi ô-tô về Hà Nội (vì đoạn đường sắt từ Đồng Đăng về ga Hàng Cỏ bị máy bay Mỹ đánh phá hỏng các cầu). Đoàn về đến Hà Nội được Tổng cục Chính trị cho đi phép thăm nhà mấy ngày. Tôi và Vũ Ngọc Đỉnh về Trung đoàn báo cáo tình hình của đoàn bay (trình độ kỹ thuật) với Trung đoàn trưởng và Chính ủy. Nghe chúng tôi báo cáo xong, nét mặt hai ông rạng rỡ niềm vui vì kể từ ngày thành lập Trung đoàn tới nay chưa có lần nào được bổ sung lực lượng phi công đông đảo vừa trẻ khỏe, vừa có trình độ bay khá đến như vậy. Đây sẽ là lực lượng chủ công của Trung đoàn trong tương lai. Hai ông còn nói riêng với tôi: "Sắp tới Trung đoàn sẽ đưa biên đội 3 chiếc (2+1) vào chiến trường khu Bốn đế đánh thí nghiệm. Ở ngoài Bắc, đội hình 2+1 đã được áp dụng và giành thắng lợi rồi, nhưng trong khu Bốn, đặc điểm địa hình có khác ngoài Bắc, bởi vậy cần phải chuẩn bị kỹ lưỡng/ xử lí nhiều tình huống khó khăn hơn. Trung đoàn cho cậu lên Tam Đảo nghỉ vài hôm rồi về đơn vị chuẩn bị để bay vào khu Bốn thực hiện trận đánh thí nghiệm đội hình 3 chiếc (2+1)! .
Tôi ngược Tam Đảo nghỉ được đúng 2 hôm thì Trung đoàn cho xe lên đón tôi về đơn vị. Thời kỳ này, địch dừng đánh phá từ vĩ tuyến 20 trở ra nên bầu trời miền Bắc tạm yên hàn. Trung đoàn rất tích cực tổ chức bay huấn luyện cho số phi công mới về bổ sung cho Trung đoàn. Qua đợt huấn luyện sẽ chọn số anh em trội hơn về mặt kỹ thuật (chỉ về mặt kỹ thuật thôi, còn tinh thần thì không chê ai được) để đưa vào trực trong khu Bốn. Thời kỳ này, ở khu Bốn có mấy sân bay có thể dùng cho MiG-21 hoạt động được là sân bay Sao Vàng (Thọ Xuân), sân bay Vinh, sân bay Anh Sơn, sân bay Đồng Hới. Riêng sân bay dã chiến là sân bay Gát chỉ dùng cho MiG-17. Các sân bay này là những sân bay ngắn hẹp, mặt đường băng lại lát ghi sắt của Liên Xô nên cần kỹ thuật cất hạ cánh giỏi, chuẩn xác.
Để đánh thí nghiệm đội hình 3 chiếc (2+1) trong khu Bốn, Trung đoàn cử hai phi công cũ và một phi công mới trong số vừa tốt nghiệp về nước. Biên đội đó là Nguyễn Đăng Kính bay số 1, Phạm Văn Mạo bay số 2 và tôi bay số 3. Biên đội chúng tôi đã có một số lần bay tập luyện ở sân bay Đa Phúc rất ăn ý nhau. Phạm Văn Mạo là một phi công mới nhưng rất có bản lĩnh. Anh quê Thái Bình, có nước da của người miền biển, chắc nịch, ít nói, được mọi người mến phục.
Ngày đầu vào sân bay Sao Vàng (Thanh Hóa) trực chiến tôi nhớ là khoảng cuối tháng 7 bởi cái nóng tháng 7 mà ai từng ở đó thì không thể nào quên được. Sân bay Sao Vàng thời đó còn là sân bay dã chiến, nắng nóng kinh khủng, người lúc nào cũng nhớp nháp mồ hôi, nước ao thì đục ngầu nhưng cũng không đủ để tắm giặt. Ngày cũng như đêm, chỉ phành phạch chiếc quạt được làm bằng lá cọ để xua cái nóng mà thôi.
Ngày 1-8-1968, trận đánh trên bầu trời Thanh Chương - Đô Lương, Nghệ An. Hôm đó, ba anh em vừa ăn cơm trưa xong thì báo động chuyển cấp. Tôi ngồi trong buồng lái nóng hầm hập, đồng chí Tổ trưởng thợ máy dùng chiếc quạt làm bằng lá cọ quạt liên tục để xua cái nóng. Chừng 10 phút sau thì có lệnh "Ấp Bắc! Cờ Hồng!" (Mở máy! Cất cánh!). Số 1 và Số 2 mở máy lăn ra cất cánh trên đường băng ghi, còn tôi cất cánh trên đường băng đất. Khi máy bay chạy đà, tôi có cảm giác hệ thống tăng lực của máy bay tôi làm việc không bình thường, máy bay cứ giật giật, nhưng sau khi tách đất, tắt tăng lực đi thì hiện tượng kia không còn nữa. Tôi nghĩ, nếu bây giờ mà báo cáo cho Sở chỉ huy biết thì chắc chắn Sở chỉ huy sẽ cho tôi quay về, như vậy tôi sẽ bỏ lỡ thời cơ xáp địch, hơn nữa tôi bay số 3 làm nhiệm vụ yểm hộ cho số 1 và số 2 vì vậy không dùng tăng lực cũng được, nỡ nào lại quay về để cho số 1 và số 2 đi không có yểm hộ. Tôi quyết định sẽ không dùng tăng lực trong trận đánh!
Biên đội tôi bay đến vùng Bắc Đô Lương thì Trạm dẫn đường phía trước X3 thông báo địch ở phía Đông của Đô Lương 15 km trên độ cao 3.000 mét. X3 cho biên đội vòng trái áp sát địch. Lúc này, biên đội báo cáo đã phát hiện địch và xin công kích. Số 1 vòng phải gấp, bám theo 1 thằng F-4. Số 2 không theo kịp, báo cáo mất đội. Số 1 lệnh cho số 2 về sân bay hạ cánh rồi tiếp tục vòng phải lên mây. Ngay sau đó, tôi phát hiện 2 chiếc F-8 bay zic-zắc ở dưới thấp. Tôi báo cáo Sở chỉ huy và nghe tiếng Trung đoàn trưởng Trần Mạnh nhắc: "Bám tốt thì công kích!". Tôi nhanh chóng cơ động chiến thuật từ bất lợi sang có lợi, bám đuôi thằng F-8. Tín hiệu đầu tên lửa bám được mục tiêu kêu o...o... trong tai nghe, tôi liền ấn nút phóng tên lửa. Quả tên lửa bám theo thằng F-8, húc vào đuôi nó, nổ tung. Nhưng ngay lúc ấy, máy bay tôi cũng trúng tên lửa địch, bị thương. Trong thế trận đầy nguy hiểm tốc độ máy bay giảm đến tối thiểu, cần lái mất áp lực điều khiển. Số 1 và số 2 đã thoát ly khỏi khu vực chiến đấu theo lệnh của Sở chỉ huy. Tôi báo cáo: "Máy bay số 3 không thể tiếp tục bay được nữa, xin phép nhảy dù!". Sở chỉ huy trả lời: "Đồng ý!". Tôi nhảy dù xuống vùng "khe Sướng" Thanh Chương. Đây là vùng rừng già, có nhiều cây to, dù bị treo trên ngọn cây. Tôi tháo dây dù, vừa tụt xuống gốc cây vừa cẩn thận quan sát xung quanh đề phòng thú dữ. Tôi mở la bàn ra xem hướng nào là hướng Đông để tìm lối ra khỏi rừng vì nếu nhầm hướng thì càng đi sâu vào rừng. Trời chiều, cảnh vật âm u tĩnh mịch, không một tiếng kêu của ve sầu, tôi đoán chắc phải có động gì đây nên chúng mới không kêu. Đúng là có động thật! Tôi đi tiếp mấy bước nữa thì phát hiện một chú gấu to, lông đen tuyền đang nằm im cạnh gốc cây. Trên ngọn cây có nhiều ong mật bay. Tôi nhìn lên thấy con gấu thứ hai đang ăn mật ong ở trên ấy. Tôi cầm khẩu súng ngắn đạn đã lên nòng sẵn sàng nhả đạn. Song, hai con gấu không nhìn thấy tôi. Tôi nghĩ: "Mày không thấy tao thì thôi tao cũng không đụng tới mày nữa!". Một viên đạn súng ngắn không thấm vào đâu với hai con gấu to như hai con bò. Nếu bắn thì càng nguy hiểm cho mình hơn. Tôi tránh hai con gấu và tiếp tục xuống núi. Mặt trời đã xuống sát đỉnh núi. Lúc này tôi cảm thấy đói và khát ghê gớm, nhưng nỗi buồn cô đơn còn ghê gớm hơn nhiều. Tôi lo đêm nay phải ngủ trong rừng thì phải trèo lên ngọn cây nằm để đề phòng thú dữ. Tôi đang đi tìm cái cây có nhiều chạc to thì nghe văng vẳng ở phía dưới khe có tiếng người. Càng đi tới gần, tiếng nói cười càng rõ dần. Đúng là tiếng dân quân đi tìm bắt "giặc lái" rồi. Tôi cất tiếng gọi thì nhận ra nhau ngay, thật mừng vui khôn xiết! Các đồng chí dân quân đề phòng phải ngủ đêm trong rừng, có mang theo cơm và nước uống nhưng nỗi mừng được gặp "người mình" làm cho tôi quên hết đói khát. Các đồng chí dân quân đã quen đi rừng xung phong cõng tôi để đi cho nhanh ra khỏi khu rừng có thú dữ, đặc biệt có hai con gấu rất hung dữ thường hay đuổi vồ người. Vừa đi các đồng chí vừa kể cho tôi nghe những chuyện trong rừng. Vậy là tôi còn gặp may. Tôi kể lại chuyện tôi gặp hai con gấu đó. Ai cũng bảo tôi có số may. Chúng tôi đi theo ánh sáng mờ mờ của những ngôi sao, khi về đến Trạm kiểm lâm ở dưới chân núi thì trời đã khuya. Mọi người đều đói và khát, bấy giờ mới lấy gói cơm mang theo từ chiều giở ra cùng nhau ăn. Tôi tranh thủ chợp mắt được một chút thì trời đã sáng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|