Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:27:35 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc đời và những trang nhật ký  (Đọc 6631 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #10 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2026, 05:54:07 pm »

IV. LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ Ở LÀO

Một ngày đầu tháng 3 năm 1969, lúc 4 giờ sáng, toàn Tiểu đoàn báo động di chuyển ra đồi bạch đàn ở đầu làng tập trung, một đoàn xe quân sự gồm J157, Hồng Hà, J130 ngụy trang kín xếp hàng chờ sẵn. Tiểu đoàn nghe cấp trên quán triệt mệnh lệnh hành quân, phổ biến một số quy định về phòng tránh máy bay, tác chiến trên đường, giữ bí mật trong suốt quá trình hành quân đi làm nhiệm vụ... Mọi người nhìn nhau thì thầm không biết đi đâu (?). Nhân dân khu vực đóng quân thức dậy, lưu luyến chia tay bộ đội...


Xe nối theo nhau rẽ phải theo đường số 6 về thị xã Hòa Bình, dốc Cù Chính Lan, suối Rút... Đến trạm Bộ đội Biên phòng thì dừng chân nghỉ qua đêm ở rừng, hôm sau tiếp tục hành quân. Đường số 6 xóc, khó đi, nhiều đoạn xóc muốn hất chúng tôi xuống đường... Khoảng 15 giờ chiều, chúng tôi đến trạm thứ hai, sau mới biết đó là Nông trường Mộc Châu (Sơn La). Chúng tôi nghỉ lại doanh trại Trung đoàn 148 Sư đoàn 316 Quân khu Tây Bắc. Hai ngày sau có hai đơn vị nữa đến, Tiểu đoàn 17 Sư đoàn 320A vừa chiến đấu ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh ra và một tiểu đoàn bộ binh đủ quân của Sư đoàn 304B (Việt Bắc) hành quân từ Phú Bình - Bắc Thái qua Vĩnh Phú, Sơn Tây lên Hòa Bình, Sơn La. Ba đơn vị được Bộ điều lên thành lập Trung đoàn Công binh 5 thuộc Quân khu Tây Bắc sang giúp bạn Lào mở đường chiến dịch.


Chúng tôi dừng chân khoảng hai tuần để tổ chức biên chế. Trung đoàn 5 bấy giờ có Tiểu đoàn 45 và Tiểu đoàn 55 Trung đoàn bộ. Tiểu đoàn Công binh Sư đoàn 30413 Việt Bắc giải thể, quân số đưa về hai tiểu đoàn. Môi tiểu đoàn có ba đại đội, trung đội phòng không 12,7mm, thông tin và Tiểu đoàn bộ. Tôi được điều về Đại đội 2 Tiểu đoàn 45.


Những ngày tiếp theo, chúng tôi được học chính trị, học về phong tục tập quán, công tác dân vận, quan hệ với nhân dân, học mấy bài hát của Lào, Lào - Việt, học ít tiếng Lào cơ bản nhất để có thể hỏi đường, quan hệ công việc...


Ngày chuẩn bị lên đường sang nước bạn, đơn vị được đón Tư lệnh Quân khu - Đại tá Vũ Lập, một trong những chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, đến thăm và nói chuyện. Tối hôm đó, chúng tôi được xem văn công Quân khu biểu diễn. Trước hai ngày đơn vị hành quân, tôi được điều lên làm chiến sĩ trinh sát Tiểu đoàn để đi tiền trạm.


15 giờ ngày 26 tháng 3 năm 1969, toàn đơn vị hành quân. Từ điểm xuất phát lên biên giới khoảng 18km, theo đường số 6, cửa khẩu Paháng sang sầm Nưa (Lào). Chúng tôi đi theo sườn núi, lên mãi, tựa như nóc nhà. Toàn núi cao, trời nắng, hanh khô, không có nước, máy bay địch đánh bom khiến rừng cháy nghi ngút. Đơn vị lên tới đỉnh núi thì trời tối, cả đơn vị có đến 1/3 chảy máu mũi, khô họng. Chặng đầu đi phải hơn 40km, xuống mãi chân dốc cửa khẩu mới được dừng, có nước. Có bộ phận phải 7 - 8 giờ sáng hôm sau mới đến vị trí.


Đến sát thị xã Sầm Nưa, chúng tôi nghỉ lại một đêm ở trạm giao liên lấy sức đi tiếp. Qua thị xã Sầm Nưa vào đầu tháng 4 dương lịch. Thị xã ở thung lũng bằng phẳng, xung quanh toàn núi cao, rừng rậm. Do chiến tranh, địch đánh phá ác liệt, đa số dân bản đi sơ tán. Đám thanh niên, trẻ em, phụ nữ tập trung xem bộ đội hành quân, đem các ống bương ra lấy nước té cầu may cho bộ đội. Đây là Tết cổ truyền - "Tết té nước" của bạn, lúc đầu chúng tôi không hiểu, sau hiểu ra nên hai bên cười nói rất vui.


Đi bốn chặng nữạ thì gặp bộ phận tiền trạm của Tiểu đoàn ra đón. Chúng tôi vượt qua sông Nậm Nơn, đi theo đường mòn theo suối vào mãi bên trong để tìm chỗ đóng quân. Mỗi trung đội một khu, cách nhau 1 - 2km. Trung đội 2 ở cùng Ban Chỉ huy Đại đội.


Đặt ba lô xuống, chúng tôi lao vào chặt cây, đào hầm. Mỗi tiểu đội đào ba hầm, ngụy trang kín, bên trong có sạp rải võng nằm. Đào xong hầm và các hạng mục khu vực đóng quân, tất cả đều đi chuyển đạn, gạo, thuốc nổ và dụng cụ thi công mở đường. Mùa mưa đến, nước sông dâng cao, việc chuyển hàng khó khăn, đã có đồng chí bị nước cuốn trôi, Trung đoàn phải dùng cáp để vượt. Mọi công tác chuẩn bị đều diễn ra nhịp nhàng, đúng kế hoạch.


Ngày 19 tháng 5 năm 1969 - Ngày sinh nhật Bác, cấp trên lấy làm ngày toàn đơn vị ra quân mở đường. Cả đơn vị hừng hực khí thế, kẻ khoan, người đào, đánh bộc phá... chỉ có mấy hôm mà khối lượng cong việc làm được nhiều đáng kể. Làm đến đâu ngụy trang đến đó, hai, ba tuần đầu vẫn giữ được bí mật nhưng sau cũng bị lộ vì trục đường dài đến mấy chục kilômét, qua nhiều địa hình trống trải. Một ngày đầu tháng 6 bất ngờ, ngoài máy bay trinh sát còn các loại máy bay ném bom của địch ập đến đánh phá liên tục, dữ dội vào các đoạn đường mới mở và các khu vực nghi quân ta đóng quân. Đại đội 1 hy sinh hai đồng chí, trong đó có anh Thanh, quê làng Bích Chu, xã An Tường, cùng nhập ngũ với tôi, anh được mai táng tại bản nơi đơn vị đóng quân (mãi sau năm 1993 các đội quy tập của Quân khu 2 mới cất bốc hồi hương).


Là dân đồng bằng, sống trong rừng không quen, sinh hoạt khó khăn nên tôi cùng nhiều đồng chí bị sốt rét. Tôi ốm liệt giường hai tuần. Vừa dậy được thì cấp trên đã quyết định điều về bộ phận trinh sát Trung đoàn. Tôi nhanh chóng bàn giao công việc về đơn vị mới. Tiểu đoàn có tôi và đồng chí Lượng được điều động về trung đội trinh sát Trung đoàn.


Trung đội trinh sát chúng tôi gồm hai tiểu đội. Tiểu đội Quân khu tăng cường toàn lính cũ, tiểu đội trưởng, tiểu đội phó toàn nhập ngũ năm 1962, quê Hải Dương, năm đồng chí nhập ngũ năm 1965 người dân tộc Mông, bảy đồng chí Trung đoàn mới điều lên là người dân tộc Kinh. Chỉ huy chung là Thiếu úy Tiến, kỹ sư cầu đường, đi thanh niên xung phong năm 1953, quê Đại Từ - Bắc Thái.


Nhiệm vụ của Trung đội trinh sát là phát tuyến, đo đạc, cắm mốc giới, đánh dấu lên bản đồ để đơn vị thi công. Việc leo trèo khá vất vả, chúng tôi cứ phải đi sớm về muộn, luôn thông tầm, có khi không kịp tắm giặt, chỉ ăn lương khô, uống nước suối rồi đi ngủ.


Rừng bên nước bạn Lào quá nhiều vắt, muỗi nên anh em phải kiếm dù may ghệt (tất dài) cho gấu quần vào. Vì đơn vị ở xa, công việc tách biệt, công tác bảo đảm rất khó khăn, nhất là vào mùa mưa không ai về đơn vị lấy gạo được, chúng tôi phải kiếm măng rừng, rau rừng ăn trừ bữa. Một hôm đi sâu vào một vùng đất bằng phẳng, gặp một bãi to rau muống tốt, ngọn to như ngón tay, hái về luộc lên chấm muối ăn thấy ngon kỳ lạ. Khế chua là thế, chúng tôi gọi là rau muống chua, ngày nào cũng đi hái về nấu với đầu, đuôi cá khô. Măng các loại thì nhiều vô kể, rất dễ tìm.


Đầu tháng 8, chúng tôi phát tuyến cắm mốc từ suối Con Cóc qua dãy núi Nậm Tiệp sang căn cứ La Khằng thật khó khăn, nguy hiểm, nhưng rồi cũng khắc phục được. Qua suối Nậm Tiệp vào căn cứ La Khằng - căn cứ bị ta san bằng trong đợt Mậu Thân 1968, địch không dám chiếm lại, từ chỗ đó chúng tôi xác định tuyến đường về Mường Hiếm cũng không khó mấy.


Mưa liên tục, trắng trời, xối xả, tất cả các sông, suối lớn nhỏ đều ngập không thể qua lại được. Lợi dụng khó khăn của ta, địch đổ bộ đường không nống ra chiếm các vị trí chiến lược, có giá trị ở Cánh Đồng Chum. Chúng đã chiếm được nhiều điểm như Phu Nốc Cốc, Noọng Pẹt, Khang Khay... ở hướng chúng tôi cũng không an toàn, Trung đoàn lệnh rút về đơn vị.


Trinh sát được phân công ở gần chỉ huy Trung đoàn bên bờ sông Nậm Nơn thơ mộng và xinh đẹp, toàn là rừng nguyên sinh, kín đáo, bí mật. Cơ quan tham mưu tập trung ở một bãi đất trong rừng để chuẩn bị kỷ niệm Quốc khánh mùng 2 tháng 9. Bữa trưa có ăn tươi theo tiêu chuẩn. Cả đơn vị bừng lên một không khí nhộn nhịp, vui tươi, phấn khởi của ngày Tết Độc lập.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #11 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2026, 05:55:59 pm »

Chiều đến, nghe Đài Tiếng nói Việt Nam thông báo về tình hình sức khỏe của Bác, mọi người đều sửng sốt, lo âu cầu mong cho Bác qua cơn bạo bệnh để khỏe mạnh và sống lâu. Sáng ngày 3 tháng 9 năm 1969, bản tin đặc biệt thông báo Bác mất, cả Trung đoàn bàng hoàng, không ai tin là sư thật. Những ngày để tang Bác, đơn vị vẫn gùi gạo, đạn ra phía trước, mỗi người tự làm một chiếc băng tang màu đen dài khoảng 3cm rộng 1cm, đeo lên ngực trái, không ai nói với ai, lầm lũi gùi hàng ra mặt trận.


Ngày truy điệu Bác, ai cũng khóc, tiếng khóc to nhất là của Chính ủy Trung đoàn. Anh nhiều lần dừng giữa bài diễn văn lấy khăn lau nước mắt, có lúc anh nghẹn ngào không cất được lên lời.

Sau tang lễ Bác, Tiểu đoàn 45 nhận lệnh khẩn trương cơ động về Cánh Đồng Chum làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Tôi đeo ba lô về Đại đội 2 trong bầu không khí khẩn trương, kẻ đi trả đồ ở kho, người nhận vũ khí, trang bị. Ban Chỉ huy điều tôi lên làm liên lạc kiêm văn thư Đại đội. Tôi báo cáo xin về tiểu đội cũ nhưng không được.


Hôm sau, đơn vị hành quân ra mặt trận, làm nhiệm vụ mở đường chuẩn bị cho chiến dịch. Chúng tôi hành quân liên tục suốt bốn đêm theo đường số 6 về ngã ba Bản Ban nối với đường số 7 từ Nghệ An qua cửa khẩu Nậm Cắn sang. Trên hai quốc lộ, địch đánh phá ngăn chặn ta vận chuyển rất ác liệt, suốt cả ngày lẫn đêm. Toàn Tiểu đoàn phải rải ra mấy chục cây số để bảo đảm đường thông xe. Đại đội 2 chúng tôi nhận nhiệm vụ bảo đảm đèo đất và đèo đá đường số 7. Đại đội đặt hai đài quan sát và thông đường vì tính chất khẩn trương của chiến dịch. Làm văn thư là phải tổng hợp báo cáo, đưa công văn lên Tiểu đoàn, Trung đoàn, có lúc tôi còn được phân công lên đài quan sát ghi chép từng tốp, loại máy bay, loạt bom nổ, chưa nổ.


Thời gian này, địch tập trung đánh phá ngăn chặn suốt ngày đêm, đường đèo hai trọng điểm liên tục trúng bom, tắc đường. Bộ đội Công binh, thanh niên xung phong Binh trạm 13 có mặt rất kịp thời khắc phục và thông đường chỉ sau đó vài giờ, bom không nổ cũng được giải quyết rất nhanh để thông xe chở đạn, gạo, kéo pháo, xe tăng tiến ra mặt trận. Trong đêm tối, bộ đội hành quân, thanh niên xung phong, công binh bảo đảm đường ríu rít chào nhau, không khí vui nhộn khó tả.


Cuối tháng 11 năm 1969, Đại đội 2 được điều về bảo đảm thông đường số 6 với độ dài đoạn đường đảm nhiệm là 20km, và được phân công chốt một số vị trí trọng điểm. Một hôm, Trung đội 2 hành quân lên đồi ĐK để chốt, bộ phận đi đầu ba đồng chí, sau đó đến Trung đội trưởng, Tiểu đội trưởng. Bỗng một tiếng nổ long trời hất ba đồng chí đi đầu xuống vực sâu, làm một số đồng chí bị thương. Trung đội trưởng Thịnh (Thượng sĩ, nhập ngũ năm 1963, quê Thạch Đà - Mê Linh - Hà Nội), Tiểu đội trưởng Liên (Trung sĩ đảng viên, quê Hải Hậu - Nam Định) hy sinh tại chỗ, còn y tá Sử thì mãi đến 8 giờ sáng hôm sau mới tìm thấy. Đại đội tăng cường thêm lực lượng để cáng chuyển hai liệt sĩ về an táng tại nghĩa trang ngã ba Bản Ban. Đây là lần đầu tiên đơn vị bị thương vong lớn như vậy, không khí đau thương, mất mát bao trùm. Tiểu đoàn, Đại đội tổ chức sinh hoạt, động viên tinh thần. Quyết biến đau thương thành hành động, quyết trả thù cho các đồng chí đã hy sinh, anh em lại liên tục bám đường thông tuyến, đánh địch bảo vệ đường và liên tục được cấp trên biểu dương, khen ngợi.


Một cái tết cổ truyền nữa, cái tết thứ ba trong đời bô đội của tôi đang đến gần. Để chuẩn bị Tết, chúng tôi đem muối vào bản đổi lấy gạo, thịt lợn, gà cho cái tết ở chiến trường tương đối chu đáo. Trưa 30 Tết, nồi bánh chưng sắp vớt thì được lệnh bàn giao vị trí cho bạn và hành quân đi chiến dịch.


Theo đường số 6 ra ngã ba Bản Ban, xuyên thẳng vào Trạm giao liên U2 thì dừng chân, lúc đó khoảng 4 giờ sáng ngày mùng Một. Đang triển khai nghỉ tối thì một loạt bom bi quả dứa rải đúng vị trí đóng quân, bom nổ rền, sát, mọi người chỉ kịp nằm rạp xuống tại chỗ hoặc lăn xuống hầm hố cũ.


Từ Trạm giao liên U2, chúng tôi hành quân về dốc Mã Tử, qua bản Son, đi Khang Khay, nơi các đơn vị bộ binh vừa đánh chiếm xong. Và cứ thế, Tiểu đoàn Công binh 45 chúng tôi đi khắp mặt trận phục vụ Sư đoàn cho đến hết Chiến dịch 139.


Trên hướng chủ yếu của chiến địch, Tiểu đoàn 45 chúng tôi có một trung đội tăng cường do Đại đội trưởng Tiến chỉ huy. Khi giải phóng Cánh Đồng Chum, ta đã giành chiến thắng nhưng cũng phải trả cái giá quá đắt, gần hết trung đội công binh hy sinh, trong có Đại đội trưởng Tiến và Báu, thằng bạn thân cùng nhập ngũ với tôi (quê Vĩnh Thịnh - Vĩnh Tường).


Tháng 4 năm 1970, chúng tôi đi với Trung đoàn 141 tổ chức đánh bom cứ điểm Noọng nhưng không thành. Mùa mưa nên phải rút về hang Chà Là bổ sung quân số hao hụt, củng cố đơn vị và vận chuyển đạn, gạo. Căn hầm chữ U bên ngoài san bằng, có mái lợp ngụy trang kín, hào sâu đi hai bên để phòng tránh và cơ động, tại đây tôi được kết nạp Đảng lớp Hồ Chí Minh đầu tiên, ngày 9 tháng 6 năm 1970. Chi bộ có gần chục đồng chí, trang trí cờ Đảng, ảnh chân dung Bác. Mặc dù ăn ở dã chiến nhưng không khí rất trang nghiêm, xúc động. Đứng trước Đảng kỳ, tôi rưng rưng đọc lời thề sắt son và lời thề ấy đi theo tôi suốt cuộc đời, nâng bước tôi trên những chặng đường hành quân vất vả, những lúc gian nan nguy hiểm ngoài mặt trận. Bây giờ, qua hơn 50 năm nhìn lại, tôi thấy mình đã thực hiện được lời thề ấy.


Tháng 8 năm 1970, mùa khô sắp đến. Mùa khô là mùa ra trận, cán bộ trong đơn vị có sự thay đổi, có đồng chí về nước, có đồng chí lên thay. Đơn vị đổi thành Tiểu đoàn Công binh 25 thuộc Bộ Tư lệnh 959, Tiểu đoàn 55 trở về Sư đoàn 320 để đi "B dài", Trung đoàn 5 thành lập tháng 3 năm 1969 đến nay cũng giải thể, lực lượng đưa về Quân khu Tây Bắc.


Mùa khô năm 1970, Tiểu đoàn Công binh 25 chúng tôi được điều vào sớm chốt giữ bản Tôn, dãy núi Phu Seo, bản Khổng để giữ thế và bảo đảm đường cơ động, vận chuyển. Địch đánh hơi thấy công tác chuẩn bị chiến dịch và cơ động của ta nên chúng tăng cường máy bay trinh sát, ném bom tọa độ vào các trọng điểm và các khu vực nghi ngờ. B-52 đánh phá ác liệt các cửa rừng, nhất là bản Khổng, tuyến cơ động vận chuyển vào bản Na. Bộ Tư lệnh 959 điều Tiểu đoàn 24 cao xạ 37mm vào nằm sát cửa rừng, san hố bom B-52 đưa pháo xuống, ngụy trang kín đáo. Hằng ngày, khoảng 17 giờ là bộ đội ở ven suối, đào hầm ếch dưới lùm cây, cách 3m một hầm, lên trực chiến. 6 - 7 giờ sáng đánh pháo xuống nằm ngay hố bom, vứt cành cây, sơn đất đỏ vào nòng ngụy trang pháo. Đêm, khi máy bay bay thấp trinh sát, ta bất ngờ chỉ cần điểm xạ một vài loạt ngắn là có khi bắn rơi. Cách đánh như vậy khiến địch chùn, hạn chế rất nhiều hoạt động của không quân địch.


Tiểu đoàn Công binh 25 chúng tôi đi mở đường, thông đường vận tải, gạo, đạn bảo đảm cho Trung đoàn 165 và một số đơn vị đánh bản Na và phát triển sâu vào trong, cùng Trung đoàn 209, Trung đoàn 141 và một số đơn vị bạn theo hướng bản Phồn, đánh Loong Chẹng, thủ phủ của phỉ Vàng Pao. Tháng 1, tháng 2, các hướng chiến dịch phát triển thuận lợi, đều đánh chiếm được các mục tiêu đề ra và phát triển sâu vào bên trong, khi gặp khó khăn thì tạm thời dừng lại, ta tổ chức chốt giữ các điểm có giá trị chiến thuật, chiến dịch.


Mùa mưa đến, theo quy luật, địch lại lấn ra chiếm các mục tiêu có giá trị và các điểm cao. Khoảng trung tuần tháng 6, địch dùng không quân đánh phá ác liệt vào các mục tiêu để dọn bãi. Về phía ta, chuẩn bị lực lượng, đào công sự trận địa, một chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum đã được chuẩn bị. Hai bên giành giật, đánh chiếm từng mục tiêu, điểm cao, căn cứ rất ác liệt. Lợi dụng mùa mưa, địch dùng không quân đánh chặn, cắt phá giao thông từ bên nước ta sang, không cho ta vận chuyển tiếp tế, gây áp lực và khó khăn, nhưng ta vẫn bảo đảm tốt và giữ vững được các mục tiêu đề ra. Đến cuối năm 1971, ta chuẩn bị và phản công giành thắng lợi to lớn ở Mặt trận Cánh Đồng Chum.


Tiểu đoàn Công binh 25 chúng tôi được phân công phòng ngự dãy núi Phu Seo - bản Tôn, sau đó được lệnh về ngã ba Khang Khay, theo đường mòn vào sâu bên trong dãy núi đóng quân chờ nhiệm vụ. Đến địa điểm mới, đơn vị nhanh chóng bắt tay vào củng cố nơi ăn, chỗ ở, đào hầm kiên cố, có hào cơ động, ngụy trang đi lại thật kín đáo, sẵn sàng chiến đấu cao vì ra khỏi ngã ba Khang Khay là Cánh Đồng Chum, chiến trường chính, nơi mà năm nào cũng diễn ra các trận đánh ác liệt.


Một buổi sáng cuối tháng 5 năm 1971, tôi được Chính trị viên Đàm Văn Đễ và Đại đội trưởng Mai Đức Kiện giao nhiệm vụ về nước đi học sĩ quan. Tôi bàn giao công việc văn thư, bảo mật cho đồng chí Ghi và làm công tác chuẩn bị. Mặc dù còn một tháng nữa mới đến thời gian chuyển Đảng chính thức nhưng tôi được "chiếu cố" chuyển Đảng vì là trường hợp đặc biệt. Vậy là sau hơn hai năm trên đất bạn Lào, tôi được về nước, được đi học sĩ quan, niềm vui đến với tôi thật bất ngờ, cũng là niềm vinh dự và là khởi đầu cho cuộc đời gắn bó với con đường binh nghiệp.


Hơn hai năm và gần trọn ba mùa mưa làm nhiệm vụ chiến đấu phục vụ chiến đấu trên đất bạn Lào, biết bao gian khổ hy sinh. Riêng đơn vị chúng tôi có hàng trăm đồng đội nằm lại vĩnh viễn không trở về, biết bao người mang trên mình thương tích của chiến tranh và bệnh tật để có được thắng lợi, cũng là để gắn chặt thêm tình đoàn kết keo sơn đã có truyền thống từ lâu giữa hai Đảng, hai quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào trong đấu tranh giải phóng dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước, thực hiện câu nói của Bác "giúp bạn là mình tự giúp mình".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #12 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2026, 05:58:04 pm »

V. TỪ MẶT TRẬN VỀ NƯỚC HỌC SĨ QUAN

6 giờ sáng ngày 1 tháng 6 năm 1971, tôi dậy sớm chuẩn bị và đi chào mọi người. Từ Cánh Đồng Chum (Xiêng Khoảng) về đến biên giới cửa khẩu Nậm Cắn (Nghệ An) khoảng gần 200km. Đoàn gồm tôi, Trung sĩ Vũ Minh Đạm - Tiểu đội trưởng quê Hải Đường - Hải Hậu - Nam Hà, một chiến sĩ quê Thanh Ba - Vĩnh Phú. Ngoài ba lô có hai khẩu AK, đủ cơ số đạn, lương thực đủ 10 ngày gạo, với thức ăn chủ yếu là muối và mỳ chính.


Chúng tôi đi toàn đường mồn, cây rậm, rừng già, qua hai trạm nghỉ đêm không gặp ai, rất khó khăn cho việc dừng lại nấu ăn và nghỉ qua đêm. Chúng tôi phải kiếm củi để nấu cơm, moi móc các vị trí hầm hào, may quá nhặt được cái thùng đựng đạn K56 cũ gỉ, gò lại để nấu cơm, có ba người cho vào thấy gạo quá ít, chúng tôi quyết định nấu cả ngày mai luôn. Thế là nấu thùng không có nắp, tìm được chiếc bao tải gai, xuống suối giặt sạch đậy vào, rồi cũng chín. Ngả mũ, lót lá chia khẩu phần ăn tối, còn bữa sáng và trưa hôm sau thì lấy khăn nắm cho luôn vào túi cơm treo lên đầu võng để tránh chuột.


Đêm xuống, ba chúng tôi mắc võng sát và chụm vào nhau, phân công luân phiên gác. Tôi thức gác ba tiếng. Đêm thật dài, xa đơn vị, lạnh và buồn...

Sáng sớm chúng tôi lên đường. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp những đơn vị hành quân vào chiến trường. Gần về tới đất nước nên có các trạm giao liên, chúng tôi trình giấy, báo nghỉ tại trạm, thế là đỡ khó khăn về cơm nước và chỗ ngủ.


Đêm thứ tám, chúng tôi cách cửa khẩu trên dưới 20km. Chúng tôi hành quân đêm theo đường số 7, đi được 7 - 8km thì gặp các đoàn xe quân sự, chúng tôi vẫy đi nhờ. Ngôi trên xe, có đoạn rất xóc nhưng cũng cảm thấy rất yên tâm, vì qua tám ngày đêm đi bộ, dốc cao, vực sâu, đường mòn đã quá mệt. Về đến cửa khẩu Nậm Cắn (Nghệ An), Công an và Bộ đội Biên phòng kiểm tra giấy tờ xe rồi nhanh chóng cho chúng tôi qua cửa khẩu.


Sau hơn hai năm xa Tổ quốc, sang chiến đấu giúp bạn, giờ đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc, lòng tôi nao nao xúc động.

Xe chở ba chúng tôi về đến Bộ Tư lệnh 959 vào sáng ngày 10 tháng 6 năm 1971. Phía sau Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh toàn núi đá cao, dựng đứng, cây to kín đáo, nhiều hang, suối nước sâu chảy quanh. Chiến tranh như ngưng lại trong một khoảnh khắc thật nên thơ.


Ba ngày tiếp sau, tôi nghỉ ngơi và làm thủ tục tại nhà khách. Tôi tranh thủ tìm thăm hậu cứ Tiểu đoàn Công binh 25. Chúng tôi tay bắt mặt mừng sau bao ngày xa cách. Bữa ăn trưa thật ấm áp với măng rừng và cả nhút Thanh Chương.


4 giờ sáng ngày thứ tư, tôi theo xe Phòng Dân vận, địch vận Bộ Tư lệnh về Hà Nội. Chiếc xe chở ba cán bộ địch vận và tôi chạy thật nhanh qua các mục tiêu quân sự, ga Vinh, ga Xi để tránh giờ không quân địch đánh phá. Từ sau Mậu Thân 1968, không quân địch tập trung đánh từ vĩ tuyến 20 trở vào, sang năm 1971 chúng đánh phá ác liệt hơn, nhiều tốp máy bay phản lực bay lượn, ném bom xung quanh và đánh chặn các cầu đường nên chúng tôi phải nhiều lần dừng xe ẩn nấp.


Ra đến thị xã Phủ Lý, ngoài phạm vi đánh phá của địch, xe dừng lại vào quán phở. Mua ly cà phê phải mua kèm một bao thuốc lá, chúng tôi đành mỗi người mua một bao nhưng đều phải thuốc mốc hoặc mất mùi. Thời bao cấp, tất cả đều phân phối theo tiêu chuẩn, không có bán tự do, chỉ khi mốc mới bán kèm theo cà phê, phở, bia.


Tôi ở lại trạm hậu phương của Bộ Tư lệnh 959 tại Hà Nội một đêm, hôm sau được chỉ dẫn ra bến Mía đi xe về Trường Sĩ quan Công binh. Xuống bến xe Bắc Ninh, đi nhờ xe đạp về trường làm thủ tục nhập học. Tôi được biên chế về Đại đội 1, Trung úy, Chính trị viên cầu ra đón, nhận hồ sờ và xếp nơi ăn nghỉ.


Về trường khoảng 10 ngày, hôm ấy tôi đang lao động thì được báo có gia đình lên thăm. Tôi ra cổng đón, mừng quá. Bố tôi và hai em gái Sến, Sửu khệ nệ xách đồ với lồng gà ba con và cả vài cân gạo nếp... Thế là tôi đã xa nhà đi bộ đội, vào chiến trường gần bốn năm. Bố tôi bảo mẹ, các em ờ nhà mong lắm, con cố gắng xin về phép thăm nhà vài ngày, ở thăm ba ngày, đến ngày thứ tư, bố tôi và các em chia tay ra về.


Lúc bấy giờ toàn trường đi lao động dã ngoại ở Tân Yên - Hà Bắc một tháng. Công việc nhổ lạc, san, cuốc ruộng, cấy, cày vốn không xa lạ với tôi nhưng thời tiết tháng 7 nắng nóng khiến nhiều đồng chí bị ốm và sốt rét trở lại.


Một tháng lao động dã ngoại ở Tân Yên, nắng, mưa gian khổ, thử thách không thua kém ở chiến trường, chỉ khác là không có bom đạn và tiếng súng. Kinh tế đất nước khó khăn chúng tôi phải ăn độn, ăn đói và làm tám giờ mỗi ngày, tối sinh hoạt đến 21 giờ mới được nghỉ.


Kết thúc thời gian lao động dã ngoại, đơn vị hành quân về trường, chúng tôi được thông báo đồng chí nào tốt nghiệp lớp 10 ở lại học chính quy ba năm, số còn lại chuyển về Trường Sĩ quan Lục quân đào tạo ngắn hạn. Tôi và một số đông thuộc diện về Trường Sĩ quan Lục quân.


Một buổi sáng cuối tháng 7 năm 1971, đoàn xe hơn chục chiếc xuất phát từ thị xã Bắc Ninh theo đường số 1, cầu Đuống, cầu Long Biên qua Hà Nội, cầu Diễn, Đan Phượng Gạch (Phúc Thọ) vào trường. Trời mưa to tầm tã, đến phố Gạch nước ngập mênh mông, xe không đi được đành quay về trường. Chúng tôi được nghỉ vài ngày chờ nước rút, thời gian đó, Nhà trường giải quyết cho số chúng tôi về qua nhà trong bốn ngày. Phấn khởi quá, tôi thanh toán gấp và lên đường ngay.


Tôi ra bến xe Bắc Ninh rất sớm, được ưu tiên đi chuyến đầu, xuống bến Nứa, về Vĩnh Tường thì quá trưa. Xuống bến xe, tôi đeo ba lô đi bộ về quê, đi từ phố huyện, qua hai hàng cây bạch đàn, phi lao xanh mướt, vượt cầu Thượng Trưng, rìa làng, giáp cánh đồng giữa hai xã Thượng Trưng và Tuân Chính, bà con xã viên làm đồng buổi chiều rất đông vui. Đang chuyện trò vui vẻ có người ngẩng lên nhìn thấy anh bộ đội đeo ba lô đi bộ, người này hỏi, người kia hỏi, rồi ở những thửa ruộng gần đường mọi người đều đứng nhìn, dõi theo, trêu đùa, cả cánh đồng rộn rã.


Về đến đầu làng, nhiều người vẫn chưa nhận ra tôi. Tôi về đến cổng, vào sân thì đã nửa buổi chiều, chỉ có mấy đứa em nhỏ chơi đùa. Ít phút sau, bố mẹ tôi đang làm đồng biết tin chạy vội về, rồi lần lượt anh em họ hàng, làng xóm kéo đến chật nhà, chật sân. Vì làng xóm quê hương lớp lớp thanh niên chúng tôi lên đường đánh Mỹ, giải phóng miền Nam, cho nên bấy giờ làng tôi gia đình nào cũng có chồng, con lên đường đi đánh giặc, ở nhà chỉ còn lại đàn bà, người già và trẻ em. Tôi từ chiến trường về tranh thủ là trường hợp rất hiếm nên ai cũng muốn gần để hỏi chuyện chiến trường, hỏi tin người thân của họ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #13 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2026, 06:00:54 pm »

Đêm về khuya, gia đình tôi mới được ăn cơm. Gần ba năm ở chiến trường, cứ mùa mưa tới là tôi lại bị sốt rét nặng, ít nhất hai tuần không ăn uống gì được, tóc rụng, đi lại trong hầm phải có người dìu, khi khỏi chỉ mong được ăn rau muống luộc với cà muối. Bây giờ đúng là "ước thấy", bữa cơm có thịt gà, lạc rang, cà muối và rau muống luộc, là món ăn ưa thích của tôi. Ăn cơm xong, tôi ra giếng tắm, vẫn chiếc giếng khơi trước cửa nhà, nước trong mát lạnh, cảm giác thật yên bình, đầm ấm.


Hai ngày tiếp theo, anh em, họ hàng, làng xóm, bạn bè kéo đến chơi chật kín, không có thời gian đi đâu được, mãi gần trưa, mẹ tôi rỉ tai cho biết bà ngoại bị ốm mấy tháng nay, bà hay nhắc tên tôi. Tranh thủ lúc vắng khách, tôi, mẹ và thằng Thi - em út sang thăm bà. Nhà bà cách nhà tôi không xa, thấy tiếng tôi nói bên ngoài, bà ngoại ngồi ngay dậy như có phép tiên, tôi đưa tay, bà rướn người, xúc động ôm chầm lấy tôi. Hai tay bà gầy, nhăn nheo đưa lên xoa xoa đầu tôi như thuở nào, giọng bà run run: "Thằng Đỉnh cháu tôi, khi đẻ nó mới được ba ngày thì chạy loạn. Tây nó càn, súng nổ khắp nơi. Ngoài đồng, ngoài đường, đình làng nhiều người bị bắn chết. Tôi và mẹ nó cùng vài người phải giẻ rách, quần áo cũ vào quang gánh đi tản cư ngoài Bích Chu - Thủ Độ. Nó đỏ hỏn, khát sữa, khỏe oe oe. Mới ngày nào... thật nhanh quá... Sau khi nửa nước hòa bình, tưởng là đời cháu tôi không có chiến tranh, loạn lạc, được sung sướng, được học hành, thế mà không ngờ lại chiến tranh. Cháu tôi đã lớn bằng từng này, đi bộ đội được mấy năm lại chiến đấu về, tôi thật sung sướng và hạnh phúc". Rồi bà hỏi thăm cuộc sống của tôi. Bà xoa đầu tôi bảo nhớ giữ gìn sức khỏe, nhớ thường xuyên viết thư thăm bà và gia đình. Khi tôi đi, bà sống được năm tháng nữa, mất ngày 25 tháng 12 năm 1971 (âm lịch).


Hai ngày đầu, tôi chủ yếu ở nhà tiếp khách, trừ buổi tối có đến thăm vài nhà anh, em, chủ, bác mỗi nhà một lúc.

Sang chiều ngày thứ ba, hai vợ chồng ông bà Tư Giao chống gậy lên thăm, vừa bước vào sân hai ông bà khóc nức nở. Tôi và vài người chạy ra cầm tay dìu ông bà vào nhà ông bà vẫn khóc to và bảo: "Cháu đi may mắn còn được về còn chú đi chú không được về" rồi ông bà ngất xỉu. Tỉnh lại, ông bà cho biết nhiều lần lên thăm tôi nhưng cứ ra đến cổng lại khóc thương con nên không đi được.


Dìu hai ông bà vào trong nhà, tất cả khách đều im lặng, không khí thật nặng nề... Quê tôi và cả hậu phương miền Băc thời đó nhiều nhà có hoàn cảnh con, em đi chiến đấu đã lâu mà không có tin tức, tất cả người ở hậu phương ngày đêm ngóng đợi, chờ mong mỏi mòn... Ai cũng hiểu chiến tranh là có mất mát, hy sinh - riêng tôi từ chiến trường trở về lại càng thấu hiểu điều đó... ông bà Tư Giao có năm người con, bốn gái một trai, ông Thiều Chí Lân sinh năm 1941, lớn lên đi công nhân, năm 1965 chuyển sang bộ đội và hy sinh ngày 28 tháng 9 năm 1967 tại Thăng Bình - Quảng Nam.


Sau sự kiện vịnh Bắc Bộ ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ lấy cớ ném bom bắn phá ra toàn miền Bắc. Ở miền Nam, chúng ào ạt đưa vào 58 vạn quân, liên tục tiến công, càn quét bằng những chiến dịch lớn hòng "đánh gãy xương sống Việt cộng". Theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng và Bác Hồ, thanh niên cả nước hăng hái lên đường đánh Mỹ. Năm 1970, theo chủ trưởng của trên, số đi chiến đấu lâu, hy sinh được chọn lọc báo tử thí điểm đợt đầu. Họ hàng tôi có chú Thiều Chí Lân hy sinh, chú Thiều Đức Thái chiến đấu bị thương và bị địch bắt, tù đày ở Phú Quốc, được trao trả tù binh tháng 2 năm 1973 tại Lộc Ninh.


Cấp trên cho về tranh thủ thăm nhà bốn ngày trôi qua nhanh quá. Tối hôm trước, chưa kịp ăn cơm xong thì mọi người trong làng trên, xóm dưới, anh em, bạn bè đã đến thăm, động viên. Đến khuya khách vãn, tôi và bố mẹ, các em mới kịp sửa soạn ba lô đồ dạc để mai lên đường. Bố mẹ tôi cứ lưu luyến, thao thức mãi không ngủ được, lại dậy tiếp tục trò chuyện và dặn dò thêm nhiều thứ. Biết tới đây tôi học ở Sơn Tây gần nhà nên bố mẹ mua cho tôi chiếc xe đạp để thỉnh thoảng về thăm. Nhà nghèo bán mấy tạ thóc, chạy vạy cũng đủ mua chiếc xe đạp Phượng Hoàng (thế mà cả khóa học một năm ở Trường Sĩ quan Lục quân chỉ cách nhà khoảng hơn 20km mà tôi không lần nào về được vì chương trình học rất gấp gáp).


Sáng ngày thứ tư, gia đình làm cơm rất sớm thắp hương gia tiên cầu phù hộ cho tôi may mắn... Trời sáng, làng xóm, anh em lại đến chơi rất đông. Tôi lưu luyến chia tay. Hai cô em gai Sến, Sửu thay nhau đèo tôi bằng hai chiếc xe đạp lên phố huyện bắt xe về đơn vị.


Hai ngày hôm sau mưa ngớt, nước rút xẹ đưa chúng tôi về Trường Sĩ quan Lục quân để học tập. Chúng tôi được về Đại đội 1 Tiểu đoàn 4, nhanh chóng tiếp nhận trang bị chiến đầu, vì Nhà trường rút kinh nghiệm vụ máy bay trực thăng Mỹ đổ bộ xuống thị xã Sơn Tây giải cứu tù binh phi công tháng 11 năm 1970.


Về trường khoảng một tuần, trời vẫn mua như trút nước, mực nước các sông lên to, chúng tôi được lệnh hành quân đội mưa đi chống lụt ở Phúc Thọ. Trận lụt này không kém trận lụt năm 1945, khi đó ta mới giành được chính quyền, vỡ đê, nạn đói, dịch bệnh...


Nước mấp mé mặt đê, đục ngàu chảy xiết, đe dọa đến nhân dân một số huyện của Hà Tây và thành phố Hà Nội nên ta phải cho mở 17 cửa cống để phân lũ. Đơn vị được lệnh tỏa xuống các gia đình vận động nhân dân sơ tán. Chúng tôi chỉ kịp hành quân ra tới đầu làng thì nước đã đến bụng, rồi tràn vào khu vực đóng quân. Nhân dân trong vùng cũng bị thiệt hại lớn về tài sản, nhà cửa, hoa màu.


Nước ngập, cấp trên điều đơn vị cùng các trường sĩ quan trong khu vực lên cống Chuốc, Suối Hai. Ban đêm, chúng tôi bì bõm qua thị xã Sơn Tây. Đường số 32 và các trục đường đều bị nước ngập trên đầu gối, có chỗ ngập ngang thắt lưng.


Sáng hôm sau, tại điểm tập kết, chúng tôi lên máy bay trực thăng để sang vị trí hàn khẩu. Đơn vị lao động theo ba ca suốt ngày đêm dưới cái nắng chang chang của đồi núi chọc toàn đá sỏi. Xà lan, xe bọc thép cấp 5 xếp đầy đá hàn khẩu lấp chỗ vỡ. Khoảng một tuần, những cố gắng, nỗ lực của chúng tôi đã thành công.


Sau gần hai chục ngày chống bão lụt gian nan vất vả, chúng tôi hành quân về trường, ổn định được vài ngày thì tôi hành quân lên Tiểu đoàn 8 (khu dã ngoại ở Giang Mỗ - Đà Bắc - Hòa Bình) đào tạo ngắn hạn một năm.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #14 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2026, 06:02:33 pm »

Doanh trại những năm hòa bình dành để đào tạo sĩ quan quân đội cách mạng Lào và quân đội cách mạng Campuchia, sau chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, đây thành nơi các tiểu đoàn lần lượt sơ tán đến.


Tiểu đoàn 8 biên chế thành ba đại đội 1, 2, 3, mỗi đại đội có khoảng 90 học viên. Ban Chỉ huy Tiểu đoàn gồm: Thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng tên là Hợp, nhập ngũ năm 1946, quê Thanh Sơn - Vĩnh Phú; Đại úy, Chính trị viên tên là Chi, nhập ngũ năm 1947, quê Hải Dương; Đại úy, Tiểu đoàn phó tên là Hoa, nhập ngũ năm 1949.


Tôi được biên chế về Đại đội 1, Đại đội trưởng tên là Nông, cấp bậc Trung úy, quê Thanh Hóa, tính hiền lành, năng lực chỉ huy giỏi, đã qua chiến đấu, rất gần gũi, sâu sát và thương học viên. Chính trị viên là Trung úy Thuận, quê Thanh Lãng - Vĩnh Phú. Đại đội phó tên là Lộc, quê Bắc Ninh, tính hiền lành, vui vẻ, gần gũi học viên. Các anh luôn nhắc nhở, động viên chúng tôi phải cố gắng học tập, rèn luyện thật tốt để sau này trở thành sĩ quan trung, cao cấp, những tướng lĩnh tài giỏi trong quân đội... Và quả thật sau này, một số phấn đấu rèn luyện đã trở thành cán bộ cao cấp, tướng lĩnh, trong đó có tôi.


Khóa tôi học là khóa 33, học viên đào tạo hầu hết đã qua chiến trường, lập nhiều thành tích xuất sắc nên được chọn lựa về trường học tập. Quá trình đào tạo, nhà trường thường xuyên kiểm tra sức khỏe, lý lịch, bản lĩnh chính trị, tinh thần kỷ luật. Nếu không đủ tiêu chuẩn đào tạo là loại trả về đơn vị.


Ngay từ ngày đầu, chúng tôi học tập, rèn luyện rất chính quy, giờ nào việc này. Sáng dậy thể dục, vệ sinh, ăn sáng cứ 15 phút một đầu việc. Đến giờ học tập, vai đeo súng vác học cụ chạy hàng cây số ra thao trường, giảng đường. Trưa về tập hợp vào cổng, đi đều và hát những bài hát theo quy định...


Về chiến thuật, kỹ thuật được Nhà trường đào tạo từ thấp đến cao, động tác cá nhân, tổ, tiểu đội, trung đội, một phần chiến thuật đại đội, các loại súng trong biên chế của đại đội bộ binh... Sau khi ra trường, chúng tôi có thể nói thoát ly tài liệu huấn luyện bộ đội rất cơ bản và thành thục.


Mỗi tuần, chúng tôi học từ thứ 2 đến thứ 7, có nhiều nội dung phải tự học thêm ngoài giờ để đảm bảo chất lượng. Ngày học, tối học và sinh hoạt, không có tối nào chúng tôi được nghỉ. Các sáng chủ nhật thì một nửa quân số lao động, lấy củi và tăng gia, còn chiều chủ nhật nếu cần thì vẫn phải ôn bài cũ. Tất cả nghị quyết chi bộ, kế hoạch của đại đội, hội đồng quân nhân đều xác định chỉ tiêu phấn đấu học các môn 100% đạt yêu cầu, có 80 - 90% khá và giỏi... Mỗi người có bản quyết tâm dán đầu giường. Chúng tôi ai cũng lo nhất là môn bắn súng, vì mỗi bài phải bắn 3-4 loại súng như CKC, AK, RPD, đại liên..., súng chống tăng các loại cũng vậy. Học đến đâu sát hạch kiểm tra đánh giá kết quả đến đó.


Đầu tháng 6 năm 1972, Nhà trường tổ chức hành quân dã ngoại đường dài và huấn luyện chiến thuật trung đội, đại đôi. Cả Tiểu đoàn hành quân theo đường số 6 đi thị xã Hòa Bình về Lương Sơn huấn luyện chiến thuật trung đội tập kích, phục kích, vận động tiến công... và một số hình thức chiến thuật đại đội.


Chẳng quản nắng mưa, ngày đêm, thầy và trò đều chuẩn bị cho các nội dung học tập thật kỹ và chu đáo. Tất cả các môn chiến thuật trung đội đều học ở núi cao, rừng rậm, khe sâu của tỉnh Hòa Bình, thầy trò phải đi lên xuống hàng chục lần mới kết thúc một khoa mục. Chúng tôi xác định luyện tập sát với chiến trường nên đói, khát, mệt nhọc đều phải khắc phục.


Kết thúc các khoa mục huấn luyện ở địa hình rừng núi, Tiểu đoàn hành quân về Quốc Oai - Hà Tây, địa hình đồng bằng, để huấn luyện một số nội dung và chiến thuật trung đội, đại đội đánh công sự vững chắc.


Đầu tháng 7 năm 1972, Tiểu đoàn hành quân về trường tổ chức kiểm tra bắn tổng hợp và lần lượt tất cả các học viên đều được kiểm tra các bài bắn ở trường bắn chính quy. Thời gian còn lại ở trong trường, chúng tôi học tiếp một số bài và sát hạch kiểm tra cuối khóa.


Buổi chiều ngày 23 tháng 7 năm 1972, Đại úy, Chính trị viên Tiểu đoàn - đồng chí Chi đang giảng bài cho lớp học thì một sĩ quan đeo quân hàm thượng úy bước vào trao bức điện khân cho Chính trị viên. Đọc xong bức điện, Chính trị viên thông báo: Trời mưa to kéo dài, sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Đuống, hệ thống sông Thái Bình..., nước lên cao, toàn Tiểu đoàn dừng học, nhanh chóng hành quân đi chống bão lụt.


Chúng tôi nhanh chóng cơ động về doanh trại, làm mọi công tác chuẩn bị, ăn cơm chiều và hành quân. Từ trường về xã Hạ Bằng - Thạch Thất - Hà Tây chặng đường dài khoảng 10km. Chúng tôi nghỉ lại tại đây và nhận tiêu chuẩn bồi dưỡng. Tiêu chuẩn gồm 1 hộp sữa bột 1kg, 1kg lương khô, 1kg đường, 4 gói pônitamin. 7 giờ 30 phút sáng hôm sau mỗi người chỉ mặc một bộ quần áo trên người, còn lại mang ra sân kho đổi cũ lấy mới.


Ở dã ngoại trong nhà dân, chập tối chúng tôi vừa ăn lương khô, uống sữa, vừa thì thào bàn tán đoán già đoán non sẽ đi chiến trường và nhiệm vụ sắp tới (?). Đêm đã khuya mà không ai ngủ được.


Sáng ra, toàn Đại đội đeo ba lô, trang bị hành quân ra sân kho hợp tác xã tập trung và lần lượt lên nhận quân tư trang gồm hai bộ quần áo dài vải Tô Châu (Trung Quốc) mới tinh màn tuyn, võng dù, mũ cối Trung Quốc, ba lô, bi đông, túi thuốc sĩ quan, đồ lót... Buổi chiều lĩnh dao găm, súng đạn, cuốc xẻng.


Ba ngày đó, đơn vị chấn chỉnh biên chế, tổ chức tiểu đội, trung đội. Tôi được chỉ định làm Trung đội trưởng. Chúng tôi được ăn bồi dưỡng chế độ cao. Sáng ăn một tô phở to quá cỡ, nhiều thịt bò, gà. Trưa, chiều ăn như ăn cỗ (chỉ không có rượu). Tối về lại có đường, sữa bột, trứng... Từ khi vào bộ đội tới bấy giờ, tôi chưa bao giờ được ăn uống sung túc như thế.


Chiều ngày 26 tháng 7 năm 1972, Tiểu đoàn tập trung ở sân kho, trời nắng tháng 7 oi bức, mồ hôi nhễ nhại nhưng đơn vị im phăng phắc. Chính trị viên Chi dõng dạc đọc quyết định phong quân hàm của Bộ Quốc phòng. 242 người tốt nghiệp khóa 33 đều được phong quân hàm chuẩn úy (còn 28 đồng chí không có tên nên trả về đơn vị).


Tối hôm đó, chúng tôi tự gắn và đeo quân hàm lên ve áo, người nọ ngắm, sửa cho người kia, vui mừng khó tả.

Năm 1972, thời tiết có nhiều thuận lợi, mùa mưa đến muộn, mưa ít, cấp trên đã tổ chức đánh lớn trên ba hướng chiến lược:

- Chiến dịch Đắk Tô - Tân Cảnh (Tây Nguyên).

- Chiến dịch thung lũng Qué Sơn (Quảng Nam).

- Chiến dịch giải phóng Quảng Trị.

Đáp ứng đòi hỏi về lực lượng của chiến trường, Trường Sĩ quan Lục quân cấp tốc bổ sung đi chiến trường ba tiểu đoàn. Cuối tháng 7 năm 1972, nằm trong bối cảnh chung đó, Tiểu đoàn chúng tôi vào chiến trường Quảng Trị...
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #15 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2026, 06:05:56 pm »

VI. CHIẾN ĐẤU Ở CHIẾN TRƯỜNG B5 (QUẢNG TRỊ)

Ngày cuối cùng ở Hạ Bằng - Thạch Thất - Hà Tây, chúng tôi lưu luyến, bịn rịn bên nhau. Biết bao kỷ niệm sau một năm cùng nhau học tập, rèn luyện. Chúng tôi chụp ảnh, ghi địa chỉ để viết thư cho nhau, hoặc có điều kiện sẽ về thăm nhà nhau... Cùng đại đội với tôi có Cường, nhà ở thôn Phù Chính, có bố làm ở Bộ Lương thực ở Hà Nội, suốt một năm học ông chưa có dịp lên thăm con. Thời gian đi gấp quá, ra bưu điện chỉ kịp báo ngày đi, hai anh em gửi một số đồ đạc lại nhà chủ. Hai ngày sau bố Cường mới lên, được chủ nhà nói lại, ông sững sờ cảm ơn gia chủ và mang đồ của hai anh em chúng tôi về Hà Nội (Kết thúc chiến tranh, năm 1975, Cường được ra Bắc an dưỡng và được điều động về Tỉnh đội Vĩnh Phú tiếp tục công tác mấy năm nữa thì nghỉ hưu).


4 giờ sáng ngày 27 tháng 7 năm 1972, toàn đơn vị báo thức, ra tập trung sau đoàn xe quân sự đã phủ bạt và ngụy trang kín. Sau khi kiểm tra quân số, trang bị, Chính trị viên Tiểu đoàn nhắc: Để bảo đảm bí mật hành quân, tất cả tháo quân hàm cho vào ba lô. Ngoài tôi là Trung đội trưởng thì Trung đội có 21 sĩ quan, biên chế thành ba tiểu đội. Trang bị chiến đấu cứ hai xẻng một cuốc, ba người được phát một khẩu AK và 100 viên đạn, cùng dao tông, đèn pin cá nhân, dao găm... Thứ tự hành quân theo đội hình hàng dọc, xe cách xe 50 - 100m. Đại đội 1 đi đầu theo đường số 21 - đường số 6 đi Lương Sơn - Hòa Bình - dốc Cun; đường số 15 đi Ninh Bình - Thanh Hóa - Nghĩa Đàn - Nam Đàn - Hà Tĩnh - Quảng Bình (Bãi Hà), là nơi tập kết giao quân.


Khoảng 8 - 9 giờ ngày 27 tháng 7, đoàn xe gần 20 chiếc hành quân qua thị xã Hòa Bình. Nhiều tốp máy bay địch rượt theo uy hiếp nhưng đoàn xe vẫn giữ tốc độ, nối đuôi nhau tiếp tục hành quân. Gần trưa đến dốc Cun, đèo quanh co, khúc khuỷu, dốc cao, lại vài đợt máy bay sà xuống thấp bắn chặn, nhưng đoàn xe vẫn an toàn. Hành quân một ngày trời căng thẳng, đến khuya, đoàn xe của đơn vị mới đến gần chân dốc Bò Lăn thuộc Thanh Hóa. Địch đánh chặn, tắc đường mất ba ngày ba đêm. Xe, pháo đủ các loại ùn tắc kéo dài vài cây số, máy bay địch tập trung đánh phá suốt ngày đêm, ban đêm pháo sáng không lúc nào ngớt. Đoàn chúng tôi toàn cán bộ vừa tốt nghiệp, ai cũng sốt ruột mau chóng được ra mặt trận...


Đường thông, đoàn xe tiếp tục lăn bánh, đơn vị dừng chân ở trạm giao liên Nghĩa Đàn - Nam Đàn (Nghệ An) - quê Bác. Nhân dân ở đây rất nghèo, nhà nhỏ, thấp, chật nhưng tinh thần cách mạng rất cao. Họ dành nhà cho bộ đội nghỉ ngơi. Cả tuyến dọc theo các tỉnh miền Trung, nhà nào cũng có bộ đội ở, cứ tối hành quân đi, đêm hoặc gần sáng lại có đơn vị khác đến. Dừng chân hai đêm ở quê Bác rồi đơn vị vượt sông La bằng phà và ca nô sang Đức Thọ - Hà Tĩnh, đến đêm di chuyển bằng ca nô vào Nông trường cam Lệ Ninh -  Quảng Bình. Ngồi ca nô đi dưới sông mà trên bờ B-52 của địch rải thảm liên tục, những vệt lửa kéo đài, nổ đinh tai nhức óc, mảnh đạn, đất, đá văng cả xuống sông, bay vèo vèo qua đầu và lõm bõm xuống dòng sông...


Trước lúc trời sáng, chúng tôi được dân quân dẫn vào từng nhà ở khu vực nông trường, mỗi nhà ở được nửa tiểu đội, cách nhau khá xa. Người dân và công nhân ở đây rất tốt và tình cảm với bộ đội, chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ, dặn dò cẩn thận. Gọi là nông trường cam nhưng bộ đội có mua cũng không ai lấy tiền mà cứ mời ăn thoải mái. Mua con gà "ăn tươi" để chuẩn bị vào chiến trường, dân chỉ lấy tiền một nửa... Không phải chỉ đơn vị chúng tôi mà đơn vị đi trước cũng được nhân dân đối xử như vậy, vì họ coi bộ đội như con em của mình.


Cả ngày ở Nông trường cam Lệ Ninh, không khí của chiến tranh vùng giáp giới tuyến khá căng thẳng. Máy bay địch liên tục gầm rú trên trời, ném bom, đánh chặn, trinh sát chỉ điểm... Pháo cao xạ của ta không bố trí thành trận địa đại đội hoặc tiểu đoàn mà bố trí từng khẩu, từng trung đội dưới các bụi cây ngoài cánh đồng, đầu làng..., có thời cơ là đánh trả để bảo vệ đội hình hành quân, đường giao liên và kho trạm. Tất cả nhân dân, bộ đội đều hoạt động và sống trong hầm, hào dưới mặt đất.


Trời vừa chạng vạng tối, đoàn xe quân sự được giấu kín và ngụy trang xung quanh nông trường lại xếp hàng dọc, tiếp tục lên đường, nhằm hướng tây về Cự Nam. Gần sáng tới trạm, xe dừng lại, tất cả nhanh chóng xuống xe rất trật tự. Trong bóng tôi, tôi nghe tiếng con gái gọi: "Trung đội đồng chí Thiều Chí Đinh ở đâu?", tôi đáp lại: "Có!". Quay lại thấy ba o du kích đội mũ tai bèo, khoác AK nhanh nhẹn tiến lại, một cô nói ngắn gọn: "Tất cả theo tôi!". Tôi chỉ huy Trung đội đi theo ba o dân quân xuống mép sông, mỗi tiểu đội theo một o lên thuyền gỗ, rồi chỉ nghe tiếng mái chèo quạt nước đẩy thuyền sang bờ sông bên kia... Tới nơi, tám người chia làm hai hầm, hạn chế đi lại trên mặt đất để bảo đảm bí mật. Cơm nước đã có giao liên báo gia đình nấu.


Khoảng hơn 7 giờ sáng, nghe tiếng gọi ngoài cửa hầm, tôi bật dậy, khom người ra cửa hầm, thấy một bác trạc ngoài 50 tuổi, người nhỏ, gầy, đứng trên cửa hầm hỏi: "Chú có phải là cán bộ không?". Tôi đáp: "Phải!". Bác bảo: "ở trạm ni đơn vị nào đến đây cũng vậy! Trạm phát đường, sữa, bột, trứng, thuốc... để bồi dưỡng trước khi vào chiến trường. Giờ này trạm giao liên họ cấp rồi đó! Chú đi mà lĩnh kẻo muộn". Tôi cùng ba đồng chí ra trạm lĩnh về cấp cho anh em. Tám anh em chúng tôi ở trong hai gia đình, hai hầm cách nhau vài chục mét dưới những tán cây xanh che khuất, ngụy trang kín. Gia đình chủ nhà có năm người, hai vợ chồng và ba đứa con nhỏ, nhà nghèo, làm ruộng nương nhưng rất tốt với bộ đội. Họ nấu cho chúng tôi ngày ba bữa, sáng ăn sắn luộc, trưa, chiều ăn cơm, có cá sông, canh rau sắn nấu chua rất ngon, hợp với cánh lính trẻ. Buổi tối trước khi chúng tôi lên đường, chị chủ nhà không quên gói cho mỗi người một đùm khoai thơm, bở, ăn mà nhớ mãi.


Sẩm tối, tất cả đã tập trung đông đủ tại sân nhà. Chúng tôi chào anh chị chủ nhà, lưu luyến chia tay rồi đeo ba lô, súng đạn lên vai ra bến sông. Đò chở sang sông, tất cả tập hợp kiểm tra quân số và trang bị rồi nhanh chóng lên xe.


Xe tiếp tục hành quân vào đến Bãi Hà - khu vực tập của toàn Mặt trận B5, chặng cuối cùng để phân bổ, điều động đi các đơn vị chiến đấu. Trạm tập kết Bãi Hà xung quanh là núi cao, rừng nguyên sinh, mọi hoạt động ở mặt đất được giữ kín, canh gác rất cẩn mật nên suốt cả một thời gian dài không bị địch đánh phá.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #16 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2026, 06:07:09 pm »

Sáng hôm sau, khoảng 7 giờ, Chính trị viên Thuận mang giấy tờ, hồ sơ và quyết định giao cho 10 anh em chúng tôi - bộ phận đi đầu của Tiểu đoàn 8 được Chính ủy Mặt trận - Trung tướng Song Hào - ký điều về Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 gồm: Đỉnh, Phi, Ánh, Lanh, Mạn, Quỳnh, Tạo, Ba, Thăng Lục. Số còn lại có mặt ở trạm là được điều động đi ngay, vì lúc đó yêu cầu của mặt trận rất cần cán bộ... Chia tay Thủ trưởng Tiểu đoàn, Đại đội 1 Trường Sĩ quan Lục quân đầy lưu luyến xúc động. Các Thủ trưởng đều chúc chúng tôi mạnh khỏe hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hẹn gặp lại nhau ngày chiến thắng... Tay nắm chặt tay, ôm nhau ai cũng không kìm nổi những giọt nước mắt.


Tôi được giao chỉ huy 13 sĩ quan, gồm 10 đồng chí sĩ quan Lục quân, ba đồng chí bác sĩ tốt nghiệp Đại học Quân y về Sư đoàn 325.

Không có người dẫn đường, chúng tôi cứ đi theo lối mòn từ Bãi Hà về suối La La lịch sử. Đến đây, chúng tôi mắc võng hai bên bờ suối nằm nghỉ, chờ người đến đón. Trong ba lô mỗi người chỉ còn hai ngày gạo với muối trắng. Tôi phân công người hái rau, người cạy đá bắt cua (cua suối rất nhiều và béo), kiếm mũ sắt, sẵn dao găm đẽo chày giã cua. Hai ngày nằm chờ trôi qua, các đơn vị hành quân ra vào tấp nập. Từng đoàn thương binh hành quân ra, có đến hàng trăm thương binh băng đầu, tay, chống gậy tự đi mà chỉ có ba, bốn nữ y tá, y sĩ đi cùng. Các thương binh hầu hết chiến đấu trong Thành cổ, cuộc chiến đấu ở Mặt trận Thành cổ Quảng Trị diễn ra ngày càng gay go, ác liệt...


Khoảng 8 giờ sáng ngày thứ ba, có hai người, một đeo xà cột, súng ngắn K54, một đeo AK, vừa đi vừa hỏi đoàn 13 người về Sư đoàn 325. Biết người đơn vị ra đón, chúng tôi mừng quá. Đó là Thiếu úy Đăng - Trợ lý Cán bộ Trung đoàn 18. Tất cả nhanh chóng gấp tăng, võng, ba lô để hành quân. Chúng tôi vượt qua sông Cam Lộ, đến khu C Sở Chỉ huy Sư đoàn gặp đồng chí Minh - Phó ban Cán bộ, bàn giao người về Trung đoàn 18, còn hai bác sĩ ở lại để điều đi các đơn vị trong Sư đoàn. Sáng hôm sau, chúng tôi hành quân theo đường số 9 qua thị trấn Cam Lộ về Đông Hà, giữa ban ngày trời quang, nắng chang chang, máy bay trinh sát của địch quần lượn, bắn pháo khói để chỉ điểm các mục tiêu đánh phá, máy bay bổ nhào, ném bom các mục tiêu, nhất là các nơi nghi trận địa pháo cao xạ của ta đóng quân. B-52 cứ 30 phút một loạt, liên tục kéo dài, pháo hạm, pháo tăng tốc bắn liên tục dọc đường số 9 về Khe Sanh... Một trung đoàn tân binh Hải Phòng hành quân vào bổ sung cho các đơn vị, trúng bom B-52 bị tổn thất khá nặng.


12 giờ trưa ngày 10 tháng 8 năm 1972, đoàn 11 người chúng tôi đi theo hướng dẫn của đồng chí Đăng về đến Sở Chỉ huy Trung đoàn 18 ở trung tâm thị xã Đông Hà. Sư đoàn 325 là sư đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Bộ Sau khi giải phóng Quảng Trị, Bộ mới điều vào. Sư đoàn cỏ ba trung đoàn bộ binh: 101, 95, 18 và các đơn vị trực thuộc Chỉ huy Sư đoàn có Thượng tá Lê Kích - Sư đoàn trưởng Thượng tá Nguyễn Công Trang - Chính ủy. Giai đoạn đầu (tháng 6 năm 1972), Trung đoàn Bộ binh 18 tăng cường cho Sư đoàn 320B chiến đấu phía cánh Đông, Trung đoàn Bộ binh 101 chiến đấu ở Cửa Việt, Trung đoàn Bộ binh 95 phòng ngự bảo vệ Thành cổ và Sở Chỉ huy Sư đoàn ở Cam Lộ.


Sở Chỉ huy Trung đoàn có hầm làm việc ở giữa, hai đầu là hai hầm chữ A, bên trái là hầm của Trung đoàn trưởng, bên phải là hầm của Chính ủy. Hầm làm việc cũng có tấm ván kê làm bàn, xung quanh kê những thanh gỗ làm ghế ngồi. Trong hầm là Thiếu tá Huỳnh Lang - Trung đoàn trưởng, quê Bình Định; Thiếu tá Ngô Khắc Dũng - Chính ủy, quê Hà Bắc. Hai anh là cán bộ từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp, học hành cơ bản, có rất nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu, đặc biệt là kinh nghiệm cầm quân. Các anh ngồi vào ghế, mở xà cột lấy sổ, kính, bút ra bắt đầu làm việc.


Chính ủy Ngô Khắc Dũng chủ trì, giới thiệu sơ lược truyền thống Trung đoàn, Sư đoàn và tình hình Trung đoàn hiện nay ở Mặt trận Quảng Trị. Rồi ông dừng lại, lướt qua một lượt hỏi tên, sau đó trao quyết định cho từng người.


Tôi được trao quyết định làm Trung đội trưởng Trung đội 3; Lê Ngọc Ánh làm Trung đội trưởng Trung đội 2 Đại đội 7 Tiểu đoàn 8; Tạo, Lanh về Đại đội 5, Phi về Đại đội 6, bác sĩ Trình về Đại đội 24 quân y, số còn lại về Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 9.


Trao quyết định xong, hai Thủ trưởng bắt tay chúc chúng tôi lên đường về đơn vị an toàn, mạnh khỏe, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ...

Giữa trưa trời nắng như đổ lửa, nhà cửa, cây cối đổ gãy ngổn ngang, không còn ngôi nhà nào nguyên vẹn. Tất cả thành một đống đổ nát. Trên không, máy bay địch trinh sát, ném bom, quần lượn nhưng không có một quả bom nào đánh vào thị xã Đông Hà thời điểm đó, và sau này cũng rất ít vì ta ở thế bất ngờ, kín đáo mà chúng không thể ngờ tới.


Ra đến cửa hầm chỉ huy Trung đoàn đã thấy hai trinh sát Tiểu đoàn chờ sẵn, hỏi tên và đưa chúng tôi về Tiểu đoàn 8 đóng quân trong làng gần đó.

Về đến nơi, Thượng úy Vinh - Tiểu đoàn trưởng, Thượng úy Nghĩa - Chính trị viên ra tiếp chúng tôi, thăm hỏi và giao nhiệm vụ cho từng người. Một đồng chí liên lạc đưa tôi về Đại đội, qua cánh đồng làng Chung Chỉ, cách thị xã Đông Hà khoảng hơn 2km.


Trung đoàn 18 được Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 điều vào Quảng Trị tháng 5 năm 1972, tăng cường cho Sư đoàn 320B đảm nhiệm Mặt trận cánh Đông từ Cửa Việt theo đường số 8 dọc ven biển vào đến sông Mỹ Chánh. Các đơn vị chân ướt chân ráo vừa hành quân vào, toàn tân binh chưa có kinh nghiệm, phải đối đầu với hai sư đoàn dù và thủy quân lục chiến của địch, dưới sự yểm trợ hỏa lực của Hạm đội 7, không quân Mỹ. Chúng đổ bộ lên bãi biển Long Quang - Hải Lăng, phía trước thì B-52 ném bom, pháo giàn từ hạm đội dọn bãi, san phẳng... Sau đó xe tăng, bộ binh đổ bộ lên tiến công. Trận đầu đụng độ, Tiểu đoàn 8 thương vong hơn 100 cán bộ, chiến sĩ, trong đó có Tiểu đoàn phó. Những trận tiếp theo diễn ra tương tự, các tiểu đoàn 7, 9 cũng tổn thất nhiều, toàn bộ Trung đoàn phải rút ra củng cố.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #17 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2026, 06:08:28 pm »

Tôi về Đại đội 7, quân số có 15 đồng chí, Đại đội trưởng là Thiếu úy Tiến, Chính trị viên là Thượng sĩ Hoằng đều quê Thanh Hóa. Đại đội phó là Trung sĩ Trọng, quê Thái Bình. Theo quyết định của Trung đoàn, tôi giữ chức Trung đội trưởng Trung đội 3, gặp Ban Chỉ huy Đại đội năm sơ qua tình hình Đại đội và Trung đội, tôi cũng hiểu phần nào những khó khăn, gian khổ của đơn vị.


Chiến sĩ liên lạc tên Trạch (quê Phúc Yên) dẫn tôi về Trung đội 3. Đi theo đoạn hào, qua khu nhà sập, nghe "soạt" một cái, Trạch rất nhanh, quay người và súng lại, mở khóa an toàn giơ AK lên định bắn. Quan sát thấy con mèo, tôi giơ tay ra hiệu không được bắn. Chúng tôi tiếp tục đi qua một bãi trồng có mương nước chảy qua, cạnh đó là một cái nền nhà cao, khung xiêu vẹo, bên dưới có chiếc hầm... Nơi đây gần Thành cổ, pháo bắn nhiều, đạn réo rít qua đầu liên tục... Cuối đoạn hào, Trạch chỉ cho tôi vị trí hầm. Tôi gật đầu và đeo ba lô chạy vọt qua. Hạ ba lô xuống miệng hầm, tôi thả người xuống hai bậc và cất tiếng gọi xem có ai ở dưới không. Không thấy ai, tôi cúi người chui vào, rồi có tiếng sột soạt trong hầm, tôi nhìn thấy lờ mờ cái bóng qua ánh sáng ngách cửa hầm, giọng nói lơ lớ, giống tiếng dân tộc, hỏi: "Ai đấy, đồng chí mới đến à, tân binh à...". Tôi ngồi xuống nền hầm trải lá cây, rải chiếc chiếu nhựa và hỏi chuyện. Đó là chiến sĩ tên Quế, quê Cao Bằng, nhập ngũ năm 1971, bị thương ở Mặt trận cánh Đông, vừa ra viện về. Trung đội chỉ có hai người. Tôi hơi ngạc nhiên, vì lúc ở Đại đội, không ai nói quân số của từng trung đội. Tôi hỏi, thế quân số đi đâu hết? Quê trả lời: "Mình đi viện về, chỉ có mình và đồng chí Huề - Trung đội phó". Lúc này tôi mới hiểu ra, Trung đoàn vào tham chiến được ba tháng, sau những trận đánh đã bị tổn thất khá nặng nề. Đây là thời gian rút ra để củng cố và bổ sung quân số. Một lát sau, Trung đội phó về. Tôi phân công công việc của từng người với nhiệm vụ chốt giữ làng, bảo vệ sân bay và các điểm cao căn cứ Ái Tử đề phòng địch đổ bộ đường không. Đến chiều, Đại đội cho liên lạc mang trang bị đến cho tôi, gồm một khẩu AK và 300 viên đạn, bốn quả lựu đạn. Hai hôm sau, toàn Trung đoàn được bổ sung tân binh Đoàn 22 Quân khu 4 mới hành quân ngoài Bắc vào... Trung đội tôi và các trung đội khác đều được bổ sung tân binh, biên chế thành ba tiểu đội, mỗi tiểu đội ba người, cả trung đội trưởng, trung đội phó là 11 đồng chí.


Tiểu đội chỉ có ba người nhưng vẫn được trang bị một khẩu B40, một khẩu trung liên, một khẩu AK.

Tiểu đoàn 8 được giao nhiệm vụ phòng ngự chốt giữ toàn bộ căn cứ Ái Tử và sân bay. Đại đội 7 được giao nhiệm vụ chốt giữ điểm cao 20 - 29 và các mỏm đồi cao còn lại. Ngoài huấn luyện kỹ, chiến thuật, huấn luyện phương án tác chiến ngoài thực địa, còn huấn luyện cho bộ đội cách sử dụng các loại súng có trong biên chế và vũ khí lấy được của địch như: AR15, M79, M72, súng chống tăng của Mỹ. Trung đội tôi chốt giữ điểm cao 20 đầu sân bay, xác định hầm hào công sự là chiếc áo giáp để giữ chốt nên chúng tôi ngày đêm tích cực đào hầm hào, làm đến đâu ngụy trang đến đó. Vì vậy, bom pháo ác liệt mà chúng tôi không có ai thương vong.


Đầu tháng 9 năm 1972, Đại đội 7 đang chốt giữ khu vực Ái Tử, đột nhiên có lệnh hành quân gấp về phòng ngự Đông Hà, chúng tôi nhanh chóng thu quân và vượt sông Lai Phước. Vì cầu đã bị đánh sập, chúng tôi phải bơi sang Trung sĩ Phan Văn Phường - Trung đội phó, người to béo không biết bơi; phải dùng phao thổi phồng, buộc dây, hai người kéo trước, hái người đẩy sau mới sang được bờ bắc. Tôi đảm nhiệm hai chuyến, bơi qua rất mừng thấy Trung đội phó vượt được sông. Tôi đeo khẩu trung liên RPD với 100 viên đạn, bơi quá nửa sông thì mệt, nhưng quyết không để mất vũ khí, thế là cả người và súng đều chìm xuống sông. Đêm tối, lờ mờ qua ánh đèn pháo sáng anh em phát hiện nhao tới, túm tóc kéo lên. Rất may lúc chìm xuống sông, chân tôi chạm đất, còn sức tôi đẩy mạnh khẩu trung liên lên phía trước, buông tay ra lấy đà đạp mạnh, nhô lên thở, nhưng cũng uống vài ngụm nước sông vào bụng. Anh em kéo lên bờ, tôi còn kịp chỉ tay để anh em mò lấy được súng.


Chẳng hiểu do nhầm lẫn thế nào mà khi đã vượt sông rồi chúng tôi lại nhận được lệnh trở về chỗ cũ ở làng Chung Chỉ, tiếp tục chốt giữ điểm cao 20 - 29 căn cứ Ai Tử.

Sự nhầm lẫn ấy hóa ra lại là điều may mắn cho chúng tôi. Chiều hôm trước chúng tôi vừa đi khỏi vài cây số thì toàn bộ trận địa phòng ngự của Trung đội 3 bị bom B-52 đánh trúng. Khi chúng tôi quay về mới biết tất cả các hầm đều bị đánh sập. Nếu có mặt ở đó thì có lẽ trung đội tôi không còn ai... Riêng hầm tôi trúng hai quả bom.


Bên kia sông Thạch Hãn là Thành cổ Quảng Trị. Các lực lượng giữ thành có Trung đoàn 95, Trung đoàn 18, Trung đoàn 48 Sư đoàn 320B và một số lực lượng quân, binh chủng của Bộ, chiến đấu quả cảm, kiên cường, giữ từng tấc đất kiên quyết giữ thành, giữ Quảng Trị. Ba mặt thành địch chiếm giữ và liên tục tiến công, chỉ còn bờ nam sông và phía bắc thành ta giữ được. Bến sông là nơi ta đưa quân và tiếp tế đạn gạo, chuyên chở thương binh ra, địch cũng dùng bom, pháo khống chế đánh chặn. Quân số thương vong mỗi ngày một cao, khoảng một đại đội mỗi ngày đêm... Nước sông lên to việc tiếp tế sang thành là rất khó khăn. Ngày 14 tháng 9, địch tiến công lớn, có hỏa lực không quân, pháo binh, xe tăng chi viện, đã chiếm được phần lớn các mục tiêu trong thành. Một số chốt, cụm chốt, các ổ đề kháng, hầm ngầm, quân ta vẫn giữ được và kiên cường chiến đấu chống trả. Đến ngày 16 tháng 9, địch mới hoàn toàn chiếm được thành. Những ngày đó bầu trời, mặt đất Quảng Trị, đặc biệt là khu vực Thành cổ và lân cận rung lên, rạn nứt vì bom đạn, ban đêm pháo sáng sáng rực như ban ngày. Suốt thời gian đó, mọi hoạt động trên mặt đất đều phải vô cùng kín đáo.


Trong ngày 14 tháng 9 đó, buổi sáng cấp trên giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 8 bàn giao trận địa phòng ngự khu vực Ái Tử và sân bay, chuẩn bị sang giữ Thành cổ. Tất cả khẩn trương chuẩn bị tư trang cá nhân và trang bị chiến đấu gọn nhẹ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #18 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2026, 06:09:50 pm »

Cán bộ từ trung đội trở lên mỗi người kiếm một chiếc túi, chủ yếu là túi mìn clâymo, trong đựng tăng, võng, quần áo lót, khăn mặt, đèn pin và một số tư trang gọn nhẹ. Trang bị chiến đấu gồm khẩu AK với 300 viên đạn, bốn quả lựu đạn, dao găm, bốn cuộn băng, hỏa lực cối, B40, B41... Tất cả sẵn sàng bổ sung vào chiến đấu cùng các đơn vị bạn giữ thành.


Đến 16 giờ, cả Tiểu đoàn nhận lệnh hành quân vào các trận địa, các chốt. Chúng tôi nằm ém quân dọc theo đường sắt từ sân bay Ái Tử vào đầu làng Nhan Biều đợi lệnh.

Chiều tối được lệnh xuất quân, chúng tôi vừa đi vừa chạy tắt qua làng Nhan Biều 2 ra bến vượt. Bên khu vực Thành cổ và xung quanh, các loại súng nổ ran... Bom pháo đánh chăn dọc theo các làng Nhan Biều 1, 2, khu vực thành, bến sông, pháo sáng như ban ngày... Đến Nhan Biều 2, chúng tôi tạm dừng lại chặt chuối đóng thành bè. Ba lô, trang bị và toàn bộ quần áo dài bỏ lên bè, cứ ba người một bè, mỗi người một góc khiêng bè chạy ra bến vượt sông Thạch Hãn. Đại đội 7 đi đầu. Được một phần ba quân số vượt sông thì địch phát hiện. Chúng vãi đạn như mưa xuống sông tạo thành những cột nước cao vài mét, bắn tung tóe. Nhiều người hy sinh và bị thương. Có lệnh yêu cầu tất cả quay lại. Chúng tôi bơi ngược trở lại. Trời sáng dần, toàn Tiểu đoàn thức trắng, chạy ra, chạy vào, không sang được thành nên phải rút lui. Để bảo đảm an toàn, chờ lệnh tiếp theo, Tiểu đoàn quyết định không về chốt căn cứ Ái Tử và các điểm cao mà tìm chỗ trú quân dọc theo đường sắt, các bụi cây, sim, mua, ngụy trang kín, ít đi lại. Hôm ấy là một ngày nắng gay gắt, các khu đồi trọc cây cối lơ thơ, không thấy bóng dáng các loài động vật, côn trùng... Nhưng thật không ngờ, lại có một tiểu đoàn Quân giải phóng với đầy đủ trang bị, bí mật nằm giấu mình sẵn sàng đợi lệnh.


Sẩm tối, đợi lúc máy bay trinh sát địch ít hoạt động, Tiểu đoàn lần lượt thu quân. Toàn Tiểu đoàn có Đại đội 6 hy sinh hai đồng chí, gần chục người khác bị thương. Đêm 15 tháng 9, cấp trên có lệnh vượt sông vào thành, với hỏa lực trên chi viện và hỏa lực của Tiểu đoàn.


Chúng tôi nhanh chóng vượt qua đường số 1, men theo đường mòn, ba người khiêng một bè nhanh chóng ra bến sông. Một loạt hỏa lực bắn chặn, tất cả nằm rạp dưới hố bom, khói bụi mịt mù, không sao tiến lên được. Tôi quan sát đội hình bị gián đoạn đứt quãng, có bộ phận đã lui về phía sau. Có lệnh rút quân, Đại đội chúng tôi lại về chốt giữ điểm cao 20 - 29 như ban đầu.


Chiến dịch phòng ngự Quảng Trị là một trong những chiến dịch lớn của Quân đội ta. Khi tham gia tiến công giải phóng Quảng Trị, ta sử dụng ba sư đoàn bộ binh gồm: Sư đoàn 304 tiến công Ba Hồ - Động Toàn ở miền tây Quảng Trị; Sư đoàn 308 tiến công Cam Lộ - Đông Hà, căn cứ Ái Tử - Quảng Trị; Sư đoàn 320 tiến công Cửa Việt - Triệu Phong, hướng đông Quảng Trị. Ngoài ra còn có các lực lượng pháo binh, không quân, tên lửa, xe tăng của Bộ cùng tham gia. Đến ngày 22 tháng 6, địch mở cuộc tiến công hòng giành lại Quảng Trị. Chúng huy động hai sư đoàn thủy quân lục chiến, sư đoàn dù, lực lượng tổng dự bị chiến lược của quân ngụy Sài Gòn. Dưới sự chi viện tối đa hỏa lực không quân và pháo binh Hạm đội 7, chúng quyết tâm tái chiếm toàn bộ tỉnh Quảng Trị, hất "Cộng sản Bắc Việt" về bắc sông Bến Hải. Về phía ta, chủ trương của trên là quyết tâm giữ vững trận địa.


Từ chủ trương trên, ta tập trung mọi nỗ lực, cố gắng để giữ bằng được Quảng Trị. Các sư đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Bộ được điều động về, gồm: Sư đoàn 312 đang tác chiến ở Cánh Đồng Chum điều về phòng ngự phía tây thị xã (ngầm Phương Thúy) với các điểm cao 15, 52 59; Sư đoàn 320B phòng ngự cánh đồng Triệu Phong, Bích La Đông, Cửa Việt; Sư đoàn 308 phòng ngự phía tây thành, động Tích Tường, Như Lệ; Sư đoàn 304 phòng ngự động Ông Do, điểm cao 307; Sư đoàn 324 phòng ngự phía tây nam Quảng Trị, sông Mỹ Chánh, sông Ô Lâu và tây Thừa Thiên - Huế. Sư đoàn 325 gồm ba trong đoàn bộ binh: Trung đoàn 101 phòng ngự Cửa Việt, Bích La Đông đến chợ Sải; Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 7 của Trung đoàn 18 phòng ngự chốt giữ Thành cổ cùng Trung đoàn 48 của Sư đoàn 320; Trung đoàn 18 phòng ngự toàn bộ căn cứ Ái Tử, sân bay và bắc sông Thạch Hãn từ An Đôn, cầu Quảng Trị, bến vượt Xuân An về điểm cao 20, điểm cao 29, cầu Lai Phước. Toàn bộ các đơn vị tham gia chiến dịch phòng ngự gồm có sáu sư đoàn bộ binh cùng nhiều trung, lữ đoàn tên lửa, pháo phòng không, pháo binh, xe tăng, thiết giáp, đặc công của Bộ mà đến lúc gay go quyết liệt nhất, chúng ta vẫn kiên cuờng bám trụ chiến đấu. Sau này, để bảo toàn lực lượng chiến đấu lâu dài ta buộc phải rút quân sang bờ bắc. Cho đến ngày ký Hiệp định Pari - ngày 27 tháng 1 năm 1973, ta vẫn giữ được vùng giải phóng Quảng Trị rộng lớn, có đồng bằng, cảng, thị xã Đông Hà, có cả vùng rừng núi... Điều này có ý nghía quan trọng về mặt chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho ta đấu tranh ngoại giao trên bàn đàm phán Hội nghị Pari, cũng là cơ sở thuận lợi để ta chuẩn bị cho kế hoạch giải phóng miền Nam năm 1975.


Sau khi rút khỏi Thành cổ, Tiểu đoàn 7 vượt sông sang bờ bắc chốt giữ ngăn chặn. Trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 8 đi trinh sát và chuẩn bị thay cho Tiểu đoàn 7 rút về phòng ngự phía sau để củng cố.


Ngày 24 tháng 9, Tiểu đoàn 8 hành quân vào thay nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 7 rút ra. Đại đội 7 đi theo đường sắt về đầu cầu nhà sắt Trung đội 2 do Lê Ngọc Ánh chỉ huy. Chỉ huy Đại đội, Trung đội 1, hỏa lực Đại đội tăng cường theo đường sắt qua Nhan Biều 2 về trận địa phòng ngự làng Nhan Biều 1. Trung đội 3 theo điểm cao 10 qua Nhan Biều 2 về phòng ngự làng Nhan Biều 1. Đường ra bến vượt do tôi chỉ huy, hành quân vào buổi chiều. Địch dùng nhiều loại hỏa lực bắn ngăn chặn, các loại pháo bắn chụp xuống có thể gây sát thương nếu ngồi dưới hầm không có nắp. Chúng tôi đi theo mép đường bên phải, khi có pháo nhanh chóng nằm xuống, lăn ngay xuống rãnh nước, nhờ thế mà tất cả đều an toàn.


Vào đến trận địa làng Nhan Biều 1, Trung sĩ Trọng - Đại đội phó đang chờ tôi để chuẩn bị bàn giao. Một loạt pháo rít qua đầu, mọi người nhao vào hầm tránh, Trọng còn lấn cấn chưa chịu vào... Loạt pháo tiếp theo nổ sát sạt, Trọng bị nhiều mảnh pháo găm vào người, hy sinh tại chỗ. Ngay đêm đó, Đại đội cử người chôn cất Trọng cách đó khoảng 5m, bộ đội phải chạy ra, chạy vào nhiều lần mới chôn cất xong vì pháo địch giội liên tục... Sau này, các liệt sĩ ở đây đều đưa đưa về mai táng cùng một chỗ, thành nghĩa trang Đại đội.


Những ngày đầu, các tiểu đội tập trung đào và làm kèo, hố chiến đấu dọc theo đường số 1, sau phát triển hào cơ động sâu, rộng, đi lại dễ dàng hơn. Chỉ một thời gian ngắn, toàn đơn vị đã đào tương đối hoàn chỉnh các chốt, cụm chốt liên hoàn, được ngụy trang kín đáo, bí mật, sẵn sàng đánh địch.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #19 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2026, 06:11:41 pm »

Sau khi chiếm được Thành cổ, địch tỏ ra chủ quan, chúng đi lại ngông nghênh, lộ liễu. Phía ta, trên trang bị cho mỗi trung đội ba khẩu súng bắn tỉa, loại có kính ngắm, bắn đươc cự ly 1.000m. Chúng tôi liên tục bắn tỉa sang thành, làm địch thương vong khá nhiều, rồi dùng cối 60mm có phần tử đo sẵn cơ động ra ngoài, cứ bắn nghi binh cấp tập ba đến năm viên xong lại rời sang vị trí khác. Chỉ vài phút sau, địch phản pháo san bằng khu vực cũ. Cứ như thế, chúng tôi nghi binh đánh địch mà địch không tiêu diệt được các loại hỏa lực của ta. Chiến thuật này hiệu quả rất cao, sau này khai thác tù hàng binh, chúng đã khai như vậy.


Sang đầu tháng 10, sau khi nắm lại toàn bộ địa hình ngoài mép sông, tôi mạnh dạn đề xuất với cấp trên phải đưa thêm lực lượng ra ngoài lô cốt, bến vượt, vì nếu ta ở xa mép nước, đêm tối địch vượt sông sang ta không biết, lực lượng mỏng sẽ khó giữ được... Được trên đồng ý, tôi nhanh chóng điều chỉnh hai tiểu đội chốt ngoài lô cốt, bến vượt do tôi chỉ huy, một tiểu đội và Trung đội phó chốt phòng ngự phía sau, bảo đảm cơm nước cho trận địa phía trước. Trong nửa tháng trời, cứ tối đến là cả Trung đội ra đào hầm, hào, công sự trận địa, đào hai hầm kèo tương đối vững chắc, một hầm ngoài cùng, trong rặng tre có tầm quan sát xa, rất kín đáo, các đoạn giao thông hào cơ động được nối thông với nhau, bên trái trận địa là một trung đội được tăng cường hỏa lực, trận địa được củng cố để sẵn sàng đánh địch.


Sau khi rút lui, toàn bộ Sư đoàn 325 chuyển sang phòng ngự, đánh địch bảo vệ vùng giải phóng.

Trung đoàn 101 phòng ngự từ ven biển Cửa Việt về Bích La Đông, chợ Sải, đến ngã ba sông, giáp Thành cổ.

Trung đoàn 95 phòng ngự phía tây thành, chốt làng Tích Tường, Như Lệ, đồi chè, điểm cao 15 - 59 - 52, ra bờ nam sông Thạch Hãn (ngầm Phương Thúy và Đá Đứng).

Trung đoàn 18 chính diện phòng ngự từ An Đôn, cầu sắt, cầu Quảng Trị, bến vượt, lô cốt, làng Xuân An. Chiều sâu phòng ngự từ bờ bắc sông Thạch Hãn đến sông Lai Phước.

Tiểu đoàn 9 phòng ngự làng Xuân An, Trung Kiên, sân bay Ái Tử.

Tiểu đoàn 7 phòng ngự điểm cao 20 - 29, toàn bộ các căn cứ từ Ái Tử về phía sau đến sông Lai Phước.

Sở Chỉ huy phía sau Trung đoàn 18 cách cầu Lai Phước, thượng nguồn bờ nam khoảng 1,5 - 2km.

Sở Chỉ huy phía trước Trung đoàn 18 ở điểm cao 10.

Tiểu đoàn 8 phòng ngự chính diện từ làng An Đôn, cầu sắt, dọc theo bờ bắc, bến vượt, lô cốt, giáp làng Xuân An, chiều sâu phòng ngự từ bờ bắc sông Thạch Hãn về nam điểm cao 10.

Hai trung đoàn 101 và 95 cùng các đơn vị khác phòng ngự trực tiếp tiếp xúc với địch, hai bên giáp mặt, hầu như nổ súng giao tranh liên tục, ngày nào cũng ở thế giằng co quyết liệt. Ta quyết giữ, địch quyết chiếm. Ta và địch nhiều khị giành giật nhau từng tấc đất, góc làng ở hướng tây điểm cao 367, động Ông Do, ta chiếm rồi địch lấy. Cuối cùng, địch chiếm trên cao, ta chiếm giữ phần thấp. Còn trên trận địa của Trung đoàn 18, ta và địch đều sử dụng lối đánh bằng hỏa lực bắn tỉa vì cách sông, hầu như ngày nào cũng có thương vong.


Theo quy luật, trước khi tổ chức tiến công vào trận địa của ta, địch thường dùng B-52, hỏa lực pháo binh, xe tăng dọn bãi nhằm tiêu hao sinh lực, phá hủy vũ khí, phương tiến công sự, hầm hào, sau đó mới bắt đầu tiến công. 16 giờ ngày 1 tháng 11 năm 1972, địch sử dụng pháo binh, súng cối bắn dồn dập vào trận địa Trung đoàn, tập trung vào tiền duyên phòng ngự, đặc biệt là hướng phòng ngự của Tiểu đoàn 8. Sau đó chúng chuyển làn vào trận địa phía sau. Một loạt bom B-52 rải thảm dọc điểm cao 10 và làng Nhan Biều 3, giội trúng Sở Chỉ huy Trung đoàn 18. Trung đoàn phó, Đại úy Vũ Trọng Cưu cùng ba cán bộ, chiến sĩ hy sinh.


Đêm hôm đó, địch sử đụng bộ phận đi đầu bí mật vượt sông sang trinh sát, bám bờ, bộ phận đi sau bơi thuyền cao su, đem theo dây cáp nilông cột hai đầu vào gốc cây và cứ thế đưa lực lượng và phương tiện qua sông, gần một tiểu đoàn triển khai tác chiến... Đến gần 1 giờ sáng, bộ phận gác tiền tiêu của ta mới phát hiện.


Tiểu đội phó Thúy từ ngoài vọng gác tiền tiêu theo đường hào chạy vào hầm số 2 báo cáo tôi: Có nhiều tiếng động, tiếng người thì thào, tiếng cuốc xẻng đào công sự phía trước rặng tre trước trận địa, khả năng địch vượt sông sang... Tôi bật dậy, cầm khẩu AK báng gấp, đeo các trang bị chiến đấu gọn gàng, đánh thức ba chiến sĩ theo tôi ra phía trước. Mọi hành động hết sức nhẹ nhàng, bí mật. Chúng tôi triển khai vào các vị trí chiến đấu đã được phân công. Phía ngoài rặng tre, địch đã triển khai dọc theo mép sông, bên phải, cách trận địa Trung đội 3 không xa. Địch tưởng chưa bị lộ nên vẫn tiếp tục đưa quân vượt sông sang bờ bắc, triển khai đội hình đào công sự, trận địa chờ đến sáng mới bất ngờ tiến công ta. Ta trong địch ngoài, rặng tre dày đặc làm hàng rào ngăn cách. Tôi ra vị trí ngoài cùng để quan sát và nắm mọi diễn biến. Địch đông quá. Tôi cử đồng chí Bình chạy tắt về báo cáo Đại đội: Địch sang đông quá, đang triển khai đội hình và đào công sự trước trận địa Trung đội 3, kéo dài xuống mép sông, sang vị trí Đại đội 5, đề nghị chi viện hỏa lực bắn trước trận địa, mép sông, chia cắt không cho đội hình địch phía sau cơ động sang.


Khoảng 30 - 40 phút sau thì đồng chí Bình quay lại. Trong lúc đó, tôi cử đồng chí Quý sang báo cho Đại đội 5 bên cánh trái và đề nghị Đại đội 5 triển khai chiến đấu, hiệp đồng tác chiến. Lúc ấy đồng chí Điểm - Đại đội phó Đại đội 5 cũng đã phát hiện địch. Từ lúc đó cho đến suốt trận đánh, chúng tôi luôn giữ liên lạc, hiệp đồng, chi viện và thông báo tình hình cho nhau.


Chúng tôi thống nhất cho nổ bốn quả mìn ĐH10, ĐH20 làm mệnh lệnh nổ súng của toàn trận đánh.

Về vị trí chỉ huy, tôi cho nổ mìn. Một tiếng nổ lớn làm chấn động cả một khu vực, khói bụi trùm kín lên cả trận địa... Tiếp đó là lựu đạn, B40, AK, trung liên tới tấp, liên tục quăng, ném, bắn vào đội hình quân địch. Bị đánh bất ngờ địch choáng váng, nhiều tên thương vong, một số chạy dạt về phía sau, số còn lại bám vào công sự, rặng tre, hàng dứa, chống trả quyết liệt.


Do trời tối, hai bên chưa nắm rõ về nhau nên chỉ dùng súng bộ binh, lựu đạn, nổ rộ lên từng chặp 20 - 30 phút khi phát hiện đối phương hoặc để thăm dò, cứ như vậy cho tới khi trời mờ sáng, khoảng 6 giờ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM