tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #120 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 11:13:20 am » |
|
lược này, ít nhất chính quyền Mỹ cũng đã ngầm cam kết sẽ tăng cường lực lượng khi tình hình chiến sự đòi hỏi.
Lúc này, Johnson đã thừa nhận rằng để đạt được các mục tiêu của Mỹ ở Việt Nam, chính quyền Mỹ cần phải có các cam kết kéo dài và tốn kém, nhưng ông ta không chịu đưa những chính sách của mình ra cho công chúng hoặc quốc hội Mỹ bàn luận. Nhiều quan chức chính quyền Mỹ cùng chung một quan điểm mà nhiều người đã chấp nhận vào lúc đỉnh điểm của chiến tranh lạnh là các vấn đề chính sách đối ngoại quá phức tạp và quá quan trọng không thể để cho những người dân ngu dốt, thờ ơ và một quốc hội chia rẽ, cồng kềnh giải quyết. Johnson dường như lo ngại rằng, nếu tuyên chiến sẽ gây phản ứng của Trung Quốc hoặc Liên Xô, hoặc làm tăng sức ép trong nước đòi thực hiện một cuộc chiến tranh không hạn chế ở Việt Nam. Sau này Johnson hồi tưởng, lúc đó ông ta sợ rằng một cuộc tranh luận của quốc hội về cuộc chiến tranh đáng ghét đó sẽ huỷ hoại "chương trình Đại xã hội tâm huyết của tôi" (l). Sự hiểu biết vô song của vị tổng thống Mỹ này về quốc hội và lòng tin vào tài thuyết phục nổi tiếng của mình đã khích lệ ông ta tin rằng mình có thể mở rộng chiến tranh mà không gây phản ứng quyết liệt, và một quốc hội luôn phục tùng ý kiến của ngành hành pháp càng làm cho vị tổng thống này không còn lý do nào để dự kiến một thách thức lớn.
Như vậy, Johnson đã đưa nước Mỹ vào một cuộc chiến tranh bằng cách quanh co và che dấu sự thật. Chiến dịch ------------------------------------------------ (1) Trích trong Kearms, Johnson, tr.251. ------------------------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #121 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 11:13:52 am » |
|
ném bom được công khai biện bạch là để "trả đũa" trận đánh ở Pleiku và hành động "xâm lược" mở rộng của Bắc Việt Nam chứ không phải là ý đồ tuyệt vọng muốn chặn đứng tình hình chính trị và quân sự đang xấu đi nghiêm trọng ở miền Nam. Chính quyền Mỹ chưa bao giờ công khai thừa nhận việc chuyển từ trả đũa sang "gây sức ép kéo dài". Việc điều động bộ binh Mỹ thì được giải thích là vì cần bảo vệ căn cứ quân sự Mỹ, và mãi đến tháng 6 khi ngẫu nhiên sự thật lộ ra trong một bài báo thì các phát ngôn viên của chính quyền Mỹ thừa nhận rằng, quân Mỹ được phép tiến hành các cuộc tấn công.
Tuy chính quyền Mỹ đã che giấu được phương hướng trong chính sách của mình, nhưng việc mở rộng chiến tranh, nhất là chiến dịch ném bom, rõ ràng đã thu hút ngày càng nhiều ý kiến chỉ trích. Nhiều thư từ gửi về nhà Trắng phê phán kịch liệt chiến dịch ném bom. Một vài tờ báo cùng với tờ Thời báo New York cảnh báo về cái giá phải trả "bằng sinh mạng, máu và tiền của phung phí" để tiến hành cuộc chiến tranh trên mặt trận rừng núi "cách bờ biển Califomia tới hơn 11.000 km". Một số thượng nghị sĩ danh tiếng thuộc Đảng Dân chủ như Frank Church, Mike Mansfield và George McGovrem đã kêu gọi tổng thống Mỹ tìm kiếm một giải pháp qua thương lượng. Các giáo sư của các trường đại học Michigan, Harvard và Syracuse đã tiến hành nhiều cuộc hội thảo thâu đêm, sinh viên từ nhiều trường đại học đã tổ chức các cuộc mítting phản đối và đề xuất kiến nghị chống ném bom. Vào tháng 4, 12.000 sinh viên đã tập trung ở Washington để tuần hành phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam.
Hành động leo thang chiến tranh đã gây ra nhiều ý kiến chỉ trích ở ngoài nước Mỹ và khiến nhiều nước, trong đó có cả một số đồng minh trung thành nhất của Mỹ cũng kêu gọi Mỹ cần kiềm chế, tổng thư ký Liên hiệp quốc UThant, người Mianma, đã bỏ ra nhiều tháng dàn xếp những cuộc đàm phán riêng giữa Mỹ và Bắc Việt Nam, và khi chính quyền Mỹ lạnh nhạt đáp lại những cố gắng của ông và bắt đầu chiến dịch ném bom, ông đã công khai lên án Washington không cho nhân dân Mỹ biết sự thật. Vào đầu tháng 4, 17 quốc gia trong khối Không liên kết đã ra "Lời kêu gọi khẩn cấp" kêu gọi đàm phán vô điều kiện. Nước Anh với tư cách chủ tịch hội nghị Geneva thì kêu gọi các bên xung đột hãy nói rõ điều kiện của họ về một giải pháp. Một việc khiến Johnson đặc biệt phiền lòng là thủ tướng Canada Lester Pearson, khi phát biểu trên đất Mỹ, đã kêu gọi Washington ngừng ném bom và phấn đấu cho một giải pháp hoà bình.
Chính quyền Mỹ nhanh chóng có hành động đối phó với những lời chỉ trích. Các trợ lý của nhà Trắng đã tổ chức chiến dịch mang tên "Mục tiêu: các trường đại học", bằng cách điều động "các cán bộ trẻ giỏi giang nhất" đi diễn thuyết tại các trường đại học và mời các giáo sư và sinh viên đến Washington để dự các buổi "hội nghị chuyên đề" (1). Tổng thống Mỹ mời các nghị sĩ, chủ bút các báo và đại diện các chính phủ nước ngoài đến dự các phiên họp mà đôi khi kéo dài 3 giờ đồng hồ với mục đích là để tích cực bảo vệ các chính sách của mình và nhắc các vị khách nhớ lại những ân sủng Mỹ đã ban phát trước đây. Các phát -------------------------------- (1) Jack Valentin gửi Mc George Bundy, ngày 23-4-1965, Văn kiện Johnson, Hồ sơ an ninh quốc gia, Hồ sơ đất nước: Việt Nam: hộp 13. --------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #122 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 11:14:22 am » |
|
ngôn viên của chính quyền Mỹ công khai trả lời các nhà phê bình với lời lẽ mà ngay từ đầu đã bộc lộ sự xúc phạm và kiêu ngạo, nới rộng thêm khoảng cách giữa Washington và những người phản đối chiến tranh. Khi phát biểu trước hội Luật gia quốc tế, ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk còn diễn đạt một sự nghi ngờ: "Những người tưởng là sẽ giúp thanh niên chúng ta biết cách suy nghĩ, lại ương bướng không chịu xem xét đến những sự thực đã quá rõ ràng ... (1)".
Chính quyền cũng cố gắng làm tiêu tan sự nghi ngờ của các nhà phê bình bằng nhiều sáng kiến hoà bình giật gân. Trong bài nói chuyện tại trường đại học Johns Hopkins ngày 7-4. Johnson khẳng định Mỹ sẵn sàng bước vào đàm phán "vô điều kiện" và thậm chí còn phô trương một chương trình phát triển kinh tế trị giá 1 tỷ USD cho vùng đồng bằng sông Cửu Long, một chương trình "có quy mô lớn hơn chương trình đồng bằng Tenessy của chúng ta" (2). Vào đầu tháng 5, Johnson miễn cưỡng chuẩn y ngừng ném bom 5 ngày đi kèm với những tín hiệu riêng cho Hà Nội nêu rõ, nếu Bắc Việt Nam và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam giảm hoạt động quân sự thì Mỹ sẽ giảm ném bom.
Rõ ràng Tổng thống Mỹ có "có ý muốn hoà bình", song những sáng kiến mùa xuân năm 1965 chủ yếu nhằm bịt miệng các nhà phê bình trong nước và quốc tế chứ không phải là thực sự bắt đầu những cố gắng kiên quyết ------------------------------------- (1) Trích trong Thời báo Time ngày 30-4-1965, tr.29. (2) Văn kiện công khai của tổng thống Mỹ, Lyndon B.Johnson, 1965, Washington, D.C., năm 1966, quyển I, tr.394-399. ------------------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #123 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 11:14:56 am » |
|
tìm một giải pháp hoà bình. Mặc dù Johnson đề nghị tham gia "đàm phán vô điều kiện", nhưng thực sự không muốn bắt đầu những cuộc thương lượng nghiêm túc vào thời điểm mà thế mặc cả của họ quá yếu. Thực ra, trong nội bộ họ cũng chưa bàn bạc để đề ra một chương trình thương lượng. Hơn nữa, tổng thống Mỹ đã nêu rõ trong bài diễn văn tại trường đại học Johns Hopkins rằng, Mỹ sẽ không hy sinh mục tiêu cơ bản của họ là một Nam Việt Nam độc lập có nghĩa là một miền Nam Việt Nam phi cộng sản.
Các quan chức chính quyền Mỹ biết chắc rằng Bắc Việt Nam sẽ không đàm phán trên cơ sở này.
Như dự kiến, những "sáng kiến hoà bình" này không đưa hai nước nhích gần hơn đến bàn thương lượng. Không hề sợ hãi trước việc Mỹ gây áp lực đòi nhượng bộ, Hà Nội kịch liệt lên án Mỹ đưa ra con bài tạm ngưng ném bom chỉ là "một thủ đoạn lừa dối và đe dọa cũ rích". Không biết lúc đó Hà Nội có thiện chí muốn thương lượng ở mức độ nào, nhưng dù sao Mỹ cũng chẳng tỏ ý khuyến khích thương lượng nhiều lắm. Ngày 8-4, thủ tướng Phạm Văn Đồng có đưa ra một kế hoạch thương lượng gồm 4 điểm. Chí ít về lý thuyết, phần lớn kế hoạch này không mâu thuẫn với các mục tiêu cơ bản của Mỹ. Một số quan chức Mỹ đòi tiếp xúc thêm để thăm dò kỹ hơn về lập trường của Hà Nội, nhưng tổng thống Johnson và các cố vấn hàng đầu của ông ta cho rằng, câu "một giải pháp phải phù hợp với cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam" chẳng qua chỉ là những lời che đậy thô sơ cho kế hoạch của cộng sản ở Nam Việt Nam và thấy không có lý do gì để bàn thêm về chuyện đó.
Nhưng những "sáng kiến hoà bình" đó cũng tạm thời giúp giải toả những ý kiến phê phán ở trong và ngoài nước, và chính quyền Mỹ dùng thời gian ngừng ném bom này để củng cố sự ủng hộ của quốc hội. Ngày 4-5, Johnson đệ trình lên quốc hội Mỹ đề nghị duyệt 700 triệu USD chi viện cho các hoạt động quân sự ở Việt Nam và nêu rõ rằng, ông ta sẽ coi việc bỏ phiếu chấp thuận khoản ngân sách kia là sự tán thành của các chính sách của ông ta. Dĩ nhiên, những quyết định cơ bản đã được sắp đặt và tổng thống Johnson chẳng cần làm gì để làm sáng tỏ chính sách ông ta đang thực sự theo đuổi. Các nhà lập pháp rất khó bỏ phiếu chống việc cấp ngân sách cho các binh sĩ ngoài mặt trận, nên quốc hội Mỹ đã nhanh chóng thông qua đề nghị này mà chẳng có một ý kiến phản đối. Johnson sau này lấy sự phê chuẩn này cùng với việc phê chuẩn nghị quyết Vịnh Bắc Bộ để bác lại những nhà phê bình nói rằng ông ta đã không cho quốc hội có cơ hội thông qua chính sách của ông ta tại Việt Nam.
Trong 3 tháng sau đợt ngừng ném bom tháng 5, chính quyền Johnson tiến dần từng bước tới quyết định tiến hành chiến tranh ở Việt Nam. Dù Mỹ thực hiện chiến dịch ném bom, tiếp tục tăng viện trợ và đưa quân vào miền Nam Việt Nam, nhưng tình hình quân sự vẫn xấu hẳn đi. Đúng vào giai đoạn gay cấn nhất này của cuộc chiến tranh thì quân đội Việt Nam Cộng hoà đang trên bờ vực tan rã. Tỷ lệ đào ngũ trong lính quân dịch tại các trung tâm huấn luyện đã lên tới hơn 50%. Thất vọng trước việc chiến dịch ném bom không xoay chuyển được cuộc chiến tranh và thể hiện một xu hướng ngày càng tăng là "mặc kệ cho quân Mỹ chiến đấu", đội ngũ sĩ quan Việt Nam Cộng hoà trở nên cẩn trọng hơn. Bộ chỉ huy cấp cao "gần như vô chính phủ do đấu đá nội bộ (1). Được sự hỗ trợ của 4 trung đoàn quân chính quy Bắc Việt Nam, quân giải phóng miền Nam đã mở đợt tấn công vào tháng 5 và trong các trận đánh lớn ở cao nguyên và ngay ở phía Bắc Sài Gòn, họ đánh tan tác và gây thương vong lớn cho quân đội Việt Nam Cộng hoà.
Những thất bại to lớn này làm tăng những nghi ngờ về khả năng của quân đội Việt Nam Cộng hoà mà Westmoreland đã nói, và những tổn thất lớn đã hoàn toàn làm đảo lộn kế hoạch xây dựng một quân đội Nam Việt Nam của ông ta.
Vào cuối tháng 5, ông ta đi đến kết luận sẽ cần đưa thêm nhiều quân Mỹ vào để ngăn chặn thất bại ở Nam Việt Nam.
Tình hình chính trị tại Nam Việt Nam không có dấu hiệu cải thiện. Sau khi từ chức vào tháng 8-1964, Nguyễn Khánh vẫn đóng vai trò chính trị công khai bằng việc tiếp tục giữ chức thủ tướng một thời gian rồi lại thống lĩnh các lực lượng vũ trang. Sau hơn một năm ở, hoặc ở gần vị trí quyền lực trung tâm, trong thời gian này ông ta làm tăng thêm sự chia rẽ ở Nam Việt Nam lên gấp bội, Nguyễn Khánh cuối cùng rút khỏi chính trường ,vào tháng 2-1965, và người Mỹ đã thở phào nhẹ nhõm khi ông ta nhận chức "đại sứ lưu động". Sau hàng loạt vụ đảo chính và phản đảo chính rối loạn không thể tránh được, một chính quyền dân sự ----------------------------------- (1) Bút lục về tài liệu Wilham Depuy ngày 9-3-1965 và Bút lục gửi tới Westmoreland ngày 13-4-1965, Văn kiện William Depuy, Viện Lịch sử quân sự Mỹ, trại Carlisle, Pa., hộp tài liệu D(65). -----------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #124 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 11:15:30 am » |
|
do Phan Huy Quát đứng đầu đã được thành lập và tình hình tương đối yên tĩnh trong một thời gian. Nhưng khi Quát tìm cách thay đổi lại nội các vào tháng 5, một cuộc khủng hoảng đã nổ ra và cái gọi là các tướng lĩnh trẻ - gồm có thiếu tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ và tướng Nguyễn Văn Thiệu - đã xuất hiện, giải tán chính phủ Quát rồi chiếm quyền. Chính quyền mới, cũng là chính quyền thứ 5 sau cái chết của Diệm, tồn tại lâu hơn hẳn bất kỳ một chính quyền Việt Nam Cộng hoà nào trước đó, nhưng ngay lúc đầu, tương lai của nó dường như cũng bấp bênh. Thiệu giữ chức tư lệnh các lực lượng vũ trang và được Mỹ trọng vọng như một nhà lãnh đạo quân sự có năng lực và Taylor coi ông ta như một con người đầy "tự tin và sáng suốt"(1). Thủ tướng Kỳ lại hoàn toàn khác, luôn mặc bồ độ bay loè loẹt, cổ quàng khăn màu huyết dụ nhạt, khẩu súng lục báng chạm ngà voi phô trương trên hông, vị thiếu tướng không quân thích phô trương này nổi tiếng là "hay nhậu nhẹt, cờ bạc và đuổi theo phụ nữ", nói năng bừa bãi và dùng không quân vào mưu đồ chính trị cá nhân (2).
Người Mỹ thấy khó trông cậy vào Kỳ và thấy ít lý do để lạc quan trước việc ông ta lên cầm quyền. Sau này William Bundy nhớ lại, nhóm lãnh đạo Thiệu-Kỳ "đối với chúng tôi dường như đã là tồi tệ nhất rồi" (3).
Trong tình hình như vậy, các cố vấn của Johnson bắt đầu đòi hành động mạnh mẽ để ngăn chặn cái mà dường như một thất bại chắc chắn. Vốn từ lâu đã chán chường với ------------------------------ (1) Taylor, Thanh gươm và Lưỡi cày, tr.345. (2) Bút lục của CIA, ngày 19-8-1964, Văn kiện Johnson, Hồ sơ an ninh quốc gia, Hồ sơ đất nước: Việt Nam, hộp 7. (3) phỏng vấn William Bundy, Văn kiện Johnson. ------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #125 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 11:16:01 am » |
|
những quy định hạn chế việc ném bom, Westmoreland, các tham mưu trưởng liên quân và Rostow thuộc Bộ Ngoại giao đều đòi tăng cường cuộc chiến tranh bằng không quân. Họ lý luận, mức độ chiến tranh hiện tại chỉ làm cho Hà Nội sống không được dễ chịu và những hạn chế về ném bom đã khiến cho Bắc Việt Nam tự do củng cố khả năng phòng thủ lẫn tấn công. Cụ thể, Rostow còn nói thẳng rằng, thắng lợi quân sự nằm trong tầm tay nếu Mỹ đánh thẳng vào cơ sở công nghiệp của Bắc Việt Nam.
Đồng thời Westmoreland và các tham mưu trưởng liên quân chủ trương tăng cường ở mức độ lớn các lực lượng bộ binh của Mỹ và thực hiện chiến lược tấn công ở miền Nam. Biết rõ hơn bao giờ hết là Nam Việt Nam không đủ nhân lực để đứng vững, Westmoreland được các tham mưu trưởng liên quân hậu thuẫn đã xin điều thêm 150.000 quân Mỹ sang Việt Nam vào đầu tháng 6. Vốn mang tư duy truyền thống trong việc sử dụng lực lượng quân sự, Westmoreland và các tham mưu trưởng liên quân ngay từ đầu đã phản đối chiến lược căn cứ lõm và lúc này họ lại nhấn mạnh cần bỏ chiến lược đó đi để thực hiện một chiến lược tấn công tích cực. Chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân, tướng Earle Wheeler, khẳng định "không ai có thể chiến thắng nếu như chỉ ngồi một chỗ" (1). Thực tế vào mùa hè năm 1965, ngay đại sứ Taylor, sau này kể lại, cũng thừa nhận rằng; "Sức mạnh tấn công của đối phương đã hoàn toàn làm cho tôi không còn do dự về việc dùng bộ ---------------------------------------- (1) Graff, Nội các ngày thứ ba, tr.138. ----------------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #126 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 11:16:33 am » |
|
binh Mỹ vào cuộc chiến đấu toàn diện nữa" (1).
Chỉ có George Ball và luật sư Clark Clifford, một cố vấn riêng thường xuyên của Johnson là kịch liệt phản đối việc triển khai lực lượng bộ binh Mỹ với quy mô lớn vào miền Nam Việt Nam. Ball tỏ ý nghi ngờ sâu sắc là Mỹ có thể đánh bại Việt Cộng "hoặc thậm chí buộc họ phải ngồi vào bàn đàm phán theo điều kiện của chúng ta, dù cho chúng ta có đưa thêm hàng trăm ngàn quân ngoại quốc, da trắng (Mỹ)". ông ta tỏ ý vô cùng lo ngại việc phê chuẩn những đề nghị của Westmoreland sẽ dẫn đến "một cuộc chiến tranh kéo dài khiến Mỹ phải đưa lực lượng vào vô tận, làm số thương vong Mỹ tăng lên, không bảo đảm một giải pháp thỏa đáng và có nguy cơ cuối cùng buộc phải leo thang". ông báo trước, một khi đã đưa quân Mỹ vào thì không thể lùi được, và nói "sự dính líu của chúng ta sẽ lớn đến mức chúng ta không thể dừng lại nếu không đạt được những mục tiêu cuối cùng mà không cảm thấy xỉ nhục đối với đất nước". Clifford cũng nhất trí và đã yêu cầu tổng thống Johnson giữ quân số Mỹ ở mức tối thiểu và thăm dò "mọi con đường nghiêm túc dẫn đến một giải pháp có thể có", rồi kết luận, "đó không phải là điều mà chúng ta muốn, nhưng chúng ta có thể tìm cách chung sống với nó" (2).
Sau một chuyến đi chớp nhoáng nữa sang Sài Gòn vào đầu tháng 7, bộ trưởng quốc phòng McNamara đã đưa ra --------------------------------------- (1) Taylor, Thanh gươm và Lưỡi cày, tr.347. (2) Ball gửi Johnson ngày 1-7-1965, Văn kiện Lầu Năm góc (NYT), tr.449-454; Clifford gửi Johnson ngày 17-5-1965, Văn kiện Johnson, Hồ sơ an ninh quốc gia, Hồ sơ đất nước: Việt Nam, Hộp 16. -------------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #127 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 11:16:57 am » |
|
một lập luận rất quan trọng. ông nhấn mạnh những báo cáo bi quan của Westmoreland và Taylor, rồi cảnh báo rằng, nếu tiếp tục chiến tranh và phấn đấu dành cơ hội may mắn, thì sẽ chỉ "làm chậm sự lựa chọn giữa leo thang chiến tranh và rút ra, có thể sẽ đến lúc quá muộn chẳng còn làm được điều gì nữa". McNamara thừa nhận việc mở rộng sự dính líu của Mỹ sẽ làm cho quyết định rút lui sau này "trở nên khó khăn và tốn kém hơn bây giờ". Mặc khác ông ta đề nghị chỉ dần từng bước triển khai thêm 100.000 quân chiến đấu Mỹ tại Việt Nam (1).
Cuối tháng 7, Johnson đã đưa ra những quyết định mang tính định mệnh, đưa nước Mỹ vào một đường hướng mà nó không thể đi chệch trong suốt gần 3 năm và mở đường cho 7 năm chiến tranh đẫm máu tại Việt Nam. Tổng thống Mỹ không phê chuẩn chiến dịch ném bom tổng lực do Westmoreland và các tham mưu trưởng liên quân đề nghị. ông ta và các cố vấn dân sự vẫn sợ rằng, nếu đánh trực tiếp với quy mô lớn vào Bắc Việt Nam có thể khiêu khích Trung Quốc can thiệp. Họ cũng cảm thấy rằng, cơ sở công nghiệp xung quanh Hà Nội là một con chủ bài trong tay Mỹ và mối đe dọa huỷ diệt nó còn có giá trị hơn là việc thực sự huỷ diệt nó. Chính quyền Mỹ đã thông qua đề nghị của Westmoreland dùng máy bay B.52 ném bom rải thảm ở Nam Việt Nam và cho phép tăng cường từng bước cường độ ném bom Bắc Việt Nam. Số phi vụ ném bom tăng đã từ 3.600 vào tháng 4 lên 4.800 vào tháng 6, và sau đó còn tăng lên nữa. Johnson kiểm soát chặt chẽ chiến dịch ném ----------------------------------- (1) Johnson, Lợi điểm, tr.145-146. ------------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #128 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 11:17:41 am » |
|
bom, đích thân phê duyệt trước mục tiêu cho mỗi trận oanh tạc và hạn chế ném bom chỉ trong khu vực nam vĩ tuyến.
Đồng thời, tổng thống Mỹ còn phê duyệt việc đưa thêm một lực lượng bộ binh lớn vào Nam Việt Nam và thực hiện chiến lược mới để chỉ đạo việc triển khai lực lượng này.
Quyết tâm đứng vững ở Việt Nam và ngày càng lo sợ trước những báo cáo về tình trạng suy sụp về chính trị và quân sự ở Nam Việt Nam, vào tháng 7, Johnson đã phê chuẩn đề nghị đưa ngay lập tức 50.000 quân nữa vào trước khi kết thúc năm đó và như vậy, ít nhất cũng ngầm cam kết cung cấp thêm bất kỳ lực lượng nào nữa cần đến sau này.
Johnson cũng cho phép Westmoreland "đưa lực lượng Mỹ chiến đấu độc lập hoặc phối hợp với quân Việt Nam Cộng hoà trong bất kỳ tình huống nào khi cần sử dụng chúng để củng cố địa vị so sánh của các lực lượng Nam Việt Nam" (1). Hơn nữa, qua việc cho Westmoreland tự do hành động, Johnson đã mở đường để Mỹ gánh vác phần lớn gánh nặng cuộc chiến đấu ở Nam Việt Nam.
Một số cố vấn của Johnson khuyến nghị quyết liệt rằng tổng thống nên nói thẳng với cả nước về những quyết định hồi tháng 7. Các tham mưu trưởng liên quân gây áp lực đòi động viên lực lượng dự bị và huy động lực lượng cảnh vệ quốc gia để tỏ rõ là Mỹ không dính líu vào "một hành động phiêu lưu quân sự không đáng làm" (2). McNamara rất lo ngại về tác động chính trị nội bộ của những quyết định ---------------------------------- (1) Sheehan, Văn kiện Lần Năm góc (NYT), tr.412. (2) Phỏng vấn Earle Wheller, Văn kiện Johnson. -----------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
tuaans
Cựu chiến binh

Bài viết: 3774
|
 |
« Trả lời #129 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 11:18:08 am » |
|
nói trên đã thúc giục Johnson tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia và yêu cầu quốc hội tăng thuế. Nói tóm lại, ông ta muốn không cần tuyên chiến mà vẫn đặt đất nước vào tình trạng chiến tranh. Bản thân tổng thống Johnson như đang đùa giỡn với ý tưởng tranh thủ một nghị quyết nữa của quốc hội công khai ủng hộ các chính sách của mình.
Sau khi suy tính mọi nhẽ, Johnson quyết định phản bác tất cả các biện pháp nói trên. ông ta vẫn sợ rằng bất kỳ việc làm nào giống như một sự tuyên chiến đều có thể khiêu khích Liên Xô và Trung Quốc. Chưởng lý của chính quyền Mỹ cam đoan rằng tổng thống có quyền điều động những lực lượng lớn mà không phải trình lên quốc hội (1).
Có lẽ điều quan trọng nhất là lúc đó các đạo luật nhân quyền và y tế đang trong quá trình đưa ra xem xét tại quốc hội và việc phê chuẩn của quốc hội còn phụ thuộc vào nhiều đề nghị khác của chính quyền. Johnson quyết tâm tạo cho mình một chỗ đứng trong lịch sử bằng cách thực hiện những cải cách sâu rộng trong nước và sợ rằng nếu xin quốc hội cho tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam thì giấc mơ tạo dựng một xã hội vĩ đại trong nước sẽ tan vỡ. Do đó, ông ta bác bỏ lời khuyên của các tham mưu trưởng liên quân và McNamara, rồi báo cho văn phòng nhà Trắng biết, ông ta muốn các quyết định nói trên được thực hiện theo cách thức không ồn ào để (a) tránh gây thách thức đột ngột đối với khối Cộng sản và (b) tránh nỗi lo ngại và kích động không đúng lúc trước quốc hội và dư -------------------------------- (1) Nicholas Katzenbach gửi Johnson, ngày 10-6-1965, Văn kiện Johnson, Hồ sơ an ninh quốc gia, Hồ sơ đất nước: Việt Nam, hộp 17. ---------------------------------
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|