Các bác tranh luận về vấn đề tình cảm ,tình yêu và sự gắn bó ... Giữa người lính và cô giáo . Cái chung chung thì các bác nói rồi , bây giờ em xin kể cụ thể 1 trường hợp mà em biết nhé ! Các bác đánh gia xem tình yêu ấy có đẹp không ? sản phẩm (những đứa con) của tình yêu ấy ra sao ?
...
P/S . Tại sao cứ hành động , việc làm , tình yêu ... Nào đẹp là lại có 1 số người cho là do "tuyên truyền... vân vân và vân vân " Thế nhỉ

Ý kiến chủ quan của em nhé : Các bác bị nhiễm phuơng tây rồi ! Hóa ra nó truyền bá cách sống của nó cũng ối người nhiễm ... Sống thế nào mới gọi là standart (tiêu chuẩn) nhỉ ? Ai đề ra cái tiêu chuẩn đó nhỉ ?
Các bác đã bao giờ đặt câu hỏi cho mình chưa : "Sao phuơng tây nó không nhiễm hoặc bắt chước mình nhỉ ?"
Các bác hãy sống đúng cách sống Việt Nam đi !
Và cuối cùng mượn lời bác haanh :" Các bác hãy nhìn đời bằng lăng kính màu hồng đi"
Em xin hầu các bác 1 chuyện tình có thật của một anh bộ đội nổi tiếng: nhà thơ Hữu Loan và bài thơ nổi tiếng:"Màu Tím Hoa Sim":
Hữu Loan ở trong nhà ông bà Lê Đỗ Hữu Kỳ để dạy kèm cho các con ông, ông là kỹ sư Canh Nông ở Pháp về làm Thanh Tra cho Bộ Canh Nông của Pháp. Hàng ngày anh vẫn học thêm và đi hoạt động với anh em trong Đoàn Thanh Niên. Ngày 19-8-45, cuộc cách mạng của Việt Minh đã thành công ở Hà Nội, các tỉnh đã thành lập chính quyền, anh và các anh chị em trong Đoàn Thanh Niên rất vui mừng. Anh hô hào dân chúng đi cướp chính quyền một cách dễ dàng. Và được bầu làm Chủ Tịch Uỷ Ban Nhân Dân lâm thời tại Thanh Hoá. Đến tuần lễ Vàng, cô Ninh cũng hăng hái tham gia cổ động dân chúng đóng góp vàng ủng hộ. Hữu Loan lúc đó là một thanh niên yêu nước nhiệt thành nên rất hăng hái và làm việc không biết mệt. Năm 46, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ. Anh không thích làm Chủ Tịch tỉnh nên đã xin từ chức và nhường cho người khác để lên đường ra mặt trận. Hữu Loan thăm gia vào sư đoàn 304 do tướng Nguyễn Sơn chỉ huy. Anh được giao cho nhiệm vụ làm Trưởng Phòng Tuyên Huấn sư đoàn với cấp Chính Trị Viên tiểu đoàn. Nguyễn Sơn là một vị tướng trẻ nhưng rất giỏi, anh lại là người mê văn nghệ và hiểu biết tất cả mọi bộ môn thơ văn nhạc nên Hữu Loan rất quý mến anh và ngược lại Nguyễn Sơn xem Hữu Loan như một người bạn hơn là một thuộc cấp.
Trong quân ngũ rất bận nhưng Hữu Loan vẫn thường xuyên về thăm nhà. Gia đình ông bà Kỳ vẫn thương yêu anh như xưa. Cô Ninh thì đã lớn, cô quấn quít bên anh như hồi nào. Thế rồi tình yêu giữa Hữu Loan và cô Ninh đã đến lúc nào Hữu Loan cũng không biết. Hai ông bà Kỳ thì càng vun xới cho tình yêu hai trẻ. Hữu Loan thú thật với bà Kỳ và xin cưới cô Ninh làm vợ. Ông bà Kỳ lo đám cưới sớm cho đôi trẻ. Trong thời kháng chiến thì không làm rầm rộ theo tục lệ xưa. Thường đám cưới chỉ làm ở ngôi đình làng, khách họ hàng và viên chức xã đến chào cờ, chúc tụng rồi đọc tuyên bố, còn trên bàn chỉ có 1 vài đĩa kẹo thôi gọi là đám cưới nhân dân kháng chiến. Nếu có vài ba cặp thì tổ chức ăn mừng cũng vậy và gọi là đám cưới tập thể.
Ông bà Kỳ thì lại không muốn gã chồng cho con theo kiểu đó vì ông bà là người giàu có, điền chủ và lúc bấy giờ ông lại là Dân Biểu Quốc Hội đầu tiên của chính phủ nên làm tiệc tại nhà một tí mâm cơm tươm tất, rồi mời Uỷ Ban đến tham dự. Đám cưới của Hữu Loan và cô Ninh rất đơn giản. Ngày cưới cô dâu không mặc áo cưới và chú rễ mặc quần áo nhà binh đôi giầy dính bết bụi hành quân.
Cưới nhau xong năm ngày là anh lại trở về đơn vị. Anh đi được hai hôm thì ở nhà, một buổi sáng cô Ninh ra sông Nông Cống giặt quần áo, không ngờ nước sông chảy quá mạnh, cô trượt chân té xuống nước, bị nước cuốn cô trôi đi và chết đuối. Mãi 3 ngày sau, xác cô nổi lên, dân thuyền chài họ vớt xác cô mang về nhà ông bà Kỳ chôn cất.
Hai tháng sau, trong lúc đang ngồi uống trà tại một quán nhỏ, Hữu Loan mới hay tin người vợ trẻ ở nhà đã chết. Anh sa sầm mặt lại, da tái xanh, tay anh run rẩy làm đỗ cả ly nước đang cầm trên tay. Quá đau đớn với cái tin bất ngờ, anh vội vàng đạp xe về nhà và thấy bà Kỳ đang ngồi khóc bên mộ người con gái mà bà yêu thương nhất. Hữu Loan nhìn thấy trên mộ là chiếc bình hoa nhỏ ngày cưới nay đã thành bình hương trên mộ chí. Anh quá đau đớn phủ phục bên nằm mồ vô tri và than khóc.
Rồi sau đó, anh trở về đơn vị, cả ngày như người mất hồn. Vào một buổi trưa, niềm đau đớn đó đã tuôn trào và anh đã viết thành bài thơ Mầu Tím Hoa Sim. Anh viết một mạch bài thơ để nói lên tất cả tâm tư của mình chỉ vỏn vẹn hai tiếng đồng hồ. Hữu Loan xếp bài thơ cất vào túi áo. Ví quá thương nhớ vợ nên anh ngã bệnh. Một chú bộ đội đàn em của anh đang làm cho tờ báo Chiến Hữu của sư đoàn đã đến chăm sóc cho anh. Lúc chú giặt quần áo cho anh và bất ngờ thấy bài thơ trong túi áo. Chú cất đi và giữ gìn cẩn thận. Rồi một ngày chú về quê gần làng bà Kỳ, chú lấy đọc cho bà Kỳ nghe. Bà Kỳ khóc và bắt chú chép lại cho bà. Thế là bài thơ tự nhiên được phổ biến mau lẹ ai cũng thuộc, cũng biết. Lời thơ trung thực, toàn bộ bài thơ đọc rất cảm động vì xuất phát tự con tim của nhà thơ Hữu Loan...
…
Anh chỉ cho tôi xem chiếc bình hoa ngày cưới mà anh luôn gìn giữ và ngày ngày nhang khói cho người vợ quá cố. Anh trao cho tôi bài Mầu Tím Hoa Sim do chính tay anh viết. Anh còn giảng cho tôi nghe những từ ngữ và cách ngắt câu là dụng ý diễn tả tình cảm trong bài thơ. Anh nói có nhiều nơi họ in không đúng với ý của anh.
Trong một thời chúng ta không công nhận bi kịch, không cho phép khóc than, thì bài thơ khóc vợ mình (chứ chưa dám khóc vợ ai) có vẻ yếu đuối quá, “tiểu tư sản” quá. Thậm chí dạo năm 57, 58 có người còn viết phê bình giễu Hữu Loan là “anh bộ đội sụt sịt” – nghe thật tàn nhẫn. Bi kịch trong bài thơ này nằm ngay hoàn cảnh ra đời của nó:
“Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương”
Hoàn cảnh như phi lý, không hợp qui luật trong chiến tranh. Nhưng hoàn cảnh ấy đã xảy ra, vợ nhà-thơ-lính đã mất, và ông khóc thương vợ bằng tất cả nỗi đau khổ tự lòng mình:
“Em ơi ! giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được trông nhau một lần !”
Sự cảm động của bài thơ do ở sự thật thà của người viết, từ bàng hoàng, ray rứt đến ám ảnh. Cái màu tím cứ hun hút kia dẫn ta về cõi nào, bài thơ đã mấp mé giữa hai bờ thực, ảo.