Biên chế Kị binh Châu Âu trung cổ (dịch từ cuốn Medieval Europe Army):
Đơn vị nhỏ nhất trong kỵ binh là kỵ thương (lance), không nên nhầm họ với một đoàn tùy tùng bao gồm cả lính bộ chiến và thường được tách ra tại điểm tập kết để tạo nên những nhóm lính cơ động với vũ trang khác nhau. Một đơn vị kỵ binh (lance) Anh theo lý thuyết gồm có 1 hiệp sĩ, 1 men-at-arms, 2 kỵ binh bắn cung (Chauser, viết vào năm 1360), hoặc có khi là chỉ có 1 hiệp sĩ, 1 squire và 1 kỵ cung. Một lance của Pháp năm 1450 gồm 1 men-at-arms, 1 squire và 3 kỵ cung, hoặc 2 kỵ cung và 1 hobilar (kỵ binh nhẹ). Ở Italy, những đơn vị kỵ binh sớm nhất trong các tổ chức đánh thuê được gọi là batuta, gồm 1 sergeant và 1 men-at-arms. Đơn vị nà được cơ cấu thành lance vào những năm 1350, gồm 1 men-at-arms, 1 squire và một cậu bé phục dịch.
Ở Italy cứ 5 lance sẽ tạo thành 1 posta và cứ 5 posta tạo thành 1 bandiera với 25 kỵ binh. Dựa theo sắc lệnh năm 1351, kỵ binh Pháp được nhóm lại thành từng đội với số lượng cố định, nhưng số lượng như thế nào lại không được đề cập đến. Ở Anh, mội đội kỵ binh có số lượng dao động từ 25 đến 80, trung bình là 50 kỵ binh mỗi đội và được chỉ huy bởi một hiệp sĩ với một lá cờ hiệu bay trên cây thương. Ở Byzantine, tên gọi cho chức vị chỉ huy này gọi là Vintenary, và mỗi đội kỵ binh ban đầu được quy định là 50 người mỗi đội. Hệ thống quân sự Byzantine được xây dựng dựa trên những học hỏi từ Tây Âu cũng như từ những ghi chép còn sót lại từ thời Đế Chế La Mã và có được kinh nghiệm thực tế từ các cuộc Thập Tự Chinh, cấp bậc của Vitenary thường được nhắc đến thường xuyên trong các tài liệu tiếng Anh.
Nhiều đội kỵ binh tạo nên nhóm đông đến 200 đến 300 người, tương đương với một trung đoàn kỵ binh hiện đại. Tại Bannockburn (1314), 3000 kỵ binh Anh được chia thành 10 đơn vị gọi là “battle”, mỗi battle có 300 người. Các battle này tạo nên đội hình thông thường gồm 3 tuyến Vanguard, Main và Rearward Battle, những kỵ binh trong mỗi tuyến đều có 3 cấp bậc. Đơn vị tương tự ở Byzantine là đơn vị 450 người: Theo sắc lệnh giữa thế kỷ 15 tạo nên một đơn vị kỵ binh gồm 500 người, với 100 lance 5 người. Đơn vị này được gọi là regiment (Trung đoàn), mỗi regiment được chỉ huy bởi một hiệp sĩ được phép mang cờ hiệu.
Thông thường thì 2 đến 3 regiment đã hợp lại thành một lực lượng với viên chỉ huy trận đánh, giống như ở Bannockburn. Mọi viên chỉ huy chiến trường thường là một vị vua, hoàng tử hay nhà quý tộc, và đều được phép đem theo 2 cờ hiệu cá nhân và cờ hiệu để triệu tập quân đội. Từ những năm 1350, vai trò chỉ huy trận đánh cũng được giao các hiệp sĩ có cấp bậc thấp hơn cấp bậc quý tộc, những hiệp sĩ này là những người dày dặn kinh nghiệm trận mạc, hay có khả năng lãnh đạo một lực lượng lớn trong các trận đánh. Những hiệp sĩ này được biết đến với cái tên Knight Banneret, và họ được phép mang cả hai loại cờ hiệu.
Kỵ binh khi đó bao gồm các nhà quý tộc, hiệp sĩ, sergeant, squire, men-at-arms, hobilar và kỵ cung, và sẽ có những giải thích để làm hiểu nghĩa của những cái tên này. Những nhà quý tộc và hiệp sĩ có những thứ hạng khác nhau có thể xác định được: Nam tước (Baron), Bá tước (Count và Earl, nhưng Earl có cấp bậc cao hơn), Công tước (Duke) và Hoàng tử (Prince) của giới quý tộc; Knight Banneret (hiệp sĩ được phép cầm cờ hiệu riêng và chi huy trận đánh), Knight Bachelor (hiệp sĩ có cấp bậc thấp hơn Knight Banneret và thường ở vị trí trợ tá cho Knight Banneret), và hiệp sĩ thường. Những người này từng là các sĩ quan quân đội cùng các hiệp sĩ ngự lâm (Household Knight) và các hiệp sĩ khác có cấp bậc thấp hơn. Họ và ngựa được bọc giáp hạng nặng. Các Sergeant có cấp bậc thấp hơn hiệp sĩ và trang bị tương đương hoặc nhẹ hơn so với một hiệp sĩ. Ngựa của các hạ sĩ quan nhỏ hơn và không được trang bị giáp như của các hiệp sĩ.
Squire là các hiệp sĩ tập sự, trang bị như các hạ sĩ quan. Squire cấp cao được biết đến là các cận vệ, luôn tháp tùng với lãnh chúa của anh ta trong trận đánh, thường trong mỗi chiến dịch tỉ lệ là 2~3 squire cho mỗi hiệp sĩ. Ban đầu, các squire được hình thành với số lượng lớn để hỗ trợ cho lãnh chúa: mặc áo giáp, thay thế vũ khí bị hư hỏng hay bị mất, mang ngựa khỏe đến cho lãnh chúa nếu ông ta không cởi ngựa; canh gác tù binh bị bắt bởi lãnh chúa, giải cứu lãnh chúa nếu ông ta bị bắt, mang lãnh chúa ra khỏi chiến trường nếu ông ta bị thương, cũng như hỗ trợ lãnh chúa khi ông ta bị tấn công bởi nhiều người cùng lúc; họ cũng là các hạ sĩ quan trong đoàn tùy tùng. Tuy nhiên, có nhiều chứng cứ cho thấy từ nửa sau thế kỷ 14, hầu hết các nhiệm này được đảm nhận chỉ bởi một người, và các squire được tổ chức thành lực lượng kỵ binh hạng trung cùng với các sergeant.
Cái tên Men-at-arms là được dùng để chỉ tất cả những người lính chiến đấu trên lưng ngựa và mặc giáp sắt. Tất cả các hiệp sĩ có thể được gọi là men-at-arms, nhưng các men-at-arms thì không nhất thiết phải là hiệp sĩ, thường là sergeant hoặc squire. Vì là sergeant hoặc squire, nên họ thường chiến đấu ở tuyến sau tuyến thức nhất gồm các hiệp sĩ và nhà quý tộc, đó cũng là tuyến giữa và có số lượng lớn trong đội hình kỵ binh.
Khinh kỵ còn được gọi là Hobilar, từ này dùng để chỉ tất cả những người lính dùng giáo, bắn cung, cưỡi trên những con ngựa nhỏ và nhẹ, bản thân họ cũng không được trang bị giáp. Họ được dùng với nhiệm vụ người đưa tin, trinh sát và không được tham gia vào các trận chiến của lực lượng kỵ binh. Họ thật sự không phải là kỵ binh đúng nghĩa, họ giống như bộ binh cưỡi ngựa, dùng ngựa của họ để đến vị trí giao tranh (kỵ cung Longbow là một ví dụ điển hình), mặc dù đôi khi họ dùng ngựa để truy kích những kẻ đang tháo chạy.
Bộ binh nặng-Lính levy thuờng được tập hợp thành các “company” nhưng trong trận đánh, các company này thường bị nhập lại tạo thành một lực lượng kinh binh số lượng đông nhưng với một đội hình có rất ít hoặc không có khả năng linh hoạt. Vì họ thường được dùng để bảo vệ tuyến sau cùng nên không giữ vai trò quyết định trên chiến trường và bị tàn sát bởi kỵ binh chiến thắng của địch, hay hỗ trợ truy đuổi và hành hình bộ binh bại trận của địch. Nếu họ có thể tham gia cuộc giao tranh với kỵ binh thì họ hoàn toàn là một lực lượng đáng sợ, như chặt đứt chân kỵ sĩ với những cây rìu dài và ngắn, làm què ngựa với những con dao cán dài hay quấy rối chúng bằng những cây giáo.
Điển hình của Kị binh nặng: Knight in Maximillian Amour-16th C

Hề, lạc đề khá xa rồi thì phải