Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:47:39 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 3  (Đọc 93270 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #50 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 05:28:23 pm »

Về võ ban có các chức đô thống, nguyên soái, tổng quản, khu mật sứ. khu mật sứ tả hữu. tả hữu kim ngô, thượng tướng, đại tướng, đô tướng quân các vệ, chỉ huy sứ. vũ vệ hoả đầu, v.v.. Đó là các tướng hiệu chỉ huy quân đội triều đình.

Đến nay chưa thể tra cứu được chế độ tuyển chọn võ quan, tướng lĩnh thời Đinh - Lê ra sao. Có thể thời đó các điển chế tuyển lựa quan lại chưa được quy định rõ ràng.  Chắc rằng Đinh Bộ Lệnh cũng như Lê Hoàn đều đã căn cứ vào tài đức thực tế mà cất nhắc, dùng người. Trước hết, trong hệ thống chính quyền đó, nhất là đối với các võ quan, tướng lĩnh, phải chọn những người đã cùng các ông trải qua thực tiễn chiến đấu và xây dựng đất nước.

Theo sử sách, năm 971, triều đình nhà Đinh quy định các thứ bậc giai phẩm cáo quan văn võ trong nước. Những người giỏi võ nghệ, thạo chiến trận được tuyển lựa cho giữ binh quyền, chỉ huy các tổ chức binh đội theo thứ bậc lớn nhỏ từ “đạo”, “quân” đến các “tốt”, “ngũ”.

Lê Hoàn, một tướng trẻ tài giỏi và có uy tín rất lớn trong triều đình và trong các tướng sĩ, là người “lỗi lạc, có chí lớn có mưu lược và sức mạnh”, có công lớn trong sự nghiệp dẹp “loạn các sứ quân” đã được Đinh Bộ Lĩnh tin cẩn cử làm “thập đạo tướng quân”.

Với trọng trách tổng chỉ huy mười đạo quân trong cả nước, Lê Hoàn đã tỏ rõ tài nghệ tổ chức và chỉ huy các lực lượng quân sự phòng giữ đất nước, nhất là ông đã có đủ uy tín tập hợp các tướng, đề ra mưu lược đánh thắng quân Tống xâm lược. 

Từ khi triều đình nhà Tiền Lê thiết lập, Lê Hoàn tiếp tục cho kén dùng người hiền lương tài trí, tuyển dũng sĩ, chỉnh đốn quân ngũ: cử Phạm Cự Lạng làm đại tướng quân và chia các tướng cói giữ quân thập đạo trên những địa bàn xung yếu.

Với tài năng tổ chức và lãnh đạo của Lê Hoàn, thế nước ngày càng mạnh, quân đội quốc gia Đại Cồ Việt có tổ chức quy củ hơn, có đội ngũ tướng lĩnh tài giỏi, nền độc lập thống nhất của Đại Cồ Việt càng được củng cố trên những nền tảng khá vừng chắc.

Bấy giờ ở phía Bắe vẫn còn những thế lực muốn đánh chiếm nước ta, chúng đã dâng thư “xin tính việc đem binh mã đánh Giao Chỉ nhưng vua Tống vẫn trù trừ chưa dám, chỉ vin vào lý do là “núi sông Giao Chỉ hiểm trở, thuỷ thổ độc dữ, có lấy được cũng vô ích” 1. Quả đúng như lời nhận xét của sử thần Ngô Sĩ Liên rằng, Lê Hoàn “đã làm nhụt cái mưu xâm lăng của Tống” 2. 

Sử liệu cũng không phản ánh các quy chế về tuyển chọn võ quan, tướng lĩnh thời Lý. Nhưng qua hiện tượng vua Lý sử dụng Lê Phụng Hiểu, Ngô Tuấn (Lý Thường Kiệt)... làm tướng và phong đến chức đô thống thượng tướng quân hay phụ quốc thái uý, chứng tỏ thời Lý rất coi trọng tài năng quân sự và những người có công. Việc chọn các quan giữ chức thái uý như Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Đỗ Anh Vũ, Phùng Tá Chu, v.v. cũng phản ánh điều đó.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1076 trước cuộc kháng chiến thống Tống thắng lợi. Lý Nhân Tông ra lệnh: cất nhắc những người hiền lương có tài văn võ cho quản quân dân” 3.

Năm 1160, vua Lý Anh Tông sải Tô Hiến Thành tuyển dân đinh, người mạnh khác thì sung vào quân ngũ, chọn các tướng hiệu, người nào thông thạo binh pháp am tường võ nghệ chia cho cai quản 4.

Đối tượng tuyển chọn võ quan ở Đại Việt trước hết là những người thuộc tầng lớp quý tộc tôn thất, từ lớp người có quyền lợi gắn liền với dòng họ thống trị (vương triều), thứ đến là người trong hàng ngũ quý tộc quan lại thuộc họ khác nhưng có tài năng và trung thành (Ngô Tuấn, Tô Hiến Thành...). Đã có lần nhà vua quy định “những người giàu, khoẻ mạnh nhưng không có quan tước thì cả đời phải làm lính”.


__________________________
1. Tống sử, Giao Chỉ truyện .
2. Toàn thư. Sđd, t.l, tr. 46.
3,4. Toàn thư, Sđd, t.1, tr.292. 345.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #51 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 05:31:45 pm »

Về phương thức tuyển chọn. ngoài biện pháp nhiệm tử, cất nhắc bổ nhiệm các nhân tài, những người có công trạng, còn có biện pháp khác như tiến cử và thi cử võ quan.  Thời Lý, năm 1075, triều đình mở khoa thi đầu tiên tuyển chọn nhân tài đất nước. Chế độ khoa trường thời đó còn hạn chế. chủ yếu là chọn văn quan.

Tuy vậy, một số nhân vật đỗ đạt cao cũng được cử tham gia bộ máy quản lý việc binh, trường hợp Lê Văn Thịnh làm Binh bộ thị lang là một thí dụ. Từ tháng 12- 1162, việc tổ chức khảo xét các quan vàn võ được quy định chín năm một kỳ. Chế độ chọn tuyển võ quan nói trên là sự khởi đầu cho một điển chế mới ở Đại Việt.  Vấn đề đào luyện võ quan, tướng lĩnh trong giai đoạn này cũng chưa đặt thành lệ. Tất nhiên ở thời kỳ nào cũng vậy, “văn ôn võ luyện” là việc thường tình.

Trong mỗi triều đại đã có tổ chức quân đội, có cắt đặt phiên chế và chỉ huy, thì tất nhiên vấn đề luyện tập phải đặt ra. Võ quan có trau dồi tinh thông võ nghệ, hiểu biết trận pháp mới chỉ huy được ba quân, tướng sĩ. Thời Lý, ở kinh thành Thăng Long có Điện Giảng Võ và bãi tập. Đó là nơi để các thái tử, thân vương, võ quan, tướng lĩnh trong triều học tập và luyện rèn. Nhiều vua Lý, nhất là vua Lý Anh Tông ngay từ khi hoà bình vẫn thường xuyên chú ý sửa sang binh nhung, lập xạ đình, giảng binh pháp - võ bị, nhắc nhở các quan võ ngày ngày chăm lo luyện tập. Vấn đề học binh pháp, tập cưỡi ngựa, bắn tên, rèn tập võ nghệ, thao diễn quân đội đã được triều đình quan tâm.

Quân đội thời Lý không chỉ có hệ thống biên chế tổ chức hợp lý mà vấn đề huấn luyện cho các võ quan, tướng sĩ cũng theo những quy định riêng và thống nhất mà người Tống gọi đó là An Nam hành quân pháp. Thái Diên Khánh, tri châu đất Hoạt, thường học được phép tổ chức quân đội nhà Lý, viết thành sách An Nam hành quân pháp dâng lên vua Tống và xin phỏng theo đó để chia quân ra làm chính binh và phiên binh.

Chính binh có cung thủ tiễn (quân cung nỏ) và nhân mã đoàn (lính kỵ mã), tất cả gồm chín tướng, mỗi tướng lại đem quân bộ, quân kỵ và khí giới chia ra làm bốn bộ tả, hữu, tiền và hậu, gộp thành trăm đội, có đội “trú chiến” và đội “thác chiến”. Còn phiên binh, người và ngựa chia ra những đội khác để không lẫn với chính binh, đề phòng phiên binh nổi loạn. Đối với những binh lính già yếu thì không bắt đi xa, cho canh giữ các thành trại gần...

Vua Tống Thần Tông xem xong tấm tắc ngợi khen và ra lệnh thi hành ngay. Điều này cho thấy binh pháp, phương thức tổ chức và huấn luyện trong quân đội nhà Lý đã thích dụng và hữu hiệu, đã đạt đến trình độ tiên tiến đương thời. Lê quý Đôn viết trong sách Vân đài loại ngữ rằng: binh pháp của nhà Lý được triều Tống bắt chước như thế. Nước ta thời đó...  đánh đầu được đấy, là do (binh pháp) đó” 1.

2. Rèn tập binh sĩ

Sử sách không cho biết về chế độ và phương thức luyện quân dưới các thời Đinh và Tiền Lê. Nhưng vấn đề luyện rèn binh sĩ dưới các triều vua đó đã được đặt ra, nhất là đối với thân quân, điện tiền quân ở kinh thành Hoa Lư. Thời đó vấn đề luyện tập hẳn đã thực sự được tiến hình từ cơ sở với tinh thần thượng võ.

Truyền thuyết dân gian cũng như Ngọc phả về Lê Hoàn nói rằng năm 16 tuổi Lê Hoàn đã rất giỏi võ nghệ. Năm 975, ông từ Thanh Hoá về thăm mộ ông nội ở xã Bảo Thái, huyện Thanh Liêm (Hà Nam). Ở đây, được nhân dân yêu nết trọng tài, mời ông ở lại dạy võ cho lớp trai trẻ. Nghe tin Đinh Bộ Lĩnh đem quân dẹp loạn 12 sứ quân, Lê Hoàn đến Hoa Lư xin theo và được gia nhập quân ngũ.


_____________________
1. Tống sử: Giao Chỉ truyện, dẫn theo Lê Quý Đôn: Vân đài loại ngữ: Sđd. tr.250. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #52 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 05:34:59 pm »

Từ khi tham gia nghĩa quân họ Đinh, Lê Hoàn tham gia huấn luyện võ nghệ, giảng binh pháp, tổ chức quân ngũ, xây dựng nghĩa quân thành lực lượng hùng hậu để dẹp loạn. Buổi đầu ra quân, Đinh Bộ Lĩnh giao cho Lê Hoàn chỉ huy 2.000 quân thiện chiến. Lực lượng nghĩa quân phát triển nhanh chóng, trong đó Lê Hoàn giữ cương vị trọng trách, về sau ông được phong đến chức Thập đạo tướng quân.

Dưới thời Lý, chính sách “ngụ binh ư nông” được vận dụng triệt để đối với ngoại binh. Theo chính sách đó, bộ phận “đến phiên” thực hiện nhiệm vụ canh giữ và luyện tập võ nghệ. Chính sách đó cho phép hầu hết các đinh nam trong nước đều được tham gia luyện rèn võ nghệ trong quân đội thường trực ngay khi đất nước hoà bình. Nhà nước giảm được một phần chi phí nuôi quân, nhưng đảm bảo trong nước thường xuyên có số lượng quân thường trú thích hợp vừa đủ để trấn trị, canh phòng và luyện tập, sẵn sàng ứng phó với địch, đồng thời luôn luôn có một lực lượng dự bị hùng hậu đã được huấn luyện quân sự, sẵn sàng bổ sung vào quân ngũ khi cần thiết.

Cấm quân nhà Lý là lực lượng nòng cốt của quân đội, thường xuyên túc trực tại ngũ, vừa canh phòng vừa luyện tập võ nghệ. Sử chép rằng, Lý Nhân Tông, niên hiệu Hội tường đại khánh thứ 10 (1119), duyệt quân Võ Tiệp, Võ Lâm. Kén chọn trai tráng khỏe mạnh sung vào các quân hiệu... Vua ngự cho chơ quân tuyên thệ ở Long Trì. Trước những kỳ duyệt quân như vậy, các vệ quân, đô quân đều phải luyện tập rất kỹ lưỡng.

Binh lính trong quân đội thời Lý thường được tập trung luyện tập theo định kỳ. Mỗi võ quan, binh sĩ được rèn tập về thể lực và võ nghệ. Họ tập xách nặng, luyện chân tay (như đấm đá vào bì thóc, bao cát, hoặc thân cây chuối); tập nhảy cao, đánh vật và sử dụng các loại binh khí. Đối với lính thuỷ thì được rèn luyện bơi lặn, chèo thuyền và các phép tắc công thủ trong thuỷ chiến.

Trước cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược lần thứ hai (1075-1077). quân đội Đại Việt dưới sự điều hành của Thái uý Lý Thường Kiệt đã khẩn trương luyện tập. Điều này biết được qua lời chiếu của vua Tống Thần Tông gửi tướng Quách Quỳ vào thời gian chuẩn bị cất quân đánh ta: “Hiện ở Giao Chỉ, Lý Thường Kiệt ngày ngày sai tụ tập binh lính, nhóm họp voi ngựa, tập dượt phép chạy và phép xung phong” 1.

Tại làng Nam Đồng, xưa thuộc tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận (nay là phường Nam Đồng, Hà Nội) có đình và chùa thờ Lý Thường Kiệt. Tương truyền, thời Lý đất Nam Đồng còn rất hoang vu, Lý Thường Kiệt đã nhiều lần tổ chức luyện quân ở đây. Vì thế khi ông qua đời dân làng đã dựng đình và chùa để ghi nhớ công lao đánh giặc của vị tướng tài năng này.

Trong đạo quân do hoàng tử Hoằng Chân chỉ huy đánh trận Khao Túc ở Như Nguyệt, có 500 quân đặc biệt do ông “nuôi riêng”, được luyện tập trận pháp kỷ luật nghiêm minh. Kết hợp với việc rèn luyện thời bình, được tôi luyện thử thách trong thời chiến, tinh thần và kỹ thuật chiến đấu của quân lính và đội ngũ tướng lĩnh ngày một trưởng thành. 

Thời Lý, chính quyền được tổ chức quy củ, nhà nước định ra pháp luật và thi hành nghiêm ngặt. Nhà nước quy định chặt chẽ tuổi binh dịch (hoàng nam, đại hoàng nam), kiểm soát nghiêm ngặt các dân đinh đến tuổi. Nhà vua ban bố chiếu rằng: “Ai tự huỷ hoại thân thể (cắt, cứa thương tích để trốn lính) thì phạt 80 trượng và thích vào bắp tay trái 23 chữ rồi thả trở về địa vị cũ” 2.
 
Bấy giờ đã có một số điều quân luật nói về tội “trốn phiên”, tội đào ngũ của các võ quan và binh lính. Thời vua Lý Thái Tông quy định, các quan chức đô ai bỏ trốn quân ngũ về làm việc riêng, nếu bỏ trốn một năm thì phạt 100 trượng, thích vào mặt 50 chữ và bị tội đồ chưa đến một năm thì tội nhẹ hơn; quân sĩ ai bỏ trốn vào rừng và đồng nội để cướp của thì xử 100 trượng, thích 30 chữ, người coi giữ các trấn, trại bỏ trốn công phạt như thế. Ai hối cải trở lại thì cho về đơn vị cũ. Khi vua xuất giá đi kinh lý mà không theo xe hầu, cũng xử 100 trượng, thích 10 chữ. Ai trốn tránh trễ nải việc luyện tập cũng xử phạt.

Ngược lại, các tướng sĩ, quân lính ai có công thì được vua uý lạo, khen thưởng, ban cho tiền và lụa theo thứ bậc, vì thế quân sĩ không cậy công mà xem thường pháp luật. Bấy giờ, Lý Nhật Quang có công theo vua đánh giặc và tích trữ binh lương được vua ban tước vương và cho giữ chức tri châu Nghệ An; Lê Phụng Hiểu có công dẹp “loạn ba vương” và đánh giặc Chiêm Thành được vua ban thưởng và phong cho đất châu Ái; Lý Bất Nhiễm có công lớn dẹp yên quân Chiêm Thành và Chân Lạp, được thưởng tước hầu và ăn thực ấp 7.500 hộ; Lý Thường Kiệt được phong tước Việt quốc công, ăn thực ấp ở Việt Thường và thực phong 4.000 hộ...

Nhờ chế độ thưởng phạt hợp ly mà quân đội nhà Lý có kỷ luật nghiêm minh, có tinh thần phục vụ tốt, tự giác, nhiệt tình trong huấn luyện và chiến đấu.


___________________
1. Dẫn theo Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, Sđd, tr. 198. 
2. Đại Việt sử lược, bản dịch của Nguyễn Khắc Tường, Nxb.Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr.211.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #53 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2009, 05:36:47 pm »

Sau chiến thắng Bạch Đằng (938), Ngô Quyền là người đầu tiên đặt cơ sở xây dựng quân đội chính quy của nhà nước độc lập tự chủ. Đến giữa thế kỷ thứ X, Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn xây dựng hoàn thiện nhà nước Đinh và Tiền Lê, trong đó có tổ chức ngạch binh mang tên “thập đạo quân”. 

Có thể coi binh chế quốc gia thời kỳ độc lập được xác lập từ thời Đinh - Lê, nhưng biên chế tổ chức quân đội cùng với các chế độ quân sự thời đó còn thô phác, đơn giản. Khi triều Lý thành lập (thế ky XI), nhà nước Đại Việt bước vào giai đoạn phát triển cường thịnh với kinh đô là Thăng Long.

Công cuộc xây dựng đất nước từ đây bắt đầu có quy mô lớn, đặt nền tảng vững chắc, toàn diện cho sự phát triển của quốc gia phong kiến độc lập. Binh chế nước ta bưởi vào giai đoạn xây dựng chính quy. Quân đội quốc gia thời bấy giờ đã khá hùng hậu, có đủ các loại quân và binh, có cả quân thường trực tại ngũ. có lực lượng dự bị “biên sổ” và những binh lính chia phiên thay nhau về sản xuất và canh phòng theo chính sách ngụ binh ư nông

Chế độ nghĩa vụ binh dịch đã được quy định. Quân đội phiên chế thành các đơn vị và đạt đến trình độ tổ chức trang bị, huấn luyện khá tốt. Các ngạch quân được tổ chức hoàn chỉnh từ trung ương đến các địa phương, bao gồm nhiều loại quân và binh.

Hệ thống tổ chức và chỉ huy quân đội đó từng bước hoàn thiện theo chiều hướng phát triển của nhà nước quân chủ tập quyền. Bởi vì lúc đó, cùng với việc khôi phục bộ máy nhà nước quân chủ, lực lượng vũ trang mà nòng cốt là quân đội cũng được thành lập và dần dần phát triển thành tổ chức quân đội hùng mạnh hơn, có hiệu lực trong bảo vệ nhà nước quân chủ trung ương tập quyền và nền độc lập tự chủ cua đất nước. 

Vấn đề tổ chức, huấn luyện và chỉ huy quân đội quốc gia trong giai đoạn lịch sử này được thực hiện với tinh thần thượng võ đã trỏ thành truyền thống. Tinh thần thượng võ ấy đã có nguồn gốc từ xa xưa. không chỉ có ở nhà vua, vương hầu. võ quan, mà cả những người lín, những dân binh ở các hương xã, động, bản.

Đặc điểm của tổ chức quân sự những thế kỷ nói trên còn ở chỗ đi từ phân tán đến tập trung, từ đơn giản sơ khai đến chính quyền hoàn thiện vững mạnh. Thời bấy giờ, tổ chức quân đội bao gồm quân triều đình (thân quân, cấm quân) và quân địa phương (quân các lộ và quân của các thân vương thủ lĩnh), hợp với tổ chức dân binh, hương binh trở thành một hệ thống tổ chức quân sự nhiều thứ quân, một lực lượng vũ trang kết hợp nhiều loại hình quân lính. 

Tổ chức quân đội thời Đinh - Tiền Lê và thời Lý tuy còn nhiều hạn chế, còn đơn sơ và chứa đựng yếu tố phân tán, nhưng nhìn chung nó đã khá phù hợp với hoàn cảnh địa lý và điều kiện lịch sử đất nước trong các thế kỷ X-XII.

Một đất nước nhỏ hẹp, địa hình đa dạng, kinh tế thuần nông nhưng, thường xuyên bị đe doạ bởi nguy cơ ngoại xâm thì tổ chức quân đội gồm nhiều loại quân, cả quân bộ và quân thuỷ, luôn thực hiện chính sách ngụ binh ư nông, việc binh gắn liền với việc nông là phù hợp. Tạo điều kiện cho nhà nước có đủ số quân thường trực hợp lý, không phải chỉ phí quân sự nhiều, mà quân đội luôn luôn có một nguồn dự trữ đông đảo đã qua huấn luyện, sẵn sàng được huy động nhưng lúc cần thiết.

Đó là tổ chức quân sự vừa dựa chặt trên cơ sở truyền thống “tình làng nghĩa nước” của dân chúng vừa có sức mạnh của tổ chức và pháp chế nhà nước, kết hợp lòng tự nguyện của nhân dân với tính bắt buộc của luật lệ.  Quân đội quốc gia giai đoạn này, nhất là từ thời Lý đã được tổ chức khá quy củ, được luyện tập thường xuyên, có kỷ luật nghiêm minh, được thay nhau ở lại canh phòng và về sản xuất.

Đó là một quân đội có chất lượng tinh, được tổ chức, huấn luyện hợp lý lúc hoà bình, đáp ứng nhu cầu dựng nước và giữ nước. Chất lượng của quân đội thời Đinh - Tiền Lê và thời Lý được biểu hiện cao nhất qua hai lần kháng chiến chống Tống (thế kỷ X và XI) dưới sự lãnh đạo của Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt.

Những thành quả lớn lao diệt trừ nổi loạn, phá quân Chiêm, những chiến công oai hùng trong hai lần đánh thắng quân xâm lược Tống cũng đủ chứng tỏ binh chế và binh lực nước ta thời kỳ này đã khá hoàn thiện và cường thịnh. Quả đó là một niềm tự hào rất lớn về truyền thống quân sự dân tộc trong giai đoạn đầu của kỷ nguyên độc lập tự chủ.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #54 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2009, 01:10:32 pm »

CHƯƠNG 3

DẸP NỘI LOẠN, KHÔI PHỤC THỐNG NHẤT BẢO VỆ NHÀ NƯỚC QUÂN CHỦ, ĐẨY LUI NGUY CƠ XÂM LẤN, GIỮ VỮNG BIÊN CƯƠNG PHÍA NAM CỦA TỔ QUỐC


Trong quá trình vận động của lịch sử, bước vào thời kỳ củng cố nền độc lập tự chủ và xây dựng đất nước vào thế kỷ X và buổi đầu kỷ nguyên Đại Việt, tổ chức lực lượng vũ trang của nhân dân ta mặc dù còn non trẻ nhưng đã sớm phát huy sức mạnh và biểu thị tinh thần chiến đấu ngoan cường trong chống giặc giữ nước.

Đó là các cuộc kháng chiến chống giặc Nam Hán vào các năm 931, 938. Tiếp đến cuối năm 980 đầu 981 của thế kỷ X, 1075 - 1076 thế kỷ XI, quân đội của quốc gia Đại Cồ Việt - Đại Việt buộc phải lao vào cuộc thử lửa chống giặc Tống xâm lược lần thứ nhất và lần thứ hai. Quân dân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn, làm cơ sở cho những chiến thắng vào các thế kỷ sau.

Tuy nhiên, hoạt động quân sự thời kỳ này không chỉ dừng ở chống giặc ngoài. Ngay từ đầu sau khi giành được quyền tự chủ vấn đề dẹp nội loạn, khắc phục hiện tượng phân tán, xây dựng và bảo vệ nhà nước quân chủ, bảo vệ sự toàn vẹn và thống nhất lãnh thổ quốc gia đã sớm được đặt ra. Để làm sáng tỏ vai trò, tác dụng và hiệu lực của tổ chức lực lượng vũ trang vào các thế kỷ X - đầu XIII, chương sách này sẽ lần lượt đề cập đến một số hoạt động cụ thể. Đó là dẹp các vụ nội loạn, các cuộc nổi dậy chống chính quyền, gìn giữ khối thống nhất đất nước, trừ loạn phát sinh từ nội bộ cung đình, bảo vệ nhà nước quân chủ; đẩy lùi nguy cơ xâm lấn quấy phá, bảo vệ biên cương phía nam của Tổ quốc. 
 

I. ĐÁNH DẸP NỘI LOẠN, KHẮC PHỤC HIỆN TƯỢNG PHÂN TÁN

Sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc, mặc dù đã giành lại được quyền tự chủ, nhưng những hậu quả nặng nề do quá khứ lịch sử để lại cùng những di hại của nó không phải đã có thể sớm khắc phục. Trước hết tổ chức công xã nông thôn với hình thức tự quản dưới thời Bắc thuộc đã thực sự biến thành những pháo đài chống lại sự xâm nhập, đồng hóa của kẻ thù đô hộ, đồng thời bảo tồn, nuôi dưỡng những di sản văn hóa quý báu của tổ tiên.

Bước vào thời kỳ độc lập tự chủ, tính tự quản, tự thủ được duy trì, vun trồng hơn trong 1.000 năm đó không phải đã có thể xóa bỏ ngay để thích nghi với hoàn cảnh lịch sử mới. Lúc này, sự sống còn của đất nước đòi hỏi các công xã nông thôn phải tập hợp chung quanh nhà nước quân chủ độc lập tự chủ để tạo thành sức mạnh chung của cả nước. 

Không phải chỉ các tổ chức công xã nông thôn tồn tại biệt lập trong vòng ảnh hưởng, chi phối của các thế lực vùng mà sử chép là các thổ hào, cả các thành viên trong cộng đồng các dân tộc từng sinh sống và phân bố ở các vùng biên viễn, rừng núi xa xôi vốn đã quen với sự tồn tại ngoài vòng kiểm soát của chính quyền ngoại tộc chưa thích nghi với việc quản lý, kiểm soát của nhà nước quân chủ cũng có lúc nổi dậy. 

Hiển nhiên trong quá trình chiến đấu chống kẻ thù đô hộ, các công xã nông thôn, các dân tộc không phân biệt thiểu số hoặc đa số đã chụm nhau lại. Nhờ đó nhân dân ta mới có được quốc gia Đại Cồ Việt (thế kỷ X), Đại Việt (từ giữa thế kỷ XI trở đi) tiếp nối truyền thống của quốc gia Văn Lang - Âu Lạc của mình từng tồn tại từ hơn một ngàn năm trước đó.

Nhưng trong quá trình xây dựng đất nước độc lập tự chủ, không phải không có lúc các thế lực vùng, các thổ tù, châu mục vì lợi ích cục bộ đã lợi dụng cơ hội thuận tiện nổi dậy ly khai với chính quyền trung ương. Việc làm đó ảnh hưởng nguy hại đến khối đoàn kết nhất trí, làm suy yếu đất nước, cần phải khắc phục.

Đặc biệt, cũng thuộc phạm trù nội loạn phải kể đến những vụ rối loạn cung đình, tranh giành quyền lợi giữa hoàng thân quốc thích làm suy yếu bộ máy nhà nước quân chủ thời này.

Chúng ta sẽ lần lượt đề cập đến những hoạt động quân sự nhằm đối phó với các loại hình nổi dậy trên.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #55 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2009, 01:14:23 pm »

1. Dẹp loạn 12 sứ quân

“12 sứ quân” là một cụm từ biểu thị một cách khái quát hiện tượng nổi dậy của các thổ hào mỗi người chiếm giữ một địa phương nhất định vào buổi suy vong của vương triều Ngô xảy ra vào các năm 965 - 968.

Ngay từ năm 944, sau năm năm giữ ngôi ở Cổ Loa (939 - 944), Ngô Quyền qua đời, vương vị của dòng họ Ngô khuyển sang tay Dương Tam Kha- em vợ Ngô Quyền, đồng thời là người được Ngô Quyền khi lâm bệnh uỷ thác việc giúp đỡ con mình cầm quyền giữ nước.

Phản bội lời dặn của Ngô Quyền, Dương Tam Kha đoạt quyền, xưng là Bình Vương.  Con trai lớn của Ngô Quyền là Xương Ngập phải chạy đi lánh nạn ở nhà Phạm Lệnh Công thôn Trà Hương, nay thuộc huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương. Con trai thứ là Xương Văn biến thành con nuôi của Tam Kha; hai con nhỏ là Nam Hưng và Càn Hưng đi theo Dương Hậu.

Dương Tam Kha nhiều lần lùng bắt Xương Ngập không được. Vào năm 950, nhân dịp được sai đem quân đi đánh dẹp hai thôn Đường Nguyễn ở Thái Bình (nay thuộc Đường Lâm - Sơn Tây) , Xương Văn cùng hai viên quan sứ tòng chinh là Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi đi đến nửa đường (Từ Liêm) bàn nhau kéo quân về đánh úp Cổ Loa. Dương Tam Kha bị bắt, mọi người muốn giết đi, nhưng Xương Văn nói: “Bình Vương đồi với ta cũng có ơn, nỡ nào đem giết”, chỉ giáng làm Trương Dương công 1. Quyền bính lại về tay Ngô Xương Văn lúc này xưng là Nam Tấn vương. Năm sau (951) Xương Văn đón anh là Xương Ngập về cùng cầm quyền tức Thiên Sách vương.

Tình trạng “một nước hai vua” sớm đi vào lục đục vì hành động lấn lướt của Thiên Sách vương Xương Ngập. Năm 954, Thiên Sách vương mất, Nam Tấn vương Xương Văn một mình nắm quyền, sai sứ sang “xin mệnh” của chúa Nam Hán là Lưu Xưởng 2.
 
Trước tình trạng lục đục, bạc nhược vào chặng tàn mạt của vương triều Ngô như vậy, một thế lực mới đã xuất hiện.  Đó là Đinh Bộ Lĩnh (924-979), con trai thứ sử Đinh Công Trứ ở Đại Hữu, thâu Đại Hoàng, nay là xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. ông xuất thân từ nguồn gốc vọng tộc.

Sử chép “Đinh Công Trứ làm nha tướng của Dương Đình Nghệ, được Đình Nghệ giao giữ chức quyền thứ sử châu Hoan. Sau theo về với Ngô vương, vẫn được giữ chức cũ rồi mất” 3. Ngay từ đầu, vào năm 951, Đinh Bộ Lĩnh lúc này mồ côi cha, cùng với mẹ về sống ở quê nhà, đã cùng các bạn bè thân cận là Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Lưu Cơ, Trịnh Tú tập hợp trai tráng trong vùng, lấy động Hoa Lư làm căn cứ để chống lại triều đình Cổ Loa bệnh hoạn. Xương Ngập, Xương Văn từng đem quân đi đánh dẹp, không thắng lợi, phải rút quân về Cổ Loa.
 
Vào thời gian này ở vùng Bố Hải Khẩu (thị xã Thái Bình) cũng đã có Trần Lãm tồn tại ngoài vòng kiểm soát của vương triều Ngô. Theo thần phả đình Xám - còn gọi là đình Hát (thôn Lạc Đạo, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định), Trần Lãm người Quảng Đông (Trung Quốc), cha là Trần Công Đức sang nước ta chiếm giữ, lập nghiệp ở vùng ven biển Bố Hải Khẩu (thị xã Thái Bình ngày nay).

Sau nhiều năm khai cơ lập nghiệp, Trần Lãm trở thành một thế lực vùng mạnh mẽ ở ven biển vùng Cửa Bố - Giao Thủy để sớm được Đinh Bộ Lĩnh tìm đến nương tựa, liên kết. Theo thần phả đình Xám, Đinh Bộ Lĩnh làm con nuôi, được Trần Lãm yêu mến, trao cho binh mã, tướng sĩ. Liên kết với Cửa Bố, Đinh Bộ Lĩnh trở thành một lực lượng lớn mạnh, chiếm một địa bàn rộng lớn thuộc hạ lưu sông Hồng, sông Đáy, từ Cửa Bố qua Giao Thủy đến Tạc Khẩu - Thần Phù, tức vùng ven biển Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình thời bấy giờ.


_______________________
1. Việt sử lược Sđd, tr. 42; Toàn thu, Sđd, t.1, tr. 200. 
2. Việt sử lược, Sđd, tr. 43; Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 201.
3. Toàn thư, Sđd, t.1 , tr. 204.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #56 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2009, 01:17:22 pm »

Cho đến năm 965 khi Nam Tấn vương Xương Văn mất trong dịp đi đánh dẹp hai thôn Đường Nguyễn ở Thái Bình thì triều đình Cổ Loa như rắn không đầu. “Từ đó trong nước rối loạn” 1 .

Ngay tại kinh đô Cổ Loa, Lữ Xử Bình từng giúp việc cho Nam Tấn vương và Kiều Tri Hựu - thứ sử châu Phong - đã gây loạn, tranh nhau nắm quyền 2. Trong khi đó thì viên tướng nhà Ngô là Đỗ Cảnh Thạc khi vương triều Ngô sụp đổ đã về chiếm giữ một dải đất rộng lớn vùng Đỗ Động Giang (từ Quốc Oai đến Bình Đà).

Hậu duệ của họ Ngô - con của Xương Ngập là Xương Xí chạy vào quê ngoại ở Thanh Hóa chiếm giữ đất Bình Kiều nay thuộc xã Hợp Tiến, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa 3.

Cùng với Trần Lãm. Đỗ Cảnh Thạc, Ngô Xương Xí, sử sách chép thêm chín trường hợp thành 12, được sử chép là “12 sứ quân”. Đó là:

1. Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều - xã Hợp Lý, Hợp Tiến, huyện Triệu Sơn, Thanh Hoá ngày nay.

2. Kiều Công Hãn xưng là Kiều Tam Chế giữ Phong Châu - Phú Thọ ngày nay.

3. Nguyễn Khoan xưng là Nguyễn Thái Bình giữ Tam Đái - Vĩnh Tường, Vĩnh Phú ngày nay.

4. Ngô Nhật Khánh xưng là Nguyễn Lãm Công giữ Cam Lâm - Ba Vì, Hà Tây ngày nay.

5. Đỗ Cảnh Thạc xưng là Đỗ Cảnh Công giữ Đỗ Động Giang - Thanh Oai, Quốc Oai, Hà Tây ngày nay. 

6. Lý Khuê xưng là Lý Lãng Công giữ Siêu Loại - huyện Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay.

7 . Nguyễn Thủ Tiệp xưng Nguyễn Lệnh Công giữ Tiên Du - huyện Tiên Sơn. Bắc Ninh ngày nay. 

8. Lã Đường xưng là Lã Tá Công giữ Tế Giang - huyện Mỹ Văn, Hưng Yên ngày nay.

9. Nguyễn Siêu xưng là Nguyễn Hữu Công giữ Tây Phù Liệt - Thanh Trì, Hà Nội ngày nay.

10. Kiều Thuận xưng là Kiều Lệnh Công giữ Hồi Hồ - Cẩm Khê, Phú Thọ ngày nay.

11 Phạm Bạch Hổ xưng là Phạm Phòng Át giữ Đằng Châu - Hưng Yên ngày nay.

12. Trần Lãm xưng là Trần Minh Công giữ Bố Hải Khẩu - thị xã Thái Bình ngày nay.

Trong số 12 sứ quân phần lớn là người gốc Trung Quốc, trong đó các trường hợp Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Siêu, Đỗ Cảnh Thạc, Trần Lãm mới nhập cư một vài đời.  Sử sách không xếp Đinh Bộ Lĩnh vào hàng ngũ sứ quân có lẽ một phần theo quan niệm “được làm vua thua làm giặc”. Nhưng quan trọng hơn là Đinh Bộ Lĩnh đã tỏ ra bất hợp tác với triều đình Cổ Loa từ buổi Dương Tam Kha “tiếm ngôi” mà không lợi dụng thời cơ khi chính quyền trung ương rối loạn đi đến sụp đổ mới nổi dậy.


________________________
1. Cương mục, Sđd, t.1, tr. 230.
2. Cương mục, dẫn các sách Ngũ đại sử - Thập quốc Xuân Thu, Sđd, t.1, tr. 233
3. Nguyễn Danh Phiệt: Vùng đất Bình Kiều với ngôi thành của sứ quân Ngô Xương Xí, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4- 1981. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #57 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2009, 01:19:40 pm »

Từ góc độ quân sự mà xét thì quân đội mới hợp của vương triều Ngô đã giành được thắng lợi trong chống giặc Nam Hán (năm 938), nhưng không đủ sức mạnh để bảo vệ bộ máy nhà nưởe quân chủ vương triều Ngô. Mặt khác, quân đội đó còn bị phân tán, chịu sự khống chế của nhiều thế lực ở ngay trong triều đình như Xương Xí, Đỗ Cảnh Thạp, Phạm Bạch Hổ, Nguyễn Siêu... đều là những người cùng theo Ngô Quyền đánh giặc Nam Hán vào năm 938.

Như vậy, xu hướng phân tán, chia rẽ trong bộ máy vương triều đã dẫn đến sự tan rã. chia sẻ quân đội vào tay các thế lực riêng rẽ. Từ đó, khi vương triều Ngô suy yếu, lập tức cục diện phân tán đã xảy ra đưa đất nước Đại Cồ Việt rơi vào tình trạng bị chia cắt. Lúc này, lực lượng vũ trang của quốc gia Đại Cồ Việt không còn nữa, chỉ còn những đội quân riêng lẻ dưới quyền điều khiển của các sứ quân trong từng địa bàn riêng biệt.

Các đội quân đó không phải ai khác, chính là trai tráng được tuyển lựa trong phạm vi kiểm soát, khống chế của sứ quân. Họ được vũ trang như một thứ “tự vệ” của công xã, liên công xã. Ngoài ra còn có thể có một bộ phận quân của triều đình Cổ Loa bị phân rã chạy theo các sứ quân.

Trong hoạt động quân sự lúc này, ta đặc biệt chú ý đến đội quân của Đinh Bộ Lĩnh. Trước hết đây là một đội quân mới nhóm họp của những người bạn từ thuở còn “cờ lau tập trận”. Ngay từ buổi đầu nhóm họp, đội quân này đã phải đương đầu với quân của triều đình Cổ Loa ở căn cứ động Hoa Lư 1.

Sử chép vào năm 951, Thiên Sách vương và Nam Tấn vương muốn bình định Hoa Lư, Đinh Bộ Lĩnh sai con là Đinh Liễn vào triều làm con tin. Triều đình Cổ Loa bắt giữ Đinh Liễn, đem theo đi đánh Đinh Bộ Lĩnh “hơn một tháng không đánh nổi, bèn treo Đinh Liễn lên ngọn sào, sai người bảo Bộ Lĩnh nếu không hàng thì giết Liễn. Bộ Lĩnh tức giận nói: “Đại trượng phu chỉ mong lập được công danh, há lại bắt chước thói đàn bà xót con hay sao?” 2.
 
Liền sai hơn mười tay nỏ nhắm Liễn mà bắn. Hai vương kinh sợ nói: “Ta treo con nó lên là muốn để nó đoái tiếc con mà ra hàng cho chóng. Nó tàn nhẫn như thế, còn treo con nó làm gì”, bèn không giết Liễn mà đem quân về.

Sau thắng lợi trong chống việc bình dẹp của triều đình Cổ Loa, Đinh Bộ Lĩnh liên kết với Trần Lãm ở Cửa Bố. Do đó lực lượng vũ trang của Đinh Bộ Lĩnh không chỉ tăng về quân số, lương thực, mà cả địa bàn hoạt động. Cho đến khi cục diện “12 sứ quân” bùng nổ thì đội quân của Đinh Bộ Lĩnh đã được bổ sung thêm từ nhiều nguồn.

Số lượng 3.000 trai tráng do Đinh Liễn tuyển từ châu Ái 1.000 người do Trần Công Mẫn tuyển từ Nghĩa Hưng, hơn 3.000 trai tráng do Nguyễn Bặc chiêu mộ ở Phú Cốc (Vụ Bản) do nguồn thần phả cung cấp tuy không hoàn toàn chính xác nhưng cũng cho phép hình dung quân số của Đinh Bộ Lĩnh không phải là ít.

Cùng với quá trình phát triển lực lượng, mở rộng địa bàn, Đinh Bộ Lĩnh còn tập hợp dưới cờ nhiều tướng lĩnh tài ba như: Lê Hoàn, Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú, Lưu Cơ, Phạm Cự Lạng, Phạm Hạp . . .  Từ lực lượng quân đội mới nhóm họp này, Đinh Bộ Lĩnh đã tiến hành dẹp loạn, đánh dẹp 12 sứ quân mà mục tiêu đầu tiên là bình định Cổ Loa, tiếp đến các thế lực khác.

Kết hợp các nguồn tài liệu từ chính sử đến thần tích, truyền thuyết, ta biết được Đinh Bộ Lĩnh tiến hành dẹp loạn với chiến thuật “bẻ đũa từng chiếc”, áp dụng biện pháp đánh dẹp bằng quân sự kết hợp với liên kết và hàng phục.  Đối tượng phải tiến hành đánh dẹp bằng quân sự gồm các sứ quân: Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Siêu, Kiều Công Hãn, Nguyễn Thủ Tiệp, Kiều Thuận, Lý Khuê (6/12); liên kết và hàng phục: Trần Lãm, Ngô Nhật Khánh, Ngô Xương Xí, Phạm Bạch Hổ (4/12). Còn lại hai trường hợp “tự tan”, đó là Lã Đường và Nguyễn Khoan (2-12) 3.


____________________
1. Cần phân biệt động Hoa Lư với kinh đô Hoa Lư. Động Hoa Lư cách kinh đô Hoa Lư 8 km về phía tây bắc, thuộc phần cuối dãy núi đá vôi Hòa Bình, cách sông Bôi khoảng 2 km về phía đông, nay thuộc địa phận xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn. Kinh đô Hoa Lư ở huyện Trường Yên.
2. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 201.
3. Xem thêm: Nguyễn Danh Phiệt: Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990 tr. 67 - 75. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #58 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2009, 01:22:11 pm »

Trong quá trình đánh dẹp, Đinh Bộ Lĩnh phải dùng biện pháp quân sự mãnh liệt, đặc biệt với hai đối tượng có thế lực mạnh nhất, đó là Nguyễn Siêu và Đỗ Cảnh Thạc. Với hai trường hợp này, hoạt động quân sự của quân đội Hoa Lư đã biểu thị sức mạnh và tiến hành tác chiến như một đội quân chuyên nghiệp.

Đỗ Cảnh Thạc vốn là tướng của họ Ngô từng tham gia đánh giặc Nam Hán nam 938. Vào lúc triều đình Cổ Loa tan rã, Đỗ Cảnh Thạc chiếm giữ một vùng khá rộng, có hai thành vào cỡ lớn, đó là thành Đỗ Động tức thành Quèn (ở trang Liệp Tuyết, nay thuộc xã Tuyết Nghĩa, Quốc Oai, Hà Tây) và thành Bảo Đà (nay thuộc Thanh Oai, Hà Tây).

Thần phả độc Nhĩ đại vương chép : “… có một ngày Bộ Lĩnh bàn mưu cùng các tướng rằng: Đỗ Cảnh Thạc trí dũng chỉ có thể thắng bằng kế chứ không chiến thắng bằng lực. Thế rồi nhân lúc đêm tối mới chia quân thành bốn đạo: một đạo xuất phát từ huyện Mỹ Lương đi ra, một đạo từ huyện Yên Lạc, phủ Tam Đới kéo tới, một đạo từ huyện Chương Đức, Sơn Nam tiến lên, một đạo từ huyện Bất Bạt, Quảng Oai đánh xuống, bốn mặt cùng đánh. Lúc bấy giờ Cảnh Thạc đang ở đồn Bảo Đà, còn ở bản doanh trại Quèn chỉ có tướng giữ thành, vì thế đầu đuôi không ứng cứu được nhau. Tất cả cung thành, đồn trại, lương thực, thuyền chiến, khí giới đều bị Đinh Bộ Lĩnh tước đoạt phá phách tan tành.

Đỗ Cảnh Thạc tập hợp tàn quân bại trận cùng với gia thần, dân phu của 72 ấp.lại một phen chỉnh đốn quân ngũ tại trại Quèn, giao tranh với Đinh Bộ Lĩnh và cầm cự hơn một năm trời ( . . ) Một hôm giao chiến với Đinh Bộ Lĩnh , ông bị một mũi tên lạc làm sát thương . . .” 1 . 

Về Nguyễn Siêu, ông là người tỉnh Phúc Kiến, phương Bắc, cha là Nguyễn Nê - một võ tướng thời Tấn Vũ đế, hàm Kiêu Kỵ đại tướng quân Đô thống quản Bình Dương hầu từng đem quân sang nước ta lập đồn binh, nha phủ ở Thanh Quả đến 39 năm. Nguyễn Nê lấy vợ Việt, sinh được ba người con: Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Siêu đều được Ngô Quyền tin dùng, giao cho cầm quân.

Nguyễn Khoan làm Cầm Hạt tướng quân, Nguyễn Thủ Tiệp làm Tứ Xuyên đô hộ, Nguyễn Siêu làm Thống lĩnh tướng quân. Khi vương triều Ngô tan rã, ba anh em phân tán về ba nơi, mỗi người chiếm giữ một vùng, được sử sách ghi chép là sứ quân.  Theo thần phả xã Đông Kết và di tích thì Nguyễn Siêu giữ vùng Phù Liệt (nay thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội).

Thế lực của Nguyễn Siêu rất mạnh: “Nơi đâu cũng lập doanh trại đồn phủ, thu giữ binh quyền để mưu cầu đại sự. Nguyễn Siêu nuôi dưỡng môn đệ tám ngàn người, binh mã có trên 10 vạn”. Đêm ngày lo toan thu phục anh hào, vợ lớn vợ bé, kẻ theo hầu, nô tỳ không sao đếm xuể....2.
 
Để đối phó với đội quân Hoa Lư dẹp loạn, cũng theo thần phải Nguyễn Siêu bố trí quân lực, cho Nguyễn Trí Khả làm tiên phong, Nguyễn Cẩn làm tả dực (cánh trái): Đỗ Cư làm hữu dực (cánh phải); Phạm Phục tổng quản các quân, đắp thành luỹ, “ban ngày thì chỉnh tề vũ khí, bày trận giao chiến, còn ban đêm thì canh phòng, trống chiêng truyền báo, đóng cửa thành tự thủ” 2.

Vào ngày mùng 6 tháng 6 năm Quý Mão (967) Đinh Bộ Lĩnh điều quân Hoa Lư đến đánh dẹp: “Voi ngựa, tướng sĩ ầm ầm từ miền Thượng Phúc, Phú Xuyên phía Nam tràn tới đóng quân tại địa phận Ngọc Hồi, đất Bình Vọng, gươm dao lấp loáng, cờ bay rợp bóng, quân vây tứ phía”. Nguyễn Siêu hạ lệnh cho các tướng mở cổng thành phản công. Trong trận đầu quân Hoa Lư thất lợi, bị mất bốn tướng: Nguyễn Bồ, Nguyễn Phục, Cao Sơn, Đinh Thiết.

Đinh Bộ Lĩnh thống lĩnh toàn quân đem một ngàn thớt voi ngựa, bảy vạn tinh binh theo đường tắt đến xã Cẩm Cơ; lại sai Nguyễn Bắc đi tiên phong lãnh 10.000 quân Thập đạo tướng quân Lê Hoàn tiếp ứng lãnh 8.000 quân. Đinh Bộ Lĩnh hạ lệnh khi nghe tiếng pháo nổ tất cả phải xông lên phá đồn trại của Nguyễn Siêu.


_________________________
1. Nguyễn Danh Phiệt: Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, Sđd, phần Phụ lục, tr. 213-214.
2. Như trên, Sđd, tr. 193, phần Phụ lục.
3. Nguyễn Danh Phiệt: Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, Sđd, phần Phụ lục, tr.193, 196-197.
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Ba, 2009, 01:26:24 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #59 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2009, 01:31:11 pm »

Trước tình hình nguy cấp, Nguyễn Siêu phải chia quân làm đôi, một bộ phận ở lại giừ thành, một bộ phận vượt sông Cái đi cầu viện sứ quân Nguyễn Khoan và Nguyễn Thủ Tiệp. Cánh quân của Nguyễn Siêu điều khiển sang sông lại gặp “lũ dâng cuồn cuộn, trời nước một màu, quan quân ra đi, qua xã Đông Phù Liệt, vừa ra giữa dòng thì bỗng gặp gió lớn, sóng cao gầm thét, trời không phù hộ, thuyền rồng bị đắm, khí giới quân nhu đều mất cả” 1.

Lợi dụng thời cơ, Đinh Bộ Lĩnh sai Nguyễn Đoàn đem hơn 10 người, ban đêm “ngầm lén vào trong doanh, thừa gió phóng hoả, ngọn lửa rừng rực, khói đen ngút trời”. Trong doanh trại mọi người kinh sợ tẩu tán. Thành lũy bị san phẳng. Nguyễn Siêu, cả người ngựa bị chết trong khi qua sông.

Bổ sung cho chính sử, qua thần phả ta biết đội quân dẹp loạn của Hoa Lư có đủ các loại: bộ binh, thủy binh, tượng binh, kỵ binh. Sự phối hợp giữa các loại quân đã được thực hiện. Đặc biệt trong trận đánh dẹp Nguyễn Siêu, ta còn thấy xuất hiện lối đánh bí mật cho người lọt vào doanh trại đối phương đốt phá, theo thuật ngữ ngày nay ta có thể gọi là “đặc công”.

Tuy nhiên trong biện pháp dẹp loạn của Đinh Bộ Lĩnh không chỉ có bình định bằng quân sự. Như dã trình bày, ông còn dùng biện pháp thuyết phục “đánh vào lòng người”.  Điển hình nhất là trường hợp Ngô Xương Xí ở Bình Kiều. Về điểm này sử sách không ghi chép. Bổ sung từ nguồn truyền thuyết kết hợp với di tích sưu tầm được ở Thanh Hóa ta biết, sau khi bình định được các sứ quân ở vùng Bắc Bộ ngày nay, Đinh Bộ Lĩnh tiến hành thu phục Bình Kiều của sứ quân Ngô Xương Xí. Theo truyền thuyết ông hành quân vào Ái Châu, đóng quân tại sườn Cửu Noãn Sơn, có thần nhân (mưu sĩ?) mách bảo: không cần đánh, chỉ cần mở tiệc khao quân, Xương Xí hoảng sợ tất phải xin hàng.

Một truyền thuyết sưu tầm được ở Đông Lỗ (nay thuộc xã Thiệu Long, Thiệu Yên, Thanh Hóa) - nơi có vết tích trang trại của Dương Tam Kha, lại cho biết trên đường hành quân đến Bình Kiều, Đinh Bộ Lĩnh đã qua đây yết kiến Dương Tam Kha, ông lấy người con gái của Dương Tam Kha là Ngọc Vân 2 làm vợ tức Dương Thái hậu sau này.

Thông qua mối quan hệ con cậu (Ngọc Vân) - cháu cô (Xương Xí), Đinh Bộ Lĩnh đã hàng phục được Xương Xí. Truyền thuyết có khác nhau, nhưng đều thống nhất’ ở điểm Bộ Lĩnh đã thu được Bình Kiều không phải bằng bạo lúc vũ trang mà bằng cánh thuyết phục 3.
Trong quá trình dẹp loạn, bằng biện pháp vũ trang kết hợp với thuyết phục, đội quân tập hợp dưới cờ của Đinh Bộ Lĩnh ngày một lớn mạnh. Dẹp loạn thành công. đội quân này trở thành lực lượng vũ trang của quốc gia Đại Cồ Việt dưới quyền điều khiển của vị tổng chỉ huy Thập đạo tướng quân Lê Hoàn vào năm 968.

2. Dẹp loạn Cử Long

Cử Long, theo lời chua của sách Cương mục là vùng dân tộc thiếu số thuộc huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa ngày nay 4.  Đây là một cuộc nổi dậy kéo dài trong nhiều năm từ cuối thế kỷ X của thủ lĩnh dân tộc, nhằm ly khai khỏi sự kiểm soát của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, buộc các nhà nước Tiền Lê, Lý phải tiến hành đánh dẹp nhiều lần. 

Khác với dẹp loạn 12 sứ quân, tiến hành dẹp loạn lần này không phải là một đội quân mới nhóm họp. Đây là lực lượng vũ trang của quốc gia Đại Cồ Việt - một quân đội đã từng tôi luyện, thử thách và trưởng thành trong kháng chiến chống giặc Tống vào cuối năm 980 đầu 981. Theo các sách Việt sử lược Đại Việt sử ký toàn thư, Cương mục, lần đánh dẹp vào năm 1001 cũng do đích thân nhà vua (Lê Đại Hành) cầm quân.

Sử chép: “Vua thân đi đánh dẹp Cử Long. Quân giặc thấy vua, giương cung nhầm bắn thì tên rơi, lại giương cung thì dây đứt, tự lấy làm sợ mà rút lui . Vua bèn đi thuyền vào Cùng Giang để đuổi. Giặc bày trận hai bên bờ chống lại, quan quân bị hãm ở giữa sông, vua cũ nhà Đinh là Vệ vương Toàn trúng tên chết tại trận. Vua kêu trời ba tiếng rồi thúc quân đánh, giặc tan vỡ” 5.


_______________________
1.  Nguyễn Danh Phiệt: Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, Sđd, phần Phụ lục, tr.193, 196-197.
2. Có thuyết nói tên là Vân Nga.
3. Nguyễn Danh Phiệt: Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, Sđd, tr. 10.
4. Cương mục, Sđd, t.1, tr. 267.
5. Toàn thư, Sđd, t.1, tr. 228.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM