Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:54:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bóc vỏ Trái đất  (Đọc 40900 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #30 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 08:59:22 pm »


ĐỤNG TRỰC THĂNG TRÊN SÔNG

Chuyến thứ ba của chiếc ghe nhỏ do Thương cầm chèo vừa lao ra sông được mấy con sào thì hai chiếc trực thăng từ phía bên Củ Chi lao tới. Thương biết ngay đó là trực thăng đi trinh sát dọc sông. Mấy ngày hôm trước đi trinh sát anh em trong tổ A36 đã nắm được tình hình này, nhưng mấy chuyến vừa rồi mải mê lo căn tàu chiến đã đi qua trót lọt không lường hết được việc máy bay trinh sát xuất hiện lúc nào nên chuyến này, thuyền đụng máy bay.

Thương kêu khá to:

- Máy bay trinh sát đấy, tất cả ngồi im không cử động, cúi áp sát xuống, bám chặt vào mạn thuyền, vin cành lá che kín cứ để thuyền trôi theo dòng nước.

Mọi người nghe theo, một thanh niên đang cầm sào, ép sát con sào vào mạn thuyền, Thương cũng ghì mái chèo nằm song song với mạn thuyền, còn một tay vin khóm lục bình che ốp lấy đuôi chiếc thuyền bé nhỏ. Hai ba người ngồi giữa nghe anh Thương hô, liền mỗi người một tay vin mấy cành cây xỏa ra gần kín mặt thuyền. Rất may là lúc còn trong lạch, Thương chạy lên bờ, nhanh tay chặt được hai ba cành cây đưa xuống thuyền để nguỵ trang, nếu không thì lúc này chơ vơ con thuyền có người ngồi đầy trên đó, tránh sao khỏi ánh đèn pha và con mắt của những tên lính đang quan sát rình rập, chỉ chực nhả đạn.

Chỉ một thoáng sau, ánh đèn pha trên trực thăng đã nhoang nhoáng quét qua quét lại. Thương thấy nóng ở hai bên mang tai, anh hô:

- Bình tĩnh, nằm im!

Chiếc trực thăng thứ hai bay tới, nó đã phát hiện ra lùm cây trôi trên sông. Ánh đèn pha rọi xuống, quét qua quét lại, rồi một tràng trung liên bắn xuống chéo chéo... búp búp... ngay mạn thuyền. Một tiếng: ối... kêu khẽ. Thương biết là có người bị thương. Anh nói lớn cho đủ nghe vì tiếng động cơ trực thăng đang phành phạch rất to:

- Cứ ngồi im, không ai được rời thuyền!

Một tiếng nổ: ùm... rất to, cả con thuyền bé nhỏ chao đảo như muốn chồm lên, lật úp, nước tràn vào lấp xấp, thuyền như muốn vỡ tung từng mảnh chìm xuống. Ngay sau đó chiếc trực thăng bay qua, ánh đèn pha cũng lướt qua hướng khác, trả lại bóng đêm cho con thuyền bé nhỏ tội nghiệp.

Thấy tình hình khá rồi, mọi người ngồi ngay dậy, nước đã tràn vào lấp sấp, hai người dùng tay tát nước ra, người vơ mảnh ván hắt té nước ra mau cứu con thuyền sắp chìm, hai mái chèo và con sào đạp nước mải miết, mải miết. Mọi người gồng mình như lấy sức mạnh vô hình nâng con thuyền, đưa con thuyền từ từ sang sông.

Trong cái không may vẫn còn cái may, bị đèn pha trực thăng phát hiện, bị hàng tràng trung liên, bị cả trái nổ bồi theo, nhưng có lẽ chúng chỉ nghi ngờ bụi cây có người và bắn hú họa, thả trái nổ qua loa như vậy, với một bụm cây, nếu có người bám vào thì cũng khó thoát chết khi có trái nổ. Chúng có biết đâu rằng có cả một con thuyền trong lùm cây ấy và có tới bảy con người, cũng nhờ đấy mà thoát chết trong gang tấc.

Chỉ một người bị thương ở cánh tay do viên đạn bắn trúng, còn lại không ai làm sao, may mà con thuyền nhỏ, nếu lúc này mà là thuyền lớn hai chục người thì hẳn không thể thoát. Một anh thanh niên đạp nước bằng tấm ván, vừa thở vừa nói:

- Anh Hai, anh hay quá trời, anh bình tĩnh chỉ huy bọn em, nếu không tụi em đã nhảy xuống nước ngay sau loạt súng máy rồi, mà nhảy xuống thì sẽ chết vì trái nổ. Anh Hai, anh giỏi quá, nhiều kinh nghiệm, bố trí đâu đấy, chuyến này mà không có anh Hai, hẳn còn nhiều người phải hy sinh.

Một chị cũng nói theo:

- Nhờ có anh Hai giỏi mà chúng em thoát chết, thật chúng em không biết nói sao giờ!

- Nói gì nữa, ráng chuẩn bị lên bờ còn chạy, còn gian nan đang chờ chúng ta bên kia nữa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #31 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 09:01:13 pm »


CHUYẾN QUA SÔNG THỨ BẢY

Ngân và tốp các chị bên Hậu cần được xếp vào chuyến thứ bảy. Lệnh của Hai Thương là sau khi thuyền rời bờ, mọi người mới được tiếp tục tập trung ra bờ sông, tránh dồn người nhiều dễ bị lộ. Chưa thấy liên lạc quay lại đón, chị em nóng ruột chờ đợi, không ai dám chui lên khỏi địa đạo. Bụng đói đã quen chịu... chỉ thấy mệt rã chân tay khi chờ đợi. Những khuôn mặt hốc hác dính đầy đất, khắc khoải chờ mong và hy vọng.

Nắp hầm bỗng bật mở, có tiếng gọi: “Lên thôi, bám theo nhau đi, đừng để ai rớt lại”.

Năm sáu người bước theo liên lạc băng qua cánh đồng. Thương đi trước trinh sát, yêu cầu người này đi cách người kia mấy mét đề phòng phục kích bất ngờ, cử một người đi sau cùng quan sát phía sau, vừa đi vừa chạy, băng qua cánh đồng chỗ khô chỗ lội, lồi lõm nhấp nhô.

Trăng hạ tuần khuyết hơn phân nửa, nhưng cũng tỏa xuống mặt đất một luồng ánh sáng mờ mờ, Ngân đang bước nhanh bỗng chân đạp vật gì tròn tròn nhớt nhớt như hột vịt chị cầm lên, đúng rồi, nhưng lại nghi trứng thối, Ngân đập thử thấy trứng còn tươi, vội vàng lượm mấy hột bỏ vào túi vải. Thương quay lại giục:

- Lẹ lẹ mầy ơi, lo chạy đi đã, còn ở đó mà lượm...

- Con lượm vài hột để sang bên kia có trứng ăn.

Ngân lẩm bẩm nói mình nghe:

- Đói gần chết, thấy hột vịt ngon vầy không lượm sao được.

Dọc đường chạy, Ngân thấy xác người nằm chết la liệt, vài chục mét lại thấy một xác người. Xác người chết đã lâu trương sình thối rữa bốc mùi thật là kinh khủng. Trong đêm tối, có người đạp trúng cả xác người lùng bùng như đống sình thối rữa, xương trơ trắng hếu. Trong lúc nguy nan, không có tâm thần đâu mà khiếp sợ và thương xót cho những xác người xấu số nằm phơi không được chôn cất. Trong đau thương tàn khốc, hình như nỗi đau xót cho đồng loại và những giọt nước mắt đã rắn lại đã kết vón, kết thành chai, thành đá, để không còn có thể ứa ra được nữa. Trên những gương mặt cũng đang đanh lại, khô đi vì khói bom đạn lửa và đói khát hàng chục ngày nay, hằn lên một sức sống mãnh liệt, một nghị lực mạnh mẽ thách thức với gian khổ, với bom đạn hiểm nguy.

Chuyến này hầu hết là phụ nữ, chỉ có ba thanh niên, trong đó có cái bụng bầu của chị Năm Thu.

Thương nói với Ngân, Châu:

- Hai đứa tụi bay coi chừng, phụ kè bà ấy đừng để bả té trên thuyền nghe, không kịp đỡ sanh trên sông đâu.

Năm Thu nói ngay:

- Anh Hai yên tâm, em khỏe mà. Em ốm người nên coi bụng to vầy chứ chưa sanh đâu.

Năm Thu còn nhanh nhẹn, sự phấn chấn vì tin tưởng đã  giúp chị không cảm thấy cái bầu làm cho mình nặng nề trong từng bước chạy. Nhưng để chắc chắn, chị vừa chạy vừa lấy hai tay bưng bụng, đỡ phía dưới giữ bụng khỏi bị sóc tưng, bị văng mạnh.

Thương vừa dẫn đường quan sát, vừa dặn dò mọi người chuẩn bị sẵn tinh thần khi vượt sông.

Ra tới bờ sông, Thương lệnh cho mọi người núp vào các bụi cây bụi cỏ chờ. Vừa nói xong, đã thấy bóng ánh đèn pha nhấp nhoáng của tàu chiến đi tuần trên sông. Mọi người ngồi im lìm, bóng đêm đang là bạn đồng hành với chúng ta, đèn pha của tàu tuần tiễu không thể biết ngay khúc sông này đêm nay đã xảy ra những việc gì. Cứ 15 hoặc 20 phút, tàu lại lượn một vòng, pha đèn chỉ thấy bóng đêm im lìm tĩnh lặng, chúng đâu có thể ngờ giữa những khoảng cách 15 phút ấy là một chuyến đò qua sông, chuyến đò chở đầy người lặng lẽ chỉ có tiếng khua nước, mải miết đưa thuyền lướt sang bờ bên kia, đưa con người trở về với cuộc sống, tiếp tục cuộc chiến đấu. Chuyến quay về thuyền nhẹ lướt dù chỉ một mái chèo, nhưng là tay chèo của những người chiến sĩ quả cảm, tinh thần nhân lên, niềm vui phấn chấn khi họ đã tìm được con đường sống cho mọi người. Tất cả đã dồn thành sức mạnh, mạnh hơn cả những động cơ bao nhiêu sức ngựa, mạnh như sắt thép, vùng Tam giác sắt này kể cả ngọn cây, khí trời cũng thành thép, hai cánh tay chèo không ngơi, không biết mệt mỏi đang là những cánh tay thép đưa thuyền vượt sông.

Mười sáu phụ nữ, ba nam giới và Thương, vừa vặn hai mươi người đã sẵn sàng trên thuyền, con thuyền đăng cá của dân lúc này thật ý nghĩa biết bao. Hai thanh niên đang níu những khóm lục bình cột vào mạn thuyền. Cây lục bình ăn nước phù sa đỏ đẫm của đất miền Đông đưa xuống sông Sài Gòn, xanh tốt, cao gần sải tay che khuất mạn thuyền. Cây lục bình của quê hương thật gần gũi, đáng yêu biết bao. Thương còn cầm rựa lên bờ chặt mấy cành cây chia cho mọi người. Con thuyền được ngụy trang đang đậu ngay cửa rạch, chuẩn bị vượt sông. Khi Thương thông báo cho mọi người cách thức đối phó nếu bị địch phát hiện lúc đang băng qua sông, mọi người im lặng, trong lòng không tránh khỏi lo sợ, nhưng ngay sau đó, Thương nói cho mọi người yên tâm:

- Những chuyến trước, ta căn đúng lúc tàu chiến vừa tuần qua, thời gian ấy đủ cho thuyền ta bơi gấp được sang tới bờ bên kia, vì vậy ta cứ yên tâm, không sợ đụng địch giữa dòng đâu. Mọi người ngồi im, vì thuyền chở nặng, không được để thuyền tròng trành, người ngồi sát mạn thuyền có nhiệm vụ phụ bơi thuyền qua sông. Tất cả đều phải nghe theo sự điều khiển của tôi.

Ánh đèn pha đã xuất hiện từ xa, mọi người hồi hộp căng thẳng. Những cành cây trên thuyền, những khóm lục bình bên mạn thuyền quả là hữu hiệu, ánh đèn pha của tàu chiến quét qua quét lại, mọi người đã ngồi cả trên thuyền, nhìn rõ mặt sạm đen của nhau, rõ cả nét lo lắng trên từng ánh mắt. Nhưng từ trên tàu chiến, bọn chúng chỉ nhìn thấy cây cối um tùm im lặng, vì vậy ánh đèn pha cứ lướt qua, không một sự nghi ngờ, không một tiếng súng nổ.

Con thuyền bắt đầu lướt ra sông theo tay sào của Thương và tay chèo của một thanh niên thành thạo, con thuyền như một đám lùm lùm bụi cây cỏ lục bình kết dính đang trôi trên mặt sông.

Ngân ngồi sát chị Thu, hai người tay níu chặt như dựa vào nhau, truyền cho nhau sức mạnh, bởi cái đói đã lấy đi mất nhiều sức khỏe, lúc này đây, chỉ còn nghị lực và niềm tin khiến cho mọi người có đủ sức bước đi. Từ ngày hôm qua, khi chị em trong đơn vị tập trung sang hầm bên Hai Thương, được uống mỗi người nửa bát sữa và chứng kiến những người anh, người đồng chí thân thương, dũng cảm nhanh nhẹn, không ngại gian khổ hy sinh, tình nguyện ở lại tìm đường đưa họ thoát khỏi vòng vây, ai cũng xúc động cảm phục. Nếu còn ở lại đây, chắc chắn chỉ mấy ngày nữa trong cảnh bom đạn xe tăng cày xới, hơi độc hóa học, săm moi, bơm nước tìm diệt của giặc, cảnh đói khát, bị thương, kiệt sức có lẽ sẽ chết hết. Niềm tin tưởng, niềm hy vọng còn sống đã khiến cho mọi người thêm sức mạnh, đầu óc sáng suốt trở lại, họ tin vào sự tháo vát tài ba của những con người dũng cảm, đang vì họ, vì sự sống của đồng đội mà xả thân đưa tất cả qua sông. Lúc này là chuyến đò thứ bảy, trên 150 người đã vượt qua sông ra khỏi vòng vây. Còn những chuyến nữa... Các anh đang gồng người lên, dồn hết sức lực cùng với con thuyền đưa người vượt vòng vây Ngân nói nhỏ với chị Năm Thu:

- Cậu Hai giỏi thật, em thấy cậu tính toán xếp đặt đâu đấy, chu đáo quá chừng, nếu không có cậu Hai, đợt này chắc khó qua khỏi. Chị Năm, sau này sanh con, phải cho thằng nhỏ nhận cậu Hai là ba đỡ đầu nghen.

Năm Thu xúc động:

- Anh Hai là người anh hùng dũng cảm, tao coi ảnh là thần tượng, là vị cứu tinh của của tất cả mọi người ở đây. Chuyến đò này tới thứ bảy rồi mà còn thấy nhiều người nữa, từ chuyến thứ nhất tới giờ hơn cả trăm người rồi. Chúng ta thoát ra khỏi vòng vây trận càn này cũng nhờ anh Hai, nhờ các anh của đơn vị anh Hai Thương, anh Kiển, anh Thôn, anh Mới, anh Đo... các anh ấy dũng cảm và giỏi quá chừng.

Day qua Hai Thương, chị nói to:

- Em ổn rồi anh Hai, không sao đâu, con nhà nông lao động từ trong bụng mẹ, nó không dại gì ra sớm, cực chết!

Thương nghe câu được câu mất, anh cũng nói cho vui:

- Ừ, ráng đi qua sông đã, rồi hãy chui ra nghe con. Nằm yên trong đó cho êm, ra ngoài này nguy hiểm lắm đó, kẹt má mày dữ nghe con.

Mỗi người một tay, cả ván, cả gậy cả bàn tay khỏa nước phụ với mái chèo của Thương và một thanh niên khác, con thuyền lướt nhẹ trên sông Sài Gòn. Dòng sông quê hương quen thuộc, dòng nước ngọt ngào thân thương đang ôm ấp, che chở và đưa những người con ra khỏi cơn nguy nan, khỏi làn bom đạn đẫm máu của giặc thù. Vớt những giọt nước mát của quê hương uống rồi vã lên mặt, cảm giác khoan khoái trở lại như những ngày tự do bơi lội trên sông, giây phút thoáng quên đi trận càn khốc liệt. Thuyền chở nặng mà lướt đi êm ru, chỉ nghe tiếng nước khỏa nhẹ nhàng đều đặn, những cánh tay chèo chống mạnh mẽ, rẽ nước về phía sau.

Thuyền gần tới bờ thì tàu tuần tiễu lại thấy xuất hiện đằng xa, ánh đèn pha loang loáng, cả đoàn người trên xuồng nhìn ánh đèn lo lắng. Lợi dụng lúc ánh đèn đã lướt qua, Thương cố đẩy mạnh con sào vừa vặn cho thuyền cặp vào giữa lùm cây lòa xòa xuống mặt nước gần bờ, anh hô:

- Tất cả hãy ngồi im.

Ánh đèn pha quét ngang quét dọc loang loáng, mọi người nhìn rõ ánh mắt lo lắng của nhau, ánh mắt đang dõi theo con tàu đang rẽ sóng ngay giữa dòng sông.

Chỉ một phút sau, con tàu tuần tiễu của giặc đã lướt qua. Hai bên bờ vẫn im lìm. Những ánh đèn pha sáng chói kia làm sao nhìn thấu bóng đêm bao phủ giữa sông nước và những lùm cây bụi cỏ quê hương ta đang che chở ôm ấp rất chặt, rất kín lấy những người con.

Thương cho một thanh niên quay thuyền trở lại bờ bên kia. Anh dặn dò:

- Cậu cho thuyền sang, đón tiếp người sang sông, nếu thấy còn người mà thuyền khẳm rồi, phải quay sang chuyến nữa, đừng chở quá hai mươi người, đừng để ai muốn sang mà không có thuyền nghe chưa. Hai chuyến nữa vẫn còn kịp thời gian trước khi trời rạng sáng. Cậu nhớ kỹ việc căn tàu chiến trên sông đấy.

Người thanh niên trả lời:

Anh Hai yên tâm, em đã đi cùng anh Hai một chuyến rồi, em biết mà.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #32 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 09:05:59 pm »


LÊN BỜ BÊN KIA SÔNG

Thương tiếp tục đưa đoàn người lên bờ. Đo đã báo cho Thương biết, quanh vùng này không còn hầm hào nào trú được người nữa, tất cả những người đã lên bờ, người nào yếu quá hay bị thương nặng thì được trú dưới hầm, còn lại hầu hết là đi tiếp, vì chính bên Củ Chi cũng đang bị càn. Ngay trong khu vực cánh đồng ấp Phú Hòa Đông cũng có hai cụm quân Mỹ đang đóng, chỉ cách bến đổ quân của ta hơn cây số. Trong đêm tối, lại lạ đường, đám chị em này liệu sẽ ra sao?

Mọi người đang quây bám theo Thương, anh vẫy tay, lao nhanh lên phía trước. Dáng cao cao, bước chân dài, bước chân giao liên của người chiến sĩ đã hàng chục năm băng lộ lội bưng, đối phó né tránh các trạm kiểm soát của địch, bước chân dày dạn kinh nghiệm đang dẫn đường cho mọi thoát hiểm, Nguyễn Văn Thương như một người chỉ huy đưa đoàn quân vượt vây, xông pha dũng cảm mưu trí, mọi người đang chạy theo anh, dựa vào anh tin cậy. Đoàn người băng qua con đường lộ 15 cặp bờ sông Sài Gòn, tản vào dãy cây cối nhà cửa lụp sụp, lưa thưa đổ nát. Thương gõ cửa một căn nhà nhỏ, không thấy ai ra mở cửa, chờ một lát, Thương gõ cửa mạnh hơn, cánh cửa từ từ hé ra, một ông già cất tiếng hỏi:

- Gì đó?

Nhìn thấy quá trời người, ông già hoảng sợ, toan thụt đầu vào đóng cửa. Thương chặn lại:

- Chúng tôi chạy từ Bến Cát sang đây, nhờ ông chỉ đường giúp cho mọi người ra khỏi khu vực địch đang đóng quân.

Ông già run cầm cập:

- Chúng đang càn quét quanh đây dữ lắm, tôi không biết chỗ nào cả.

Thương nói to dõng dạc:

- Chúng tôi là người của cách mạng, yêu cầu ông giúp đỡ giữa đêm tối, chúng tôi chưa kịp trinh sát, nếu ông không dẫn đường, đoàn người dễ đụng địch phục kích, đụng cụm quân địch, ông hiểu không?

Bỗng từ trong nhà có hai thanh niên bước ra:

- Ông già không đi được đâu, để tôi dẫn đường.
 
Một anh nói:

- Để tôi chỉ đường, bên này cũng bị càn lớn lắm, nhà cửa cây cối cháy ngả bằng trụi hết, tôi cũng mới về hồi qua, tính đón ông già lên Sài Gòn mà ổng chưa chịu đi. Tôi biết nơi Mỹ đang đóng quân, chỉ cách đây hơn nửa cây số, mọi người tính đi tới đâu?

Thương nói:

- Anh đưa chúng tôi về hướng Gót Tràng.

Người thanh niên vẫy tay:

- Theo tôi.

Hai thanh niên đi trước, Thương và mọi người theo sau, vừa khom khom chạy, vừa bước nhanh vừa dìu nhau men theo bìa cây, băng qua đồng trống. Hơn hai chục người mải miết đi trong đêm tối. Nhìn thấy ánh đèn mờ mờ bên trái, người thanh niên chỉ:

- Chỗ đó là cụm quân Mỹ đang đóng, ta cứ đi thẳng hướng này sẽ an toàn.

Đoàn người vội vã bước đi. Thương vừa đi cạnh chị Năm bụng bầu vừa dặn dò các chị:

- Trời cũng sắp sáng rồi, ta cứ đi, đến đoạn nào trời gần sáng rõ thì tìm vào hầm hào nhà dân trú ẩn tạm, liên lạc với du kích địa phương, xem tình hình có thể được thì tranh thủ mua đồ, gặp gì mua nấy ăn cho đỡ đói cái đã, chắc chắn sẽ có liên lạc đưa chúng ta đi tiếp về căn cứ.

Người thanh niên dừng lại nói:

- Đây là địa phận Gót Tràng, Củ Chi, phía trước là khu vực có nhà dân, các anh chị có thể vào liên lạc hay mua đồ được.

Thương nói:

- Rất cám ơn hai cậu, tốt lắm rồi, hai cậu có thể quay về được rồi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #33 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 09:06:29 pm »


Bầu trời đêm tĩnh mịch, tiếng dế, tiếng ếch nhái vọng lại như gần như xa, âm thanh quen thuộc của đồng quê bên tai thật ấm áp làm sao. Đã mười mấy ngày nay bom đạn tơi tả, người chết, côn trùng, tiếng dế, tiếng ếch nhái cũng tan biến cả, còn ai sống sót cũng đói cũng đuối sức, mặt mũi hốc hác xơ xác. Nhưng lúc này đây, niềm tin vào sự sống biến thành sức mạnh khiến họ bước đi vững vàng. Trên trời đã có hừng sáng phía đông, Thương đã liên lạc được với mấy người du kích địa phương, lo chỉ dẫn cho mọi người tìm nơi trú ẩn. Ngân và Châu lúc chạy dọc đường cũng vội vã túm được ít trái đậu bắp, cái ruột tượng hột vịt Ngân lượm được từ bên Bến Cát thấy ướt bét ngang người bốc mùi tanh rình, trứng bể gần hết, chỉ còn lại ba hột nguyên và mấy hột giập vỏ, chị vội tìm vào ven xóm đó tính cách luộc hột vịt.

Thương dặn dò mọi người xong, anh đưa cho Ngân tập tiền:

- Con Ngân mày cầm số tiền này, lát sáng, nhờ anh em du kích dẫn đường, tìm mua các thứ cần thiết cho mọi người, nhất là đồ ăn, gặp gì ăn được là mua mang theo. Nhớ canh chừng chăm sóc cho Năm Thu nghe.

- Cậu Hai, cậu không đi cùng tụi con nữa sao?

- Tao phải quay trở lại, còn nhiều việc lắm, sang được bên này là sống rồi, chỉ còn tìm nơi trú tạm, khi nào thấy yên lại về.

- Cậu Hai tin tưởng đi, tụi con lo được mà.

Lại gần Năm Thu, Hai Thương vừa nói vừa cười:

- Chị Năm yên tâm và chuẩn bị sắp tới sanh cháu nghe, tìm liên lạc báo tin cho cha nó mừng, chúc chị sanh mẹ tròn con vuông và sanh con trai nghe.

Năm Thu mếu máo chùi nước mắt:

- Anh Hai, thật không biết nói sao cám ơn anh Hai bây giờ, sau này tôi sẽ kể mọi chuyện ngày hôm nay và anh Hai cho con tôi nghe.

Chị em cùng nhìn theo bóng Hai Thương, người chiến sĩ anh hùng dũng cảm, xông xáo ngang dọc, đưa đoàn người qua sông, cứu sống hàng trăm con người, những đồng đội đang đói lả, đang sắp bị bom đạn giết chết, lúc này tất cả đã được đưa qua sông, đã được cứu sống, lòng nghẹn ngào, nước mắt trào ra lan dài trên gò má bết đầy đất cát khói bom.

Thương quay trở lại phía bờ sông Phú Hòa Đông, đôi chân giao liên sải những bước dài gấp rút, chạy băng qua cánh đồng, qua những lùm cây xóm ấp, quay về đến bờ sông, lặng nhìn về phía ấp Phú Hoà Đông quen thuộc, nơi ấy đang có vợ con anh, có má Hai Kiều, anh nhớ cồn cào thằng con trai mới sanh mà anh chỉ gặp mặt nó một lần vào đêm đi công tác ghé qua. Lúc này dù đang ở rất gần, anh chỉ chạy mươi phút là có thể gặp mặt con trai, nhưng không có thời gian cho nó, anh phải qua sông ngay bây giờ. Bờ bên này không thấy có thuyền, anh bơi ngay sang sông.

Lên bờ, Thương nằm im quan sát tình hình, xác định phương hướng, anh chạy dọc bờ sông một đoạn nữa thì vừa nhìn thấy thuyền của Đo đang chuẩn bị vượt sông. Thương lại gần:

- Hết người chưa Đo?

- Không còn ai nữa anh Hai, đơn vị mình và mấy người này là chuyến cuối cùng, anh Hai xuống đây thôi.

- Chờ chút đã.

Thương quan sát hết lượt bên bờ sông, anh chạy ngược lại một đoạn, nằm xuống quan sát, nép đất, thấy im lặng, anh cất tiếng gọi nho nhỏ:

- Có còn ai nữa không?

Im lặng... Anh quay trở lại sông, đi xuống mé xuồng, lội dưới nước, đẩy con thuyền nhỏ thật mạnh ra sông, đu người nhấc bổng lên trên, con thuyền nhỏ nghiêng nhẹ một bên tiếp tục lao ra giữa dòng, anh khỏa nước bằng một cánh tay tiếp sức cho mái chèo, một tay vốc nước uống, xoa lên mặt đẫm mồ hôi, tâm trạng khoan khoái như chưa bao giờ thấy. Giờ đây anh mới thấy nhẹ cả người. Anh nằm vật ra xuồng vì lúc này mới thấm mệt, tự thưởng cho mình phút khoan khoái, hít khí trời đầy lồng ngực. Bao nhiêu tính toán lo toan sức lực anh dồn cho công việc quan trọng, mà công việc ấy đã thành công mỹ mãn. Thật may mắn làm sao đêm nay không có lính phục kích, không có pháo bắn như những đêm khác, nếu không thì đoàn người đêm nay sẽ ra sao, anh như muốn reo lên sung sướng. Hàng trăm con người đã thoát khỏi vòng vây trận càn khốc liệt, trận càn hủy diệt sự sống, xương máu của chúng ta đã đổ xuống quá nhiều. Nhưng làm sao chúng có thể tìm diệt được hết những người theo cách mạng, họ vẫn còn đang sống và tồn tại, rồi lực lượng sẽ nhân lên gấp nhiều lần. Lớp người này ngã xuống, có lớp khác nối theo, lớp cha trước lớp con sau, người dân miền Nam sinh ra và lớn lên trong khói lửa chiến tranh thì lại chính khói lửa chiến tranh đã cho ta dày dạn kinh nghiệm, chịu đựng gian khổ hy sinh, không bao giờ chịu khuất phục. Anh nhớ đến cha mẹ mình đã đổ máu hy sinh trong nhà tù cũng vì cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và chính anh đang nối tiếp bước. Tim anh nhói đau khi nghĩ đến Thôn và Mới, chuyến vượt sông này đã thành công lớn rồi các em ơi, chỉ tiếc rằng không có hai em cùng ngồi trên thuyền cùng anh Hai đưa máy móc điện đài của đơn vị mình di chuyển đến nơi khác. Thương cắn chặt môi xót xa thương tiếc hai người đồng chí!

Thương hỏi Đo:

- Tổng số bao nhiêu người qua sông vậy Đo?

- Bảy chuyến thuyền lớn là được hơn trăm rồi, tám chuyến xuồng nhỏ chắc khoảng năm chục, chắc được tất cả trăm sáu trăm bảy người đó anh Hai.

- Tao và Kiển ghi danh sách hồi hôm qua là 175 người, chắc khoảng đó.

- Có lẽ hơn đấy anh Hai ạ! Em thấy có một số người hồi nãy mới chạy ra bờ sông, xin được đi theo, chắc con số hơn danh sách đã ghi đấy.

Thương nói to:

- Chúng ta thắng rồi, nhiêu đó người vượt sông ra khỏi vòng vây là chúng ta thắng rồi! Dù có mất mát hy sinh, nhưng như vậy là chúng ta còn tồn tại, là chúng ta đã chiến thắng rồi, Mỹ có càn nữa, bom đạn ngày mai có trút xuống bao nhiêu nữa thì cũng vô ích thôi, chúng ta vượt ra ngoài vòng vây này là thắng rồi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #34 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 09:20:01 pm »


TRÊN ĐẤT CỦ CHI

Chòm sao Cầy đã chếch quá về phía Tây, tốp người hầu hết là phụ nữ không còn đủ sức chạy nữa, chưa đến nỗi quỵ hẳn xuống, nhưng ai cũng đuối quá rồi. Suốt dọc đường, giữa đêm tối căng thẳng, bụng đói đã lâu, lúc này, tình hình thấy khá ổn, mọi người mới thấy mệt, chân tay rời rã uể oải, nhưng vẫn cố lê bước. Khi Hai Thương quay về hướng bờ sông, mọi người tiếp tục bước đi, bỗng những cơn đói, cơn mệt như ở đâu len lỏi ùa vào từng bước chân, từng bắp thịt. Nhớ lời Thương dặn, nhớ ơn người đồng chí, người anh đã tận tình hết lòng vì mọi người trong chuyến vượt vòng vây gian khổ đầy nguy hiểm vừa qua, chị em trấn tĩnh lấy lại tinh thần, đôi chân mệt mỏi vẫn bước như cái máy. Xóm làng, vườn tược bên này cũng cháy tan hoang, xơ xác điêu tàn, mọi người đều cố gắng bứt lá cây ngọn rau, trái đậu bắp, đậu que quen thuộc, bỏ vào mồm nhai cho đỡ đói, vớ gì nhai nấy, cũng giống như con nai con hươu trong rừng, con người cũng nhai vài ngọn cỏ lá cây là sống. Dẫu sao thì niềm tin vào việc thoát khỏi cơn nguy hiểm của trận càn cũng đã trở thành sức mạnh cho những bước chân bước lên trong niềm tin chiến thắng. Nhưng hình như rau cỏ cũng trốn đi đâu sạch, hiếm hoi lắm mới tìm được một vài cây, thôi thì đắng, chát, cả rau nhái già, lá cách, lá vông, lá xoài, lá gì cũng thấy ấm lòng.

Gần sáng, cả tốp người đã vào một xóm chỉ còn lác đác vài nhà. Chị Năm Thu bụng bầu vẫn bám theo đoàn người, Ngân đi kè bên lo lắng, nhưng chị Năm không hề tỏ ra mệt mỏi, yếu đuối, đôi lúc chị còn vui đùa động viên chị em:

- Tao thấy cái bụng chỉ to hơn tụi bay chứ có sao đâu mà lo, tao vẫn chạy được bình thường. Không biết thằng hay nhỏ mà ngoan lắm, biết mình đang chạy giặc và chịu đói nên thông cảm, biết điều nằm im không đòi chui ra quấy nhiễu mọi người. Giờ này là yên trí rồi, tội nghiệp anh Hai Thương, ảnh lo quá trời, chỉ sợ sanh ngay lúc trên đò qua sông thì thật không biết làm sao. Ông lo tao chết cả mẹ lẫn con, nên khi lên tới đây rồi, ổng mừng lắm. Sau này khi nhỏ ra đời tao cho nó gọi ông Hai là ba. Không có ổng cứu, thì làm sao tao còn sống mà sanh ra nó. Cha nó giờ này đang ở mặt trận nào, có thấu cảnh cam go này không.

Vào được mấy nhà dân, hầm hào đã có tạm đủ trú, hỏi thăm thấy tình hình không căng lắm, bọn địch càn chiều qua rồi rút ngay về Đồng Dù, đoàn nghỉ tại đây để lấy sức. Nơi đây, cả gần tháng nay địch càn quét cào xới, săm moi tìm kiếm, đất cát cây cối nhà cửa đổ ngổn ngang, cháy trụi. Nhà dân cũng không còn gì cho mọi người ăn, bom đạn tàn phá không khác gì bên Bến Cát.

Ngân vội đi kiếm xoong nồi, nhóm lửa luộc hột vịt, bởi cái tay nải đeo bên người vẫn còn thấy nằng nặng. Lúc chạy trên cánh đồng bên kia sông, anh Hai Thương giục đi mau nhưng Ngân cố nhoai lại lượm được ít hột, giờ này mới có dịp bỏ ra sử dụng. Thì hỡi ôi, hột vịt bể ướt nhẹp, lạo xạo đầy ruột tượng, tanh rình, bốc mùi thum thủm, chắc là có cả hột thúi bể. Ngân tiếc rẻ bươi bươi, thấy còn mấy hột còn nguyên và chỉ bị giập, chị chờ nước sôi, nhấc khéo đặt vào nồi, vậy mà một lúc sau, mấy chị em cùng được ăn hột vịt luộc ngon lành.

Ở hầm nguyên ngày đó yên ổn với vài thứ linh tinh và nước uống trong bao tử, mọi người ngủ thiếp một giấc dài. Gần tối, nhờ mấy anh du kích dẫn đường, Ngân và Châu đi mua đồ ăn, gặp được quán bán, có thử gì là mua hết thứ đó, nào bánh kẹo, cả bánh tráng, bánh phồng, bỏng bắp, đường sữa, đồ ăn con nít mua tất về ăn chống đói. Còn tiền, Ngân mua cả bàn chải kem đánh răng, bởi đã mười mấy ngày nay không có đánh răng, rửa mặt. Chị nghĩ đến cậu Hai Thương, cậu Hai giỏi quá, chu đáo đến thế, lo lắng cho mọi người từng chút từng chút, lại tính đến cả đưa tiền. Thật may mà có cậu Hai, nếu không, mọi người rồi sẽ ra sao nếu giờ này còn ở bên Bến Cát. Nghĩ đến những giờ phút căng thẳng nguy nan, Ngân bàng hoàng rùng mình.




CÁC NÀNG “VŨ NỮ”

Ba ngày sau, liên lạc đến dẫn tất cả đoàn người tiếp tục đi tới vùng căn cứ giáp Bến Dược.

Đoàn người hầu như ai cũng bị thương hoặc trầy xước mệt mỏi tơi tả, còn gặp địch càn ngang xương trên đường đi. Xe tăng, xe chở toàn lính Mỹ rầm rầm đang hành quân về phía Bến Dược. Liên lạc viên kịp thời báo hiệu cho mọi người tản vào bìa rừng, tìm hầm trú ẩn. Nơi đây có một xóm nhỏ, nhà cửa đã bị đốt cháy tan hoang hết, cây cối tiêu điều, ruộng đồng loang lở hố bom, hoa màu không còn gì. Đây là vùng giáp gianh với vùng giải phóng, là vùng xôi đậu. Giặc chỉ đóng từng cụm, chỉ khi nào có lính hành quân về càn thì bọn bảo an dân vệ này mới dám ngang nhiên ra oai kết hợp hoành hành, còn thì chủ yếu chúng lại rút vào bốt, hoặc dò xét bắt bớ ở những nơi có trạm kiểm soát, chúng được bố trí vũ khí lực lượng đầy đủ. Ở vùng xôi đậu này chúng ớn nhất là vào ban đêm. Đêm xuống, không một tên nào dám ngo ngoe ra khỏi bốt gác, gần như chúng rút hết để “nhường” chỗ cho Việt Cộng.

Người liên lạc chỉ một số cửa hầm cho mọi người ẩn nấp.

Ngân chống tay lên miệng hầm nhẹ nhàng đưa hai chân xuống trước, đụng đất thì vừa ngập đầu người, khi đứng vững thì người ở trên trao cho cây đèn dầu bưng kín gần hết. Ngân vặn tim sáng thêm một chút cho thấy rõ rồi khom lưng bò bò lần sâu vào trong đường hầm, mấy người lần theo vào hầm trú ẩn tạm.

Căn hầm này chắc đã lâu không dùng, không mở nắp cho thoáng khí nên xông lên mùi hôi mốc rất kinh. Những con dét nằm chực sẵn đã lâu, nay thấy có mùi lạ mồi ngon, chúng xô ra đốt chích. Ngân xua tay, đập tát, nhưng không nhanh bằng dét, chúng thi nhau bám chặt lấy đối tượng, chỉ một lát sau, khắp người ngứa ngáy, nổi tụt tịt lên đầy, khổ sở vô cùng, nhưng ai cũng phải cắn răng chịu đựng. Những vết dét cắn sau này đỏ ửng, tụ máu và mấy ngày sau do ngứa gãi và thường hay bị nhiễm trùng, làm mủ.

Ngân nhớ lại chuyện của mấy anh kể, dưới hầm địa đạo thường có nhiều loại đáng gờm, nhất là rắn, các loài rắn dết, có cả rắn hổ cắn người không chữa kịp có thể chết ngay. Các anh không sợ rắn bằng dét, bởi rắn còn nhìn thấy mà tránh mà bắt, còn dét thì xin chịu, nó bé như hạt cát mà lại trong bóng tối lờ mờ không nhìn thấy gì, chỉ có nó tấn công người chứ người không làm gì nổi nó, kể cả xua đuổi cũng vô hiệu.

Ngược lại với dẹt, các anh rất thích những con dế, nó hiền vì không đốt chích, lại thấy vui mắt khi ngồi hầm cả ngày không làm gì. Các anh đặt cho cái tên rất kêu: các “nàng vũ nữ”. Các nàng dế trông thì hung dữ nhưng thật ra rất hiền lành và vui tính. Mỗi lần xuống hầm, nhất là các hầm sâu, lâu không có người xuống, các nàng phóng loạn xạ đậu trên người, trên tay, trên đèn, đen cả xung quanh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #35 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 09:22:06 pm »


TRÊN ĐƯỜNG TRỞ LẠI BẾN CÁT

Đơn vị A36 hy sinh mất hai, còn năm đồng chí, các anh về tới căn cứ Thanh An, đây cũng là trạm trung chuyển gần của tình báo ở Bến Súc, đơn vị Phòng tình báo ở đây đón các anh và đủ cả máy móc điện đài, chỉ có con người là gần như kiệt sức vì mệt vì đói lả. Thủ trưởng, anh em gặp nhau mừng rỡ. Anh Sáu1 khen:

- Đơn vị ta giỏi lắm, cấp trên khen ngợi các đồng chí cụm A36 chiến đấu dũng cảm chống càn, đưa đoàn người vượt vòng vây trận càn, đây là một chiến công rất đáng biểu dương, các đồng chí giỏi lắm!

Anh em nghỉ ngơi ăn uống cho lại sức, củng cố lại các phương tiện điện đài, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới.

Đến ngày thứ ba, Thương, Kiển, Thành lãnh nhiệm vụ từ căn cứ Thanh An lại quay trở về Nam Bến Cát, Bình Dương nắm tình hình và đi làm nhiệm vụ giao liên. Mỗi người khoác trên vai AK, giắt súng ngắn, lựu đạn và một số đồ ăn, bên ngoài khoác áo gió ngụy trang.

Đường về Củ Chi, Mỹ mới rút quân hồi sáng, nhà cửa xóm ấp cháy rụi, cây cối đổ nát xơ xác, có chỗ vẫn còn những mái nhà lửa khói, cả những xác người nằm đây đó chưa được chôn cất...

Bơi sang bên kia sông Sài Gòn là đất Bến Cát, mấy ngày nay hình như quân Mỹ đã phát hiện cuộc rút lui ra khỏi vòng vây, và có lẽ Việt Cộng không còn ở miền Nam Bến Cát, nên từng bộ phận lính Mỹ đang rút quân.

Ba người đang đi trên Hương lộ 14, ngang chỗ Rạch Kiến, lúc ấy đã khoảng 5 giờ rưởi chiều. Bỗng thấy ba chiếc trực thăng dàn hàng xuất hiện ở phía trước đang bay tới trước mặt, chúng bay rất thấp, ba người núp vội vào bụi tre. Thương kịp thời nhận định tình hình, chuẩn bị chiến đấu, anh nói to:

- Tụi này đang chở quân đổ xuống càn hay phục kích ở đâu đây, chuẩn bị AK bắn máy bay!

Cả ba người cùng giương AK lên ngắm hướng ba chiếc máy bay trực thăng. Đôi mắt Thương sáng lên một tia quyết liệt, anh hô:

- Tao bắn chiếc thứ nhất, Kiển chiếc thứ hai, Thành nhằm chiếc thứ ba, chuẩn bị nổ súng.

Thương vốn bản lĩnh đã rất quen chiến đấu đối diện, trước quân thù là tinh nhanh, trầm tĩnh và chính xác. Chỉ còn khoảng cách rất ngắn, anh ngắm, lia nguyên băng 25 viên AK, chiếc trực thăng bốc lửa lao xuống cháy bùng, chỉ cách chỗ ba người khoảng vài chục mét. Hai tay súng của Kiển và Thành cũng bình tĩnh chính xác không kém gì Thương, hai chiếc trực thăng kia đã trúng đạn bốc khói, một chiếc vừa bay lên cao thì bốc cháy lao ụp xuống như một đống lửa, một chiếc bay ngoặt về phía Đồng Dù. Vừa bay được một lúc thì cũng phát lửa, rơi xuống cánh đồng bên Củ Chi.

Những chiếc trực thăng này từ Đồng Dù bay qua rải quân phục kích, tụi này gây không biết bao nhiêu thiệt hại, khó khăn cho các cán bộ ta trên đường đi công tác từ chiến khu về các căn cứ vùng ven, từ căn cứ lên chiến khu.

Tổ chiến đấu ba người của đơn vị Cụm tình báo A36: Thương, Kiển, Thành lập thành tích ở Rạch Kiến trên đường đi liên lạc, về căn cứ Bến Cát (trận chiến đấu chóng vánh này đã được xác định và có ghi rõ trong cuốn “Sáu mươi năm ngành tình báo”). Chỉ một phút đồng hồ, ba người tiêu diệt gọn ba chiếc máy bay và hàng chục lính trinh sát phục kích của địch ngồi trong đó khi chúng chưa kịp làm nhiệm vụ đã bị tiêu diệt. Quả là một chiến công tuyệt vời của ba chiến sĩ ngành tình báo dũng cảm.
______________________________
1. Anh Sáu Trí, trưởng phòng tình báo phía Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #36 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 09:23:06 pm »


CHIA ĐỀU

Chừng mươi ngày sau, anh em trong đơn vị A36 ngồi họp, được nghe lãnh đạo Phòng nói chuyện. Anh em thật không thể ngờ thành tích của đơn vị mình lại cao đến thế.

Nhận xét đánh giá những thiện hại của ta trong trận càn khá nhiều: “Cuộc càn Xêđaphôn diễn ra ác liệt từ đầu đến cuối trong vòng nửa tháng. Quân Mỹ đã hủy diệt hoàn toàn thị tứ Bến Súc, triệt hạ hầu hết làng mạc Bắc Củ Chi, toàn bộ vùng Tây, Nam Bến Cát, hủy diệt theo trục hai bên sông Sài Gòn”. (theo tài liệu cuốn Lịch sử lực lượng võ trang miền Đông Nam Bộ).

Nhưng ngược lại, chúng ta người ít, vũ khí ít gấp hàng trăm hàng ngàn lần quân Mỹ, vậy mà chúng ta chiến đấu sáng tạo, gan dạ dũng cảm, quyết liệt khiến quân địch cũng phải chịu những tổn thất nặng nề.

Tính chung, toàn bộ cuộc càn Xêđaphôn cả vùng Tam giác sắt địch bị tổn thất 3500 tên, 130 xe tăng thiết giáp, 28 máy bay. (theo cuốn liệu Lịch sử lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ).

Mục tiêu hủy diệt căn cứ cách mạng của Mỹ không đạt được, như tướng A. Mácasen đã thú nhận một phần: “Cuộc điều tra cho biết: ngay khi quân của chúng ta chưa rút khỏi vùng Tam giác sắt thì Việt Cộng đã đột nhập vào từ trước rồi. Như vậy là chẳng bao lâu, căn cứ cách mạng này vẫn đâu vào đấy”.

Trên thực tế trận càn này của Mỹ đã thất bại, dù tướng Westmoreland vẫn tuyên bố “đã tiêu diệt được đại bản doanh của Cộng sản” thì việc đưa được gần hai trăm cán bộ vượt ra khói vòng vây, rồi sau đó chúng ta lại về củng cố căn cứ cũ, cũng đủ thấy kết quả.

Riêng đơn vị Cụm tình báo A36 dưới sự chỉ huy của Nguyễn Văn Thương, đã bắn rơi 5 máy bay trực thăng, diệt được 12 xe tăng thiết giáp và 115 lính Mỹ (tư liệu được viết trong cuốn “Sáu mươi năm ngành tình báo”).

Lúc ngồi tính toán thành tích, bình bầu chia công cho đơn vị, Thương vui vẻ nói lớn:

- Thôi, tôi nghĩ như thế này, anh em mình ai cũng cố gắng hết sức cả, từ thủ trưởng ở Sài Gòn đến anh điện đài, chị giao liên, từ người cầm vũ khí đánh trận, đến người đánh cá nhân, ta chia đều, cho ai cũng được hưởng thành tích chung. Theo ý tôi, tiêu chuẩn cấp trên đã đề ra: cứ diệt ba Mỹ là đạt danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ”. Ta chia Mỹ cho anh em trong toàn Cụm, để ai cũng được danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ hết. Anh Ba Hội, anh Ba Quốc, cô Tư, cô Nhiễm ở Sài Gòn, anh Bảy Anh ở Củ Chi, cả bác Sáu Nửa, cô Út Ngọc, tất cả các anh em trong đơn vị mỗi người ba Mỹ để được lĩnh huy hiệu dũng sĩ diệt Mỹ.

Anh em ai cũng tán thành ý kiến của Thương, chia cho cả đơn vị cùng được danh hiệu thành tích.

Chia Mỹ hết cho mọi người rồi, vẫn còn khá nhiều, cuối cùng, Kiển quyết định:

- Công anh Hai Thương nhiều lắm, người ba Mỹ đủ tiêu chuẩn danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ, du kích diệt Mỹ. Còn nhiêu là của anh Hai, tất cả các trận đánh của đơn vị ta trong trận càn này đều do anh Hai bày đặt cách đánh, đều có anh xông pha dẫn đầu, anh Hai phải được mười huy hiệu dũng sĩ diệt Mỹ mới phải.

Hai Thương phản đối:

- Chia cho bốn thằng mới đúng, cả Thôn. Mới, Đo nữa, bốn anh em ta cùng đánh chứ có mình tôi đâu. Cả anh điện đài, anh cơ yếu nữa, nhiệm vụ của họ quan trọng lắm, công của họ còn hơn chúng ta, còn lại ta chia làm sáu.

Thương lặng lẽ nói một mình:

- Giá mà đổi tất cả những danh hiệu này của chúng ta để Thôn và Mới sống lại, tôi đổi liền. Tôi không ham gì những huy hiệu phải đổi bằng bao nhiêu xương máu này; trên cánh đồng An Thành kia, Thôn và Mới đã chiến đấu dũng cảm bao nhiêu trận, Thôn, Mới đã nằm xuống, mãi mãi nằm trong lòng đất ngay quê hương, nơi mà chính hai người đã sinh ra, ấp 4 xã An Thành Nam Bến Cát này đây. Hai đứa ấy có nghĩ được lúc này anh em trong đơn vị đang bình bầu thành tích không! Và còn biết bao đồng chí, bao bà con cô bác, bao cháu nhỏ đã đổ máu trong trận càn này.

Cả đơn vị Cụm tình báo A36 được thưởng huân chương Quân công hạng Hai.

Riêng Nguyễn Văn Thương được thưởng Huân chương Quân công hạng Ba. Và anh được nằm trong danh sách đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1967.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #37 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 09:25:29 pm »


ĂN TẾT SAU TRẬN CÀN XÊĐAPHÔN

Chỉ còn mấy hôm nữa là tết, anh Ba Hội - cụm trưởng A36 và anh Ba Quốc, điệp viên của Cụm A36 đang ở Sài Gòn (sau này ra công khai là Trung tướng Đặng Trần Đức) nhận được bản báo cáo thành tích của đơn vị mình gởi về, các anh mừng rỡ như muốn chạy lên ngay căn cứ, gặp gỡ' anh em đồng đội thân yêu của mình. Anh Ba Quốc gởi một bức thư cho anh em trong Cụm A36 biểu lộ niềm vui sướng, thân mật yêu thương như chỗ anh em ruột thịt:

“Tao và ông Ba Hội có bắn viên đạn nào mà tụi bay cũng chia cho cả huy hiệu dũng sĩ diệt Mỹ, lại thằng Thương bày đặt phải không? Được rồi, tao xin nhận, tao cũng thưởng cho tụi bay: Mỗi chiếc xe tăng của Mỹ hàng triệu đô la, tao thưởng cho chúng bay một ngàn tiền ngụy; mười hai chiếc xe tăng, thưởng mười hai ngàn cho tụi bay. Tiền này là lương tao lĩnh của ngụy, Tổ chức sẽ trả lại cho tao sau, nay tao cứ tự thưởng cho tụi bay ăn tết cái đã...”.

Anh Bảy Anh, bí thư chi bộ, là cụm phó A36 thì lại nói trong buổi họp toàn chi bộ:

- Chỉ tiếc rằng Cụm chúng ta đã để mất hai đồng chí Thôn và Mới! Trách nhiệm ấy thuộc đồng chí Thương, đồng chí đã để tổn thất lực lượng.

Như bị xúc phạm tới nỗi đau vì mất hai người em, hai người bạn chiến đấu vào sống ra chết có nhau, Thương không nén được cơn bực bội, đã thẳng thắn phản ứng lại lời nói của bí thư chi bộ. Vì vậy, đấy cũng là lý do mà đồng chí Bí thư chi bộ phó, cụm phó Cụm tình báo A36 không để Hai Thương trong danh sách những người được Nhà nước phong Anh hùng lực lượng vũ trang năm 1967.

Anh Ba Hội - cụm trưởng nói:

- Hy sinh mất mát là không thể nào tránh khỏi, trong trận càn dữ dội và thiệt hại khá nặng này, đơn vị ta là đơn vị tổn thất ít nhất, bảo toàn điện đài liên lạc mà lại lập được nhiều chiến công nhất. Chỉ riêng việc đưa cả đoàn cán bộ vượt sông ra khỏi vòng vây là thành tích rất lớn của các đồng chí trong đơn vị chúng ta. Tiêu biểu nhất, đáng khen ngợi nhất là đồng chí Thương.

“Ông già tình báo”, tên mà Hai Thương gọi thủ trưởng mình (chú Sáu Trí), sau đó tiếc cho anh và ông vỗ vai Thương nói: “Chỉ việc trong trận càn, mày xông xáo đưa đoàn cán bộ vượt sông, cũng đủ anh hùng lắm rồi. Thôi, còn nhiều dịp nữa, lo gì!”.

Thương không tiếc vì anh luôn nghĩ: mình chiến đấu với quân thù chứ không phải vì nghĩ tới danh hiệu này nọ mà phiền. Sau đó, anh lại lao vào công việc hăng say đầy tự tin và trách nhiệm.

Những ngày sau đấy, thấy tình hình êm, các đơn vị ai còn ở lại lo củng cố căn cứ, ai đã sang Củ Chi, ai đã qua Bến Súc đều lần lượt quay trở về Bến Cát. Bàng hoàng vì những gì đã xảy ra, bom đạn, chết chóc, cây cỏ đồng ruộng xóm làng tan hoang, một vùng đất đỏ tơi tả nhào xới. Còn lại bao nhiêu xác người rải rác nằm đây đó hay vùi lẫn trong đất sâu... Giặc Mỹ tưởng chắc rằng không còn ai sống sót chúng đã lần lượt rút quân. Có thể nói ngay sau trận càn này, quân địch đã thỏa thuê thu được kết quả. Số thương vong thiệt hại của lính Mỹ dù cũng khá đấy, nhưng mặt trận là như vậy, mục đích của trận càn là san bằng địa vùng căn cứ Việt Cộng này đã đạt được.

Nhưng cũng như ngọn cỏ, mầm cây, chỉ vài ngày sau đã lại nhú lên xanh rờn trên đất đỏ, con người cũng vậy, dù mất mát bầm giập, dù hy sinh khá nhiều, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, người đã trở về, đâu vào đấy, lại đào hầm, củng cố khôi phục các đường địa đạo, các cơ sở tổ chức lại hình thành, hoạt động và phát triển. Vụ lúa chuẩn bị gieo sạ đón mùa mưa năm ấy vẫn đều đặn như nhịp sống hai mùa mưa nắng của đất rừng phương Nam.

Quay đi quay lại đã là đêm 30 tết. Anh em đồng đội các đơn vị háo hức hồi hộp chờ đợi giây phút thiêng liêng cảm động nhất, đón nghe thư chúc tết của Bác Hồ gởi cho toàn quân và toàn dân. Cả đơn vị có một chiếc Sương Mao vặn lớn hết cỡ. Được nghe giọng Bác chúc tết. Bác đọc bài thơ Xuân 1967. Anh em đang nuốt từng lời Bác vào tim, uống từng chữ, từng giọt từng giọt nước mắt tràn lên trên hốc mắt trũng sâu, lăn trên gò má hốc hác, nụ cười trên khuôn mặt còn vương đầy khói bom và những mất mát. Sau những ngày cam go gian khổ đã qua, tiếng Bác Hồ thiêng liêng, như ngọn lửa hồng sưởi ấm lòng người chiến sĩ. Tiếng Bác Hồ như truyền thêm sinh lực cho các anh tiếp tục đứng vững trên tuyến đầu Tổ quốc:

Xuân về xin có một lời ca
Gởi chúc đồng bào cả nước ta
Thắng Mỹ hai miền đều đánh giỏi
Tin mừng thắng trận nở như hoa.

Bác đọc xong bài thơ Xuân 1967, tất cả im lặng xúc động trong nước mắt nghẹn ngào, ngay sau đó là tiếng ngâm thơ quen thuộc trong sáng thân thương của người nghệ sĩ ngâm thơ Trần Thị Tuyết cất lên thiết tha âm vang bài thơ xuân của Bác. Tiếng thơ vang ấm lên trong từng căn hầm địa đạo mới được khôi phục sau trận càn Xêđaphôn. Giọng ngâm sao mà hay đến thế, lại được rơi nước mắt vì xúc động, vì niềm tin vào Bác Hồ, vào ngày “toàn thắng ắt về ta”.

Các đơn vị chuẩn bị ăn tết cũng khá, dù còn ở Bến Súc hay đã về Bến Cát chưa kịp củng cố hầm hào sửa sang căn cứ, dù bánh trái không có, bởi nhà dân còn tan hoang, nhưng có gạo là ổn cả. Vịt nuôi của dân con lớn con nhỏ chạy tán loạn tan tác nay vô chủ, lạc ngoài đìa, ven sông, từng bầy từng đàn không có người sử dụng, chúng trở thành vật hoang. Ai bắt được cứ việc ăn tự do. Anh em dượt về nấu cháo, lội xuống kênh, xuống đìa bắt cá, những bừa ăn tự nhiên hôi hổi sức sống, bồi dưỡng sức khỏe, hồi phục sức quân, hồi sức vui vẻ như không có trận càn Xêđaphôn ác liệt vừa xảy ra.

Một chuyện vừa ghê gớm nhưng là chuyện thật thì cứ xin nói ra cho hết. Anh em trong đơn vị ăn tết bựa có nồi cháo vịt và những con cá trê vàng ươm nướng thơm phức, vừa ăn xong, một người hỏi:

- Các cậu có biết mình bắt cá này ở đâu không?

- Ngoài đìa hay bờ kênh chứ còn ở đâu.

- Tớ bắt trong cái đìa sắp cạn, mò thấy cá quá trời, xong rồi đi một khúc mấy mét, có bộ xương người nằm dưới đìa, ớn quá.

Một cậu còn rất trẻ nói:

- Thì lúc chạy rượt đuổi bắt vịt trên ruộng, em cũng thấy bộ xương người nằm sấp sấp nước, cỏ xanh um, hẳn vịt hoang cũng mò vào đó chứ nó đâu biết tránh. Em còn thấy một bao nhỏ, mở ra ở trong toàn tiền nguỵ, nhưng tiền đã mục, rách nát hết rồi.

- Vậy là ta ăn vịt và cá nó ăn phải thứ đó rồi, chết cha rồi.

Mấy người oẹ oẹ... móc móc cổ.

- Thôi có gì thì ta cũng đã ăn mấy ngày liền, tiêu hóa hết trọi hết trơn rồi còn oẹ oẹ nỗi gì nữa giỏi.

- Em thấy ớn quá trời, thôi rày không dám ăn vịt, ăn cá nữa đâu, sợ lắm.

- Thì bây cứ việc ăn cháo trắng, ai bắt.

Nói vậy thôi chứ ngày hôm sau, không ai dám ăn vịt ăn cá nữa. Tội nghiệp cho bay vịt mới bắt về bị bỏ đói, chỉ được uống nước, bỏ thì thương vương thì tội, không ai có đủ tinh thần dũng khí mần vịt mần cá, sau lại phải thả cho chúng đi kiếm ăn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #38 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 09:26:33 pm »


NGƯỜI MỸ ĐÃ NÓI GÌ

Năm 1986, trong một cuộc gặp gỡ nói chuyện với phái đoàn quân sự, cựu quân nhân Mỹ sang Việt Nam, họ có phỏng vấn một số cựu chiến binh Việt Nam, trong đó có anh hùng tình báo Nguyễn Văn Thương, anh Bảy Bê Nguyễn Thanh Xuân - biệt động Sài Gòn, chị Ánh Tuyết - anh hùng biệt động... Một cựu quân nhân Mỹ hỏi anh Thương:

- Tôi được nghe trong trận càn Xêđaphôn, ông là người lập nhiều thành tích, vậy sau đó các ông làm gì, có tổ chức tiệc mừng và được trọng thưởng như thế nào, có mở sâm banh không?

Thương trả lời ngay:

- Có chứ, ngay sau đó chúng tôi ngồi họp bàn chia Mỹ.

Ông ấy ngớ ra không hiểu “chia Mỹ” là gì. Khi Thương giải thích, người phiên dịch phải dịch khá lâu... Ông ta lắc đầu nhún vai, tròn mắt ngạc nhiên, bởi chỉ người Việt Nam ở miền Nam này mới có từ “chia Mỹ”.

Người Mỹ nhìn anh cảm phục bởi họ biết chính CIA Mỹ đã tra tấn, cưa tới sáu lần hết hai chân anh năm 1970. Khi bắt được Nguyễn Văn Thương, vì biết anh nắm được lưới tình báo quan trọng, chúng đã tìm mọi cách dụ dỗ mua chuộc, tra tấn, nhưng anh vẫn không khai.

Một đại tá Mỹ ái ngại hỏi anh Thương:

- Trong những ngày chiến tranh, người Mỹ tra tấn anh, người Mỹ đã cưa hết hai chân anh, vậy anh có căm thù người Mỹ không?

- Tôi căm thù chứ, ngày ấy tôi căm thù người Mỹ đã giết hại nhân dân nước tôi, căm thù người Mỹ đã cưa hai chân tôi. Nhưng sau ngày hòa bình rồi, tôi hiểu trong cuộc chiến tranh xâm lược của người Mỹ và cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập cho dân tộc của chúng tôi thì chuyện hy sinh, chết chóc là không thể tránh khỏi! Chiến tranh là phải có mất mát khi chiến đấu loại trừ nhau, tiêu diệt nhau. Trong chiến tranh thì có kẻ thắng người thua. Người thắng là chúng tôi, người thua là các ông, hai bên đều mất mát cả. Bây giờ tôi không căm thù người Mỹ, mà chỉ căm thù chiến tranh xâm lược, Tôi căm thù tổng thống Mỹ thời kỳ đó gây chiến tranh ở Việt Nam, còn người Mỹ, nhân dân Mỹ yêu chuộng hoà bình, cũng phản đối lên án chiến tranh như chúng tôi, làm sao tôi lại căm thù họ!

Ông Đại tá Mỹ đứng dậy, bắt tay anh thật chặt và xúc động vô cùng. Hẳn ông ấy cũng như bao người dân nước Mỹ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới đang lên án chiến tranh, bắt tay với những ai phản đối chiến tranh.

Còn tướng M. Mácesen đã thú nhận một phần sau trận càn Xêđaphôn: “Cuộc điều tra cho biết: ngay khi quân của chúng ta chưa rút khỏi vùng “Tam giác sắt” thì Việt Cộng đã đột nhập vào từ trước rồi”.

Binh lính sư đoàn số 25 Mỹ ở Đồng Dù rất khiếp sợ bàn chông sáu mũi của nữ du kích Củ Chi, vùng Tam giác sắt. Một đại tá phái viên Bộ quốc phòng Mỹ nghiên cứu về chiến tranh du kích ở Việt Nam, khi đến Đồng Dù đã ngán ngẩm nói: “Xe bọc thép 8 tấn, pháo 105 ly và máy bay chiến lược B52 không tiêu diệt nổi cái bàn chông và chắc chắn không thể thắng nó và người du kích Việt Nam”.

Trận càn Xêđaphôn là một điển hình của tội ác chiến tranh, sự tàn phá và giết hại con người vô cùng khốc liệt của chiến tranh, trong đó người gây chiến tranh xâm lược và người kháng chiến bảo vệ đất nước đều mất mát hy sinh quá nhiều. Hậu quả của nó thật kinh khủng bởi những mất mát về con người, nỗi đau thương trong tâm tưởng và chất độc hoá học để lại cho con người còn dai dẳng mãi cho những thế hệ sau không thể nào kể xiết. Lịch sử đã ghi lại tất cả. Chúng ta đã được chứng kiến và biết đến qua sách báo, phim ảnh, bảo tàng lưu giữ chiến tích chiến tranh...

Và lịch sử lại vẫn đang tiến triển không ngừng, đúng theo quy luật tự nhiên của nó. Như cây cỏ hoa lá trong ánh nắng và gió trời, lại xanh ngời sức sống, con người cũng vậy, ở nơi đây sự sống lại hồi sinh cùng với rừng cây xanh trong đất đỏ của miền Đông Nam bộ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #39 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 09:27:51 pm »


MIỀN ĐÔNG, BẾN CÁT NGÀY NAY

Tôi đang đi trong rừng cao su xanh tươi bạt ngàn của miền Đông Nam Bộ, bồi hồi như có tiếng hát đang vang vọng quanh đây:

Ai đã qua rừng miền Đông đất đỏ
nghe máu đổ nhuộm hồng đã bao lần...
… Trong đấu tranh người miền Đông anh dũng
trong lao động người lại cũng anh hùng...


Thật khó có thể tưởng tượng được miền cây lá thanh bình với bao nhiêu nhà máy xí nghiệp, những khu công nghiệp trù phú hôm nay. Cả một vùng mênh mông khu công nghiệp ngày nay lại chính là nơi mà trước đây đã bị bom đạn hủy diệt tất cả, trong trận càn Xêđaphôn ác liệt nhất của một thời khói lửa chiến tranh, trận càn “bóc vỏ trái đất”.

Nơi đây, mảnh đất vùng Nam Bến Cát, Bình Dương còn đang chứa đựng trong lòng bao nhiêu chiến tích. Những người dân miền Đông Nam Bộ chân chất hiền lành nắm trong tay một pho tư liệu lịch sử bằng vàng. Chỉ vài năm nữa thôi, ở tuổi bảy tám mươi, họ sẽ ra đi hết, mang theo bao nhiêu câu chuyện thần kỳ. Chỉ những con người đã sống trong cuộc chiến tranh trên mảnh đất miền Nam đắng cay chung thủy, trên mảnh đất miền Nam gan góc dạn dày, những con người đã làm nên lịch sử mới có được. Nếu như ta không ghi chép lại thì thật đáng tiếc lắm thay!

Rừng miền Đông Nam Bộ hôm nay vẫn đất đỏ cây xanh bạt ngàn rừng cao su và cây trái. Vùng Nam Bến Cát bây giờ giữa màu xanh còn có bao nhiêu khu công nghiệp mọc lên trông xa xa như một thành phố lạ. Khu công nghiệp Mỹ Phước lớn rộng mênh mông, có hàng chục công ty, nhà máy xí nghiệp hoạt động. Cả một vùng trời đất mênh mông thay da đổi thịt. Con người ở đây lại đang anh dũng trong xây dựng nền kinh tế mới, đang chào đón những người bạn ở khắp nơi, cả người ở nước ngoài, cả người Mỹ cùng đến đây xây dựng kinh tế. Hoà bình là thế, con người chỉ muốn có cuộc sống hoà bình để chung sống và xây dựng kinh tế giầu mạnh. Vì cuộc sống hoà bình mà cả một thế hệ đã chiến đấu dũng cảm, hy sinh bao nhiêu xương máu.

Chao ôi! Giá như không có chiến tranh thì con người đỡ mất mát bao nhiêu! Những cánh rừng cao su, ngút ngàn, vẫn xanh tươi trù phú như bao đời của vùng đất đỏ miền Đông đang ngân vang câu hát:

… Tổ quốc ơi! Ta yêu người mãi mãi
Từ trận thắng hôm nay, ta xây lại bằng mười
Từ trận thắng hôm nay, ta xây lại đẹp hơn.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM