Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:52:27 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bí ẩn sự diệt vong của Liên Xô  (Đọc 101854 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #130 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2009, 08:53:52 pm »

 
Trường cao đẳng Island
Đại học tổng hợp Kent
   
Trung tâm về chính trị xã hội John M. Esbruc
Đại học tổng hợp Kent
   
Trung tâm Phát triển quốc tế
Đại học tổng hợp Mariland
   
Trung tâm Nghiên cứu về chính trị toàn cầu
Đại học tổng hợp bang Georgia
   
Viện Các quan hệ quốc tế mang tên W. Fullbright
Đại học tổng hợp Arkansas
   
Trung tâm Công nghệ chiến lược
Đại học tổng hợp Texas
   
Viện Nghiên cứu quân sự Đại học tổng hợp Texas
   
Trung tâm về Các lý thuyết khí động học, Nghiên cứu và Học vấn
Đại học tổng hợp Hàng không
   
Viện Nghiên cứu Không lực
Đại học tổng hợp Hàng không
   
Viện Nghiên cứu ba bên
Đại học tổng hợp Duke
   
Viện Nghiên cứu quốc tế Đại học tổng hợp Nam Carolina ở Columbia
Hiệp hội Nghiên cứu quốc tế
Đại học tổng hợp Nam Carolina ở Columbia
   
Trung tâm Nghiên cứu Đông Âu và Liên Xô
Đại học tổng hợp Kansas
   
Trung tâm Nghiên cứu quốc tế Kuingli
Đại học tổng hợp Minnesota
   
Dự án Hòa bình trên toàn thế giới Gardoll E. Stassen
Đại học tổng hợp Minnesota
   
Viện Nghiên cứu quốc tế của
Đại học tổng hợp California ở Berkeley
   
Viện Tương lai
Đại học tổng hợp California ở Berkeley
   
Chương trình Quan hệ Trung - Mỹ
Đại học tổng hợp Stanford
   
Trung tâm về Các vấn đề an ninh quốc tế và kiểm soát vũ trang
Đại học tổng hợp Stanford
   
Viện Nghiên cứu khoa học quốc tế Stanford
Đại học tổng hợp Stanford
   
Viện Huver về Các vấn đề chiến tranh, cách mạng và hòa bình
Đại học tổng hợp Stanford
   
Viện về Các vấn đề hợp tác và xung đột toàn cầu tại la Ioll
Đại học tổng hợp California
   
Viện Nghiên cứu quốc tế California tại la Ioll
Đại học tổng hợp California
   
Trung tâm về Quan hệ chiến lược và quốc tế tại Los Angeles
Đại học tổng hợp California
   
Viện Nghiên cứu chủ nghĩa quân phiệt và các khủng hoảng kinh tế
tại Los Angeles Đại học tổng hợp California
   
Viện Những nghiên cứu hiện đại
tại Los Angeles Đại học tổng hợp California
   
Trung tâm Nghiên cứu chủ nghĩa Mác tại Los Angeles
Đại học tổng hợp California
   
Quan điểm thập tự Thiên chúa giáo chống chủ nghĩa cộng sản
tại Los Angeles Đại học tổng hợp California
   
RAND Coporation
   
Trung tâm về Nghiên cứu hành vi Liên Xô trên thế giới
RAND Coporation tại Los Angeles
Đại học tổng hợp California
   
Viện Các khoa học hành vi phương Tây tại Los Angeles
Đại học tổng hợp California
   
Trung tâm Trao đổi kỹ thuật và văn hóa giữa Đông và Tây
(Trung tâm Đông - Tây) Đại học tổng hợp Hawaii
   
Viện Luật biển
Đại học tổng hợp Hawaii
   
Thư viện Quốc hội Mỹ
   
Hội đồng Các quan hệ quốc tế
   
Hiệp hội Kế hoạch hóa quốc gia
   
Quỹ Carnegi dành cho những mục tiêu hòa bình quốc tế
   
Những nghiên cứu Nga
Đại học tổng bang Iowa
   
Chương trình nghiên cứu Nga
Đại học tổng hợp Mỹ
   
Trung tâm Nghiên cứu Nga
Đại học tổng hợp Arizona
   
Chương trình Nghiên cứu Đông Âu và Liên Xô
Đại học tổng hợp Boston
   
Trung tâm về Nghiên cứu các nước và ngôn ngữ Xlavơ
Đại học tổng hợp Vanderbilt
   
Chương trình Nghiên cứu Nga tại Seattle
Đại học tổng hợp Washington
   
Trung tâm Nghiên cứu Nga tại Seattle
Đại học tổng hợp Washington
   
Trung tâm Nghiên cứu Đông Âu và Nga tại Charlotte
Đại học tổng hợp Virginia
   
Chương trình Nghiên cứu Đông Âu và Nga
Đại học tổng hợp George Washington
   
Chương trình Nghiên cứu Nga
Đại học tổng hợp Georgertown
   
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #131 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2009, 08:55:36 pm »

   
Những nghiên cứu Đông Âu và Nga
Đại học tổng hợp Tây Michigan
   
Hội đồng Nghiên cứu Nga và Đông Âu
Đại học tổng hợp Yale
   
Trung tâm Nghiên cứu Nga và Đông Âu
Đại học tổng hợp California
   
Trung tâm Nga và Đông Âu tại Los Angeles
Đại học tổng hợp California
   
Trung tâm Nghiên cứu Xlavơ và Đông Âu
Đại học tổng hợp Colorado
   
Ủy ban về Nghiên cứu Liên Xô
Đại học tổng hợp Cornelli
   
Trung tâm Nghiên cứu Nga
Đại học tổng hợp bang Louisiana
   
Chương trình Nghiên cứu Liên Xô và Đông Âu
Đại học tổng hợp Massachusetts
   
Chương trình Nghiên cứu Nga
Đại học tổng hợp Minnesota
   
Trung tâm Nghiên cứu Nga và Đông Âu
Đại học tổng hợp Missouri
   
Chương trình Nghiên cứu Liên Xô và Đông Âu
Đại học tổng hợp Maryland
   
Chương trình Nghiên cứu Liên Xô và Đông Âu
Đại học tổng hợp Notre Dame
   
Hiệp hội Các giáo sư và giảng viên của Đại học tổng hợp bang New- York nhằm tiến hành nghiên cứu Nga và Đông Âu
   
Chương trình Nghiên cứu Nga và Đông Âu tại Binghamton
Đại học tổng hợp bang New- York
   
Chương trình Nghiên cứu Liên Xô, các nước Đông Âu và Trung Âu
tại Buffalo Đại học tổng hợp bang New- York
   
Ủy ban về Nghiên cứu Đông Âu tại Olbani
Đại học tổng hợp bang New- York
   
Trung tâm Nghiên cứu Xlavơ và Đông Âu
Đại học tổng hợp bang Ohio
   
Trung tâm Nghiên cứu Nga và Xô Viết
Đại học tổng hợp Oklahoma
   
Chương trình nghiên cứu Xô Viết
Trường cao đẳng Occidental
   
Trung tâm Nghiên cứu ngôn ngữ và các vùng Liên Xô, các nước Xlavơ
Đại học tổng hợp Pensillvania
   
Trung tâm Nghiên cứu Trung Âu
Đại học tổng hợp Portland
   
Những nghiên cứu Nga
Đại học tổng hợp Rocherter
   
Trung tâm Nghiên cứu Nga và Đông Âu
Đại học tổng hợp Rowen
   
Những nghiên cứu Nga
Trường cao đẳng Redclif
   
Chương trình chung những nghiên cứu Nga và Đông Âu
Đại học tổng hợp bang Bắc Carolina và Đại học tổng hợp Duke
   
Viện Nghiên cứu Xlavơ
 Đại học tổng hợp bang Bắc Ohio
   
Hội đồng về Những nghiên cứu Nga
Đại học tổng hợp Siracuse
   
Chương trình nghiên cứu Nga
Đại học tổng hợp Setton - Holls
   
Trung tâm Nghiên cứu Nga và Đông Âu
Đại học tổng hợp Stanford
   
Chương trình nghiên cứu Nga và châu Á
Đại học tổng hợp Stetson
   
Ủy ban về Nghiên cứu Đông Âu
Đại học tổng hợp Taxas
   
Chương trình nghiên cứu Liên Xô
Đại học tổng hợp Akron
   
Chương trình nghiên cứu Xô Viết
Đại học tổng hợp Emori
   
Viện Nghiên cứu Liên Xô
   
Ban Thông tin và Nghiên cứu về Nga
   
Hội đồng quốc gia về Nghiên cứu Liên Xô và các nước Đông Âu
   
Viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và điều hành
Đại học tổng hợp bang Alaska
   
Hội Nghiên cứu các dân tộc Đông Âu, Bắc và Trung Á của Mỹ
   
Trung tâm Nghiên cứu miền Bắc
Đại học tổng hợp bang Vermont
   
Viện Ucraina
Đại học tổng hợp Harvard
   
Bộ môn Nghiên cứu Ural và Altai
Đại học tổng hợp bang Idiana
   
Quỹ Nghiên cứu Ucraina
   
Trung tâm Nghiên cứu Nga, Đông Âu và châu Á
Trường cao đẳng Boston
   
Viện Hồi ký Battel
   
Hội thảo Công nghệ tôn vinh luật pháp Sv. Vladimir
   
Chương trình nghiên cứu Liên Xô và khu vực Đông Âu
Đại học tổng hợp Havard
   
Khoa Những ngôn ngữ và văn học Xlavơ
Đại học tổng hợp George Washington
   
Phân ban Nga của Khoa Ngoại ngữ và văn học
Đại học tổng hợp Georger Mason
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #132 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2009, 08:56:35 pm »

   
Khoa Văn học và ngôn ngữ Nga
Đại học tổng hợp Georgetown
   
Trung tâm chiến lược và kinh tế nghiệp đoàn
Đại học tổng hợp Duke
   
Hội thảo Nghiên cứu Nga
Đại học tổng hợp Yale
   
Phòng thí nghiệm Nghiên cứu những vấn đề dân chủ tại Los Angeles
Đại học tổng hợp California
   
Trung tâm Nghiên cứu hệ thống giáo dục xã hội
Đại học tổng hợp Kent
   
Phân ban Nga của Khoa Ngôn ngữ Xlavơ và Đức
Đại học tổng hợp Maryland
   
Viện Nghiên cứu Nhà hát và Kịch Đông Âu
Đại học tổng hợp thành phố New York
   
Hội nghị Xô - Mỹ về văn học Nga
Đại học tổng hợp Tây Bắc
   
Khoa Nga Trường cao đẳng Trinity
   
Trung tâm nghiên cứu Thiên chúa giáo phương Đông
Đại học tổng hợp Fordham
   
Viện Đào tạo tâm lý và quân sự
   
Tổ chức Nghiên cứu và đánh giá lịch sử quân sự
   
Hội đồng về những ưu tiên kinh tế
   
Trung tâm Phân tích chiến dịch hải quân
   
Trung tâm nghiên cứu Tình hình tôn giáo
và Quyền con người trong những xã hội khép kín
   
Trung tâm nghiên cứu các nước
Đại học tổng hợp Mỹ
   
Nghiên cứu những xã hội đang biến đổi
Trường cao đẳng Brooklyn
   
Viện Tâm lý chính trị
Trường cao đẳng Brooklyn
   
Viện Nghiên cứu so sánh các khu vực ở nước ngoài
Đại học tổng hợp Washington
   
Viện Tây Âu
Đại học tổng hợp Columbia
   
Văn phòng nghiên cứu kinh tế nông nghiệp
Đại học tổng hợp Chicago
   
Ủy ban Nghiên cứu văn học đối chiếu
Đại học tổng hợp Chicago
   
Viện nghiên cứu về những vấn đề của Khối Xô - Trung
   
Quỹ đào tạo kinh tế
   
Trung tâm nghiên cứu Nhà hát quốc tế
Đại học tổng hợp bang Kansas
   
Trung tâm nghiên cứu những phương pháp giải quyết xung đột
Đại học tổng hợp George Mason
   
Viện Cake về Những nghiên cứu chiến lược quốc tế
Đại học tổng hợp Clermont
   
Chương trình nghiên cứu Các vấn đề thế giới
Đại học tổng hợp Cornelli
   
Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á
Đại học tổng hợp Cornelli
   
Trung tâm nghiên cứu quốc tế
Đại học tổng hợp Cornelli
   
Trung tâm nghiên cứu quốc tế
Đại học Công nghệ Massachusetts
   
Trung tâm các vấn đề quốc tế Minesota
Đại học tổng hợp Minesota
   
Trung tâm nghiên cứu quốc tế
Đại học tổng hợp Pittsburg
   
Trung tâm nghiên cứu Giải quyết hòa bình các xung đột
Đại học tổng hợp Wener
   
Viện Nghiên cứu chính trị nước ngoài
Đại học tổng hợp Philadelphia
   
Viện Nghiên cứu quốc tế
Đại học tổng hợp bang Florida
   
Viện Nghiên cứu quốc tế
Đại học tổng hợp Ferli Dickinson
   
Hội thảo các trường đại học về vấn đề “Lực lượng vũ trang và xã hội”
Đại học tổng hợp Chicago
   
Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và chính trị nước ngoài
Đại học tổng hợp Chicago
   
Trung tâm Nghiên cứu các vấn đề thế giới
Đại học tổng hợp Akron
   
Trung tâm nghiên cứu quốc tế
Đại học tổng hợp Emori
   
Viện Quan hệ quốc tế
Đại học tổng hợp bang Utah
   
Hội đồng Đại Tây dương Mỹ
   
Phân hiệu Washington
Trung tâm Nghiên cứu chiến lược
   
Viện Phân tích chính trị nước ngoài
   
Viện Nghiên cứu chính trị nước ngoài
   
Viện Nghiên cứu những vấn đề hiện đại
   
Viện Hòa bình thế giới
   
Viện Quan hệ Mỹ - Liên Xô
   
Hội quốc tế về Nghiên cứu các vấn đề thế giới
   
Nghiệp đoàn Nghiên cứu Chính phủ
   
Viện Nghiên cứu lịch sử Eisenhower
   
Trung tâm TEMP - Tổ hợp Công nghiệp quân sự “General Electric”
   
Viện Nga của Quân đội Mỹ
   
Hãng Royteur
   
Ủy ban vì Hòa bình từ quan điểm sức mạnh
   
Phòng Nghiên cứu của Quốc hội
   
Viện Tìm kiếm chương trình hành động chung
   
Viện các vấn đề nhân đạo Espin
   
Trung tâm Washington Nghiên cứu chính trị đối ngoại Robert Oshud
   
Hiệp hội Mỹ “Đóng góp quốc gia vào nền dân chủ”
   
Hãng thông tấn Nghiên cứu các dự án tương lai về vấn đề phòng thủ
   
Trung tâm Meridian
   
Trường cao đẳng Oberlin
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #133 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2009, 09:00:20 pm »


Phụ lục N0 3.
Những nhà xô viết học Mỹ


Brzezinxki Zbignaiev Alfred. Sinh năm 1928 tại Varsava, trong gia đình một nhà ngoại giao từng được bổ nhiệm công tác tại Canada; vợ là cháu của cựu Tổng thống Tiệp Khắc Benesa; nhập quốc tịch Mỹ năm 1958. Học vấn: tú tài và cử nhân tại Trường đại học tổng hợp Gilla (Montreal, Canada, năm 1949); tiến sĩ triết học tại Trường đại học tổng hợp Harward năm 1953. Năm 1953 - 1962 là nhân viên khoa học, sau là giáo sư Trung tâm nghiên cứu Nga của Trường đại học tổng hợp Harward; năm 1960 là giáo sư môn điều hành quốc gia Trường đại học tổng hợp Columbia; năm 1962 - 1976 là người sáng lập và là giám đốc đầu tiên của Viện Nghiên cứu các vấn đề về chủ nghĩa cộng sản (năm 1975 đổi thành Viện Những thay đổi quốc tế của Trường đại học tổng hợp Columbia; năm 1968 là cố vấn, thành viên Hội đồng Hoạch định chính sách Bộ Ngoại giao Mỹ; từ năm 1973 làm lãnh đạo Hội đồng Quan hệ quốc tế; năm 1977 - 1981 làm trợ lý cho Tổng thống J. Cater về vấn đề an ninh quốc gia; từ năm 1981 là cố vấn của Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế của Trường đại học tổng hợp Georgetown ở Washington. Năm 1981 được thưởng Huy chương “Tự do”. Tác giả và đồng tác giả của 20 cuốn sách.

Billington Jams. Sinh năm 1929. Tú tài và cử nhân của Trường đại học tổng hợp Prinston năm 1950; tiến sĩ triết học của Trường đại học tổng hợp Oxford năm 1953. Quan tâm tới nước Nga ngay từ khi còn học phổ thông do hội chứng - Tại sao các nước châu Âu đã gục ngã trước đòn tấn công của Hítle, ngoại trừ Liên Xô; cuốn sách đầu tiên về nước Nga mà ông ta đã đọc là “Chiến tranh và hòa bình” của L. Tolxtoy. Năm 1953 - 1956 phục vụ trong quân đội với quân hàm trung úy. Từ cuối những năm 1950 là nhân viên khoa học của Trung tâm Nghiên cứu quốc tế Trường đại học tổng hợp Prinston; từ năm 1973 là giáo sư môn lịch sử Nga của trường này; từ năm 1975 làm Giám đốc Trung tâm quốc tế Những nhà khoa học mang tên V. Wilson của Trường đại học tổng hợp Smithsonian (Washington); năm 1985 là một trong số 6 chuyên gia tư vấn cho Tổng thống Mỹ R. Reagan trước chuyến đến Geneve gặp mặt lần đầu với M. X. Gorbachov; từ năm 1988 giữ cương vị Giám đốc Thư viện Quốc hội Mỹ; là chủ tịch Hiệp hội Mỹ Nghiên cứu Xlavơ; đã nhiều lần sang Liên Xô (lần đầu tiên vào năm 1957, sau đó viết bài “Sự hồi sinh của giới trí thức Nga”, đã từng làm việc tại Thư viện Lênin). Là chuyên gia trong lĩnh vực văn hóa Nga, thành viên của Hội đồng Quan hệ quốc tế. Tác giả của 3 cuốn sách.

Gollmen Marshall D. Sinh năm 1930. Học vấn: tú tài Trường đại học tổng hợp Pensilvania năm 1952; cử nhân Trường đại học tổng hợp Harward năm 1956; tiến sĩ triết học của Trường đại học tổng hợp Harward năm 1961. Những năm 1953 - 1955 phục vụ trong quân đội; từ năm 1957 là giảng viên môn kinh tế - chính trị, làm phó giáo sư, giáo sư rồi trưởng Khoa Kinh tế của Trường đại học tổng hợp Harward, thành viên ban Giám đốc ngân hàng; những năm 1964 - 1975 là thành viên ủy ban Những nhà dc; từ năm 1975 là đồng giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nga Harward, thành viên của ban tư vấn Xô Viết học cho Tổng thống G. Bush tổ chức vào ngày 12 tháng 2 năm 1989. Tác giả của 11 cuốn sách về kinh tế Xô Viết và bài báo “Hãy giải tán, đừng trở thành thù địch” được đăng trên báo chí Xô Viết.

Dallin Alekxandr Davydovich. Sinh năm 1924 tại Berlin, đến nước Mỹ năm 1940, nhập quốc tịnh Mỹ năm 1943. Học vấn: tú tài Trường cao đẳng New-York năm 1946; cử nhân Trường đại học tổng hợp Columbia năm 1947 và thành tiến sĩ triết học của trường này vào năm 1953. Những năm 1943 - 1946 phục vụ trong quân đội. Những năm 1956 - 1971 là trợ giảng, phó giáo sư và giáo sư môn quan hệ quốc tế của Trường đại học tổng hợp Columbia (vào thời gian đó A. N. Iacovlev và O. D. Kalugin sang học tại trường này); những năm 1962 - 1967 là Giám đốc Viện Nga của trường này, đồng thời vào năm 1962 - 1970 là cố vấn của Bộ Ngoại giao Mỹ; năm 1971 - 1978 là giáo sư môn lịch sử và chính trị học, sau làm Chủ tịch ủy ban Kế hoạch hóa Nghiên cứu Nga và Đông Âu của Trường đại học tổng hợp Stanford; làm Giám đốc của Viện Garrimanov Nghiên cứu sâu về Liên Xô của Trường đại học tổng hợp Columbia; là Chủ tịch Hiệp hội Mỹ Nghiên cứu Xlavơ, Chủ tịch Hội đồng quốc gia về Nghiên cứu Xô Viết và Đông Âu; thành viên của Hội đồng Quan hệ quốc tế. Tác giả và đồng tác giả hoặc chủ biên của 14 cuốn sách về những nhân tố bên trong của đường lối đối ngoại Xô Viết.

Kan German. Sinh năm 1922, mất năm 1983. Học vấn: Trường đại học tổng hợp California, và Viện Công nghệ California. Những năm 1945 - 1946 là nhân viên của Hãng “Duglas Aercraft”; những năm 1952 - 1960 là cố vấn của ủy ban chính phủ về năng lượng hạt nhân; từ năm 1961 là sáng lập viên và Giám đốc của Viện Hudson chuyên nghiên cứu về những vấn đề chiến lược chính trị - quân sự Mỹ; cố vấn của Hãng “Boing”, Cục Động viên Bộ Quốc phòng Mỹ, Bộ Không quân Mỹ và làm việc cho RAND Coporation.

Kenan George (con). Sinh năm 1904. Học vấn: tú tài Trường đại học tổng hợp Prinston năm 1925. Những năm 1926 - 1949 làm trong ngành ngoại giao, trong thời gian đó đã làm tham tán tại Latvi; mùa xuân năm 1945 đã viết “Vị thế quốc tế của Nga sau khi kết thúc chiến tranh với Đức” theo yêu cầu của Bộ Ngoại giao Mỹ. Theo ông, phương Tây cần ra tay phát triển các sự kiện ở Liên Xô. Những năm 1949 - 1952 làm đại sứ Mỹ tại Liên Xô. Tác giả của cái gọi là “Bức điện báo dài” vào ngày 22 tháng 2 năm 1946 (xem Phụ lục 1). Bị trục xuất khỏi Liên Xô. Những năm 1961 - 1963 là đại sứ Mỹ tại Nam Tư; lãnh đạo Vụ Kế hoạch Bộ Ngoại giao Mỹ. Giáo sư môn chính trị học của Trường đại học tổng hợp Prinston. Là sáng lập viên và Giám đốc và Chủ tịch Viện Nghiên cứu chuyên sâu Nga tại Washington mang tên Kenan George (cha); thành viên của Hội đồng Quan hệ quốc tế. Tác giả của 12 cuốn sách. Ngày 5 tháng 4 năm 1989 đã phát biểu trước ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ đòi Mỹ phải phản ứng với công cuộc cải tổ ở Liên Xô.

Kissindger Herri Alfred. Sinh năm 1923 tại thành phố Fuert (Đức). Sống tại Mỹ từ năm 1938; nhập quốc tịch Mỹ năm 1943. Học vấn: tú tài Trường đại học tổng hợp Harward năm 1950; làm giảng viên của trường này năm 1952; tiến sĩ triết học của Trường đại học tổng hợp Harward năm 1954. Những năm 1943 - 1946 phục vụ tại ban tình báo Tập đoàn quân số 8 (Mỹ). Những năm 1954 - 1971 là giảng viên, phó giáo sư, giáo sư môn chính trị học tại Trường đại học tổng hợp Harward; Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu quốc tế; những năm 1957 - 1975 là cố vấn Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ (SNC); 1969 -1975 là trợ lý đặc biệt của Tổng thống Nixon về an ninh quốc gia; 1973 - 1977 là Bộ trưởng Ngoại giao; từ năm 1978 là Chủ tịch ủy ban Tư vấn quốc tế của Ngân hàng Thương mại Mỹ “Chase Manhattan Bank”. Thành viên của ban Giám đốc Hội đồng Quan hệ quốc tế. Được trao Giả thưởng Nobell Hòa bình vì chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Tác giả của 11 cuốn sách.

Pips Richard. Sinh năm 1923 tại thành phố Chesyn (Ba Lan); di cư sang Mỹ năm 1940; nhập quốc tịch Mỹ năm 1943. Học vấn: tú tài Trường đại học tổng hợp Cornelli năm 1945; giảng viên Trường đại học tổng hợp Harward năm 1947; tiến sĩ triết học năm 1950. Những năm 1943 - 1946 phục vụ trong quân đội. Từ năm 1950 giảng dạy tại Harward. Những năm 1953 - 1962 là nhân viên khoa học của Viện Nghiên cứu Nga thuộc Trường đại học tổng hợp Harward; năm 1962 - 1964 là Phó giám đốc và năm 1968 - 1973 là Giám đốc viện này; trưởng nhân viên khoa học của Trung tâm Nghiên cứu chiến lược Trường đại học tổng hợp Stanford. Năm 1986 lãnh đạo nhóm “B” chuyên đánh giá về tiềm năng quân sự Xô Viết. Năm 1981 - 1982 là Vụ trưởng Vụ Đông Âu và Liên Xô của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ. Giáo sư lịch sử Trường đại học tổng hợp Harward. Đã vài lần đến Liên Xô. Tác giả các cuốn sách “Giáo dục của Liên Xô“, “Nước Nga trong chế độ cũ”, Quan hệ Xô - Mỹ trong thời đại giải trừ quân bị”. Thành viên biên tập của các tạp chí: “Bình luận chiến lược”, “Orbis”, “Tạp chí Nghiên cứu chiến lược”, “Chiến lược so sánh”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #134 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2009, 09:02:09 pm »


Rise Condoleezza. Sinh ngày 14 tháng 11 năm 1954, người Mỹ gốc Phi, chưa lấy chồng. Tú tài chính trị học Trường đại học tổng hợp Denver; cử nhân Trường đại học tổng hợp Notr Dam (Indiana); tiến sĩ Trường Nghiên cứu quốc tế thuộc Trường đại học tổng hợp Denver (với luận văn “Mối quan hệ quân sự Liên Xô - Tiệp Khắc” được sự hướng dẫn của Dzosef Corbel - cha của M. Olbright, cựu đại sứ, xuất thân là người Tiệp Khắc). Biết tiếng Nga hoàn hảo. Vào cuối những năm 1970 đã thực tập 1 năm tại Trường đại học tổng hợp Lomonoxov (MGU). Từ năm 1981 là nhân viên khoa học của Chương trình cắt giảm vũ khí và giải trừ quân bị của Viện Huver; từ năm 1986 làm việc tại Hội đồng Quan hệ quốc tế, đồng thời là trợ lý của giám đốc Ban Những vấn đề kế hoạch hóa chiến lược hạt nhân của ủy ban Các tham mưu trưởng; từ năm 1989 làm tại Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ là trợ lý đặc biệt của Tổng thống về an ninh quốc gia và là Vụ trưởng Vụ Những vấn đề về Liên Xô và Đông Âu. Ngay sau khi Bush (cha) tiếp nhận công việc của Ronald Reagan, bà ta đã cùng với 6 chuyên gia về Liên Xô và Đông Âu tổ chức một cuộc hội thảo dành riêng cho Tổng thống. Khi Elxin tới thăm Mỹ, ủy viên Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ Scrowcfot đã tiếp ông ta tại Nhà Trắng thì chính bà là người phiên dịch. Những năm 1991 - 1993 bà ta là nhân viên khoa học của Viện Huver; từ năm 1992 là Hiệu trưởng Trường đại học tổng hợp Stanford và là giáo sư trẻ nhất về lịch sử của nhà trường.

Là thành viên Hội đồng Quan hệ quốc tế, thành viên Hội đồng Giám đốc của Hãng dầu mỏ “Sevron”, thành viên Hội đồng quốc tế của Ngân hàng “Morgan”. Từ năm 2001 là trợ lý Tổng thống Mỹ về an ninh quốc gia. Tác giả các cuốn sách: “Lòng chung thủy đáng ngờ: Liên Xô và Quân đội Tiệp Khắc”, “Kỷ nguyên Gorbachov”, “Những Đức thống nhất và Châu Âu đang chuyển đổi”.

Xirin Edwin Blak. Sinh năm 1915. Học vấn: tú tài Trường đại học tổng hợp Duke năm 1936; cử nhân Trường đại học tổng hợp Harward năm 1937; tiến sĩ triết học năm 1941 Trường đại học tổng hợp Harward. Từ năm 1939 là giảng viên, trợ lý, phó giáo sư và giáo sư môn lịch sử của Trường đại học tổng hợp Priston; những năm 1943 - 1946 là cố vấn Bộ Ngoại giao Mỹ về các nước Đông Âu; những năm 1950 - 1951 là nhân viên khoa học của Trường cao đẳng quân sự; những năm 1968 - 1986 là Hiệu trưởng Trung tâm Nghiên cứu quốc tế của Trường đại học tổng hợp Prinston, thành viên của Hội đồng Quan hệ quốc tế. Tác giả 7 cuốn sách, đồng tác giả và chủ biên của 9 cuốn sách về lịch sử Liên Xô và đường lối đối ngoại Xô Viết.

Taker Robert Charles. Học vấn: tú tài Trường đại học tổng hợp Michigan và Harward. Những năm 1944 - 1953 là tùy viên Đại sứ quán Mỹ tại Matxcơva . Những năm 1958 - 1962 là giáo sư bộ môn quốc gia và pháp luật của Trường đại học tổng hợp Idiana; từ năm 1962 là giáo sư chính trị học của Trường đại học tổng hợp Prinston, Giám đốc Chương trình nghiên cứu Nga của trường này vào những năm 1963 - 1973. Tư năm 1980 là giáo sư danh dự của Trường đại học tổng hợp Prinston, là nhà tâm lý chính trị, Chủ tịch Hội Xlavơ học của Mỹ. Tác giả của 11 cuốn sách và của bản báo cáo “Đồng hồ lịch sử Nga đang chỉ giờ nào?” đã từng được đăng trên báo chí Xô Viết.

Ulam Adam Bruno. Sinh năm 1922 tại thành phố Lvov; sang Mỹ từ năm 1939, nhập quốc tịch Mỹ vào năm 1949. Học vấn: tú tài Trường đại học tổng hợp Braun năm 1943; tiến sĩ triết học Trường đại học tổng hợp Harward năm 1947. Từ năm 1947 giảng dạy tại Harward; những năm 1953 - 1955 là nhân viên khoa học của Trung tâm Nghiên cứu quốc tế của Trường đại học Công nghệ Massachusets; từ năm 1959 là nhân viên khoa học; từ năm 1980 là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nga của Trường đại học tổng hợp Harward. Là một trong những người tham gia cuộc hội thảo Xô Viết học dành cho Bush (cha) vào ngày 12 tháng 2 năm 1989. Tác giả của 15 cuốn sách về lịch sử và đường lối đối ngoại Nga và Liên Xô.

Horelic Arnold. Lãnh đạo nhóm Nghiên cứu Liên Xô và các nước Đông Âu tại RAND Coporation; Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Hành vi của Liên Xô ở nước ngoài của RAND Coporation và Trường đại học tổng hợp California. Thành viên Hội đồng Quan hệ quốc tế. Từ năm 1987 là thành viên biên tập tạp chí “Kinh tế Xô Viết”; tác giả của 4 cuốn sách về đường lối đối ngoại và quân sự Liên Xô; Thông tin viên của Bush (cha) trước chuyến viếng thăm gặp lần đầu tiên với Gorbachov vào năm 1989.

Sulman Marshall Derrow. Sinh năm 1916. Học vấn: tú tài Trường đại học tổng hợp Michigan năm 1937, cử nhân Trường đại học tổng hợp Columbia năm 1948; tiến sĩ triết học Trường đại học tổng hợp Columbia năm 1959. Năm 1939 - 1940 nhân viên Chính phủ Mỹ tại Liên Hợp Quốc; những năm 1942 - 1946 phục vụ trong Lực lượng Không quân Mỹ với quân hàm đại úy; những năm 1950 - 1954 là nhân viên Bộ Ngoại giao Mỹ; những năm 1954 - 1962 là Phó giám đốc Viện Nghiên cứu Nga thuộc Trường đại học tổng hợp Harward; những năm 1967 - 1977 là giáo sư, Giám đốc Viện Nga trực thuộc Trường đại học tổng hợp Columbia; những năm 1977 - 1980 là cố vấn của Bộ trưởng Ngoại giao Wens và nghỉ hưu cùng ông ta. Là Giám đốc Hội đồng Quan hệ quốc tế vào những năm 1972 - 1977, thành viên Câu lạc bộ Billderberg. Tác giả của 5 cuốn sách về quan hệ Mỹ - Liên Xô. Chủ tịch Hội Những người Mỹ nghiên cứu Xlavơ.

Israel Dzeremi. Sinh năm 1935. Học vấn: tú tài Trường đại học tổng hợp Harward năm 1956; cử nhân Trường đại học tổng hợp Harward năm 1959; tiến sĩ triết học Trường đại học tổng hợp Harward năm 1961. Năm 1958 - 1959 sang Trường đại học tổng hợp Lomonoxov MGU thực tập (theo chương trình trao đổi với Iakovlev với Kalugin). Từ năm 1961 là trợ giảng, phó giáo sư, giáo sư chính trị học của Trường đại học tổng hợp Chicago, Chủ tịch ủy ban Nghiên cứu các nước Xlavơ của trường, lãnh đạo Dự án “Chủ nghĩa cộng sản so sánh”. Từ năm 1983 là thành viên Hội đồng Kế hoạch của Bộ Ngoại giao Mỹ. Từ năm 1985 là giáo sư chính trị học thuộc Trung tâm Nghiên cứu hành vi Liên Xô ở nước ngoài của RAND Coporation và Trường đại học tổng hợp California, Giám đốc RAND Coporation. Từng sang Liên Xô nghiên cứu trước sự kiện tháng 8 năm 1991. Tác giả và đồng tác giả của 5 cuốn sách về mối tương quan trong đường lối đối nội và đối ngoại Liên Xô.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #135 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2009, 06:42:33 pm »


Phụ lục N0 4.
Chỉ thị của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ (NSC) N0 20/1,
ngày 18 tháng 8 năm 1948

   
Tuyệt mật

Những mục tiêu của Mỹ đối với Nga.

Chỉ lệnh NSC 20/1 được ra đời để đáp ứng yêu cầu của Thư ký an ninh quốc gia Jams V. Forrestol cung cấp cho ông “một diễn đạt dễ hiểu của đường lối quốc gia” đối với Liên Xô, trên cơ sở đó, nếu thiếu cách diễn đạt đó “không thể có những quyết định lô gic...”1. được Bộ Tham mưu kế hoạch chính trị soạn thảo, tài liệu này thể hiện một quan điểm đầy đủ nhất thời đó về những mục tiêu của chính sách kiềm chế cần đạt tới.

Tài liệu xác lập hai mục tiêu chủ yếu của chính sách Mỹ đối với Liên Xô:

1) Làm giảm sức mạnh và ảnh hưởng của Liên Xô đến mức độ không thể đe dọa tới sự ổn định của thế giới;

2) Giành được những thay đổi căn bản trong lý luận và thực tế quan hệ quốc tế của Chính phủ Xô Viết.

Khác với Chỉ lệnh NSC 7 (tài liệu 20), Chỉ lệnh NSC 20/1 nhấn mạnh sự phân biệt giữa Liên Xô và phong trào cộng sản quốc tế và nhất trí với luận chứng trong PPS 35 (tài liệu 21), xem xét tới khả năng hình thành sự phân rã giữa chúng như một phương tiện giành những mục tiêu chính trị của Mỹ.

NSC 20/1 chú trọng tới thái độ mong muốn giành được những kết quả của chính sách kiềm chế bằng những phương tiện phi quân sự, mặc dù vẫn công nhận khả năng phát động, vô tình hoặc cố ý, chiến tranh. Trong phần kết luận, tài liệu đề cập tới vấn đề chính sách của Mỹ trong trường hợp đó. Đặc biệt là trong tài liệu chú trọng tới đường lối trung lập hóa, chứ không nhằm tiêu diệt chính quyền Xô Viết, đồng thời phủ nhận học thuyết đầu hàng vô điều kiện đã từng rất phổ biến trong chiến tranh thế giới II.

I. Nhập đề

Rõ ràng là Nga, vừa như một sức mạnh độc lập, vừa như một trung tâm của phong trào cộng sản thế giới, trong thời gian gần đây đã trở thành vấn đề chủ yếu trong chính sách quốc tế của Mỹ và trong nước đang xuất hiện thái độ quan tâm và bất bình sâu sắc với những mục tiêu và phương thức của các thủ lĩnh Xô Viết. Vì vậy, đường lối của Chính phủ chúng ta được xác định chủ yếu bởi ý nguyện của chúng ta làm thay đổi đường lối Xô Viết và thay đổi tình hình quốc tế.

Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có được một diễn giải chính xác về những mục tiêu của Mỹ đối với Nga. Và điều đặc biệt quan trọng, với quan điểm quan tâm hơn nữa của Chính phủ ta đối với Nga để những mục tiêu này được định hình và được chấp thuận bởi mọi cơ quan Chính phủ có liên quan tới vấn đề của Nga và chủ nghĩa cộng sản. Trong trường hợp ngược lại, có khả năng mọi nỗ lực trong việc giải quyết vấn đề có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt này sẽ bị phân tán.

II. Dẫn luận

Có hai công thức ứng xử của các mục tiêu quốc gia đối với những nhân tố chiến tranh và hòa bình.

Công thức thứ nhất cho rằng, những mục tiêu quốc gia là thường xuyên và những thay đổi tình hình trong nước sẽ không thể có ảnh hưởng gì với chúng, như việc chuyển từ chiến tranh sang hòa bình; rằng phải thường xuyên thực hiện chúng bằng cả những phương tiện phi quân sự cũng như quân sự tùy theo từng trường hợp. Clausewitz2 đã diễn đạt chính xác nhất công thức này, rằng “chiến tranh là sự tiếp tục của chính trị được kết hợp với những phương tiện khác”.

Công thức đối lập cho rằng những mục tiêu quốc gia trong thời chiến và trong thời bình cơ bản không liên quan với nhau. Theo công thức này sự tồn tại của tình trạng chiến tranh sẽ tạo ra những mục tiêu chính trị riêng của nó, và vì lý do ưu tiên, chúng sẽ lấn át những mục tiêu thông thường của thời bình. Chính công thức này đã từng chiếm ưu thế chủ yếu trong đất nước chúng ta. Công thức này chiếm ưu thế chủ yếu trong cuộc chiến tranh vừa qua, khi chiến thắng trong chiến tranh chỉ ở mức như một chiến dịch quân sự và là nhiệm vụ chủ yếu của đường lối Mỹ, còn những nội dung khác đều lệ thuộc vào nó.

Rõ ràng, trong những mục tiêu của Mỹ đối với Nga, không một công thức nào trên đây có thể chiếm hoàn toàn ưu thế.

Trước hết, vì những nhiệm vụ của cuộc chiến tranh chính trị đang phát triển hiện nay Chính phủ chúng ta đã buộc phải xem xét những mục tiêu quân sự và xác định hơn đối với Nga ngay từ bây giờ, trong thời bình, hơn là những mục tiêu đối với Đức và Nhật bản trước ngưỡng cửa của những hành động quân sự thực tế với những nước này.

Hai là, kinh nghiệm của cuộc chiến tranh vừa qua đã dạy cho chúng ta lòng mong muốn chinh phục những hành động quân sự của chúng ta bằng một công thức thực tiễn và chính xác của những nhiệm vụ chính trị dài hạn mà chúng ta muốn đạt được. Đây là điều đặc biệt quan trọng trong trường hợp có chiến tranh với Liên Xô. Liệu chúng ta có thể mong đợi rằng chúng ta sẽ hoàn thành cuộc chiến tranh này cùng một kết cục chính trị và quân sự như trong trường hợp của cuộc chiến tranh chống Đức và Nhật Bản vừa qua. Vì vậy, khi mọi sự chưa rõ ràng là những mục tiêu của chúng ta không nằm trong một chiến thắng quân sự, mà vì thế công chúng Mỹ sẽ khó nhận thức được rằng trên thực tế sẽ là một kết cục xung đột như mong muốn. Công chúng có thể trông chờ vào một kết cục quân sự to lớn hơn rất nhiều so với mức cần thiết, thậm chí là quá cả sự mong đợi trong quan điểm giành được thực sự những mục tiêu của chúng ta. Nếu mọi người đều sẽ hiểu rằng những mục tiêu của chúng ta là sự đầu hàng vô điều kiện, chiếm đóng hoàn toàn và có một chính phủ quân sự theo mô hình của Đức và Nhật Bản, thì họ, đương nhiên, sẽ cảm nhận rằng, ngoại trừ những thành tựu này, mọi cái khác hoàn toàn không phải là một chiến thắng thực sự và họ sẽ không thể đánh giá sự điều chỉnh mang tính xây dựng và thực sự cơ bản.

Cuối cùng, chúng ta phải công nhận rằng những mục tiêu của Xô Viết tự thân là thực sự vĩnh cửu. Những bước chuyển từ chiến tranh sang hòa bình đã thực sự không ảnh hưởng tới họ. Ví dụ, những mục tiêu về lãnh thổ của Xô Viết đối với Đông Âu đã từng là hiển nhiên trong diễn biến của cuộc chiến tranh đang rất giống với chương trình mà Chính phủ Xô Viết đã nỗ lực hiện thực hóa bằng các phương tiện phi quân sự trong những năm 1939 - 1940, và về bản chất, giống như một số công thức chính trị và chiến lược có trong đường lối Nga hoàng trước chiến tranh thế giới I. Để chống lại một đường lối đã từng được tiến hành một cách kiên trì như vậy trong cả thời chiến và thời bình, chúng ta phải chống lại từ những nhiệm vụ kém vững chắc và dài hạn hơn. Tóm lại, điều này được tạo nên bởi chính bản chất những quan hệ giữa Liên Xô với thế giới bên ngoài - những quan hệ mang tính xung đột và đối kháng thường xuyên nằm trong khuôn khổ của một nền hòa bình hình thức cũng như trong khuôn khổ hợp pháp của chiến tranh.

Mặt khác, rõ ràng là nền dân chủ, và đôi khi là quốc gia cực quyền, không thể đạt được sự đồng nhất hoàn toàn những mục tiêu của mình trong thời bình và trong thời chiến. Thái độ ghê tởm của nó đối với chiến tranh như đối với một phương pháp của đường lối đối ngoại mạnh tới mức nó tất yếu sẽ thay đổi những mục tiêu của mình trong thời bình với hy vọng rằng họ có thể sẽ đạt được những mục tiêu đó mà không đụng tới vũ khí. Khi niềm tin này và sự kiên trì này bị đặt dấu chấm hết thì chiến tranh bắt đầu, do sự can thiệp hay vì những nguyên nhân khác. Công luận dân chủ bị kích động hay đòi hỏi hoặc là một sự diễn giải về những mục tiêu tiếp theo, thường mang tính chất trừng phạt - tính chất mà công luận đã không ủng hộ trong thời bình, hoặc phải hiện thực hóa ngay lập tức những mục tiêu mà trong những điều kiện khác công luận chỉ yêu cầu đạt tới một cách từ tốn trong thời hạn cả chục năm. Vì vậy, sẽ là không hiện thực khi cho rằng Chính phủ Hoa Kỳ vẫn có thể bình tĩnh tiếp tục hoạt động trong thời chiến trên cơ sở của chính những mục tiêu đã lựa chọn đó, hoặc vẫn theo tiến trình hiện thực hóa những mục tiêu trong thời bình.

Đồng thời cần phải công nhận rằng càng ít có sự đổ vỡ giữa những mục tiêu của thời bình và thời chiến, thì khả năng những thành công của hành động quân sự cũng sẽ là thành công về chính trị càng lớn. Nếu những mục tiêu, theo quan điểm của những lợi ích quốc gia, thực sự lành mạnh thì chúng sẽ là một diễn giải có ý thức, là thành tựu của cả trong chiến tranh cũng như trong thời bình. Những mục tiêu được sinh ra do cao trào cảm xúc trong thời chiến không đủ khả năng lấn át công thức bền vững của những lợi ích quốc gia lâu dài. Vì nguyên nhân này, mọi hành động được Chính phủ vạch ra hiện nay, trước ngưỡng cửa của bất kỳ hành động quân sự nào, đều phải xác định rõ những mục tiêu hòa bình hiện tại và những mục tiêu giả tưởng của chúng ta trong thời chiến đối với Nga, đồng thời cần giảm bớt sự xung đột giữa chúng tới mức thấp nhất.
____________________________________
1. Forrestol gửi Sowers, ngày 10 tháng 7 năm 1948. Trích trong Chỉ lệnh NSC 20 “Đánh giá mức độ và tính chất chuẩn bị quân sự đáp ứng tình hình trên thế giới” ngày 12 tháng 7 năm 1948. Quan hệ quốc tế của Hoa Kỳ, 1948, 1 (Phần 2), tr. 589 - 592.
2. 1780 - 1831, nhà lý luận quân sự Đức. ND

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #136 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2009, 06:45:29 pm »


III. Những mục tiêu chủ yếu

Chúng ta thực sự chỉ có hai mục tiêu chủ yếu:

a) Làm giảm sức mạnh và mức độ ảnh hưởng của Matxcơva đến mức chúng không thể đe dọa đối với hòa bình và ổn định của cộng đồng quốc tế;

b) Tiến hành những thay đổi cơ bản trong lý luận và thực hành những quan hệ quốc tế của Chính phủ Nga hiện nay.

Nếu đạt được cả hai mục tiêu này, thì vấn đề mà đất nước ta phải giải quyết trong quan hệ của mình đối với Nga sẽ giảm xuống đến mức được coi là bình thường.

Trước khi đề cập tới những khả năng thực hiện hài hòa các mục tiêu này trong thời bình và thời chiến, cần nghiên cứu chúng một cách chi tiết nhất.

1. Làm suy giảm sức mạnh và mức độ ảnh hưởng của Nga về mặt địa lý

Hiện có hai phạm vi mà trong đó sức mạnh và mức độ ảnh hưởng của Matxcơva đang mở rộng ra ngoài biên giới của Liên Xô tới mức đe dọa hòa bình và ổn định của cộng đồng quốc tế.

Phạm vi thứ nhất có thể được xác định như một vùng vệ tinh - đó là vùng Kremli đang có ảnh hưởng chính trị nhất định. Cần nhận thấy rằng đây là vùng liền kề với Liên Xô về mặt địa lý. Tại vùng này sự hiện diện (hoặc sự kề cận) của lực lượng vũ trang Xô Viết đã thành yếu tố quyết định trong việt thiết lập và duy trì bá quyền Xô Viết.

Phạm vi thứ hai bao gồm những mối quan hệ giữa trung tâm quyền lực do Liên Xô kiểm soát, một mặt với những nhóm hoặc những đảng phái ở những nước khác nằm ngoài vùng vệ tinh và đang coi Nga như là cội nguồn động viên về chính trị, mặt khác bày tỏ lòng trung thành với Nga.

Tại cả hai phạm vi, cần phải đặt dấu chấm hết cho việc bành trướng sức mạnh của Nga ra ngoài khuôn khổ hợp pháp của nó, nếu việc giành được mục tiêu đầu tiên trong số những mục tiêu đề ra được tiến hành có hiệu quả. Cần tạo ra cho những nước nằm trong vùng vệ tinh khả năng giải phóng một cách cơ bản khỏi sự thống trị của Nga và tránh được sự động viên tư tưởng của Nga. Phải phá hủy tận gốc rễ huyền thoại buộc hàng triệu người ở những nước cách xa biên giới Xô Viết trông chờ vào Matxcơva như cội nguồn sáng lạn của những hy vọng vào những điều tốt đẹp của nhân loại, còn những sản phẩm của nó phải được tiêu hủy.

Cần nhận thấy rằng trong cả hai trường hợp, có thể đạt được những mục tiêu mà không gây nên vấn đề làm tổn hại uy tín của quốc gia Xô Viết như nó vốn có.

Trong phạm vi thứ hai, có thể đạt tới việc đẩy ra xa hẳn sức mạnh của Nga mà không nhất thiết phải làm tổn hại những lợi ích sống còn nhất của quốc gia Nga; hoặc quyền lực của Matxcơva trong phạm vi này được phá bỏ theo những kênh bí mật mà chính Matxcơva phủ nhận sự tồn tại của chúng. Vì vậy, việc chấm dứt một cơ cấu quyền lực mà trước đây được biết tới như Quốc tế III, không đòi hỏi bất cứ một hình thức hạ mình nào của Chính phủ Matxcơva cũng như một hình thức nhân nhượng nào từ phía quốc gia Nga.

Tại vùng vệ tinh, đương nhiên Matxcơva cũng sẽ phủ nhận sự thống trị hình thức của Xô Viết và cố gắng che dấu cơ chế của nó. Những vụ đụng độ với Tito cho thấy việc tiêu diệt sự kiểm soát của Matxcơva không nhất thiết là một sự kiện gây ảnh hưởng tới những quốc gia liên quan. Trong trường hợp này, sự kiện đó được cần coi như việc riêng giữa hai bên; và đặc biệt nhấn mạnh rằng không bao giờ được đụng tới vị thế của các quốc gia. Nếu có thể xảy ra ở đâu đó trong vùng vệ tinh thì nhất thiết không được làm tổn hại tới phẩm giá hình thức của quốc gia Xô Viết.

Tuy nhiên, chúng ta còn nhận thấy một vấn đề khó khăn hơn trong quy mô thực tế của biên giới Liên Xô sau năm 1939. Dù thế nào cũng không nên nói rằng quy mô đó đang đe dọa nền hòa bình và ổn định trên thế giới; còn trong những trường hợp nhất định, rõ ràng, theo quan điểm của những mục tiêu của chúng ta, nên coi là những mục tiêu cần được công nhận để duy trì hòa bình. Trong những trường hợp khác, đặc biệt là trong trường hợp của các nước vùng Baltik, vấn đề trở nên khó khăn hơn. Chúng tôi không thể thực sự bày tỏ thái độ bàng quan đối với số phận tương lai của các dân tộc vùng Baltik. Điều này được thể hiện trong chính sách công nhận các nước này hiện nay của chúng ta. Liệu chúng ta có thể dự đoán rằng mối đe dọa đối với hòa bình và ổn định quốc tế là thực sự đã giảm xuống, khi châu Âu còn phải đối diện với sự thật rằng Matxcơva có thể xóa bỏ ba nước nhỏ bé này, cho dù ba nước này không hề có lỗi nào trong một cuộc khiêu khích thực sự và đã tỏ rõ năng lực điều hành rất tiến bộ những công việc nội bộ của mình mà không hề đe dọa tới lợi ích của các nước láng giềng. Do đó, sẽ là lo gic khi coi việc hỗ trợ những nước này trở lại tình trạng tốt đẹp của tự do và độc lập là một phần trong những mục tiêu của Mỹ.

Tuy nhiên, rõ ràng là nền độc lập hoàn toàn của những nước này đòi hỏi những nhân nhượng về mặt lãnh thổ thực tế từ phía Chính phủ Xô Viết. Mà điều này lại động chạm trực tiếp tới phẩm giá và những quyền lợi sống còn của quốc gia Xô Viết. Thật là vô ích nếu cho là điều này có thể đoạt được bằng những phương tiện phi quân sự. Vì vậy, nếu chúng ta cho rằng những mục tiêu nói trên là thiết thực trong cả thời bình và thời chiến, thì lo gíc của nó sẽ là liệu chúng ta có thể buộc Matxcơva cho phép các công dân bị cưỡng bức di cư trở về các nước vùng Baltik và thiết lập ở các nước này chế độ tự trị, đáp ứng những nhu cầu văn hóa nói chung và những phong tục dân tộc của những dân tộc này. Trong chiến tranh chúng ta đã có thể dấn bước, nếu điều đó là cần thiết. Nhưng câu trả lời cho vấn đề này lại tùy thuộc vào đặc điểm của chế độ Nga đã từng được hình thành ở vùng này từ sau chiến tranh; còn với chúng ta, cố gắng giải quyết điều này trước đây là không cần thiết.

Do đó, khi nói rằng chúng ta cần làm suy giảm sức mạnh và mức độ ảnh hưởng của Kremli tới mức chúng không còn là mối đe dọa đối với hòa bình và ổn định của cộng đồng quốc tế, chúng ta có quyền dự đoán rằng chúng ta có thể theo đuổi mục tiêu này không chỉ khi có chiến tranh, mà ngay cả trong thời bình, bằng phương tiện hòa bình, và nói chung, không nhất thiết phải đụng tới những vấn đề vị thế của Chính phủ Xô Viết - nếu không, tất yếu sẽ dẫn tới một cuộc chiến tranh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #137 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2009, 06:47:08 pm »


2. Những thay đổi trong lý luận và thực hành quan hệ quốc tế của Matxcơva

Những khó khăn của chúng ta trong quan hệ đối với Chính phủ Xô Viết hiện nay chủ yếu là những thủ lĩnh của nó được khích lệ bởi những công thức lý luận và thực hành quan hệ quốc tế không chỉ mâu thuẫn gay gắt với chúng ta, mà còn không thể dung hòa với bất cứ thay đổi hòa bình và cùng có lợi nào trong quan hệ giữa các chính phủ này và những thành viên khác trong cộng đồng quốc tế.

Những điểm nổi bật trong công thức này là:

a) Cùng tồn tại hòa bình và hợp tác của các chính quyền độc lập có chủ quyền, bình đẳng như nhau là ảo tưởng và không thể.

b) Xung đột là nền tảng của sinh hoạt quốc tế, tương tư như trường hợp giữa Liên Xô với các nước tư bản, một nước sẽ không công nhận tính ưu việt của nước khác.

c) Những chế độ không công nhận vị thế và sự ưu việt về tư tưởng của Matxcơva là những chế độ vô luân và có hại đối với tiến bộ của nhân loại; và nghĩa vụ của những người có tư duy lành mạnh ở tất cả các nước là vươn tới lật đổ hoặc làm suy yếu những chế độ đó bằng mọi phương thức tỏ ra thích hợp về mặt sách lược.

d) Trong tương lai lâu dài, hợp tác cùng nhau sẽ không mang lại bất kỳ lợi ích nào cho thế giới cộng sản và phi cộng sản bởi những lợi ích đó cơ bản không thể dung hòa và mâu thuẫn nhau.

e) Mối giao tiếp tự phát (spontaneus) giữa những con người riêng lẻ trong thế giới do những người cộng sản điều hành với những người ở ngoài thế giới đó là có hại và không tạo điều kiện cho tiến bộ của nhân loại.

Rõ ràng là việc chấm dứt sự thống trị của công thức này trong lý luận và thực hành quan hệ quốc tế của Xô Viết (hoặc của Nga) là chưa đủ. Cần phải thay thế chúng bằng những công thức nào đó đối lập.

Những công thức đối lập đó có thể là:

a) Những nước bình đẳng và có chủ quyền có thể tồn tại hòa bình, vai kề vai hợp tác cùng nhau, không một nước nào có bất kỳ một âm mưu hay dự định thống trị nước khác.

b) Xung đột nói chung không nhất thiết là nền tảng của sinh hoạt quốc tế và mọi người có thể có những mục tiêu chung, không phân biệt hệ tư tưởng và không bị phụ thuộc bởi một vị thế duy nhất.

c) Mọi người ở các nước có quyền hợp pháp về những mục tiêu dân tộc khác với hệ tư tưởng cộng sản; và nghĩa vụ của nhân loại có tư duy lành mạnh là thể hiện sự khoan hòa đối với những tư tưởng khác, chấp hành một cách tế nhị việc không can thiệp vào những công việc nội bộ của người khác trên cơ sở tương giao và chỉ sử dụng những phương pháp tốt đẹp, đàng hoàng trong các mối quan hệ quốc tế.

d) Hợp tác quốc tế là có thể và cần phải mang lại lợi ích cho quyền lợi của cả hai bên cho dù có sự khác biệt về hệ tư tưởng của hai bên.

e) Giao tiếp của mọi người trên thế giới là điều ước mông và cần được cổ vũ như một quá trình kích thích tiến bộ của nhân loại.

Vấn đề nảy sinh ở đây là việc Matxcơva tiếp nhận những công thức như vậy có trở thành mục tiêu để chúng ta thực sự cố gắng và trong chờ mà không cần đi đến chiến tranh hay lật đổ Chính phủ Xô Viết. Chúng ta cần công nhận sự thật rằng Chính phủ Xô Viết, như chúng ta biết về nó, đang là và sẽ tiếp tục là mối đe dọa thường trực đối với sự bình yên của dân tộc chúng ta và của toàn thế giới.

Hoàn toàn rõ ràng là chính những nhà lãnh đạo hiện nay của Liên Xô sẽ không bao giờ coi những công thức được liệt kê trên đây là lành mạnh và cần thiết. Cũng hoàn toàn rõ ràng như vậy, để những công thức này trở thành thống trị trong phong trào cộng sản ở Nga, thì cần tính tới những hoàn cảnh hiện nay, cuộc cách mạng tri thức trong lòng phong trào này cũng đồng nghĩa với sự thay đổi đặc tính chính trị của nó, đồng nghĩa với sự từ bỏ mục tiêu cơ bản của nó - tồn tại như một sức mạnh độc lập và tối quan trọng trong dòng chảy của những tư tưởng trên thế giới nói chung. Những công thức này đã có thể trở thành thống trị trong phong trào cộng sản ở Nga chỉ khi có một quá trình lâu dài của những biến động và tan vỡ. Phong trào này sẽ mang một ý nghĩa hoàn toàn mới trên thế giới.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #138 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2009, 06:48:05 pm »


Do đó, có thể kết luận (những nhà lý thuyết của Matxcơva luôn nhanh chóng tiếp nhận cách giải thích này) rằng chúng ta đang cố gắng tiếp thu những công thức này cũng đồng nghĩa với việc mục tiêu của chúng ta là lật đổ chính quyền Xô Viết. Khi loại bỏ quan điểm này, có thể khẳng định rằng nó, về phần mình, là mục tiêu không thể đạt được bằng những phương tiện phi quân sự và bằng cách đó chúng ta công nhận rằng mục tiêu của chúng ta đối với Liên Xô là một cuộc chiến tranh cuối cùng, dùng bạo lực lật đổ chính quyền Xô Viết.

Việc theo đuổi một diễn biến như vậy của tư duy là sai lầm nguy hiểm.

Trước hết, không có những giới hạn tạm thời cho việc giành những mục tiêu của chúng ta trong điều kiện hòa bình. Ở đây chúng ta đang vấp phải sự thiếu hụt về tính chu kỳ được xác lập của chiến tranh và hòa bình. Điều này không cho phép chúng ta kết luận rằng chúng ta phải đạt được những mục tiêu hòa bình của mình vào một thời điểm nhất định. Đừng bao giờ xem xét những mục tiêu của chính sách dân tộc thời bình trong khuôn khổ chiến lược. Bởi chúng là những mục tiêu cơ bản và quý giá, không thể giành được chúng một cách hoàn toàn và vào đúng một thời hạn chính xác, chúng giống như những nhiệm vụ quân sự cụ thể trong chiến tranh vậy. Cần xem xét những mục tiêu của chính sách dân tộc thời bình như phương hướng hành động, chứ không như những mục tiêu vật lý.

Hai là, chúng ta hoàn toàn đúng và không nên có cảm giác mình sai lầm khi cố gắng phá hoại những công thức không thể dung hòa với hòa bình và ổn định trên thế giới, khi cố gắng thay thế công thức hợp tác quốc tế của họ. Chúng ta không nhất thiết phải can thiệp những thay đổi bên trong, bởi việc tiếp thu những công thức như vậy ở các nước khác có thể dẫn tới những thay đổi đó, và chúng ta cũng không cần phải chịu trách nhiệm về những thay đổi đó. Nếu những nhà lãnh đạo Xô Viết quyết định rằng ưu thế phát triển của một công thức tiến bộ hơn của quan hệ quốc tế không thể dung hòa với sự tồn tại quyền lực nội bộ của họ ở Nga, thì đó là trách nhiệm của họ chứ không phải của chúng ta. Đó là sự nghiệp của chính lương tri họ và lương tri của những người Xô Viết. Chúng ta không chỉ có quyền về mặt đạo đức mà còn có cả trách nhiệm về mặt đạo đức quan tâm tới việc tiếp nhận thường xuyên những công thức xứng đáng và tin cậy trong sinh hoạt quốc tế. Trong vấn đề này, chúng ta có quyền không phải e ngại đối với những phương tiện cải tạo bên trong.

Chúng ta không bao giờ biết rằng việc tiến hành thành công những mục tiêu đã được chúng ta nghiên cứu sẽ dẫn tới việc chính quyền Xô Viết bị tan rã, bởi trong vấn đề này chúng ta không thể biết rõ yếu tố thời gian. Hoàn toàn có thể là dưới áp lực của thời gian và hoàn cảnh một số công thức cơ bản của phong trào cộng sản ở Nga sẽ dần dần bị thay đổi. Điều này cũng đã từng diễn ra ở đất nước chúng ta cùng với một loạt những công thức cơ bản của cách mạng Mỹ.

Do đó, chúng ta có quyền giả thiết và tuyên bố công khai rằng mục tiêu của chúng ta là cung cấp cho nhân dân và Chính phủ Nga một công thức quan hệ quốc tế tiến bộ hơn cùng với sự hỗ trợ của những phương tiện trong khả năng của chúng ta, trong đó chúng ta, như một chính phủ, sẽ giữ một vị trí nào đối với tình hình nội bộ ở Nga.

Trong trường có chiến tranh, rõ ràng không nảy sinh những vấn đề như vậy. Nếu giữa đất nước chúng ta và Liên Xô xuất hiện tình trạng chiến tranh, Chính phủ chúng ta được tùy ý thực hiện những mục tiêu cơ bản của mình bằng mọi phương tiện theo cách xem xét của chúng ta và trong mọi điều kiện - những điều kiện mà Chính phủ chúng ta có thể trao cho chính quyền Nga hay những chính quyền Nga trong trường hợp thực hiện thành công các chiến dịch quân sự. Những điều kiện đó sẽ có thể bao gồm cả việc lật đổ chính quyền Xô Viết - đây chỉ là vấn đề mang tính hợp lý (lợi ích) và sẽ được đề cập ở dưới đây.

Trong hai mục tiêu cơ bản, mục tiêu thứ hai này chủ yếu nhằm để thực hiện trong thời bình cũng như trong thời chiến. Giống như mục tiêu thứ nhất, mục tiêu này có thể được tiếp nhận một cách thích hợp làm cơ sở để xây dựng chính sách của chúng ta trong thời bình cũng như trong thời chiến.

Khi đề cập tới sự diễn giải những mục tiêu cơ bản này trong thời bình cũng như trong thời chiến một cách thích hợp, chúng ta sẽ gặp phải vấn đề mang tính thuật ngữ. Nếu chúng ta nói về những nét cụ thể định hướng chính sách của chúng ta trong thời bình hoặc trong thời chiến như về “những mục tiêu”, thì chúng ta có thể rơi vào sự nhầm lẫn về mặt ngữ nghĩa. Vì vậy, thay vì làm rõ, chúng ta sẽ làm một phân biệt võ đoán. Chúng ta sẽ nói tới những mục tiêu chỉ với ý nghĩa của những mục tiêu cơ bản nói trên là chung cho cả chiến tranh, cả hòa bình. Khi chúng ta viện dẫn những mục tiêu có tính định hướng của chúng ta được áp dụng cụ thể đối với chính sách hòa bình hay chiến tranh của chúng ta một cách thích hợp, thì chúng ta sẽ nói không phải về “những mục tiêu” mà về “những dự định”.

Những dự định của chính sách quốc gia Mỹ đối với Nga trong thời bình khi đó sẽ thế nào?

Chúng sẽ được rút ra một cách lo gic từ hai mục tiêu cơ bản nói trên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #139 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2009, 06:49:02 pm »


1. Làm suy giảm sức mạnh và mức độ ảnh hưởng của Nga

Chúng ta đã nhận thấy rằng vấn đề này được chia ra thành vấn đề của vùng vệ tinh và vấn đề của hoạt động cộng sản và tuyên truyền Xô Viết tại những nước xa hơn.

Điều liên quan tới vùng vệ tinh, thì dự định chính sách của Mỹ trong thời bình là tạo ra sự căng thẳng tới mức tối đa có thể trong cơ cấu quan hệ, mà nhờ đó sự thống trị Xô Viết đang được duy trì tại khu vực này, rồi dần dần, cùng với sự hỗ trợ của các lực lượng hợp pháp, tự nhiên ở châu Âu, làm cho người Nga mất đi ví trí hàng đầu của họ và tạo cho những chính phủ thích hợp khả năng giành được độc lập trong hành động. Nếu có nhiều phương pháp mà nhờ đó mục tiêu này có thể đạt được và đạt được. Bước đi kiên quyết nhất trong hương này là việc đề nghị về một chương trình Âu - Nga do Bộ trưởng Ngoại giao Marshall phát biểu tại Havard ngày 5 tháng 6 năm 1947. Khi buộc Nga, hoặc cho phép các nước chư hầu (vệ tinh) được quan hệ hợp tác kinh tế với Tây Âu - điều này tất yếu sẽ củng cố mối quan hệ giữa đông và Tây và làm suy yếu khuynh hướng đặc biệt của các nước này đối với Nga, hoặc đứng ngoài cơ cấu hợp tác này và chấp nhận những tổn thất kinh tế nặng nề, chúng ta đã tạo ra một sự căng thẳng thực sự giữa Matxcơva và các nước chư hầu, và tất nhiên, đã đặt uy tín đặc biệt của Matxcơva tại thủ đô của các nước chư hầu vào một tình thế khó khăn, dễ đổ vỡ. Về thực chất, đó là tất cả những gì giúp để xé toang lớp vỏ bọc mà Matxcơva dùng để che đậy sức mạnh của mình, tất cả những gì buộc người Nga phải phơi bày ra bản chất đê tiện và xấu xa của chính quyền Xô Viết trước chính phủ các nước chư hầu, giúp để làm mất uy tín chính phủ các nước chư hầu trong con mắt của dân chúng ở nước họ, tăng cường sự bất bình của các dân tộc này và tăng cường cho họ thái độ mong muốn hợp tác tự do với các dân tộc khác.

Thái độ không trung thành của Tito, ở một mức độ nào đó rõ ràng đã tạo ra một sự căng thẳng được gọi là vấn đề ERP. Nó cho thấy một cách chính xác rằng sự căng thẳng trong giữa Liên Xô và các nước chư hầu hoàn toàn có thể dẫn đến việc thực sự làm suy yếu và phá vỡ sự thống trị của Nga.

Đương nhiên, dự định của chúng ta - tiếp tục làm tất cả những gì có trong khả năng của mình để thúc đẩy những căng thẳng đó và đồng thời làm những gì có thể để những chính phủ của các nước chư hầu dần dần thoát khỏi sự kiểm soát của Nga và tìm thấy, nếu họ có nguyện vọng, những phương pháp hợp tác có thể chấp nhận được với các chính phủ phương Tây. Có thể đạt được điều đó bằng cách sử dụng khéo léo sức mạnh kinh tế của chúng ta, bằng hoạt động thông tin trực tiếp và gián tiếp, bằng cách tạo ra sự căng thẳng tối đa có thể về sự tồn tại của bức màn sắt, củng cố Tây Âu để nó trở nên hấp dẫn tối đa đối với các dân tộc phương Đông, và cả bằng rất nhiều những phương tiện khác.

Tất nhiên, chúng ta không thể dự tính rằng người Nga sẽ khoanh tay ngồi nhìn và cho phép các chư hầu thoát khỏi sự kiểm soát của mình bằng cách đó. Chúng ta không thể tin tưởng rằng vào một thời điểm nào đó của quá trình này người Nga sẽ không dùng tới một loại hình bạo lực như chiếm đóng quân sự, thậm chí tiến hành một cuộc chiến tranh quy mô để ngăn chặn quá trình này.

Nói chung, chúng ta không mong muốn để họ làm điều đó; và về phía mình, chúng ta phải làm tất cả những gì có thể để duy trì tình trạng đó và làm cho việc giải phóng các nước chư hầu trở thành khả năng bằng những phương pháp không khiêu khích đối với vị thế của Xô Viết. Song, cho dù thận trọng nhất, chúng ta không thể tin chắc rằng họ sẽ tránh sử dụng vũ khí. Chúng ta cần dự đoán rằng chúng ta sẽ có thể tác động tới chính sách của họ hoặc nhận được kết quả có bảo đảm.

Những gì chúng ta đang đưa vào chính sách để có thể dẫn đến kết quả đó, nói chung, không có nghĩa là chúng ta theo đuổi đường lối chiến tranh; và đặc biệt chúng ta phải dự tính trước để làm cho điều đó trở thành hiển nhiên trong bất kể hoàn cảnh nào và tránh mọi sai lầm. Khi tính tới thái độ đối kháng, loại trước đây đã từng là nền tảng đối với mọi quan hệ giữa Chính phủ Xô Viết với những phi cộng sản trong thời đại này, chiến tranh vẫn luôn là khả năng hiện hữu, và không một đường lối nào được Chính phủ của chúng ta lựa chọn lại không thể làm giảm bớt rõ rệt nguy cơ đó. Những gì đưa vào chính sách mà mâu thuẫn với điều nói trên, thì đó chính là công nhận sự thống trị của Xô Viết tại các nước vệ tinh và không có gì đối lập với nó - đều không thể làm suy giảm nguy cơ của một cuộc chiến tranh. Ngược lại, có thể khẳng định một cách khá lo gic rằng nguy cơ lâu dài của một cuộc chiến tranh tất yếu sẽ cao hơn, nếu châu Âu vẫn bị chia rẽ bởi những đường lối như hiện nay, nếu so với việc chính quyền của người Nga bị tiêu diệt bằng con đường hòa bình vào một thời điểm thuận lợi và trong cộng đồng châu Âu sẽ hồi phục được sự cân bằng tự nhiên.

Vì vậy, có thể khẳng định rằng dự định đầu tiên của chúng ta đối với Nga trong thời bình - đó là cổ vũ và tạo điều kiện bằng những phương tiện phi quân sự nhằm làm suy giảm dần sức mạnh và mức độ ảnh hưởng của Nga ở vùng vệ tinh hiện nay và để những nước Đông Âu thích hợp xuất hiện như những nhân tố độc lập trên trường quốc tế.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM