Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:27:13 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ngoại giao Đại Việt  (Đọc 96325 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #100 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 11:54:34 pm »

NGOẠI GIAO ĐẠI VIỆT

Khi nói đến quốc gia là nói đến thịnh suy, tồn vong, mà nói đến thịnh suy, tồn vong của một quốc gia là nói đến tiềm lực, bản lĩnh, đường lối đối nội đối ngoại của quốc gia đó.

Hiện nay trên thế giới có gần hai trăm nước nhưng lãnh đạo, kích thước, tiềm năng của mỗi quốc gia một khác, có nước siêu cường đất rất rộng, dân rất đông, về kinh tế, quân sự đứng hàng đầu thế giới, có vai trò to lớn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế, nhưng lại có những quốc gia rất nhỏ, những vi quốc gia, nhỏ đến mức không thể thiếu sự giúp đỡ của nước ngoài.

Ở những thế kỷ trước, việc phân loại các quốc gia có lẽ đơn giản hơn, chỉ có các nước đế quốc và thuộc địa của họ và một số nước độc lập giàu nghèo khác nhau.  Thời đó vũ lực là nguyên tắc của ngoại giao, các nước dối xử với nhau theo kiểu mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé. Các nước khác phải có chính sách ngoại giao khôn khéo đối với họ.

Với lịch sử dựng nước hàng nghìn năm, Đại Việt là một nước nhỏ giáp với những nước láng giềng quy mô, trình độ phát triển khác nhau, từ đế chế Trung Hoa hùng mạnh và bành trướng đến những nước nhỏ nhưng cũng có tham vọng bành trướng.  Trong bối cảnh địa lý chính trị như thế, Đại Việt đã tự vạch cho mình một đường lối đối ngoại thích hợp được thực tế kiểm chứng để tồn tại và phát triển. 

Đường lối đối ngoại nhất quán của Đại Việt là giữ vững độc lập, chủ quyền, sống hoà mục với các nước, trước hết là các nước láng giềng, góp phần bảo vệ an ninh khu vực.

Phan Huy Chú đã nêu rõ sự quan tâm của các nhà lãnh đạo Đại Việt đối với quan hệ láng giềng:

“Trong việc trị nước, hoà hiếu với nước láng giềng là việc lớn mà những khi ứng thù lại rất quan hệ không thể xem thường cho nên nghĩa tu hiếu (sửa việc giao hiếu - TG), đạo giao lân (giao thiệp với nước láng giềng - TG) chép ở hiền truyện (sách Mạnh Tử - TG) chính là đem lòng thực mà kết giao, người có quyền trị nước phải nên cẩn thận” 1.  Đường lối đó nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ.

Đại Việt tôn trọng độc lập, chủ quyền, lãnh thổ của các nước nhưng đòi các nước khác cũng phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, lãnh thổ của mình. Khi đất nước mình bị xâm phạm thì nhân dân Đại Việt triệu người như một kiên quyết chiến  đấu bằng mọi phương tiện quân sự, chính trị, ngoại giao để bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ.

Trong trường hợp xảy ra chiến tranh, sẵn sàng cùng đối phương thương lượng tìm cách giải quyết vấn đề nhưng không bao giờ xa rời lập trường nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền, lãnh thổ. Theo nguyên tắc đó vận dụng chiến lược, chiến thuật linh hoạt, dân tộc Việt Nam đã đánh thắng tất cả các cuộc xâm lược của Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh và sau mỗi cuộc chiến đấu dó đến giữ được độc lập chủ quyền, lãnh thổ của mình và hoà hiếu với nước láng giềng phương Bắc.

Đại Việt bao giờ cũng kiên trì ngoại giao hoà bình nhưng kiên quyết phản đối ngoại giao phục vụ chiến tranh xâm lược, sẵn sàng giáng trả những đòn đích đáng đối với kẻ xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của dân tộc Việt Nam.

Thế kỷ XV, để trả đũa việc vua Chiêm Thành Trà Toàn đem trăm nghìn quân đánh Hoá Châu, vua Lê Thánh Tông đem ba trăm nghìn quân đến Vijaya, kinh đô Chiêm Thành, bắt sống vua Trà Toàn nhưng không đụng đến nửa phía Nam của nước này. Nhà Vua thừa sức chiếm cả nước này nhưng chỉ chiếm kinh đô, vạch biên giới ở Đèo Cù Mông rồi rút quân về nước.


_________________________
1. Phan Huy Chú - Lịch triều hiến chương loại chí - Sđd.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #101 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 11:55:41 pm »

Sau cuộc chinh phạt Chiêm Thành, đáp lại việc Ai Lao gây rối ở biên giới, nhà vua chỉ huy mười tám vạn quân băng qua các tỉnh Lào tiến đến biên giới Mianma rồi rút quân về nước. Trong trường hợp này rõ ràng nhà vua có thể chiếm cả nước Lào nhưng ông không làm thế và đã rút quân về nước.

Ba thế kỷ sau, vua Quang Trung đã tiêu diệt hai mươi chín vạn quân Thanh sang xâm lược Đại Việt sau đó lại thông hiếu với triều đình nhà Thanh. Trong tình hình hoà bình khu vực được củng cố, nhà vua cử một phái bộ đến Viếng Chăn để bàn việc thông hiếu giữa hai nước nhưng vua Viếng Chăn lúc đó là Năn tha Xên vốn là người thân Xiêm đã bắt giữ sứ giả rồi giao cho chính quyền Bangkok.

Để trừng trị thái độ thù địch đó vua Quang Trung đã phái đốc trấn Nghệ An Trần Quang Diệu và đề đốc Bùi Thị Xuân mang ba vạn quân sang đánh Lạn Xạng. Đi ngang Ai Lao đến kinh đô Viếng Chăn thì Năn tha Xên đã chạy trốn sang Xiêm , quân Tây Sơn truy kích đến bờ sông Mê Không, biên giới Lào - Xiêm, nhưng không bắt được. Trần Quang Diệu rút quân về nước, không chiếm một thước đất nào của Lào, mặc dầu: quân Trần Quang Diệu đã làm chủ nước Lào. 

Chính sách đối ngoại hoà bình của nước Đại Việt khác hẳn chính sách đối ngoại của các nước láng giềng thời bấy giờ. Các nước này dù lớn hay nhỏ đều có xu hướng bành trướng lãnh thổ, tranh giành ảnh hưởng. Chiêm Thành ba lần đánh Giao Châu nước Đại Việt thông hiếu với Chiêm Thành thì vua Chiêm Thành đã bắt giữ các sứ giả đó, do đó dẫn đến cuộc chiến tranh đầu tiên giữa hai nước. 

Sau đó còn nhiều lần Chiêm Thành đánh ra Đại việt thế kỷ XIV vua Chế Bồng Nga bốn lần đánh ra kinh đô Thăng Long. Họ cũng đã ngược sông Mêkông đánh đến tận kinh thành Angco, gây nên cuộc chiến tranh một trăm năm giữa Chiêm Thành và Chân Lạp khiến cho Chân Lạp cai trị Chiêm Thành trong hai mươi năm.

Nước Ayuthaya và nước Mianma xâm lược lẫn nhau trong bốn thế kỷ.  Ayuthaya cũng đã nhiều lần xâm lược nước Lạn Xạng, thiêu huỷ kinh thành Viếng Chăn, đã nhiều lần khống chế triều đình Viếng Chăn và thế kỷ XVIII đã biến Lạn Xạng thành một tỉnh của vương quốc Xiêm. Ayuthaya cũng đã liên tiếp xâm lược Chân Lạp. Sau thời kỳ Angkor huy hoàng, Chân Lạp luôn luôn bị vương quốc Xiêm tiến đánh, luôn luôn bị triều đình Xiêm khống chế.

Vấn đề ở đây không phải là nhắc chuyện cũ để khen nước này chê nước kia vì lúc bấy giờ ở thời đại trung cổ những việc đánh diệt nhau là chuyện bình thường, các cuộc kháng chiến của Đại Việt chống xâm lược dù là đế chế Trung Hoa hay Chiêm Thành đều là những phản ứng tự vệ về bản chất khác với các cuộc chiến tranh xâm lược của các nước láng giêng.

Trong ngoại giao nước nào cũng phải giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữa nguyên tắc và sách lược Nguyên tắc là bất biến, sách lược là khả biến có thể nâng cao hay hạ thấp, mở ra hay co vào nhưng bao giờ cũng không được quá một giới hạn, đó là không được trái hay làm hại nguyên tắc. Nếu đi cao hơn giới hạn là tả khuynh, trái với nguyên tắc làm hỏng việc; nếu đi thấp hơn nguyên tắc là hữu khuynh, trái với nguyên tắc, cũng làm hỏng việc ở vào một vị trí địa lý chính trị cực kỳ quan trọng và tế nhị, nước Đại Việt đòi hỏi giải quyết thoả đáng vấn đề nguyên tắc và vấn đề sách lược trong đường lối đối ngoại, trước hết là với đế chế Trung Hoa, nước láng giềng khổng lồ phía Bắc. 

Phan Huy Chú đã phác hoạ chính sách đối ngoại của Nhà nước Đại Việt đối với đế chế Trung Hoa:

“Nước Việt có cả cõi đất phía Nam mà thông hiếu với Trung Hoa, tuy nuôi dân dựng nước có quy mô riêng, nhưng ở trong thì xưng đế mà ngoài thì xưng vương, vẫn chịu phong hiệu, xét lý thế thực phải như thế” 1.

Ý nghĩa thật rõ ràng: ta là chủ cõi đất phía Nam, khác với Trung Hoa về quy mô và yêu cầu, nhưng là láng giềng với nhau cho nên phải cùng nhau thông hiếu, cùng tồn tại hoà bình trên tinh thần Đại Việt “trong xưng đế ngoài xưng vương”, tôi kính trọng anh, anh phải nể trọng tôi, đó là thực tế khách quan. 


________________________
1. Phan Huy Chú – Lịch triều hiến chương loại chí - Sđd.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #102 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 11:56:40 pm »

Phan Huy Chú đã cho thấy các nhà lãnh đạo Đại Việt và Trung Hoa đều phải thừa nhận thực tế đó. chiến tranh không phải chỉ là những trận đánh giáp lá cà, những cuộc đọ súng, những trận công thành, những trận mai phục, những trận bao vây, chiến tranh còn liên quan mật thiết tới ngoại giao. 

Ngoại giao là loại hoạt động chính trị có thể củng cố hoà bình cũng có thể dẫn tới chiến tranh, khi chiến tranh xảy ra có thể phục vụ chiến đấu ngược lại chiến đấu có thể phục vụ ngoại giao; trong khá nhiều trường hợp ngoại giao có thể chấm dứt chiến tranh, khôi phục lại hoà bình.

Qua cuộc sống, hiểu sâu sắc mối quan hệ giữa chiến tranh và hoà bình, trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược các nhà lãnh đạo Đại Việt ở bất kỳ thời đại nào đều biết kết hợp quân sự với ngoại giao, chính trị, địch vận.

Sau hai năm hoạt động, phong trào Lam Sơn gặp khó khăn, Bình Định vương Lê Lợi đã cầu hoà với thái giám Sơn Thọ, thái giám Mã Kỳ, do đó tạo điều kiện trở lại Lam Sơn chấn chỉnh binh mã, giải phóng Thanh - Nghệ, đó là dùng ngoại giao phục vụ chiến đấu. Khi nghĩa quân tiến ra Bắc, bao vây mười vạn quân của Tống binh Vương Thông, vương lại mở cục diện “vừa đánh vừa đàm” thúc ép, thuyết phục Vương Thông chịu rút quân, giải phóng được Đông Quan mà không mất một mũi tên, đó là chiến đấu phục vụ ngoại giao.

Lý Thường Kiệt dã chặn mười vạn quân của tướng Quách Quì trên bờ sông Như Nguyệt rồi “dùng biện sĩ bàn hoà” do đó tướng Quách Quì đã chịu rút quân về nước.

Chỉ dùng ngoại giao mà các vua Trần đã đẩy lùi cuộc xâm lược thứ hai của quân Mông Cổ được hai mươi nhăm năm để chuẩn bị quân dân vào cuộc kháng chiến thứ hai.

Đánh tan hai mươi chín vạn quân của Tôn Sỹ Nghị, vua Quang Trung đã gửi ngay sứ giả sang Trung Quốc thông hiếu, nộp cống và chịu phong hiệu của vua Càn Long, gạt được ý đồ phục thù Đại Việt bằng năm mươi vạn quân của Thanh.  Nếu chiến tranh là kế tục chính trị bằng những biện pháp khác thì ngoại giao là biện pháp chính trị có thể đưa đến chiến tranh hay hoà bình.

Cuộc sống thật là kỳ diệu. Trên châu thổ sông Hồng còn chìm trong bóng đêm Trung cổ, cuộc đấu tranh sinh tồn đã sản sinh những nông dân cần cù, những chiến sĩ gang thép, những tướng lĩnh tài ba, những nhà ngoại giao khôn ngoan không những để bảo vệ non sông đất nước mà còn để nâng cao uy danh dân tộc.

Lý Giác, sứ giả của vua Tống, sau khi tiếp xúc vời đất nước và con người nước Đại Việt, đã ca ngợi Đại Việt là “trời ngoài trời”:

Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu
Khê đàm ba tĩnh kiến thềm thu
.

Ngoài trời trời nữa nên xa chiếu
Sóng lặng kho đàm kiến thiềm thu


Sau khi so sánh Bắc Nam không có gì khác, Ngô Thì Nhậm phụ trách ngoại giao của vua Quang Trung, đã reo vang:

Hạnh tai sinh Nam bang!
(May thay ta sinh ở nước Nam ! )

Một nền ngoại giao có nguyên tắc đã đạt được nhiều thành công, thu được nhiều kinh nghiệm trong các thế kỷ trước nhất định phải là cơ sở vững chắc và truyền thống tốt đẹp cho nền ngoại giao hiện đại của nước Việt Nam.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #103 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2009, 11:59:20 pm »

Phụ lục

MỘT SỐ VĂN KIỆN LỊCH SỬ


BÀI HÁT CỦA VUA LÊ ĐẠI HÀNH TIỄN SỨ TỐNG LÝ GIÁC

Sứ giả nhà Tống làm thơ khen vua Lê Đại Hành ngang như vua Tống (Trời ngoài trời). Vua sai Khuông Việt đại sơư làm bài hát tiễn Lý Giác:

Tường quang phong hảo cẩm phàm trương
Dao vọng thần tiên phục thương
Vạn trùng sơn thuỷ phiếm thương lương
Cửu thiên quy lộ trường
Tình thắm thiết, đối ly thương
Phan luyến sứ tình lang
Nguyệt tương thâm ý vị biên cương
Phân minh tấu ngã hoàng
.

Dịch:

Trời quang gió thuận, buồm gấm căng
Xa trông thần tiên trở về trời
Muôn trùng non nước, lênh đênh trên sóng biếc
Đường về chín tầng trời còn dài
Tình thắm thiết cất chén chia tay
Lòng quyến luyến sứ thần không nỡ
Xin đem thâm ý vì biên cương
Tâu rõ ràng lên đức hoàng đế.

NAM QUỐC SƠN HÀ

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên đinh phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.


Dịch nghĩa:

NÚI SÔNG NƯỚC NAM

Núi sông nước Nam thì vua Nam ở,
Cương giới đã ghi rành rành trên sách trời.
Cớ sao lũ giặc bạo ngược kia dám tới xâm phạm ?
Chúng bay hãy chờ xem, thế nào cũng chuốc lấy bại vong.

Dịch thơ:

Nước Nam Việt có vua Nam Việt,
Trên sách trời chia biệt rành rành.
Cớ sao giặc dám hoành hành?
Rồi đây bay sẽ tan tành cho coi.
                                  Nguyễn Đổng Chi
                       (Sơ thảo Lịch sử văn học Việt Nam, TII)


HỊCH TƯỚNG SĨ CỦA TRẦN HƯNG ĐẠO

Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế, Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương. Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay cứu nạn cho nước. Kính Đức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc, từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được?
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #104 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 12:00:23 am »

Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói: Vương Công Kiên là người thế nào? Nguyễn Văn Lập tỳ tướng của ông là người thế nào? Vậy mà đem thành Điều Ngư lớn tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống, đến nay còn đội ơn sâu. Cốt- đãi Ngột-lang là người thế nào? Xích-tu-tự tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm, dành quỵ quân Nam Chiếu trong vài tuần, khiến cho quân tướng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt?

Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ nguỵ đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ, ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để phụng sự lòng tham không cùng; khoác hiệu Vân Nam vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của khó có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai hoạ về sau.

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa cũng nguyện xin làm.

Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Đi thuỷ thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá nào có kém gì?

Nay các người nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ nguỵ mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ quyến luyến vợ con để thoả lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cò bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng: vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta cùng bị bắt, đau xót biết chừng nào? Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ dẫu các ngươi muốn vui chơi thoả thích, phỏng có được chăng?

Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc “đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ” làm nguy; nên lấy điều “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội’ làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam vương ở Cảo Nhai.  Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các người cũng bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thoả chí, mà không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền.  Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không?

Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một quyển, gọi là Binh thư yếu lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn dời là thần tử; nhược bàng bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.

Vì sao vậy? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?

Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta.
                                                           Huệ Chi
                                        (Dịch lại trên cơ sở các bản dịch cũ)
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #105 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 12:07:55 am »

Phiên âm:

DỮ TỐNG SỨ TRANH BIỆN

Hoặc Viết:

Tạc vương sư sở thủ giả đương hoàn, kỳ thủ lại khiết nhi qui minh giả, nan phục giã.

Văn Thịnh dĩ vi thổ hữu chủ, thuộc thủ lại khiết nhi đào khứ, đạo chủ chi vật dã. Chủ thủ tự đạo bất xã chi. Tang đạo vật, ký tang pháp diệc bất hứa.  Huống khả ô ư tỉnh tịch hồ?

Dịch nghĩa:

BIỆN LUẬN VỚI SỨ TỐNG 1

Có người nói:

Đất đai nào trước đây quân nhà vua 2 đã đánh chiếm thì nên trả lại cho (Đại Việt), còn những đất đai mà bọn lại mục của họ (tự ý) đem dâng nộp để theo ta thì khó lòng trả lại.

 
Văn Thịnh cho rằng:

- Đất thì có chủ: bọn thuộc lại giữ đất đem dâng nộp và trốn đi, thì đất ấy thành vật ăn trộm của chủ. Coi giữ đất cho chủ lại tự ý lấy trộm tất không tha thứ được, mà ăn hối lộ và tàng trữ của ăn trộm pháp luật cũng không dung. Huống chi, bọn chúng lại có thể làm như bẩn cả sổ sách của quý tỉnh hay sao
                                                          Theo Hoàng Xuân Hãn
                                            Xuất xứ: Tục tư trị thông giám trường biên


BÀI THƠ CỦA VUA TRẦN NHÂN TÔNG TIỄN LÝ TƯ DIỄN

Vua Trần Nhân Tông đã đánh bại cuộc xâm lược thứ ba ( l289) của nhà Nguyên, nhưng ngay sau khi thắng lợi, nhà vua đã cử sứ sang nhà Nguyên “tạ lỗi” vì thế năm 1289, nhà Nguyên cử Lý Tư Diễn sang nước ta mang dụ của vua Nguyên “tha lỗi” cho ta. Trần Nhân Tông làm thơ tiễn Lý Tư Diễn:

Vũ lộ uổng dương phổ Hán ân
Phượng hoàng an chiếu xuất hồng vân
Thác khai địa giác giai hoà khí
Tịnh hiệp thiên hà tẩy chiến trần
Tận đạo tì thơ thập hàng hạ
Thắng như cầm điện ngũ huyền huân
Càn khôn kiêm ái vô Nam Bắc
Hà hoạn vân lôi phục hữu truân.

Dịch nghĩa:

Ơn nhà Hán như mưa móc tràn trề khắp nơi
Chim phượng ngậm tờ chiếu đỏ xuất hiện nơi đám mây hồng
Mảnh đất mới mở rộng cũng có hoà khí
Kéo sông Thiên hà tẩy chiến trần
Mọi người đều bảo tờ chiếu ban xuống chỉ có mươi hàng
Nhưng hơn hẳn tiếng hoà âm của chiếc đàn cầm năm dây
Trời đất vốn một lòng yêu thương không phân biệt Bắc Nam
Còn lo gì gặp bước gian truân gió mưa, sấm sét.


______________________
1. Đầu đề do chúng tôi thêm. Đây là một đoạn đối đáp của Lê Văn Thịnh với phái bộ Tống trong Hội nghị Vĩnh Bình (1084) mà sách Tục tư trị thông giám trường biển đã ghi được. Xin trích đăng để bạn đọc hiểu thêm quan điểm và thái độ cứng rắn của Lê Văn Thịnh trong hội nghị này.
2. chỉ vua Tống.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #106 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 04:57:46 pm »

ĐẦU MỤC NƯỚC AN NAM LÀ LÊ LỢI TRẢ LỜI TỔNG BINH ĐẠI NHÂN, THÁI GIÁM SƠN, MÃ HAI ĐẠI NHÂN XÉT

Tôi nghe: Lời nói không cứ thực hay dối mà tình không thể tự che giấu, việc phải có, phải hay trái mà lẽ không thể tự mờ tối được; duy có người trí giả mới có thể phân biệt được. Còn người chấp nhất thủ thường, mà đắm đuối vào việc nghe thấy, tất nhiên có chỗ mờ tối mà vẫn không tự xét ra.

Tôi nay nhận được thư đại nhân gửi đến, nói về thứ bậc lớn nhỏ, tôn ti và chia ra việc trí, ngu, được, hỏng. Lời nói ấy thực là đúng đắn. Phàm xưa nay tôi sở dĩ cần quyền đưa ra ý kiến hai ba lần gửi thư như thế, chính là đúng như lời tôn công đã nói.  Nước lớn hết đạo của nước lớn, nước nhỏ hết lòng thành của nước nhỏ. Về việc mưu tính cho nhân dân trong thiên hạ, há chẳng sâu và xa ư? Đại nhân gọi là lẽ chính, đạo lớn, trừ ra ngoài hai việc ấy, há lại có đạo lý nào khác nữa ơ? Lại bảo rằng: Tôi muốn lấy lối Diễn, Nghệ mà đối đãi với đại nhân, sao câu nói ấy không có lượng rộng thế?

Tôi trước đây có bắt được quan và quân nhân các thành, bất tất nói làm gì. Hiện nay lại mới bắt được quân lính đến hơn hai vạn: các cấp thượng thư đô đốc, đô ti, chỉ huy, thiên bách bộ, hơn một trăm người, ngựa ba nghìn con, đều là tôi làm sự giả dối mà bắt được chăng?  Hay là bất đắc dĩ mà thế chăng? Nay tôi muốn giữ lại mấy vạn người phục dịch cho tôi cũng không ích gì, mà triều đình bị mấy vạn người ấy cũng không tổn gì. Nay tôi liệu tính số quân của các đại nhân ở trong thành, chẳng qua chỉ độ vải mươi vạn người mà thôi. Tôi tuy lại kiếm cách lừa dối để bắt được hết cũng chẳng bổ ích gì cho việc cả. Ví bằng dùng mưu kế dĩ nhiên trong một lúc mà để mối lo cho bốn biển đến mãi vô cùng, thì chi bằng khéo tính việc dài lâu để làm phúc cho nhân dân toàn. thiên hạ. 

Cho nên sao bằng không thấy cái này mà đổi cái kia, bỏ cái ngắn mà lấy cái dài. Do đó mà bàn, thì sự thành thực hay giả dối của tôi không thể biết được.  Nay đại nhân mang tiết việt chuyên việc đánh dẹp, thì việc quân ở cõi ngoài có thể tuỳ tiện mà xử trí. Huống chi việc binh không thể ở xa mà ức đạc được; việc, có việc hoãn việc cấp, có thể nhất nhất đợi mệnh lệnh triều đình được ư?

Nay, lại xin bày kế giúp đại nhân, chỉ có việc đánh và giữ kế đến việc chết, quyết không có lẽ nào không vâng mệnh mà tự bỏ về. Thế thì câu nói là: “Đại tướng ở bên ngoài, mệnh lệnh của vua có thể có việc không tuân theo cũng được”. Câu nói ấy cho là không đáng tin ư? Huống chi bảo rằng: Chết mà có ích cho nước, thà chết cũng đáng. Nếu chết mà không bổ ích gì cho nước thì chết uổng mà thôi.

Biết thế nào là có ích, thế nào là vô ích? Kìa như Trương Tuần giữ thành Thú Dương là có ý muốn che chắn cho đất Giang, Hoài. Nếu Giang, Hoài không giữ được thì nhà Đường sẽ nguy. Cho nên cái chết của Trương Tuần là đáng chết, không như thế, chỉ bo bo giữ tiết nhỏ mọn mà chết, làm hại cả tính mệnh của nhân dân trong mộl thành, thì lòng của người nhân giả không làm thế.

Nay, bọn các ông giữ một thành trơ trọi, mà tự bảo là chịu chết theo với thành, thế thì thực có bổ ích gì cho nước không? hay là muốn đợi khi không còn viên đạn nào để khêu ra cái hoạ cùng binh độc vũ chăng! Túng nhiên giữ được thành không bị mất thì có bổ ích gì cho Nhà nước. Nếu thành ấy bị hạ, lại có người như An Viễn hầu (Liễu Thăng) lại đến, để cho dân nước nhỏ phải mỏi mệt tai hoạ, thế là lỗi của ai chứ? Đúng như câu nói:

“Tham hư danh mà chịu thực hoạ” .

Nếu bảo rằng: một năm không đánh được thì hai năm phải đánh được, cho đến năm năm, mười năm, hết năm này đến năm khác, cũng đến đánh được. Ta sợ rằng đức hiếu sinh của thượng đế tất không nỡ lòng như thế. Nếu quả như vậy là việc làm của đời cuối sắp suy mất. Vả lại ngày nay đương buổi thánh minh, mà đại nhân là vị nguyên soái có văn học, há lại không biết nhân dân có tội gì, mà nỡ để cho gặp phải hoạ hại lâu đến mãi trăm năm mà không dứt ư?
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #107 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 04:59:31 pm »

Lại nói ngay đến chuyện nhà Hán với Hung Nô, nhà Đường với Cao Ly, đại nhân há chẳng thấy Vũ Đế (nhà Hán) xuống chiếu bỏ đất Luân Đài; Thánh Tông (nhà Đường) rút quân ở Tân Thị về. Hai bậc vua ấy, nếu không biết hối lỗi, thì thiên hạ chẳng suýt nữa nơm nớp lo ư? Sách truyện tức Luận ngữ có câu: “Ba người cùng đi tất có người là thày ta, mình chọn lấy điều nào thiện thì theo, điều nào ác thì đổi đi” l. Thế thì người thiện, người ác đều là thày ta cả. Tôi không biết đại nhân sẽ lấy vua Hán, vua Đường biết hối lỗi là bậc đáng làm thày ư? Hay là lấy vua Hán vua Đường cùng binh độc vũ là bậc đáng làm thày ư? Sẽ lấy vua Thang vua Vũ dấy nước đã diệt nối dòng dã tuyệt làm phép nhất định chăng? Hay là lấy nhà Hán, nhà Đường thích khoe khoang, ưa lập công làm phép nhất định chăng? 

Nay hãy bỏ việc ấy mà bàn (thiết thực ngay); đại nhân thực cho lời nói của tôi là phải nên theo ước trước, xin được Sơn thái giám sang qua sông cùng hội họp. Tôi cũng sai người thân ruột thịt của tôi vào thành trực hầu, để cho lời giao ước được chắc chắn, rồi sau sẽ lui quân ở các vùng Thanh Đàm,, Lũng Giang để cho đại nhân được thung dung đem quân về nước. Phàm các đường sá, cầu đập, lương chứa cung cấp và sản vật địa phương đem tiến cống, tờ biểu lời lẽ có lễ độ, các hạng, tôi đã dự bị sẵn. Và các ông Hoàng thượng thư, Thái đô đốc, cũng đã vì tôi dâng một bản tâu lên rồi. Đại nhân có thể suy lòng mình, đặt vào lòng người, thì chúng tôi còn tội gì mà nỡ lòng phụ bạc nữa?

Nếu cứ như trước, kéo dài năm tháng, chỉ lấy lời nói suông cùng lừa dối nhau, muốn đợi quân khác đến cứu viện, như ngày trước đã làm, ngoài mặt thì hoà giải mà ngầm có mưu khác, rồi đại quân kéo đến, lại để cho tôi phải phía bụng, phía lưng đồng thời phải đương với địch thủ, như thế thì bọn ngu phu ngu phụ cũng còn chẳng tin được, huống chi tôi là kẻ tuy không có mưu trí mà lại tin thế ư? Những việc tôi làm đều là tình ý thực thà, có trời đất quỷ thần soi rọi trên đầu, xét ở bên cạnh. Nếu làm không đúng lời nói đã có mặt trời sáng soi.

Thư này gửi đến, cúi xin trả lời cho biệt.

Tuyên Đức, năm..., tháng..., ngày....


BÀI VĂN HỘI THỀ

Ghi rõ: năm Tuyên Đức thứ hai của nước Đại Minh là năm Đinh mùi tháng 11 ngày mồng 1 là ngày Ất Dậu qua đến ngày 24 là ngày Mậu Thân. 

Tôi là đại đầu mục nước An Nam tên là Lê Lợi và bọn Trần Văn Hãn, Lê Nhân Chú, Lê Vấn, Trần Ngân, Trần Văn Sảo, Trần Bị, Trịnh Khả, Nguyễn Chính, Trần Lý, Phạm Bôi, Trần Văn An, Bế Khắc Thiệu Ma Luân, cùng với:

Quan tổng binh của Thiên triều là thái bảo Thành Sơn hầu tên là Vương Thông, và các quan tham tướng hữu đô đốc là Mã Anh, Thái giám là Sơn Thọ, Mã Kỳ, Vinh Xương bá là Trần Trì, Yên bình bá là Lý An, đô đốc là Phương Chính, Chưởng đô ti sự Đô đốc Thiêm sự là Thuế Lự, đô đốc Thiêm sự là Trần Hậu, giám sát ngự sử là Châu Kỳ Hậu, Cấp sự trung là Quách Vĩnh Thanh, bố chánh là Đặc Kiêm, tả tham chính là Thanh Quảng Bình, hữu tham chính là Hồng Thừa Lương, hữu tham nghị là Lục Trinh, án sát xứ là Dương Thời Tập, thiên sự là Quách Hội;

Kính cáo Hoàng thiên (Trời), Hậu thổ (Đất) cùng với Danh sơn (Núi), Đại xuyên (Sông) và thần kỳ các xứ:

Chúng tôi cùng nhau phát tự lòng thành, ước hẹn thề thốt với nhau:

Từ sau khi lập lời thề này, quan tổng binh Thành sơn hầu là Vương Thông quả tự lòng thành, đúng theo lời bàn, đem quân về nước, không thể kéo dài năm tháng, để đợi viện binh đến nơi. Lại phải theo đúng sự lý trong bản tâu, đúng lời bàn trước mà làm.

Bọn Lê (Lợi) chúng tôi còn chứa giữ lòng làm hai, tự làm việc lừa dối, không dẹp xa ngay quân lính ngựa voi, việc làm khống lời nói ngầm sai...  Các việc nói trên tuy là không tự mình làm lấy, lại chuyển sang người khác, có xâm phạm đến một chút nào, tức thì Trời, Đất thần minh, núi cao sông lớn, cho đến thần kì các xứ, tôi cùng con cháu thân của tôi, và người cả một nước tôi, giết chết hết cả, không để sót lại mống nào.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #108 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 05:01:23 pm »

Về phía bọn quan tổng binh Thành sơn hầu là Vương Thông, nếu không có lòng thực, lại tự trái lời thề [đối với việc] người phục dịch và các thuyền đã định rồi, cầu đập đường sá đã sửa rồi, mà không làm theo lời bàn, lập tức đem quân về nước, còn kéo dài năm tháng để đợi viện binh; cùng là ngày về nước, còn kéo dài năm tháng để đợi viện binh; cùng là ngày về đến triều đình, lại không theo sự lí trong bản tâu, không sợ thần linh núi sông ở nước An Nam lại bàn khác đi, hoặc cho quan quân đi qua đâu cướp bóc nhân dân, thì Trời, Đất cùng là Danh sơn, Đại xuyên và thần kì các xứ tất đem bọn quan tổng binh Thành sơn hầu là Vương Thông, tự bản thân cho đến cả nhà, thân thích, làm cho chết hết, và cả đến quan quân cũng không một người nào về được đến nhà.

Nếu mà cả hai bên đều do lòng thành cả thì Trời, Đất thần minh đều phù hộ cho để bản thân mình mạnh khoẻ, trong nhà mình vinh thịnh, cũng hưởng lộc vị, đều được bình yên.

Trời, Đất thần kỳ cùng soi xét cho!



BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO 1
                            Nguyễn Trãi

Thay trời hành hoá, Hoàng thượng truyền rằng:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân cứu nước trước cần trừ bạo.
Xét như nước Đại Việt ta,
Thật là một nước văn hiến.
Bờ cõi sông núi đã riêng,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phươn g.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Mà hào kiệt không bao giờ thiếu.
Nên Lưu Cung tham công mà đại bại,
Còn Triệu Tiết hiếu đại 1 chóng tan tành . 1. Muốn làm to.

Toa Đô bị bắt ở cửa Hàm Tử,
Ô Mã bị giết ở sông Bạch Đằng.
Xem xét việc xưa, chứng cớ còn rõ.
Vừa đây họ Hồ chính sự phiền hà,
Để đến nỗi nhân tâm oán, phản.
Giặc Minh thừa dịp làm hại dân ta,
Đảng ngụy gian ác, mưu mô bán nước.
Thui dân đen trên lò bạo ngược,
Hãm con đỏ dưới hố tai ương.
Dối trời lừa người, kế gian dù muôn nghìn khóe.
Cậy binh gây hấn, ác chứa gần hai chục năm.
Bại nghĩa thương nhân, trời đất tưởng chừng muốn đứt;
Vét vơ thuế má, chằm nùi chẳng còn tí gì.
Khai mỏ vàng, thì xông pha lam chướng, phá núi đãi vàng;
Mò ngọc trai thì mặc giao long, dòng dây quẳng biển.


___________________________
1. Hiện nay bài Bình Ngô đại cáo có mấy bản dịch khác nhau.  Chúng tôi đã soát lại, thấy có bản dịch gần đúng từng câu từng chữ, nhưng thiếu nhạc điệu, trúc trắc khó đọc; có bản dịch phóng nghĩa, dễ đọc, nhưng lại không thật đúng nguyên văn. Việc thống nhất các bản dịch để phổ biến được nhất trí là một điều cần thiết. Bản dịch này: chúng tôi chú ý dịch đúng nghĩa theo câu và chữ để các bạn đọc nắm được nội dung thật sát. Đồng thời chúng tôi tham khảo các bản đã dịch, chọn những câu vừa sát nghĩa vừa có nhịp điệu để tập hợp lại thành mộc bản tiện cho việc phổ biên rộng rãi.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #109 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 05:06:23 pm »

Nhiễu dân đào hầm bẫy hươu đen.
Hại vật, chăng lưới bắt chim trả.
Cỏ cây sâu bọ, không loài nào được thoả sống còn;
Quan quả khốn cùng, chẳng một ai được ở yên ôn.
Hút máu mủ sinh linh, quân tham ác miệng răng nhờn béo
Ra công xây dựng cho nguy nga những dinh thự công tư.
Nơi châu lý bao tầng sưu dịch,
Trong làng xóm lặng lẽ cửi canh.
Tát cạn nước Đông Hải không đủ rửa hết vết nhơ;
Chặt hết trúc Nam Sơn, chẳng dủ ghi hết tội ác. 
Thần người đều căm giận, trời đất chẳng dung tha.
Ta đây phát tích Lam Sơn, nương thân hoang dã.
Nghĩ thế thù khôn đội trời chung,
Thề giặc nước khó cùng chung sống.
Đau lòng nhức óc kể đã mười năm;
Nếm mật nằm gai phải đâu một buổi.
Quên ăn vì giận, thường nghiền ngẫm những sách lược thao. .
Lấy xưa nghiệm nay, xét suy mọi cơ hưng phế.
Chí ở phục thù, thức ngủ chẳng quên.
Chính lúc nghĩa binh mới nổi.
Là lúc thế giặc đương hăng.

Thế mà: nhân tài lác đác như lá mùa thu,
Tuấn kiệt lưa thưa như sao buổi sớm.
Bôn tẩu trước sau đành đã thiếu người
Vạch kế bày mưu lạ càng thiếu kẻ,
Cứu dân để dạ, chí háo hức chỉ muốn về Đông 1
Cho nên xe đãi hiền vẫn luôn luôn chừa phía 2
Tuy nhiên được người dâu dễ, mù mịt trông khơi.
Gắng làm điều nhân, gấp hơn cứu đuối.
Giận hung đổ chua giết hết, nghĩ việc nước còn gian truân.
Khi Linh Sơn lương cạn mấy tuần.
Lúc Khôi Huyện, quân không một lữ.
Bởi trời muốn khốn ta để trao trách nhiệm,
Nên ta càng cố chí để vượt gian nan.
Dựng gậy làm cờ, dân chúng bốn phương tụ họp.
Hoà rượu cùng uống 3, binh sĩ một dạ cha con. 
Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bất ngờ,
Lấy ít địch nhiều, hay dùng mai phục.
Rút cục, lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn.
Lấy chí nhân mà thay cường bạo.
Trận Bồ Tất 4 như sấm vang chớp giật,
Trận Trà Lân như trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí lại càng hăng,
Quân thanh lại càng lừng lẫy.
Bọn Trần Trí, Sơn Thọ nghe tin bở vía,
Bọn Phương Chính, Lý An nín thở mong sống tàn .
Thừa thắng ruổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lấy;
Chọn quân thẳng tiến, Đông Đô đất cũ thu về. 
Ninh Kiều máu chảy thành sông, hôi tanh muôn dặm;


____________________
1. Lưu Bang nói với Tiêu Hà: Ta muốn sang miền Đông không muốn ở mãi đây.
2. Nước Ngụy Chiến quốc có ẩn sĩ là Hầu Doanh, Nguỵ công tử mang lễ vật đến mời không nhận. Công tử đặt tiệc rượu đi xe đến mời Hầu Doanh, để không chỗ ngồi bên tả để tỏ ý ân cần với họ Hầu.
3. Xưa nước Sở và nước Tấn đánh nhau, có người dâng vua Sở một vò rượu, vua cho đổ xuống sông đề mọi người cùng uống, quân sĩ cảm động, hăng hái đánh bại Tần.
2. Có Chỗ viết là Bồ Đằng.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM