Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:49:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh hùng tiêu sơn - Quyển 4  (Đọc 81793 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #10 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 06:57:04 am »

 Bà kế mẫu vốn tính nhỏ mọn, bị chồng cấm, mụ không chịu thôi. Đợi người đem hoa tới, mụ thay chồng viết bức thư chửi thanh niên công tử tàn tệ, rồi trao cho người nhà công tử chuyển giao. Từ đấy hoa không đến nữa...nhưng hình ảnh công tử đã in sâu vào tâm thức nàng.

 Đầu năm vừa qua, nàng mượn cớ muốn gần sư phụ học đạo, xin bố cho nàng cùng Tự-Mai, Thanh-Nguyên đi lễ đền các anh hùng dân tộc nhân đầu xuân. Khi đi qua Hoa-lư, nàng cùng hai em viếng vườn hoa năm trước. Thủy-tiên vẫn nở khoe sắc tươi thắm, nhưng không thấy thanh niên công tử đâu. Tự-Mai hiểu tâm sự chị, nó ngâm sẽ:

 Nhớ ai dạ những bồi hồi,
 Như đứng đống lửa, như ngồi đống rơm.

 Bị em trêu, Thanh-Mai bẹo cánh tay nó. Nó kêu lên tiếng ái. Nó chạy lại cây đào năm trước, mà hai chị em hái môt cành, để rồi bị lính vây bắt. Bây giờ là tháng hai, hoa đào đã tàn, kết thành những trái còn nhỏ. Nó chỉ vào gốc cây, bị tước mất vỏ, lộ thân mầu trắng:

- Chị xem kìa! Dường như người ta tước vỏ, viết chữ lên thì phải.

 Hai chị em chạy lại xem. Quả nhiên có người đề trên đó một bài thơ, nét mực còn tươi, dễ thường, cách đây không lâu. Tự-Mai đọc:

 Khứ niên, kim nhật thử viên trung,
 Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
 Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
 Đào hoa y cựu tiếu Xuân phong.

 Thanh-Nguyên hỏi:

- Anh Tự-Mai! Thơ chữ Nho à? Họ nói gì vậy?

 Tự-Mai nhận ra nét bút của thanh niên công tử năm trước. Nó giảng:

- Bài thơ này của Thôi Hiệu đời Đường. Nguyên đời Đường, thi hào Thôi Hiệu nổi danh khi còn trẻ tuổi. Vào một ngày mùa Xuân. Ông dạo chơi xem hoa nở. Khi qua một trang, trồng toàn hoa đào. Hoa đang độ Xuân, khoe sắc rực rỡ. Ông đến trước cổng trang giật chuông xin nước. Một cô gái nhan sắc diễm lệ ra mở cổng, đem nước cho ông uống. Vừa uống, ông vừa nhìn má cô gái phản chiếu dưới hoa, tươi đẹp ánh mầu hồng. Thế rồi ông bỏ đi, tương tư cô gái suốt một năm. Năm sau ông trở lại, giật chuông xin nước, nhưng người cho nước lại không phải cô gái năm xưa. Buồn rầu, ông đề ở cổng bài thơ này.

 Thanh-Nguyên hỏi:

- Ý nghĩa mấy câu thơ ra sao? Em chưa học chữ Nho, chẳng hiểu gì hết.

 Tự-Mai giảng cho em, nhưng mục đích trêu chị:

- Nguyên văn Tích niên, kim nhật thử môn trung nghĩa là bằng giờ năm ngoái, cũng ngày này, trong cánh cửa này. Nhưng người đề thơ trên thân đào kia đổi chữ môn là cửa thành chữ viên là vườn. Câu thơ có nghĩa khác đi: ngày rầy, năm trước, trong vườn này. Tạm dịch thành Bằng giờ năm trước, cũng nơi đây.

 Nó nhìn Thanh-Mai, nheo mắt một cái rồi tiếp:

- Nhân diện đào hoa tương ánh hồng nghĩa là má hồng trên gương mặt ai cùng phản chiếu với hoa đào. Tạm dịch thành . Rực ánh đào hoa trên má ai. Câu thứ ba Nhân diện bất tri hà xứ khứ. Nghĩa là năm nay, ta đến nơi này, thì má ai không biết đi mô? Ở tê! Câu cuối, Đào hoa y cựu tiếu Xuân phong nghĩa là Hoa đào năm ngoái còn cười gió Xuân .

 Thanh-Nguyên thích quá, nó hỏi tiếp:

- Thế rồi sau Thôi Hộ với cô gái đó có gặp nhau nữa không?

- Có! Sau khi đề thơ năm ngày, Thôi Hộ nhớ người con gái năm trước, lẩn thẩn đến chỗ đề thơ, thấy trong cổng có tiếng khóc thảm thiết. Thôi Hộ giật chuông. Một ông lão ra hỏi : « Phải cậu là Thôi Hộ không? ». Đáp « Phải ». Ông lão khóc : « Con gái tôi đọc thơ của cậu. Nghĩ rằng cậu không trở lại nữa. Nó nhịn ăn mà chết sáng nay ». Thôi Hộ xin vào điếu. Ông khóc mấy tiếng, cô gái tỉnh dậy. Hai người thành vợ chồng. Sau Thôi Hộ thi đậu tiến sĩ. Một lần được phong Lĩnh-nam tiết độ sứ .

 Ghi chú

 Trần-trọng-Kim dịch như sau:

 Hôm nay, năm ngoái cửa cài,
 Hoa đào ánh với mặt người đỏ tươi.
 Mặt người chẳng biết đâu rồi,
 Hoa đào năm ngoái còn cười gió Xuân.


 Thanh-Nguyên reo lên:

- Như vậy ông ấy sang cai trị xứ mình.

 Thế ông ấy có tốt không?

- Rất tốt! Vì không vơ vét của dân, thiếu vàng ngọc hối lộ cho các quan trong triều, thành ra chỉ ở được hai năm.

 Đến đây nó ngửa mặt lên trời cười:

- Anh xem bói, thấy rằng hồi Xuân năm trước, có người thiếu nữ đẹp như hoa đến đây hái hoa đào, rồi một chàng công tử trông thấy. Chàng say mê nàng, hàng tháng gửi hoa tặng nàng. Rồi năm nay tưởng nhớ người xưa, chàng đến đây mong tìm hình bóng cũ, nhưng không thấy. Chàng mượn thơ Thôi Hộ đề vào thân đào. Nhưng tiếc rằng người đẹp năm xưa lại chẳng chịu nhịn ăn.

 Thanh-Mai bị em trêu, nhưng nàng chỉ thở dài.

 Mải nghĩ, Thanh-Mai bị vấp vào tảng đá. Nàng giật mình trở về thực tại... đang theo Tôn Đản vào thôn trang.

 Bọn trẻ dẫn đường. Tôn Đản đi cạnh Tự-Mai. Hai đứa cao súyt soát bằng nhau. Chúng truyện trò thân mật rất tương đắc. Sau khi rẽ vào con lộ nhỏ, Tôn Đản chỉ ngôi nhà ngói xa xa ẩn hiện dưới những hàng cây xanh mướt:

- Kia là đền thờ đức ông.

Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #11 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 06:57:51 am »

 Tự-Mai hỏi:

- Đền thờ đức ông nào vậy?

- Đức Ông thời vua Bà.

 Thanh-Nguyên bỗng bật lên tiếng kêu aí chà hỏi:

- Anh Đản này! Thời vua Bà có rất nhiều đức ông. Vậy đức Ông này là đức Ông nào?

 Tôn Đản đáp:

- Tôi cũng không biết tên ngài là gì. Chỉ nghe bố tôi nói, đức ông tổng trấn thành Mê-linh. Khi vua Bà tuẫn quốc rồi, đức ông đem quân phá vòng vây, định vào Cửu-chân cùng với Đô đại vương. Song quân ít. Thế giặc mạnh, ông vưa đánh vừa chạy. Quân tan, ông bị thương, đến đây thì hóa.

 Sư bà Tịnh-Huyền gật đầu:

- Như vậy thì đức ông họ Nguyễn húy Thành-Công.

 Thanh Mai á lên một tiếng.

 Trời đã mầu tím. Từng đoàn cò trắng từ các nơi bay về đậu trên những khóm tre, nô đùa với nhau. Chúng kêu lên ríu rít, xôn xao. Đoàn người đến trước cổng đền. Đền tọa lạc trên một thửa đất khá rộng. Trước cổng có cái hồ trồng sen. Hoa sen đang giữa mùa Xuân, chỉ có mấy cái lá nhỏ . Trên bờ hồ trồng toàn thông. Gió thổi, thông reo lên thành bản nhạc vi vu liên miên bất tận. Cổng có ba cửa. Cửa giữa lớn. Hai cửa hai bên nhỏ. Chỉ có một cửa nhỏ mở.

 Trong ánh sáng mờ ảo của buổi chiều tàn, trên cổng hiện ra 4 chữ lớn:

 Tương-liệt đại vương linh từ.

 Hai bên cột lớn có đôi câu đối:

 Kỷ tải dực Trưng vương, Tô tặc bình dư long tướng ấn,
 Ngũ thôn chiêm thánh đức, Qui-trang hóa hậu ngật thần từ.

 Thanh-Mai hỏi đám trẻ:

- Thôn này là thôn Tân-qui phải không? Dường như xung quanh đây có tới năm thôn thờ đại vương. Cả năm thôn đều thuộc Tống-sơn. Đền thờ dường như được dựng vào thời Lệ-hải Bà-vương khởi binh, thì phải?

 Tôn Đản ngạc nhiên hỏi:

- Chị giỏi thực! Hồi nãy chị còn hỏi thăm đường. Thế mà bây giờ chị đã biết hết mọi truyện. Chị là thầy bói chắc?

 Thanh-Mai cười:

- Chị không phải là thầy bói, chị đọc sách mà biết. Truyện đức ông tuẫn quốc có chép trong sách rằng: « Đức ông chạy về đến Tống-sơn thì hóa. Tất cả vùng Tống-sơn đều dựng đền thờ ».

 Tôn Đản cười:

- Thì ra chị nhớ những điều ghi trong sách. Còn thực tế thì chưa từng đi qua. Chị từ Thăng-long vào đây, hẳn qua đèo Ngang, Phố-cát. Sau đó qua đò. Qua đò, bên trái đi Nga-sơn. Tại đó có đền thờ Nga-sơn công chúa thời vua Bà rồi mới đến đây. Chỉ cần đi một quãng nữa tới núi Sơn-trang. Ở đó có đền thờ Lệ-hải Bà-vương. Lăng Bà-vương lớn lắm.

 Ông từ đã được bọn trẻ báo trước. Ông chạy ra cửa đón khách:

- A-di-đà Phật. Đệ tử thực có duyên, hôm nay mới được đón tiếp sư thái và quí khách. Đa tạ Trần cô nương đã cứu mạng cháu Đản.

 Tịnh-Huyền sư thái chắp tay:

- Phúc đức! Hôm nay bần ni cùng các đệ tử được lễ đức ông.

 Ông từ đi trước dẫn đường. Từ cổng, vượt qua cái sân gạch khá rộng, đến thềm đền. Thềm có bốn bậc bằng gạch. Qua thềm, ông từ đẩy cửa bước vào trước, rồi mở rộng ra. Cánh cửa bằng gỗ lim dầy nặng. Song ông chỉ đẩy hời hợt, hai cánh từ từ mở lớn.

 Đèn nến đốt lên sáng chưng. Rất thành thạo, Đản gióng chuông, thằng Lãm đánh trống. Sư thái Tịnh-Huyền cùng bọn Thanh-Mai, Tự-Mai qùi xuống lễ. Lễ tất. Ông từ kéo màn đỏ trên bàn thờ, lộ ra pho tượng lớn như người thực. Tượng đúc bằng đồng, mặc quần áo lụa, ngang lưng đeo kiếm. Mặt trông rất uy nghiêm. Tự-Mai hỏi ông từ:

- Thưa bác, tượng của đức ông, do ai đúc và đúc từ bao giờ ? Cháu đọc sách thấy nói đức ông được phong Tương-liệt đại vương, giữ chức Đại-tư không, tức là quan văn. Sách cũng nói đức ông tuy võ công cực kỳ cao thâm, song tướng người mảnh khảnh. Còn tượng đức ông đây trông quá uy vũ, e không giống.
Ông từ mỉm cười:

- Tượng này đúc vào thời vua Đinh. Còn hình dạng đức ông thì do truyền thuyết kể lại, rồi theo đó mà đúc.
Thanh-Mai móc trong bọc ra một nén vàng, hai tay cung kính đưa ông từ:

- Sư phụ chúng tôi nhân đi hội đền thờ Lệ-hải bà vương, duyên may qua đây, được lễ đền thờ đức ông. Đức ông xưa kia là đại công thần của vua Bà. Chúng tôi là đệ tử phái Mê-Linh, thì đức ông cũng là một tổ sư của chúng tôi vậy. Xin kính cẩn gửi chút ít làm hương đèn.

 Ông từ không e ngại. Hai tay tiếp vàng:

- Trời đã về đêm. Xin sư thái cùng các vị nghỉ tại đây. Mai hãy lên đường. Tôi đã bảo nhà bếp làm cơm chay cúng dàng.

 Ông dẫn mọi người xuống nhà ngang, pha trà mời khách. Sư thái Tịnh- Huyền hỏi:

- Hồi chiều, thấy cháu Đản xử dụng võ công Tản-viên. Bọn khách qua đường cũng như chúng tôi đều ngạc nhiên không ít. Vì phái Tản-viên tuy lớn thực, song không có chi phái nào ở trong này. Bây giờ mới biết ông ẩn ở đây để giữ đền đức ông. Xin ông cho biết đại danh.

 Ông từ xua tay:

- Chúng tôi có học được mấy cái múa của đức ông để lại. Song không phải là đệ tử phái Tản-viên. Xin sư thái đừng dạy quá lời.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #12 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 06:58:41 am »

 Thanh-Mai lắc đầu:

- Ông từ ơi! Chúng tôi là người học võ công Đại-Việt, nên rất quý trọng những gì liên quan đến thời Lĩnh-Nam. Cứ như thánh tích còn để lại, thì đức ông về đến đây, ngài đã mệt kiệt sức. Khi dân chúng biết, tri hô lên. Đức ông chỉ nói được một câu, rồi qui tiên. Thế thì làm sao đức ông có thể truyền thụ võ nghệ lại?

 Mặt ông từ hơi tái đi:

- Không phải như thế đâu. Người về đến đây, ngồi nghỉ một lúc, thì viên tiểu hiệu của người cũng theo kịp. Viên tiểu hiệu đó họ Tôn. Chính là tổ tiên chúng tôi. Tổ tiên chúng tôi theo hầu đức ông lâu ngày, học được mấy cái múa, lưu truyền cho con cháu, không bõ làm trò cười cho sư thái với các vị.

 Thanh-Mai biết ông từ nói dối, song mình là khách, không muốn cật vấn. Nàng hỏi Tôn Đản.

- Trong bẩy em ở đây, chị biết tên có em với Lãm. Vậy còn năm em tên gì?

 Lãm chỉ tay vào thiếu niên béo tròn trùng trục:

- Thằng này họ Lê tên Thuận-Tông. Ngoại hiệu là Tông mập.

 Lại chỉ tay vào ba thiếu niên khác:

- Ba đứa này là anh em ruột. Vì chúng mồ côi nên bác từ đem về nuôi. Chúng nó có tên Mạnh, Trọng, Qúi, chúng họ Tôn cả. Còn thằng cao nghệu kia họ Trần tên Anh. Nhà nó cũng gần đây. Vì chúng em ưa phá, nên trong làng gọi chung là bẩy con qủi.

 Trần Anh ít nói, bây giờ mới lên tiếng:

- Chị Thanh-Mai ơi. Chị là người trong võ lâm. Vậy chị có thể kể truyện đức ông cho chúng em nghe được không?

 Ông từ cũng nói:

- Phải đấy, nhân có sư thái cùng các cao đồ phái Mê-Linh ở đây. Xin các vị đừng tiếc công dạy dỗ cho bọn trẻ này.

 Thanh-Mai đưa mắt nhìn sư thái Tịnh-Huyền. Ý nàng muốn cải chính rằng nàng chỉ thọ giới với sư phụ.
Còn võ công, nàng học từ phụ thân. Song sư thái Tịnh-Huyền bảo nàng:

- Con thuật về hành trạng của đức ông cho các em nghe đi.

 Thanh-Mai hắng giọng một tiếng,rồi hỏi:

- Có em nào biết truyện vua Bà khởi binh đánh đuổi giặc Hán, lập lại Lĩnh-nam không nào?

 Hà Thiện-Lãm nói:

- Ở làng này, ai cũng biết truyện đó cả. Vua Bà nguyên là công chúa trên thượng giới giáng sinh, để cứu dân Việt khỏi bị Hán hóa. Ngài cùng 162 tướng khởi binh. Trong một tháng chiếm lại 65 thành, tái lập Lĩnh-nam. Hết hạn bị lưu đày. Ngọc-Hoàng thượng đế gọi về trời. Ngài cùng em là Trưng Nhị đến sông Hát-giang, thì bay lên thiên cung.

 Tôn Mạnh nói:

- Mày kể còn thiếu. Đúng lý ra Ngọc-Hoàng thượng đế cho vua bà cai trị cả Lĩnh-nam lẫn Trung-quốc. Nhưng vì công chúa Phật-Nguyệt đánh trận hồ Động-đình giết quân Hán thây lấp sông Trường-giang, oán khí bốc lên đến trời. Ngọc-Hoàng thượng đế nổi lôi đình truyền phạt dân Lĩnh-nam phải chịu người Hán cai trị trong bẩy trăm năm.

 Tôn Trọng tiếp:

- Công chúa Nguyệt-đức Phùng Vĩnh-Hoa đánh trận Tượng-quận, giết quân Hán trên 20 vạn. Xác ngập bến Bồ-lăng. Ngọc-Hoàng thựơng đế phạt vua bà giảm thọ một kỷ. Đúng ra vua Bà sống tới 80 tuổi. Vì vậy chỉ còn 70 tuổi.

 Hà Thiện-Lãm hỏi:

- Thế tại sao vua Bà về trời mới có trên 30 tuổi?

 Tôn Qúi xì một tiếng:

- Thì đã hết đâu. Sau này công chúa Thánh-Thiên đánh trận Nam-hải, giết quân Hán trên bốn mươi vạn. Thây rải suốt từ Thường-sơn đến Phụng hoàng. Lại còn đại tướng Đào Nhất-Gia dùng hổ, báo, rắn, ong, voi, sói, ưng, khỉ ăn thịt quân Hán hàng mấy vạn. Ngọc-Hoàng thượng đế lại truyền phạt vua Bà giảm thọ hai kỷ nữa, còn có 50 tuổi.

 Trần Anh tỏ vẻ hiểu biết hơn:

- Trong trận Lãng-bạc. Công chúa Gia-Hưng đốt quân Hán hơn mười vạn. Oán khí ngất trời. Ngọc-Hòang thượng đế truyền bắt vua Bà về trời tức thì. Còn cái tội giết người nhiều của các tướng Lĩnh-Nam, Ngọc-Hoàng thượng đế truyền dân Việt phải chịu nạn vong quốc bẩy trăm năm.

 Nguyên sau khi vua Trưng tuẫn quốc. Dân chúng Lĩnh-Nam chịu không biết bao nhiêu đau khổ do bọn tham quan người Hán gây ra. Vì vậy, họ thường huyền thoại hóa những di tích cũ, hầu dậy con cháu dừng quên tổ tiên. Cho nên những truyện tường thuật ngày càng phong phú, mỗi nơi một khác. Các anh hùng thời vua Trưng hầu hết đi vào huyền-sử. Đám trẻ này được phụ huynh kể cho nghe, rồi chúng tin là thực. Hôm nay nhân có người lạ, chúng thi nhau kể, để tỏ cái hiểu biết của mình.

 Thanh-Mai để cho bọn trẻ bầy tỏ hết kiến thức rồi nàng mới chậm chạp kể:

- Đức ông họ Nguyễn húy Thành-Công, xuất thân phái Tản-viên. Ngài là sư thúc của vua Trưng. Niên hiệu Lĩnh-Nam thứ 3 (43 sau TL), tháng chạp, sau khi công chúa Gia-Hưng Trần Quốc đại phá Mã Viện tại hồ Lãng-bạc. Mã Viện đem đại quân định tràn ngập thủ đô Mê-linh. Triều đình thể theo kế họach của Cửu-chân vương Đô Dương, phân tán quân đội, ẩn vào rừng kháng chiến như thời Âu-lạc đánh quân Tần. Vua Trưng cùng triều đình rút về Cẩm-khê. Ngài truyền đức ông ở lại tổng trấn Mê-linh. Ngày mồng 8 tháng 2, vua Trưng cùng triều đình bị bọn Lê Đạo-Sinh phục kích, tuẫn quốc ở Cẩm-khê. Ngày mồng chín, Bắc-bình vương Đào Kỳ, cùng vương phi Nguyễn Phương-Dung đem quân từ Long-biên lên cứu viện, nhưng đã trễ. Ngày mồng 10, Mã Viện đem đại quân vây Mê-linh.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #13 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 07:00:27 am »

 Thanh-Mai ngừng lại. Đám trẻ ngơ ngác hỏi:

- Rồi sao nữa? Đức ông có chạy thoát không?

- Không, đức ông không chạy. Mã đem quân vây đánh suốt 3 tháng không được. Y sai sứ vào thành thuyết đức ông. Mã hứa nếu đức ông hàng, sẽ được giữ nguyên chức tước cũ.

 Thằng bé Trần Anh ngồi im từ đầu đền cuối bỗng lên tiếng:

_ Tên Mã Viện thực xảo quyệt. Nó đánh Đông dẹp Bắc cũng chỉ được phong Tân-tức hầu, làm sao nó có thể tâu xin vua Hán phong cho đức ông tước Vương?

 Ghi chú

 Theo Hậu-hán thư quyển 24 Mã Viện liệt truyện trang 827-867 thì Viện được phong Tân-tức hầu. Song khi Viện tử trận, ấn bị thu, chức tước bị bãi. Đời sau các vua Hán mới thương tình tái truy phong.


 Tôn Đản hỏi:

- Thế đức ông có đầu hàng không?

 Thanh-Mai hỏi đám trẻ:

- Nếu các em là đức ông. Các em sẽ hành động ra sao? Vì giữ thì không nổi, bởi triều đình bị đánh tan. Còn đánh thì quân ít, lương tuyệt.

 Hà Thiện-Lãm vung tay:

- Em chặt đầu sứ gỉa, rồi thủ thành. Một mặt cầu cứu với các nơi khác.

 Tôn Đản lắc đầu:

- Không ổn! Đánh như vậy chỉ tổ chết hết quân, mà giặc vẫn lấy được thành. Chi bằng gỉa kế đầu hàng. Một mặt dặn dò binh sĩ chuẩn bị tác chiến. Chờ đêm giặc không phòng bị, bất thần đổ quân ra phá vòng vây vào rừng kháng chiến.

 Thanh-Mai lắc đầu:

- Đức ông không làm thế. Các em thử nghĩ xem, còn cách nào nữa không?

 Trần Anh nói:

- Em giả đầu hàng. Thế nào Mã Viện cũng đãi tiệc ăn mừng, thình lình bóp cổ cho nó chết.

 Thanh-Mai cười:

- Đức ông hành động như em nghĩ. Đức ông hẹn hôm sau sẽ đem quân ra ngoài thành đầu hàng. Mã Viện tưởng thực, tiếp đón đức ông cực kỳ chu đáo. Y tiến quân vào tiếp thu thành trì, kho tàng, sau đó bầy tiệc ăn mừng. Trong tiệc Mã hỏi đức ông kế sách làm thế nào để đánh vùng Cửu-chân. Đức ông ậm ừ một lúc rồi nói:

- Hàng tướng, văn không thông, võ không giỏi, đâu còn giám mở miệng bàn đại kế?

 Mã Viện nghĩ được một kế độc. Y định sai đức ông đi tiên phong, đem bản bộ quân mã tiến chiếm Cửu-chân. Đức ông ngần ngại một lúc rồi nhận lời.

 Lê Thuận-Tông vỗ đùi một cái suýt xoa:

- Mưu kế hay thực. Thế Mã Viện có bị trúng kế không?

- Bị.

 Tôn Mạnh hỏi:

- Mưu kế gi?

 Lê Thuận-Tông cười:

- Thế này nhé: Thằng Mã Viện là con cáo già. Nếu Đức-ông tỏ vẻ ta đây giỏi, bầy kế nọ, mưu kia, ắt Mã Viện nghi ngờ. Vì vậy Đức-ông phải làm bộ ra vẻ chán đời. Tuy vậy đã hết đâu. Mã còn sai Đức-ông đem người Việt đánh người Việt. Nếu Đức- ông hoan hỉ đi ngay, hầu thoát nạn, ắt Mã nghi ngờ. Vì thế Đức-ông làm bộ ngần ngại không muốn mình đem người Việt giết người Việt. Mã không nghi ngờ, càng ra sức ép Đức-ông.

 Thanh Mai tiếp:

- Đức-ông mật cho chim ưng liên lạc với Đô đại vương, để khỏi bị ngộ nhận. Đô đại vương hẹn rằng: Khi Mã đem quân vào đánh Cửu-chân. Đêm Đô đại vương đem quân cướp trại. Đức-ông mở cổng trại cho quân Cửu-chân vào. Mã Viện để Lê Đạo-Sinh cùng đám đệ tử ở lại vây Long-biên. Y cùng Đức-ông tiến quân. Mặt biển Lưu Long đem chiến thuyền, chở quân đổ bộ lên biển Nghi-sơn, Biện-sơn.

 Thanh-Mai ngừng lại. Hà Thiện-Lãm hỏi:

- Rồi sao nữa?

----------------------

 Ghi chú :

1) Câu đối trên đây chép ở đền thờ anh hùng Nguyễn Thành-Công. Hiện còn nhiều nơi thờ ngài. Hai nơi quan trọng nhất:

- Quê hương của ngài tại năm thôn Tư-đình, Nha-thôn, Sài-đồng, Trạm-thôn, Ô-cách thuộc xã Gia-thụy. Nay thuộc xã Gia-thụy, Long-biên, huyện Gia- lâm, tỉnh Hà-nội.

- Tại nơi ngài tuẫn quốc thuộc xã Tân-qui, huyện Tống-sơn tỉnh Thanh- hóa.

2) Sử không chép bà Triệu tuẫn quốc hay chết năm nào. Huyền sử kể rằng khi Lữ Đại đem quân vây hãm thành Cửu-chân (Thanh-hóa), bà cùng 300 đệ tử rút lên núi Chung-chinh. Lữ Đại hao binh tổn tướng không biết bao nhiêu mà lên núi không được. Lữ vây hơn năm, lúc lên được núi, thì chỉ thấy doanh trại điêu tàn, người không một bóng.

 Sau dân chúng nhớ công đức xây hai ngôi lăng tượng trưng. Một trên núi Chung-chinh. Lăng này bị Trương Phụ phá hủy hồi 1408. Còn lăng ở núi Sơn-trang, nay vẫn còn, cùng với đền thờ. Dân chúng gọi núi này là núi Gai hay núi Tùng, thuộc xã Phú-điền, nay là xã Triệu-lộc huyện Hậu-lộc, tỉnh Thanh-hóa.
Độc giả có thể tham khảo tài liệu viết về bà, các sách viết bằng chữ Hán :

° ĐVSKTT, Ngoại kỷ 4.

° KĐVSTGCM, Tiền biên 3.

° Các tỉnh địa dư chí.

° Ái-châu bi ký.

° Thanh-hóa tỉnh chí.

° ĐNNTC.

° Đối liên thị văn tạp biên.

 Ngày hai mươi mốt tháng hai là ngày diễn ra trận đánh cuối cùng của bà với Lữ Đại. Nhân đó dân chúng lấy làm ngày giỗ.

Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #14 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 07:01:25 am »

Hồi 2
Anh hùng muôn năm cũ

 Thanh-Mai uống một hớp nước trà, rồi tiếp:

- Đêm, quân Cửu-chân thình lình cướp trại. Quân Mê-linh mở tung cửa trại ra. Hai bên cùng nổi lửa đốt trại Hán. Quân Hán tan vỡ. Mã Viện vội vàng lên ngựa bỏ chạy. Chạy tới Linh-trường lại bị trúng phục binh của quốc công Chu Bá. Mã kinh hoảng bỏ chạy thục mạng, chỉ còn một người một ngựa. Tới Kẽm-trống, y ngừng lại để thở, xuống suối vục nước uống. Thình lình có tiếng chân ngựa phi. Y nhìn lên thì thấy Đức-ông. Không còn hồn vía nào nữa. Y nhủi vào bụi rậm trốn. Đức-ông đuổi đến nơi, thấy ngựa Mã, mà không thấy người. Đức-ông cho rằng hắn đã đổi ngựa chạy trốn. Thôi, chị để Tự Mai kể. Chị là con gái kể không được.

 Cả bọn trẻ nhao nhao:

- Sao? Tại sao chị kể không được?

 Trần Tự-Mai cười lớn:

- Có gì lạ đâu. Đức-ông đuổi Mã lâu qúa. Ngài mắc tè. Ngài vạch quần tè ngay vào bụi cây có Mã Viện núp. Nước tiểu của ngài tưới lên mặt Mã, mà Mã không dám động đậy, cứ phải ngồi im chịu trận. Giữa lúc đó một đạo quân của Phùng Đức kéo đến. Đức-ông lên ngựa bỏ chạy. Bấy giờ Mã mới chui ở bụi rậm ra. Đức-ông tuy bỏ chạy, nhưng còn nhìn về sau, thấy Mã Viện từ trong bụi chui ra. Đức-ông bật cười quay trở lại, hỏi y:

- Phục-ba tướng quân. Thế nào, người uống nước đủ chưa?

 Mã Viện tuy đã hoàn hồn. Nhưng chân tay vẫn còn run. Y ra lệnh cho Phùng Đức:

- Phùng tướng quân. Mau giết chết tên Nam man kia cho ta.

 Phùng Đức không hiểu gì. Y hỏi lại:

- Thành-Công đã đầu hàng triều đình, lại vô tội. Tại sao đem giết đi?

 Mã Viện đã lấy lại được bình tĩnh:

- Nó trá hàng. Vì vậy ta bị bại. Tiền quân tan nát hết rồi.

 Phùng Đức chợt hiểu. Y phóng chưởng tấn công đức ông. Phùng là chú, là sư phụ của Phùng Dị. Võ công Phùng Dị vốn cao hơn Đức-ông. Huống hồ sư phụ y. Đấu được hơn 20 chiêu. Đức-ông yếu thế bỏ chạy. Mã Viện xua quân đuổi theo. Đức-ông vừa đánh vừa lui. Khi về đến đây thì kiệt lực. Ngài nằm dài trên mỏm đá mà ngủ. Rồi hóa.

 Ông từ giữ đền tiếp:

- Sự thực như thế này. Sau khi Đô đại vương cả phá quân Hán, ra lệnh thu quân. Điểm lại tướng sĩ thấy thiếu Đức-ông. Đại vương cho lệnh quân sĩ tìm Đức-ông. Đức ông có viên tiểu hiệu họ Tôn tên Trung-Thành. Viên tiểu hiệu phi ngựa tìm chúa tướng. Khi ông tới đây thì gặp Đức-ông. Đức-ông mệt quá, chỉ dơ tay ra hiệu, dặn dò đôi truyện rồi hóa. Ông tiểu hiệu đó là tổ tiên chúng tôi.

 Sư thái Tịnh Huyền hỏi:

- À thì ra thế. Bần ni có một điều muốn thỉnh. Chẳng hay ông có thể cho biết chăng?

- Xin sư thái cứ dạy.

- Lúc biết vận nước sắp nguy kịch. Vua Bà lệnh cho Bắc-bình vương Đào Kỳ, Tể-tướng Nguyễn
Phương-Dung, Đại-tư-đồ Phùng Vĩnh-Hoa họp nhau lại chép tất cả bí quyết võ công các phái Lĩnh Nam thành bộ Lĩnh-nam võ kinh. Lại sai chép tất cả học thuật của phái Sài-sơn như: phép trồng cấy, thiên văn lịch số, cùng bộ Dụng binh yếu chỉ của công chúa Thánh-Thiên. Sau đó sao cho mỗi phái một bản. Bản của phái Sài-sơn, do công chúa Nguyệt-đức giữ, bị cháy trong trận đánh cuối cùng với quân Hán. Bản của phái Long-biên do Tể-tướng Phương-Dung giữ thì trao cho sư đệ Đào Nhị-Gia, đem theo cùng với hai người con của ngài là Đào Tử-Khâm và Đào Tường-Qui. Đào Nhị-Gia tuyệt tích từ sau trận Long-biên. Bản của phái Cửu-chân thì bị thất lạc khi đại tướng quân Trần Dương-Đức tuẫn quốc trong thành Cẩm-khê. Bản của phái Hoa-lư cũng bị thất lạc sau khi chưởng môn là quốc công Cao Cảnh-Sơn tuẫn quốc trận Hát-giang. Chỉ có bản của phái Tản-viên hy vọng còn. Bản này do Đức-ông cất giữ. Không biết khi Đức-ông hóa, thì bản đó còn hay không?

 Tôn Đản hỏi:

- Em nghe nói, cuối bộ Lĩnh-Nam vũ kinh còn ghi chú nơi cất dấu hai kho tàng lớn bậc nhất lịch sử cổ kim. Không biết kho tàng, vũ kinh có thực hay không, mà suốt gần nghìn năm nay trong võ lâm nổi lên không biết bao nhiêu phong ba, bão táp. Vùng này khốn khổ vô cùng, người ta đổ xô đến tìm những thứ đó. Chị Thanh-Mai, sự thực ra sao?

- Vũ-kinh đương nhiên có rồi. Còn kho tàng, sử ghi đàng hoàng. Hồi nhà Thương cai trị dân, bốn phương chư hầu tiến cống, châu báu kể sao cho siết. Chu diệt Trụ, kho tàng đó thuộc Chu. Chu phong tám trăm chư hầu. Hàng năm chư hầu tiến cống. Vua Chu cất vào với bảo vật đời Thương. Chu trải tám trăm năm, nhà Chu tích lũy báu vật chư hầu lại cùng với tích kim nhà Thương, biết bao nhiêu mà kể. Tần diệt Chu, lấy kho tàng đó. Tần thanh toán bẩy nước, thống nhất thiên hạ, thu vàng ngọc về tích ở Hàm-đan với kho tàng Thương-Chu thành kho Thương-Chu-Tần. Hán Cao-tổ vào Hàm-dương đầu tiên chiếm trọn vẹn kho tàng Thương-Chu-Tần, đem về chôn ở gầm điện Vị-ương. Các vua Hán đi cướp các nước xung quanh, hợp với kho tàng trên gọi là kho tàng Tần-Hán. Vương Mãng cướp ngôi Hán. Y biết mình không chính nghĩa, khó giữ ngôi vua. Y đào kho tàng Tần-Hán chôn ở hồ Động-đình. Thời Lĩnh-nam, Trưng Nhị, Trần Năng, Hồ Đề, Phật-Nguyệt đem quân đánh Trường-sa, biết nơi dấu kho tàng. Niên hiệu vua Trưng thứ nhất (39 sau TL), ngài sai công chúa Yên-lãng, Nghi Hòa đào lên đem về Giao-chỉ. Khi công chúa Yên-Lãng chở đến Khúc-giang, gặp đoàn cao thủ Mã thái hậu đuổi theo đánh cướp. Công chúa đem chôn cất tại đây.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #15 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 07:02:26 am »

 Tôn Đản chau mày:

- Đây mới là kho thứ nhất. Kho thứ nhì ở đâu?

__ Kho thứ nhì gồm tích sản 88 đời vua Hùng, vua An-Dương và Triệu Đà. Thời Lĩnh-nam, sau trận đánh Bạch-đế, kho tàng này về tay Thiên-ưng lục tướng. Trưng Nhị sai đại tướng Hồ Hác cùng Thiên-ưng lục tướng chôn ở núi Tản-viên. Bản đồ cả hai kho tàng đều chép vào cuối bộ Lĩnh-nam vũ kinh. Hơn nghìn năm qua, võ lâm thi nhau tìm bộ kinh thư này, bởi muốn trở thành anh hùng vô địch cũng có, muốn đoạt hai kho tàng cũng có. Vì vậy phong ba nổi lên không ngừng.

 Ghi chú,

 Tất cả những biến cố này, tôi đã thuật trong bộ Anh-hùng Lĩnh-Nam, Động-đình hồ ngoại sử và Cẩm-khê di hận, do Nam-á Paris xuất bản.


 Mặt ông từ hiện ra những nét kì dị khó hiểu.

 Trời dần về khuya. Ông từ sai vợ thỉnh sư thái Tịnh-Huyền đi ngủ. Tôn Đản cùng các em nhường phòng ngủ của mình cho Thanh-Mai, Tự-Mai. Chúng ngủ ở phòng khách. Tự-Mai nói sẽ vào tai chị:

- Chị Thanh ơi! Em dám qủa quyết bộ Lĩnh-Nam vũ kinh với bộ Dụng-binh yếu chỉ, Đức-ông trao cho tổ tiên ông từ. Hiện ông từ còn lưu giữ. Vì hồi chiều em thấy Tôn Đản xử dung võ công Tản Viên. Về sau đổi sang Cửu- chân, Quách Quỳ mới bị bại.

- Đúng! Em nói đúng. Đối với võ công Lĩnh-nam, thì võ công Tản-viên đứng đầu. Còn đối với võ công Trung-nguyên, bị võ công Cửu-chân khắc chế, nên chỉ vài chiêu Tôn Đản thắng Quách Quỳ.

- Có một điều em không hiểu: Tại sao

 ông từ giữ tất cả kho tàng võ công Lĩnh-nam trong tay, mà chỉ dạy Tôn Đản có mấy chiêu. Vì vậy Tôn Đản tuy thắng Quách Quì, mà thắng rất khó khăn!

 Thanh-Mai bẹo má em:

- Thằng chó này, nói trước quên sau. Bố chả từng dạy rằng: Khi chép võ kinh, binh thư, bao giờ người chép cũng dùng những thuật ngữ đặc biệt. Để lỡ ra khi di thư lọt vào tay người khác phái thì bí quyết mới không bị truyền ra ngoài. Sau đó người chép mới làm một bài ca khuyết, giải thích các thuật ngữ đó. Bài ca khuyết chỉ truyền khẩu cho con, cháu, đệ tử mà thôi.

 Tự-Mai reo lên:

- Em nhớ ra rồi. Hồi xưa khi Vạn-tín-hầu Lý Thân chép bộ Văn-lang vũ kinh đã dùng cách đó. Bởi vậy Bắc-bình vương Đào Kỳ tìm thấy di thư trong cây gậy đồng mà không hiểu gì. Sau nhờ đại hiệp Nguyễn Phan dạy cho bài ca khuyết mới hiểu hết bí quyết của kiếm pháp Long-biên.

 Thanh-Mai thở dài:

- Học thuật thời Lĩnh-nam được chép trong bộ di thư vĩ đại. Tiếc thay, đến nay không tìm ra. Sau khi vua Bà tuẫn quốc, các tướng lãnh ẩn vào dân chúng thu nhận đệ tử, truyền lại sở học. Song mỗi người chỉ nhớ được một phần nhỏ mà thôi. Ông từ họ Tôn chắc chắn có di thư trong tay. Nhưng ông không có khẩu quyết, vì vậy ông luyện tập không có kết qủa.

 Tự-Mai chợt nhớ ra điều gì, nó « á » lên một tiếng:

- Có thể như thế.

 Thanh-Mai hỏi:

- Cái gì?

- Người đứng chủ biên bộ sách ấy là công-chúa Nguyệt-đức Phùng Vĩnh-Hoa. Vậy chắc chắn bà chép bằng văn tự Khoa-đẩu của mình. Ông từ không biết văn tự đó nên không hiểu.

 Thanh-Mai gật đầu:

- Có thể như thế.

 Nhớ ra điều gì, Tự-Mai hỏi chị:

- Hôm nay là ngày mười bốn tháng hai. Ngày hai mươi mốt là ngày giỗ Lệ-hải Bà-vương. Khi chị em mình đi, bố không dặn bao giờ về, vậy chúng mình cứ theo sư phụ vân du khắp nơi cho sướng.

 Thanh-Mai lắc đầu:

- Em tưởng. Đi như vậy, khi về, bố đánh què chân.

- Mình đổ thừa tự sư phụ chưa cho phép về. Mình theo sư phụ học hỏi, chứ đâu có đi chơi? Cứ đem sư phụ ra, là bố không bao giờ trách phạt bọn mình đâu mà sợ. Mình đi đến ngày mười sáu tháng tám, thế nào sư phụ cũng về Thăng-long dự giỗ Bắc-bình vương Đào Kỳ. Bấy giờ trước mặt sư phụ, đời nào bố mắng.
Thanh-Mai thấy em nói có lý, nàng bẹo má nó:

- Thằng này, mới tý tuổi mà đã nổi máu giang hồ rồi. À này, giỗ Bắc-bình vương năm nay chị e có đổ máu, chứ không giản dị đâu? Không biết bố sẽ về phe nào? Hôm trước sư phụ lo nghĩ về truyện này không ít.
Người sợ bố đứng về phe phù Lê . Chứ không về phe ủng Lý .

- Truyện này em chưa nghe qua. Phù Lê với ủng Lý khác nhau thế nào, mà ngày giỗ Bắc-bình vương lại có đổ máu?

 Thanh-Mai nói nhỏ:

- Từ khi vua Đinh thống nhất sơn hà, thì gần như trong nước mình, mọi quyết định do võ lâm ngồi lại với nhau. Võ lâm Đại-Việt mình hiện có các phái Mê-linh, Tiêu-sơn, Tản-viên, Sài-sơn, Tây-vu và Đông-a nhà mình. Ngoài ra còn ba mươi sáu trang, động cũng đỉnh lập ra một phái, song thế lực họ còn nhỏ, họ phải dựa vào phái lớn, nên không đáng kể. Khi vua Đinh bị giết, Lê Hoàn dùng hành vi dâm đãng, tư thông với vợ của chúa, rồi cướp ngôi con thơ. Các phái đều căm hận. Ấy vậy mà khi giặc Tống sắp qua, chưởng môn phái Tiêu-sơn là Vạn-Hạnh thiền sư triệu tập anh hùng trên núi Tiêu-sơn bàn kế đối phó. Bấy giờ phái Mê-linh, Sài-sơn, Tản-viên đều chống Lê Hoàn. Ông nội mình làm chưởng môn phái Đông-a, nêu ngọn cờ chính nghĩa giết giặc ngoài trước rồi hô hào võ lâm đánh Tống. Vì vậy các phái Sài-sơn, Mê-linh, Tản-viên đành tuân theo quyết định chung của ba phái kia, tha tội cho Lê Hoàn, cùng đứng lên dẹp giặc. Do đó Lê Hoàn thắng Tống lập ra nhà Lê.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #16 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 07:03:14 am »

 Tự-Mai hiểu ra:

- Rồi mới đây, Lý Công-Uẩn lại dùng lối đó, cướp ngôi nhà Lê, lập ra triều Lý. Võ lâm thiên hạ không phục. Họ hẹn nhau nhân dịp giỗ Bắc-bình vương năm nay ở Thăng-long, bắt Lý Công-Uẩn thoái vị, trả ngôi về cho nhà Lê. Nhưng không biết phái nào bênh Lê, phái nào bênh Lý?

- Phái chống quyết liệt là Sài-sơn. Phái bênh Lý đương nhiên là Tiêu-sơn, vì Thuận-thiên hoàng đế Lý Công-Uẩn là đệ tử phái này. Phái Tây-vu, theo Lý, vì chưởng môn hiện là phò mã Thân Thừa-Qúi. Phái Mê-linh thì chưa biểu lộ ý kiến. Phái Tản-viên tùy theo thái độ phái Đông-a nhà mình.

- Thế ý kiến bố ra sao?

- Khó biết lắm. Bố với các sư thúc tuyệt đối im lặng. Vì vậy sợ rằng nếu bố chống Lý phò Lê, thì nhất định kéo theo phái Tản-viên... Trong trường hợp đó, võ lâm sẽ chém giết nhau ghê lắm. Lại còn cái vạ Hồng-thiết giáo nữa, không biết chúng thuộc phe nào?

 Tự-Mai kinh ngạc:

- Hồng-thiết giáo, có phải bọn quỷ ăn thịt người không?

- Bậy nào! Hồng-thiết là một tôn giáo, từ Tây-vực Trung-quốc truyền vào Đại-Việt mấy chục năm trước. Hồi Thập-nhị sứ quân, hai trong sứ quân là đệ tử của họ. Họ chủ trương xoá bỏ hết Trời, Phật, tiên, thánh. Không thờ cả anh hùng dân tộc. Việc cúng giỗ tổ tiên cũng không. Trai gái tự do luyến ái, không cần mai mối, cưới xin. Không được có kẻ giầu, người nghèo. Ai cũng phải làm mới có ăn. Vì vậy dân nghèo theo họ rất đông. Khi vua Đinh diệt mười hai sứ quân, họ cũng bị diệt luôn. Thời nhà Lê, giáo chúng nổi lên mấy lần, đều bị diệt hết. Sau đức hoàng đế bản triều ban chỉ đại xá, cho họ hoạt động trở lại. Tuy vậy hành tung của họ rất bí mật. Giáo chủ là Nhật-Hồ lão nhân, võ công cao thâm không biết đâu mà lường. Dưới ông có mười trưởng lão, người nào võ công cũng kinh thế hãy tục.

- Thế võ công của mười trưởng lão này so với bố thì ra sao?

- Suýt soát nhau, một mười, một chín.

 Tự-Mai á lên một tiếng:

- Như vậy Hồng-thiết giáo mạnh bằng phái Đông-a nhà mình rồi. Mười trưởng lão là những ai vậy?
- Không ai biết mặt mũi họ thế nào, mà chỉ nghe danh vài người như Vũ Nhất-Trụ, Nguyễn Chí, Lê Ba.
Người ta đồn đại rằng mười trưởng lão đó, không phải ai đâu xa lạ, mà chính là các đại cao thủ danh môn chính phái.

 Chợt Thanh-Mai sụyt sẽ một tiếng, nàng ghé mệng vào tai Tự-Mai:

- Có người đang đi lại phía phòng mình.

 Hai chị em yên lặng, lắng tai nghe. Tiếng chân đến sát cửa phòng rồi ngừng lại nghe ngóng. Một lát có mùi hương xông vào mũi. Thanh-Mai bảo em:

- Nín thở. Chúng ta bị xông thốc mê.

 Nàng chỉ vào lỗ chó chui, bảo em:

- Em nhỏ người, chui ra trước đi. Còn chị ghé mũi vào khe cửa thở cũng được rồi.

 Lỗ chó chui khá rộng, Tự-Mai nhanh nhẹn chui ra khỏi phòng. Trong khi đó Thanh-Mai cảm thấy đầu óc choáng váng. Nàng muốn lên tiếng gọi em, mà miệng mở không ra. Còn Tự-Mai yên tâm chị mình ghé mũi vào lỗ chó chui thở, nó không quan tâm gì nữa.

 Tự Mai đưa mắt quan sát xung quanh. Tính tò mò, nó lần theo hàng hiên đi về phía cổng, núp vào bụi hoa mẫu đơn, phóng mắt nhìn vườn hoa phía trước. Nó nhận ra dưới gốc cây, có hai người núp. Một người chính là gã Triệu Anh đi trên xe ngựa hồi chiều. Một người là Quách Quỳ.

 Nó suy nghĩ:

- Trong xe còn một người khỏang 25-26 tuổi tên Triệu Huy. Một người nữa khỏang 40 tuổi mà Quách Quỳ giới thiệu là Ngô Tích. Hai người này không có đây, chắc đang đánh thuốc mê. Bọn chúng là ai? Bề ngòai là khách trú. Võ công khá cao, chúng đánh thuốc mê, hẳn không phải để ăn trộm, mà mưu đồ gì khác.
Không phải chờ lâu, lát sau Triệu Huy từ trong nhà mở cửa bước ra. Y lên tiếng gọi:

- Xong rồi.

 Triệu Anh ra lệnh:

- Ta với Quỳ lục soát đền thờ. Còn nhị đệ, tam đệ lục soát khắp nhà xem sao?

 Chúng không úy kị gì, đốt đuốc lên sáng lòa, chia nhau đi lục xét. Tự-Mai men dọc các bụi hoa theo Triệu Anh lên phía nhà thờ. Hai người mải mê, đâu biết nó đang theo bén gót. Nó núp vào dưới bệ con ngựa gỗ, đưa măt nhìn.

 Triệu Anh với Quách Quỳ lục lọi từ bát hương, cho tới ngai thờ, không bỏ sót một chỗ nào. Quách Quỳ hỏi:

- Sư phụ! Tại sao chúng ta đã có biết bao nhiêu sách binh thư. Nào là Lục-thao, nào là Tam-lược, nào là Tôn-Ngô. Tại sao chúng ta phải mất công lặn lội sang đây tìm cái đó?

 Triệu Anh đáp:

- Con không biết đó thôi. Bộ Dụng binh yếu chỉ này cực kỳ tinh vi. Bọn Việt nhờ nó, cho nên thời Lĩnh-nam, dân chỉ bằng một phần trăm dân Trung-nguyên, thế mà vua Quang Vũ dốc binh nghiêng nước, phải bao phen lao đao mới chiếm đựơc. Nhà Hán hao tốn hàng trăm vạn binh, hàng mấy chục ngàn dũng tướng. Chúng ta cần bộ võ kinh đó. Trước chiếm đất Giao-chỉ làm căn bản. Sau đánh đuổi bọn Tây-liêu, Tây-hạ, Thổ-phồn, Đại-lý.

 Hai người vừa lục vừa nói truyện. Bỗng Quách Quỳ lật áo của pho tượng, la lên:

- Lưng tượng có vết hàn. Chắc tượng rỗng ruột.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #17 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 07:04:30 am »

 Triệu Anh rút con dao trủy thủ ra, cậy vào vết hàn một lúc, rồi đẩy mạnh. Choang một tiếng, miếng đồng trên lưng pho tượng rơi xuống. Y thò tay vào trong moi ra hai cuốn sách. Y đưa sách vào ánh đuốc coi.

 Ghi chú,

 Hồi quân Minh sang đánh nhà Hồ, chúng nấu tượng Tương-Liệt đại vương ra đúc súng. Trong khi phá tượng, chúng tìm ra trong bụng tượng có ba quyển sách, chữ như con nòng nọc. Đó là văn tự Khoa-đẩu.


 Bỗng binh binh hai tiếng, một người từ mái ngói nhảy xuống. Tay trái xỉa vào mặt Triệu Anh, tay phải đoạt sách. Nhanh như chớp, y bỏ sach vào túi. Rồi chuyển tay đánh thẳng vào hạ bàn Triệu Anh. Triệu Anh vung chưởng đỡ. Hai chưởng chạm nhau đến binh một tiếng, y bật lui mấy bước, quát lớn:

- Mi là ai? Tại sao lại can thiệp vào việc của chúng ta?

 Người bị mặt không trả lời. Tay vẫn ra chiêu đều đặn. Tự-Mai nhận ra người bịt mặt xử dụng võ công Trung-nguyên, nhưng khác phái với Triệu Anh. Triệu Anh vừa đánh, vừa lùi dần ra cửa. Người bịt mặt cười khì, rồi vọt mình lên cao. Tay trái y bám lấy xà nhà. Tay phải phát chưỏng hướng mái ngói. Rầm một tiếng mái ngói vỡ tung. Người đó vọt mình ra ngoài. Y vừa đặt chân lên mái ngói, thì hai luồng kình phong tạt vào mặt. Triệu Huy, và Ngô Tích đón lại. Triệu Anh cũng đã lên mái ngói. Ba người vây tròn người bịt mặt vào giữa. Người bịt mặt không coi bọn Triệu Anh vào đâu. Y vừa đấu vừa cười:

- Tung-sơn tam kiệt, mà ba người đánh một. Võ đạo Thiếu-lâm cao thực.

 Qua mấy chục chiêu người bịt mặt có vẻ núng thế.

 Triệu Huy nói:

- Người là ai? Tại sao lại can thiệp vào việc này chúng ta? Người mau mau trao quyển sách đó trả chúng ta. Chúng ta sẽ để cho người rời khỏi nơi đây.

 Người bịt mặt không trả lời. Chưởng phong đánh ra vù vù. Song chỉ một lúc sau người ấy đã yếu thế lắm rồi. Triệu Anh quát lên một tiếng, cả ba sư huynh đệ cùng phát ra một chưởng mãnh liệt. Người bịt mặt, vòng tay một vòng. Chưởng lực bốn người chạm nhau kêu lên một tiếng bùng lớn. Ba anh em Triệu Anh bật lui một bước. Còn người bịt mặt lảo đảo muốn ngã.

 Bỗng Triệu Anh lui lại. Y hô lên một tiếng lớn:

- Tất cả ngừng tay!

 Ba người lui lại. Triệu Anh hỏi người bịt mặt:

—Cứ như bản lãnh của ngừơi thực hiếm có trong thiên hạ. Hà cớ gì phải bịt mặt?

 Người đó cười gằn:

- Ta bịt mặt vì không muốn gây hấn với phái Thiếu-lâm, chứ ta có coi Tung-sơn tam kiệt là cái quái gì? Thôi ta đi đây.

 Người ấy hú rền vang không gian, rồi vọt mình vào đêm tối. Triệu Anh quát lớn:

- Đuổi mau.

 Ba người hú lên một tiếng đuổi theo.

 Trần Tự-Mai thấy ba cao thủ đi rồi. Nó phóng người ra chụp lấy Quách Quỳ. Quách Quỳ trầm người tránh. Nhưng không kịp, nó bị khống chế. Tự-Mai lấy dây lưng trói Quách Quỳ lại, dùng dẻ nhét vào miệng, túm áo bỏ vào bụi hoa gần đó. Nó cầm đuốc xuống nhà ngang, dùng tay gõ cửa phòng:

- Chị Thanh, mở cửa cho em mau.

 Không có tiếng trả lời. Nó dùng vai huých mạnh. Cánh cửa bật tung ra. Nó đánh lửa lên, thấy Thanh-Mai nằm bên lỗ chó chui. Nó hiểu điều gì đã xẩy ra. Nó vội dùng khăn ướt lau mặt cho Thanh-Mai. Thanh-Mai tuy bị xông thuốc mê, nhưng nhờ công lực cao thâm, chân tay nàng không cử động nổi, chứ đầu óc còn minh mẫn lắm. Vừa cử động được, nàng bảo Tự-Mai:

- Chúng ta mau cứu tỉnh mọi người.

 Hai chị em chạy vào phòng sư phụ, thì không thấy sư thái Tịnh-Huyền đâu. Còn bà Tôn Luận với Thanh-Nguyên đã tỉnh. Nhưng cả hai đều không cử động được.

 Thanh-Nguyên hỏi:

- Chị Thanh, sư phụ đâu?

- Chị không biết nữa.

 Quách Quỳ đổ quạu:

- Không ngờ tôi đang ngồi trước mặt một vị hùng tài đại lược hơn cả Tôn-tử. Họ Quách này xin rửa tai nghe Tôn công tử dạy dỗ.

 Tôn Mạnh cười nhạt:

- Về điều thứ nhất, Hầu đã nhìn sai rồi. Quân Đại-Việt tuy không kinh nghiệm chiến đấu. Song nước Việt lúc nào cũng bị nạn ngoại xâm đe dọa. Vì vậy quân lính luyện tập không ngừng. Đó là một điều Hầu sai lầm. Điều thứ nhì Hầu cho rằng với 20 vạn quân, thêm 30 vạn dân phu. Trong khi Đại-Việt chỉ có 10 vạn. Hầu tưởng với lực lựơng như vậy, có thể đè bẹp quân Đại-Việt. Hầu đâu biết khi quân xâm lăng tới, thì trai cũng như gái, gìa cũng như trẻ đều trở thành chiến sĩ. Điều thứ ba, Hầu cho rằng Lê Hoàn cướp ngôi nhà Đinh, gian dâm với Dương Vân-Nga là trái đạo lý. Song đạo lý đó là đạo lý Khổng Mạnh, ảnh hưởng nhiều bên Trung-nguyên. Trong khi bên Đại-Việt Phật giáo mới ảnh hưởng sâu đậm vào quần chúng. Việc của Lê Hoàn tuy có bị chê trách, nhưng võ lâm Đại-Việt không nhìn vào lỗi đó, mà chỉ nhìn vào công cuộc bảo vệ đất nước. Y lại cũng không ngờ đến việc thiền sư Vạn-Hạnh đứng ra triệu tập anh hùng thiên hạ chống giặc Tống.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #18 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 07:05:12 am »

 Tôn Đản tiếp tục hỏi cung Quách Qùy:

- Quách công tử. Công tử kể tiếp cho.

 Suy nghĩ một lúc, Quách Quỳ đáp: Nguyên-súy Hầu Nhân-Bảo tâu tiếp « Thần chỉ sợ một điều, là võ công Giao-chỉ từ thời Tần, Hán vốn đã sáng chói hơn Trung-nguyên. Sau này có thời bị lu mờ. Song trong mấy trăm năm qua lại hưng thịnh lên. Vì vậy thần xin bệ hạ viện cho mấy đại cao thủ ».

 Tống Thái-tông cũng nhận thấy thế. Ngài đáp : « Trẫm lo lắng chỉ có điều đó. Thời Tần Thủy Hòang, một kiếm khách Lĩnh-nam sang Trung-nguyên, thắng khắp anh hùng thiên hạ. Nhân đấy y ghi chép tất cả võ công Trung-nguyên rồi về nghiên cứu ra phá cách. Bởi vậy sau đó Đồ Thư anh hùng biết mấy, mà bị chôn thây ở Ma-tần-lĩnh cùng 50 vạn quân. Lại đời Đông Hán, Sầm Bành, Phùng Dị võ công vô địch, mà chết dưới tay Đào Kỳ. Hoài-Nam vương nổi tiếng Thái-sơn thần kiếm, bị bại dưới tay Phật-Nguyệt. Tuy nhiên trẫm nghe võ công thời Lĩnh-nam hiện đã thất truyền. Nay nhà ngươi là đương kim vô địch trong các tướng của triều đình. Ngoài ra Tôn Toàn-Hưng, Trần Khâm-Tộ, Lưu Trừng đều là đại tướng vô địch bản triều, không lẽ trong thiên hạ còn có người võ công cao hơn nữa chăng ». Hầu nguyên soái tâu : « Tuy bọn thần võ công cao thực, song còn thua hai người là Triệu Phụng-Huân và Quách Quân-Bảo. Hai vị ẩn sĩ cao nhân này võ công cao không biết đâu mà lường. Triệu thuộc phái Võ-đang, kiếm thuật thần thông. Quách thuộc phái Thiếu-lâm, chưởng lực vô song ». Vì vậy tổ phụ tôi được vua Thái-tông sai sứ giả thỉnh, theo cuộc Nam chinh.

 Tôn Trung-Luận ngắt lời:

- Trần cô nương, tôi chưa hề nghe đến tên hai tướng Quách Quân-Bảo, và Triệu Phụng-Huân. Họ theo đạo quân nào sang đánh Đại-Việt?

 Thanh-Mai gật đầu:

- Có. Triệu theo đạo Hầu Nhân-Bảo. Quách theo đạo thủy quân. Tin tức về sáu đại cao thủ Trung-nguyên cầm quân sang đánh Đại-Việt khiến thiền sư Vạn-Hạnh lo lắng không ít. Đương thời võ lâm Đại-Việt chỉ có năm đại cao thủ thuộc lọai đệ nhất. Một là thiền sư Vạn-Hạnh chưởng môn phái Tiêu-sơn, hai là sư đệ của người là thiền sư Lý Khánh-Vân. Ba là chưởng môn phái Đông-a Trần Trí-Đức, bốn là chưởng môn phái Mê-linh sư thái Hoa-Minh, năm là chưởng môn phái Tản-viên Đặng Đại-Sơn.

 Tôn Trung-Luận hỏi:

- Thế còn phái Sài-sơn, Tây-vu, hai phái đó không tham dự sao?

- Có chứ. Nhưng chưởng môn phái Sài-sơn là sư thái Đàm-Nhẫn tuổi qúa cao, mà người vai dưới, công lực không đủ. Trong khi đó thì cao thủ Trung-nguyên kéo sang Đại-Việt có hàng ngàn. Trước hoàn cảnh đó, đại tướng Phạm Cự-Lượng đề nghị dùng chiến pháp « phân, hợp » của công chúa Thánh-Thiên khi xưa đánh trận Nam-hải.

 Quách Quỳ nghe đến tên Thánh-Thiên, sắc mặt y tái nhợt trông thực khó coi. Y hỏi:

- Tôi nghe bộ Dụng binh yếu chỉ của công chúa Thánh-Thiên đã thất truyền. Không ngờ vẫn còn truyền tụng.

 Thanh-Mai tiếp:

- Thiền-sư Vạn-Hạnh đồng ý. Ngài cùng Lê Hoàn, Phạm Cự-Lượng bàn định kế sách. Cả ba đồng ý rằng đạo quân châu Ung, Liêm tiến sang là chính binh. Đạo Bạch-đằng là kỳ binh. Vì vậy dùng hai vị sư thái Hoa-Minh, Đàm-Nhẫn theo trợ giúp Phạm Cự-Lượng chặn đạo quân do Tôn Toàn-Hưng, Triệu Phụng-Huân từ châu Liêm tiến sang. Thiền sư Vạn-Hạnh cùng đại hiệp Đặng Đại-Sơn theo trợ giúp Lê Hoàn ngăn đạo quân từ châu Ung tiến sang do Hầu Nhân-Bảo, Trần Khâm-Tộ chỉ huy. Cả hai đạo đánh cầm chừng. Đợi cho thiền sư Lý Khánh-Vân với đại hiệp Trần Trí-Đức diệt xong dạo kỳ binh của Lưu Trừng với Quách Quân-Bảo, rồi sẽ lên tiếp viện với hai đạo trên.

 Quách Quỳ gật đầu:

- Thì ra là thế. Khi khởi binh, vua Thái-tông truyền lệnh giữ thực bí mật về kế sách. Dùng thủy-binh làm đạo chính binh, mà không lấy thủy binh ở châu Khâm, châu Liêm, vì sợ bị lộ, mà lấy thủy quân vùng Chương-châu, Tuyền-châu làm như chỉ có bộ binh, kị binh đánh Giao-chỉ, không dùng thủy quân. Không biết bằng cách nào mà bên Đại-việt biết rõ mưu kế của đại Tống. Thì ra tổ tiên tôi bại vì không bảo toàn cơ mật.

 Thanh-Mai cười:

- Thủy quân của Lưu Trừng tiến vào sông Bạch-đằng, dự định đánh bọc hậu hai đạo quân Đại-Việt đang nghênh chiến ở vùng Chi-lăng, Đông- triều. Hai đạo quân bị tiền hậu thọ địch, chắc chắn tan vỡ. Hạm đội Tống chờ đêm đến mới tiến vào cửa sông, bất thần đổ bộ, chiếm một lúc năm ải ven sông dễ dàng. Quân Đại-Việt chống đỡ lấy lệ, rồi bỏ chạy. Lưu Trừng mừng rỡ, tưởng rằng kế họach thành công mỹ mãn. Y cho toàn bộ quân sĩ đổ bộ. Người ngựa sau hơn tháng hành trình mệt mỏi, giờ đây tha hồ chạy nhảy cho dãn gân, dãn cốt. Dưới mỗi chiến thuyền chỉ để một hai thủy thủ canh gác. Thình lình nửa đêm, nước chảy siết. Các chiến thuyền bị đứt dây cột trôi về hạ lưu. Lúc đầu Lưu Trừng, Quách Quân-Bảo tưởng thuyền bị đứt dây. Y hô kị mã men theo bờ sông đuổi theo. Đuổi một lúc y mới bật ngửa ra rằng không phải. Vì trên 500 chiến thuyền, « trôi» giữa giòng, chứ không quay tròn, tỏ ra có người lái. Thì ra đại hiệp Trần Trí-Đức đã dùng một đám đệ tử giỏi bơi lội, từ bên kia sông bơi qua, âm thầm leo lên giết chết thủy thủ giữ thuyền, cắt dây, cho thuyền trôi đi. Việc làm êm đềm, thần không biết, quỉ không hay. Khi quân canh trên bờ phát giác ra thì không còn kịp nữa.

 Tôn Trọng khoan khoái trong lòng:

- Thế là cánh quân thủy tan vỡ. Vì khi thủy quân đã lên bờ thì không còn uy lực. Hơn nữa, nào lương thảo, nào vũ khí, nào quần áo đều để trên thuyền. Nay thuyền mất, thì không cần đánh, một ngày là phải hàng.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #19 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 07:06:05 am »

 Thanh-Mai tiếp:

- Thế là quân Tống sau hơn tháng trời trên biển mệt mỏi, vừa thiếp đi, lại bị đánh thức dậy. Sáng hôm sau chiến thuyền Tống theo nước thủy triều tiến lên. Trên chiến thuyền kéo cờ Đại-Việt. Quân dân Đại-Việt gươm giáo sáng ngời. Các chiến thuyền bỏ neo ở giữa sông, phất cờ đánh trống. Hễ quân Tống định di chuyển, thì quân Việt lại chèo vào bờ định đổ bộ. Trước hoàn cảnh đó, Lưu Trừng đành cho quân lính đi vào thôn ấp gần đó cướp lương thảo. Không ngờ hết toán này đi, đến toán khác đi đều không thấy trở về. Y nổi giận cho một tướng dẫn hơn ngàn quân đi tìm lương, đến chiều đem về được nào trâu, nào lợn, nào gạo, nào rau. Y truyền quân sĩ giết trâu, mổ lợn nấu cơm ăn. Suốt ngày hôm đó quân Đại-Việt không tấn công. Đêm hôm ấy y truyền quân sĩ không được cởi giáp trụ, thay nhau canh gác. Không ngờ đến sáng, quân Đại-Việt vẫn bất động. Nhưng sáng hôm sau y khám phá ra quân Tống hầu hết bị đau bụng, tiêu chảy. Thì ra đại hiệp Trần Trí-Đức truyền quân sĩ lấy thuốc độc pha trong nước rồi đem rau, đậu nhúng vào, đưa cho quân Tống cướp đi. Chúng ăn phải, bị tháo dạ hết. Bấy giờ quân Đại-Việt mới từ các xóm làng tấn công. Thủy quân đổ bô. Quân Tống không còn sức chiến đấu, đành đầu hàng. Lưu Trừng, Quách Quân-Bảo không chịu đầu hàng. Cả hai nhất quyết cùng các tướng tử chiến. Thiền sư Lý Khánh-Vân không nỡ để các tướng Tống, Việt chết thảm, ngài đề nghị bên Tống cử ra ba người, bên Đại-Việt cử ra ba người đấu. Nếu Tống thắng hai, thì ngài sẽ tha cho các tướng ra về. Còn nếu Việt thắng hai thì, các tướng Tống phải đầu hàng.

 Quách Quỳ gật đầu:

- Cô nương thuật đúng. Tổ phụ của tôi đấu với thiền-sư Lý Khánh-Vân. Sau 400 hiệp thì yếu sức, bị bắt. Còn đô đốc Lưu Trừng đấu với Trần Trí-Đức. Trí-Đức dùng một thứ võ công kỳ lạ hơi giống võ công Tiêu-sơn, sau 300 hiệp, Lưu đô đốc cùng với Trí-Đức hòa, vì sức cùng lực kiệt. Lưu đô đốc được thư thả ra về.

 Tự-Mai cười:

- Sai rồi. Sau khi đấu được trên trăm chiêu, Lưu Trừng bị bại, cũng bị bắt. Bấy giờ cánh quân của thiền sư Lý Khánh-Vân cùng đại hiệp Trần Trí-Đức dùng chiến thuyền Hán tiến ra khơi, đổ bộ lên Tây-kết tiếp chiến với đạo quân của đại tướng Phạm Cự-Lượng cùng hai vị sư thái Hoa-Minh, Đàm-Nhẫn. Khi hai đạo quân bắt tay được với nhau. Đại-tướng Phạm Cự-Lượng đề nghị tha một số tướng Tống về, để Tôn Toàn-Hưng, Triệu Phụng-Huân biết đạo quân thủy đã tan, thì không cần đánh, đạo này cũng vỡ. Thiền-sư Khánh-Vân đồng ý. Ngài truyền thả Lưu Trừng cùng 20 tướng khác về bên Tống. Quả nhiên Tôn Toàn-Hưng thấy Lưu Trừng cùng các tướng đạo hải quân được tha về hồn phi phách tán. Nửa đêm y truyền lệnh rút quân. Bấy giờ đại tướng Phạm Cự-Lượng mới tung quân đuổi theo. Trận đánh Tây-kết kéo dài hai ngày hai đêm, trên một tuyến hơn 50 đặm. Tôn Toàn-Hưng, Triệu Phụng-Huân bị bắt. Đạo lục quân bị diệt trọn vẹn. Sau khi diệt đạo quân này, đại tướng Phạm Cự-Lượng đem đại quân đánh phía sau, trong khi đạo quân Lê Hoàn đánh phía trước. Giữa trận đại chiến, đại hiệp Trần Trí-Đức giết chết Hầu Nhân-Bảo. Trần Khâm-Tộ chạy thoát về Trung-nguyên.

 Tôn Mạnh giật mình hỏi:

- Phải chăng thiền sư Khánh-Vân là sư phụ của đức Thuận-thiên hoàng đế bản triều?

- Đúng đấy.

 Tôn Đản nhắc Quách Quỳ:

- Thôi chúng ta ngừng nói truyện xưa ở đây. Quách công tử, người cho chúng tôi biết tại sao người lại sang Đại-Việt. Những người đi với công tử là ai vậy?

 Quách Quỳ thở đài:

- Kể từ khi đức Thái-tổ khải-vận lập cực anh võ duệ văn thần đức thánh công chí minh đại hiếu hoàng đế lập ra Đại-tống. Tiếp theo đức Thái-tông thần công thánh đức văn võ hoàng đế kiến tạo sự nghiệp, trước diệt bọn ngụy Bắc-hán, Nam-Đường, sau chinh phục man di, hiển hách vô cùng. Nào ngờ, đến nay bị bốn phương uy hiếp. Sĩ dân thiên hạ cùng cảm thấy cay đắng.

 Y ngừng lại một lúc rồi tiếp:

- Cách đây ba năm. Phương-trượng chùa Thiếu-lâm là Thanh-Lạc đại sư cùng với chưởng môn nhân các đại môn phái có sáng kiến tổ chức đại hội anh hùng hầu tìm lấy phương sách cứu nước. Sau 10 ngày bàn luận, không ai tìm ra đựơc điều gì. Cuối cùng nghị hội kết luận rằng sở dĩ các nước Liêu, Tây-Hạ, Đại-lý hùng mạnh vì vua, tôi một lòng. Còn nhà Đại-Tống trong thì vua hôn ám, đại thần chỉ biết hối lộ, đầu hàng Liêu. Tướng sĩ ngoài biên cương không biết mình chiến đấu cho ai? Chiến đấu rồi cũng đến chết uổng mà thôi. Trong khi quần hào thất vọng thì một vị đại hiệp cụt tay phải tên Triệu Thông đứng lên phát biểu ý kiến.

 Thanh-Mai hỏi:

- Có phải Triệu Thông xuất thân phái Võ-đang không?

- Vâng! Sao cô nương biết? Triệu đại hiệp kiếm pháp thần thông thuộc phái Võ-đang. Hồi tòng quân giữ chức Chinh-di đại tướng quân. Trong lần trấn giữ thành Ung bị quân Đại-Việt tiến đánh, mất một cánh tay. Vì vậy sĩ dân đều kính trọng.

 Tôn Trung-Luận hỏi Thanh-Mai:

- Cô nương! Làm gì có truyện đó?

 Thanh-Mai tính đốt ngón tay:

- Có, nhất định có. Việc này vang lừng thiên hạ. Trong lúc trấn thủ Ung thêm Giác-Minh thiền sư, thủ tọa Đạt-Ma đường chùa Thiếu-lâm, cùng với Duyên-Hoa sư thái của phái Nga-mi. Cả ba đại cao thủ cùng bị các cao thủ Đại-Việt đánh bại.

 Tự Mai vỗ tay reo:

- Em nhớ ra rồi. Việc này xảy ra vào niên hiệu Thuận-Thiên năm thứ 13 bản triều. Bấy gìơ bên Trung-nguyên nhằm niên hiệu Càn-hưng nguyên niên đời vua Tống Chân-tông (1022, Nhâm-Tuất) mới cách đây mấy năm. Bấy giờ bọn quan trấn thủ biên giới Tống là Đại Nguyên-Lịch thường thả quân tràn qua biên giới cướp bóc, giết hại dân vô tội. Vua sai em là Dực-thánh vương đem quân phòng thủ. Đại Nguyên-Lịch quen thói cũ cho quân cướp phá. Dực-thánh vương phản công, đuổi tràn qua đất Tống đến chân thành Ung. Sự việc này trùng hợp với việc đại hội võ lâm Lĩnh-nam. Nguyên từ thời vua Ngô Quyền, các võ phái Lĩnh-nam ấn định mỗi năm đại hội mỗt lần, để chư đệ tử hiểu nhau, hầu tránh đụng chạm. Trong 7 môn phái, cứ mỗi môn phái đứng ra tổ chức một kỳ. Năm đó đến lượt phái Tây-vu tổ chức. Chưởng môn phái Tây-vu là phò-mã Thân Thừa-Quý đứng ra triệu tập. Nơi đại hội là châu Quảng-nguyên. Châu Quảng-nguyên giáp giới với Trung-Nguyên. Võ lâm Trung-nguyên cho rằng Đại Việt định đem quân tấn công. Họ cũng tổ chức đại-hội ở Ung-châu đề phòng. Gữa lúc đó, đoàn quân Tống trấn giữ biên cương tràn sang cướp phá. Võ lâm Đại-Việt, trợ giúp quân của Dực-thánh vương, vượt biên giới đuổi theo tới thành Ung-châu. Võ lâm Trung-nguyên xuất thành bên quân Tống. Vì vậy xẩy ra cuộc huyết chiến.

 Tôn Trung-Luận hỏi:

- Cuộc chiến diễn ra như thế nào?
 
 Tự-Mai khoan thai kể:

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM