Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:32:52 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trung đoàn Vận tải - Kinh tế - Bộ Binh - Khung huấn luyện thường trực - 250  (Đọc 67519 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quyenkh
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1581


« Trả lời #30 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 11:03:20 pm »

Bác tuaans ở đơn vị nào , sao nắm rõ 25 gùi thế
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #31 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 11:06:25 pm »

Bác tuaans ở đơn vị nào , sao nắm rõ 25 gùi thế

Hehe, bác đừng khen em, em có biết cái "25 gùi" là chi mô?  Grin
Logged
quyenkh
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1581


« Trả lời #32 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 11:16:28 pm »

Em ăn cơm , uống nước 25 gùi mà chưa rành bằng bác
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #33 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2009, 10:42:37 am »

Hiệp định Pa-ri được ký kết (27 tháng 1 năm 1973.) và có hiệu lực, nhưng kè thù vẫn ráo riết phá hoại. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta để giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc đã bước vào giai đoạn cuối nhưng rất quyết liệt.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cách mạng miền Nam lúc này là phải xây dựng căn cứ địa hậu phương tại chỗ vững chắc để bảo đảm đánh thắng địch trong bất cứ tình huống nào.

Đối với chiến trường Khu 5 - Tây Nguyên, song song với nhiệm vụ mở đường thì việc tiếp nhận hàng hóa, bảo đảm cho các đơn vị binh chủng hợp thành chiến đấu thắng lợi đó là một yêu cầu và là một nhiệm vụ chính trị chủ yếu của một Trung đoàn Vận tải.

Đầu năm 1974, để tiện chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ vận chuyển, Trung đoàn bộ được Cục Hậu cần cho phép chuyển từ Cà Te xuống Eo Súp (Đắc Lắc). Khu vực đóng quân là một khu rừng già, nằm ở phía bắc đường 14A.

Đến tháng 6 năm 1974, qua kiểm tra của Cục Hậu cần, Quân khu 5, tổ chức của Trung đoàn 250 theo biên chế 938 cán bộ, chiến sĩ, hiện có 855 đồng chí; Trung đoàn bộ 363 đồng chí; Tiểu đoàn Vận tải 252 có 228 đồng chí; Tiểu đoàn Vận tải 253 có 198 đồng chí; Đại đội 870 Quân bưu có 65 đồng chí; quân số ốm bệnh, mất sức 128 đồng chí. Về phương tiện: Trung đoàn quản lý điều hành trực tiếp một xe GAT 56, một xe Zil 130, hai xe "bò vàng", một xe GMC, ở Tiểu đoàn 252 có 60 xe đạp thồ ; Tiểu đoàn 253 có 22 xe đạp thồ, sử dụng được 14 chiếc, thiếu phụ tùng bốn chiếc, gãy bỏ 4 chiếc.

Đến ngày 25 tháng 9 năm 1974, công tác bảo đảm năm 1974 của ngành Hậu cần Quân khu đã đạt từ 95 đến 98 phần trăm kế hoạch. Riêng Trung đoàn 250 ở phía tây đã nhận và chuyển cho các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa với số lượng súng đạn nhiều gấp 3,7 lần năm 1973.

Cuối năm 1974, cục diện chiến trường đã có những biến đổi quan trọng. Ta ở thế thắng thế đi lên, địch đang ở thế thua thế đi xuống. Để chuẩn bị cho nhiệm vụ mùa khô 1974 - 1975 và hoàn thành nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc, tháng 10 năm 1974, Đảng ủy - Chỉ huy Cục Hậu cần giao cho Trung đoàn phải nhanh chóng khắc phục khó khăn về thời tiết, chuẩn bị vận chuyển vật chất bảo đảm cho các hướng phục vụ chiến trường vào cuối mùa mưa.

Tháng 12 năm 1974, Đảng bộ Cục Hậu cần tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ 3. Trong đại hội vấn đề được đặt ra là làm thế nào để bảo đảm đủ, kịp thời, chính xác các yêu cầu chiến đấu lớn, khẩn trương trên nhiều hướng. Đại hội đã thông qua báo cáo chính trị, thông qua phương hướng nhiệm vụ mùa khô 1974 - 1975 thực hiện nhiệm vụ bảo đảm chung của toàn ngành. Trong đó, bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ tốt cho từng hướng chiến dịch ... ngành vận tải với nhiệm vụ vận chuyển là nhiệm vụ cấp bách trước mắt của toàn chiến trường.

Đối với Trung đoàn Vận tải 250, nhiệm vụ cụ thể là: Tiếp nhận hàng của Trung đoàn 240 chuyển vào đến bắc đường 19 để đưa vào kho dự trữ cấp cho Sư đoàn 3 và Tỉnh đội Bình Định.

Tiếp nhận hàng của Trung đoàn 240 chuyển vào Dốc Thơm để phân phối cho tỉnh Phú Yên và nhận hàng từ Binh đoàn 559 và Binh trạm Nam chuyển xuống Tăng Răng cấp cho Khánh Hòa và Đờ Lây-a cấp cho Phú Yên.

Sau Đại hội, các đơn vị vận tải đều được bổ sung quân số, trang bị theo yêu cầu của từng cung, trạm. Các Trung đoàn Vận tải bộ, trong đó có Trung đoàn 250 được biên chế thêm một trung đội súng máy phòng không 12,7 mm để bảo vệ, chốt giữ các trọng điểm có lực lượng ta vượt qua.
-----------------------
Khu vực đóng quân mới tại bắc đường 14 - Ea Sup
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #34 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2009, 12:09:45 pm »

Cuối năm 1974, được lệnh của Thủ trưởng Cục Hậu cần, toàn bộ Trung đoàn chuyển về khu vực bắc Buôn Ma Thuột, Đắc Lắc. Trung đoàn bộ đóng quân ở khu vực suối Đôi (H4).

Nhiệm vụ của Trung đoàn lúc này là nhanh chóng xây dựng, hình thành một khu kho lớn ở thượng nguồn suối Eo Súp (khu Rừng Xanh) thuộc khu vực H5, Đắc Lắc, tiếp nhận hàng từ nguồn Srê Pốc chuyển vào.

Ban chỉ huy Trung đoàn thời gian này gồm: đồng chí Nguyễn Trắc - Chính ủy, đồng chí Phạm Triệu Hưng được trên điều về làm Trung đoàn trưởng, thay đồng chí Phạm ích và đồng chí Phan Niệm làm Phó Chính ủy.

Tháng 1 năm 1975, tổ chức bảo đảm các lực lượng vận chuyển trên các hướng đã được phê duyệt, nhiệm vụ của các lực lượng, các đơn vị đã được rõ ràng.

Ở hướng trọng điểm phía Nam có lực lượng của Trung đoàn vận tải 250 tăng cường để bảo đảm cho Sư đoàn 3 và lực lượng vũ trang tỉnh Bình Định tác chiến tiến công tiêu diệt địch ở đường 19 (đông đèo An Khê, ngoài nhiệm vụ vận tải phục vụ cho Phân khu Nam, Trung đoàn còn làm nhiệm vụ phục vụ cho chiến dịch chung của mặt trận như: làm kho, bảo vệ kho tàng, tiếp nhận hàng hóa, vừa làm nhiệm vụ mở đường ( đốn cây, đánh mìn) mở tuyến dự bị cho xe tăng, xe cơ giới vào trận khi có lệnh nổ súng tiến công, tất cả cán bộ, chiến sĩ từ đơn vị đến cơ quan, từ chuyên môn trên các đồng chí trực tiếp chỉ huy ở các cấp đều được động viên tối đa với khẩu hiệu: "Tất cả cho chiến dịch Tây Nguyên", "Tất cả cho sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc" ... Toàn Trung đoàn sục sôi trong khí thế Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 của toàn miền và cả nước.

Trong những ngày này được lệnh của trên, các đơn vị phải bảo đảm bí mật các mặt cho chiến dịch Tây Nguyên. Các lực lượng, tổ đài vô tuyến điện hạn chế tối đa việc phát tín hiệu nhằm đánh lạc hướng và giữ bí mật cho trận mở màn tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột. Đại đội Trinh sát của Trung đoàn được lệnh ngày đêm bám đường, nắm địch để đưa đón bộ đội hành quân qua đường bí mật, an toàn.

Một trong những kỷ niệm không quên đó là trước ngày lực lượng vũ trang ta tiến công Buôn Ma Thuột: đồng chí Huỳnh Văn Cần - Bí thư Tỉnh ủy Đắc Lắc sang gặp đồng chí Nguyễn Trắc nhờ cơ yếu chuyển bức điện báo cáo Quân khu (bức điện do chính tay đồng chí Chín Cần viết) có nội dung: "công tác chuẩn bị lực lượng quần chúng nổi dậy ở Buôn Ma Thuột và kế hoạch tổ chức tiếp quản Buôn Ma Thuột đã hoàn tất, các lực lượng đã trong tư thế sẵn sàng chờ giờ G ...", đồng chí dặn là khi phát tín hiệu xong phải hủy ngay bức điện, qua nội dung bức điện của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, như vậy vào thời điểm này, các cấp lãnh đạo, chỉ huy của chúng ta đã có cơ sở và khẳng định rằng: "Chiến dịch Tây Nguyên sẽ toàn thắng".

Trong những ngày này núi rừng Tây Nguyên như có ngày hội, toàn mặt trận dấy lên một không khí sục sôi của chiến dịch mùa Xuân ra trận. Trên từng cung đường, từng trạm, đâu đâu cũng thấy người xe cộ tấp nập vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí trang bị.

Đêm về trong các buôn làng vẫn thấy ánh lửa bập bùng và tiếng chày giã gạo của đồng bào dân tộc chuẩn bị lương thực để dân công cùng bộ đội ra trận. Trong khí thế chung đó tuy cường độ hoạt động ngày đêm của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn mấy tháng đầu mùa khô 1974 - 1975 bảo đảm các mặt cho chiến dịch rất căng thẳng, nhưng trên từng khuôn mặt đều rạng rỡ, hầu hết đều tin tưởng chiến dịch sẽ toàn thắng.

Trung đoàn đã thực hiện vận chuyển đạn phục vụ góp phần cho chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi.

Theo yêu cầu phát triển của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Trung đoàn từng bước cơ động theo đường 21 (1) ( Buôn Ma Thuột - Ninh Hòa, Nha Trang) qua đèo Phượng Hoàng, tiếp quản căn cứ Dục Mỹ (Ninh Hòa); sau đó phát triển xuống căn cứ Đồng Đế, Nha Trang và bán đảo Cam Ranh (ngày 4 tháng 4 năm 1975).

Thời gian này, Trung đoàn được lệnh thu gom toàn bộ số đạn dược của địch bỏ lại từ Khánh Dương qua đèo Phượng Hoàng (theo trục đường 21) và ở khu vực căn cứ Dục Mỹ (nay thuộc huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa) chuyển về cảng Nha Trang, phục vụ kịp thời cho bộ đội ta tiến công giải phóng đảo Trường Sa. Ngoài đạn pháo các loại, Trung đoàn còn thu và vận chuyển một số lượng lớn xăng, dầu từ các kho của địch, phục vụ cho tàu chở quân đánh chiếm giải phóng các đảo, sau đó tiếp tục vận chuyển vũ khí, đạn, gạo thuốc men, các vật liệu xây dựng công trình phòng thủ xuống tàu thủy đi các đảo mới giải phóng ở Trường Sa.
---------------------------
(1) Nay là quốc lộ 26.
---------------------------
Căn cứ Dục Mỹ, xã Ninh Sim, Ninh Hòa, Khánh Hòa
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #35 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2009, 02:19:13 pm »

Sau chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi, Trung đoàn tiến về tiếp quản căn cứ Dục Mỹ của Mỹ - ngụy, trong nhiệm vụ quân quản, bảo vệ trật tự trị an khu vực mới giải phóng, nhờ làm tốt công tác vận động quần chúng và có ý thức cảnh giác bảo vệ chính trị tốt, các chiến sĩ vệ binh của Trung đoàn đã phát hiện kẻ đầu hàng phản bội, đó là tên Nguyễn Văn Nam, một thời từng tham gia cách mạng là chiến sĩ của Trung đoàn, đã chạy theo địch được địch đưa đi huấn luyện thám báo biệt kích. Tên Nam làm toán trưởng thám báo đã dẫn đầu nhiều nhóm biệt kích luồn sâu vào hậu phương vùng giải phóng của ta, chỉ điểm cho máy bay, pháo tầm xa đánh phá các tuyến đường hàng lang vận chuyển của Trung đoàn và chính y đã đánh dấu tọa độ cung đường vận chuyển chỉ điểm cho B52 ném bom Tiểu đoàn bộ 251 (tháng 10 năm 1970). Khi Sư đoàn 10, Mặt trận Tây Nguyên chuẩn bị tiến công vào Bu Prăng - Đức Lập đã bắt được cả toán thám báo này giao cho an ninh tỉnh Quảng Đức, nhưng do ta sơ xuất bọn này đã đánh gục chiến sĩ canh gác, cướp vũ khí bỏ trốn, sau đó tổ thám báo này được cấp trên của chúng trọng thưởng (trong đó có tên Nam).

Sau giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, ta bắt được tên Nam đang cư trú ở Buôn Hồ giải về căn cứ Dục Mỹ, bước đầu tên Nam khai là sau khi có Hiệp định Pa-ri (ngày 27 tháng 1 năm 1973) tên này đã được địch cho giải ngũ đi học nghề sửa chữa và lái xe khách tuyến Nha Trang - Buôn Ma Thuột, nhằm phục vụ cho kế hoạch hậu chiến của địch.

Tại căn cứ Dục Mỹ, hắn làm bản tự thuật và cho rằng Trung đoàn 250 đã bị xóa sổ hoặc mất sức chiến đấu hoàn toàn bởi sau những trận rải thảm của bom B52, hoặc nếu còn thì cũng phải chuyến đi nơi khác, chính vì vậy hắn đã quay lại Tây Nguyên nên mới bị bộ đội ta phát hiện và bắt giữ. Sau khi phát hiện được đối tượng phản bội, Trung đoàn báo cáo lên Quân khu và được lệnh trên cho áp giải tên này về trên quản lý, cải tạo.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, Trung đoàn có nhiệm vụ tiếp quản thành phố Nha Trang. Ban Chỉ huy Trung đoàn đóng quân tại nhà số 39, Lê Văn Duyệt (nay là Nguyễn Thiện Thuật), thành phố Nha Trang. Các đơn vị được phân công làm nhiệm vụ quân quản từng khu vực trong thành phố. Tham gia xây dựng chính quyền, ổn định đời sống nhân dân, bảo vệ trật tự an ninh xã hội trên địa bàn mới giải phóng.

Cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân năm 1975 của quân và dân ta đã toàn thắng. Sài Gòn, hang ổ cuối cùng của địch đã bị quân ta làm chủ, miền Nam được hoàn toàn giải phóng.

Đối với Trung đoàn 250, từ giữa năm 1974 đến ngày vào quân quản một số khu vực của thành phố Nha Trang, với khoảng thời gian trước, trong và sau chiến dịch, toàn Trung đoàn đã ngày đêm gian khổ, khẩn trương vất vả để vận chuyển cơ sở vật chất vũ khí, đạn dược cho cuộc Tổng tiến công chiến lược toàn thắng.

Trong phạm vi không gian rộng, nhiều hướng, với nhịp độ tiến công của các đơn vị binh chủng hợp thành nhanh, lượng tiêu thụ vật chất hậu cần, kỹ thuật rất lớn, mọi nhu cầu vật chất đều phải chuyển từ phía sau lên, đồng thời với nhiệm vụ vận chuyển, Trung đoàn đã tham gia đánh đá, cưa cây, mở đường cho binh khí, kỹ thuật cơ động, làm kho tàng, phục vụ trên các hướng của chiến dịch ... Khó khăn, gian khổ, nhưng nhờ quán triệt tốt quyết tâm phục vụ chiến đấu của Đảng ủy - Chỉ huy Trung đoàn, cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn trong khí thế ra quân của toàn chiến dịch, toàn chiến trường, đã vận chuyển thu gom cơ sở vật chất chiến lợi phẩm, bảo đảm kịp thời chuyển cho phía trước chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Kể từ ngày thành lập ngày 22 tháng 11 năm 1968 đến 30 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn Vận tải 250 đã có thời gian hoạt động hơn sáu năm rưỡi. Khoảng thời gian ấy là một chặng đường đầy gian lao, thử thách đối với cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn. Thiếu cơm, nhạt muối, kẻ thù luôn tìm mọi cách đánh phá ngăn chặn. Nhưng những khó khăn, ác liệt ấy không sao ngăn được tinh thần, ý chí, quyết tâm của toàn thể cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 250. Từ biên giới, tuyến đường vận chuyển của Trung đoàn đã ngày một vươn dài, vươn xa theo yêu cầu bảo đảm hậu cần cho chiến trường Nam Trung Bộ.

Hơn hai ngàn ngày đêm ấy, Trung đoàn đã đóng góp một phần rất quan trọng vào thắng lợi của quân và dân Quân khu 5, cùng toàn dân tộc làm nên chiến thắng lịch sử mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Với ý chí kiên cường, không sợ hy sinh gian khổ, những năm tháng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tập thể cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đã xây đắp nên truyền thống hết sức vẻ vang. Đó là lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, sự tất thắng của sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc, đó là sự quyết tâm sắt đá không có gì lay chuyển nổi, đó là sự đoàn kết nội bộ vững chắc, gắn bó keo sơn với nhân dân và các dân tộc từ Kinh đến thiểu số trên các địa phương địa bàn hoạt động của Trung đoàn. Đó là tinh thần chịu đựng gian khổ, tự lực, tự cường; luôn chủ động sáng tạo, bám trụ kiên cường; "đánh địch mà đi, mở đường mà tiến"; dám nghĩ, dám làm, được quân dân, chính, Đảng các địa phương trên địa bàn hoạt động yêu mến, hết lòng giúp đỡ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc.
-----------------------------
Các chiêu hồi viên đang học cơ khí, sửa chữa xe hơi - nguồn: ttu.edu
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Sáu, 2009, 02:43:57 pm gửi bởi tuaans » Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #36 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2009, 02:59:52 pm »

Chương hai

THAM GIA XÂY DỰNG KINH TẾ VÀ LÀM NHIỆM VỤ CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ TỔ QUỐC Ở BIÊN GIỚI TÂY NAM (1975 - 1979)

I. THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG KINH TẾ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU GIẢI PHÓNG TẠI VÙNG ĐẤT CỰC NAM TRUNG BỘ.[/b]

Sau thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, thống nhất, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đề ra đường lối, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, từng bước xây dựng nước ta thành "Một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới". (1)
 
Nhiệm vụ của quân đội trong thời kỳ mới, Đảng ta xác định rõ: "Xây dựng quân đội chính qui, hiện đại, hùng mạnh, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đồng thời tham gia xây dựng kinh tế, xây dựng đất nước".

Quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, Chỉ thị của Bộ Quốc phòng, thực hiện điều chỉnh, sắp xếp tổ chức lực lượng cho phù hợp với nhiệm vụ trong thời kỳ mới; Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 5 ra quyết định thành lập các đoàn xây dựng kinh tế, trong đó có các Đoàn 331, 332, 333, 334.

Để thực hiện chỉ thị của Bộ Quốc Phòng và nhiệm vụ Tư lệnh Quân khu 5 giao, Trung đoàn 250 đang tiếp quản ở Nha Trang và huyện Cam Ranh - tỉnh Khánh Hòa. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất, Trung đoàn chuyển sang nhiệm vụ mới đó là: Nhiệm vụ xây dựng kinh tế, nhiệm vụ cụ thể là khai hoang đất rừng thuộc huyện Bắc Bình - tỉnh Thuận Hải (nay là tỉnh Bình Thuận) để trồng bông.

Cuối tháng 3 năm 1976, Quân khu điều hai Tiểu đoàn đặc công 406 và 409 về đội hình Trung đoàn. Trong kháng chiến chống Mỹ, các đơn vị này trực thuộc Quân khu: Tiểu đoàn 406 hoạt động ở địa bàn Quảng Ngãi, Tiểu đoàn 409 ở Quảng Nam và sau đó phát triển theo đội hình Chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau ngày giải phóng tiếp quản ở Nha Trang và huyện Cam Ranh - tỉnh Khánh Hòa, những năm kháng chiến chống Mỹ Tiểu đoàn 406 và 409 có nhiều thành tích xuất sắc được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trong nhân dân.

Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước Tổ quốc Việt Nam được thống nhất. Sau hàng chục năm chiến đấu gian khổ, ác liệt, nay có hòa bình, nhiệm vụ chuyển đổi, tình cảm quê hương, gia đình có tác động đến tư tưởng của không ít cán bộ, chiến sĩ. Nhiều đồng chí mong muốn sớm được phục viên, chuyển ngành, không yên tâm làm nhiệm vụ, xây dựng đơn vị, nảy sinh những băn khoăn, lo lắng, bởi lẽ hàng bao năm nay hầu hết cán bộ, chiến sĩ ở rừng núi, đặc thù hoạt động với nhiệm vụ là chiến đấu và phục vụ chiến đấu, nay với môi trường và nhiệm vụ mới, nhiệm vụ xây dựng và phục hồi nền kinh tế, cán bộ các cấp hầu hết chưa được đào tạo quản lý kinh tế, chưa có trình độ chuyên môn về kiến thức khoa học kỹ thuật để bước vào lĩnh vực hoạt động mới. Nhưng với bản chất và truyền thống của người quân nhân cách mạng, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: "Quân đội với chức năng là đội quân công tác, đội quân chiến đấu và sản xuất"; Chấp hành nghiêm chỉ thị và mệnh lệnh của Quân khu, các đơn vị được điều biên chế về Trung đoàn đã nhanh chóng cơ động về vị trí đóng quân mới để ổn định các mặt và sẵn sàng bước vào nhiệm vụ mới.

Trong thời gian đầu, Trung đoàn chuyển nhiệm vụ mới, thì các đơn vị của Trung đoàn 250 (cũ) và Tiểu đoàn 406, 409 cũng đã thực hiện chính sách giải quyết cho số cán bộ, chiến sĩ phục viên, chuyển ngành theo chủ trương của trên và được tinh giản biên chế. Đến tháng 6 năm 1976 Trung đoàn 250 chỉ còn Trung đoàn bộ và một đại đội khung cán bộ lấy phiên hiệu là Đại đội 253. Sau khi tiếp nhận hai Tiểu đoàn đặc công 406 và 409, biên chế của Trung đoàn 250 mới kiện toàn gồm: Ban Chỉ huy Trung đoàn, 3 cơ quan và các đội sản xuất (không tổ chức cấp tiểu đoàn). Chỉ huy Trung đoàn gồm các đồng chí: Thiếu tá Nguyễn Ngọc Bình - Trung đoàn trưởng (2). Đại úy Huỳnh Tờ - Trung đoàn phó; đồng chí Nguyễn Trắc - Chính ủy; đồng chí Phan Niệm làm Phó Chính ủy; đồng chí Đính - Tham mưu trưởng; Đại úy Ngô Quang Dự (tiểu đoàn trường Tiểu đoàn 253 cũ) giữ chức Tham mưu phó; cơ quan chính trị do đồng chí Thắng làm Chủ nhiệm, đồng chí Cao Bá Thọ làm Phó chủ nhiệm, cơ quan hậu cần do đồng chí Thương làm Chủ nhiệm.

Để di chuyển đội hình về vị trí mới, Trung đoàn đã tổ chức đoàn cán bộ đi khảo sát thực địa trước và về báo cáo tình hình các mặt cho Quân khu.

Tháng 4 năm 1976, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 cùng đồng chí Cục trưởng Cục Hậu cần Quân khu vào kiểm tra các kế hoạch và công tác bảo đảm cũng như tình hình thực tế và lệnh cho Trung đoàn 250 hành quân vào Thuận Hải, vị trí đóng quân và sản xuất trồng bông tại tây bắc thị trấn Lương Sơn và Sông Lũy (đoạn từ tây nam thị trấn Lương Sơn kéo dọc tây Sông Lũy đến đập tràn Sông Lũy dài khoảng 4 ki-lô-mét) khẩn trương che lán trại và bắt tay ngay vào làm đất trên diện tích đã có do đơn vị sản xuất cũ của bạn để lại chuẩn bị phân giống cho gieo trồng kịp mùa, đồng thời chuẩn bị kế hoạch tiến hành khai hoang mới khi máy khai hoang làm đất của Quân khu điều về.

Đường giao thông qua Sông Lũy, Quân khu giao cho Công binh Quân khu nối ngay cho Trung đoàn một cầu phao, sức chịu đựng của cầu xe ôtô vận tải qua được.

Đội hình đóng quân của Trung đoàn ở địa bàn xã Lương Sơn. Trung đoàn bộ gồm Ban chỉ huy Trung đoàn và các cơ quan đóng quân ở khu vực đập tràn (bên đầu cầu hướng tây); Tiểu đoàn 406 đứng cách Trung đoàn bộ (khu vực trạm xá) khoảng l,5 - 2 ki-lô-mét, Tiểu đoàn 409 đóng ớ bắc Trung đoàn bộ 2 kilômét.

Tháng 6 năm 1976, Quân khu có quyết định chuyển thuộc Trung đoàn 250 biên chế tổ chức cho Sư đoàn 968 chỉ huy quản lý nhưng quyết định chưa kịp thi hành thì Sư đoàn 968 đã có lệnh điều động đi làm nhiệm vụ mới.

Tháng 8 năm 1976, Trung đoàn được tiếp nhận 1.100 đồng chí tân binh quê ở Nghệ - Tĩnh (nay là hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh). Trung đoàn biên chế thành các đội sản xuất, không còn đầu mối cấp tiểu đoàn; Tiểu đoàn 253 thành 3 Đại đội sản xuất 251, 252 và 253; Tiểu đoàn 406 có Đại đội 1, 2, 3; Tiểu đoàn 409 có Đại đội 4, 5, 6; số cán bộ Tiểu đoàn 406 và 409 được lệnh trên về Quân khu nhận nhiệm vụ mới. Thời gian này, Trung đoàn còn được Quân khu giao nhiệm vụ quản lý trên 200 đối tượng là sĩ quan chế độ ngụy Sài Gòn, thuộc diện cải tạo theo chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta. Đang ổn định tổ chức, biên chế, Trung đoàn lại có quyết định điều về trực thuộc Đoàn 334 (Sư đoàn 968 được điều đi làm nhiệm vụ mới). Đoàn 334 là đoàn xây dựng kinh tế của Quân khu, khai hoang trồng bông chiến lược trên vùng đất Thuận Hải.

Tỉnh Thuận Hải, một miền đất Cực Nam Trung Bộ. Ở đây có lượng mưa thấp nhất so với các vùng miền khác trong toàn quốc. Mưa nhiều chỉ tập trung trong vòng ba tháng, từ tháng 7 đến tháng 9 là hết. Đồng bào địa phương gọi đất ở đây là "đất ly 9, đất không thở".

Vùng đất "nắng bụi, mưa bùn", vừa mới mưa đã ngập úng, vừa nắng lên đã khô hạn. Trên vùng đất hoang bạt ngàn ấy lại có thời tiết, khí hậu phù hợp với cây bông vải. Biến vùng đất hoang sơ ấy thành của cải xây dựng đất nước là một chủ trương đúng đắn của Quân khu.

Nhưng để biến đất trắng thành bông trắng, thành của cải vật chất là cả một quá trình đầy khó khăn gian khổ. Phải đầu tư vốn liếng, vật tư, kỹ thuật canh tác, thủy lợi cây giống và trí tuệ, công sức của con người.

Khó khăn gian khổ trong chiến tranh là đói cơm, thiếu muối, là bom đạn, là những trận càn quét chống phá quyết liệt ngày đêm của địch. Trong thời bình, xây dựng đất nước, làm kinh tế xây dựng chủ nghĩa xã hội thì điều khó khăn, trăn trở sẽ là năng suất, chất lượng, hiệu quả. Trung đoàn được giao nhiệm vụ chuyên nghiệp trồng bông cho Quân khu. Đây là nhiệm vụ hết sức mới mẻ đối với cán bộ, chiến sĩ toàn Trung đoàn.

Từ trong chiến tranh gian khổ, hy sinh, nay đất nước được độc lập thống nhất, người chiến sĩ lại cùng cả nước bước vào mặt trận xây dựng kinh tế, ổn định đất nước sau chiến tranh. Tất cả phải làm quen từ đầu, từ những khái niệm lạ tai như: san ủi mặt bằng, làm bờ lô, bờ vùng, bờ thửa; các giống bông mới như bông Luồi, bông Quấy Vịt của Trung Quốc, bông Đê-ta-pin của Mỹ; rồi đến các khái niệm về kỹ thuật ...

Mặt khác, đóng quân trên địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số như: Chăm, Hoa, Nùng ... ngôn ngữ bất đồng, lúc đầu cán bộ, chiến sĩ cũng gặp không ít khó khăn trong công tác dân vận, học hỏi kinh nghiệm v.v ...

Song phát huy truyền thống trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, trên mặt trận mới, cán bộ, chiến sĩ toàn Trung đoàn quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trên giao.

Lễ ra quân làm nhiệm vụ khai hoang của Trung đoàn được tổ chức trọng thể tại đập tràn bên bờ sông thuộc xã Lương Sơn - huyện Bắc Bình - tỉnh Thuận Hải.

Tham dự buổi lễ có đại diện Thủ trưởng Bộ Quốc phòng -Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên; Đại tá Sáu Phúc Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Thuận Hải; Thủ trưởng Đoàn 334 và đông đảo cán bộ, chiến sĩ toàn Trung đoàn. Với khí thế mới, tiến quân vào mặt trận xây dựng kinh tế, các đơn vị Trung đoàn biểu thị quyết tâm và hứa với Thủ trướng Bộ, Thủ trưởng cấp trên thực hiện thăng lợi nhiệm vụ được giao.

Những tháng còn lại của năm 1976, với công sức, trí tuệ của tập thể cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn, cả một vùng rừng rậm rộng lớn dần dần hình thành các khu A, B, C theo qui hoạch cơ bản. Hệ thống doanh trại từng bước được xây dựng đáp ứng yêu cầu ăn ở, sinh hoạt và công tác của đơn vị. Tuy vẫn chỉ là nhà tôn vách đất, song xây dựng được cơ ngơi cho nhu cầu sinh hoạt để khẩn trương bước vào mùa vụ, là một sự nỗ lực vượt bậc của cán bộ, chiến sĩ toàn Trung đoàn.

Những tháng cuối năm 1976 và cả năm 1977, vật lộn với đất đá, với rừng trong khí hậu khắc nghiệt, gió bụi và nắng nóng của miền đất Bắc Bình, Thuận Hải, Trung đoàn đã san ủi được 500 héc-ta đất hoang. Vụ bông đầu tiên, Trung đoàn thu hoạch được 95 tấn bông thô. Đây là thắng lợi bước đầu. Tuy năng suất, chất lượng còn thấp, song đã khẳng định được ý chí, nghị lực phi thường của cán bộ, chiến sĩ toàn Trung đoàn trên con đường xây dựng, làm kinh tế. Những kinh nghiệm thực tế qua vụ bông đầu tiên và sự giúp đỡ về kỹ thuật của Trung tâm bông tỉnh Thuận Hải đã tạo ra những yếu tố cơ bản quyết định đến năng suất, chất lượng bông của Trung đoàn ở những mùa vụ tiếp theo.

Phát huy kết quả năm 1977, Đảng ủy - Chỉ huy Trung đoàn đề ra kế hoạch phấn đấu bằng được 250 tấn bông thô trong vụ năm 1978. Mọi công tác chuẩn bị cho vụ bông năm 1978 cơ bản đã xong. Nhưng trước yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trên biên giới Tây Nam, ngày 10 tháng 5 năm 1978, Quân khu quyết định biên chế Trung đoàn 250 thành Trung đoàn bộ binh thường trực sẵn sàng chiến đấu kết hợp với xây dựng kinh tế.

Theo đó, Trung đoàn sẽ trực thuộc Quân khu về mọi mặt. Nhiệm vụ của Trung đoàn lúc này lại thay đổi từ sản xuất làm kinh tế sang huấn luyện cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, mọi hoạt động của Trung đoàn có những xáo trộn nhất định, đặc biệt là lãnh đạo công tác tổ chức cán bộ, công tác tư tưởng, công tác tổ chức biên chế và huấn luyện bổ sung. Song với quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ trên giao Trung đoàn đã mạnh dạn đề nghị bổ nhiệm đội ngũ cán bộ các cấp, đặc biệt là cán bộ cơ sở từ trung đội đến tiểu đoàn và gửi một số cán bộ đi đào tạo ngắn hạn ở các Quân khu về bổ sung cho Trung đoàn, số cán bộ còn lại làm công tác tổ chức ổn định biên chế, tham gia tập huấn, huấn luyện quân sự kết hợp với giáo dục chính trị tư tưởng, Quân khu 5 trực tiếp truyền đạt huấn luyện trong thời gian 30 - 45 ngày, nội dung các hình thức chiến thuật tiểu đội, trung đội, đại đội bộ binh vận động tiến công và tập kích, các bài kỹ thuật, chiến thuật bắn chiến đấu v.v ... cho đội ngũ cán bộ từ trung đội trưởng đến trợ lý cơ quan Trung đoàn (tham gia tập huấn cùng Trung đoàn có đơn vị bạn (là) Trung đoàn bộ binh 96 và Trung đoàn cơ giới 21 (3)) địa bàn tập huấn ở xã Lương Sơn - huyện Bắc Bình - tỉnh Thuận Hải.

Sau nhiều năm chiến đấu chống Mỹ cứu nước, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn đã không ngại gian khổ, hy sinh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Đất nước thống nhất niềm vui chưa trọn vẹn, chưa có ngày đoàn tụ với gia đình, quê hương, đơn vị lại thêm nhiệm vụ mới là xây dựng kinh tế hàn gắn vết thương chiến tranh. Công việc đang tiến hành dang dở, thì chiến tranh xâm lược của bọn phản động Pôn Pốt lại bùng nổ trên biên giới Tây Nam Tổ quốc. Cán bộ, chiến sĩ một lần nữa lại mang ba lô tạm biệt hậu phương lên đường ra mặt trận với bao trăn trở, khó khăn của người thân, gia đình, ở hậu phương thời kỳ đất nước đang quá độ xây dựng xã hội mới, phía trước trên biên giới là chiến tranh, phía sau là hòa bình, giữa tư tưởng tích cực và tiêu cực, giữa cống hiến và hưởng thụ ... Nhưng với bản chất và truyền thống tốt đẹp của quân đội, nhân dân, của đơn vị thường trực chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đã ý thức, giác ngộ được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, lần nữa sẵn sàng nhận nhiệm vụ lên biên giới để bảo vệ biên cương của Tổ quốc.
 ----------------------------------
(1) Trích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 10-5-1969, Nxb QĐND, tr.12.
(2) Đồng chí Nguyễn Ngọc Bình được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 19-9-1967, lúc đó là Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn 409 đặc công, Quân khu 5.
(3) Trung đoàn cơ giới 21: tháng 5-1978 được Bộ Tư lệnh Quân khu 5 lấy làm nòng cốt quyết định thành lập Trung đoàn 726 trực thuộc Tỉnh đội Gia Lai - Kon Tum, chiến đấu trên biên giới tỉnh Gia Lai và tỉnh Na-ta- ra-ki-ri (Campuchia).

-----------------------------------------
Logged
ntsơn.12,7
Thành viên

Bài viết: 3


« Trả lời #37 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2009, 05:29:53 pm »

Chào các bác trong Quân Sử .
Thật với các bác, trước em chỉ tình cờ vào trang này , em nói theo suy nghĩ lúc đó nhé : chiến tranh đã qua mấy chục năm rồi , bây giờ thời buổi CƠM , ÁO , GẠO ,TIỀN ai hơi sức đâu mà nhớ về thời đó nữa , nhất trong thành phố cứ phải cuốn theo tính toán , lo toan , tối ngủ còn phải vắt tay lên trán xem thử ngày mai mình phải làm gì , nào vợ nào con nào học hành nào công việc  ôi... ôi ... nhức cả đầu .
Một năm chỉ có hai ngày em trở thành BỘ ĐỘI , gặp mặt các bạn chiến đấu cùng Trung Đoàn (ngày nhập ngũ và ngày 22 tháng 12 ) tha hồ nhắc lại kỷ niệm xưa , một thời trai trẻ chỉ biết xông lên phía trước . Còn 363 ngày còn lại trở về hiện tại đầy lo toan , đồng đội em ở xa quá , nhiều khi buồn chỉ phôn cho nhau để đỡ nhớ .
Nên hôm đầu tiên vào trang này , em nghĩ các bác trong đây vẫn còn tại ngũ viết theo sử rồi phăng phăng ra , như các phim truyện về đề tài chiến tranh các diễn viên , các cảnh và cả cốt truyện nhiều lúc em thấy nó giả giả thế nào , không xác thực .
Như TOPIC của bác vovanha em nghĩ làm sao mà bác ấy nhớ từng ngày , từng tháng , từng địa danh , từng tên các thủ trưởng chỉ huy họa chăng bác ấy vẫn còn trong Bộ Đội , hay trước kia làm bên truyền thống Sư Đoàn nên mới nhớ , còn lính như em thì chỉ biết trên kêu bắn là bắn , xong lo ngủ , ăn , sau khi lên B mới biết lo cho lính chút chút , khi ra quân còn nhớ bố ..... gì , em nói thực khi về đến nhà em chỉ còn mỗi bộ đồ trên người , còn bao nhiêu đổi rượu tất ..........tính em nó thế các bác ạ .Em quyết ra nhà bác Hà coi thực hư thế nào mà bác ấy vẫn còn yêu lính thế , ôi đúng thật , 12 giờ đêm gặp mặt nói chuyện gần sáng mà bác ấy vẫn cứ mê say , sách truyện toàn về đề tài chiến tranh Việt Nam .
Sau này từ bác Hà , em đã gặp , đã quen đã biết những đồng đội của mình tuy khác Sư , khác nhiệm vụ nhưng , khác địa phương nhưng vẫn còn say mê về một thời trai trẻ , một hời lính mình cùng nhau cầm súng bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam ..... cám ơn Quân Sử đã cho em thêm nhiều người đồng đội vẫn yêu màu áo xanh của Bộ Đội cụ Hồ , cám ơn các CCB vẫn coi nhau như một đơn vị và cám ơn tất cả coi nhau như một người thân . Cám ơn những cựu binh tôi đã gặp , cám ơn tất cả những gì các bác dành cho em .
Em viết rất dở có gì xin lưỡng thứ , bây giờ em không vào Nich quyenkh , nếu bác nào chiếu cố cứ gọi tên thực của em , không mắc công lẹo cả lưỡi và em phải giải thích tùm lum .
Thân ái
Logged
vovanha
Thành viên
*
Bài viết: 1575

Một thời để nhớ !


« Trả lời #38 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2009, 05:49:11 pm »

Như TOPIC của bác vovanha em nghĩ làm sao mà bác ấy nhớ từng ngày , từng tháng , từng địa danh , từng tên các thủ trưởng chỉ huy họa chăng bác ấy vẫn còn trong Bộ Đội , hay trước kia làm bên truyền thống Sư Đoàn nên mới nhớ .....Em quyết ra nhà bác Hà coi thực hư thế nào mà bác ấy vẫn còn yêu lính thế , ôi đúng thật , 12 giờ đêm gặp mặt nói chuyện gần sáng mà bác ấy vẫn cứ mê say , sách truyện toàn về đề tài chiến tranh Việt Nam .
Viết bậy cho cái miệng có màu à ! cả vạn  lính 307 còn quanh quẩn đất Miền Trung. Cứ 2 ngày tư lệnh f307 đọc qua một lần . Đừng giỡn nhé !
Logged

Quy Nhơn ! Thành phố nhỏ hơn những gì nó có.Thơ bốn câu không quá hai mươi chữ. Rung chân trời một cánh yến mảnh mai. Con đường nghiêng em hát bên tôi. Gió và tóc...nắng và nước mía .
ntsơn.12,7
Thành viên

Bài viết: 3


« Trả lời #39 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2009, 11:48:15 pm »

Bác Hà ơi em tuy là CCB thời K , nhưng em đâu có lòng như bác , vì em còn phải lo cho một quãng đường dài ơi là .................................................... dài .mà lúc đó vợ em là thủ trưởng .
Kính
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM