Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:28:52 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sóng chìm  (Đọc 87909 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #30 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 12:03:13 am »

YBLốc chăm chú nghe, rồi anh phát biểu:
- Từ ngày nhận được chỉ thị của Trung ương đi tìm bến bãi để đón tàu vô, chúng tôi đã mấy bận đến Vũng Rô. Và thú thực, đã muốn nhắm chỗ này. ý anh Sáu trùng với dự kiến bên quân sự chúng tôi. Vũng Rô sát quốc lộ Một, lại nằm ngay dưới chân đèo Cả. Đó là khó khăn nhưng cũng là thuận lợi. Nói thuận lợi tức chúng tôi muốn đề cập đến yếu tố bất ngờ. Cho tàu vào Vũng Rô là lợi dụng yếu tố ấy. Kẻ địch khó lường rằng tàu của ta lại vào được đó... Anh Sáu nói đúng, vấn đề không chỉ ở chỗ vị trí tàu vào, mà còn là quá trình vận chuyển vũ khí đi các nơi. Về điểm này, không đâu hơn hành lang Hiệp Hòa, Hiệp Xuân... Hoạt động
ở đây đã lâu, tôi rõ... Mạn Sông Cầu không bằng mạn Tuy Hòa. Sáu Sinh nhìn mọi người rồi nói:
-  Nếu  thường  vụ  nhất  trí  chọn  Vũng  Rô,  tôi  xin  thay  mặt  Liên khu đảm nhận nhiệm vụ tổ chức bến, tổ chức hành lang tiếp nhận súng đạn, cất giấu và vận chuyển...
- Dù không chọn Vũng Rô, lâu nay thường vụ cũng đã có ý ấy. - Năm Phô nói vui.- Từ nay gọi Bí thư Sáu Sinh là bến trưởng bến Vũng Rô nghe.
Mọi người cùng cười.
- Ai có ý kiến gì nữa không? Mời các anh bàn thêm cho kỹ... Không còn ý kiến tức là ta thống nhất nghe. Vậy tôi xin tạm kết luận. Thường vụ nhất trí hai điểm, một là chọn Vũng Rô làm bến đón tàu từ ngoài vào. Hai là cử anh Trần Sinh, ủy viên Thường vụ Khu ủy, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên thay mặt Thường vụ đảm nhận công tác chỉ đạo tổ chức bến. Nếu các anh thấy hợp lý, tôi sẽ điện ra xin ý kiến Trung ương...
- Báo cáo anh Năm, còn một việc nữa muốn xin ý kiến chỉ đạo của Thường vụ... - Sáu Sinh nói - Tôi vừa nhận được tin ngày mai địch cho lực lượng khá lớn càn lên khu vực này...
- Địch càn? Có việc đó sao không nói sớm, anh Sáu?
- Tôi cũng vừa nhận được tin...
- Địch nó càn ngẫu nhiên hay đã manh nha đánh hơi ra điều gì ta?
- Theo tôi địch càn là muốn quét lực lượng các cơ quan khu và tỉnh ra khỏi cứ... Chúng chưa thể phát hiện ra chủ trương ta chuẩn bị nhận vũ khí từ ngoài Bắc vô...
- Nên tính sao, anh YBLốc?
- Đứng về tương quan, ta không nên bộc lộ lực lượng. - YBLốc nói. - Để chuẩn bị cho những việc lớn hơn, trước mắt là nhiệm vụ đón tàu chở vũ khí vô, nên làm cho kẻ địch bị hẫng...
- Nghĩa là cho lực lượng rút lui...
- Thời điểm này tránh đụng độ tốt hơn. Trước mắt cần bảo vệ an toàn cơ quan Khu ủy và các tỉnh...
- Có lý! - Năm Phô nói - Nếu các anh đồng ý phương châm đó thì cần triển khai ngay... Phải có kế hoạch hành động trong đêm... Chúng ta còn rất ít thời gian...
... Đêm ấy sau khi theo bộ phận trinh sát rút sâu nữa lên miền Tây, mắc võng nằm dưới cánh rừng già, Sáu Sinh trằn trọc không ngủ được. Ông  cứ  băn  khoăn  mãi  về  câu  nói  của  Sáu  Quyên  hồi  trưa:  “Chú  à, trường hợp chị Tư kể cũng tội. Hay chú cho chị ấy rút lên cứ... Hai Rạng cứ đeo đuổi miết, làm sao giờ?”. Lúc đó ông nói gì chớ? Phải rồi, ông đã buột ra theo thói quen: “Động viên Tư Nhâm gắng chịu ít lâu nữa... Công việc sắp tới rất cần thông tin của Tư Nhâm...”. Lúc này nghĩ lại, ông rõ rằng nói vậy có cái gì đó chưa ổn, tức mới nghĩ một chiều. Đặt mình vào trường hợp Tư Nhâm, ông thấy quả là khó. Làm thế nào để vừa bảo đảm nhiệm  vụ, vừa  giữ  được lai lịch mình, lại  vừa  chống đỡ  với tình cảm ngày mỗi gắn kết của Hai Rạng? Động viên Tư Nhâm duy trì mối quan hệ với Hai  Rạng  để  làm  vỏ  bọc  cho  mình  tức  đã  đẩy  Tư  Nhâm  vào trường hợp hết sức trớ trêu, khó xử và khó lường. Với nữa chẳng thể kéo dài mối quan hệ như hiện nay mãi được. Sự kiên trì của Hai Rạng chắc có hạn. Sớm muộn gì Hai Rạng, nếu không thỏa mãn tình cảm, điều tự nhiên là sẽ sinh lòng hoài nghi, và một cái gì đấy có thể một dấu hỏi treo lửng trong đầu về Tư Nhâm là điều khó tránh. Xét bề ngoài, Tư Nhâm đồng ý yêu cầu của Hai Rạng là phải lẽ. ở góc độ tình cảm đơn thuần mà suy, họ đến với nhau là hợp lý. Hai người vốn quen biết từ nhỏ, đã từng có những kỷ niệm của thủa mới lớn, mà kỷ niệm thời bắt đầu nhận biết hằn sâu vào trí não người ta như dao khắc trên đá. Họ cùng độc thân và không thể nói là không muốn có một gia đình... Vậy lý do gì cả hai chẳng đến với nhau? Không chỉ Ba Hoàng, mà bất kể ai có chút suy diễn đều cho rằng Tư Nhâm từ chối Hai Rạng là điều không bình thường... Nhưng đưa Tư Nhâm ra cứ tức Tỉnh ủy đã tự chặt tay, bịt mắt mình... Để có mối liên kết giữa Sáu Quyên - A5 - Tư Nhâm, ông đã mất bao công phu, bao công sức. Chặt đi một mắt xích đó là phá bỏ một đường dây nội tuyến quan trọng, đường dây không chỉ phục vụ cho công việc tiếp nhận vũ khí sắp tới mà còn là vấn đề chiến lược lâu dài... Đành rằng Sáu Sinh đã có lần hứa với Tư Nhâm rằng, hãy cho bé Thảo về ngoại và sẽ bố trí đưa Tư Nhâm ra cứ, nhưng hình như đấy chỉ là chút tình cảm bột phát, sau đó thì tình thế và sự bức bách của công việc lại khiến ông phải cân nhắc, suy tính... Nếu Tư Nhâm lên cứ, ai là người thông tin cho ông hay có trận càn này? Khó nghĩ quá!... Để Tư Nhâm ở lại, liệu ông có ích kỷ quá không? Quyền lợi của cách mạng là trên hết! Tư duy giáo điều ấy cũ quá rồi, nhưng xét trong hoàn cảnh cụ thể hình như nó vẫn mang đầy đủ tính hợp lý nào đó. Trường hợp Tư Nhâm, chắc lại phải quay về với quan niệm ấy.
Phải, quyền lợi của cách mạng là trên hết, cuối cùng Sáu Sinh đành tặc lưỡi trấn an và an ủi mình bằng câu khẩu hiệu ông vẫn cho rằng sống sượng, có cái gì chương chướng đó...
Sáu Sinh vốn là bạn của Bảy Cường, ba Tư Nhâm. Những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, lúc Sáu Sinh vừa dạy học vừa gây dựng phong  trào  ở  làng  Cát,  Bảy  Cường  theo  tổ  công  tác  lên  Tây  Nguyên. Những năm cuối cuộc chiến, Bảy Cường được lệnh về đồng bằng, ông đưa con gái cùng ra cứ. Vào thời gian ấy Sáu Sinh cũng được lệnh rời làng Cát và ông biết Tư  Nhâm  bởi vậy. Hồi  đó Tư  Nhâm gầy nhẵng, thoạt trông thơ  dại  như  cô  bé vẫn xách lẵng vào rừng nhặt  quả  thông trong câu chuyện của một nhà văn Nga, nhưng ẩn sau cái bề ngoài ấy, cô có phẩm chất của một chiến sĩ quân báo: sáng dạ, nhanh nhẹn, tháo vát và cũng là tay thiện xạ có hạng. Hồi đó có khẩu hiệu mỗi viên đạn là một quân thù, và người thực hiện hiệu quả nhất là cô con gái Bảy Cường. Khi mới vào cứ người ta phân công Tư Nhâm làm liên lạc, giúp việc trong cơ quan, rồi do bộ phận quân báo thiếu người, Tư Nhâm được chuyển qua. Cô đã từng theo đồng đội vào hậu cứ địch nắm tình hình và làm công tác dân vận. Nhiều người khen cô khôn khéo, biết ứng phó... Nhiều lần thoát chết không hẳn chỉ do may mắn, mà nhờ biết khai thác triệt để những điểm mạnh của hoàn cảnh...
Sáu Sinh cũng là người tác thành cho Tư Nhâm với Tư Lăng để họ thành vợ thành chồng. Sau khi Bảy Cường hy sinh, Sáu Sinh quý Tư Nhâm như con, và không ai khác, chính ông đã giữ Tư Nhâm ở lại, rồi bố trí về làng Cát hoạt động. Ai hay thiếu tá Hai Rạng, tiểu đoàn trưởng Rồng Đen lại là người quen biết cũ của Tư Nhâm... Cuộc đời nhiều ngẫu nhiên, nhiều những thứ không thể đoán định trước, kỳ lạ như thể có bàn tay vô hình nào đấy cố tình sắp đặt, nhào nặn...
Sáu Sinh trở mình. Trời gần sáng. Khu rừng yên tĩnh. Mọi người
đang ngủ sau một chặng đường hành quân vượt núi khá dài. Tiếng gió lướt trên vòm lá rất khẽ, Sáu Sinh cũng chìm dần vào giấc ngủ...
Khi mặt trời chiếu những tia nắng đầu tiên vào khu rừng, Sáu Sinh choàng thức. Phía cuối rừng ẩn có tiếng động cơ máy bay vọng lại và kế đó là tiếng nổ dồn dập của các loại bom. Mọi người đứng dậy và cùng hướng về phía ấy.
- Chúng càn lên rồi!
Sáu Quyên đứng phía sau Sáu Sinh buột ra. Sáu Quyên là người đầu tiên biết sẽ có trận càn này. Đúng hơn cô là người đầu tiên được Tư Nhâm báo cho hay.
Nghĩ đến Tư Nhâm, Sáu Quyên thấy thương chị quá chừng. Mỗi lần gặp, cô thường giả bộ mang vẻ mặt dửng dưng và hay nói cứng để Tư Nhâm khỏi yếu mềm nhụt chí, mà làm vậy Sáu Quyên còn muốn động viên và “làm tư tưởng” cho cả mình, nhưng trong thâm tâm, cô hết  sức  hiểu  và  thông  cảm  với  hoàn  cảnh  của  chị...  ở  tình  cảnh  Tư Nhâm, sự chịu đựng trên nhiều phương diện là quá sức. Nhiều lúc Sáu Quyên tự hỏi, nếu đặt vao cảnh huống như chị, liệu mình có trụ được? Trước đây là Trần Nhũng và bây giờ là Hai Rạng. Đến cây tre cây nứa tán mãi còn đổ nữa là... Nhưng nỗi khổ tâm đâu phải chỉ vậy. Được chú Sáu giao nhiệm vụ là người duy nhất bắt liên lạc và nhận thông tin từ Tư Nhâm chuyển qua, Sáu Quyên hiểu tâm trạng người phụ nữ này. Đã hơn mười năm nay không một tin tức của chồng, sự chờ đợi của  chị  khác  nào  đêm  đêm  người  ta  hướng  vào  mặt  trăng  gọi  Cuội, niềm  hy  vọng  mỏng  tang  như  bọt  bóng  xà  phòng  chơ  vơ  bay  trước gió. Nhưng vẫn phải cắn răng chờ. Nó là đạo lý, là tình cảm và còn là một cái gì cao hơn thế... Sáu Quyên biết Tư Nhâm khổ tâm và không phải là không dằn vặt. Nỗi chồng, nỗi con, những đối phó và nhiệm vụ. Làm thế nào để không đánh mất mình mà vẫn làm trọn công việc chú Sáu, đúng hơn là tổ chức giao đâu hẳn dễ dàng... “Dựa vào Hai Rạng, chị khỏi lo mối hiểm họa từ Ba Hoàng”, Sáu Quyên thường nói với Tư Nhâm vậy, nhưng thực tình cô đâu muốn. Dựa vào Hai Rạng khác nào dùng con dao hai lưỡi và ai mà lường được hậu quả sau đó... Nhưng trong tình thế hiện nay, chẳng còn cách nào khác. Chỉ mong sao sớm qua cái đận này, mọi sự êm êm, để chú Sáu đưa Tư Nhâm ra cứ..

« Sửa lần cuối: 01 Tháng Tám, 2009, 11:39:42 am gửi bởi LuuHuongSoai » Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #31 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:31:09 pm »

Sáu Quyên ngồi tựa gốc cây, hướng mặt về phía có nhiều tiếng súng nổ...
- Qua chỗ chú có việc nghe, Sáu! - Sáu Sinh nói.
- Dạ! Sáu Quyên bước tới chỗ Bí thư Tỉnh ủy. Hai người lần xuống con suối gần đó.
- Hôm qua cháu đề xuất việc để Tư Nhâm ra cứ, chú băn khoăn mãi. - Sáu Sinh vào chuyện. - Mà không phải hôm nay. Chú nghĩ đã mấy tháng qua... Khó ha!
- Cháu thấy chị Tư kẹt vào tình thế khó xử quá.
-  Chú  biết  chớ...  -  Sáu  Sinh  nhìn  ra  xa,  nơi  có  những  cây  lành lạch mọc chồng lên nhau, kết lại như những đụn rạ, giọng Sáu Sinh nhỏ xuống. - Cháu rõ hôm qua Thường vụ Khu họp chớ?
- Dạ.
- Thường vụ đã quyết định chọn Vũng Rô làm bến để tiếp nhận vũ khí...
- Vũng Rô? - Sáu Quyên ngạc nhiên quay lại, khuôn mặt hớn hở như trẻ nhỏ được mẹ cho quà.
- Làm gì la lên vậy?... Tuyệt mật đó nghe...
- Cháu ngỡ mình nghe nhầm... Thiệt có việc ấy sao chú?
- Bởi vậy chú cứ nghĩ hoài tới việc của Tư Nhâm...
- Dạ, cháu hiểu...
- Đặt mình vô chỗ của Tư Nhâm  mới thấy tội... - Sáu Sinh khẽ thở dài. - Mà cháu thấy Hai Rạng là người ra sao?
- Hai Rạng khác Ba Hoàng, viên thiếu tá này có học, hiểu nhiều, cũng là con người ga lăng, văn hóa, không hung hăng, nhưng hai kẻ đó giống nhau ở một điểm là chống Cộng sản đến cùng.
Sáu Sinh im lặng. Rồi ông chợt buông tiếng thở mạnh...

*

Quán Năm Hồng hôm nay đông hơn mọi bận. Đám lính Rồng Biểnvừa càn trên núi về được nghỉ, tranh thủ tới xả hơi. Căn nhà ồn ã tiếng người và sặc mùi bia rượu. Một xị đế với miếng khô cá là đủ cho người
ta vung tay trương gân cổ la hét coi trời bằng vung và có thể công kênh nhau lên tận tít trên sao hỏa. Rượu quả là một trong những phát minh vĩ đại nhất mà con  người  may  mắn  có  được. Nếu thiếu  thứ  nước  nồng nồng cay cay ấy, chẳng rõ nhân loại hiu quạnh buồn tẻ vắng lặng và vô nghĩa đến dường nào. Vui cần đến rượu mà buồn người ta cũng cần đến thứ đó. Đám ma đám cưới không có rượu, nhạt thếch. Thất tình, mất của, vợ theo trai..., nếu không có rượu lấy gì làm cứu rỗi? Rượu quả là tri  âm  tri  kỷ.  Rượu  làm  cho  người  ta  khùng,  dũng  cảm  hơn  và  cũng khiến người ta thật hơn, bộc bạch hơn. Chẳng một điều gì trong lòng không  lôi  tuột  ra  phơi  bày  giữa  thanh  thiên  bạch  nhật  khi  rượu  vào. Rượu là kẻ thù của đàn bà, nhưng là ma lực để đàn ông có những giây phút thăng hoa; phàm đã sinh ra làm thằng đực, khó ai bước qua...
- Các cha biết tại sao mấy hôm rồi chúng ta vô rừng đổ đạn đánh Việt Cộng nhưng lại đuổi thỏ chớ? Không rành hả? Vậy tới đại úy Ba Hoàng giảng giải cho nghe.
- Không bỏ mạng, vác được con giống về là quý rồi cha nội ơi.
- Mẹ kiếp, mình lên núi thì Cộng sản lại mò xuống... Nghe tin gì chưa? Nguyễn Xấn chỉ huy dân vệ làng Cát đêm qua lại bị du kích đột nhập vô bắn chết tại nhà. Bọn dân vệ sợ mất vía chạy té đái lên Lân Cồ xin cứu viện bị Ba Hoàng tức giận cho ăn bạt tai...
-  Bọn  ngu...  Không  chống  nổi  thì  mặc,  cớ  chi  phải  lên  Lân  Cồ cho khổ xác...
- Du kích vô làng như vô chỗ không người... Cho thêm xị nữa chị Năm...
Tại chiếc bàn xế góc, một gã trông vẻ bặm trợn, bộ râu quai nón chưa kịp cạo tủa tủa hai bên má lởm chởm như lông heo làm không kỹ bắt chước giọng Chế Linh, lè nhè: Tôi thề tôi chẳng yêu ai, vì người ta cứ phụ tôi hoài... Tôi thề tôi chẳng yêu ai...
Cô gái chàng ta nhặt được đâu đó rồi mang vào đây cùng uống rượu lườm ngang:
- Hát chi rầu vậy cha nội... Đã có em nè.
-  Ngày  mai  anh ra trận, em  cũng  bai anh thôi, anh  rành đàn  bà mà... Tôi thề tôi chẳng yêu ai... Chỉ có chị Năm là người đàn bà bậc nhất chung tình với tụi lính chiến này thôi, phải vậy không chị Năm? - Gã nói và quờ tay vuốt nhẹ cặp mông tròn căng vổng cao khơi gợi của người chủ quán, mắt rực lên...
- Có sức không mà ham hố vậy cha? - Năm Hồng quay lại, đôi mắt sắc như dao cứa lên mặt gã, lại cứa lên mặt cô gái ngồi cạnh. - Biết nuốt không trôi mà cố dễ sặc nghen.
- Sặc? Hôm nào chị Năm cho thử được không? Coi bộ vậy nhưng tôi còn dai sức ha. Gã cười, rồi choàng tay qua vai cô gái, hôn nhẹ vào má.
- Trời ơi, ợ ra sặc mùi rượu... Hôi thấy mồ! - Cô gái điệu bộ phẩy tay.
- Sao, hôi thấy mồ? Rượu là đặc ân thượng đế ban mà nói hỗn... - Gã đứng dậy, đưa ly lên - Nào, uống cạn nghe, anh em.
Gần chục cái ly sóng sánh rượu châu vào nhau.
- Dô! - Gã hô.
Đám  lính  hô  theo,  rồi  những  khuôn  mặt  đỏ  lựng  ngửa  lên,  dốc ngược chiếc ly cầm ở tay vào miệng.
- Đời chỉ còn một thứ có nghĩa. - Gã ngoẹo cổ, ặt vào vai cô gái, chuyếnh  choáng.  -  là  đàn  bà,  còn  lại  vô  lý  ráo.  Chức  quyền,  phù phiếm; tiền tài, chẳng nghĩa gì. Chết là hết... Vậy mà người ta cứ xỉa súng,  xỉa  dao  nhọn  vào  mặt  nhau,  người  ta  thích  giết  nhau...  Cộng quân nói Cộng quân đúng, Quốc gia bảo Quốc gia phải... Tai họa lớn nhất của nhân loại là ở chỗ ai cũng cho rằng mình đúng... Mẹ khỉ, thế nào là đúng, thế nào là sai... Vô nghĩa... Nào rót đi... Chỉ rượu và đàn bà là muôn năm đúng...
- Nói ba láp Ba Hoàng xích cổ vô cột đá nghe.
- Ba láp?... Không ba láp... Nói đúng phóc hết. - Gã lại hát, giọng sên sến. - Phải ra dáng một người đàn ông - Hãy sống cho hôm nay, ngày mai còn xa lắm...
Có  tiếng  phanh  xe  rít  gấp  gáp,  mọi  người  cùng  nhìn  ra.  Chiếc Jeep khựng ngay cửa quán. Đại úy Ba Hoàng nhảy xuống, trung sĩ Độ xuống theo.
-  Mấy  anh  ở  đội  nào,  làm  loạn  phải  không?  -  Hoàng  hằm  hằm bước vào và hỏi, đôi mắt khó chịu nhìn lướt khắp lượt đám lính.
- Thưa đại úy, hôm nay được tự do nên đến quán cùng vui. - Gã có râu quai  nón buông  cô  gái, đưa  tay ngang  vành  mũ, tiến lên, hai chân liêu xiêu... Đại úy uống với tụi em một ly nghe?
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Tám, 2009, 11:53:11 pm gửi bởi LuuHuongSoai » Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #32 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:33:31 pm »

- Say xỉn cả rồi!
- Chưa xỉn và cũng chưa say, thưa đại úy... - Gã cầm chai rượu, run run bước tới. Ba Hoàng gạt ra:
- Về đơn vị ngay! - Viên đại úy bực bõ ra lệnh - Tất cả về đơn vị!.
- Thưa... Tại sao phải về?
- Chống lệnh hả?... Đừng để lần thứ hai tôi nhìn thấy bộ mặt lè phè và đỏ như mào gà chọi của anh nữa nghe.
- Không chống lệnh. Quân lệnh là sơn, là núi, là keo, là xà bông... Đã lệnh! Vậy thì về!
Đám  lính  ngơ  ngác  nhìn  nhau,  cuối  cùng  cũng  lẳng  lặng  đứng lên, thanh toán tiền và len lén rút ra khỏi quán.
- Rượu vào chỉ huyên thuyên tuyên truyền không công cho Cộng sản...  -  Ba  Hoàng  càm  ràm,  không  có  ý  nói  cho  ai  nghe  cả,  gã  nói phóng thiên; rồi lầm lầm bước ra, tót lên xe không cả quay lại gật đầu chào Năm Hồng. Hai Độ như một cái bóng nịnh bợ hấp tấp chạy theo. Thực  ra  Ba  Hoàng  không đến  đây  dẹp  đám  lính.  Gã  đang  bực, đang khó chịu trong lòng, giống như người ta tức đái, chưa có chỗ thải, vớ  đống  cỏ  rác,  vậy  là  xả  luôn.  Đám  lính  chính  là  đống  cỏ  rác.  Ba Hoàng bực tới mức quên chào cả Năm Hồng. Mọi lần, có chuyện buồn gã thường tới đây làm  vài ly để được  tán tỉnh và  ngắm  ngó bộ ngực mướt mát, cặp đùi căng, hai mông mẩy bó chặt trong chiếc quần may chật của người chủ quán. Biết Năm Hồng đa tình lại đã đến với già nửa đàn ông trong vùng, xổ ra phải một rổ cái thứ của quý mà mỗi lần ngà ngà men, nửa nằm nửa ngồi trên chiếc ghế tựa, lim dim mắt nhìn cái cơ thể mẩy lẳn gợi cảm của người  đàn bà  này, cái  vật  kề  bụng dưới  cứ nóng ran và đầu óc lại quay đảo trong những tưởng tượng thân xác... Gã coi đó như những phút thư giãn, nhằm lấy lại thăng bằng. Nhưng hôm nay Ba Hoàng không chỉ buồn mà đang tức, đang hận, đang rối trí. Gã không muốn gì cả, chỉ thấy cáu giận... Mấy ngày nay dồn dập những chuyện không hay. Cuộc hành quân lên núi ẩn thất bại. Du kích lộng hành ở làng Cát. Nguyễn Xấn bị giết. Lại còn chuyện Tám Phụng nữa chớ. Mẹ khỉ, chẳng rõ sao thằng cha bỏ Cộng sản theo Quốc gia này cứ khật khờ hệt cái bóng không hồn, hỏi gì cũng gật, gật rồi bất chợt ngoác cái mồm rộng như mồm cá ngão ra nhăn nhở cười. Có lúc cười to đến phát ho, kéo theo cả rắm rít. Hắn muốn gì nữa chớ? Quốc gia không chỉ tha mạng sống, còn đối xử như khách, cho ăn ngon, cho mặc đẹp, cho chỗ ở đàng hoàng, lại có lính gác cửa chẳng khác gì nhà tướng Long nơi  Tuy Hoà. Vậy mà  lão cứ  héo quắt, da  mặt  bủng xanh như  cái lá khoai môn bị mấy bà bán cá ghé đít chuầy chòa ngồi cho nhàu nhĩnh. Còn đôi mắt lúc lóe lên tia nhìn hoảng loạn, rồi giáo giác nhìn ra xung quanh; lúc lại lờ đờ, thiếu sinh khí như kẻ đã nằm trong quan tài... Có người bảo rằng lão bị ma ám. Ba Hoàng không tin. Nếu có ma thật Ba Hoàng đã bị vật chết lâu rồi. Xóm dưới cuối làng Cát có một chốn được coi là linh thiêng, đó là đền Cả. Ngôi đền giáp Mả Ma này xây từ bao giờ chẳng ai hay, thờ ông tướng cụt đầu có công đánh giặc từ xa xưa, nghe nói rất ứng nghiệm. Ai có việc gì uẩn khúc, oan ức đến đó cầu khấn đều được giải. Thậm chí nhiều người chết mười sống một đến xin quẻ, về nhà đốt giấy hòa vào nước uống thay thuốc, đều khỏi. Vậy mà Ba Hoàng đã đầu têu bọn trẻ trong làng làm một việc động trời. Chính ngọ, bọn ôn dịch này, dân làng Cát sau đó gọi chúng như thế, dám vác búa  ra  đập  tượng  ông  hộ  pháp  canh  cửa  đến  vụn  tơi.  Hay  tin,  Trần Nhũng sợ xanh mặt, chân tay rụng rời, nói không ra lời, vật xuống tựa người cảm gió. Chỉ một mống con trai, phen này chắc mất. Mà tại sao cái thằng trời đánh này đổ ngu đổ dại ra vậy chớ. Rầu ruột quá!... Có người mách phải sắm lễ tạ tội suốt trong ba ngày. Trần Nhũng sợ hãi làm theo. Đêm thứ hai, Ba Hoàng đi đánh trận giả ngoài bãi dương về, đói bụng, liền lẻn vào, trèo lên bệ thờ vơ hết hoa quả, xôi oản ra chia cho đám trẻ. Ăn xong chúng còn thi nhau đái cầu vồng vào sân đền xem đứa nào đái cao, đái dài nhất. Vậy mà Ba Hoàng cứ sống nhăn nhăn cho tới bây giờ... Chẳng có ma nào hết, nếu là ma thì kẻ đó chính là Tám Phụng. Nhiều lúc thấy lão nghệt ra như gà mái rặn đẻ rồi phá lên cười ngặt ngẽo, sau đó ôm mặt khóc hu hu, miệng lảm nhảm “ác địa, ác địa”, Ba Hoàng cũng hoang mang: hay chính lão là ma? Tám Phụng ma hay người  mặc  xác  lão,  nhưng  hắn  đã  khiến  Ba  Hoàng  và  Hai  Rạng  bất
đồng. Có lần viên đại úy đề nghị:
- Khử thôi, Tám Phụng hết tác dụng rồi.
Hai Rạng không những không nghe, còn cự nự:
- Quốc gia khác Cộng sản chỗ đó. Không được vắt chanh rồi bỏ vỏ, dẫu sao ông Tám đã giúp ta rất nhiều việc.
- Không khử thì để lão tự do.
- Ra khỏi đây Tám Phụng lập tức bị Cộng sản làm thịt, như vậy ai còn muốn về với chính nghĩa quốc gia?
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #33 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:38:39 pm »

Ba Hoàng ấm ức, nhưng cũng rõ mình đuối lý, nên im lặng. Song, cuộc trò chuyện sáng nay với Hai Rạng mới thật sự khiến gã khó  chịu.  Viên  đại  úy  không  mảy  may  nghi  ngờ  Hai  Rạng chểnh mảng trong cuộc chiến tiễu trừ Cộng sản. Hơn ai hết gã rõ ý thức triệt để phụng sự lý tưởng Quốc gia của viên thiếu tá. Không có mối thâm thù truyền  kiếp từng  bị  Cộng  sản cướp  phá  nhà  cửa tịch thu  đồ đạc ruộng vườn như gia đình gã, Hai Rạng theo Quốc gia một cách tự giác trên cơ sở niềm đam mê muốn xây dựng một xã hội tự do, bác ái, vì con  người  cần  lao.  Nhưng  nhược  điểm  của  Hai  Rạng  là  quá  nhu nhược, quá tin người bởi vậy, theo Ba Hoàng, đã đánh giá sai Cộng sản và thiếu cảnh giác. Sáng nay trong phòng làm việc của Hai Rạng, Ba Hoàng có ý nghi ngờ nguyên nhân thất bại của cuộc hành quân lên núi ẩn, đã tâm sự:
- Cả một kế hoạch hành quân bài bản, được tạo dựng trên cơ sở những phân tích tình báo chuẩn xác, vậy mà đã diễn ra theo một kịch bản được khớp nối như thể đôi bên có duy nhất một bàn tay đạo diễn... Thật không hiểu nổi.
Hai Rạng không những không thông cảm còn trách cứ:
- Không có gì khó hiểu! Lỗi là ở CIA các ông. Các ông nắm tình hình không chắc, lại quá tự tin.
Ba Hoàng vẫn nhã nhặn:
- Tôi lại có ý nghĩ khác, thưa thiếu tá. Tôi đồ rằng rất có thể bàn tay Việt Cộng đã thò vào cạnh sườn chúng ta.
- Đại úy mắc bệnh nghề nghiệp, hoặc bệnh hoang tưởng rồi. - Hai Rạng nhìn Ba Hoàng và giễu.
- Bệnh nghề nghiệp, vâng, có thể... Một kế hoạch bí mật tới vậy mà Việt Cộng vẫn biết trước, thậm chí biết rất chi tiết, biết rất cụ thể, từ lực lượng đến ngày giờ xuất quân và đã khôn ngoan lừa chúng ta,
làm cho chúng ta bị lỡm, bị tưng hửng. Chúng ta dàn quân ra và đã đấm một quả đấm mạnh vào bị bông. Chẳng  lẽ  đó  là  một  ngẫu nhiên?... Phải có ai đó, nhất định phải có ai đó biết kế hoạch, lấy được thông tin và tuồn ra cho Cộng sản.
- Nè đại úy, hay là tôi...?
- Thưa, xin thiếu tá đừng nặng lời. Tôi đâu dám hồ đồ tới mức ấy. Lòng trung thành của thiếu tá đối với chế độ, hơn ai hết tôi là người rành chớ.
- Hay là cô Tư Nhâm? - Hai Rạng làm bộ nghiêm - Nghe nói lâu nay đại úy vẫn cho người theo sát cô ấy? Cần gì đại úy cứ hỏi tôi nè, theo chi cho mệt. Tôi rành Tư Nhâm như rành tôi vậy.
- Thưa thiếu tá, nhiệm vụ của tôi là...
- Đại úy chớ độc quyền yêu Quốc gia nghe. Chính thể này không phải chỉ có Ba Hoàng biết bảo vệ.
Ba Hoàng uất tím mặt, gã ra khỏi phòng, vẫy Hai Độ. Hai thầy trò lên xe... Và đám lính ở quán Năm Hồng đã tội nghiệp làm bia để Ba Hoàng xả uất ức.
- Thưa, về doanh trại? - Hai Độ ướm hỏi hỏi khi chiếc xe gần tới Lân Cồ.
- Về nhà tôi!
Hai Độ đánh vô lăng, chiếc Jeep cua nhẹ, rẽ vào con đường nhỏ, và cuối cùng dừng lại trước ngôi nhà có sân trồng nhiều hoa lý.
- Ba về! Ba về! - Hai đứa nhỏ, một bé trai chừng mười tuổi, bé gái chừng tám tuổi từ trong sân hớn hở ào ra đón.
Ba Hoàng nhảy xuống, vui vẻ bế bé gái vào lòng, dắt bé trai đi cạnh. Bà giúp việc từ trong bếp bước tới:
- Cậu đã về! - Bà chào, người hơi cúi xuống, khuôn mặt tỏ sự lễ phép, cam chịu.
- Nhà tôi đâu? - Ba Hoàng hỏi.
- Dạ thưa, mợ có dặn lại rằng trưa nay không về. Mợ có việc vô Nha Trang mấy hôm.
- Nha Trang?
- Ba ơi, thiếu tá Tư Sum từ dưới đó đưa xe về rước má đi. - Đứa con lớn nói thêm.
- Má đi công chuyện đó mà... - Ba Hoàng trấn an con trai, cũng là để trấn an mình rồi quay về phía Hai Độ. - Hai giờ chiều đón tôi vô doanh trại nghe.
- Dạ!
Mâm cơm đã được người giúp việc dọn sẵn. Ba Hoàng thay quần áo và cùng hai con ngồi vào bàn. Gã làm một cử chỉ âu yếm, thơm nhẹ lên má cậu bé, lại thơm lên má cô bé.
- Chỉ còn hai đứa là niềm vui của ba đó... Các con ăn ngoan, ăn nhiều cho chóng lớn nghe.
Ba Hoàng rất yêu con. Gã cho rằng tài sản lớn nhất ở đời là con cái, bởi vậy dẫu không bằng lòng với thói trăng hoa của vợ, lâu nay gã đã gắng chịu đựng, và cho qua nhiều chuyện tằng tịu của người đàn bà này với đám sĩ quan trên phố. Ba Hoàng không muốn có điều gì ảnh hưởng đến hai đứa nhỏ. Nơm nớp như vậy nên gã thường nói với vợ:
“Em gian díu với ai mặc lòng, nhưng không được để bọn trẻ buồn bỏ học đó”. “Bộ chỉ anh biết thương con sao?” - Vợ gã đáp. Ba Hoàng coi câu trả lời của vợ như một thỏa ước ngầm giữa hai người. Ai ngờ hôm nay thị công khai đi với người tình trước mặt con. Ba Hoàng cố thanh minh với lũ nhóc rằng má đi có việc, nhưng gã rõ vợ đi đâu và đi  làm  gì...  Tối  qua,  lúc  đã  khuya  khuya,  người đàn bà xoay  người
sang và bảo:
- Em cần một số tiền...
- Quần áo, giày dép và mỹ phẩm em khuân về như vậy chưa đủ? - Gã nói.
Người đàn bà vùng dậy, bước tới bên của sổ, nhìn ra:
-  Anh  không  nghĩ  rằng  đàn  ông  luôn  để  cho  vợ  hỏi  xin  tiền  là đáng xấu hổ sao? Gã uể oải đáp:
- Anh mệt mỏi với cách tiêu pha của em rồi. Người đàn bà quay nhanh về phía Ba Hoàng:
- Vậy hả? Đáng ra anh nên nói sớm hơn.
- Em cần bao nhiêu? - Ba Hoàng xuống nước. Gã lo sợ một cuộc to tiếng khiến các con thức giấc.
- Hai ngàn đô!
- Có nhiều quá không?
- Đàn bà có những nhu cầu mà người đàn ông chân chính không nên xía vô.
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Tám, 2009, 11:51:15 pm gửi bởi LuuHuongSoai » Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #34 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:41:53 pm »

Ba Hoàng thua, nhưng bây giờ thì gã rõ đó là món tình phí của vợ dành  cho  thiếu  tá  Tư  Sum  trong  vài  ba  hôm  hai  người  nghỉ  mát  nơi những biệt thự sang trọng ven biển Nha Trang. Người đàn bà này đã quá táo tợn và bất chấp... Ba Hoàng chẳng lạ gì Tư Sum. Hắn là tên Sở Khanh  có  tem  mác  chuyên  đi  lừa  đàn  bà  và  moi  tiền  của  họ.  Điều không thể giải thích là chẳng hẳn những con cái bị lão nhử vào tròng không ý thức được điều ấy, nhưng lão có ma lực bùa phép gì đó mà hễ người đàn bà nào đã dính vào, khó có thể rời. Họ tự nguyện biến mình thành nô lệ, đồ chơi, trò tiêu khiển và sẵn sàng đi lừa những gã đàn ông dại gái khác để cung phụng lão... Một hôm Ba Hoàng nói với Tư Sum:
- Bỏ cách móc túi đàn bà đi. Hãy làm thằng đàn ông.
Lão cười rất mãn nguyện:
- Đàn ông đích thực là biết làm cho đàn bà sướng, họ theo. Bọn lại cái sao gọi đàn ông!
Ba Hoàng giật mình, gã nhớ đã có lần người đàn bà gã kêu là vợ cũng đã nói với gã một câu tương tự. Đó là hôm  Ba Hoàng đi nhậu trên Tuy Hòa về, và đã không kịp thay quần áo, đổ xuống giường tựa cái giẻ rách, ngủ thiếp. Đang đêm chợt gã giật mình: vợ gã bỗng dưng chồm dậy nhanh như mèo vồ chuột và để nguyên quần áo ngủ, tuông ra khỏi nhà. Chân nam đá chân chiêu, Ba Hoàng vội vã đuổi theo:
- Anh xin lỗi... chúng nó chèo kéo...Người  đàn  bà  quay  khuôn mặt lúc  bấy  giờ  nóng ran như  người sốt cao, nhìn vào mắt gã và nhiếc:
- Anh là đàn ông hay loài lại cái?
Lại cái, sao Ba Hoàng có thể là loài lại cái! Chẳng hẳn mỗi lần ra quán Năm Hồng, mới khẽ chạm mắt vào cánh đồng cỏ chắc chắn là phì nhiêu nơi cái ngã ba mênh mông nhiều liên tưởng của người đàn bà ấy, Ba Hoàng đã rạo rực nóng ran khắp trên dưới sao! Vợ gã đòi hỏi điều gì nữa chớ. Tiền không thiếu, chiều hết cỡ, và so với đám sĩ quan  cùng  lứa  gã  là  một  đực  rựa  khỏe  mạnh... Tư  Sum  hơn  ở  điểm nào?... Nếu không vì hai đứa con, Ba Hoàng đã phá tan cái gia đình này, lành làm gáo vỡ làm muôi và vào doanh trại sống như Hai Rạng từ lâu... Điều trớ trêu là hình như vợ gã biết yếu điểm đó nên càng làm già...
- Anh hứa... - Ba Hoàng dìu vợ vào nhà, dịu giọng.
-  Đã  từ  lâu  anh  không  coi  tôi  là  một  con  cái  nữa...  Tôi  đi  chạ, đừng oán nghe...
Vợ gã có thể đi chạ, chạ với bao nhiêu con đực khác cũng được, Ba Hoàng chai với điều ấy rồi. Ba Hoàng ngấm ngầm chấp thuận. Với nữa, người đàn bà đó đi với trai thì người đàn ông này đi với gái. Có tiền khắc có của lạ. Nhưng lấy tiền gã gom góp nhằm nuôi con và mua tương  lai  của  chúng  để  bao  trai, Ba  Hoàng  quyết  không  để  yên... Nhiều người bảo rằng với lính, và cấp dưới quyền Ba Hoàng là một sĩ quan cứng rắn, gã  gia trưởng, quyết  đoán, nóng nảy và bởi  vậy chớ dại dột làm điều gì trái ý để viên đại úy phải khùng. Khi đã cáu giận là bất chấp, trời lúc đó cũng nhỏ. Còn với Việt Cộng, Ba Hoàng có nhiều thâm thù nên hết sức hằn học, nhẫn tâm, gã không mảy may do dự, không  chút  chùn  tay  xả  súng  vào  đầu  bất  cứ  kẻ  nào  gã  cho  là  Việt Cộng hoặc liên quan đến họ. Phương cách ứng xử của Ba Hoàng phù hợp với ý định của quốc gia: giết nhầm còn hơn bỏ sót... Nhưng điều khó  hiểu là trong gia  đình, gã là  kẻ  hèn kém,  một  người  chồng nhu nhược, biết vợ cắm sừng lên đầu vẫn cay đắng nhẫn nhịn chấp nhận, thậm chí còn coi đó như  quy trình tất yếu của  sự sống: để  đạt đượcđiều gì đấy ắt phải trả một cái giá nhất định... Đám sĩ quan rỉ tai nhau rằng Ba Hoàng cố tình làm thấp mình xuống chỉ vì con cái. Họ có lý. Gia tộc họ Trần toàn độc đinh. Ông nội Ba Hoàng chỉ sinh được một mình  Trần  Nhũng.  Lấy  ba  vợ,  nhưng  cộng  con  chính  thức  lẫn  đám ngoài giá thú Trần Nhũng cũng chỉ có Ba Hoàng, nói như lão hồi còn sống, trời cho để nối dõi tông đường. Và đến lượt Ba Hoàng, gã cũng chỉ một trai một gái. Phải chăng bởi vậy gã muốn yên phận mà giữ lấy dòng giống họ Trần?
- Hai con ăn nhanh để dì Tư đưa tới trường nghe. Ba Hoàng nói rồi bước ra phòng khách.
Chiều đó Hai Rạng đến chỗ làm việc tìm Ba Hoàng. Hai khuôn mặt đã dịu lại. Đúng hơn là viên thiếu tá có lẽ nhận ra điều gì hơi quá lời trong cách ứng xử sáng nay nên muốn dàn hòa.
- Tôi muốn bàn với đại úy cách ứng phó ở làng Cát. - Hai Rạng vào chuyện. - Đây là việc khó... Để Việt Cộng làm chủ làng Cát, tức vành đai chiến lược bao quanh quốc lộ Một bị lỗ thủng lớn. Và vết thủng ấy rất có thể theo phản ứng đô-mi-nô loang rộng ra... Điều quan tâm không chỉ ở chỗ du kích Việt Cộng đêm đêm vẫn lẻn về, mà bằng những thông tin thu góp được và bằng trực giác của mình, tôi linh cảm như họ đang sắp có một ý đồ gì đấy, có thể là chuẩn bị tấn công vào Lân Cồ, cũng có thể đánh giao thông trên đường Một...
- Thiếu tá có những nhận định rất chuẩn xác... Tôi cũng cảm thấy như vậy.
- Nhưng đấy là việc lớn, sẽ bàn kỹ sau... Tôi tới là muốn nói chuyện khác. Tôi muốn đại úy hiểu hơn về quan hệ giữa tôi và Tư Nhâm... Có thể đại úy cho rằng mối tình đó không bình thường. Phải, không bình thường theo lối nghĩ một chiều. Tôi yêu Tư Nhâm bằng tình cảm thật của mình như bất cứ người đàn ông chân chính nào khác. Cô ấy chưa ưng thuận có thể do mặc cảm, và cũng có thể do quan niệm về cách nhìn nhận các mối quan hệ xã hội... Tôi thật không hiểu tại sao người Việt lại hận thù người Việt và phải một mất một còn để rồi những người như tôi, như Tư Nhâm trở nên xa lạ, khách sáo mặc dù không phải kẻ thù. Mỗi lần tới nhà chơi, cô ấy kêu tôi bằng thiếu tá, ngỡ như hiển nhiên, nhưng xét kỹ thấy đau lắm. Sao Tư Nhâm không thân thiện, vồ vập gọi tôi là anh Hai như thời còn bé chớ? Cuộc chiến này có cái gì đấy hết sức trớ trêu, đại úy thấy vậy không?

Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #35 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:54:49 pm »

- Đó là một trong những thuộc tính của chiến tranh...
-  Đúng,  chiến  tranh  kéo  theo  nhiều  mất  mát!  Nhưng  tại  sao  cứ nhất thiết có chiến tranh? Phải chăng bởi ông Các Mác nói rằng lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp nên Cộng sản đã  bám  vào đó như  một liều thuốc  duy nhất, một bảo bối tuyệt hảo để ham hố phát động cuộc chiến này, coi như quy luật phát triển?
- Họ gọi đó là cuộc cách mạng giai cấp... Tôi không bao giờ quên gia đình tôi ba đời bị Cộng sản giết hại, thưa thiếu tá...
- Tôi chia sẻ tâm trạng ấy của đại úy... Xin lỗi, chúng ta lại lạc đề rồi. Tôi đang nói về mối quan hệ giữa tôi và Tư Nhâm... Tại sao tôi yêu người đàn bà đã có một con đó, lại là một đứa con, người làng Cát gọi là con hoang?...
- Thiếu tá chắc bé Thảo là đứa con ngoài giá thú của Tư Nhâm?
- Vậy đại úy không rành chuyện sao?
- Thưa thiếu tá, thiếu tá vẫn chẳng nói cô Tư là người đoan trang và thiếu tá mến cô ấy còn bởi lý do đó...
- ý đại úy là... Nhưng người ta cũng có thể lầm lỡ chớ...
- Và nhầm lẫn...
- Nhầm lẫn là bản tính con người. Và thích sinh sự cũng là bản tính  con  người,  Fơ  -  Rớt  gọi  đó  là  bản  năng  xâm  kích,  tệ  hơn  con người còn coi sự ấy như một nhu cầu... Kỳ thiệt! Nói như vậy là muốn kể chuyện này: làng tôi có hai nhóm người sinh sống, một nhóm theo lương, một nhóm theo đạo. Họ chẳng thân thiện gì. Luôn hiềm khích và  tìm  cơ  hội  tiêu  diệt  nhau.  Chuyện  ấy  ảnh  hưởng  đến  bọn  nhóc chúng tôi... Trẻ con đạo và trẻ con lương thường vót những chiếc cọc nứa thiệt dài thiệt nhọn và đánh nhau suốt. Một lần tôi bị đám nhỏ bên đạo rượt, bèn chạy vô nhà Tư Nhâm. Cô ấy luống cuống bắc thang để tôi trèo lên trốn trên ràn trâu. Khi tụi trẻ thù địch với tôi  ào tới, Tư Nhâm sợ hãi chạy ra, hớt hải dang hai tay cản lại nhưng đôi mắt lại ngoái nhìn vào chỗ tôi trốn, miệng la to: anh Hai Rạng, anh Hai Rạng không có ở đây! Tức cười, làm vậy khác chi báo cho chúng biết tôi đang nằm run rẩy trên ràn trâu. Giữa tôi và Tư Nhâm có rất nhiều kỷ niêm...  Gặp  lại  nhau  là  duyên  phận...  Với  nữa...  Tư  Nhâm  đẹp  chớ, hả?
Ba Hoàng đưa mắt nhìn Hai Rạng. Tư Nhâm là một phụ nữ đẹp, Ba Hoàng sao không hay! Người đàn bà này vừa rực rỡ vừa có nét duyên thầm, một nét đẹp thuần khiết, đằm lắng. Nếu Năm Hồng là loại cô nhắc mà dân nghiền thoáng ngửi hơi đã thèm, cuống quýt muốn uống ngay thì Tư  Nhâm  hấp  dẫn  như  loại  vang  nho  Pháp,  không  xốc  không  nồng, không làm cho người ta khùng nhưng nếu uống sẽ ngấm, sẽ say lâu và khó bỏ. Chẳng một thời Trần Nhũng háo khát đi mòn con đường dẫn đến ngôi nhà nơi rìa xóm đặng tìm kiếm chút hương trời đó sao! Và lấp ló đâu đấy trong đầu Ba Hoàng không phải không có lúc đã từng thoáng những tưởng tượng thèm muốn với người đàn bà này... Đàn bà vẫn cứ là đàn bà và họ mãi mãi làm khổ đàn ông! Nhưng phải có lý trí. Phải, lý trí. Ba Hoàng cho rằng Hai Rạng thật thà, thiếu sự nhạy cảm cần thiết và dễ bị lợi dụng.
- Xưa nay mỹ nhân đã làm sụp đổ bao triều đại. - Ba Hoàng nói bóng gió - Đúng vậy không, thiếu tá?
Hai Rạng chợt cười to:
- Đại úy coi tôi là vua sao? - Hai Rạng đùa nhưng trong giọng nói nhè nhẹ đó ẩn chứa cái gì như thể sự răn đe. - Tuy vậy, ai đụng đến Tư Nhâm là coi thường Hai Rạng này nghe... Nếu đại úy thấy chuyện của tôi mệt mỏi rồi, qua chuyện khác. Ta quay về với mối hiểm họa của Cộng sản trong vùng...
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #36 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2009, 11:58:18 pm »

Chương hai

I

Biển trải ra ngăn ngắt, ngút tầm nhìn. Những con sóng đùa bỡn va vào nhau tạo nên những ngấn trắng trông như thể có đàn cò đang đua nhau sà xuống mặt nước. Phía xa xa, một nét sắc lẹm giống sợi chỉ căng ra ngăn cách hai màu, màu xanh đậm và màu xanh nhạt. Đó là  đường  chân  trời.  Trước  sự  mông  lung,  rộng  lớn  của  trời  và  biển, con  tàu  trở  nên  đơn  lẻ  nhỏ  nhoi,  chỉ  là  chấm  bé  xíu  mờ  mỏng  dập dềnh giữa mênh mông đại dương...
Con  tàu  đang  đi  về  hướng  Bắc.  Mặt  trời  chói  chang  đổ  nắng xuống boong rát bỏng. Thuyền trưởng Thanh đứng đầu mũi, chiềng khuôn mặt sạm nâu ra đón gió. Anh cảm thấy vui và muốn dành cho mình vài ba phút thực sự yên tĩnh để thư giãn. Như một thói quen, mỗi lần đưa vũ khí vào “trong đó” trở về, khi con tàu vượt qua vĩ tuyến quân sự tạm thời, anh mới thực sự thanh thản, thực sự an tâm và lúc ấy mới lại giao tay lái cho thuyền phó Thơm để bước ra vị trí này buông lỏng trí não, mặc cho gió phả vào mặt, một mình thảnh thơi nhìn xuống biển. Thói quen ấy tựa tựa tiếng thở phào khi người ta thấp thỏm gắng làm một việc gì đó mà nguy cơ thất bại là không thể nói trước nhưng đã được đền đáp bằng kết quả ngoài mong đợi.
Con tàu lắc qua lắc lại, chòng chành trôi trên biển. Không chỉ thuyền trưởng Thanh, các thành viên trên tàu đều như vừa trút được gánh nặng của những ngày căng thẳng để lúc này họ mới thật sự an lòng và  cho phép mình nghỉ  ngơi. Dẫu chưa  tới căn cứ, về đến khu vực biển miền Bắc là hoan hỉ coi như đã về nhà. Lạ thật, cũng biển ấy cũng trời mây ấy mà với một chỉ giới vô hình, cái chỉ giới không ai nhìn thấy, không có thật do con người quá khôn ngoan lọc lõi biết lừa mình tự đặt ra đã là hai thế giới cách biệt, thế giới của “bên này”, thế giới của “bên kia”. Cách ngăn. Xa xăm vời vợi... Những ngày cho tàu đi trong thế giới “bên kia” là những ngày lo âu phấp phỏng, luôn đề phòng, luôn đối phó, nơm nớp tai vạ.
Đâu phải lần đầu Thanh đưa con tàu chở nặng súng đạn lặng lẽ luồn được vào vùng đước Cà Mau và trở về trót lọt. Anh đã đi nhiều chuyến như thế, song mỗi lần con tàu nhẹ bẫng quay trở lại biển miền Bắc, khi vượt qua vĩ tuyến mười bảy tâm trạng anh rất lạ. Xen giữa niềm  vui, niềm  vui rất lớn cả tự  hào và  nỗi  sung  sướng  nữa  là lãng đãng mỏng mảnh một nỗi buồn rất khó gọi tên nhưng anh biết có thật, ẩn đâu đó rất sâu, rất xa hun hút nơi tiềm thức... Hôm qua anh đã đi trong vùng biển quê mình. Từ tàu nhìn vào, thậm chí không cả thấy vệt mờ đất liền, nhưng trong mênh mang không gian trời nước vẫn có cái gì đó, có thể là bằng hoài niệm mơ hồ cũng có thể bằng những linh cảm  không  hẳn  dễ  giải  thích,  anh  nhận  ra  đặc  trưng  hơi  hướng  quê hương không mấy khó khăn. Quanh quất đâu đó hình như vẫn là ngọn gió chát lợ rin rít muối mặn thường hào phóng thổi về Tu Bông, Đại Lãnh,  Xuân  Đài,  Vũng  Rô...,  vẫn  ngai  ngái  mùi  vị  như  thể  hương chượp  nồng  đượm  mạn  An  Hòa,  An  Phú,  làng  Cá...  Quay  một  góc chín mươi độ, chạy dăm ba giờ là từ trên tàu có thể trông rõ hòn Đá Bia uy nghi như một mũi lao chĩa lên thách thức trời đất trên đỉnh núi nơi đèo Cả. Đá Bia là đặc ân trời ưu ái phú cho người dân vùng này. Đá Bia cũng là đặc trưng không thể lẫn để nhận biết biển quê anh với vùng biển nơi khác. Không cần hải đăng, ra khơi vào lộng, hễ ngước lên còn nom rõ Đá Bia là dân chài Tuy Hòa an lòng. An lòng về mặt tâm linh và cả an lòng về mặt thực tế, đời thường... Và Đá Bia còn là niềm tự hào của dân Phú Yên. Những đêm trăng, trong tiếng sóng rì rào nô đùa đuổi nhau từ biển vọng vào, các cụ già làng Cát vẫn hể hả giọng mãn nguyện rỉ rả kể lại với con cháu rằng xa xưa, khi vua Lê Thánh Tông bình Chiêm Thành, Người đã từng đi qua vùng đất này. Quan quân giấu mình, lập thế trận trong rừng ẩn. Một hôm nhà Vua ngước  nhìn  về  phía  đèo  Cả,  chợt  Ngài  bàng  hoàng  khi  phát  hiện  ra trên đỉnh núi cao nhất vùng xuất hiện một tảng đá khá lớn trông như mũi mác chĩa thẳng lên trời. Nhà Vua cho rằng đây là điềm lạ. Quả nhiên đêm đó Người thấy thần thổ địa vùng này báo mộng cho hay, muốn thắng giăc cần có khí thiêng trời đất nơi những ngọn núi quanh đeo  Cả. Người  hiểu ra, hôm  sau liền  mang  gươm  báu  và  dẫn  tướng lĩnh  hăm  hở  trèo  lên  đỉnh  núi.  Núi  cao,  dốc  ngược,  cây  cối  rậm  rì, chằng chịt nhưng nhà Vua đi băng băng, hình như sau lưng Người có gió đẩy và dưới bàn chân như thể có ai nâng. Trên cao gió lộng, đứng đây có thể phóng tầm mắt về bốn hướng, nhìn rõ như thể nhìn vào bàn tay mình. Nhà Vua cho bày hương án cạnh tảng đá có hình mũi mác để làm lễ khấn trời đất. Hương vừa được thượng lên, cả một vùng âm ầm gió nổi và mây ngũ sắc từ bốn phương tám hướng lập tức ùn ùn tụ về  kết  thành  từng  mảng  như  bông...  Nhà  Vua  phấn  chấn,  liền  qùy xuống  vái lạy và  cầu  xin được  chọn  ngày lành tháng  đẹp xuất  quân diệt giặc đặng mang lại yên bình cho muôn dân. Lời cầu vừa dứt, trời chợt vén mây, cả một vùng bừng lên sáng lòa và bát hương bỗng hóa, cháy ngùn ngụt... Ngọn lửa cũng có hình mũi mác... Biết trời đất linh thiêng ưng thuận và chở che, sau khi thắng giặc trở về, lúc đi qua đây nhà  Vua  cho  quan  quân  dừng  lại.  Người  ăn  chay  ba  ngày  rồi  thân chinh  lên  đỉnh  núi  bày  lễ  vái  tạ.  Khi  hương  đã  tàn,  Người  bèn  ứng khẩu mấy vần rồi dùng tảng đá làm bia, vẩy bút lông đề thơ lên đó. Bài  thơ  còn  lưu  truyền  cho  tới  sau  này,  đại  ý  rằng:  Đi  mở  cõi  trời Nam, lòng người thuận, trời đất thuận; giang sơn gấm vóc này trời đất ban, ông cha tạo dựng; đất Việt của người Việt, cùng chung sức giữ lấy; hợp lẽ đời phải đạo trời, non sông mãi của ta. Từ đó dân làng Cát, và dân Phú Yên gọi tảng đá trên đỉnh núi nơi đèo Cả là hòn Đá Bia và ngọn núi cao nhất vùng ấy được mang danh núi Bia... Trước đây đã một lần thầy giáo Sinh dẫn học trò lên hòn Đá Bia và từ trên chênh vênh  hun  hút  gió  ấy  thầy  say  sưa  kể  chuyện  các  vua  Trần,  vua  Lý. Chuyện Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, chuyện Huyền Trân công chúa phải gả cho Chế Mân, chuyện phiêu dạt của đức Lê Thánh Tông, chuyện về công lao mở cõi của Người... Thời đó Thanh nghe nhưng chưa mấy hiểu, là lạ như thể nửa hư nửa thực... Tuy vậy những câu chuyện thú vị đó cứ lẵng nhẵng theo Thanh suốt một quãng đời ấu thơ.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #37 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2009, 12:00:59 am »

Từ làng Cát chỉ đi chừng nửa buổi đường là tới núi Bia. Nhưng với Thanh hòn núi ấy là cả một thế giới khác đầy bí ẩn và xa lạ! Chiều chiều, những khi mây tạnh, ngước lên hướng tây chỉ thấy một vệt xa mờ như trong thần thoại, hư ảo không có thật. Vậy mà có lần Thanh đã đi được tới đó, đúng hơn là đã gần tới núi Bia. Quê má trước đây vốn ở miệt ấy, một xóm nhỏ lèo tèo mấy nóc nhà nép dưới chân núi. Hàng năm như một điều cần phải vậy, má vẫn sắm lễ thấp thửng lần về vùng đó cúng giỗ. Năm ấy má cho Thanh theo, đường xa lại gập ghềnh nên nhiều lúc để đi được nhanh, Thanh bắt má cõng. Má khoe con  trai  với  họ  hàng,  mọi  người  xoa  đầu  Thanh,  lấy  làm  quý  lắm. Thanh trở thành trung tâm của bữa cỗ. Thịt luộc và lòng heo được mọi người ưu ái gắp đầy chén. Ăn rồi còn được chia nắm xôi, miếng thịt và một trái chuối. Đấy là phần của em Thành. Sáng ấy Thành cũng đòi đi, nó mè nheo khóc lóc, dẫm chân xuống nền nhà đành đạch, nhưng làm sao một lúc má có thể cõng được cả hai đứa, chỉ hứa là sẽ mang quà về. Thằng Thành đành cam chịu đứng tựa cửa ngóng theo, nước mắt lưng tròng. Nó nuối tiếc và nó nhớ... Anh em Thanh giống nhau ở sự  yếu đuối  ấy, hễ  má  đi  vắng nửa  ngày, nếu mải  chơi mà  quên thì không  sao,  nhưng  sực  ra  là  tủi  thân  lại  ngẩn  ngẩn  ngơ  ngơ,  có  lúc khóc toáng lên, mếu máo: “Má ơi, về với con”...
Từ dạo nghe theo lời ba má, ông bà ngoại chuyển về giáp biển kề làng Cát sinh sống, hàng năm đến ngày giỗ tết, má khỏi phải về trên xóm  núi dưới  chân Đá  Bia. Ngoại  ở cách làng Cát một  khúc  đường nên có dịp như vậy hai anh em đều được má cho đi cùng. Trước đó mấy  hôm,  hai  đứa  đã  háo  hức  đếm  ngày  và  mong  đợi  như  thể  sắp được đi lễ hội to lắm. Cúng xong cỗ được bày trên những chiếc nong vẫn dùng phơi lúa trải xuống nền sân. Con cháu nội ngoại quây quần xúm xít tranh nhau bốc bải. Cỗ cúng chỉ xôi và thịt heo luộc mà sao ngon thế, vui thế! Ăn xong mỗi đứa còn được vắt một nắm xôi bằng hột vịt và một lát giò...
Những ngày thơ ấu sống bên cạnh má là những ngày đậm ngấm tình mẫu tử, khắc sâu trong trí não thật khó quên. Đã biết cắp sách đến trường để thầy giáo Sinh dạy chữ nhưng hễ tới giờ ra chơi là hai anh em lại co chân chạy về rồi vội vội vén áo má lên, mỗi đứa ôm một bầu vú và đua nhau bú chùn chụt. Mút mát cho đỡ thèm đỡ nhớ chứ phần vì làm lụng vất vả phần vì con đã lên bảy lên tám má làm gì còn sữa! Rồi khi tiếng kẻng dóng lên báo tiếp tục vào giờ học, Thanh và Thành lại  tiếc  rẻ  buông  vú,  cuống  quýt  lao  về  lớp.  Biết  chuyện,  tụi  bạn thường đón đường chế giễu: “Êu ôi, không biết xấu hổ, lớn ngộc còn
rờ vú má”. Thằng Ba Hoàng cháu lão chánh tổng bĩu môi: “Đàn ông suốt ngày bám vú má lớn lên bốc cứt mà ăn”. Cũng ngượng nhưng đôi vú của má có sức hấp dẫn và có ma lực như thể ma túy, anh em Thanh giống con nghiện đã bập vào quá sâu khó có thể rời. Bị đám trẻ la hét, nhưng  đêm  đến  anh  em  Thanh,  Thành  lại  choàng  tay  qua  bụng  má, mỗi đứa rúc ngậm một bên vú rồi khìn khịt ngủ lúc nào không hay... Hai anh em thường thức giấc khi mặt trời đã lên quá cây sào. Ra hiên sau, sục vào lu nước tớp vài ba ngụm ục ục súc miệng, vào nhà vớ củ khoai má để sẵn trên bàn rồi không kịp bóc vỏ, vừa chạy gằn đến lớp vừa tống vội tống vàng vào miệng. Có hôm đến trễ, thầy giáo bắt cả hai đứng quay mặt vào vách suốt giờ thứ nhất. Tan học, bọn trẻ nhìn hai anh em và ê a đồng thanh hát: Ăn khoai cả vỏ, ăn chó cả lông, đi học trễ giờ, bị thầy phạt đứng... Bực, không biết trách ai, về nhà thằng Thành trút vào má: “Sao má không kêu tụi con?”. “Má gọi hoài nhưng hai đứa nào có chịu dậy... má thì còn phải ra chợ.” - Má thanh minh... Thằng Thành cự nự: “Hôm mai kêu không được má múc nước lạnh đổ vào người con nghe. Đến lớp trễ ê lắm...”. Nhưng không cần phải dội nước  vào người, những ngày kế đó, hễ má  dậy là hai đứa  cũng lồm cồm  bò ra  khỏi  giường. Thầy Sinh  khen:  “Dịp rày hai trò Thanh  và Thành  tiến  bộ  ha”.  Đang  tuổi  mải  chơi,  mải  học  nên  thời  ấy  Thanh đâu đã thấu nỗi vất vả khó nhọc của má. Ba đi kháng chiến biền biệt, họa  hoằn lắm  nửa  năm  mới  đảo qua  nhà  một lần, mọi  chuyện trong gia  đình  chỉ  mình  má  cáng  đáng  lo  toan,  từ  việc  chăm  sóc  ông  bà ngoại đến việc nuôi hai đứa ăn học. Ngoài công việc trồng tỉa mấy sào vườn, thời gian còn lại tranh thủ chạy chợ. Má mua chợ trên, tất tả về bán chợ dưới, lúc mớ tôm, hôm mớ tép, và những thứ tạp nham không tên khác. Vốn không, phương tiện không nên má chỉ biết nhặt nhạnh lắt vặt, thứ gì thấy có thể lãi vài ba xu, kiếm thêm lẻ gạo dù vất vả má cũng làm.
Căn  nhà  giữa  xóm  không  có  đàn  ông,  chỉ  đàn  bà  và  trẻ  nít  nên tuyềnh toàng, xiêu vẹo, mái dột rách cũng chẳng có người chằm vá, bởi vậy ban đêm khi mưa xuống, ba má con lại cắp chiếu chạy vòng quanh, lo co ngồi tựa lưng sưởi ấm cho nhau. Hồi ba về để chuẩn bị đi tập kết, ngồi ăn cơm trong nhà ngước lên thấy cả sao trên trời, ba tự trách mình đoảng rồi quyết định chằm vá lại. Hôm sau mấy ba con lăn lội lên mãi hòn Hống chặt lá dừa chở về rồi cùng xúm vào đan, lợp... Mất hơn ba ngày mọi việc mới xong. Thấy căn nhà được vá xíu tươm tất hơn, má mừng lắm, hôm “khánh thành”, má lên tận Lân Cồ mua mấy lạng thịt bò về nấu dấm khế gọi là bồi dưỡng cho ba ông thợ, cũng là làm bữa ăn tươi chuẩn bị tiễn hai ba con đi ra Bắc... Vậy mà đã hơn mười năm... Giá có đôi cánh để Thanh bay về làng Cát thăm má, thăm thằng Thành một lát! Sao mỗi lần tàu đi qua vùng biển Phú Yên lại da diết nhớ má nhớ em đến vậy chớ?... Từ vị trí con tàu trên biển về quê gần lắm, chỉ chừng chưa quá nửa ngày đường mà sao cảm thấy cách trở xa ngái vời vợi...
Con tàu vẫn đi về hướng Bắc. Sóng không lớn nên nó chạy khá êm, chập tối đã tới vùng biển Thái Bình. Ngày mai khi trở về đơn vị, thể nào Thanh cũng xin phép lên phố thăm ba. Trời ơi, nếu biết Thanh vừa chở vũ khí vào Nam và đã từng đi qua vùng biển Phú Yên, chắc ba mừng lắm, ngạc nhiên lắm. Ai ngờ cuộc chiến này có những khúc ly kỳ như huyền thoại chỉ có thể là chuyện trong tưởng tượng chứ chẳng phải sự thật! Sau này nếu có điều kiện viết lại rằng một thời của chiến tranh có những con người, những con tàu không mang theo số hiệu đã từng xuyên qua biển Đông vẫn lặng lẽ chở hàng trăm tấn vũ khí cho miền Nam chiến đấu chắc gì đã có người tin! Ba ơi, rồi có một ngày nào đó con sẽ kể với ba, và cả kể lại cho má và em Thành nghe nữa. Lúc đó thể nào ba cũng ngạc nhiên và hỏi: “Có chuyện vậy thiệt sao?”. Còn má chắc là gạt nước mắt trách rằng qua gần nhà mà không cả ghé vô thăm má một lần, tệ quá. Còn bây giờ thì con không thể nói ra những điều ấy. Và con tin ba thông cảm được. Ba là người kín đáo. Đã bao giờ tò mò hỏi công việc cụ thể của con! Vốn là bộ đội nên ba rất ý thức về nhiệm vụ quân sự. Nhiều lần chính ba khuyên: “Việc quân sự, làm gì, đi đâu con đừng khoe với bạn bè nghe, phải biết giữ bí mật”. Thời mới ra Bắc, khi  còn  đang  theo  học  trường  miền  Nam  ở  Hải  Phòng,  một  lần  gặp đoàn xe quân sự chạy qua, thấy nhiều, con tò mò đếm chơi, lúc ấy ba đã ngăn lại: “Con không nên biết những chuyện không phải của mình”...
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Tám, 2009, 10:45:28 pm gửi bởi LuuHuongSoai » Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #38 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2009, 10:47:40 pm »

... Đêm mông lung. Biển mịt mùng trải ra nhìn vào tựa như một khối đen khổng lồ đặc quánh vô tận. Về khuya gió Nam nổi lên khá mạnh khiến con tàu chao lắc. Thanh bước vào buồng lái. Hùng đứng bên vô lăng quay qua:
- Thuyền trưởng không xuống khoang nghỉ một lát?
- Tàu ở khúc nào rồi?
- Với tốc độ này trưa mai ta có thể về đến Hải Phòng.
- Để mình cầm lái nhé, Hùng tranh thủ ngủ đi!
- Tôi mới thay ca... Vùng biển này quen rồi, thuyền trưởng cứ nghỉ.
- Không mệt?
- Về tới đây là quên cả mệt nhọc.
Thanh thấy vui. Anh bước ra boong. Trời đặc sao, chòng chành. Đêm dìu dịu. Các thủy thủ chưa đến ca trực túm tụm người nằm kẻ ngồi ngả ngốn giữa boong tán chuyện. Có chàng ngửa mặt lên trời nhìn sao ti  tỉ hát một mình. Không có người nghe, nhưng lấy làm khoái, gào rống say sưa lắm. Cạnh đó thuyền phó Thơm đang kể chuyện. Chẳng rõ anh nói những gì, chỉ thấy đám lính bá vai nhau cười ngất. Thơm giỏi bịa, trên trời dưới biển, chuyện gì cũng tỏ ra am tường nên đám lính trẻ khoái và ham lắm. Hễ Thơm ngồi đâu là họ sán lại. Anh có sức cuốn mọi người như nam châm hút mạt sắt. Nhấp nhỉnh ba lăm, nói như đám thủy thủ vẫn giễu, một mảnh tình vắt vai không có nhưng anh sống vô tư, hồn nhiên và hình như không mấy để tâm đến “tìm hiểu”. Chuyện vui  chuyện buồn, chuyện gì  anh cũng xởi lởi phô ra, nhưng “chuyện đó” lại là két sắt hàn kín, đố ai cậy mở được. Nếu chàng lính trẻ nào đấy có ý định bật nắp, anh chỉ cười, hoặc đánh trống lảng bằng cách xoay qua chuyện khác. Chẳng ai, kể cả láu cá như Hùng hàng hải cũng vò đầu bứt tai thừa nhận: “Lão gắn xi rất chặt, không có cách gì bậy ra được.  Rắn  lắm!  I  nốc  lắm!  Hay  thuyền  phó  Thơm  không  phải  đàn ông?”. “Râu lão mọc nhanh như cỏ dại gặp nước đái bò, hai ngày không cạo đã đâm tua tủa, còn món kia lủng la lủng lẳng như quả mướp treo giàn... không đàn ông là thế nào?” - Hậu thông tin cãi. “Chắc khó tính, cầu toàn quá nên chưa tìm ra đối tượng” - Thiền, thủy thủ bàn góp...
Chuyện riêng của Thơm, ở tàu này chỉ Thanh rõ. Với mọi người, riêng tư của anh là cái két sắt hàn xi kín bưng nhưng với Thanh thì đó là chai sâm banh, đã bật nút là sùi bọt hết cỡ...
Thanh ở Tuy Hòa, Thơm quê ở Sông Cầu, hai huyện cách nhau cả chục  cây số, nhưng ra Bắc vẫn là đồng hương. Thơm  hơn Thanh gần chục tuổi nhưng hai người thân nhau như anh em, phần vì người cùng tỉnh, phần vì hợp tính, với nữa tuy là cấp trưởng song Thanh rất tôn trọng Thơm. Thanh được học hành, Thơm có kinh nghiệm đi biển, thuộc luồng lạch, thuộc địa hình... Hai người hỗ trợ cho nhau và trở thành cặp thuyền trưởng thuyền phó ăn ý.
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
LuuHuongSoai
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1111



« Trả lời #39 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2009, 10:51:18 pm »

Dáng vẻ bề ngoài và tính tình xởi lởi của Thơm khiến nhiều người mới gặp nghĩ rằng anh hời hợt tào phào vô lo, ngược lại, Thanh biết anh là người hết sức sâu sắc, đa đoan, đa cảm... Chuyện tình của anh không như đám lính trẻ nghĩ. Anh có nỗi đau riêng nhưng biết nén vào trong... Anh không chỉ yêu mà còn yêu rất sâu nặng. Người ấy tên Hiệp, ở cùng làng. Dễ coi, mau mồm, mau mắt. Đôi má lúc nào cũng hồng đỏ mịn mát như trái mận mới hái. Cặp mông tròn, hai vú cũng tròn. Đi lại nhanh nhẹn hoạt bát... Khối gia đình trong làng có ý nhòm nhỏ chấm cho con  trai  mình. Lưng chữ gụ vú chữ tâm, háng rộng mông nở, đàn bà như vậy quý tướng, mắn con, dễ sinh, dễ nuôi. Nhưng cuối cùng Thơm thắng. Anh chiếm được cảm tình của người đẹp chẳng phải tài cán gì, thậm chí còn không biết cả tỏ tình, không biết tán tỉnh, nói những lời, như đám thanh niên vẫn gọi là những điều có cánh. Cô gái người làng ấy yêu anh chỉ vì anh là bộ đội chủ lực. Hồi đó bộ đội chủ lực có giá lắm. Ai may mắn vớ được là vinh dự, là điều đáng tự hào và hãnh diện. Với nữa anh thật thà, trung thực. Lại dát  gái.  Những  dịp  gặp  nhau,  không  rủ  đi  chơi,  chỉ  ngồi  nhà  nói chuyện, thậm chí thời mãn tìm hiểu, tiền hôn nhân, việc cưới xin đã có bàn  định  mà  chưa  một  lần  dám  cầm  tay  người  yêu.  Điều  “phi  giới tính” ấy khiến Hiệp vừa mừng cũng lại không hẳn bằng lòng. Con trai gì mà vừa chạm khẽ vào người yêu đã run lên như dẽ. Nhưng gia đình thì cho rằng người không suồng sã vậy là quý lắm. “Điều quan trọng nhất ở người phụ nữ là lấy được thằng chồng tử tế con ạ!” - Bố mẹ vẫn khuyên Hiệp như vậy và trong thâm tâm cô cũng cho rằng duyên phận mình không đến nỗi nào... Còn bạn bè vẫn ghen tị nói với cô dâu tương lai: “Lành quá, nhưng đàn ông đứng đắn như lão đốt đuốc tìm cả  năm  không  ra.  Lấy  được  người  đó  thật  đáng.  Số  mày  có  phúc”. Nghe những điều như thế, cô đỏ mặt cúi xuống cười ngượng. Chẳng rõ sung sướng hay xấu hổ...
Logged

Hiên ngang trước cửu trùng
Lạnh lùng nhìn trần thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM