Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:35:39 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người của biển  (Đọc 54750 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #80 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 08:12:06 pm »


37


            Đoàn trưởng Tư đi lại trước tấm hải đồ khá lớn lồng sau lớp mi-ca, to trên vách, trong sở chỉ huy. Khuôn mặt đăm chiêu già hẳn. Hai má hóp, gồ lên những thớ thịt. Mái tóc đã bạc, càng bạc hơn. Lưng gầy, gù xuống, mệt mỏi. Đã theo dõi, chỉ huy nhiều chuyến đi, song chưa bao giờ ông lo lắng, hồi hộp và thấp thỏm như lần này. Bốn con tàu đã ra khơi ở bốn thời điểm, bốn vị trí khác nhau. Theo báo cáo sở chỉ huy, cho tới lúc này, những người thuyền trưởng của ông đang đưa tàu đi đúng kế hoạch, đúng phương án; chẳng còn mấy nữa, họ sẽ tới các vị trí chuyển hướng vào bờ. Bọn địch cũng  thừa rõ ràng những con tàu của đoàn đang chở vũ khí đi về phía Nam. Phòng quân báo cho hay, hải quân Mỹ và hải quân ngụy cùng các lực lượng ven bờ đã được lệnh báo động. Rút kinh nghiệm những lần thất bại trước, lần này chúng tung lực lượng đông hơn và việc kiểm soát mặt biển chặt chẽ hơn. Rõ ràng đôi bên đã quá hiểu nhau, nắm chắc nhau. Vấn đề lúc này là sự đấu trí trong một ván bài lật ngửa.
             Đoàn trưởng Tư nhắc đồng chí sĩ quan tác chiến chú ý bám sát tình hình địch từ phòng quân báo cung cấp, từ các bến điện tới, rồi để đỡ căng thẳng, ông ra khỏi sở chỉ huy. Hít một hơi thật sâu, ông bước thong thả trên lối mòn sát chân núi. Ông muốn có vài ba phút thảnh thơi trước khi bước vào cuộc đọ sức với hải quân Hoa Kỳ và hải quân ngụy. (Thực ra sự thử thách bắt đầu từ khi con tàu rời bến, nhưng giai đoạn quyết liệt là khi con tàu quay mũi, chuyển hướng vào bờ). Nhưng hình ảnh những con tàu lênh đênh ngoài khơi và gương mặt những người thuyền trưởng mà ông biết chắc là đang căng thẳng cứ bám riết lấy ông. Đêm nay, ở một nơi thật xa trên biển phía Nam, những người lính của ông bước vào giai đoạn thử thách cuối cùng đầy nguy hiểm, giai đoạn đòi hỏi lòng dũng cảm, sự thông minh sáng suốt và mưu trí. Chiếc tàu nào sẽ vào bến, thả hàng an toàn và quay về? Chiếc tàu nào đụng địch bắt buộc phải nổ súng chiến đấu? Và chiếc nào phải hủy? "Hủy tàu", hai tiếng ấy là điều hãi hùng ám ảnh ông, gây sự căng thẳng. Đành rằng mỗi lần ra khơi đưa vũ khí vào Nam, những thủy thủ của ông đều xác định không trở về, đều xác định hy sinh và quả thật công việc mạo hiểm đòi hỏi phải có sự quả cảm như vậy, song cứ mỗi lần nhận được mấy chữ "Xin hủy tàu", đoàn trưởng lại choáng váng, đau thắt, có một cái gì nhói lên nơi lồng ngực. Ông nghĩ rằng mình có lỗi, rằng mình đã bất lực... và điều đó giày vò ông đêm đêm.
             Công việc vận chuyển vũ khí vẫn không thể ngưng trệ, những con tàu lại nối tiếp nhau ra đi và nỗi thấp thỏm của đoàn trưởng dường như không bao giờ vơi. Ông chóng già, chóng bạc tóc vì thế.
             Trời mùa đông chóng tối. Chưa đầy sáu giờ chiều, ngọn núi đã nhoà mờ, không rõ hình nét. Gió xào xạc. Lưng chừng núi, một vài chiếc lá vàng bay bay như cánh bướm. Trời se se. Đâu đó, thoảng có tiếng động cơ máy bay. Phía Hải Phòng một vầng sáng hắt lên đùng đục.
             Đoàn trưởng nhìn chiếc đồng hồ đeo tay, ông biết đã tới lúc mình cần có mặt trong sở chỉ huy. Tuy thế, ông vẫn bước chậm. Ông muốn giảm thời gian chờ đợi. Một chiến sĩ nhỏ người từ phía ngôi nhà của ban chỉ huy đi tới.
             - Báo cáo thủ trưởng, quá giờ ăn cơm chiều hơn nửa tiếng rồi ạ - Cậu ta nói, có ý trách.
              Đoàn trưởng dừng lại:
             - Cậu cứ ăn trước nhé. Đừng chờ.
             - Mùa đông cơm chóng nguội lắm ạ.
             - Không sao!
              Đã thuộc tính người chỉ huy, cậu chiến sĩ không nài thêm. Chàng lẳng lặng bước lại ngôi nhà, vẻ mặt không hài lòng.
              Đoàn trưởng ngước nhìn theo: "Cậu không chỉ nhỉnh hơn thằng con út của mình vài ba tuổi. Có lẽ đợt tới sẽ xin cho nó vào bộ đội". Đoàn trưởng nhớ lại lá thư vợ, ông mới nhận gần đây và không khỏi thú vị. Bà khoe với ông là con ngoan hơn, biết thương mẹ, ân hận với những điều đã qua và đỡ đần được khối việc gia đình. Tuy thế, bà vẫn lấy làm xót xa rằng đáng ra không nên giao thằng bé cho công an. Bà thương nó ăn uống kham khổ. Nhưng ông biết thằng bé tiến bộ được là nhờ gửi vào trại. Ít ra cậu chàng qua đó mà khôn lên, vỡ vạc ra một số điều. Cuối thư, bà trách ông ít về, trách ông không ngó ngàng gì tới chuyện gia đình. Con hư cũng mặc, vợ ốm cũng mặc. Bà bảo ông vô tâm. Ừ, vô tâm, ông chịu tiếng ấy với vợ, nhưng về sao được khi công việc của đơn vị lút đầu lút cổ không còn kẽ hở thời gian. Giá bà rõ ông bận đến thế nào, chắc thông cảm hơn. Ông biết, lấy ông, bà chịu nhiều thiệt thòi. Thiệt thòi đủ thứ. Hơn hai mươi năm qua, ông cứ đi biền biệt, thỉnh thoảng đảo về, bà chưa kịp bàn định chuyện gia đình ông đã đi. Trong nhà bà sắm được cái gì, phải bán đi cái gì nào ông có hay. Tức lên, bà bảo: "Nơi này với ông khác gì cái quán trọ!". Ông cười. Bà cũng cười, nước mắt giàn giụa. Ông rõ là bà thương ông. Không thương mà mấy chục năm trời một mình vò võ nuôi con khôn lớn; học hành cũng bà, gả chồng cũng bà. Một tay bà thu vén mọi việc để ông rảnh bề công tác. Lắm lúc ngẫm nghĩ, ông thương nhiều, nhưng ông không nói ra.
            - Báo cáo đoàn trưởng, có điện! - Người sĩ quan tham mưu hớt hải đi tới.
             Ông Tư quay vào sở chỉ huy. Tham mưu trưởng Đặng đang ngóng lên hải đồ. Trên đó bốn con tàu đã nằm ở những vị trí quy định chuyển hướng.
             Nghe bước chân đoàn trưởng, tham mưu trưởng quay lại:
             - Cả bốn tàu đều đã tới Z... xin vào bờ anh ạ.
             - Bước đầu, thế là thắng - Đoàn trưởng quay sang người sĩ quan tham mưu - tình hình địch?
             - Báo cáo, phòng quân báo cho hay, bọn địch vẫn ở thế sẵn sàng chờ ta đi vào hải phận miền Nam.
             - Cụ thể?
             - Các tàu tuần tiễu của hải quân Mỹ thuộc biên đội 115 triển khai từ Đà Nẵng đến sông Bồ Đề (Cà Mau). Tất cả các tàu tuần tiễu ngoài khơi đều được gọi về chốt  giữ các cửa sông, luồng lạch. Phía Côn đảo, Hòn Khoai, ngụy có 17 tàu. Phía Nha Trang có 26. Phía Đà Nẵng có 19. Và...
             - Tình hình bến?
             - Cho tới giờ, các bến báo ra đều yên. Hiện địch chưa rõ ta vào hướng nào. Chúng đang phân vân: đây là nghi binh của Bắc Việt hay hành động thật, vì thế lúng túng trong đối phó, đành dàn mỏng lực lượng khắp tuyến.
             - Điện cho các tàu: "Bến yên, địch báo động. Tùy tình hình cụ thể, khôn khéo lựa thời cơ vào bờ. Liên lạc thường xuyên với sở chỉ huy".
             - Rõ!
              Đoàn trưởng ngồi xuống ghế, bàn tay phải ôm lấy khuôn mặt gầy nhỏ. Ông thấp thỏm chờ đợi.       
              Thời gian trôi đi. Trong phòng im ắng, chỉ có tiếng rè rè của chiếc máy thông tin đang túc trực đón tín hiệu.
             - Báo cáo các tàu điện về: bắt đầu chuyển hướng.
              Đoàn trưởng không trả lời. Ông khẽ trở mình trên ghế. Mạch máu hai bên thái dương giật mạnh. Những nếp nhăn trên trán hằn sâu. Ông ngồi lặng như một pho tượng.
             Nửa tiếng trôi qua.
             Một giờ trôi qua.
             - Báo cáo, T.37 điện về: trên hướng vào có nhiều tàu cá.
             - Nhắc T.37: ở đó có tàu địch. Được phép xử lý theo tình hình cụ thể.
             - Báo cáo, phòng quân báo cho biết: địch tập trung lực lượng khá đông phía cửa sông Bồ Đề. Tàu T.63 đang đi vào hướng đó.
             - T.63 không thuận rồi đó, anh - Tham mưu trưởng quay sang phía đoàn trưởng - Tôi đề nghị T.63 quay ra. Kinh nghiệm cho hay, địch đã bịt cửa sông, rất khó vào.
             - Nhắc T.63, phía trước có địch. Nếu không thuận thì quay ra. Còn hướng Bình Định, Nha Trang? - Đoàn trưởng hỏi người sĩ quan.
              - Chưa có tin tức ạ.
              Đoàn trưởng bước quanh phòng. Trời lạnh nhưng ông bức bối. Ông lại bên cửa phòng và có cảm giác như đầu sắp vỡ. Cạnh đó, tham mưu trưởng Đặng, hai tay chống vào hông, đôi mắt dán lên hải đồ, lẩm nhẩm tính toán.
              Đêm vắng lặng. Phía ngoài, nghe rõ từng đợt gió thổi lên vách núi, tiếng bước chân của người lính gác và tiếng hòn đá nào đó lăn lộc cộc xuống vực. Trời âm u, nặng nề.
             Thời gian trôi.
              Khoảng hơn mười giờ đêm, đồng chí sĩ quan tác chiến từ phòng bên bước sang.
             - Báo cáo "bến" Hòn Hèo (Nha Trang) điện ra: địch đổ quân bao vây khu vực "bến". Dưới biển, tàu chiến địch đã chặn hết mọi lối ra vào.
             - Cáo bến khác? - Đoàn trưởng quay nhanh lại.
             - Không thay đổi.
              "Địch càn vô cớ hay chúng đã rõ ý định của ta?". Đoàn trưởng Tư vừa bước, vừa nghĩ. Dù sao cũng không để tàu T.250 tiếp tục vào Hòn Hèo. Vào là nguy hiểm, là bị tiêu diệt.
             - Báo cáo, tàu T.178 điện: địch đã biết ý định của tàu vào Bình Định. Chúng cho máy bay rà thấp theo dõi và dồn lực lượng từ phía Nha Trang lên. T.178 muốn chuyển lên phía bắc để đánh lạc hướng địch. Xin ý kiến đoàn.
             Tham mưu trưởng Đặng rời tấm hải đồ, quay lại phía đoàn trưởng Tư:
             - Theo tôi, phía Hòn Hèo động, T.250 không thể vào được "bến" nên cần nhanh chóng di chuyển lên phía bắc nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của địch để T.178 lựa thời cơ vào bến. Phía Bình Định, "bến" vẫn yên. Từ Nha Trang lên Bình Định không xa.
             - Tôi đồng ý phương án đó, lưu ý thuyền trưởng Ngát, tránh địch không xảy ra nổ súng.
              11 giờ có điện của T.37 báo về.
             "Đã vượt qua đảo Lý Sơn, tàu địch, quây phía ngoài, cho biết tình hình bến!".
             Bằng cách nào Hòa và Tòng đưa được tàu vượt qua đảo Lý Sơn? - Đoàn trưởng nghĩ, ông lệnh:
             - Báo cho T.37 biết "bến yên" cố gắng vào - Ông hỏi thêm- T.63 đang ra sao?
             - Báo cáo, vẫn chưa thấy trả lời.
             - Vùng biển gần sông Bồ Đề vẫn yên?
             - Vâng, phòng quân báo chỉ chỏ biết, địch vẫn gọi nhau: Chim về tổ! Chim về tổ!
             - Điện cho T.63 quay ra.
              Song, ngay lúc đó, từ phòng bên, một sĩ quan hối hả bước sang, đưa cho đoàn trưởng bức điện mới. Ông đọc nhanh: "... Chúng tôi gặp địch...". Khuôn mặt đoàn trưởng biến sắc. Những giọt mồ hôi lấm tấm rịn trên trán. Ông đứng lặng. Cách đây gần hai năm ông cũng nhận được bức diện như thế của tàu T.165. Và đó là bức  điện cuối cùng, tin tức cuối cùng của con tàu. Chẳng lẽ có sự trùng lặp như thế đối với tàu T.63? Giọng run run, đoàn trưởng nhắc lại:
             - Điện cho T.63 tránh địch, quay ra vùng biển quốc tế gấp.
               Ông hiểu điều gì đã và đang xảy ra. Ông nói thêm:
             - Báo cho anh em trên tàu rõ, sở chỉ huy luôn theo sát các đồng chí, hãy vững vàng, hãy bình tĩnh...
              Lát sau, đồng chí sĩ quan ái ngại nhìn đoàn trưởng rồi lại nhìn chính ủy rồi rụt rè thông báo: đứt liên lạc với T.63.
             - Vẫn phải cố gắng bám sát T.63, bắt liên lạc với nó - Đoàn trưởng đưa mắt nhìn tấm hải đồ, giọng trầm hẳn xuống.
             - Báo cáo, T.37 điện về "gặp bến".
              Đoàn trưởng Tư đứng phắt dậy. Những nếp nhăn trên gương mặt thoáng giãn. Cố nén tiếng thở mạnh, đoàn trưởng rời bàn, đi lòng vòng quanh phòng. "Gặp bến! Làm thế nào mà T.37 lách vào đó tài tình, nhanh chóng như vậy? - Quả là một tập thể cán bộ thuyền  khôn ngoan, táo bạo ... "
              Thành công của tàu T.37 phần nào làm vơi trong ông nỗi lo lắng. Ông hỏi nhanh:
              - Tình hình T.250?
              - Thuyền trưởng Ngát điện về : Địch vẫn chú ý T.250 - T.250 đang cố thu hút lực lượng địch về phía mình, kéo chúng ra xa ngoài khơi.
              - Một trò ú tim! Điện cho T.178:. Lựa sơ hở địch, nhanh chóng vào bến.
              - Rõ!
              Lại chờ đợi. Trời đã khuya lắm. Căn phòng lành lạnh. Ngoài tiếng lẹt rẹt của chiếc máy vô tuyến, chỉ  còn lại tiếng bước chân nặng nề, chậm rãi của đoàn  trưởng. Không gian bên ngoài yên tĩnh. Ngọn núi đá đứng lặng trong đêm và khu đoàn bộ nghỉm trong bóng tối. Xa xa, có tiếng gà eo óc. Đoàn trưởng liếc nhanh chiếc đồng hồ: một giờ sáng!

             Ông vẫn bước thong thả, kiên trì và căng thẳng.
             Chốc chốc lại hỏi:
             - Bắt liên lạc được với T.63 chưa?
              Nhưng lần nào cũng gặp sự thất vọng trên gương mặt người sĩ quan tác chiến.
              Hai giờ sáng, sở chỉ huy như trút được một phần gánh nặng: "Tàu T.178 điện về: thả hàng an toàn. Đang ra khơi ".
              Đoàn trưởng lập tức ra lệnh:
             - Điện cho T.250 mở hết tốc độ, ra vùng biển quốc tế trong đêm và quay trở về.
              Số phận bốn con tàu như vậy là rõ. Lúc này chỉ mong ngóng tin cuối cùng của T.37.
              Mấy phút sau, lúc 2 giờ 47 phút, sở chỉ huy nhận được điện của thuyền phó Tòng: "Đã thả xong hàng".
              Mọi người đang mừng thì chừng nửa tiếng sau, T.37 điện về: "Chúng tôi bị bao vây. Bắt buộc phải nổ súng chiến đấu. Nhất định chiến thắng!"
              "Phải nổ súng chiến đấu! Phải nổ súng chiến đấu!". Đoàn trưởng Tư lặng lẽ ngả người ra ghế, khuôn mặt đanh lại.
Và đó là bức điện cuối cùng của tàu T.37.

« Sửa lần cuối: 05 Tháng Tám, 2009, 07:25:53 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #81 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 08:17:58 pm »

       
            - Báo cáo, mạn phải có máy bay địch!
            - Anh Hòa, đề nghị cho dừng máy, tránh ánh lân tinh - Tòng nói nhanh.
            - Máy bay địch có thể đã phát hiện ra ta, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. - Nói rồi Hòa bước ra boong.
            Trong buồng lái chỉ còn Đạm và Tòng. Đêm cuối tháng, tối đen. Mặt biển như một khối mực khổng lồ. Mây sà thấp. Trời không sao.
            Chiếc máy bay lướt qua con tàu rất nhanh.
            Tòng tăng tốc độ, con tàu đã hết hàng, dềnh trên mặt biển lướt nhanh về phía đông.
            - Trước mặt là đảo Lý Sơn - Đạm nói - Chúng ta cố gắng vượt qua đó trước ba rưỡi.
             Tòng dõi ra: trên mặt biển thấp thoáng những bóng đèn màu.
            - Đèn ở sân bay trên đảo. Cứ nhằm hướng đó mà ra khơi - Vẫn tiếng Đạm.
             Lẫn trong tiếng sóng, có tiếng máy bay vọng tới. Rồi một chùm mười hai quả pháo sáng bung trên đỉnh tàu.  Mặt biển sáng trắng, lấp loá. Con tàu trơ ra chơi vơi dưới những ngọn đèn dù.
            - Thẳng lái! Giữ nguyên tốc độ - Tòng hô, rồi anh bám thành cửa, nhìn ra bốn phía: vẫn không thấy tàu địch.
            Con tàu đi nhanh về hướng đảo Lý Sơn.
            Chừng mười lăm phút sau, chếch về bên phải, phía trước mũi tàu một ánh đèn pha đột ngột bật sáng, chiếu thẳng vào buồng lái.
            Tòng cho tàu quặt bên trái. Con tàu nghiêng hẳn, lượn nửa vòng, hướng lên phía bắc. Nhưng, đã thấy ba tàu địch lù lù chắn trước mặt. Chúng đánh tín hiệu hỏi  sang: Tàu nào? Quốc tịch?
            Tòng đá mắt nhằm bên phải: có đến hơn sáu khối đen đang tiến tới.
            - Bị bao vây rồi anh Đạm ạ - Hòa từ boong xộc vào nói nhanh.
            Tòng giảm tốc độ. Bốn phía là tàu địch. Chúng đang rọi đèn pha về phía T.37.
            - Tôi đề nghị nên đưa tàu gần sát bờ. Nếu phải hủy, anh em rời tàu dễ dàng hơn - Đạm tham gia.
             Hòa và Tòng đồng ý. Tòng trực tiếp cầm vô lăng, xoay nửa vòng, con tàu quay mũi. Anh tăng tốc độ.
            Tàu địch lập tức đuổi theo. Máy bay rà thấp, bắn pháo sáng. Trước mũi, nhiều cột nước dựng lên. Địch bắt đầu bắn chặn. Đạm chạy ra mặt boong chỉ huy chiến đấu.
            - Hủy tài liệu - Hòa quay lại nói với thuyền phó Xuyên vừa bước vào - Điện về: "Chúng tôi bị bao vây. Bắt buộc phải nổ súng. Nhất định chiến thắng!".
            Ngoài boong, đạn ĐKZ, đạn B.40 và đạn 12 ly 7 nổ ran. Tiếng Đạm:
            - Không để chúng vào gần. Nhằm luồng đạn chỗ nòng súng địch làm vật chuẩn, bắn.
             Địch không dám lại gần. Chúng lảng vảng từ xa đổ đạn về phía con tàu.
             Máy bay nhào xuống bắn rốc két. Cả một vùng biển nhập nhoà, lửa đạn loang loáng.
             Tòng điều khiên tàu lách tránh đạn. Hòa đứng cạnh, nhô hẳn nửa người ra khỏi buồng lái. Đạn 20 ly không ngớt rải trên boong. Tiếng đạn va vào vỏ thép khô đanh.
             Chợt Tòng nhận ra có vật đó vừa xuyên qua buồng Lái. Tòng quay lại: người lính hàng hải ngã vật xuống sàn tàu, máu thấm ướt khung ngực.
            - Anh Hòa! Có đồng chí hy sinh - Tòng gọi. Anh cho tàu mở hết tốc độ, đâm thẳng vào giữa cụm tàu địch. Bọn địch giạt ra. Lựa thời cơ ấy, con tàu chạy nhanh vào bờ.
           
              Tiếng súng vẫn nổ. Phía sau Tòng, thuyền phó Xuyên và hai chiến sĩ nữa đang cho thi hài tử sĩ vào bao ni lông.
              Cột lửa bốc cháy phía đuôi tàu. Tiếng Đạm:
             - Thùng dầu phụ trúng rốc két. Dập lửa!
              Rồi khuôn mặt Đạm hiện ra ở buồng lái.
             - Sáu đồng chí bị thương - Anh nói hổn hển - thêm hai đồng chí hy sinh. Cần cho anh em rời tàu ngay anh Hoà ạ.
              Hòa nhìn lên phía trước: dải núi trên bờ mờ mờ hiện ra. Anh gọi :
             - Đồng chí Xuyên!
              Người thuyền phó chạy tới. Khuôn mặt ám khói. Một vệt máu dòng chảy qua má.
             - Bị thương à? - Hòa hỏi.
             - Tôi đã hủy xong tài liệu!
              Hòa với cuộn băng, quấn vết thương cho Xuyên.
             - Đồng chí phụ trách công việc cài kíp vào các khối thuốc nổ để anh Đạm đưa thương binh và tử sĩ vào bờ. Đặt giờ nổ ba mươi phút.
            - Báo cáo...
            - Không chần chừ nữa!
            - Báo cáo, đạn địch đã phá hủy hoàn toàn hòm đựng kíp.
            - Hả?
             Hòa chồm tới, hai tay bíu chặt vai người thuyền phó, tai ù đi. Chẳng lẽ anh nghe nhầm.
            - Vâng đúng thế. Tất cả số kíp bị phá hoàn toàn, tôi đã kiểm tra kỹ - Xuyên thất vọng nhắc lại.
             Bốn khuôn mặt đờ dại. Họ cùng lặng đi, và cùng hướng nhìn về phía những chiếc tàu địch. Đạn từ đó vẫn bắn như mưa vào tàu T.37.
            - Chúng ta vẫn còn phương án cuối cùng. Đề nghị các anh cho tôi ở lại nối mạch điện để tàu nổ - Tiếng Xuyên rành rọt.
            Hòa, Tòng và Đạm quay nhìn. Khuôn mặt Xuyên chờ đợi.
            - Với cương vị bí thư chi bộ, việc ấn kíp điện cho tàu nổ ngay là phần việc của tôi - Đạm nói thong thả, cố nhấn mạnh vào từng chữ. Tôi phân công...
            Một loạt đạn đã găm vào buồng lái. Đạm loạng choạng, đưa tay ôm ngang ngực. Từ đó, một dòng máu vọt ra.
           - Anh Đạm!
            Hòa và Xuyên vội đỡ lấy chính trị viên.
            Đạm tựa vào người Hòa:
           - Mình bị rồi... tiếc quá... - Giọng Đạm ngắt quãng, - Vĩnh biệt ... Bằng mọi giá, đừng để tàu và ... anh em rơi vào tay địch... Cho chào...
            Tòng buông vô lăng, lao tới:
           - Anh Đạm! Anh đừng chết!
            Đạm mềm trên tay Tòng. Tòng nấc lên, rồi đánh mặt ra phía ngoài, anh hét:
           - Bắn! Bắn!
            Lập tức các cỡ súng trên tàu đua nhau nhả đạn.
           - Bắn! Bắn!
           - Bắn! Bắn Bắn!
            Mấy chiếc tàu chiến lùi xa. Hòa cho tàu cơ động, nhích gần vào bờ.
           - Tôi sẽ thay anh Đạm ở lại - Quay về phía mọi người, Hòa nói to - Đồng chí Tòng và đồng chí Xuyên tổ chức cho anh em rời tàu.
           - Anh Hòa, tôi xin làm nhiệm vụ hủy tàu - Tòng nói vội vã.
           - Tất cả chấp hành mệnh lệnh!
            Tòng nhìn Hòa trân trân. Chẳng lẽ thế, chẳng lẽ đây là sự thật; chỉ ít phút nữa, anh Hòa cũng sẽ như anh Đạm? Cái chết đến với người ta lại nhanh chóng như vậy ư?
           - Anh Hòa, cho tôi ở lại - Tòng thấy mình quá nhỏ bé trước người thuyền trưởng, anh nài - Anh cho tôi ởlại tôi là thuyền phó, tôi có thể... Tòng, anh em đang nhìn chúng ta đấy.
            Tòng chạy vội ra boong. Thời gian gấp lắm, phía bờ đã nghe tiếng lạch phạch của máy bay trực thăng. Chúng đổ quân. Tòng cùng Xuyên sắp xếp để anh em thủy thủ rời tàu. Mọi người lặng lẽ thả mình xuống nước. Những khuôn mặt đanh lại, chỉ đôi mắt rực lên như có lửa ...
            Khi còn lại một mình, Tòng chạy vào buồng lái:
           - Anh Hòa! Sao lại thế được... Tôi...
           - Tòng có nhiệm vụ dẫn anh em trở về - Hòa cắt ngang, giọng tỉnh như băng - Cố  gắng gặp cho được người của mình. Trên bờ bọn Mỹ dang đổ quân đấy... có nhiều anh em bị thương...
           - Đồng chí Xuyên có thể làm việc ấy. Anh Hòa, đừng nhìn tôi thế... Tôi cũng có trách nhiệm hủy tàu chứ. Anh Hòa, chẳng lẽ ...Tôi không bỏ anh đâu. Tôi nhất định  không rời tàu. Chúng ta sẽ...
           - Cậu nói gì thế? Thương mình! Đằng nào cũng có một người ở lại... Tòng, xuống nước đi - Hòa hét: Hãy xuống nước! Hãy đi đi. Nghe mình. Đừng để anh em chờ... Hãy báo cáo với đảng ủy và thủ trưởng đoàn rằng chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ, vũ khí đã đưa tới bến an toàn, con tàu không lọt vào tay địch. Nó đã xứng đáng với cái tên T.37. Gửi lời chào anh em...
           - Anh Hòa!
           - Tòng đứng như tượng, mắt đăm đăm nhìn Hòa. Bỗng anh nhào tới, đôi tay dài lêu đêu nguềnh ngoằng vụng về ôm lấy Hòa, riết mạnh. Rồi anh lần hít mùi mồ hôi trên người thuyền trưởng, hít lên cổ và hôn tới tấp lên mặt. Hai giọt nước mắt lăn dài trên má. Hòa sợ mình cũng khóc, anh gỡ nhẹ tay Tòng. Hai người đứng nhìnnhau rất lâu, không nói. Rồi Tòng quay nhanh. Hoà chỉ thoáng thấy đôi vai người thuyền phó rùng rung nơi  mạn tàu. Và sau đó, anh bắt gặp đôi mắt Tòng đỏ hoe, quay nhìn lần nữa... Tòng mất hút.
            Lúc ấy xung quanh chợt lặng tanh. Cái lặng đến hãi sợ. Con tàu to bè. Buồng lái nơi Hòa đứng dường như cũng rộng hơn. Bên ngoài, trời tối lờ nhờ. Mặt nước đen thẫm đặc quánh. Xa xa rừng đêm lặng lẽ viền một đường gấp khúc nơi nền trời. Phía biển, những chiếc tàu địch đen trũi dập dềnh nhích lại, nhích lại. Chốc chốc, một vệt pháo sáng vọt lên, hắt vào người Hòa, nhập nhòe. Không gian yên vắng. Chỉ có tiếng sóng vỗ vào mạn và tiếng tích tắc đều đều của chiếc đồng hồ.
           Anh em chắc đã lên bờ và đang dõi theo! - Hòa nghĩ và nghe nhìn cái núm nhựa màu đỏ, chỗ anh sẽ nối mạch điện cho năm tạ thuốc nổ, tự nhiên thấy cô đơn lạ lùng. Tòng đâu? Mọi lần, trong những phút hiểm nguy, anh vẫn có Tòng bên cạnh. Và Xuyên đâu? Mọi người đâu hết cả rồi, anh thèm được nhìn anh em thủy thủ một lần nữa quá ! Anh rung chuông. Anh đấm thình thình lên cửa. Vẫn chỉ một mình với con tàu. Cho tàu nổ ngay bây giờ. Chờ một phút nữa đã... Hòa bối rối và có cảm giác hoảng sợ như người bị lạc vào chốn hoang vu xa lạ không lần dược lối ra. Năm tạ thuốc nổ. Một tia chớp. Tất cả sẽ vụn tơi. Chẳng lẽ, chao ôi, chẳng lẽ...
           Tàu địch lại nháy đèn pha, phát tít hiệu hỏi sang.
           Thần kinh căng quá. Mọi bận gặp địch, mình tỉnh táo bình tĩnh kia mà. Mình đâu phải kẻ hèn nhát. Đã bao lần sẵn sàng hy sinh... "Bằng giá nào cũng phải hủy tàu".  Hòa nuốt nước bọt, rồi run run đưa tay về phía cái núm nhựa.             
           Bỗng "choang!" chiếc ống nói treo cạnh đó rơi mạnh xuống sàn. Hòa giật bắn người, vội rụt tay lại, toàn thân lạnh toát. Anh rùng mình và một nỗi sợ hãi không rõ từ đâu nhanh chóng choán ngợp, khiến anh run lên. Anh đưa tay quệt ngang mặt. Người ướt đầm mồ hôi. Lúng túng, anh cởi vội chiếc áo ngoài, ném lên vô lăng rồi lảo đảo đi giật lùi mấy bước. Đứng tựa vào  vách, hai tay thu phía sau, nhắm mắt. Hòa thở dốc.  Trông anh như người võ sĩ thoáng phút nghỉ ngơi để vào trận đấu. Năm tạ thuốc nổ! Thật khửỉlg khiếp... Thế là  hết, nhanh quá! Cuộc đời một con người chỉ đơn giản có thế? Anh thấy ngột ngạt, chân tay rã rời.
            Một luồng gió từ cửa lùa vào. Hòa khẽ rùng người. Anh từ từ mở mắt, nhìn lên bờ. Nơi mép nước, có ánh lân tinh thấp thoáng lóe sáng. Ở đó, sóng đang đua  nhau mài lên bãi. Sau trảng cát là rừng. Rồi đến bầu  trời và nhường ngôi sao sắp tàn. Chỉ ít phút nữa là trời sẽ bừng lên... ôi, cuộc sống sao lại ào ạt, sao lại có sức quyến rũ đến thế! Hòa thở hắt ra, thấy dễ chịu hơn. Và tự dưng anh thấy khát. Anh muốn được ra ngoài boong quá! Ra đó chắc dễ thở, nhưng anh lại sợ... Mình tự  nguyện kia mà ... mình đã hứa... Trách nhiệm ... Trách nhiệm!... Anh cố đứng thẳng, nhưng đôi chân ướt mèm từ bao giờ, mềm nhũn. Sao thế? Hòa tự hỏi cũng là tự kêu gọi mình - Hãy vững vàng như những lần tàu lọt vào vòng vây địch. Vững vàng lên!
            Có tiếng loa chiêu hồi vọng tới. Địch bắt đầu dùng chiến thuật "hoà bình". Tiếng loa khiến Hòa choàng tỉnh. Anh nhìn ra. Mấy chiếc tàu địch đã vây bốn phía. Chắc chúng muốn "bắt sống!". Và sau đó, sẽ kéo về triển lãm... Thời gian gấp lắm. Hòa vơ vội chiếc áo, khoác vào và bước lên mấy bước. Nào, miễn là đừng run tay, chỉ một nhoáng là xong. Lúc dó thì chăng còn hay biết gì nữa. Hình như sự mãn nguyện của những chiếc tàu địch đã đánh thức lòng tự ái trong anh. Anh mạnh bạo hẳn.
            Nhưng quái, cái núm nhựa màu đỏ vừa vặn bằng chiếc cúc áo kia sao lúc này lại giống con mắt thế? Nó cứ chòng chọc nhìn Hòa, giễu cợt, dọa nạt, thách đố. Hòa chùng gối lùi lại một bước. Tiếng loa chiêu hồi rang ráng vọng tới. Thần kinh không bình thường rồi! Nó làcái núm nhựa, hoàn toàn bằng nhựa. Hòa bước lên: Anh với tay ra, nhắm mắt, nín thở. Mồ hôi vã đầy mặt. Tất cả sẽ là cát bụi. Tích tắc! Tích tắc! Tất cả sẽ là... Chợt Hòa  chùng tay lại. Thật vô lý! Tại sao không thể khác được? Chiếc chìa khoá gỡ rối tức khắc hiện ra, và nó nhanh chóng trùm lên tất cá mọi suy tính: Có thể hủy tàu bằng  súng. Còn kịp! Vẫn còn kịp! Miễn là phải hành độngthật nhanh. Không nên hy sinh vô ích. Cái thoáng thông minh biết đánh lừa mình ấy làm cho Hoà tỉnh hẳn.
            Hoàn toàn bản năng, anh nhào ra khỏi buồng lái, chạy tới mạn tàu, bung mình xuống nước, sải tay cắt sóng...
             - Thế nào anh Hòa? Trời sáng mất rồi.
            Mọi người ùa ra mép nước, đỡ Hòa dậy. Tòng hỏi:
             - Sao thế, anh Hòa?
             - Ta có thể... dùng ĐKZ ... Tòng điều cho tôi - Tiếng Hòa hổn hển, ngắt quãng - Tòng điều cho tôi hai khẩu ĐKZ.
             - Không kịp đâu, anh Hòa - Tòng hốt hoảng nói - Cần nhanh chóng rời khỏi đây. Bộ binh Mỹ đã đổ quân bao vây phía sau núi... Cần hủy tàu tức khắc.
             Một loạt đạn AR.15 ở đâu đó bắn tới. Mọi người vội cúi thấp xuống.
            - Chần chừ là bị bắt sống cả người và không hủy được tàu. Đồng chí Xuyên. Cho anh em rời khỏi đây ngay...
            - Sao vậy Tòng? - Tiếng Hòa lo lắng.
            - Anh phụ trách anh em thoát vòng vây. Còn T.37, cứ mặc tôi. Tàu địch vào gần lắm rồi.
             Tòng vụt chạy. Bóng Tòng hoà lẫn vào biển, mất hút. Hòa luống cuống đuổi theo:
             - Không được liều, Tòng - Hòa hét to - Tòng! Tòng!
             Nhưng vừa lúc đó, một loạt đạn xỉa ngay xuống trảng cát, Hòa phải dừng lại.
             - Chúng ta rút thôi, anh Hòa - Xuyên giục.
             Đôi mắt Hòa vẫn không rời con tàu. Anh loạng choạng đứng dậy, song Xuyên đã kịp ấn anh xuống: Đạn AR. 15 vãi xung quanh.
             - Đồng chí dẫn anh em rút ngay - Hòa nói.
             - Còn anh?
             - Mặc mình!
              Hòa lảo đảo đứng lên. Xuyên gắt:
             - Anh Hòa, không được. Anh cũng phải rút. Mặc mình - Hòa nói như trong cơn mê và nhao ra phía mép nước.
             Lúc đó Hòa chợt thấy con tàu xoay mũi, hướng về phía những chiếc tàu địch. Hòa chưa kịp trấn tĩnh, chưa kịp hiểu thì một tia chớp lóe lên, kế đó là một cột lửa hình nấm khổng lồ sáng lòa vọt cao, lơ lửng trong không trung. Một tiếng sét dữ dội nổ vang, trùm khắp mặt biển. Cột nước khổng lồ dựng đứng, đổ ập xuống tràn lên bờ. Luồng gió mạnh phả vào trảng cát, nóng hừng hực.
             Hòa bàng hoàng, hai tay hoảng loạn dang ra, chới với. Anh cảm giác như mình vừa hẫng hụt vào chỗ chân không nào đó. Anh chỉ kịp gào lên một tiếng: "Tòng ơi!", rồi tuyệt nhiên không còn cảm giác, toàn thân cứng đờ, nặng nề đổ phịch xuống như cây chuối bị một nhát dao sắc bất ngờ phạt đứt gốc. Hòa nằm sấp trên cát, đôi bàn tay nhoài với ra biên. Anh không còn nghe gì nữa, không thấy gì nữa và không biết gì nữa.
            Mọi người vội vã xốc anh dậy, dìu đi...

« Sửa lần cuối: 05 Tháng Tám, 2009, 07:35:05 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #82 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 08:26:00 pm »

     

           Từ ngày 18 đến ngày 22, bốn chiếc tàu vận tải Bắc Việt giả dạng tàu đánh cá lần lượt rời bến, tìm cách thâm nhập vào miền Nam để tiếp tế đạn dược, khí cụ và không loại trừ khả năng cả  binh sĩ cho Việt Cộng. Đây là một cố gắng thâm nhập liều lĩnh và can đảm nhằm cung cấp vũ khí cho Việt Cộng trên toàn miền Nam..
            Song, lộ trình và ý đồ của các tàu trên đã bị hải quân Hoa Kỳ phát giác. Các tàu tuần tiễu ven biển của hải quân Hoa Kỳ thuộc biên đội 115, do đại tá Hen-rik chỉ huy được lệnh cùng các lực lượng hải quân Việt Nam Cộng hòa theo dõi và ngăn chặn.
            Chiếc tàu thứ nhất bị phát giác vào đêm 19 do những chiếc máy bay tuần tiễu trên biển kiểu SP.24 thuộc hai đại đột tuần tiễu VP-2 và VP-17 trong hoạt động gọi là "hành quân phiên chợ". Các máy bay tiếp tục theo dõi, bám sát tàu này từ xa bằng những máy móc hiện đại và tối tân nhất. Và những ngày sau đó thì phát hiện ra ba tàu kia.
            Đợi khi đối phương vào hải phận miền Nam, các chiến hạm Hoa Kỳ và các chiến hạm của hải quân Việt Nam Cộng hòa được lệnh ngăn chặn.
            Chiếc tàu vận tải thứ nhất chạy vào vùng biển phía bắc Nha Trang thì ngoặt hướng đi lên. Năm tàu tuần tiễu của Hoa Kỳ kiểu Xuyp-bốt ( Swift-boat ) là Pef.42, Pef.43, Pef.46,Pef.47, Pef.48 cùng hải thuyền Ya-bu-ta của hải quân Việt Nam Cộng hòa và hai chiến đỉnh USCG Cutter, Point Grey từ phía bắc xuống được lệnh theo sát. Tàu này hoảng sợ xả máy chạy ra khơi và gần sáng thì ra tới vùng biển quốc tế, đành bỏ dở hoài bão thâm nhập, quay trở về.
            Chiếc thứ hai đi vào vùng biển Bình Định. Hải quân Hoa Kỳ và các lực lượng Việt Nam Cộng hòa được lệnh theo dõi. Nhưng theo báo cáo của đại úy Char Lesb Mosher, đến hai giờ sáng thì tàu này mất tích. Theo nhận định của đại úy Char Lesb Mosher, có thể chiếc tàu này và chiếc tàu đi vào vùng biển Nha Trang là một. Chắc rằng có sự nhầm lẫn nào đó của máy bay thám không.
            Vào lúc 2 giờ 30 phút ngày 23, chiếc tàu thứ ba đang di chuyển ra khơi thì đụng độ với các lực lượng Việt - Mỹ ở gần đảo Lý Sơn. Phi cơ Hoa Kỳ, cùng hải quân  Hoa Kỳ, hải quân Việt Nam Cộng hòa bắn hỏa châu soi sáng và sau đó được lệnh tác xạ. Tàu đối phương hoảng loạn bắn trả và cố chạy về phía đất liền.
            Tham gia bao vây gồm các tàu tuần tiễu Hoa Kỳ kiểu Cốt-gác, cùng các tàu Point Welcome (Phăng Oen-cơm), Point Grey (Phăng go-ri), tàu quét lôi Pensistant (Pơ-xit-tơn) tàu PC.18, PCF.20, PCF.25, PCF.26 ... và  phi đội máy bay 13, với hai trực thăng và sau đó là các đơn vị bộ binh thuộc sư đoàn "A-mê-ri-ca" của Hoa Kỳ.
            Mười hai chiến hạm và hàng chục hải thuyền của Hoa Kỳ và quân lực Việt Nam Cộng hòa có phi cơ yểm trợ đánh phá ác liệt vào một tàu vận tải Bắc Việt gan góc và thiện chiến.
            4 giờ sáng thì tàu này cách bờ chừng 200 mét đến 300 mét. Thủy thủ hạ xuồng cao su và phao chạy thoát vào bờ. Nhưng kỳ lạ thay, sau đó con tàu này xả máy thẳng hướng các tàu chiến Hoa Kỳ lao tới. Thật là liều  lĩnh và can đảm. Kế đó, một tiếng nổ dậy trời, tàu Bắc Việt nát bấy, tan ra từng mảnh không để lại một vết tích gì trên biển... Chiến hạm Point Welcome bị hư hại nặng. Hai thủy thủ tiền vệ chết và hàng chục thủy thủ khác bị thương.
            Chiếc tàu thứ tư đang trên đường tiến vào cửa sông Bồ Đề cách Sài Gòn 116 hải lý về phía tây nam thì bị tàu  tuần tiễu Hoa Kỳ chặn hỏi. Tàu này từ chối trả lời và cứ nhằm hướng cửa sông lao tới. Tàu Hoa Kỳ Uynona nổ súng. Các tàu quét lôi Mos Confhet, tàu Point Hud-sen, tàu Point Grey, tàu Point Marone và hai tàu SWift-bot cùng sáu chiếc nữa tiếp cận đến. Các thuỷ thủ trên tàu Bắc Việt đã nổ súng bắn lại. Họ chiến đấu đến người cuối cùng, viên đạn cuối cùng và cùng hy sinh với con tàu bằng khối lượng hàng chục tấn bộc phá do bàn tay họ tự hủy sau một ngọn lửa bốc cao và hai tiếng nổ lớn...
            ... Bắc Việt có một lực lượng hải quân vô địch. Tàu thuyền của đoàn Bắc Việt có thể đi biển trong bất kỳ tình huống nào. Khi sóng to, bão lớn nó mới xuất phát. Thủy thủ của đoàn được rèn luyện dày dạn. Kinh nghiệm, thành thạo luồng lạch và địa hình. Những chỗ đó hải quân Sài Gòn chưa thành thạo bằng ...
1


--------------------------------
Chú thích:
1. Trích tài liệu của phòng nhì hải quân ngụy Sài Gòn - TQ
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Tám, 2009, 07:50:31 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #83 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 08:58:05 pm »


38


           - Các đồng chí! - Lê nói - Bây giờ chúng ta hãy bàn cách sống chờ ngày lên đường trở về đơn vị.
            Tình thế đặt đoàn người trước một lựa chọn khe khắt: hoặc vượt qua hoàn cảnh để sống, hoặc bất lực đón nhận cái chết. Mười ba thủy thủ đứng trước thử thách ghê gớm: hai bàn tay trắng, làm thế nào để đừng chết đói giữa rừng sâu? Con người vốn có bản năng sinh tồn. Và lúc này, bản năng ấy được bộc lộ rõ rệt. Không còn con đường nào khác là bắt buộc phải sẵn sàng thích ứng hoàn cảnh để sống.
           Tuy nhiên, đoàn người hành động không phải chỉ bằng bản năng sinh tồn, mà cao hơn, bằng ý thức rằng mình cần phải sống, rằng mình cần phải trở về đơn vị để tiếp tục cuộc chiến đấu, dù lúc này, vật lộn với hoàn cảnh để sống cũng là cuộc chiến đấu gay go.
            Và ý chí đã thắng.
            Những ngày nằm ở trạm giao liên, mặc dù được những người làm công tác ở đây giúp đỡ, vẫn không sao giải quyết được vấn đề lương thực. Đường dây giao liên trong giai đoạn này cũng hết sức khó khăn. Anh em thủy thủ phân công nhau vào sâu trong núi kiếm chuối rừng, củ mài và các loại rau khác.
            Ngày hôm đó, không rõ anh chàng Cang lần mò ở đâu kiếm về được một củ sắn nhỉnh hơn quả chuối hột.  
            Cang vội vã nhen lửa hì hụi nướng rồi hớn hở đưa cho Xuân. Thấy củ sắn, mắt Xuân sáng lên, đã hơn một tuần nay không hề có chất bột vào ruột. Song Xuân đã từ chối.
            - Anh ăn đi, anh cần bồi dưỡng mà - Cang nài.
            Xuân lắc đầu, quay mặt, không dám nhìn vào, lặng lẽ nuốt nước bọt.
             Người ép, người từ, và củ sắn vẫn còn nguyên vẹn cho tới ngày hôm sau. Cuối cùng chính trị viên Lượng phải bẻ nhỏ thành mười ba phần.
            Sáng sớm, anh em chia nhau tản vào rừng. Nằm một mình trên võng nơi bãi khách, Xuân thấy buồn. Vết thương ở chân không cho anh tham gia kiếm rau, chặt chuối. Anh em nói đùa: thuyền phó ở lại trông "nhà". Trông "nhà"! Mọi người thường an ủi thế, có gì mà phải trông? Lâu nay Xuân có mặc cảm rằng mình chẳng khác một cây tầm gửi, một kẻ ăn bám. Đã vậy, cái gì cũng ưu tiên. Kiếm được thứ rau ngon, quả lạ, mọi người đều dành cho anh. Mà quái ác thay, vết thương ở chân  không những không đỡ, lại ngày càng tấy lên. Thuyền trưởng Lê chiều nào cũng cõng anh ra suối, tháo băng, rửa, nhưng tất cả những cố gắng ấy chẳng đưa lại kết quả gì. Chỗ mũi chông xuyên qua, thịt thối dần, lan rộng. Đêm nằm, chân buốt không ngủ được, Xuân nghĩ lan man. Anh độc địa ví: cái bàn chân phải này là món nợ, là sự vướng víu cũng giống như mình là món nợ, là sự vướng víu cho cả đoàn.
            Đêm nằm, hai tay ôm bàn chân, đau ứa nước mắt.
            Nhưng Xuân không kêu, không rên. Anh âm thầm chịu đựng, cố không để mọi người biết: anh rất khổ tâm vì đã làm phiền anh em. Nửa tháng nay anh ngồi một chỗ để mọi người thay nhau phục dịch. Anh có quyền gì như thế. Đã vậy, vết thương ngày càng nặng mùi. Nhiều lúc anh nghĩ, có lẽ chết đi, đỡ khổ hơn. Đỡ khổ cho mình, và cất được gánh nặng cho mọi người. Không nên kéo dài nỗi đau, nỗi phiền hà mãi...
            Một đêm, Xuân lặng lẽ tháo võng rồi nhúc nhắc tới bên thân cây, thật xa, cố tình nằm cách biệt mọi người.
            Lê biết, anh mắng:
            - Sao cậu nằm đây?
            - Anh em thương tôi, nhưng tôi cũng biết nể anh em chứ, anh Lê. Tôi cũng không chịu nổi mùi hôi ở chân mình, huống hồ ...
            - Sao cậu lại coi thường đồng đội như vậy, hả?
             Lê bắt Xuân đứng dậy, anh tháo võng, mắc vào chỗ cũ cạnh mình và cõng Xuân về.
            - Đêm hôm, nằm một mình ngoài ấy, nếu cậu có làm bậy, ai hay? Từ nay làm việc gì cũng phải hỏi mình.
            - Tôi khác gì vật thừa, anh Lê. Tôi hỏi nhé, người ta hơn nhau ở chỗ biết mình phải sống, phải chết đúng lúc hả?
            - Chỉ nghĩ vớ vẩn!
            - Người nào chẳng một lần chết!

             Chín hôm sau, trạm giao liên báo cho biết địch đã rút, đoàn ra Bắc chuẩn bị lên đường. Ai cũng mừng. Tối hôm đó, ông trạm trưởng mang đến cho đoàn nửa bao tượng gạo. Ông áy náy mãi rằng không thể giúp đỡ được hơn. Đêm đó không ai nghỉ, mỗi người chuẩn bị một chiếc gậy để hôm sau hành quân.
             Khi rời trạm, theo đồng chí giao liên xuyên rừng, mọi người không khỏi ngạc nhiên nghĩ rằng nửa tháng qua mình đã không có hạt cơm vào bụng. Tuy thế người nào cũng hăm hở. Biết hành quân sẽ gian khổ, nhưng nhanh được trở về đơn vị, ai cũng phấn chấn. Lê dìu Xuân đi giữa. Đồng đội lặng lẽ chống gậy bước phía trước, bước đằng sau. Họ đi thành hàng dọc.
             Ngày đi, đêm nghỉ: Nghỉ ở đâu tìm cây rừng, rau rừng để ăn. Đoàn người đi ròng rã như vậy đã được hơn một tháng. Người nào cũng vàng bủng, xanh xao. Khuôn mặt ai cũng lạ hẳn: xương quai hàm nhô ra, má sạm, mắt to, tóc rụng... chân tay khẳng khiu, người còm nhom. Vậy mà họ còn phải đi nữa, đi nữa...
            Một hôm nằm ở bãi khách trên đỉnh núi thì gặp mưa. Nước thấm xuống tăng, nước ngấm qua võng, nước thấm vào cơ thể. Người nào cũng rét run. Đang mùa đông, lại ở trên núi cao, càng rét. Mười ba con người chụm nào nhau bên gốc cây, chịu đừng. Đêm ấy họ thức  trắng. Sáng, chân tay tê cứng, người bải hoải, và hầm hập như lên cơn sốt. Ai cũng ngỡ rằng sẽ quỵ, ngỡ rằng không thể lê mình đi được nữa, vậy mà lúc đồng chí giao liên phát lệnh, họ lại đứng thẳng, gắng gượng bước... Không tưởng tượng được rằng ngay đêm ấy đoàn người lại có mặt ở một trạm giao liên khác.
          
           Trận mưa để lại cho Xuân hậu quả tai hại. Vì ngấm nước, phải hành quân ngay, bàn chân phải sưng to, nhức buốt. Mặc dù đến trạm, Lê đã nhờ đồng chí y tá rửa vết thương, băng lại. Đêm ấy Xuân vẫn không chợp mắt. Nằm trên võng, co người, đặt bàn chân trong đôi bàn tay, Xuân cắn chặt hai hàm răng. Vết thương nhức đến tận óc, buốt tới tận tủy. Ngày mai làm thế nào để tiếp tục đi? Xuân có cảm giác như trong bàn chân mình có vô số những con vật li ti chen chúc nhau gậm rỉa khoảng thịt đã thối. Thỉnh thoảng, hình như chúng giành nhau khiến Xuân đau nhói. Anh túm lấy tóc bứt căng lên để nén chịu. Anh giật mình: khi nhấc tay, một mảng tóc bở ra khỏi đầu. Xuân vuốt lại: tay anh chặt một nắm tóc khác. Chỉ cần anh vuốt thêm vài ba lần nữa, tóc trên đầu sẽ rụng, không còn một sợi. Xuân chán nản thả mình xuống võng, nhưng cái chân không cho anh nằm im. Anh lại ngồi dậy ôm lấy nó. Còn phải chịu cảnh nhức buốt này đến bao giờ? Đến bao giờ? Liệu có cách gì tháo gỡ sự đau đớn ra khỏi cơ thể không? Chỉ một viên đạn là được giải thoát. Bất giác, Xuân lần tìm khẩu AK treo đầu võng.
            - Không chợp được chút nào, Xuân?
             Tiếng Lê hỏi khiến Xuân giật mình. Anh vội vàng rụt tay.
            - Anh cũng không ngủ được?
            - Mình nghĩ là có lẽ ngày mai cậu nên nằm võng, anh em sẽ thay nhau... Cái chân ít phải đi, đỡ đau hơn. Cậu đau, chẳng ai đành lòng.
            - Tôi vẫn cố được.
            - Nhưng đêm đêm, không nghỉ, hao sức lắm... Đã không có gì ăn. Chúng ta còn đi dài ngày Xuân ạ... Mình xoa bàn chân một lúc để cậu ngủ nhé.
            - Không chịu được đau mà phải chết, là hèn, phải không anh Lê?
            - Ừ! Nhưng sao hỏi như vậy? Dịp này cậu lẩn thẩn lắm.
            - Tôi cho rằng cũng chẳng hèn. Phản bội mới hèn, không chịu được nhục hình tra tấn mới hèn.
            - Nào, tranh thủ chợp mắt một chút đi.
            - Anh nghĩ ra cái kế cho tôi nằm võng đấy à?
            - Anh em họ đề nghị như vậy.
            - Tôi lấy gì mà đền đáp tấm lòng mọi người đây, anh Lê? Tôi còn bước được mà. Đừng bắt anh em khiêng tôi, đi một mình, họ còn liêu xiêu, huống chi...
            Hôm sau đoàn người lên đường muộn. Xuân dứt khoát từ chối cái việc để mọi người khiêng. Anh bá lấy vai Cang và lần đi ...
             Đến trạm giao liên kế đó, vì chưa có người dẫn đường nên đoàn người dừng lại.
            
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Tám, 2009, 08:00:08 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #84 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 08:58:37 pm »

         
             Một buổi trưa, Hải từ đâu về, chìa ra trước mặt Xuân một nắm lá:
             - Mình sẽ vò nát ra và đắp vào vết thương ở chân Xuân. Ông trạm tnrởng mách đấy.
             Nắm lá quả có tác dụng. Vết thương dịu hơn. Đêm ấy anh ngủ một giấc khá sâu.
             Sáng hôm sau. Trước khi đi vào rừng, Linh dúi vào tay Xuân mấy quả ổi non:
             - Phần anh đấy!
             - Cậu không ăn à?
             - Anh ăn đi mà! Chiều qua vớ được trong núi...
              Cạnh võng Xuân có mấy người lính, mới tới tối qua, không rõ ra hay vào.
              Xuân nằm im, lắng nghe chuyện của họ. Một người nói:
             - Năm ngoái, ông biết thằng Huy và thằng Tặng tìm kế gì để kiếm ăn không? Các cha tinh khôn hết chỗ, dám lừa cả giao liên. Khi đến trạm này, Tặng vờ làm thủ trưởng, còn Huy đóng giả cần vụ, cứ một điều báo cáo thủ trưởng, hai điều báo cáo thủ trường, đến nỗi nhân viên ở trạm ngỡ rằng đây chắc là ông cán bộ cao cấp đi công tác qua, nên đón tiếp chu tất lắm. Gì chứ cơm, sắn thì được ăn no. Đến trạm khác, họ lại đổi vai. Ma lanh thế đấy!
            - Mình còn nghe kể là có chàng vớ được chiếc máy ảnh hỏng, vờ làm nhà báo, đi đâu đeo lủng lẳng bên người. Các ông lạ gì mấy cô làm ở những trạm giao liên nữa, nàng nào chẳng thích có tấm ảnh kỷ niệm Trường Sơn. Vậy là anh "nhà báo" vớ bẫm. Cứ giơ máy bấm tách một cái là có cơm ăn, chí ít cũng được vài củ sắn. Khỉ thế, cái đói khiến người ta mất tư cách.
            - Mất tư cách không sợ bằng mất tính người. Thằng Tươi kể, năm ngoái gần trạm của nó, có hai gã đào ngũ. Gã nọ nẫng của gã kia nắm cơm. Nếu không mạnh người can thì đã xảy ra ẩu đả. Nghĩ cám cảnh quá. Chỉ vì miếng ăn, hai gã kia đã mấp mé bước sang loài thú.
            Xuân rùng mình. Anh nhắm nghiền mắt, không nghe nữa. Quả ổi non Linh đưa, vẫn nóng trong lòng bàn tay.
         
            ... Đoàn người tiếp tục đi.
            Dẫn đường hôm nay là anh giao liên luống tuổi, khoảng bốn mươi, khó tính và hay gắt. Ai đi chậm là mắng xơi xơi. Lê và Xuân mấy lần muối mặt, nhưng đành nhịn.
            - Tôi phục vụ số đông chứ không chiều một ai cả. Đề nghị bước nhanh lên - Mỗi lần phải đứng chờ, anh ta cằn nhằn - Ai không đi được thì ở lại. Đã "đi ra", phải biết điều chớ!
            Lê cho là người giao liên này không có thiện cảm với những ai đi ra miền Bắc. Không nói, nhưng có lẽ anh ta cho rằng những người đi ra thường là những kẻ thối chí, những kẻ bỏ nhiệm vụ, những kẻ sợ chết, đập bệnh để trốn chiến đấu... và bao điều tiếng khác. Cũng có một số ít người như vậy, do đó, đã đi ra là gánh chịu sự không được trân trọng, thậm chí bị coi thường. Mà đâu phải việc gì cũng giải thích cho số người như anh  giao liên này hiểu rành rọt. Với nữa, cũng không nhất thiết cứ giải thích, quan trọng việc mình lên, chỉ làm bé mình đi.
            Lượng quay lại hỗ trợ Lê, cùng dìu Xuân. Ba người gắng gượng bước. Xuân cố nén đau để đi nhanh hơn. Lắm lúc hai mắt hoa, phía trước tối sầm, nhưng đôi chân như một thói quen, vẫn lê lết trên mặt đất.
            Quá trưa, đoàn người nghỉ ở một cánh rừng. Người giao liên phổ biến:
            - Bãi trống trước mặt là túi bom. Do vậy yêu cầu mọi người, khi có lệnh, phải nhanh chóng vượt qua. Chậm, máy bay tới là ăn bom đó. Đề nghị kiểm tra hành lý. Ai chưa gọn, buộc lại để vượt.
            - Gắng một chút nhé, Xuân - Lê cúi xuống, nhìn vết thương của người thuyền phó, động viên - Mình sẽ cõng cậu, vượt qua nhanh thôi.
            - Để tôi đi.
            - Cái chân của cậu... không kịp đâu. Chần chừ là hết cả nút.
             Đến bìa rừng, người dẫn đường ra hiệu dừng lại. Anh thận trọng bước xuống chân núi, đứng nép vào một thân cây ngửa mắt lên trời, nghe ngóng. Lượng và Lê dìu Xuân vượt trước mọi người, chờ đợi. Hơn chục con người thấp thỏm dóng mắt về phía người giao liên. Một lúc, dường như biết được quy luật hoạt động của địch, anh ta quay lại, vẫy tay:
            - Vượt!
            Đoàn người ào xuống dốc. Lượng đỡ Xuân lên lưng Lê. Ba người cùng chạy. Họ tụt sau cả đoạn. Đến giữa bãi trống, Lê lảo đảo và khuỵu xuống. Mắt toá đom đóm, rồi tất cả tối sầm.
            - Bỏ tôi lại... đi đi - Xuân rít lên - Mặc tôi!
            - Nói bậy... - Bám vào - Lê gượng xốc Xuân lên lưng.
             Nhưng chỉ được mấy bước, anh loạng choạng, ngã ngửa, đè lên Xuân. Khuôn mặt Xuân tái nhợt. Anh nài nỉ:
            - Anh Lê, anh đi đi... Trời ơi, sao tôi không chết cho rảnh!...
             Lượng đỡ hai người dậy. Lúc bấy giờ đã nghe tiếng động cơ máy bay rì rì phía sau cánh rừng.
            - Các anh định để máy bay tới quăng bom xuống phải không? - Tiếng người giao liên gào phía trước.
             Cang vội lộn lại. Anh cùng Lượng dìu Xuân và Lê. Qua khỏi bãi trống, Lượng đặt Xuân xuống, thở. Khuôn mặt Xuân xanh bợt. Máu ở vết thương ứa ra, thấm ướt cả lớp vải băng.
             Nơi đoàn người vừa vượt qua, một chùm rốc két phóng xuống. Kế đó là tiếng bom. Mọi người tản xa chỗ nguy hiểm. Xuân nhất quyết không chịu đi. Anh khăng khăng đòi cho anh chết ở đây, đừng vì anh mà ảnh hưởng cả đoàn.
            - Không đi thì ở lại - Người dẫn đường, buông một câu rồi anh ta cảm ràm - Tôi phục vụ số đông chứ không chiều một ai cả. Không nhanh nhanh, bom nó ném loang ra thì toi mạng hết.
             Lượng quắc mắt:
            - Tôi mà nghe anh nói như thế một lần nữa là không để yên đâu!
             Người giao liên lấm lét nhìn, rồi lảng sang phía khác.
            - Sẽ thay nhau cõng đồng chí Xuân. Nào, đi - Lượng nói, rồi anh xốc Xuân lên lưng. Đoàn người lại bước.
         
            ...Đêm hôm ấy vết thương của Xuân tấy rực. Người  nóng hầm hập, anh vật vã trên võng. Nằm co đau, nằm thẳng đau, nằm nghiêng cũng đau. Anh có cảm giác như những con vi trùng li ti từ bàn chân đã ăn tràn ra khắp cơ thể. Chạm vào chỗ nào cũng nhức buốt. Lượng và Lê ngồi nhìn Xuân quằn quại, chảy nước mắt, bất lực. Giá là gánh nặng, họ trút đỡ một phần!
            - Các anh thương tôi thì hãy chặt đứt cái bàn chân này đi - Xuân rên rỉ - Tôi không chịu được nữa rồi! Không chịu được nữa!
            - Cố ngủ sẽ quên đau, Xuân ạ - Lê an ủi.
            - Ngủ sao được!
            Lê sờ vào chân phải Xuân. Cái chân sưng nần nẫn, nóng rực. Vết thương đang lan rộng ra. Làm thế nào cho Xuân dịu cơn đau bây giờ? Thật tai quái! Giá như vết thương ở vai, ở tay thì đỡ biết bao...
            Lê xoa nhè nhẹ lên bắp chân Xuân. Xuân nằm im.
            - Ngày mai ta kiếm đòn và sẽ thay nhau khênh Xuân, anh Lượng ạ.
            - Mình cũng nghĩ thế. Ít hoạt động, nhất định đỡ đau hơn.
             Lát sau, ngỡ Xuân đã ngủ, hai người lặng lẽ về võng. Đêm đã khuya lắm. Mệt quá, đặt mình xuống, Lê thiếp đi.

            Xuân không ngủ. Anh cắn răng ráng chịu cơn đau mỗi lúc một dữ dội. Tại sao lại không chết quách cho rảnh, đỡ khổ mình lại đỡ nặng anh em. Cái chân ngày càng tồi tệ, mình và anh em còn phải chịu bao lâu nữa? Nỗi đau và sự thất vọng choán trùm lấy Xuân. Ý nghĩ về cái chết, mấy ngày vừa qua lảng vảng trong đầu, lúc này ập đến rất nhanh. Anh nghĩ chỉ có cái chết là hợp lý nhất, là giải pháp duy nhất giải thoát khỏi nỗi khổ ải triền miên của mình và của đồng đội. Đằng nào cũng chết, chết sớm là hơn. Xuân đưa tay với khẩu AK. Khi đã chạm vào khẩu súng, ý nghĩ về cái chết càng bám níu chặt hơn. Xuân kéo khẩu súng lại gần, nghe ngóng. Khu rừng lặng lẽ, chỉ có tiếng thở mệt nhọc của mọi người. Võng bên, Lê đã ngủ say.
             Xuân ngồi dậy. Vết thương nhói lên. Anh chống súng, thả mình xuống võng. Hàm răng cắn chặt, anh lết mình trên đám cỏ ướt. Anh toài ra thật xa rồi chọn một gốc cây, tựa lưng vào đó. - "Các đồng chí ơi!... - Xuân nấc lên, hai hàng nước mắt lăn ướt gò má - Các đồng chí ơi " Xuân kéo nhẹ khóa cò...
            Đang ngủ, như có linh tính, Lê choàng tỉnh. Anh quờ vội sang võng Xuân; cánh võng nhẹ tênh. Anh bật dậy, hớt hải kêu :
            - Xuân!
             Đáp lại một tiếng AK khô khốc nổ vang. Lê hốt loạn nhào về phía tiếng nổ. Mọi người ngơ ngác thức giấc chạy ùa theo. Bên gốc cây, Xuân nằm đó, người đẫm máu, một viên đạn từ hàm dưới xuyên qua đỉnh đầu.
            Hải sợ hãi rú to:
            - Vết đạn? Trời ơi, vết đạn. Ai bắn? Ai bắn thuyền phó Xuân?
            Và anh run rẩy, đổ sụp xuống, miệng ú ớ. Mọi người bàng hoàng, đứng lặng. Đêm ấy, đoàn thủy thủ âm thầm chôn người đồng đội lưng chừng đồi.
         
           ... Sáng hôm sau, trước khi lên đường, Lượng tập hợp mười hai thủy thủ trên một bãi cỏ rộng. Anh bước lên:
            - Thưa các đồng chí thủy thủ tàu T.67 - Lượng nhìn khắp lượt những khuôn mặt thân quen và nói. Giọng anh nghiêm trang - Tất cả những gì xảy ra, các đồng chí đã rõ. Chúng ta đi chưa được nửa chặng đường, những ngày tới, còn phải tiếp tục đi nữa. Chỉ có hai con đường: hoặc tiếp tục khắc phục mọi trở ngại để trở về, hoặc chịu thua hoàn cảnh. Chúng ta chọn con đường thứ nhất. Ai có ý định lùi bước, chạy trốn gian khổ, khó khăn, có ý định chạy trốn chính bản thân mình đều không xứng đáng là thủy thủ tàu T.67. Chúng ta không có quyền chết. Các đồng chí ạ. Không ai có quyền chết! Nếu cái chết dễ dàng hơn cái sống thì chúng ta quyết chọn cho mình cái sống. Đồng chí Xuân không hẳn là đã chạy trốn. Đồng chí có hành động như vậy là muốn cho chúng ta thuận lợi trên đường về Bắc. Xin ghi nhận điều đó. Nhưng chúng ta cũng có thể nói với đồng chí Xuân rằng: Đồng chí đã không thấu hết tấm lòng của chúng tôi.
            Lượng ngừng lại trân trân nhìn tiếng người cố nén không bật ra tiếng khóc. Một lúc lâu, anh đưa tay lên vuốt ngực:
             - Mời đồng chí thuyền trưởng phát biểu.
             - Thưa các đồng chí! - Lê nói - đường còn dài, sức của mỗi người đã kiệt, nhưng mười hai thủy thủ của tàu T.67 nhất định trở về tới đoàn đủ mười hai. Chúng ta sẽ tự hào báo cáo với cấp trên rằng: chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Hãy giao cho chúng tôi con tàu mới...
             Thủy thủ xúc động nhìn thuyền trưởng. Rồi họ lặng lẽ lên đường. Đoàn người đã vắng thiếu một thành viên.

« Sửa lần cuối: 05 Tháng Tám, 2009, 08:11:17 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #85 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 09:04:57 pm »


PHẦN KẾT


1


            Đoàn thủy thủ tàu T.67 dắt dìu nhau về đến đơn vị, trời đã chớm thu.
           
            Những ngày nằrn an dưỡng, Lê nhớ Thúy đến nôn nao. Chưa bao giờ anh nhớ người yêu như những ngày này. Xa Thúy, kể từ cái đêm tháng Năm ấy tới nay đã hơn một năm. Một năm dài đằng đẵng. Một năm có bao điều đã xảy đến. Thúy của anh sống ra sao? Ôi, ước gì có  đôi cánh bay về gặp Thúy một lúc, phải, chỉ cần một lúc để được nhìn mặt em, để được nghe em nói và để được nói với em...Một năm xa Thúy, Lê có cảm giác như mười năm, hai mươi năm. Những kỷ niệm khắc đậm trong anh. Càng xa nhau, càng ý thức được đầy đủ, rõ ràng và cụ thể về tình yêu. Đã có cái gì thiêng liêng gắn chặt hai con người. Và nỗi nhớ ở anh không còn là sự xốc nổi, bồng bột; nó lắng sâu.
            Những ngày vượt Trường Sơn, hầu như lúc nào Lê cũng nghĩ đến Thúy, nghĩ đến kỷ niệm, nghĩ đến hạnh phúc trong tương lai. Điều đó khiến Lê thêm sinh lực vượt qua gian khó, thử thách để trở về. Những ngày ác liệt ấy Lê không chết, không bỏ xác dọc đường vì nhiều nguyên cớ, trong đó có cái lý anh phải sống cho Thúy, anh không chỉ là của mình, anh là một phần của người anh đang yêu - Giữ mình là giữ cái gì cho người ấy.
            Đã hơn ba tháng, bọn anh không được đi quá ranh giới khu an dưỡng. Những người có nhiệm vụ chăm sóc ở đây khe khắt, nguyên tắc đến máy móc. Họ nhất quyết không nể nang và mềm lòng. Đều đặn ngày nào cũng như ngày nào chỉ có một thời gian biểu: sáng, khám bệnh, uống thuốc, ăn cơm, rồi nghỉ - Chiều: uống thuốc, nằm nghỉ, lại ăn cơm, lại ngủ. Ngày này qua ngày khác, đơn điệu và tẻ nhạt. Không được tiếp xúc với người ngoài. Không được viết thư. Thời gian rỗi chỉ đọc sách. Cầm cuốn sách trên tay, Lê nghĩ đâu đâu. Hình ảnh Thúy chập chờn. Nó len vào trong giấc ngủ, trong bữa  ăn. Lê chỉ mong ra khỏi đây.
            Ba tháng nằm an dưỡng, dài hơn ba năm. Đã bao lần Lê và mọi người đề nghị cho nhận công tác, hoặc ít ra cũng trả về đơn vị, song người bác sĩ điều trị lắc đầu:
            - Chưa hồi phục sức khoẻ !
            Lại tiếp tục ăn, chơi, uống thuốc. Quả chưa ai khỏe. Da mặt người nào cũng xanh. Bệnh sốt rét quái ác thỉnh thoảng lại hành hạ. Lê không bị sốt rét. Bác sĩ bảo anh bị sa lá lách. Lê hỏi:
            - Sa lá lách có đi biển được không, đồng chí?
            - Gắng chữa khỏi thì vẫn đi được - Người bác sĩ trả lời - Nhưng phải kiên trì.
            Vâng, kiên trì, nhưng kiên trì đến bao giờ? Mấy lần đoàn trưởng Tư và chính ủy Kim đến thăm, Lê yêu cầu hai ông can thiệp.
            - Bọn mình cũng phải chấp hành ý kiến chuyên môn. Quyền hành đối với các cậu bây giờ ở trong tay mấy cha bác sĩ. Bao giờ họ gật, bọn mình mới dám phân công công tác.
             Một lần khác, đoàn trưởng Tư hỏi Lê :
            - Cậu nôn nóng vì muốn nhận việc hay nóng lòng về thăm cô Thúy?
            - Cả hai ạ.
            - Cậu không gặp Thúy đã hơn năm nhỉ. Cứ an tâm, cô ấy khỏe, và ...
             Đoàn trưởng định nói điều gì, nhưng ông chỉ cười.
             Chừng hai tuần sau, Lê nghe anh em kháo nhau rằng tàu T.37 cũng phải hủy, thủy thủ vượt Trường Sơn đã về an toàn. Lập tức Lê bổ đi tìm Tòng. Khi hay Tòng hy sinh, anh choáng người. Chưa bao giờ anh nghĩ điều đó xảy ra. Chưa bao giờ anh nghĩ những người như Tòng lại chết. Anh nặng trĩu. Những ngày tiếp đó, sống lặng lẽ. Cái chết của Tòng khiến anh đau buồn, nhớ tiếc.
             Cảm thấy đã mất đi một cái gì lớn lắm, không thể bù đắp. Hình ảnh Tòng mỗi lần gặp Lê, lại nhào tới, nguềnh ngoằng đôi tay vượn ôm ghì lấy anh, phả hơi nóng vào mặt anh, không sao quên được. Anh ân hận vì không giữ được vật gì của bạn. Lục lọi trong số tư trang ít ỏi Tòng để lại, Lê thấy một cuốn sổ nhỏ, chữ xiêu xọ. Trang đầu, Tòng vẽ con chim đang bay, phía dưới là câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan: "Ngàn dâu gió cuốn chim bay mỏi". Lê xin đoàn trưởng được giữ lại cuốn sổ.
            Đoàn trưởng lật xem những điều Tòng ghi, rồi ông gấp lại, ngồi lặng, đôi mắt hướng ra xa. Lát sau, ông đưa Lê, và bảo:
            - Chúng ta vẫn chưa hiểu hết về cậu ấy.
             Ngày hôm đó, hai người chỉ nói chuyện về Tòng.
             Sang tháng thứ tư, sức khỏe thủy thủ tàu T.67 khá hơn. Một hôm đoàn trưởng Tư và chính ủy cho gọi Lê lên:
            - Thế nào, anh em nhận nhiệm vụ được chưa?
            - Báo cáo, đã sẵn sàng ạ.
            - Theo cậu, có ai không đi biển được nữa?
            - Về mặt tinh thần hay về mặt sức khỏe ạ?
            - Cả hai!
            - Về tinh thần thì không. Còn sức khỏe... Tôi ái ngại trường hợp anh Hải.
            - Thế đấy! Bọn mình sẽ rút Hải lên bờ làm trợ lý.
            - Cậu ấy sẽ phản đối. Ai muốn xa đồng đội, những con người đã vào sống ra chết, nằm gai nếm mật có nhau.
            - Nhưng mình sẽ gặp Hải để thuyết phục. Lê này, thủ trường đoàn có ý định để Cang đi học lớp đào tạo sĩ quan tới, cậu nghĩ sao?
            - Nếu được phép, tôi nhất trí ạ. Một chàng trai thông minh, dũng cảm, tháo vát và sống có tình. Xa một người như vậy, rất tiếc, nhưng nếu vì lợi ích lâu dài của đoàn...
            - Anh chàng sợ ma hả?
            - Vâng! Ngày xưa...
            - Đã hứa hẹn với cô du kích trong kia phải không?
            - Cô Mười năm nay hai mươi. Tôi tin họ sẽ chờ nhau. Ngày nào Cang cũng nhắc đến cô ấy và những kỷ niệm của họ.
            - Lớp trẻ bây giờ yêu nhau khác tụi mình ngày xưa, anh ạ. - Chính ủy quay sang nói với đoàn trưởng và hai ông cười - Ngày xưa cô bán trầu cau của anh có hẹn hò gì đâu.
            - Cho tới lúc cưới, cũng chỉ nói với nhau chừng mười câu.
            - Công việc của cậu sắp tới - Chính ủy nói - Anh Tư sẽ phổ biến, tóm lại là cậu sẽ cùng với Lượng củng cố ổn định tổ chức, biên chế đủ thủy thủ cho một tàu. Sau đó nhận tàu mới. Tàu này lại mang tên T.67. Xong công việc cậu về Hải Phòng ít ngày. Bọn mình đã báo cho Hạng, trợ lý tổ chức, chuẩn bị giấy tờ.
            - Giấy tờ gì ạ? - Lê ngạc nhiên hỏi.
            - Về đến Hải Phòng, khắc cần - Đoàn trưởng ý nhị nhìn chính ủy, cười: Giấy chứng nhận cậu chưa vợ để ra ủy ban đăng ký.
            - Có nghĩa rằng... Tôi sẽ cưới vợ ạ?
            - Ơ kìa, cũng phải thế chứ? Hay cậu còn chờ?
            - Tôi chưa có ý định. Với lại cũng chưa bàn với Thúy.
            - Chưa bàn, đợt này bàn. Chưa cưới thì đăng ký, bao giờ có điều kiện, sẽ cưới - Chính ủy nói thêm.
            - Vâng! Các thủ trưởng làm tôi đột ngột quá... Để tôi nghĩa thêm.
             "Cưới vợ! Sao dịp này cụ Tư và cụ Kim lại sốt sắng đến chuyện này thế?" - Ra khỏi phòng làm việc, Lê vừa đi vừa tủm tỉm cười.
             Hơn tuần sau, anh báo cáo những công việc được giao: Việc nhận tàu, việc ôn định tổ chức, biên chế...
            - Chúng ta lại có một T.67, phải không? - Ông Tư nói.
              Hôm ấy đoàn trưởng giữ anh nán lại ăn cơm. Ông muốn nghe kỹ những chuyện liên quan đến chuyến đi của T.67 ông đã được báo cáo. Rồi ông kể rõ hơn chuyến đi của tàu T.37 và cái chết của Tòng. Hai người chuyện tới khuya. Trước khi Lê về, đoàn trưởng báo:
            - Đảng ủy quyết định tuần tới, cậu sẽ lên Bộ tư lệnh nhận chỉ thị về phương thức vận chuyển mới trong tình hình mới. Mình và chính ủy Bùi Kim sẽ cùng đi. Ban chỉ huy nhất trí ngày mai cậu về Hải Phòng thăm gia đình và thăm Thúy, giải quyết mọi việc mà cậu tự biết cần giải quyết. Đúng sáng mười sáu có mặt ở nhà khách cơ quan Bộ tư lệnh, bọn mình chờ ở đó. Thế nào, nghỉ mười ngày ít quá chăng?
            - Không ít đâu ạ!
             Đoàn trưởng kéo ngăn bàn, lấy ra một tờ giấy, nhìn Lê và nói vui:
            - Còn tờ giấy này, cứ cầm lấy, nếu thấy cần thiết thì sử dụng. Sự chu đáo của chính ủy không thừa đâu. Hãy nói với cô Thúy rằng chú Tư gửi lời hỏi thăm.
             Liếc qua tờ giấy, Lê thoáng đỏ mặt.
             Lê đâu biết, mấy ngày qua, chính ủy Bùi Kim, đoàn trưởng Tư đã bỏ hẳn một buổi đê bàn việc riêng của anh và cuối cùng cả hai đều đồng ý để Lê rẽ qua Hải Phòng tự thu xếp việc gia đình và sau đó sẽ báo cáo với tổ chức những điều cần thiết.
             Đêm ấy Lê tràn trọc, nhớ Thúy, nhớ bố mẹ và các em không nghỉ được.
           
             Sáng hôm sau anh đi sớm. Chiếc xe con của đoàn - đưa đến phà Bính.
             Lê thấy vui. Xung quanh, bến phà người xuống người lên tấp nập. Không khí hoà bình, không khí yên ổn hiện lên trên mỗi gương mặt. Lê nhập vào đoàn người, xếp hàng xuống bến. Chợt Lê chạy vội lại phía người trưởng bến, reo to:
            - Anh không nhận ra tôi ư?
            - Xin lỗi, đồng chí là... quả thực, người qua lại rất đông, cho nên... - Người trưởng bến lúng túng.
            - Năm kia, anh đã ách xe chúng tôi lại và bắt chúng tôi đi bộ vào thành phố. Tôi nhớ là anh có người vợ làm ở nhà máy đóng tàu. Thợ hàn.
            - À, vâng. Nhưng... nhưng nhà tôi hy sinh rồi.
            - Hy sinh rồi?
            - Đã hơn nửa năm nay. Anh có phải là... hình như người yêu cô Thúy?
            - Anh biết?
            - Tôi đoán vậy. Cô ấy nhắc tới anh luôn. Tuần trước mẹ con Thúy có lại đằng nhà tôi chơi. Cháu kháu lắm.
            - Xin lỗi nhé.- Chiếc xe tải lùi lại! Lùi lại! - Người trưởng bến nhìn ra và hô to - Không đi chuyến này thì sang chuyến sau. Đề nghị các đồng chí chấp hành nội quy bến. Chúng tôi phục vụ hai phà.
            Người trưởng bến chào Lê rồi chạy vội lại phía ba-ri-e.
           
            "Mẹ con cô ấy..." Lê thoáng nhớ đến thái độ của đoàn trưởng Tư và chính ủy Bùi Kim.
            Khá đông người xuống phà. Lê đứng cuối. Nhìn sang bên kia sông, anh có cảm giác vừa quen vừa lạ. Đợt hoa phượng cuối mùa giống như một tấm vải hoa choàng lên thành phố. Chỉ ít phút nữa thôi, Lê sẽ được gặp Thúy. Anh thấy bâng lâng. Niềm vui lan ngập khiến anh xốn xang.

« Sửa lần cuối: 05 Tháng Tám, 2009, 08:20:53 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #86 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 09:10:48 pm »


2


            Bấy giờ đã là giữa năm 1972.
           ... Vào một buổi chiều, trên đường đê hữu ngạn sông Lô có một người hối hả đạp xe. Vừa đi, người ấy như có ý quan sát xung quanh. Tới đoạn đường vòng, anh dừng lại hỏi thăm rồi tất tưởi dắt xe xuống bến đò. Trời đã tắt nắng. Đó là trung úy Hòa, thuyền trưởng cũ của tàu T.37. Trông anh già hơn trước. Tóc đã điểm bạc. Khuôn mặt âu sầu, thoáng những nét buồn của người nhiều lo nghĩ. Người gầy, dáng khắc khổ.
            Bà cụ lái đò giục anh xuống, đưa mái chèo cắt nước rồi thong thả bắt chuyện:
            - Coi ra bác mới đến vùng này lần đầu? Chắc qua bãi thăm bà con?
            - Dạ, vâng! - Hòa trả lời chiếu lệ. Đang nghĩ nên anh không mặn chuyện lắm.
            - Số bác may, mọi bận thì tôi đã cho đò nghỉ lâu rồi. Sông vắng, vào giờ này chẳng mấy ai qua lại.
            - Từ đây tới làng Ao Gỗ còn xa không cụ?
            - Làng Ao Gỗ à? Bác cứ đạp thẳng đường đê, khi nào gặp ngọn Tháp, gọi là Tháp Bình Sơn, bác rẽ sang trái. Chúng tôi đi bộ non non ba tiếng. Nhưng hôm nay mồng chín ta. Có trăng, chẳng ngại.
            Sông Lô tím xanh hệt một vệt mực. Phía mút dòng, sau những rặng núi tím thẫm, ráng chiều hắt lên như một đám cháy, đang nhạt dần. Trời tối nhanh.
             Hòa nhìn bên kia sông: chân đê mờ mờ sương chiều.
             Nhợt nhoè trên mặt đê, một vài bóng người gầy nhỏ, quây nặng những bó thân ngô cồng kềnh, tất tưởi đi vào xóm.
             
             Khi ở Hà Nội, Hòa đã tính là có thể đến làng Ao Gỗ trước lúc trời tối, ai ngờ chuyến tàu ngược Việt Trì chậm những ba tiếng. Lúc này đã sáu giờ chiều. Đành phải đạp xe thật nhanh vậy. Đến nhà người lạ đêm hôm khuya khoắt, rất bất tiện. Và chuyện thế nào đây? Tự giới thiệu tôi là bạn của Tòng, hồi Tòng chưa hy sinh, chúng tôi cùng tàu... Đành rằng mào đầu như vậy nhưng sau đó sẽ nói những gì? Và liệu có lần tìm ra Lụa không? Số phận người phụ nữ khát khao tình yêu và đã yêu, yêu hết mình ấy giờ ra sao?... Hòa ngồi xoay người lại cố nén tiếng thở mạnh. Đầu anh rối lên.
             Con đò chạm bờ. Hòa chào bà cụ rồi xắn quần, vác xe xuống bến. Hai bàn chân ngập trong bùn đất bãi. Anh dắt xe lên đê. Trăng đầu tháng sáng nhạt. Hòa ngồi lên, hối hả đạp.
             Làng xóm xa chân đê mờ mờ trong trăng. Gió từ bờ sông đưa lên quyện theo hởi nước lẫn mùi cỏ mục, man mát. Mặt đê nhiều ổ gà, xóc nảy người. Hòa xuống xe, lại lên xe. Lần cuối cùng, đạp được mấy vòng, đã phải  nhảy xuống: lốp trước hết hơi. Thật tai hại. Làm thế nào bây giờ? Hòa ngó ngược, ngó xuôi: xung quanh yên vắng, chỉ tiếng gió đuổi nhau trên bãi, và lá ngô cọ vào nhau xào xạc.
             Ngồi đây chờ sáng hay dắt xe đi? Nghỉ đã rồi tính,
             Hòa ngả xe bên vệ cỏ, ngồi xuống mép đê, châm thuốc hút.
             Con sông lặng lờ sải ra ôm những bãi. ngô. Lần đầu tiên lên trung du, những con sông này, những bãi ngô này, anh đã được nghe nhiều lần. Sau khi Tòng mất, những câu chuyện lảng vảng trong Hòa mãi.

            ...Lâu rồi, chúng tôi chưa có dịp gặp lại nhau, anh Hòa ạ Những ngày lênh dênh trên biển thế này nhớ cô ấy phát cuồng. Nhớ đến bứt rứt. Đêm đêm nghĩ về sông Lô, nhớ vị ngọt như sữa của những bắp ngô non, nhớ cơn gió hây hây từ mặt sông đưa lên những đêm trăng, nhớ vị hăng nồng của những thân ngô già dãi nắng,nhớ mùi đất bãi gặp sương... Ôi, dòng sông trung du ấy sao đậm đà kỷ niệm đến vậy! Thế nào anh cũng phải lên với con sông ấy một lần, anh Hòa ạ. Tôi sẽ đưa anh đi dọc bờ để ngửi mùi đồi núi tan loãng trong phù sa con sông. Chúng mình sẽ ăn những bắp ngô non đang làm sữa. Ăn sống. Tôi và Lụa đã ăn như thế. Ngô non ăn sống, mát, ngọt, dư vị hăng hăng, tanh tanh cứ đọng mãi nơi đầu lưỡi. Đã ăn một lần là không thể quên. Hai bên bờ đê, ngô bạt ngàn...     
            Hòa khẽ rùng mình. Không khí đặc quánh sương đêm. Trời lành lạnh. Vạt cỏ nơi Hòa ngồi, ẩm hơi nước. Không gian vắng lặng tĩnh mịch, chỉ có tiếng côn trùng rỉ rả gọi kêu nhau 
            Hòa đốt điếu thuốc nữa. Anh rít một hơi dài, nuốt hết khói, có một cái gì đó đăng đắng nơi đầu lưỡi. Giá hồi đó mình cũng được năm tạ thuốc nổ dồi lên, để rồi tan vụn ra thì đỡ khổ biết chừng nào - Một tiếng thở dài, bật ra. Hòa khẽ buột thành lời: "Sao cậu lại chết hả, Tòng ơi".
            Hòa đăm đắm nhìn xuống bãi ngô, người lặng đờ như một khối đá.
            Trăng đã tàn. Bầu trời chi chít sao. Xa xa những ngọn đồi, những ngọn núi như hoà tan vào bóng đêm. Dòng sông chỉ còn lại một vệt mờ mờ lẫn với bờ.
            Đốm sáng nơi đầu điếu thuốc lại lóa đỏ.
         
            Nghĩ tới chuyến đi ấy, Hòa tự hỏi: Hay là mình không có lỗi? Rằng với cương vị thuyền trưởng, anh đã nhận trách nhiệm hủy tàu, anh chỉ muốn tìm một giải pháp có lợi nhất, đỡ thiệt hại nhất mà hoàn cảnh lúc đó có thể cho phép. Rằng Tòng hy sinh là vì quá nôn nóng, quá vội vàng, và mọi người hình như nhìn nhận vấn đề cũng như vậy. Thế nhưng hễ nhớ tới rạng sáng hôm đó, anh lại nhức nhối, lại đau thắt, lại mặc cảm rằng mình đã giằng phần sống của người khác... Nhưng phút ấy, trời ơi, cái phút khủng khiếp, năm tạ thuốc nổ sẽ tức khắc bùng lên, quả có thế, quả anh đã run tay. Anh đắn đo. Anh ngần ngại. Nỗi tủi nhục, đau đớn và ân hận giày vò không dứt, chính chỗ ấy. Cuộc sống rất khắt khe, chỉ vì một phút sợ hãi, do dự toan tính là có thể phải mang cả cuộc đời ra trả. Có những sai lầm đáng ra không bao giờ được phạm phải. Thế mà anh... Đã ngỡ là người gan dạ, nhiều đức hy sinh, sẵn sàng chết cho một cái gì cao cả. Nhưng đến cái phút ấy, cái phút anh đưa  tay lần tìm chiếc núm nhựa để đóng mạch châm ngòi cho năm tạ thuốc nổ, bản tính thực trong anh mới bộc lộ. Ai hiểu anh hơn anh lúc ấy nữa? Chỉ khi tiếp cận với sợi dây rất mảnh, ranh giới giữa cái sống và cái chết, người ta mới bộc lộ rõ mình.
             Chuyến đi ấy ám ảnh Hòa, nó như một giấc mộng  luôn luôn hiện về. Tất cả dường như mới xảy ra...
           
            Hơn bốn tháng sau, anh và gần hai chục thủy thủ dắt díu nhau, lần đường trở về đơn vị. Hòa hốc hác, gầy rộc, tóc rụng quá nửa. Thiếu thốn vật chất và nỗi đau tinh thần âm ỉ giày vò anh. Anh chưa quỵ, anh không bỏ xác dọc đường có lẽ vì còn có một chỗ bấu víu: trách nhiệm với đoàn người. Riêng anh, cuộc đời có nghĩa gì. Đã cướp phần sống của người khác thì tồn tại như một sinh vật thừa. Dù nghĩ ấy đeo đẳng, bám níu Hòa suốt những ngày hành quân.
            Anh mong chóng trở về đơn vị. Về tới đó để anh được nói hết tất cả, được trình bày tất cả, được lĩnh án kỷ luật. Và khi ấy may ra thanh thản ít nhiều. Nhưng có điều lạ là đoàn và Bộ tư lệnh đã đón anh và đồng đội của anh như những người vừa làm nên kỳ tích có tính thần thoại. Thần thoại ư? Đồng đội của anh đã chấp nhận một hoàn cảnh khó khăn ngoài sức tưởng tượng và chịu đựng của con người để vượt Trường Sơn trở về đơn vị. Còn anh? Kẻ ham sống sợ chết cũng đứng ngang hàng với họ? Chả lẽ cuộc đời lại giễu cợt và không còn gì mỉa mai hơn.
            Anh đã báo cáo tất cả. Báo cáo lại những gì như nó vốn có. Song, không ai kỷ luật anh. Điều ấy càng khiến Hòa khổ tâm. Anh chỉ nghỉ một chuyến đi, sau đó lại được tiếp tục đi. Nhưng không yên ổn. Anh tự kết án mình. Anh luôn ở trong tâm trạng dằn vặt. Đêm, anh vẫn lẻn trốn lên boong, tìm chỗ ít người chú ý, ngồi đốt thuốc, lặng lẽ nhìn ra biển và thầm gọi Tòng. Hình ảnh Tòng chạy trên trảng cát ra với con tàu hiện về ... Anh cảm thấy mắc nợ. Đã bao lần Hòa có ý về làng Ao Gỗ để nói hết sự thật, nhưng bom đạn, sự bận bịu của công việc không cho anh thực hiện. Chẳng rõ sao anh cứ nghĩ rằng nhất quyết anh phải nói với Lụa về cái chết của Tòng. Và anh tin, ngoài Tòng, còn một người nữa hiểu anh, sẵn sàng tha thứ cho anh, đó là Lụa. Chưa nói hết với Lựa, anh còn mắc nợ...
            Tuần trước, vô tình có trong tay lá thư Lụa gửi cho Tòng, vì tò mò, vì bao duyên cớ khác không cắt nghĩa được anh đã đọc: "... Anh Tòng ơi, cuối cùng thì chúng mình đã thắng. Em đã tự do! Anh nghe rõ không, anh Tòng? Em đã tự do! Đoàn thanh niên ủng hộ em. Hội phụ nữ ủng hộ em. Và thế là pháp luật đã cởi trói. Trời ơi chưa bao giờ em mong anh về đến thế! Về đi anh, tranh thủ về với em vài ba ngày, hết bom đạn rồi! Anh hiểu em không?... Vậy mà đã lâu lắm, em chưa nhận được dòng nào của anh. Sao vậy, anh! Anh bận ư? Ôi! Đừng để em phải sống một mình nhé, "chú bé " của em".
             Cuộc sống, chao ơi, khắc nghiệt và trớ trêu!
           
             ... Trên bờ đê, đốm sáng nơi đầu điếu thuốc lại loé đỏ Hòa vẫn ngồi đó, im lìm. Đôi mắt đăm đăm nhìn ra. Hai bờ vai đẫm sương. Hình ảnh những ngày qua đan chéo dội về khiến anh buốt lạnh. Anh cũng đã cố tìm cho mình sự lý giải, câu trả lời về những gì đã xảy ra, nhưng hình như càng giải thích, càng khổ tâm, day dứt...
             Trời sáng lúc nào không hay. Ngôi sao cuối cùng đã lặn. Chân trời đằng đông ửng đỏ. Bầu trời cao, xanh, sáng dần. Sông Lô nhuộm một màu hồng hạt, lượn giữa đôi bờ cát. Dưới chân đê, bãi ngô trải một vệt dài, ngăn ngắt. Những chiếc lá đẫm sương đang vươn ra đón nắng.
             Hòa dắt xe, đi về làng Ao Gỗ. Gió rất nhẹ. Không khí ban mai thoảng hương cỏ mật khiến Hòa tỉnh táo. Anh bước thấp thỏm.
            Đầu làng tôi có Tháp Bình Sơn xây từ đời nhà Trần, cao mười một tầng. Niềm tự hào của quê tôi đấy. Mỗi viên gạch ốp ngoài được chạm một hoa văn. Mỗi hoa văn một vẻ và cái nào cũng dẹp. Hồi chưa vào bộ đội tôi vẫn hẹn Lụa dưới chân tháp. Muốn tìm làng tôi thật dễ: Cách vài cây số đã nhìn thấy đỉnh Tháp.
             Nắng trời vàng lên mặt đê. Vạt cỏ bên đường óng ánh mấy giọt sương. Có tiếng mái chèo cắt nước từ mặt sông vọng lại. Trong những rặng tre, thấp thoáng bóng người. Hình như dưới bãi ngô có tiếng nói chuyện lao xao...
            Hòa bước nhanh hơn. Anh đưa anh em rút khỏi vòng vây ngay, còn con tàu, mặc tôi... Từ ngày có Lụa, tôi thấy lúc nào cũng phơi phới... thèm được sống hơn bao nhiêu! Cuộc đời thật là tuyệt!... Không có tình yêu cuộc đời sẽ hoang vắng biết chừng nào!
            Hòa vấp mô đất, chúi về phía trước, nhưng rồi lấy lại thăng bằng, anh dắt xe đi.
            Bóng Hòa gầy, nhỏ, nhoè trong nắng.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Tám, 2009, 08:29:11 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #87 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2009, 09:16:05 pm »


3

           Chiếc xe ngựa lăn vào xóm nhỏ một làng quê nọ.
           Người xà ích chừng 35 tuổi, mặc chiết áo "tô châu" bạc màu, nơi cằm lún phún râu. Đó là Hải, một trong những người sống sót của tàu T.67.
           Vẫn ngồi trên xe, anh hỏi một trung niên xách mấy gói thuốc bắc đi tới:
           - Bác làm ơn chỉ dùm nhà ông lang thôn Đoài.
           - Đó ngôi nhà trước mặt, nơi có dàn thiên lý.
            Hải dừng xe, nhẩy xuống, buộc ngựa và bước vào sân. Một ngôi nhà ba gian, nhỏ, nhưng có cái gì đó ấm cúng, mát mẻ...
           - Đây có phải nhà ông lang thôn Đoài không ạ - Hải dừng lại ở sân, hỏi to. Một người - gầy nhỏ, nhanh nhẹn bước ra.
           - Ơ kìa... - Chủ nhà chững lại ngạc nhiên - Hải, Hải hả?
           - Trời, anh Lượng...
            Họ ôm choàng lấy nhau...
           - Sao anh lại ở đây...
           - Nhà mình mà. Mình làm thuốc.
           - Thì ai biết được! Anh làm thuốc ư?

*

           Trên mặt đê lồi lõm, một chiếc xe ngựa cũ nát lóc cóc hướng về phía thượng nguồn. Con vật rướn bộ xương còm nhom thả những bước nặng nhọc. Chiếc xe vật vã lăn đi. Trong xe có hai người. Hải đánh xe. Đôi mắt luôn nhìn về phía trước, thỉnh thoảng lại gắt một tiếng, và những ngón tay to như quả chuối giật mạnh dây cương. Rõ là Hải rất vội.
           Người ngồi sau dỏng cao, khuôn mặt gầy, da mịn, tóc bạc chải hất về sau. Đó là Lượng. Anh ôm bên mình chiếc túi lớn, có ngăn và luôn nhìn ra ngoài, dẫu rằng lúc đó cảnh vật chỉ còn là những mảng đen.
           Đến khúc đường vòng, chiếc xe rời bờ đê, ngoặt sang phải. Đoạn này dốc, ngựa chạy nhanh hơn.
           - Lối này à, ông Hải? - Lượng chợt hỏi, giọng suồng sã - mình nhớ làng cậu phải qua ngọn đồi Ngũ mới rẽ kia mà.
           - Trí nhớ của anh chưa cùn mòn tí nào! - Hải không quay lại, trả lời và thúc ngựa đi nhanh hơn.
           - Tiêu chuẩn hàng đầu của người bốc thuốc đấy!
           - Nghe người ta đồn về tài chữa bệnh của ông lang làng Đoài, không ngờ là anh.
           - Cũng lạ đấy, nhỉ? - Người ngồi phía sau dịch lên, đáp - Mình cũng không ngờ... Thực ra thì trước đây nội mình làm nghề này. Cụ là một danh y, cả tổng biết. Đến đời bố mình việc đó đứt đoạn. Mình đâu nghĩ sẽ theo nghề thuốc. Vậy mà sau khi xuất ngũ, có một cái gì như định mệnh: thấy cần quay lại cái nghề của ông nội. Đầu tiên tìm sách của các cụ đọc, rồi có lẽ một sự tiềm ẩn trời phú nào đó tới lúc phát, mình nhận ra khả năng làm thuốc, chữa bệnh, lạ thế... Chà, giá cái thời chúng ta lềnh phềnh ngoài biển, hoặc tháng ngày vượt Trường Sơn mình có được khả năng này, nhỉ!
           - Đã bao năm rồi đó, anh Lượng - Hải chợt nói. Thời gian trôi nhanh quá, phải không?
           - Hòa bình đã trở lại, chúng ta chẳng mấy nữa sang thế giới bên kia mà cuộc chiến tranh chưa bứt khỏi mình.
           - Cả một thời trai trẻ... Nhưng dù sao mọi sự cũng đã qua rồi, Hải ạ - Lượng nói một cách khó khăn, giọng anh trở nên lạnh lùng như thể nói với chính mình - Bây giờ là hiện tại, là phía trước. Những gì đã qua, thật khó lấy lại.
           Hải quất roi vào mông ngựa, chiếc xe chồm lên. Trời nhập nhoạng, con đường chỉ còn là một vệt sáng mờ, mỏng manh vắt qua cánh đồng trống trải. Gió lùa vào hai bên thành xe khiến tấm liếp che rung lên. Không khí lạnh hơn. Hải châm đèn dầu, ngoắc vào càng xe và vẫn tư lự nhìn thẳng.
           - Anh bảo là những gì đã qua rồi không lấy lại được? - Một lát, Hải lên tiếng, giọng làn khàn.
           - Hả? - Lượng quay lại nhưng có lẽ không để ý đến cái giọng làn khàn bật ra một cách khó khăn của bạn, anh hỏi: Đường còn xa phải không? Bà cụ nhà cậu năm nay bao nhiêu nhỉ?
           - Cụ tuổi gà, năm nay bảy ba. Tôi đã chạy đủ thầy, đủ thuốc nhưng bệnh không thuyên giảm. Cuối cùng người ta mách sang làng Đoài. Chiều nay đánh xe đi... ai ngờ lại là anh, thật mừng.
           - Hình như cụ không sống với cậu, hả?
           - Vâng, cụ ở với con gái. Nhưng lần này đang định đón cụ về chăm nom. May quá gặp được anh, muốn hỏi ý kiến.
           - Thế nào, hỏi ý kiến mình?
           - Anh là chính trị viên của chúng tôi...
           - Chà? - Người ngồi phía sau chợt cười. Chính trị viên. Thời ấy qua rồi...
           - Chưa cái gì qua cả. Anh là cấp trên, là đồng đội của chúng tôi. Bà cụ không phải là mẹ tôi.
           - Cái gì?
           - Anh còn nhớ cậu Mừng không?
           - Sao không nhớ?
           - Bà cụ là mẹ cậu ấy.
           - Cậu bảo sao? Là mẹ cậu Mừng?
           - Tôi có lỗi là hồi chiều không nói thật với anh. Nhưng chẳng sao. Đã bao năm tôi gắng nuôi nấng, chăm lo cho cụ và tự bảo với mình rằng phải coi cụ như mẹ đẻ. Đó không hẳn là nghĩa vụ, anh Lượng ạ. Có một cái gì nặng lắm mạnh hơn tiếng đó dằn vặt tôi. Chắc anh nghĩ rằng tôi lẩm câm. Vâng, có thể. Mọi sự qua đi, không hẳn rằng đều đã lãng quên.
           - Sao mình không hiểu - Giọng Lượng buồn bã... - Mình là thằng đã qua trọn cuộc chiến tranh...
           - Tôi rõ - Hải thong thả đáp. Giọng anh chìm xuống - Tôi nghĩ rằng những gì không đáng xảy ra, đừng xảy ra vẫn hơn. Thằng Mừng kém tôi đúng một giáp. Vì thế mà chúng tôi quý nhau chăng? Hắn như một cái bóng, lúc nào cũng bám lẵng nhẵng bên tôi. Và tôi cũng vậy, hễ hắn vắng mặt ở tàu một ngày là cảm thấy thiếu thiếu cái gì. Lạ thế! Những đêm tàu của chúng ta lang thang trên biển chờ cơ đưa vũ khí vào bến, hắn thường lên boong, nằm gối đầu lên đùi tôi và hỏi, và kể đủ chuyện. Phải nhận rằng hắn thông minh biết nhiều, nói có duyên. Khi biết mình không có tên trong danh sách những người đi chuyến đó, một chuyến ai cũng hiểu là khó có dịp trở về, cu cậu đã khóc, rồi lên gặp chỉ huy ...
           - Chuyện ấy mình nhớ, - Lượng ngồi lên và đáp - Mình nhớ Mừng là con một, lý ra không càn nhập ngũ...
           - Chà, nhưng mà thôi Hải à. Chẳng lẽ cứ day dứt lại quá khứ mãi để vấn mình, vấn người?
           - Cái đêm trước lúc chúng ta bị lộ và đành phải tự hủy tàu, hắn đột nhiên khoe với tôi rằng cu cậu đã có người yêu, đi chuyến này về, nhất quyết báo cáo tổ chức và cưới. Tôi đồ rằng hắn bịa. Nhưng hắn khăng khăng rằng chị gái hắn, chị Vui, mối lái móc nối cho đã hơn năm nay. "Nhưng em chưa biết mặt cô ta, chỉ nom thấy trong ảnh, cũng xinh", hắn nói. Tôi động viên rằng cảnh lính thời chiến lấy vợ như vậy không hiếm. Hắn hào hứng. "Em cũng nghĩ thế. Và cô ấy chấp nhận như vậy. Em lấy vợ, người mừng nhất là mẹ. Từ ngày chị Vui lấy chồng, mẹ tròi trọi một mình, tội lắm. Cụ bảo lấy vợ, đẻ thằng cu rồi muốn đi đâu, mẹ không cản". Hắn còn bắt tôi hứa rằng ngày cưới, nhất quyết tôi phải nghỉ phép về làm chủ hôn, tôi bảo: "Vậy ra cậu không chờ con gái mình?". Cu cậu cười. Hắn có cái miệng xinh xinh, khi cười thật dễ coi. "Anh mà làm bố vợ em thì nhộn nhỉ. Nhưng cháu nó mới lên tám, lâu quá ! ". Rồi cũng như mọi lần, ôm lấy tôi, hắn ngủ lúc nào không hay... Vậy mà ... vậy mà chính tôi đã ... vô lý quá ?
            - Những ngày đó thật khủng khiếp, chẳng ai nghĩ rằng sẽ còn sống. Chúng vờn bọn mình như lùa vịt, nhỉ. Ý đồ của chúng là tóm cho được vài ba người... Cậu và Mừng là trường hợp... ôi, chiến tranh, có bao sự kỳ quái không sao lý giải được. Nhưng dẫu sao mọi sự đã lùi vào quá khứ, chúng mình không còn trẻ nữa, nếu có thể, gắng quên đi những gì có thể quên... Bỏ bộ quân phục để làm một ông lang, mình chiêm nghiệm ra nhiều điều lắm... Chỉ một an ủi duy nhất là: ta đã chẳng làm điều gì tệ hại, ta vẫn là một con người. Vậy thôi.
            - Con người ư?... - Hải nói, rồi anh im lặng, bỏ lửng ý nghĩ mình, lại giật dây cương. Tiếng chân ngựa gõ trên đường mỗi lúc một rõ. Đâu đó có tiếng chim ăn đêm gọi nhau vẳng lại. Hải hơi gù xuống, trông anh lúc này giống một tảng đá to bè. Anh ngồi lặng, lắng nghe tiếng gió từ đồng lúa phả vào thành xe.
            Con ngựa dường như thấm mệt, tiếng vó gõ xuống đường không còn đều nữa. Hải thôi quất roi, giật cương. Anh để con vật tự do đi nước kiệu. Mới chớm tối mà xung quanh đã yên vắng. Thỉnh thoảng mới thấy một ánh đèn le lói sau rặng cây.
            Cánh đồng co vào, và trước mặt đã hiện lên những mảng đen che một góc bầu trời.
            - Kinh tế gia đình cậu thế nào? - Lượng nhìn ra mảng tối mỗi lúc một gần và hỏi.
            - Tôi vẫn là anh nông dân, Hải đáp - nông dân chỉ biết bám vào đất mà sống thôi. Nếu biết yêu quý đất thì đất không phụ. Mấy năm nay các cháu đã trưởng thành, nên nhàn... lần này dù vội mấy anh cũng ở chơi vài ngày đấy. Lâu quá rồi! Tôi rất thèm gặp lại bạn bè cũ. Chỉ ai đã qua chiến tranh mới hiểu nhau. Bây giờ người ta sống lạ lắm.
            - Ừ, mỗi thời một khác...
            - Bà cụ đỡ, tôi sẽ dẫn anh đến nhà mấy anh em cùng tàu còn sống sót.
            - Mình hỏi nhé, nếu cậu đưa cụ về thăm nom, con cháu cụ không ý kiến sao?
            - Từ lâu tôi đã là người nhà.
            - Ờ...!
             Lượng gật gù. Hình như anh hiểu ra điều gì. Một lát, vẫn nhìn vào mảng tới trước mặt mà anh đã nhận ra là lũy tre viền quanh làng, anh nói:
           - Người ta đi mãi, đi mãi vẫn không sao hết được mình, nhỉ?
            Hải không đáp, anh gò dây cương để con ngựa rẽ vào làng.



                                                                                                           Bãi Cháy, Xuân 1984.

« Sửa lần cuối: 05 Tháng Tám, 2009, 08:37:23 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM